Phần 13
Ngài
Văn Thù nói:
( Hãy
gát việc đó lại. Cư sĩ, cái bệnh ông có thể chịu nổi
chăng? Ông trị liệu có bớt, không có thể tăng chăng?
Tôi
đi thăm bệnh ông mà nói chuyện xa vời quá. Thực tế thì
gát chuyện đó lại. Bây giờ là chuyện thực tình là bệnh
ông có nặng lắm không? Ông chịu nổi không? Và ông trị
kiệu nó có giảm bới hay là nói tăng.
Thế
Tôn ân cần thăm hỏi ông vô cùng.
Thế
Tôn rất là thương, thăm hỏi ông lắm. Đó là bổn phận
sứ giả rồi đó.
Này
cư sĩ! Bệnh ấy do nguyên nhân gì mà khởi? Bệnh sanh đã
lâu chăng? Làm sao mà hết?
Phải
làm sao cho hết? Bệnh đó sanh lâu chưa? Như vậy là ba câu
hỏi. Câu hỏi thứ nhất là nhân duyên gì mà sanh bệnh? Câu
hỏi thứ hai, bệnh đó đã lâu chưa? Câu hỏi thứ ba làm
sao cho hết bệnh đó? Ba câu hỏi để ông Duy Ma Cật trã lời.
Ông
Duy Ma Cật nói:
( Từ
si mà có ái, ắt là cái bệnh của tôi sanh.
Từ
si mà có sai. Như vậy Ngài có si sao? Qua tới câu sau thì thấy
rõ ý nghĩa này. Chỗ này khỏi cần giải thích để câu sau
thấy.
Do
tất cả chúng sanh bệnh cho nên tôi bệnh. Nếu tất cả chúng
sanh được lành thì bệnh tôi cũng lành.
Như
vậy câu mở đầu ông trả lời nghĩa là nguyên nhân bệnh
là do si có ái sanh ra bệnh. Đó là nguyên nhân từ đâu sanh
ra bệnh. Đó là nguyên nhân từ đâu sanh ra bệnh. Câu thứ
hai là bệnh đó bao lâu rồi. Đây nói tất cả chúng sanh có
bệnh thì tôi có bệnh, không biết bệnh bao lâu. Rồi câu
hỏi không biết bao lâu mà lành. Nói chừng nào lành thì Ngài
nói chừng nào chúng sanh hết bệnh thì tôi lành bệnh. Như
vật tóm tắt trả lời ba câu hỏi rồi phải không? Bây giờ
mới giải thích.
Vì
cớ sao? Bồ Tát vì chúng sanh nên vào sanh tử. Có sanh tử
ắt là có bệnh.
Như
vậy mới giải thích tai sao có bệnh. Bồ Tát là vì chúng
mà vào trong sanh tử, mà có sanh tử thì có bệnh. Đó là nguyên
nhân bệnh. Như vậy có si, có ái tức là có sanh tử. Chúng
sanh do si ái cho nên có sanh tử thì Ngài liền có bệnh. Ngài
phải vào sanh tử cho nên Ngài có bệnh. Chớ không phải Ngài
có si có ái. Bây giờ chúng ta vào đây là chúng ta từ si và
ái mà có trong sanh tử này. Bồ Tát thương chúng ta nên đi
vào trong sanh tử, mà đi vào trong sanh tử gọi nó là bệnh.
Nếu
chúng sanh được lìa bệnh thì Bồ Tát cũng lại hết bệnh,
cũng không bệnh.
Nếu
chúng sanh hết trong sanh tử thì Bồ Tát còn vào trong sanh tử
không? Đâu có còn. Vì vậy mà chúng sanh còn bệnh thì Bồ
Tát còn bệnh. Chúng sanh hết bệnh thì Bồ Tát hết bệnh.
Đây
thí dụ như ông Trưởng giả chỉ có một đứa con. Đứa
con kia mắc bệnh thì cho mẹ cũng bệnh. Nếu đứa con kia bệnh
được lành thì cha mẹ cũng lành. Bồ Tát cũng như thế, đối
với chúng sanh yêu mến như con. Chúng sanh bệnh thì Bồ Tát
bệnh. Chúng sanh bệnh lành thì Bồ Tát cũng lành.
Lại
nói bệnh ấy từ nhân duyên khởi.
