Mục
Lục
LỜI
TỰA
PHÀM
LỆ
CHƯƠNG
1 CÕI NƯỚC PHẬT
-
Phải làm gì để xây dựng một cõi Phật?
CHƯƠNG
2 PHƯƠNG TIỆN
-
Giáo lý phương tiện và việc làm phương tiện.
CHƯƠNG
3 THANH VĂN
1.-
Vấn đề thiền.
2.-
Vấn đề thuyết pháp
3.-
Vấn đề khất thực.
4.-
Lại vấn đề khất thực.
5.-
Lại vấn đề thuyết pháp
6.-
Thuyết pháp yếu.
7.-
Vấn đề thiên nhãn.
8.-
Giảng luật.
9.-
Vấn đề xuất gia
10.-
Như Lai bệnh.
CHƯƠNG
4 BỒ TÁT
1.-
Vấn đề thọ ký.
2.-
Vấn đề đạo tràng.
3.-
Pháp vui vô tận.
4.-
Hội đại thí.
CHƯƠNG
5 - Văn Thù Bồ tát thăm bệnh.
CHƯƠNG
6 - Bất tư nghì.
CHƯƠNG
7 - Quán chúng sanh.
CHƯƠNG
8 - Con đường Phật.
CHƯƠNG
9 - Chứng nhập pháp môn không hai.
CHƯƠNG
10 - Phật Hương Tích.
CHƯƠNG
11 - Việc làm của Bồ Tát.
CHƯƠNG
12 - Thấy Vô Động Như Lai, thế giới Diệu Hỉ.
CHƯƠNG
13 - Cúng dường pháp.
CHƯƠNG
14 - Chúc lũy.
LỜI
TỰA TẬP I
Kinh
Duy Ma Cật là bộ kinh thuộc hệ tư tưởng Đại thừa Viên
đốn, là thứ giáo lý mãn tự. Giáo lý kinh Duy Ma Cật dạy
cho mọi người về pháp môn giải thoát bất tư nghì. Hành
giả thực hiện được là thành Phật như đức Phật Thích
Ca và thập phương chư Phật đã thành. Ai có khả năng đoạn
sạch vô minh, trừ hết phiền não thì tức thân thành Phật
và cõi nước Phật hiển hiện ngay cõi đời này. Giáo lý
kinh Duy Ma Cật dạy rằng: Quả vô thượng Bồ Đề không phải
là cái hứa hẹn để cho mọi người mõi mòn hy vọng ước
mơ. Mà mọi người ai cũng có khả năng đạt đến bằng nghị
lực và trí tuệ của mình.
Trưởng
giả Duy Ma Cật là người bất tư nghì. Ngài thuyết bất tư
nghì pháp, trình diễn bất tư nghì cảnh, tập họp bất tư
nghì chúng, khiến mọi người phát bất tư nghì tâm, chung
qui tán thán bất tư nghì công đức của Phật. Quả vô thượng
Bồ Đề, Phật là mục đích đến, mà Bồ tát Duy Ma Cật
vận dụng vô số bất tư nghì sự để hướng dẫn cho mọi
người.
Giáo
lý Tiểu thừa có đề cập, phước báo nhơn thiên có nói
đến, nhưng nói nhơn thiên để phủ định phước báo nhơn
thiên. Đề cập Tiểu thừa để khiển trách họ về Niết
Bàn sở đắc.
Ba
lần hiện Tịnh độ nhằm phổ cáo với đại chúng về thần
lực bất tư nghì:
- Với
sức thần bất tư nghì của Phật nhãn, đại chúng trông thấy
cõi Tịnh độ ở ngay nơi Ta bà uế độ.
-
Với sức thần bất tư nghì của tuệ nhãn, đại chúng trông
thấy, ngoài Ta bà uế độ, còn có Tịnh- độ của Phật Hương
Tích rực rỡ trang nghiêm và xa thẳm.
- Với
sức thần bất tư nghì của tuệ nhãn họp cùng Phật nhãn,
đại chúng trông thấy Tịnh độ của đức Vô Động Như
Lai sáp nhập với uế độ Ta bà mà không có tướng rộng
hẹp, khiến cho đại chúng bừng tỉnh ngộ: Uế độ và tịnh
độ không rời cảnh giới này.
Bộ
kinh Duy Ma Cật, từ Tây vức truyền sang Trung quốc, trước
sau có sáu nhà dịch:
1.-
Đời Hậu Hán (25-220 TL) Ngài Nghiêm Phật Điều dịch, nhan
đề: Cổ Duy Ma Kinh.
2.-
Đời nhà Ngô (221-280) cư sĩ Chí Khiêm dịch, nhan đề: Duy
Ma Cật Sở Thuyết Bất Tư Nghì Pháp Môn.
3.-
Đời Tây Tấn (265-317) Ngài Trúc Pháp Hộ dịch, nhan đề:
Duy Ma Cật Sở Thuyết Pháp Môn Kinh.
4.-
Ngài Trúc Pháp Lan dịch, nhan đề: Tỳ La Cật Kinh.
5.-
Đời Diêu Tần (344-413) Ngài Cưu Ma La Thập dịch, nhan đề:
Phật Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh.
6.-
Nội dung tư tưởng các bản dịch đại thể không khác nhau
nhiều, nhưng ý nhị uyên thâm thì có sâu có cạn. Do vậy,
suốt quá trình dịch sử cho đến ngày nay, các tòng lâm Phật
học đều ái mộ bản dịch với nhan đề: “DUY MA CẬT
SỞ THUYẾT KINH” của Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập.
Kinh
Duy Ma Cật Sở Thuyết, ở Trung Hoa xưa nay tiền bối sớ giải
rất nhiều. Ở Việt Nam ta, người dịch và giải trước sau
cũng không ít. Tuy nhiên, do tư-duy nhận thức khác nhau và góc
độ nhìn ngắm không đồng. Cho nên công trình phiên dịch
và sớ giải kinh điển Phật, có lẽ là công trình sáng
tạo không ngừng, mới có thể đáp ứng yêu cầu cho nhiều
căn cơ đối tượng.
Phát
xuất từ quan điểm nhận thức đó, nhìn qua các bản dịch
tại nước ta, tôi thấy cần tham dự đóng góp kiến giải
Phật học của mình. Trước là “Ôn cố tri tân” đồng
thời cung ứng cho hàng Phật tử hữu duyên cùng đi trên con
đường đạo.
Kinh
“Duy Ma Cật Sở Thuyết” của Ngài Cưu Ma La Thập, sau khi
dịch ra tiếng Việt, tôi viết thêm phần “TRỰC CHỈ” ở
sau mỗi chương hoặc sau mỗi đoạn, thay vì lời
sớ giải mà các tiền bối cổ kim thường làm.
TRỰC
CHỈ có nghĩa là chỉ thẳng, ý tứ tiềm ẩn, phân tích rõ
ràng nghĩa lý sâu xa bàng bạc ở kinh văn, nhằm hướng dẫn
cho người đọc nắm được trọng tâm, biết rõ chủ đích
từng bài pháp của mỗi vấn đề.
Nhưng
than ôi!
Ý
Phật nhiệm mầu trông như mây phủ ở đầu non, đến được
đầu non mây xa tít.
Cơ
thiền bảng lảng tưởng chừng trăng trôi mặt nước, hớt
tan mặt nước trăng sâu mù.
Do
vậy, không thể nào TRỰC CHỈ hết mọi mặt của ý kinh.
Cho nên tôi chọn nhan đề của công trình nho nhỏ này là:
“DUY MA CẬT SỞ THUYẾT KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG”.
Tôi
hy vọng giáo án này, - tôi gọi là giáo án, vì những kinh
luận của tôi biên soạn nhằm để triển khai hướng dẫn
mọi người đệ tử Phật, học chánh pháp, hành chánh pháp,
sống theo chánh pháp và truyền bá chánh pháp chớ không chủ
trương đem tụng trước bàn thờ Phật. Giáo án này được
đến tay Tăng, Ni sinh trung cao Phật học các trường, tôi xem
đó là một cơ hội đóng góp phần nho nhỏ của mình trong
sự nghiệp tục diệm truyền đăng.
