Phần 14
Như
lâu nay thấy nói đó nghĩa là tứ đại. Là bốn thứ, là
pháp chứ gì. Khi tứ đại hợp thì thân này nó sinh. Khi tứ
đại rã thì thân này nó hoại. Như vậy cái hợp là vái tan
là chuyện của pháp chớ đâu phải chuyện của mình, phải
không? Các pháp duyên hợp hay là ngũ ấm. Là là pháp hợp.
Tan là pháp tan. Chớ mình có chết có sanh gì đâu, phải không?
Thấy vậy đó là mình biết có pháp chớ không có cái ta thực.
Không có ta thực thì cái gì là đau.
Lại
cái pháp này mỗi cái nó không biết nhau. Khi khởi nó không
nói rằng tôi khởi. Khi diệt nó cũng không nói rằng tôi diệt.
Tứ
đại khi nó hợp lại cũng không có nói ta cùng nhau hợp lại.
Khi tan nó cũng không nói chúng ta cùng nhau hè đi. Không nói
tự nó đi, tự nó lại, không biết gì hết. Như vâỵ có
gì đâu mànói rằng bệnh.
Những
vị Bồ Tát có bệnh kia vì tưởng pháp diệt nên phải khởi
nghĩ thế này. Cái pháp tưởng này cũng là điên đảo.
Khi
mình khởi nghĩ tưởng như vậy vậy rồi, khi cái pháp nó
diệt mình cũng nên khởi nghĩ thế này. Cái pháp tưởng này
cũng là điên đảo. Điên đảo tức là đại họa, ta nên
lìa nó.
Dầu
bỏ cái tưởng chúng sinh, cái tưởng ngã mà khởi cái tưởng
pháp. Sau rồi khởi cái tưởng pháp nó hợp nó tan không
thật. Rồi cuối cùng cái tưởng pháp cũng bỏ luôn. Như vậy
mới được.
Thế
nào là lìa?
( Lìa
là lìa cái ngã, ngã sở.
Thế
nào là lìa ngã, ngã sở?
( Nghĩa
là lìa hai pháp.
Thế
nào là lìa hai pháp?
( Nghĩa
là không có nghĩ các pháp ở trong ở ngoài, hành được bình
đẳng (tức là hành cái tâm bình đẳng).
Thế
nào là bình đẳng?
( Nghĩa
là ngã bình đẳng với Niết Bàn,hay là ngã đồng với Niết
Bàn. Vì cớ sao? Vì ngã và Niết Bàn hai cái đó đều là không.
Vì
cớ sao mà không?
( Chỉ
là danh tự cho nên không.
Đây
như thế hai pháp này tánh nó không quyết định. Bởi vì chúng
ta quen nghe nói Niết Bàn là chỗ không sanh tử. Còn ngã là
tướng sanh tử. Mà tướng sanh tử là tướng sanh, già, bệnh,
chết, khổ. Niết Bàn không sanh tử cho nên Niết Bàn vui.
Như
bây giờ đây khởi tâm bình đẳng, không thấy trong, không
thấy ngoài. Nó luôn luôn không dính bên này, không kẹt bên
kia. Bên ngã không có dính, bên Niết Bàn mình không có kẹt
thì ngã pháp mình không còn bên nào dính kẹt nữa. Chỗ cao
là Niết Bàn, chỗ thấp là ngã là sanh tử. Cả hai mình cũng
thấy như nhau, không còn có cái tâm thiên bệnh này, bỏ bên
kia thì đó là bình đẳng. Tại sao nói là bình đẳng? Ơí
đây giải thích hai cái đó vì sinh tử không thật thì Niết
Bàn không thật. Rốt cuộc chỉ là cái tên sanh tử và tên
Niết Bàn. Chớ còn khi đến chỗ cứu cánh nó không còn những
tên đó nữa. Vì còn có tên lập ra, là cái pháp hư dối không
có tánh quyết định.