Nhân
duyên nào mà khởi thì Bồ Tát bệnh đó là do lòng đại bi
mà khởi. Bởi vì bệnh là sanh tử. Mà tại sao có sanh tử,
là vì lòng thương chúng sinh. Chúng sinh đang lăn lộn trong
sinh tử gọi là bệnh. Bồ Tát vì lòng từ bi mà đến trong
sinh tử độ chúng sanh nên gọi là Bồ Tát bệnh. Bồ Tát
bệnh là do đại bi mà bệnh chớ không phải do tứ đại bất
hòa mà bệnh. Không phải do phiền não mà bệnh. Như vậy ở
đây chúng ta mới thấy ý nghĩa thâm trầm của Bồ Tát. Vậy
Bồ Tát có nghĩ gì cho mình không? Bồ Tát đối với chúng
sanh thương như thương cái gì? Thương như con. Bây giờ những
đứa con nào mà khôn ngoan, đứa con nào ngu ngốc thì phải
thương làm sao? Nó khôn ngoan cũng thương mà mừng cho nó. Nó
sẽ đỡ mau tỉnh. Đứa nào ngu ngốc cũng thương, thương
mà tội nghiệp cho nó phải không? Nó ngu quá không biết chừng
nào nó tỉnh. Cũng thương hết chớ không có đứa nào ghét.
Thành ra khi nòa có tâm ghét là tâm chúng sinh rồi, phải không?
Còn nếu ai thực là tâm Bồ Tát thì người hay mình thương,
người dở mình cũng thương, không có người nào mình ghét
hết.
Ở
đây quí vị kiểm lại coi mình tâm Bồ Tát hay tâm chúng sinh?
Dễ thấy quá. Miễn ai mình cũng thương, dù người đó có
khó khăn mấy với mình, mình cũng thấy dễ thương. Thương
họ lắm phải không? Vậy đó tâm cũa Bồ Tát là như vậy.
Thành ra Bồ Tát sở dĩ bệnh vì chúng sinh bệnh. Chúng sinh
còn sanh tử thì Bồ Tát phải vào trong sanh tử. Như vậy có
muốn người nào vào trong sanh tử nữa đâu, phải không? Không
muốn thì đâu có muốn ai bị những cảnh khổ. Bây giờ
Ngài
Văn Thù Sư Lợi nói:
( Này
Cư sĩ, cái thất này vì sao mà trống không, không có thị
giả?
Duy
Ma Cật nói:
( Cái
cõi nước chư Phật cũng lại đều không.
Lại
hỏi:
( Vì
sao mà không?
Đáp
rằng:
( Bởi
không, nên không.
( Không
sao dùng không? Hay không đâu cần không?
( Do
không phân biệt không cho nên không.
( Không
có thể phân biệt sao?
( Phân
biệt cũng không.
( Không,
phải dùng cái gì mà cầu?
( Phải
dùng trong 62 kiến chấp mà cầu.
( 62
kiến chấp phải dùng cái gì mà cầu.
( Phải
ở trong các pháp giải thoát của chư Phật, như Phật mà cầu.
( Pháp
giải thoát của chư Phật phải dùng gì mà cầu?
( Phải
ở trong tất cả tâm chúng sinh, tâm hạnh chúng sinh mà cầu.
Lại nhân giả hỏi rằng không có thị giả đó thì tất cả
chúng ma và ngoại đạo đều là thị giả của tôi. Vì cớ
sao? Chúng ma ưa sanh tử. Bồ Tát đối với sanh tử không có
bỏ. Ngoại đạo thì ưa các kiến chấp. Mà Bồ Tát đối
với các kiến chấp chẳng động.
Như
vậy đoạn lý luận nghe rất là thâm thúy. Đầu tiên là Ngài
Văn Thù hỏi tại sao trong thất của ông trống không, không
có thị giả. Rồi ông Duy Ma Cật nói chẳng những thất tôi
mà thất của chư Phật cũng đều trống không hà. Tại sao
cõi nước chư Phật cũng đều trống không? Bởi vì tất cả
cõi chư Phật đều không có mọi kiến chấp, không có mọi
phân biệt mới thành được Phật, mới thành giác ngộ. Cho
nên cõi chư Phật nói là không.
Ông
hỏi thế nào là không? Ôöng đáp rằng bởi không nên không.
Không nên không thì nghe khó hiểu quá. Cho nên liền hỏi thêm
câu, không thì đâu cần không. Đã không thì đâu cần không
mà nói do không nên không. Đáp rằng do không phân biệt không,
cho nên không. Cái không này quí vị hiểu cho thật rõ, nói
không mà thành không thì cái không ban đầu là cái không của
nội tâm, do tâm không có phân biệt. Tâm không phân biệt cho
nên nói tâm không. Như nói rằng: “Tâm không cập đệ qui”
đó. Tâm không là không có niệm dấy lên phân biệt, gọi
là tâm không. Mà tâm không cho nên thấy ngoại cảnh nó không.