Đối
với hàng Phật tử tại gia tín tâm đã phát khởi với chủng
tánh Đại thừa vốn có của mình, đọc học được kinh này
thì đường tu tập vững bước tiến lên, không một thế
lực ma quân tà đạo nào dám lấy mắt mà nhìn, đừng nói
chi chuyện manh tâm mê hoặc.
“Học,
học nữa và học mãi”
Học
cho đến khi:
- Bồ-Đề
quả thục, nhất chân phi sắc phi không.
- Bát
Nhã hoa khai, vạn pháp tức Tâm tức Phật.
Viết
tại HUỲNH MAI TỊNH THẤT
Ngày
16 tháng 12 năm 1991
Pháp
Sư : Thích Từ Thông
Kính
đề.
PHÀM
LỆ
Bộ
kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết gồm cả thảy mười bốn chương,
được chia thành hai tập. Tập Một có năm chương và tập
Hai có chín chương. Khi nghiên cứu bộ kinh này, kính mong quý
đọc giả lưu ý:
1.-
Phần nguyên văn được in chữ đứng. Đó là phần dịch đúng
nguyên bản của kinh văn.
2.-
Phần Trực chỉ in chữ nghiêng để cho đọc giả dễ phân
biệt. Phần này do tôi đóng góp bằng kiến giải của riêng
mình. Hy vọng phần Trực chỉ sẽ giúp cho đọc giả manh mối
để tư duy, gợi trí nhận xét khi các Ngài thiền tọa.
3.-
Đoạn kinh văn dài, có nhiều ý, tôi đánh số 1, 2, 3 v.v...
Đoạn có đánh số là có tiềm ẩn ý nghĩa sâu xa. Tôi phân
tích diễn giải phần ý nghĩa tiềm ẩn đó trong phần Trực
chỉ sau chương hoặc sau đoạn kinh văn đó.
Mấy
lời kính cáo, mong chư đọc giả lưu tâm. Việc tác phẩm
hoàn bị hay chưa, giúp ích cho đời được nhiều hay ít, thiết
tưởng không có gì đáng nói.
Tôi
cho rằng tất cả chúng ta ngày nào còn sống trên cõi đời,
thì còn phải: “Học, học nữa và học mãi”
Pháp
Sư : Thích Từ Thông
Cẩn
chí.
CHƯƠNG
THỨ NHẤT
CÕI
NƯỚC PHẬT
1.-
Lúc bấy giờ đức Phật ở vườn xoài địa phận thành Tỳ
Da Ly cùng với số chúng Tỳ Kheo và Bồ Tát đông đến hàng
ngàn người. Tất cả là những người đã trồng sâu cội
đức tri hành tự tại trong sự nghiệp giải thoát giác ngộ,
các vị gìn giữ chánh đạo, làm tường thành hộ pháp, truyền
bá chánh pháp là bạn lành của chúng sanh.
Thi
hành nhiệm vụ nối dòng Tam bảo, hàng phục ma quân chế ngự
ngoại đạo. Tâm hành của các Ngài thanh tịnh, xa lìa ngũ
cái, thập triền, niệm định không rời, biện tài vô ngại.
Nói pháp lục độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định, trí tuệ, các Ngài thành tựu viên mãn. Được
vô sanh nhẫn mà không khởi tâm sở đắc. Tùy thuận căn cơ
mà chuyển pháp luân. Thấu rõ thực tướng các pháp,
biết suốt căn tánh chúng sanh. Công đức và trí huệ vượt
hơn đại chúng. Tướng hảo đoan nghiêm, uy đức vòi vọi.
Đức tin vững chắc thường mưa pháp nhủ độ sanh. Thuyết
phục nhơn tâm, truyền đạt pháp âm vi diệu. Thâm nhập chân
lý, thấy rõ vạn pháp duyên sanh. Dứt hết tà kiến không
kẹt hai bên. Hoặc lậu tam giới không còn, thuyết pháp như
sư tử hống. Trí tuệ biện tài vô ngại. Được thập
lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng pháp. Từng đóng
bít các cửa ác thú mà hiện thân trong ngũ đạo làm vị đại
y vương. Tùy bệnh chúng sanh mà cho thuốc pháp. Bản vị của
các Ngài vốn là những người đã thành tựu vô lượng công
đức trang nghiêm trong cõi nước chư Phật mười phương.
2.-
Danh hiệu của các Ngài là: Đẳng Quán Bồ Tát, Bất Đẳng
Quán Bồ Tát, Đẳng Bất Đẳng Quán Bồ Tát, Định Tự Tại
Vương Bồ Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tướng Bồ
Tát, Quang Tướng Bồ Tát, Quang Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tích Bồ
Tát, Biện Tích Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp
Vương Tử Bồ Tát v. v...
Lại
có Phạm Thiên Vương Đế Thích, Thiên Long Bát Bộ. Có các
Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc,Ưu Bà Di tham dự thính pháp
rất đông.
3.-
Hôm nay trong thành Tỳ Da Ly có vị trưởng giả tử tên là
Bảo Tích cùng với năm trăm trưởng giả tử, mỗi vị cầm
một cây lọng thất bảo đồng đến đảnh lễ Phật,
rồi cùng dâng tất cả lọng ấy cúng dường Phật.
Do
uy thần Phật, năm trăm cây lọng hợp thành một. Cõi nước
trong ba ngàn đại thiên thế giới; các núi Tu Di, núi Tuyết.
Các biển cả, sông ngòi...mặt trời, mặt trăng vô vàn tinh
tú. Các Thiên cung, Long cung, Thần cung và cảnh giới chư Phật
thuyết pháp, nhập Niết bàn trong mười phương đều hiện
rõ trong cây lọng báu.
Đại
chúng trông thấy sức thần Phật, đồng tán thán: là một
sự kiện hi hữu. Đại chiêm ngưởng Phật sững sờ không
nháy mắt.
4.-
Bấy giờ trưởng giả tử Bảo Tích thay lời đại chúng trước
Phật, nói lên bài kệ phát xuất từ lòng ái mộ, tôn kính
vô biên:
Mắt
Phật đẹp như hoa sen xanh
Tâm
Phật hằng trụ trong Thiền định
Tịnh
nghiệp tích lũy từ lâu đời
Đại
chúng cúi đầu nguyền tu học.
Sức
thần Phật vượt quá nghĩ bàn
Hiện
rõ mười phương vô lượng cõi
Chư
Phật thuyết pháp hành Phật sự
Đại
chúng hết thảy được thấy nghe.
Pháp
vương, pháp lực vượt quần sanh
Thí
pháp, thí tài cho tất cả
Phân
biệt dạy rành các pháp tướng
Chân
lý đệ nhất nghĩa siêu tuyệt.
Thế
tôn tự tại trước các pháp
Đại
chúng đãnh lễ đấng pháp vương
Thuyết
pháp: không có cũng không không
Có
nhân duyên Như Lai nói có.
Pháp
vốn vô ngã, vô thọ giả
Thiện
ác nghiệp không bao giờ mất
Khi
xưa tịnh tọa cội Bồ đề
Được
giải thoát chứng thành đại giác
Diệt
tâm, diệt hành ý rổng rang.
Cho
nên chế phục hàng ngoại đạo
Ba
lần thuyết pháp cõi đại thiên
Pháp
luân ấy bản lai thanh tịnh
Trời
người chứng đạo nhờ nương đó.
Tam
bảo giờ hiện hữu cõi đời
Phật
dùng pháp dược độ quần sanh
Bệnh,
lão, tử : đại y vương Phật
Kính
lễ đức pháp hải vô biên.
Khen
chê bất động Diệu cao sơn
Tốt
xấu xử dụng một tâm từ
Tâm
hành bình đẳng như hư không
Ai
nghe đấng nhân hảo : cung kính.
Con
dâng Thế tôn cây lọng mọn
Tam
thiên thế giới hiện trong đây
Đại
chúng tán thán điều hi hữu
Chúng
con đãnh lễ đấng Từ tôn.
Đấng
pháp vương nhiều người qui ngưỡng
Tâm
tịnh nhìn Phật thấy an vui
Tự
thấy Thế tôn ở trước mình.
Đấy
là sức thần bất cộng pháp
Phật
thuyết pháp đồng một pháp âm
Các
cơ tùy hiểu hợp cơ mình
Tự
nhủ: Thế Tôn vì ta nói.