Khi
được bình đẳng thì không có các bệnh khác, chỉ có cái
bệnh không. Bệnh không cũng không nữa. Thế nên Bồ Tát có
bệnh dùng chỗ không sở thọ (tức là không chỗ thọ)
mà thọ các cái thọ. Chưa đủ Phật pháp cũng chẳng diệt
cái thọ mà thủ nơi chứng.
Bởi
vì Bồ Tát bệnh, bệnh mà mình không nhận tất cả những
bệnh đó. Tuy không nhận tất cả bệnh mà vẫn còn có cái
nhận. Tại sao? Thấy mình chưa đầy đủ công đức, cứu
độ chúng sinh thì mình cũng còn phải thọ trong sanh tử để
rồi cứu độ chúng sinh. Chớ không nên vì không thọ mà để
rồi nhập Niết Bàn. Cho nên nói rằng không thọ mà thọ tất
cả.
Dù
thân có khổ mà nghĩ chúng sinh ở ác thú, khởi sanh ra tâm
đại bi. Ta đã điều phục cũng sẽ điều phục tất cả
chúng sinh. Chỉ trừ bệnh kia mà không trừ cái pháp. Vì đoạn
gốc bệnh mà giáo dục họ (hay là dạy dỗ họ).
Đây
mới nói thêm tâm niệm của Bồ Tát khi mình bị bệnh khổ.
Chính bản thân mình đang đau đớn, nhức nhối, khổ sở mà
mình vẫn nhớ những chúng sinh ở địa ngục, ngạ quỉ, họ
đang đau khổ gấp mấy nghìn lần mình. mình nghĩa như vậy
nên vẫn khởi tâm thương xót họ mà quên bệnh của mình.
nghĩa là mình cố gắng đều phục bệnh của mình thì cũng
phải cố gắng điều phục làm sao cho chúng sinh ở trong những
đường ác họ hết đau khổ.
Như
ở đây nói thêm rằng chỉ trừ bệnh kia, mà không trừ cái
pháp. Quí vị biết trừ bệnh mà không trừ pháp là sao không?
Bởi thân chúng ta có lại là do 5 uẩn: Sắc, thọ, tưởng,
hành, thức. Rồi mình chấp 5 uẩn đó là mình thì gọi đó
chấp ngã. Vì chấp ngã cho nên có khổ, có vui thì đó là
bệnh. Như vậy đối với thân 5 uẩn này, chúng ta chỉ pháp
bệnh chấp ngã chớ không phải phá hết 5 uẩn. Cho nên nói
trừ bệnh mà không trừ pháp vì đoạn gốc sanh tử. Đoạn
gốc bệnh là gốc sanh tử mà dạy dỗ chúng sinh. Như vậy
chúng ta mới thấy rằng Bồ Tát lúc nào cũng nghĩ đến chúng
sinh nhiều hơn là bản thân mình. Dù cho mình bệnh khổ mà
không nhớ bệnh khổ của mình. chỉ nhớ làm sao dạy bảo
cho mọi người họ hết được gốc bệnh. Tức là hết được
gốc sanh tử. Đó là mục đích của mình, chớ không phải
vì bệnh của mình mà quên khổ của người.
Đây
mới hỏi:
Sao
gọi là gốc bệnh?
( Nghĩa
là có phan duyên. Từ có phan duyên ắt là gốc của bệnh.
Gốc
bệnh tức là gốc sanh tử đó. Sở dĩ chúng ta có sanh tử
là từ cái gì mà có? Là từ cái tâm phan duyên. Phan duyên
tức là nắm bắt hay không buông cái này chụp cái kia. Lúc
nào cũng đuổi theo năm bắt thì gọi đó là phan duyên. Vì
tâm chúng ta đuổi theo sắc trần, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Cứ như vậy mà đuổi cái này bắt cái kia mãi mãi. Cái tâm
đó gọi là tâm phan duyên. Chính tâm phan duyên đó nó tạo
thành nghiệp mà có thân này, mà thân này là gốc của bệnh.