Vì mình không phân biệt nên đối với ngoại cảnh dù có
mà không khởi phân biệt thì cũng như không. Cho nên nói do
không mà không. Do không tức là trong tâm không phân biệt,
cho nên ngoại cảnh cũng thành không. Vì vậy mà gọi là không
không. Ông liền hỏi thêm cái không có thể phân biệt chăng?
Ông đáp rằng phân biệt cũng không. Vì cái không thì còn
gì phân biệt. Mà vì không phân biệt nên cái không cũng là
không. Cái phân biệt không và cái không cũng không. Như vậy
cả hai đều không.
Lại
hỏi cái không đó từ đâu mà tìm. Tức là tìm lý do để
mà thấy không tất cả phân biệt. Ở đây nói phải từ 62
kiến chấp mà tìm. Nghĩa là còn nằm trong một cái kiến chấp
nào thì chưa, phải không? Trong 62 kiến chấp mà không
động không dính thì đó mới gọi là không. Muốn tìm cái
không thì từ 62 kiến chấp mà ra. Mà tìm 62 kiến chấp từ
đâu. Đáp rằng phải từ trong pháp giải thoát của chư Phật
mà dứt, chớ không đâu xa hết. Hay ở đâu mà tìm ra?
Lại
hỏi pháp giải thoát của chư Phật từ đâu mà tìm. Bây giờ
pháp giải thoát của chư Phật từ đâu mà tìm. Chỉ thẳng
từ nơi tâm hạnh của tất cả chúng sanh mà tìm. Trong tâm
hạnh của tất cả chúng sanh mà tìm ra pháp giải thoát của
Phật, quí vị thấy như vậy mình quí trọng pháp giải thoát
của Phật. Mà pháp giải thoát bắt nguồn từ đâu? Tâm hạnh
của chúng sinh. Như vậy tâm hạnh mình có pháp giải thoát
của Phật không? Nó ra làm sao? Nếu con mắt thấy sắc mà
không dính với sắc, đó là giải thoát. Như vậy ngay nơi
tâm hạnh của mình mà có pháp giải thoát của Phật. Tai nghe
tiếng mà không mắc kẹt tiếng. Đó là giải thoát của Phật
Như
vậy cho tới cái tâm duyên với pháp mà không dính với pháp
thì đó là pháp giải thoát của Phật. Tất cả pháp giải
thoát không có ở bên ngoài mà từ nơi tâm hạnh của chúng
ta mà ra. Tâm hạnh chúng ta biết tu, biết gỡ mợi cái dính
mắc thì được giải thoát, chớ không tìm giải thoát ở
đâu xa hết. Như vậy trả lời về cái không đó rồi.
Bây
giờ hỏi tại sao không có thị giả đây. Giờ trả lời không
thị giả. Nhân giả hỏi rằng tại sao không có thị giả
đó, đây đáp rằng tất cả chúng ma và ngoại đạo là thị
giả của tôi. Tại sao? Nói lý do nè! Vì chúng ma ưa sanh tử.
Còn Bồ Tát đối với sanh tử không bỏ. Vì ưa sanh tử nó
dẫn người đi trong sanh tử. Bồ Tát không bỏ sanh tử cho
nên chúng ma là thị giả của tôi. Rồi ngoại đạo ưa có
kiến chấp, Bồ Tát đối với các kiến chấp không động,
cho nên ngoại đạo là thị giả của tôi. Như vậy ma là thị
giả của Ngài, ngoại đạo là thị giả của Ngài, vì Ngài
không bỏ sanh tử, Ngài không đống đối với các kiến chấp.
Không động nghĩa là làm sao? Nghĩa là 62 kiến chấp đó mình
không có dẹp mà cũng không có kẹt, không có mắc, gọi là
không động. Không động cho nên nó gần được với mình.
vì vậy mà nói rằng nó là thị giả. Bây giờ Ngài Văn Thù
hỏi thêm:
( Cư
sĩ bệnh là những tướng gì?
( Các
bệnh của tôi không có hình, không có thể thấy.
Cái
bệnh của ông là bệnh tướng gì? Thí dụ nói tôi nhức đầu,
tôi đau bụng hay cái gì đó thì nó có tướng. Ngài trả lời
bệnh tôi không có tướng, không thể thấy được.