Đấy
là thần lực pháp bất cộng
Phật
thuyết pháp cùng một diệu pháp
Chúng
sanh tùy tánh hiểu khác nhau
Dù
hiểu khác đều được lợi ích
Đấy
là thần lực pháp bất cộng
Phật
thuyết pháp đồng một pháp âm
Nghe
ra hoặc sợ hoặc vui mừng
Yểm
ly trần tục hoặc đoạn nghi.
Đấy
là thần lực pháp bất cộng
Kính
lễ đấng Thập lực viên mãn
Kính
lễ đấng vô sở úy viên mãn
Kính
lễ đấng bất cộng pháp viên mãn
Kính
lễ đấng đạo sư của chúng sanh
Kính
lễ đấng viễn ly triền phược
Kính
lễ đấng đã đến bờ bên kia
Kính
lễ đấng vượt khỏi thế gian
Kính
lễ đấng vĩnh ly đường sanh tử
Kính
lễ đấng vô sở y như hư không
Không
nhiễm thế gian như hoa sen
Hằng
trụ an nhiên hạnh không tịnh.
Sau
khi nói bài kệ xong, Trưởng giả tử bèn thưa với Phật:
“Bạch Thế Tôn, năm trăm trưởng giả tử nầy đã từng
phát tâm cầu Vô thượng Bồ Đề. Hôm nay chúng con muốn được
nghe Phật dạy cho chúng con về cõi nước thanh tịnh của Phật
và xin Phật dạy cho chúng con trên đường tu hành muốn xây
dựng cho mình cõi Phật thanh tịnh thì phải làm sao?
5.-
Phật dạy: Bảo Tích và các trưởng-giả tử hảy lắng nghe.
Hôm nay Như Lai sẽ dạy cho các Ông về vấn đề xây dựng
cho mình có được cõi Phật thanh tịnh.
Này
Bảo Tích: Mọi tầng lớp chúng sinh chính là cõi Phật thanh
tịnh của Bồ Tát. Vìsao? Vì Bồ Tát dựa trên công hạnh
giáo hóa chúng sanh mà có được cõi Phật thanh tịnh. Tùy
sự điều phục chúng sanh mà có được cõi Phật thanh tịnh.
Tùy sự bồi dưỡng trí tuệ cho chúng sanh mà có được cõi
Phật thanh tịnh. Tùy sự gieo trồng Phật chủng cho chúng sanh
mà Bồ Tát có được cõi Phật thanh tịnh.
Này
Bảo Tích: Bồ Tát có được cõi Phật thanh tịnh là dựa
trên công hạnh làm lợi lạc cho chúng sanh. Ví như người
muốn xây cất lâu đài phải xây nền móng trên đất vậy.
Nếu không có đất, không thể xây cất lâu đài. Lại cũng
ví như hoa sen. Sen không mọc trên đỉnh núi đá cao trơ trọi.
Sen và hoa sen phải được mọc và trổ tự bùn lầy.
Bồ
Tát cũng như vậy, do làm lợi lạc cho chúng sanh mà Bồ Tát
có được cõi Phật thanh tịnh và nhận thấy cõi nước ấy.
Này
Bảo Tích, Ông nên biết:
Bồ
Tát xây cõi Phật cho mình cõi Phật bằng TRỰC TÂM; vì vậy
khi thành Phật không còn chất lòn cúi, nịnh bợ ở con người.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng THÂM TÂM; vì vậy khi thành Phật,
đầy đủ tất cả công đức lành.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng BỒ ĐỀ TÂM; vì vậy khi thành
Phật, Phật chỉ nói pháp Đại thừa.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng việc làm BỐ THÍ; vì vậy khi
thành Phật, viên mãn hạnh xã ly.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng công đức TRÌ GIỚI; vì vậy
khi thành Phật, thập thiện nghiệp đạo viên mãn.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng hạnh NHẪN NHỤC; vì vậy khi
thành Phật, có đủ 32 tướng hảo trang nghiêm.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng sức TINH TẤN; vì vậy khi thành
Phật, chỉ có phát triển công đức lành
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng THIỀN ĐỊNH; vì vậy khi thành
Phật, thường bất loạn trong sự nhiếp tâm.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng TRÍ TUỆ; vì vậy khi thành Phật,
cõi nước chỉ có chúng sanh chánh định.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng TỨ VÔ LƯỢNG TÂM; vì vậy khi
thành Phật, từ, bi, hỷ, xã thành tựu viên mãn.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng TỨ NHIẾP PHÁP; vì vậy khi thành
Phật, có đầy đủ chánh pháp để hóa độ chúng sanh.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng PHƯƠNG TIỆN; vì vậy khi thành
Phật, vận dụng cách độ sanh tùy ý.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng 37 PHẨM TRỢ ĐẠO; vì vậy khi
thành Phật, pháp Tứ niệm xứ, Tứ Chánh cần, Tứ Như ý
túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Giác chi và Bát chánh đạo đầy
đủ.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng sự THUYẾT PHÁP, dạy cho mọi
người dứt trừ nhân BÁT NẠN; vì vậy khi thành Phật, không
còn cái nhân sanh trong tam đồ.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng TỰ GIỮ GIỚI HẠNH, KHÔNG CHÊ
BAI CHỖ SAI KHUYẾT của người khác; vì vậy khi thành Phật
không có cái từ phạm giới.
Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng THẬP THIỆN NGHIỆP; vì vậy
khi thành Phật không chết yểu, phạm hạnh toàn vẹn, lời
nói chắc thật, ngôn âm dịu dàng, quyến thuộc thân thương,
hòa giải khéo léo không có tật đố, không có phẫn nộ,
mọi cử chỉ hành động đều lợi ích cho chúng sanh.
Như
thế đó Bảo Tích! dựa trên trực tâm mà phát hạnh, do phát
hạnh mà được thâm tâm. Do thâm tâm mà ý được điều phục.
Do ý điều phục mà việc làm đúng lời nói. Do lời nói và
việc làm đúng mà được hồi hướng. Do hồi hướng mà có
phương tiện. Do phương tiện mà hóa độ chúng sanh. Do hóa
độ chúng sanh mà có được cõi Phật thanh tịnh. Do cõi Phật
thanh tịnh mà thuyết pháp thanh tịnh. Do thuyết pháp thanh tịnh
mà trí tuệ thanh tịnh. Do trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh
tịnh. Do tâm thanh tịnh mà có tất cả công đức thanh tịnh.
Như
thế đó Bảo Tích! Bồ Tát muốn có cõi Phật thanh tịnh thì
phải tu sửa tâm mình thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì Bồ Tát
có được cõi Phật thanh tịnh.
6.-
Lúc bấy giờ Ông Xá Lợi Phất khởi ý hoài nghi rằng:
Nếu
tâm Bồ Tát thanh tịnh thì có cõi nước Phật thanh tịnh;
vậy Thế Tôn ta xưa kia khi tu nhân, hành Bồ Tát hạnh có lẽ
nào tâm không thanh tịnh hay sao mà cõi Phật ngày nay không
thanh tịnh như thế này.
Phật
biết ý niệm hoài nghi của Ông Xá Lợi Phất, liền bảo:
Xá
Lợi Phất! Ông nghĩ thế nào? Mặt trời, mặt trăng há chẳng
sáng sao? Thế mà những người mù không thấy?
Ông
Xá Lợi Phất thưa: Bạch Thế Tôn, có. Mặt trời, mặt trăng
vẫn sáng nhưng người mù không thấy, lỗi tại mắt họ mù!
Phật
dạy: Xá Lợi Phất! Do vì tội chướng của chúng sanh làm
cho chúng sanh không thấy cõi nước thanh tịnh trang nghiêm của
Phật; chứ không phải cõi nước của Phật không thanh tịnh
trang nghiêm.
Xá
Lợi Phất! cõi nước của Phật vốn thanh tịnh tại Ông không
thấy.
Bấy
giờ Trời Loa Kế Phạm Vương nói với Ông Xá Lợi Phất:
Ông đừng nghĩ như vậy, không nên cho rằng cõi Phật của
Thế Tôn ta không thanh tịnh. Chính tôi thấy cõi Phật Thích
Ca Mâu Ni thanh tịnh như cung của Trời Tự Tại; như cõi
nước của chư Phật trong mười phương.