Như vậy mình biết sở dĩ có thân thì gốc từ tâm duyên
theo ngoại cảnh, chạy theo sáu trần mà có.
Sao
gọi là phan duyên?
( Nghĩa
là gọi đó là tam giới.
Quí
vị thấy câu đó dễ hiểu không? Phan duyên là phan duyên cái
gì? Đuổi theo nắm bắt cái gì? Tức là đuổi theo nắm bắt
những cảnh trong dục giới, trong sắc giới, trong vô sắc
giới. Thực tình chúng ta ở đây đang đuổi theo cảnh nào?
Trong dục giới mà mình còn đuổi bắt quá chừng quá đổi,
phải không? Huống nữa là tới sắc giới, vô sắc giới.
Thí
dụ những người mà tâm duyên tưởng theo các định Sơ Thiền,
Nhị Thiền, Tam Thiền v.v... Những người đó nếu ngang đó
mà chết thì sanh vào cõi trời sắc giới. Đó gọi là phan
duyên sắc giới. Những người đeo đuổi theo cái định vô
biên xứ, sắc vô biên xứ v.v... Khi chết thì sanh vào
cõi Thiền vô sắc giới.
Như
vậy hai cõi sắc giới và vô sắc giới, hiện giờ tâm mình
có phan duyên theo không? Hay là phan duyên theo cái gì? Nội cái
dục giới đây mà coi bộ nó chạy tứ tung, mình không kềm
không nổi, phải không? Hết cái này tới cái nọ. Như vậy
đây cắt nghĩa rõ ràng, sở dĩ mình có thân là vì cái tâm
phan duyên. Mà phan duyên cái gì? Phan duyên với cảnh trong tam
giới. Làm sao mà đoạn phan duyên? Tức là làm sao mà đoạn
cái nắm bắt đó.
Dùng
vô sở đắc. Nếu vô sở đắc thì không có phan duyên.
Quí
vị thấy đây thật là kỹ càng. Bây giờ làm sao dứt tâm
phan duyên đó thì bảo rằng chúng ta muốn dứt tâm phan duyên
thì thấy không có cái gì là thật hết. Tất cả cái mình
gọi là được, gọi là mất chỉ là ảo thôi, tạm bợ thôi,
không có thật. Đã là giả tạm thì có cái gì thật được,
thật mất đâu mà đuổi theo phải không?
Thí
dụ: chúng ta đuổi theo những cái như là sắc, thanh, hương,
vị... Nói gần nhất đi, bây giờ trong chúng mình giả sử
như sáng có một huynh đệ nào tử tế, tốt bụng luộc cho
3 củ khoai lang. Một củ phần mình, còn dư hai củ chia cho
hai huynh đệ. Nhưng hai củ đó, một củ thì có sùng, một
củ không sùng. Củ có sùng mình một huynh A. Củ không sùng
mình cho huynh B. Huynh A được củ có sùng, tuy được cho mà
cho củ có sùng. Anh B được cho không sùng. Ăn củ có sùng
mình có vui không? Sau khi đượcc ó sùng, ăn một khúc, bỏ
một khúc. Rồi đối với việc huynh đó xử với mình đó,
chừng mấy năm mình quên. Chừng mấy năm? Mỗi khi gặp là
nhớ, ông này cho tôi khoai sùng. Cứ như vậy mà nhớ.
Như
vậy thì chúng ta dính bởi những cái được và mất. Nhưng
dù cho khoai sùng, khoai không sùng, nhai ngấu nghiến trong 5 phút,
nuốt cái ực mất tiêu phải không? Nó có thật ở đâu. Nó
không thật mà tâm phan duyên nó cứ dính, nó cứ giữ. Bởi
dính, bởi giữ như vậy đó mà chúng ta phải trầm luân sinh
tử đời đời. Chúng ta mới thấy điều hết sức là rõ
ràng, sở dĩ mình phải có sinh tử là vì tâm phan duyên những
cảnh trong tam giới là vì mình thấy có được, có mất. Thấy
có được thật, có mất thật, cho nên mới có cái chấp chặt
đó, mới có cái đuổi theo đó. Bây giờ thấy không có cái
được thật, không có cái mất thật. Cái gì chẳng qua là
tạm bợ một chút rồi mất, không có thật. Biết được
như vậy, thấy được như vậy thì tâm phan duyên nói hết.