Lại
hỏi:
( Cái
bệnh này nó hợp với thân chăng? Nó hợp với tâm chăng?
Bệnh đó là bệnh ngoài thân hay là bệnh trong tâm?
đáp
rằng:
( Không
hợp với thân mà vì thân tướng nó lìa hay là lìa thân tướng
cũng chẳng hợp với tâm vì tâm như huyễn.
Vì
thân thì tôi đã lìa thân tướng. Vì tâm thì tôi đã thấy
tâm như huyễn. Cho nên nó không hpự ở thân cũng không hợp
ở tâm.
Lại
hỏi:
( Địa
đại, thủy đại, hỏa đại, không đại. Nơi tứ đại thì
cái đại nào là bệnh?
( Cái
bệnh ấy khoong phải địa đại cũng chẳng lìa địa đại.
Thủy hỏa phong đại cũng lại như thế. các chúng sanh bệnh
là từ tứ đại mà khởi. Do kia có bệnh cho nên tôi bệnh.
Như
vậy chúng sanh bệnh là từ tứ đại mà ra, phải không? Bây
giờ chúng sanh bệnh thì tôi bệnh, cho nên bệnh tôi không
từ tứ đại. Bởi vì sao? Vì tứ đại thì thật ra đất
có bệnh không? Đất, nước, gió, lửa nó không bệnh. Nhưng
mà vì họp lại rồi sanh bệnh. Cho nên đối với Ngài, Ngài
thấy tứ đại không bệnh. Mà tứ đại không bệnh cho nên
Ngài cũng không phải bệnh nhưng vì chúng sanh bệnh, chúng
sanhi bệnh vì chấp tứ đại là thật cho nên thấy tứ đại
khởi bệnh. Tứ đại khởi bệnh cho nên Bồ Tát cũng bệnh
là để nói bệnh của Ngài từ nơi chúng sanh mà có.
Khi
ấy Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật:
( Bồ
Tát nên làm thế nào để an ủi những vị Bồ Tát bệnh?
Bây
giờ Bồ Tát bệnh, Bồ Tát khác đến thăm thì phải làm sao
để an ủi họ. Những cái này phải học cho thật kỹ để
lỡ có ai, huynh đệ mình làm Bồ Tát, rồi mình cũng được
làm Bồ Tát nữa, đi thăm nhau mình hỏi bệnh nhau cho nó hợp.
Đây Ngài nói chuyện Bồ Tát an ủi Bồ Tát bệnh.
Ông
Duy Ma Cật mới nói:
( Nói
thân vô thường mà không nói chán lìa thân.
Cái
thứ nhất là tới thăm bệnh. Ờ! Thân này là vô thường.
Thường thường theo Thanh Văn thấy vô thường thì chán, phải
không? Nhưng Bồ Tát thấy thân vô thường mà không chán lìa
thân. Đó là an ủi bệnh thứ nhất. Tại sao vậy? Nếu mình
chán lìa thân thì đâu có vào sanh tử độ chúng sanh được.
Biết thân là vô thường mà không chán lìa nó. Nói thân có
khổ mà không có ưa Niết Bàn. Nói thân này là khổ, mà thường
thường những hàng Thanh Văn thấy thân là khổ cho nên cầu
Niết Bàn là vui. Bây giờ nói thân này là khổ mà không cầu
Niết Bàn. Vì cầu Niết Bàn mình được nhập rồi đâu cứu
chúng sanh được, cho nên không cầu Niết Bàn. Đó là an ủi
Bồ Tát bệnh.
Nói
thân là vô ngã mà nói pháp để giáo hóa chúng sanh.
Vô
ngã là không có ta thật mà luôn luôn nói pháp giáo hóa chúng
sanh. Đó là an ủi Bồ Tát.
Nói
thân này không tịch tức là rỗng lặng mà không nói cứu
cánh tịch diệt.
Nói
rỗng lặng nhưng không phải hoàn toàn rỗng không.
Nói
phải hối những lỗi về trước mà không nói vào quá khứ.
Câu
đó dễ hiểu không? Nói rằng tất cả lỗi về trước của
mình đó, mình nên hối cải, nên chừa bỏ mà không nói vào
quá khứ. Thực có quá khứ bởi vì mà thời không thật mà
mói có quá khứ thật là chấp nhận ba thời thật sao. Biết
những lỗi về trước mình phải hối cải như mà không có
qú khứ thật. Đó là cái đặc biệt của Bồ Tát.
Do
mình bệnh nên thương những người kia bệnh.