Ông
Xá Lợi Phất nói:
Tôi
thấy cõi này gò nỗng, gai gốc, núi non, rừng rú và nhiều
những thứ cấu uế.
Loa
Kế Phạm Vương nói: Tại vì tâm của Ngài còn phân biệt
thấp cao cho nên Ngài thấy cảnh giới có thấp cao, gò nỗng.
Tại Ngài không xử dụng tuệ nhãn cho nên Ngài thấy cõi nước
Phật không thanh tịnh! Thưa Ngài Xá Lợi Phật! Bồ Tát nhìn
thấy tất cả chúng sanh bằng cái thấy bình đẳng. Phát xuất
từ thâm tâm thanh tịnh và xử dụng trí tuệ thanh tịnh thì
Ngài sẽ thấy cõi nước Phật thanh tịnh.
Bấy
giờ đức Phật dùng ngón chân ấn xuống đất, tức thì ba
ngàn đại thiên thế giới hiển hiện trang nghiêm đẹp đẽ
như muôn ngàn thứ trân bảo hợp thành, chẳng khác gì cõi
nước của đức Phật Bảo Trang nghiêm kết hợp bằng vô
lượng bảo trang nghiêm công đức.
Đại
chúng xem thấy hớn hở vui mừng và tán thán là việc thế
gian chưa từng có. Mọi người bỗng nhiên tự thấy mình đang
ngồi trên tòa sen báu.
Phật
bảo: Xá Lợi Phất! Ông đã thấy cõi Phật trang nghiêm thanh
tịnh ấy chưa?
Bạch
Thế Tôn! Ông Xá Lợi Phất thưa: Đúng vậy. Thế Tôn, việc
này từ trước đến nay con chưa từng thấy và cũng chưa được
nghe.
Xá
Lợi Phất: Cõi nước của ta thường thanh tịnh trang nghiêm
như thế. Chỉ vì người nghiệp chướng nặng nề, phước
đức mỏng manh mà thấy toàn những cảnh bất tịnh nhơ xấu.
Cũng như số chư Thiên cùng thọ dụng một bát quí đựng
cơm, vậy mà tùy phước đức của mỗi chư Thiên mà màu cơm
và mùi hương có khác.
Xá
Lợi Phất! Nếu tâm của người thanh tịnh thì nhìn thấy
cõi nầy là cõi vô lượng công đức trang nghiêm thanh tịnh.
Đang
lúc Phật hiện cõi nước trang nghiêm thanh tịnh và dạy về
chân lý liễu nghĩa thượng thừa này thì Bảo Tích và năm
trăm trưởng giả tử cùng thể nhập được vô sanh pháp nhẫn.
Rất nhiều người phát tâm cầu vô thượng Bồ Đề; nhiều
hàng Trời, người tỏ ngộ pháp hữu vi vô thường, xa lìa
trần cấu, tâm ý rỗng rang trong sáng.
Đức
Phật thâu nhiếp thần lực, thế giới Ta Bà trở lại trạng
thái cũ, vẽ đẹp trang nghiêm thanh tịnh không còn.
TRỰC
CHỈ
1.-
Phật quốc là cõi nước Phật. Nói cách khác là cảnh giới
của người tỉnh thức hoàn toàn và giác ngộ chân lý trọn
vẹn.
Cõi
nước Phật không ở cao cũng chẳng phải ở xa. Cõi nước
Phật tại tâm người. Tâm người dứt hết các vô minh phiền
não, tâm người sáng suốt giác ngộ chân lý trọn vẹn và
sống đúng chân lý thì tâm đó là Phật. Người có tâm Phật
ở đâu thì cõi nước đó trở thành cõi nước Phật là Phật
quốc.
Thế
cho nên cõi Ta bà đối với chúng sanh là cõi chúng sanh phải
chịu nhiều khổ lụy bất bình. Vậy mà đối với đức Thích
Ca Mâu Ni Phật thì ngay nơi cõi Ta bà trở thành Phật quốc
đẹp đẻ trang nghiêm thanh tịnh: “Tùy kỳ tâm tịnh tắc
Phật độ tịnh”. Hể tâm người thanh tịnh thì có cõi Phật
thanh tịnh.
2.-
Danh hiệu của Bồ Tát tiêu biểu cho đức độ và hạnh nguyện
của vị Bồ Tát đó.
Đẳng
Quán Bồ Tát là vị Bồ Tát thường xử dụng quán trí nhận
thức bên mặt “bình đẳng” trên phương diện bản thể
chung cùng.
Bất
Đẳng Quán Bồ Tát là vị Bồ Tát thường xử dụng quán
trí nhận thức vạn pháp bên mặt “sai biệt” trên phương
diện hiện tượng tùy duyên.
Đẳng
Bất Đẳng Quán Bồ Tát là vị Bồ Tát vận dụng quán trí
toàn diện nhận thức vạn pháp cả hai mặt bản thể và
hiện trạng, bình đẳng lẫn sai biệt.
Tất
cả Bồ Tát qua danh hiệu, người học Phật có thể nhận
biết tổng quát về các Ngài...
3.-Phật
nhận 500 cây lọng của các trưởng-giả tử cúng dường.
Phật
dùng sức thần hợp 500 cây lọng thành một. Hiện tượng
này, nhằm dạy cho đại chúng bài pháp: “Tất cả là một”
và “Một là tất cả”.
Hiện
tượng vạn pháp duyên sanh nhiều vô lượng. Nhưng bản thể
của chúng thì chung cùng. Trong một cái nầy có chất liệu
của cái kia. Trong những cái kia có chất liệu của một cái
nầy.
Tam
thiên đại thiên thế giới và cõi nước của chư Phật mười
phương hiện rõ trong cây lọng. Sự kiện đó đức Phật muốn
dạy cho đại chúng bài pháp: “Nhất chơn pháp giới” và
“Pháp giới bất nhị”.
Khi
mê thì tứ Thánh lục phàm có ranh giới. Có khổ có vui. Nhưng
nhìn pháp giới qua Phật nhãn, qua sức thần Phật thì pháp
giới trở thành nhất chơn, xóa hết ranh giới phân chia và
ngăn cách.
Người
đời mơ ước cái “Thế giới đại đồng” nguyên tắc
chung cũng gần giống như vậy. Khi con người “Giác ngộ”
thân thương nhau như ruột thịt thì bờ cõi đất nước còn
ngăn ranh cắt giới để làm gì.
4.-
Các trưởng giả tử vì quá kính mộ, nói kệ tán thán Phật.
Việc làm đáng khen. Nhưng những lời lẽ tán thán đó, chẳng
khác nào trẻ con khen ngọc kim cương đẹp. Làm sao lũ
trẻ hiểu hết được giá trị màu sắc cúa ngọc kim
cương.
5.-Muốn
có cõi Phật thanh tịnh trước phải tịnh tâm. Tâm thanh tịnh
thì có cõi Phật thanh tịnh.
Muốn
xây dựng cõi Phật, Bồ Tát phải dựa nơi chúng sanh. Chúng
sanh là cơ sở để Bồ Tát xây dựng cõi Phật cho mình.
Bồ Tát rời chúng sanh thì không còn đối tượng để thi
thố Bồ Tát hạnh.
Xây
lâu đài phải xây trên đất, cũng như hoa sen đẹp phải mọc
từ bùn.
Do
có chúng sanh, do sự điều phục và giáo hóa chúng sanh, Bồ
Tát xây dựng cho mình một lâu đài Phật quốc. Dựa trên
cơ sở chúng sanh Bồ Tát có thể thực hiện.
Trực
tâm, Thâm tâm, Bồ đề tâm, Tứ vô lượng tâm, Bố thí, Trì
giới, Nhẫn nhục,Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ... Đó là
chất liệu, Bồ Tát xây dựng nên cõi Phật.
6.-
Cõi Phật của đức Phật Thích Ca vẫn trang nghiêm thanh tịnh
không kém gì cõi nước của chư Phật mười phương. Thế
mà Ông Xá Lợi Phất lại thấy không thanh tịnh chẳng trang
nghiêm.
Cái
ví dụ người mù đứng dưới ánh nắng ban mai trước cảnh
trăm hoa đua nở mà chàng ta không thể thấy sáng, cũng chẳng
có gì đẹp đẽ tí nào.