Như vậy cái tu hết sức rõ ràng nhưng chúng ta bây giờ ngồi
kiểm điểm lại, thấy tất cả những chuyện buồn vui, có
phải từ tâm phan duyên được mất đó mà ra không? Tất cả
đều gốc từ cái đó. Bởi thấy có được, bởi thấy có
mất, được thì vui, mất thì khổ. Vui cũng nhớ mãi, khổ
cũng nhớ đời. Cho nên cứ trầm luân sinh tử.
Sao
gọi là vô sở đắc (không chỗ được)?
Đáp
rằng:
( Nghĩa
là lìa hai cái kiến chấp.
Bây
giờ làm sao cho thấy được vô sở đắc. Ở đây bảo rằng:
Chúng ta phải lìa 2 kiến chấp.
Sao
gọi là hai kiến chấp?
( Nghĩa
là kiến chấp bên trong, kiến chấp bên ngoài. Ấy đều là
vô sở đắc.
Kiến
chấp bên trong là chấp thân. Kiến chấp bên ngoài là chấp
cảnh. Nếu mình không chấp thân thật, mình không chấp cảnh
thật thì tất cả đều là vô sở đắc, phải không? Còn
sở dĩ mình bây giờ thấy chấp thân mình thật, chấp cảnh
ở ngoài thật, cho nên mới có cái được thật và cái mất
thật. Như vậy thật là rõ ràng cho người tu.
Tôi
ôn lại cho quí vị nhớ. Cái gốc bệnh tức là chỉ cho cái
gốc sanh ra trong tam giới. Hay là trong lục đạo đó là từ
tâm vọng tưởng chạy theo cảnh. Gọi đó là phan duyên. Tâm
vọng tưởng chạy theo cảnh đó không ngoài cảnh tam giới.
Nếu mình muốn dứt tâm chạy theo cảnh tam giới đó thì mình
phải thấy không có gì là cái được thật, mất thật hết.
Làm sao mà không thấy được thật, mất thật? Là do mình
không thấy có ở trong là ngã thật, ở ngoài là ngã sở thật.
Hay nói cách khác, ở trong là thân thật, ở ngoài là cảnh
thật. Được như vậy đó mới là đi tới chỗ vô sở đắc.
Như vậy cái gốc tu hành hết sức là rõ ràng.
Văn
Thù Sư Lợi, ấy là Bồ Tát có bệnh dùng cái tâm kia để
mà điều phục.
Như
vậy khi Bồ Tát bệnh phải dùng tâm đó mà điều phục. Vậy
khi Bồ Tát có bệnh, khởi tâm đại bi thương xót chúng sinh
thì phải biết gốc bệnh của chúng sinh là cái gì, rồi từ
đó mình phăng lần để chỉ dạy, để cho người ta dẹp
hết cái gốc bệnh đó. Cuối cùng gốc bênh là chấp ngã
và ngã sở chớ không gì hết, phải không. Cái đó là cái
cuối cùng.
Vì
đoạn cái khổ, già, bệnh, chết ấy gọi là là Bồ Đề
của Bồ Tát.
Như
vậy Bồ Tát đoạn được Bồ Đề tức là được giác ngộ
đó. Mà giác ngộ cái gì? Là giác ngộ dứt được cái già,
cái bệnh, cái chết. Đó là chỗ giác ngộ của Bồ Tát. Nếu
không như thế thì chỗ tu trị của mình không có trí huệ
bén nhậy. Thí dụ như thắng được kẻ thù mới gọi là
dũng sĩ. Như thế gồm trừ được già, bệnh, chết, mới
gọi đó là Bồ Tát. Đây mới nói cho chúng ta thấy rõ, nếu
Bồ Tát mà không được cái nhìn, cái nghĩ, cái quán sát như
trên. Tức là khi mình bệnh, không nghĩ đến cái khổ của
chúng sinh trong địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh để mà thương
xót họ, để nghĩ tới tìm cách cứu thoát họ ra khỏi sinh
tử... Như vậy không phải là Bồ Tát có trí huệ bén nhậy.