Tụi
con phải học câu này cho thấu đó nha. Do mình bệnh nên thương
những người kia bệnh. Mình thấy mình đau nó hành hạ thế
nào, nó nhức nhối thế nào, rồi nhớ tới người khác khi
đau mình thương xót họ cũng như mình vậy. chúng ta có cái
thật hay quên. Khi mình bệnh rên thôi là rên, khóc sướt mướt.
Tới chừng người ta bệnh mình ngó lơ. Cái tật đó thật
là đáng trách. Nghĩa là khi mình bệnh, mình nhớ nó đau khổ
như thế nào, buồn bã như thế nào. Nghĩ tới người khác
mình thương xót họ như là lúc mình đang bệnh. Vậy đó thì
thế gian này đỡ khổ biết bao nhiêu. Còn cái này mình bệnh
thì hồi đó mình rên mình khóc. Tới phiên người ta bệnh
mình ngó lơ thì cái đó thật là vô tình vô nghĩa. Đó là
không thấy được, không cảm thông được cái gì giữa mình
với người hết.
Phải
biết đời trước (túc thế tức là đời trước) có vô số
kiếp khổ mà phải nhớ nghĩ lợi ích cho tất cả chúng sanh.
Phải
nhớ rằng chúng ta từ đời trước tới giờ sinh ra tử lại
không biết bao nhiêu kiếp, chịu không biết bao nhiêu khổ.
Bởi vậy chúng sanh còn đương lăn lộn đây. Chúng ta phải
ráng độ họ, ráng giải thoát cho họ để họ hết khổ.
Chớ mình nghĩ mình đã được cái giác, mình đã có khả
năng thoát ly sanh tử khổ mà mình không thương chúng sanh thì
không được. Cho nên mình nghĩ khi mình đã có phương tiện,
thoát ly chúng khổ rồi thì phải nhớ rằng vô số kiếp về
trước mình cũng khổ như họ vậy. Cho nên bây giờ mình phát
tâm độ tất cả chúng sanh để cho họ thoát ly cái khổ đó.
Nhớ
việc tu phước trước mà nghĩ tới tịnh mạng (cái mạng
sống nó phải thanh tịnh), có sanh ưu não.
Tức
là mình nhớ rằng mình đã có công phu trước kia tu hành những
phước đức. Mà trước đã có tu rồi cho nên ngày nay mình
mới được tu. Ngày nay được tu rồi thì đời này ráng sống
cho được đời sống thanh tịnh. Đừng có ô uế, đừng có
nhớp nhúa. Như vậy thường thường bảo nhớ lại gốc trước
của mình. cũng đừng sanh chuyện buồn rầu. Mấy đứa có
buồn rầu không? Có. Xấu quá! Bởi vì nếu mình không có
duyên lành đời trước thì đời này làm sao gặp Phật pháp
sớm như vầy. Vầy thì đời trước gieo trồng căn lành, đời
nay mới được gặp Phật pháp sớm, thì mừng rằng mình đã
cua túc duyên lành. Tại sao lại buồn, tại sao lại chán, phải
không? Buồn chán đó là cái tâm niệm rất là xấu, phủi
bỏ những công lao trước của mình. Khi buồn chán là lúc
đó quên cái công lao trước của mình rồi. Thành ra nên tự
mừng rằng túc duyên mình sâu dầy, cho nên đời nay gặp Phật
pháp sớm. Những đứa nào 15, 17 mà biết được vào đạo
rồi là càng mừng hơn nữa. Cười hoài. Mình có phước hơn
mấy cô. Mấy cô tới trễ hơn mình phải không? Chớ có đâu
lại buồn. Như vâỵ đó là chuyện tu hành đạo đức nói
mới sâu dầy chớ. Bởi vậy nên bảo mình phải nhớ cái
tu phước đời trước của mình mà hiện tại đời sống
mình ráng cho trong sạch. Đừng buồn phiền mà phải thường
tinh tấn. Phải làm hay sẽ làm y vương để trị bệnh cho
tất cả chúng sanh. Phaiẻ tuyên bố rằng mai kia ta làm ông
vua thầy thuốc, để trị bệnh cho tất cả chúng sanh, mới
được chớ. Phải có cái niệm, cái tâm hồn mạnh mẽ, như
vậy sau này mới xứng đáng là Bồ Tát.
Bồ
Tát nên như thế mà an ủi những Bồ Tát bệnh. Khiến cho
những vị này được hoan hỉ.