Lỗi
tại ai? Mọi người đã rõ.
CHƯƠNG
THỨ HAI
PHƯƠNG
TIỆN
1.-
Bấy giờ thành Tỳ Da Ly có một vị Trưởng giả tên là DUY
MA CẬT. Trưởng giả Duy Ma Cật là người đã từng cúng dường
vô lượng chư Phật, gốc rễ lành trồng sâu, cho nên Ông
đã được vô sanh pháp nhẫn. Trong hàng Bồ Tát, Duy Ma Cật
là vị Bồ Tát biện tài vô ngại. Du hí thần thông. Hàng
phục các ma được vô sở uý. Thể nhập sâu sắc các pháp
môn. Trí tuệ siêu tuyệt. Phương tiện linh hoạt. Biết rõ
tâm tưởng của chúng sanh, phân biệt độn căn, lợi căn của
đối tượng. Ở trong Phật đạo từ lâu, đã thuần thục
thâm tín đại thừa. Việc làm vững chãi, suy nghĩ chín chắn,
trụ oai nghi Phật, tâm lớn như biển. Chư Phật ngợi khen,
hàng trời cung kính. Vì muốn độ người, Trưởng giả Duy
Ma Cật phương tiện ở thành Tỳ Da Ly.
2.-
Vì muốn cãm hóa những người nghèo, Ngài Duy Ma Cật bố thí
rất nhiều của cải. Để cảm hóa người phạm giới, Ngài
trì giới thanh tịnh. Để cảm hóa người nóng nảy, Ngài
biểu lộ hạnh kiên nhẫn ôn hòa. Để độ người giải đải,
Ngài thực hành tinh tấn. Để cảm hóa người loạn tâm, Ngài
thiền định nhất tâm. Để cảm hóa người vô trí, Ngài
hướng dẫn phát huy trí tuệ. Dù Ngài là bạch y mà phụng
trì luật hạnh của Sa môn. Dù ở tại gia mà không lưu luyến
tam giới. Giả có vợ con mà thường tu phạm hạnh. Hiện có
quyến thuộc mà thường thích viễn ly. Dù phục sức đồ
quí mà lòng cưu mang thân tướng hảo. Dù có ăn uống như
thế gian vị chính là vui trong thiền định. Có lúc tham gia
sòng bạc, cốt yếu nhằm để độ người. Lúc tùy thuận
ngoại đạo mà chánh tín không lung lạc. Đọc hiểu suốt
sách vở thế gian mà thường vui với giáo pháp Phật. Nhằm
cảm hóa mọi người mà giữ gìn chánh pháp. Kinh doanh được
tiền của, nhưng chẳng lấy đó làm vui. Dạo chơi khắp phố
phường để làm điều lợi ích chúng sanh. Có lúc tham gia
trị chánh, nhằm để cứu độ quốc dân. Có khi tham dự các
diễn đàn hội thảo, cốt lèo lái hướng dẫn mọi người
đi vào đường chánh đạo đại thừa. Vào học đường nhằm
để dẫn dắt tuổi thơ. Có lúc đến thanh lâu nhằm chỉ
rõ cho mọi người tai họa của ái dục. Vào quán rượu như
mọi người mhằm để nêu gương tự chủ.
3.-
Ở cương vị trưởng giả, Ông Duy Ma Cật gương mẫu trong
hàng trưởng giả, vì họ mà nói chánh pháp. Ở trong cư sĩ,
gương mẫu trong hàng cư sĩ, dứt hết các tham nhiễm tầm
thường. Ở trong dòng Sát đế lỵ, gương mẫu trong hàng Sát
đế lỵ, để dạy họ về đức nhẫn nhục. Ở trong trong
dòng Bà la môn, gương mẫu trong hàng Bà la môn dạy trừ bỏ
tánh ngã mạn. Ở trong nội chính đại thần, gương mẫu trong
hàng đại thần nhằm dạy họ học chánh pháp. Ở trong hàng
vương tử, gương mẫu trong hàng vương tử để dạy họ về
đạo lý hiếu trung. Ở trong nội quan, gương mẫu trong hàng
hoạn quan để dạy các cung tần về chánh tâm chánh hạnh.
Ở trong thứ dân, gương mẫu trong hàng thứ dân để hướng
dẫn họ làm điều phước thiện. Ở trong hàng Phạm Thiên,
gương mẫu trong các Phạm Thiên để dạy họ tu về thắng
tuệ. Ở trong Đế Thích, gương mẫu trong hàng Đế Thích nhằm
dạy họ về chân lý vô thường của hiện tượng vạn pháp.
Ở trong cương vị hộ thế thì gương mẫu trong hàng hộ thế
nhằm hộ độ nhân dân lạc nhiệp an cư.
Duy
Ma Cật trưởng giả vận dụng vô số phương tiện như thế
để đem lại lợi lạc cho chúng sanh. Và hôm nay Trưởng giả
lại hiện thân có bệnh.
Nghe Trưởng giả Duy Ma Cật bị bệnh, Quốc vương, đại thần,
trưởng giả, cư sĩ, Bà la môn, các vương tử và các thân
thuộc cả mấy ngàn người lần lượt đến tịnh thất của
Trưởng giả để vấn an. Nhân cơ hội có nhiều người đến
thăm bệnh, Duy Ma Cật trưởng giả thừa cơ thuyết chánh pháp:
4.-
Thưa chư nhân giả: thân nầy vô thường, không mạnh, không
dai, không bền, không chắc. Nó là cái thứ mau mục nát, dễ
rệu rã chẳng đáng tin cậy. Nó là cái khối chứa nhóm các
khổ đau, buồn phiền và nhiều bệnh tật.
5.-
Thưa chư nhân giả: người trí không tin cậy ở thân. Nó như
bọt nước không thể cầm nắm. Như bong bóng không tồn tại
được lâu. Như bóng nắng, do khát ái mà thấy có. Thân nầy
như cây chuối, do bẹ hợp lại thành cây, trong đó không có
cái nào rắn chắc. Thân nầy như huyễn từ điên đảo khởi
sanh. Thân nầy như mộng, do vọng kiến thực chẳng có gì.
Thân nầy như ảnh, do nghiệp duyên hiện sanh. Thân nầy như
vang, do nhân duyên mà có. Thân nầy như mây nổi phút chốc
tan mất. Thân nầy như chớp niệm niệm không ngừng. Thân
nầy vô chủ ví như núi. Thân nầy vô ngã ví như lửa. Thân
nầy vô thọ ví như gió. Thân nầy vô nhơn ví như nước.
Thân nầy không thật vì là sự tổ hợp của tứ đại. Thân
nầy vốn không, vì không có ngã, ngã sở. Thân nầy vô trí
như cỏ cây, ngói gạch. Thân nầy vô tác giả, do sức gió
nghiệp chuyển sanh. Thân nầy bất tịnh đầy dẫy uế trược
xấu xa. Thân nầy tạm bợ, rỗng không, dù có ăn mặc, tắm
rửa nhưng chung qui cũng tiêu ma hoại diệt. Thân nầy là tai
họa chứa nhóm một trăm lẻ một bệnh khổ sầu đau. Thân
nầy như giếng trên đất gò, bao nhiêu lão bệnh bức ngặt
thường xuyên. Thân nầy không cố định, vì không biết sẽ
chết lúùc nào. Thân nầy như rắn độc, như giặc thù, như
hội tụ hư không, do ngũ ấm, lục nhập, thập nhị xứ, thập
bát giới gá hợp mà thành.
6.-
Thưa chư nhân giả: phải sanh tâm khinh rẻ cái thân nầy và
nên sanh tâm ham mến thân Phật. Vì thân Phật là pháp thân.
Thân Phật từ vô lượng công đức trí tuệ sanh. Từ giới,
định tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến sanh. Từ từ,
bi, hỉ, xả sanh. Từ bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định, trí tuệ sanh. Từ phương tiện sanh. Từ lục
thông sanh. Từ tam minh sanh.Từ ba mươi bảy phẩm trợ đạo
sanh. Từ chỉ quán sanh. Từ thập lực, tứ vô sở úy, thập
bát bất cộng pháp sanh. Từ chỗ dứt hết tất cả các pháp
bất thiện, chứa nhóm tất cả thiện nghiệp sanh. Từ không
phóng dật sanh. Từ vô lượng pháp thanh tịnh như thế màsanh
thân Như Lai!