Đó là đoạn nói cho chúng ta rõ manh mối tu.
Bồ
Tát có bệnh kia nên lại khởi nghĩ như thế này (Đây là
chỉ cho Bồ Tát có bệnh phải khởi nghĩ như thế này. Nghĩ
sao?). Như bệnh của ta đây không phải là chơn, không phải
là có. Bệnh của chúng sanh cũng không phải là chơn, cũng
không phải là có. Khi khởi quán như thế đối với các chúng
sanh khởi ái kiến đại bi tứ nên xả ly (Tức là bỏ lìa
nó).
Quí
vị thấy khi Bồ Tát bệnh phải khởi nghĩ thế này. Bệnh
của mình không phải là thật, cũng không phải là có. Bệnh
của chúng sanh cũng không phải là thật, không phải là có.
Khi quán như vậy rồi, đối với chúng sanh nếu có khởi ái
kiến đại bi thì nên xả bỏ nó đi. Bây giờ trước hết
tại sao mình phải thấy bệnh nó không phải thật, không phải
có.
Bây
giờ tôi hỏi tất cả mấy huynh đệ, cái bệnh của mình
là thật, là có. Hay không phải thật, không phải có? Nếu
bệnh mình là thật thì đau lúc nào cũng đau hoài, phải không?
Vì nó thật, nó còn mãi, uống thuốc đâu có hết, vì nguyên
nó là thật. Bởi nó không thật nên gặp thuốc trị nó hết.
Như vậy cái gì thật thì nó còn nguyên vẹn mãi mãi. Cái
gì khi có khi không thì nó không phải là thật. Mà không phải
thật thìnó đâu phải thật có, phải không? Bệnh của mình
như vậy, thì bệnh của chúng sanh cũng như vậy. Nhưng khi
mình quán như vậy rồi thì chớ có khởi ái kiến đại bi.
Nếu lỡ có khởi ái kiến đại bi thì phải bỏ. Đã nó là
đại bi, sao còn gọi là là ái kiến. Đây mới giải thích.
Vì
cớ sao? Bồ Tát đoạn trừ khách trần phiền não mà khởi
đại bi ái kiến. Bi đó tức là đối với chúng sinh có tâm
mệt. Đối với sinh tử có tâm mệt mỏi. Nếu hay lìa được
cái này không có nhàm chán, sanh ở chỗ nào cũng không có
ái kiến che lấp, cũng không bị ái kiến che lấp.
Đó
quí vị thấy cái ái kiến đại bi chưa. Ái kiến đại bi
là sao? Nghĩa là khi mình từ khách trần phiền não. Cái gì
gọi là khách trần phiền não? Nếu nó theo kinh Lăng Nghiêm
thì cái gì là khách, cái gì là trần? Trong kinh Lăng Nghiêm
nói, nếu có người tới nhà người khác xin ở trọ một
đêm rồi sáng ra đi. Người đó gọi là chủ hay khách? Khách.
Người chủ nhà thì không ở trọ. Ở nhà đó mãi, gọi đó
là chủ. Gọi đó là chủ là là khách rồi. Trần trong kinh
Lăng Nghiêm nói, như trong hư không khi mặt trời lên có ánh
sáng rọi vào trong nhà, trong mấy lỗ hở nhìn thấy hư không
trong nhà có những hạt bụi lăng xăng bay trong đó. Như vâỵ
hạt bụi bay lăng xăng trong hư không thì đó gọi là trần.