Như
vậy thì quí vị thuộc đoạn này há. Để mai chiều huynh
đệ có bệnh, mình lại an ủi. Biết đâu mai kia người ta
cũng thọ giới Bồ Tát phải không? Thọ giới Bồ Tát thì
người ta cũng Bồ Tát rồi. Chớ đừng lại rồi vuốt ve
nói huynh có nhớ nhà không? Huynh bệnh vậy mà muốn má thăm
không? Đừng có hỏi những điều đó. Mà mình phải nói những
điều cao siêu. Như vâỵ mới gọi là biết an ủi những vị
Bồ Tát có bệnh. Cho nên tụi con thấy chúng ta học đạo
là học cái gương tốt, gương cao thượng của những vị
Bồ Tát, chớ không phải chúng ta học những cái phàm tục.
Vì vâỵ cái gì cao thượng chúng ta ráng.
Ngài
Văn Thù Sư Lợi nói:
( Này
cư sĩ, Bồ Tát có bệnh thì làm sao mà hàng phục tâm, điều
phục cái tâm kia.
Tức
là tâm của của Bồ Tát kia bệnh. Như vậy chỗ này là chỗ
tụi con phải học nữa. Hồi nãy học an ủi, bây giờ học
điều phục mình. khi bệnh mình phải làm sao điều phục cái
bệnh của mình đây.
Ông
Duy Ma Cật nói:
( Bồ
Tát có bệnh nên khởi nghĩ thế này. Nay ta bệnh đây đều
là từ đời trước. Vọng tưởng điên đảo, do các phiền
não mà sanh. Không có một pháp thật thì ai mà nhận bệnh.
Vì cớ sao? Ai mà thọ bệnh này?
Đây
là câu thứ nhất. Từ vô số đời trước rồi sanh ra các
phiền não. Rồi các phiền não đó sanh ra bệnh. Như vậy thì
vọng tưởng điên đão sanh phiền não. Vọng tưởng, phiền
não mấy cái đó thật không? Không thì bệnh có thật không?
Cho nên không có cái pháp thật, cái bệnh thật. Như vậy lúc
đó đau đầu, đau cổ gì đó cũng không có đau thật, phải
không? Cái đó là do cái gì/ tức là do vọng tưởng, phiền
não, điên đảo từ vô số kiếp rồi mới sanh phiền não,
sanh bệnh vậy.
Phiền
não, vọng tưởng, điên đảo đều không thật thì cái bệnh
đâu có thật. Bệnh không thật mà rên là khóc làm gì. Vậy
thì cai cái bệnh làm sao, nó hành làm sao, chơi vậy. Nó làm
sao nó làm đừng thèm lệ thuộc vào nó. Khi nào đau tụi con
lện thuộc nó không? Như vậy mình biết cái trọng tâm phát
khởi ra bệnh là do vọng tưởng điên đảo, do phiền não
mà sanh thì vọng tưởng điên đảo, phiền não là không thật,
bệnh không thật. Bệnh không thật thì ai là người chịu
bệnh, là người đang đau đây. Đâu có ai thật mà đau. Như
vậy mình thâý nó không thật thì tự nhiên bệnh không thật.
Người chịu bệnh cũng không thật thì có gì đâu là bệnh.
Đây mới giải thích.
Vì
cớ sao? Vì tứ đại hiệp nên giả danh là thân.
Cái
thân này do tứ đại hợp, giả danh tạm nói là thân.
Tứ
đại hợp là không chủ thì thân cũng là vô ngã.
Vì
tứ đại cái gì là chủ. Nó không có chủ nên thânn này vô
ngã, thân này không chủ.
Lại
cái bệnh này khởi đều do chấp ngã mà ra. Thế nên nơi ngã
không nên sanh châps trước.
Cái
ngã mình đừng sanh chấp trươc.
Đã
biết cái gốc bệnh tức là trừ cái ngã tưởng và cái chúng
sanh tưởng, phải khởi pháp tưởng.
Mình
biết cái gốc bệnh là do chấp ngã vì vậy phải trừ cái
ngã tưởng và chúng sanh tưởng. Trừ cái ngã tưởng là tưởng
mình thật. Chúng sanh tưởng, tưởng người thật. Bây giờ
phải khởi pháp tưởng. Pháp tưởng là gì? Pháp tưởng đây
nên khởi nghĩ thế này.
Chỉ
do cái pháp duyên hay là các pháp nếu hợp mà thành thân này.
Chúng là các pháp hợp thành thân này. Khởi chỉ là pháp khởi.
Diệt chỉ là pháp diệt.