Thưa
chư nhân giả: muốn được thân Phật, muốn vứt bỏ cái
thân nhiều bệnh khổ của chúng sanh thì phải phát tâm vô
thượng Bồ Đề!
Trưởng
giả Duy Ma Cật vì những người đến thăm bệnh, nói những
pháp ứng cơ như thế, khiến cho vô số nghìn người
phát tâm vô thượng Bồ Đề.
TRỰC
CHỈ
1.-
Tạo cái cớ qui tụ đông người đến để thuyết pháp, Bồ
Tát Duy Ma Cật không bệnh giả bệnh. Đó là phương tiện
về việc làm.
Pháp
được nói ở phẩm kinh nầy chưa đá động gì đến pháp
Đại thừa. Chỉ nói thuần pháp Tiểu thừa. Đó là phương
tiện về thuyết pháp. Hướng dẫn tư tưởng của đại chúng
từ suy nghĩ về thân để chán ngán xem thường thân vì sự
mục bở, sự bất tịnh, sự không bền chắc. Khuyến khích
mọi người hãy phát tâm ham mộ Phật thân. Thân Phật là
thân Kim cang bất hoại cô động bởi vô lượng công đức
và là sự thể hiện của Bồ Đề Niết Bàn vô thượng. Đó
là phương tiện về tư tưởng trong sự nghiệp giáo hóa độ
sanh.
2.-Qua
thành tích, Bồ Tát Duy Ma Cật có gần đủ những đức tính
từ bi, trí tuệ, phương tiện biện tài... của Phật.
Bồ
Tát Duy Ma Cật rõ là thành phần tích hạ bản cao.
Thành
ý, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Đó
là đạo đức của các nhà chánh trị cổ kim, vì sự nghiệp
ích quốc lợi dân cho một nước.
Bồ
Tát Duy Ma Cật ở giai cấp nào gương mẫu trong giai cấp đó.
Có
vậy, chúng sanh mới nghe, mới tin, mới phục, thì lý tưởng
và mục đích của Bồ Tát mới hiện thực và tồn tại ở
trong lòng chúng sanh.
3.-
Muốn bắt hùm phải vào hang cọp. Muốn cảm hóa giới nào
phải đồng sự với họ. Đường lối đó Bồ Tát Quán Thế
Âm đã làm. Đó là “thủ đoạn” nhưng đem lại hiệu quả
cao.
Thực
ra “thủ đoạn” và “phương tiện” là một. Là thủ đoạn
hay là phương tiện, chỉ biết sau khi kết quả của việc
làm cụ thể hình thành.
4.-
Thân vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh.Thân như mộng, huyễn,
bào, ảnh, như ba tiêu, như Càn thát bà thành...Cần phải yểm
ly khinh sẽ nó.
Đó
là cái nhìn của chủng tánh Tiểu thừa.
Chừng
nào nhận thấy được các đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh
của hiện tượng vạn pháp, mới là người đích thực chứng
ngộ chân lý.
Đó
là cái thấy của người chủng tánh Đại thừa.
5.-Yểm
ly thân nầy ham cầu thân Phật, chưa phải là người thể
nhập tri kiến Phật của chính mình.
Vì
vậy pháp mà Bồ Tát Duy Ma Cật thuyết ở phẩm kinh nầy
là pháp phương tiện.
CHƯƠNG
THỨ BA
THANH
VĂN
I.-
VẤN ĐỀ THIỀN
Bây
giờ Trưởng giả Duy Ma Cật tự nghĩ: nay mình nhuốm bệnh
nằm một mình một giường và một thất, đức Thế Tôn là
bậc đại từ rồi đây thế nào cũng xót thương và sai người
đến thăm bệnh. Phật biết thâm ý của Trưởng giả Duy Ma
Cật, bèn gọi Ông Xá Lợi Phất đến và bảo:
1.-
Xá Lợi Phất! Thầy hãy đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật.
Hiện nay Ông ấy có bệnh.
Ông
Xá Lợi Phất thưa:
Bạch
Thế Tôn! Con xin Thế Tôn thương cho! Con không kham lãnh trách
nhiệm đến thăm bệnh Ông ấy.
Bạch
Thế Tôn! Vì trước đây có một hôm nọ, con đang ở trong
rừng ngồi thiền dưới một cội cây. Tình cờ Ông Duy Ma
Cật đến, nói với con rằng:
Thưa
Ngài Xá Lợi Phất! Ngài bất tất phải ngồi như thế mới
là ngồi thiền! Luận về việc ngồi thiền, thiền giả không
dính mắc tam giới mà thân tâm vẫn sinh hoạt mới là ngồi
thiền. Sinh hoạt trong oai nghi như bình nhật mà không rời
diệt tận định mới là ngồi thiền. Làm mọi việc như kẻ
phàm phu mà không xao lãng đạo pháp mới là ngồi thiền. Tâm
không cột vào trong mà cũng không tản mạn ra ngoài mới là
ngồi thiền. Trước bao nhiêu tà kiến, bao nhiêu dị thuyết,
bao nhiêu chuyện mê tín, hoang đường mà tâm không bị lay
động, không bị mê hoặc, cám dỗ, xiêu lòng, vững tâm trong
37 phần trợ đạo, thế mới là ngồi thiền. Không khởi tâm
đoạn trừ phiền não mà vẫn có Niết bàn, thế mới là ngồi
thiền.
Ngồi
được như thế thì đó là thứ thiền được Phật ngợi
khen và ấn khả, thưa Ngài Xá Lơi Phất.
Bạch
Thế Tôn! Ông Xá Lợi Phất thưa. Sau khi con nghe những lời
như thế, con lặng người ra gần như sảng sốt, chẳng trả
lời được với Ông Duy Ma Cật câu nào. Vì vậy con không
dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh.
TRỰC
CHỈ
1.-
Thiền là pháp môn tu phổ biến trong đạo Phật.
Sau
Phật Niết Bàn, giáo lý Phật bị phân hóa. Tùy căn cơ nhận
thức, họ chia thành bộ phái. Từ bộ phái tiến tới chỗ
lập tông chỉ riêng. Từ đó có cái từ “Tông phái”.
Lập
trường của các Tông phái “Tiểu dị đại đồng”. Nghĩa
là bên mặt hình thức thì mỗi tông phái có khác. Nhưng tất
cả đều xử dụng chất liệu Thiền để phát huy hiệu quả
trên đường thăng tiến Bồ Đề vô thượng.
Tu
mà không có Thiền giống như ăn cơm không có muối. Dù có
được ăn, nhưng yếu đuối, èo uột, ngày chết chẳng còn
xa.
Người
thọ tam qui, ngũ giới cũng phải học Thiền. Có Thiền
mới nhớ Phật, nhớ Pháp, nhớ Tăng. Có Thiền mới chận
đứng những sai trái mình sắp làm.
Tu
Thập thiện nghiệp để hưởng phước báu người, Trời,
cũng phải học Thiền, tham thiền.
- Sơ
thiền, tham đề tài “Ly” cấp I.
- Nhị
thiền, tham đề tài “ĐỊNH”.
- Tam
thiền, tham đề tài “LY” cấp II.
- Tứ
thiền, tham đề tài “XÔ...
Đó
là quá trình hành thiền của Thiên thừa Phật giáo.
Để
được A LA HÁN quả, thiền phải tích cực hơn nhiều. Phải
thường xuyên liên tục để thu nhiếp tâm và làm chủ tự
tâm. Vì vậy Ngài Xá Lợi Phất say sưa trong tỉnh tọa ở
mé suối ven rừng. Ngài Duy Ma Cật có dịp gặp gỡ luận đàm
thiền vị.
Ba
mươi bảy phần trợ đạo là đề mục thiền của hàng Thinh
Văn tham tọa:
-TỨ
NIỆM XỨ:
1.-
Quán thân bất tịnh.
2.-
Quán thọ thị khổ.
3.-
Quán tâm vô thường.
4.-
Quán pháp vô ngã.
-
TỨ CHÁNH CẦN:
1.-
Việc ác chưa sanh cố gắng ngăn chận.