Hư không có bay lăng xăng không? Bụi bay lăng xăng, lăng xăng
đó gọ đó là trần.Chủ không đi. Còn khách có đến và
có đi thì gọi đó là khách. Như vậy mình nói khách trần
phiền não là cái tâm vọng tưởng chợt sanh, chợt diệt,
chợt có, chợt không. Trong khi mình dẹp trừ những phiền
não hay những loại vọng tưởng điên đảo chợt có, chợt
không đó, mình khởi ra cái tâm đại bi. Đại bi tức là mình
thương mọi người. Mình muốn độ họ, mình muốn dẹp cho
họ thì gọi đó là đại bi. Như tại sao lại là ái kiến/
tức là mình khởi tâm thương họ, muốn đoạn trừ phiền
não cho họ. Nhưng đối sinh tử thì thấy sinh tử hoài mệt
mỏi quá! Có tâm chán. Thôi! Đời này thôi, sau mệt rồi không
có thèm trở lại độ nữa. Có tâm vừa chán như vậy đó
là ái kiến đại bi. Tuy thương chúng sinh mà cảm thấy mình
mệt mỏi. Như vậy là ái kiến đó là kiến cái gì?
Hai
cái kiến hồi nãy đó. Là kiến ngã phải không? Ai mệt mỏi?
Ta mệt mỏi. Bởi thấy ta mệt mỏi, thương chúng sinh nhưng
thấy mình mệt mỏi thì gọi đó là ái kiến đại bi.
Mất
chú có bệnh đó không? Chắc còn tệ hơn cái đó nhiều nữa.
Cho nên Bồ Tát bảo rằng mình phải lìa tâm ái kiến đại
bi đó thì mới không có sự mệt mỏi, nhàm chán. Nếu lìa
được tâm ái kiến đại bi, không có sự mệt mỏi, nhàm
chán thì sanh ra ở chỗ nào, bất cứ lúc nào cũng không bị
ái kiến che lấp. Sanh ra liền nhớ bản hạnh của mình để
tiếp tục tu. Còn nếu mình có mang ái kiến đại bi trong đó,
sanh ra liền bị cái ái nó che, quên cái bản nguyện ban đầu
của mình.
Thực
ra mấy chỗ này chúng ta thấy quá là cao thượng, quá là siêu
thoát. Nhìn lại mình thì sao? Chỉ có một đời này thôi mà
khả năng mình có thể làm được việc này việc nọ. Mà
sai làm một lần, hai lần thì còn ráng. Tới lần thứ ba,
thứ tư thì sao? Thôi! Con mệt lắm rồi! Không làm nữa đâu.
Cái gì mệt? Cái ngã. Vì còn thấy mình thật, rồi có ái
kiến. Từ cái ái kiến đó cho nên chấp ngã. Chấp ngã cho
nên không muốn làm. Như vậy Bồ Tát sanh nhiều đời để
độ chúng sanh, mà có khi một lúc nào đó cảm thấy mệt
mỏi, đã là ái kiến đại bi. Còn mình chỉ có một đời
này, hoặc làm việc có năm tháng, bảy tháng mà thấy mệt
mỏi thì còn gì đại bi. Cái gì đại bi trả lời giùm coi.
Ch nên mới thấy cái tầm thường, cái dở của mình, yếu
của mình. cho nên giả sử ngang đây mà có chết, trở lại
chắc quên hết trơn. Ít ra cũng gần tới đầu bạc mới nhớ,
phải vậy không? Bởi vì tâm ái kiến còn nặng quá, nó đâu
có mạnh. thấy vậy chúng ta mới biết cái gốc tu thật là
sâu. Hiểu cho thật kỹ thì tu khỏi lầm lẫn. Chớ không thì
học hạnh Bồ Tát, tu thì muốn thành Phật. Muốn thành Phật
thì có qua hạnh Bồ Tát không? Nếu không qua hạnh Bồ Tát
thì đâu thành Phật. Như vậy những cái Bồ Tát làm, mình
chưa có tí ti gì hết trơn, phải không? Đó là cái xấu hổ
của mình đó.
Cái
chỗ sanh không bị trói buộc hay vì chúng sinh nói pháp mở
trói buộc.
Nghĩa
là Bồ Tát mà dứt ái kiến đại bi rồi thì sanh nơi nào
cũng không bị ái kiến che lấp. Mình sanh ra không gì trói
buộc mình hết. Rồi mình cũng hay vì chúng sinh nói pháp để
mởi trói buộc cho họ.
Như
lời Phật nói, nếu tự có trói buộc mà hay cởi mở ch người
kia thì không có lẽ ấy.
Phật
dạy rằng nếu ai đó còn đang bị trói buộc mà muốn cởi
mở cho người khác thì không có lẽ đó. Tôi nói thí dụ,
như có đám ăn cướp vô nhà, mỗi người cột lại trong một
cây cột. Nó lấy đồ hết, nó đi. Người nào cũng bị cột,
bị trói trong cây cột. Bây giờ mình muốn mở cho huynh đệ
mình mở được không? Khi mình đang bị trói? Dù cho mình có
thương có muốn mở cho người khác mà chính mình chưa mở
được thì cũng khó mở được cho ai. Cho nên Phật dạy chúng
ta phải tự mở. Muốn tự mở thì phải phá hai kiến chấp
về ngã, kiến chấp về ngã sở. Nếu phá được hai cái đó
rồi là chúng ta mở được cái trói buộc. Rồi từ đó mới
mở được trói buộc cho người khác. Đó là lẽ thật.
Nếu
tự mình không trói buộc mà hay mở cho người kia, đâu là
có lẽ ấy.
Lẽ
ấy đó là lẽ thật. Mình không bị trói buộc, mình mở cho
người khác, đó là lẽ thật khong chối cãi được.
Thế
nên Bồ Tát không nên khởi cái trói buộc.
Cho
nên là Bồ Tát thì không nên khởi cái trói buộc. Khởi trói
buộc tức là khởi những ái kiến về ngã và ngã sở. Nói
như vậy ở đây các huynh đệ thấy lời dạy này có dính
gì với mình không, có gần với mình không? Mấy huynh đệ
có phát tâm thọ Bồ Tát giới không?
Như
vâỵ mình là Bồ Tát rồi, phải không? Đang tu Bồ Tát hạnh
thì phải học những lời dạy để Bồ Tát thực hành. Như
vậy trước hết mình phải học cái gì là trói, rồi cái
gì mà mở. Biết được cái trói, rồi cái gì là mở. Biết
được cái trói, cái mở rồi để mình mở trói cho mình và
mình mở trói cho chúng sinh.
Thế
nên Bồ Tát không nên khởi trói. Sao gọi là trói? Sao gọi
là mở? Tham trước thiền vị, ấy là Bồ Tát bị trói. Do
phương tiện sanh ấy là Bồ Tát mở.
Đây
là tiến lên một bước cao nữa. Nếu Bồ Tát còn tham trước
các thiền vị của mình, đó gọi là bị trói. Thí dụ có
những vị tu thiền, nhập được Diệt Tận Định. khi nhập
được Diệt Tận Định rồi an ổn, tự tại không khổ, không
vui, không có phiền hà nào hết. Yên tron tỉnh lặng đó, rồi
say sưa mãi trong đó thì có lợi ích gì cho ai không? Có cứu
độ cho kẻ nào được không? nếu mình bám vào đó mình tự
mãn, mình hài lòng thì gọi đó là bị trói. Đó là bị trói
của Bồ Tát. Vì như vậy là mình không có phương tiện. Bởi
không phương tiện nên không làm lợi ích cho ai được. Cho
nên nó do phương tiện sanh, ấy là Bồ Tát mở. Trong khi mình
vẫn được cái Thiền vị mà mình khởi phương tiện, tức
là khởi lọng đại bị, muốn chỉ cho chúng sinh họ thoát
khổ như mình. Như vậy đó là mở được cái trói. Còn nếu
mình tự hài lòng, tự mãn với cảnh của mình được thì
đó là bị trói.
Lại
không có phương tiện huệ, gọi là bị trói. Có phương tiện
huệ gọi là mở.
Không
có huệ phương tiện là trói. Có huệ phương tiện là mở.
Bởi vì chúng ta tu mà cứ cố chấp những cái pháp mình được,
rồi an trú ở trong đó. Gọi là không có huệ phương tiện.
Nếu không có huệ phương tiện thì đó là bị trói trong sở
đắc của mình. còn nếu mình có huệ phương tiện thì mình
không chấp cái sở đắc đó. Như vậy mình mới làm lợi
ích cho mọi người thì gọi đó là có huệ phương tiện.
Người đó là người được cởi mở.
Sao
gọi là không có phương tiện huệ bị trói? Nghĩa là Bồ
Tát do cái tâm ái kiến, trang nghiêm cõi Phật thành tựu cho
chúng sinh đối với không, vô tướng, vô tác. Trong pháp khhông,
vô tướng, vô tác mà tự điều phục ấy gọi là không phương
tiện huệ bị trói.
Đây
là chỉ thêm chỗ cao vút cho chúng ta thấy. Thường thường
nói Bồ Tát tu thì phải khởi tâm trang nghiêm tịnh độ thành
tựu chúng sinh, phải không? Trong khi khởi tâm trang nghiêm tịnh
độ thành tựu chúng sinh đối với 3 pháp giải thoát môn
là không, vô tướng, vô tác. Mình lấy đó mà điều phục.
Như vậy gọi là không có phương tiện huệ, là bị trói.
Bây
giời sao gọi là có phương tiện huệ được giải thoát hay
là được cởi mở. Nghĩa là không do tâm ái kiến trang nghiêm
cõi Phật thành tựu chúng sinh đối trong 3 pháp không, vô tướng,
vô tác dùng tự điều phục mà không nhàm chán. Ấy gọi là
có phương tiện huệ mở.
Như
vâỵ hai bên khác nhau chỗ nào? Bên kia có tâm ái kiến, trang
nghiêm tịnh độ thành tựu chúng sinh, cung tu tam môn giải
thoát. Bên nọ cũng trang nghiêm tịnh độ thành tựu chúng
sinh, tu 3 môn giải thoát nhưng mà không ái kiến. Bây giờ
chúng ta nghĩ thế này, mình ráng vận động cất một ngôi
chùa cho thật đẹp để rồi mình về ở đó tu dưỡng già
cho khỏe thân. Như vậy cũng cất chùa, cũng lo cho tam bảo
nhưng mà nghĩ về đó cho khỏe thân của mình thì có ái kiến
không? Còn bây giờ mình cũng muốn vận động cất chùa cho
to để nuôi chúng để hướng dẫn họ tu hành, để họ tiến
tới chỗ giải thoát mà không nghĩ mình thế nào hết. Cái
đó có ái kiến không?
Như
vậy cũng một việc làm mà một bên còn ái kiến. Cho nên
chúng ta tế nhị đừng hiểu lầm. Nhiều khi cứ nghe nói cất
chùa thì tưởng ai cũng tốt hết. Nhiều khi cất chùa muốn
chùa mình cho hơn người khác thì đó có ái kiến không? Rồi
cứ vậy hoặc cất chùa để rồi thu hút Phật tử cũng dường
nhiều... Những cái đó đều từ bệnh ái kiến mà ra. Ở
đây nghĩ tới trang nghiêm cõi Phật thành tựu chúng sinh, tu
3 môn giải thoát mà còn nghĩ về mình nữa thì còn là ái
kiến thay. Vốn nữa là những (thiếu một chút đầu mặt
B cuộn 6) rõ lời của các vị Bồ Tát chỉ cho mình biết
bệnh để mà tránh. Tránh được bệnh thì mới mong giải
thoát được, mới mong tiến lên Phật quả được.