2.-
Việc ác đã sanh cố gắng dứt trừ.
3.-
Việc thiện đã sanh cố gắng phát triển.
4.-
Việc thiện chưa sanh cố gắng phát khởi.
-
TỨ NHƯ Ý TÚC:
1.-
Mong muốn điều thiện.
2.-
Tinh tấn làm thiện.
3.-
Vui làm được việc thiện.
4.-
Quyết tâm không rời việc thiện.
-
NGŨ CĂN:
1.-
Luôn bồi dưỡng đức tin Tam Bảo.
2.-
Tinh tấn trên đường đạo
3.-
Luôn nhớ Phật, Pháp, Tăng.
4.-
Luôn bồi dưỡng định lực.
5.-
Luôn bồi dưỡng và nâng cao trí tuệ.
-
NGŨ LỰC:
1.-
Tín tâm kiên cố.
2.-
Tinh tấn kiên cố.
3.-
Niệm tưởng kiên cố.
4.-
Định tâm kiên cố.
5.-
Tuệ giác kiên cố.
-
THẤT GIÁC CHI:
1.-
Trạch pháp.
2.-
Tinh tấn.
3.-
Hỉ.
4.-
Khinh an.
5.-
Niệm.
6.-
Định.
7.-
Xã.
-
BÁT CHÁNH ĐẠO:
1.-
Chánh kiến.
2.-
Chánh tư duy.
3.-
Chánh ngữ.
4.-
Chánh nghiệp.
5.-
Chánh mạng.
6.-
Chánh tinh tấn.
7.-
Chánh niệm.
8.-
Chánh định.
Bồ Tát thừa thi hành Thiền và phát huy Thiền theo quá trình
tiệm tiến qua Lục độ:
- LỤC
ĐỘ: 1.- Bố thí thiền.
2.-
Trì giới thiền.
3.-
Nhẫn nhục thiền.
4.-
Tinh tấn thiền.
5.-
Thiền định thiền.
6.-
Trí tuệ thiền.
Năm
độ trước thiền phát huy phước đức. Độ thứ sáu thiền
phát huy trí tuệ, để Bồ Tát hoàn thành Phước Huệ song
tu và chuẩn bị bước lên đỉnh cao Bồ Đề vô thượng.
Đến
Phật quả gọi là Như Lai thiền.
Huyền
Giác thiền sư nói:
“Đốn
giác liễu Như Lai thiền
Lục
độ vạn hạnh thể trung viên”
Bồ-Tát
Duy Ma Cật luận về thiền và giới thiệu cho Ngài Xá Lợi
Phất về Như Lai thiền ấy.
Như
Lai thiền không nhất thiết phải “tọa” mới có “thiền”.
Như Lai thiền đi, đứng, nằm, ngồi đều hiệu quả như nhau.
Thiền
định có nghĩa “Tư duy tu”. Đối cảnh thì tư duy, có đề
tài thì quán chiếu. Không luận đứng, đi, nằm, ngồi.
Thiền
định còn có nghĩa là “Tĩnh lự”. Thiền giả “Tư lự”
một đề tài trong lúc tâm thật yên tĩnh.
Một
câu thoại đầu là một đề tài. Một công án là một đề
tài. Thoại đầu công án là đề tài cũ sao chép của người
xưa. Có đề tài lạc hậu không còn tác dụng trong thời hiện
đại.
Thiền
giả có thể sáng tác đề tài thiền trong mọi chốn nơi,
ở mọi hoàn cảnh và mọi thời gian.
Rút
lại, thiền là pháp tu phổ biến trong toàn bộ giáo lý Phật.
Học kinh, luật, luận rồi phải hành thiền mới đem lại
kết quả.Các tông: Thiền tông, Hoa Nghiêm tông, Pháp Hoa tông
triển khai thiền thiên nặng về pháp tánh.
Duy
Thức tông, Tam luận tông, Luật tông, Tịnh Độ tông, Chân
ngôn tông triển khai thiền thiên nặng về pháp tướng.
Do
vậy, chỗ ở của người tu sĩ Phật giáo được gọi “Thiền
môn”.
*****
II.-
VẤN ĐỀ THUYẾT PHÁP
Đức
Phật gọi Ông Đại Mục Kiền Liên bảo: “Mục Kiền Liên!
Thầy hãy đến thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật”.
Ông
Mục Kiền Liên thưa:
“Bạch
Thế Tôn! Con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh Ông
ấy. Bạch Thế Tôn! Trước đây có lần con đi vào thành Tỳ
Da Ly. Trong một thôn xóm nọ, con vì một nhóm cư sĩ nói pháp
cho họ nghe. Bây giờ trưởng giả Duy Ma Cật đến nói với
con rằng:
1.-
Thưa Ngài Mục Kiền Liên! Vì hàng bạch y cư sĩ nói pháp Ngài
không nên nói những pháp như vậy. Phàm nói pháp phải nói
pháp “NHƯ” của pháp. Bởi vì pháp không có tướng chúng
sanh, xa lìa sự cấu nhiễm về chúng sanh. Pháp không có tướng
thọ mệnh, xa lìa sanh tử ưu bi. Pháp không có tướng nhơn,
vì thời gian trước và thời gian sau không phải là một. Pháp
thường vắng lặng, vì dứt bặt các tướng. Pháp ly tất
cả tướng, vì nó không phải đối tượng sở duyên. Pháp
không có tên, không có lời để gọi, vì ngoài sự nghỉ ngơi
nói năng. Pháp không có gì để nói, vì nó ly các giác quán.
Pháp không hình tướng, vì nó như hư không. Pháp không như
trò giởn, vì nó hoàn toàn rỗng lặng. Pháp không phải là
ngã sở, vì nó rời ngoài ngã sở. Pháp không thể phân biệt,
vì nó vượt ngoài sự nhận thức đánh giá. Pháp không có
thể so sánh, vì nó không ở trong vòng đối đải. Pháp không
lệ thuộc vào nhơn, vì pháp tồn tại ở duyên. Pháp hoà đồng
pháp tánh, vì nó dung nhập với pháp tánh. Pháp tùy thuận
với pháp “Như”, vì nó không chỗ tùy. Pháp trụ nơi thật
tế, vì pháp bất đồng với bên hữu bên vô, bên đoạn bên
thường. Pháp không có giao động, vì nó không tương can với
lục trần. Pháp không có đến đi, vì pháp vốn là bất trụ.
Pháp thuận với không, tùy vô tướng, hợp với vô tác. Pháp
rời tốt xấu. Pháp không tăng nhiều, khônggiãm thiểu. Pháp
không có chỗ qui thú, nó vượt qua nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt,
thân tâm. Pháp không có cao thấp, pháp thường trú bất động.
Pháp xa lìa tất cả sự nghĩ ngợi và thi thố.
Thưa
Ngài Mục Kiền Liên! Pháp như thế thì làm sao mà có thể
nói được?
Luận
đến chỗ cứu kính của vấn đề thuyết pháp thì người
nói không nói gì hết, không phô bày gì hết. Người nghe không
nghe gì hết và không được có một sở đắc nào. Ví như
ảo thuật sư làm ra người ảo, người ảo lại nói chuyện
ảo. Phải xác lập ý thức kiên định như thế rồi mới
nên thuyết pháp.
2.-
Còn nữa, thưa Ngài Mục Kiền Liên! Người thuyết pháp phải
biết căn tánh của chúng sanh. Trước một hay nhiều đối
tượng phải đọc thấy rõ rằng căn tánh của họ lợi hay
độn, phải lấy tâm đại bi mà khen ngợi đại thừa. Phải
nghĩ rằng thuyết pháp là truyền bá, duy trì cho ngôi Tam Bảo
cửu trụ thế gian.
Thuyết
pháp nhằm để báo đáp thâm ân Phật. Phải lập chí như
vậy, rồi sau mới thuyết pháp.
Bạch
Thế Tôn! Ông Mục Kiền Liên thưa. Sau khi trươüng giả Duy
Ma Cật nói thời pháp đó, có 800 cư sĩ phát tâm vô thượng
Bồ Đề.
Bạch
Thế Tôn! Con không đươc biện tài như thế, cho nên con không
dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật.
TRỰC
CHỈ
1.-
Pháp có pháp tánh và pháp tướng. Pháp liễu nghĩa, pháp bầt
liễu nghĩa, pháp đại thừa, pháp tiểu thừa.
Về
pháp tánh, khởi ý nghĩ đã sai. Mở lời nói không đúng. Bồ
Tát Duy Ma Cật gọi thứ pháp tánh đó là pháp NHƯ.
Như
có nghĩa là tự nó sao để vậy. Đừng nói càn đừng nghĩ
ngợi. Vì nó ly tất cả. Ly văn tự, ly ngôn thuyết, ly tâm
duyên.
Người
nói được pháp tánh phải là người thành thạo diễn đạt
nghĩa lý của chữ “BẤT” và “VÔ”.
Đại
Mục Kiền Liên là Thanh văn chủng tánh chưa hiểu diệu lý:
“...Chư pháp không tướng, BẤT sanh, BẤT diệt, BẤT cấu,
BẤT tịnh, BẤT tăng, BẤT giãm...”
Chưa
hiểu được: “VÔ sắc, VÔ thọ, VÔ tưởng, VÔ hành, VÔ
thức... VÔ nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ý...”
Người
thể nhập diệu lý đó, khi thuyết pháp thường thuyết pháp
NHƯ.
Bồ
Tát Duy Ma Cật muốn Ngài Đại Mục Kiền Liên truyền đạt
pháp Như cho mọi người. Có vậy, người nghe pháp mới được
lợi ích lớn.
2.-
Theo Bồ Tát Duy Ma Cật, nhìn đối tượng, nhận xét căn cơ
là một chi tiết không thể thiếu của một vị pháp sư.
Phải
quán cơ rồi mới nên thuyết pháp. Thuyết đúng đối tượng
pháp đó mới đem lại lợi ích cho người nghe. Người nói
thì đền đáp được thâm ân Phật.
*****
III.-
VẤN ĐỀ KHẤT THỰC
Đức
Phật gọi Ông Đại Ca Diếp đến và bảo: “Đại Ca Diếp!
Thầy hãy đến thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật, ông ấy
đang có bệnh”.
Ông
Ca Diếp thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không dám lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật.
Bạch
Thế Tôn! Vì con nhớ trước đây, một hôm nọ con đi khất
thực trong một xóm nghèo, Ông Duy Ma Cật gặp và thuyết pháp
cho con một thời pháp dài rằng: “Thưa Ngài Đại Ca Diếp,
Ngài có tâm từ mà không phổ biến, chẳng bình đẳng đối
với chúng sanh. Ngài chừa nhà giàu, tìm nhà nghèo để mà
khất thực. Thưa Ngài Đại Ca Diếp! Hãy nên trụ ở pháp
bình đẳng, khất thực theo thứ tự của xóm làng. Không phải
vì ăn mà khất thực thì mới nên đi khất thực. Nhằm hoại
diệt cái thân tướng hòa hiệp này mà nhận lấy thức ăn
nắm vắt đấy. Phải xử dụng cái ý tưởng không thọ nhận,
mới thọ nhận thức ăn. Vào làng xóm, phải tưởng như đến
chỗ không người. Thấy sắc mà như đui. Nghe thanh như nghe
vang. Ngửi hương như hít gió. Nếm vị nhưng không phân biệt.
Thọ xúc như tri chứng. Biết tướng của các pháp như huyễn,
xưa vốn không sanh cho nên nay không có diệt.
Còn
nữa thưa Ngài Đại Ca Diếp! Có thể không cần rời bỏ bát
tà mà được bát giải thoát. Ngay nơi tà pháp mà thể nhập
chánh pháp. Một chút thức ăn có thể đem bố thí cho tất
cả, có thể cúng dường chư Phật và các hiền thánh, sau
đó mới đáng ăn!
Ăn
bằng cách như vậy, sẽ không có phiền não cũng không rời
phiền não. Không dụng ý nhập định cũng không dụng ý xã
định. Kkông trụ thế gian cũng không trụ Niết Bàn. Người
thí chủ không có phước lớn cũng không có phước nhỏ, không
thêm công đức cũng chẳng mất công đức. Đấy là con đường
vào Phật thừa đạo chơn chánh, không chờn vờn khập khểnh
ở cổ xe bé bỏng của Thanh văn.
Thưa
Ngài Đại Ca Diếp! Nếu được như thế mà ăn thì mới không
luống uổng thức ăn của người thí chủ cúng dường”.
“Bạch
Thế Tôn! Ông Ca Diếp thưa. Lúc con nghe bài pháp ấy rồi,
con được cái chưa từng có. Ngay lúc đó con sanh tâm cung kính
chư Bồ Tát một cách thân thiết chân thành. Vì con nghĩ rằng,
ngoài địa vị Bồ Tát, không ai có thể có trí tuệ
biện tài thâm diệu như thế. Thảo nào người nghe ai mà chẳng
phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác. Từ đó về sau
con không khuyên dạy ai học tu theo pháp Thanh văn, Bích chi Phật
nữa. Vì lẽ đó con không kham lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh
trưởng giả Duy Ma Cật”.
TRỰC
CHỈ
Khất
thực là một hạnh trong mười hai hạnh đầu đà. Sống đời
khất thực có thể phủi dũ được từng phần phiền não,
cởi mở được một ít mối manh ràng buộc.
Giàu
nghèo là chuyện của xã hội, của chúng sanh, ai có phần nấy.
Nghèo
không hẳn khổ. Biết đạo đức, sống tri túc, nghèo cũng
có thể an vui hạnh phúc.
“Thanh
bần thường lạc” là chuyện có thật.
Giàu
không hẳn vui. Làm giàu bằng bất chánh, bất lương, bất
nhân, bất nghĩa. Bên ngoài giàu, bên trong lo âu sợ sệt, đau
khổ triền miên.
“Trọc
phú đa ưu” là chuyện có thật.
Quan
niệm giàu là người đầy đủ phước đức, được
hưởng nhiều hạnh phúc là sai.
Quan
niệm nghèo là kẻ đáng thương, cần giúp đở
để cho họ được hưởng phần nào hạnh-phúc,
cũng sai.
Người
tu sĩ, nhìn bằng tuệ nhãn không đánh giá khổ vui qua hình
thức sự nghiệp nghèo, giàu.
BÌNH
ĐẲNG là tiêu chuẩn đo đạo đức và quả chứng của người
đạo sĩ.
Từ
vô lượng tâm của Phật thể hiện tiêu chuẩn đó.
Phải
ban bố lòng từ bình đẳng như ánh sáng
mặt trời chiếu xuống trần gian cho sanh linh vạn vật.
Nhằm
tạo phước đức cho người nghèo, lòng từ
đó có đối tượng, ví như ánh sáng của chiếc đèn “pin”.
Ý
niệm năng độ, sở độ, hành vi năng thí, sở thọ còn, thì
quả Bồ đề vô thượng hy vọng còn lâu.
Quan
điểm khất thực của Bồ Tát, ăn là phụ, giáo
hóa chúng sanh là chánh. Tạo phước cho chúng sanh là phụ,
dạy cho chúng sanh thành Phật là chánh. Thuyết pháp cho chúng
sanh là phụ, đoạn trừ vô minh phiền não cho mình là
chánh. Dạy cho chúng sanh thành Phật là phụ, bồi dưỡng trí
tuệ Phật cho mình là chánh.
Pháp
liễu nghĩa thượng thừa không chủ trương cúng dường để
được phước đức.
Cũng
không chủ trương chú nguyện ban phước đức cho người cúng
dường.
Chủ
trương người thí, người nhận đều là “Xứng tánh khởi
tu”, “Tùy thuận pháp tánh".
Người
thí và người nhận đều thành Phật. Đến đó mới đạt
mục tiêu
*****
IV.-
LẠI ĐỀ KHẤT THỰC
Đức
Phật gọi Ông Tu Bồ Đề bảo: “Hiện giờ trưởng giả
Duy Ma Cật đang bị bệnh. Tu Bồ Đề! Thầy hãy đi thăm bệnh
Ông ấy”.
1.-
Ông Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách
nhiệm đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật. Bởi vì trước đây, có
lần đi khất thực con ghé nơi nhà Ông, lúc bấy giờ Ông
lấy bình bát của con sớt đầy một bát cơm và nói với
con rằng: