Phần 5
Trong
này Phật dùng thí dụ mà mình không biết. Ngài nói rằng
chư Thiên mỗi người đều có có bát báu giống nhau, nhưng
mà tùy phước nhiều phước ít, đồ ăn trong bát đó, cái
thì hiện ngon, cái thì hiện dở. Cái màu đẹp, cái màu xấu.
Tùy theo cái phước của mỗi người. Cái thí dụ đó khó
hiểu quá phải không? Với Phật thì hiểu chớ với mình thì
chưa bao giờ biết. Chưa biết thì làm gì mà hiểu. Chúng ta
chỉ có cái thí dụ gần nhất với chúng ta.
Thí
dụ như mình cùng ăn một bữa ăn. Thí chủ cúng cơm cho mình
mâm cổ đầy hết. Cùng ngồi ăn nhưng mà tùy cái gì, ăn
có ngon dở khác nhau. Tùy có bịnh không bịnh. Như Phước
Hảo mà dọn một mâm đầy mà toàn những đồ chiên đồ
xào, thì sao? Là khổ rồi. Còn những người nào bao tử khỏe
mạnh thì người ta cảm thấy ăn ngon. Như vậy thì rõ ràng,
cũng cùng ăn một mâm, cũng cùng những thức ăn đó, mà có
người cảm thấy ngon, có người cảm thấy không ngon, sợ
nữa. Như vậy rõ ràng, tùy cái nghiệp phước của mỗi người
mà nó có hiện khác nhau. Chớ không phải đợi đồ ăn khác
mới có khác. Chính những thức ăn đó mà có nhận định
khác nhau. Thí dụ đó dễ hiểu hơn, thực tế hơn. Chớ nói
bát báu của chư Thiên thì không bao giờ mình biết. Chưa từng
thấy chư Thiên thì làm sao nói bát báu được. Như vậy chúng
ta có thể hiểu rằng trong cuộc sống này, mỗi người chúng
ta nếu mà tu hành thanh tịnh thì cõi nước thanh tịnh.
Bây
giờ trở lại cái gần nhất. Nếu toàn chúng ở trong Thường
Chiếu này, ai nấy tu hành thanh tịnh. Tâm hồn thoải mái hết
đó. Thì Thường Chiếu là chỗ đáng ngán hay đáng chán. Chán
hay ngán? Hay là chỗ thích thú? Nếu ai nấy cũng đều thoải
mái hết thì đây là chỗ thích thú. Thanh tịnh mà phải không?
Còn nếu mà có những người nào tâm hồn không được thoải
mái, taam hồn đang bực bội, đang bị phiền não thì thấy
cõi này đáng chán, đáng ngán. Như vậy chán ngán hay không
tùy theo mỗi người. Còn thấy có thích thú hay không cũng
tùy theo mỗi người. Cho nên tâm chúng ta được an lành thanh
tịnh thì ở đâu chúng ta cũng được an ổn, cũng vui tươi.
Còn tâm chúng ta chưa an ổn, chưa thanh tịnh, ở đâu rồi
cũng bực bội, cũng muốn xách gói đi chỗ khác nữa. Đó
là thế thường như vậy.
Chính
khi đức Phật hiện cõi nước trang nghiêm thanh tịnh này,
Ngài Bảo Tích dẫn theo 500 ông Trưởng giả đều được vô
sanh pháp nhẫn. Tám muôn bốn ngàn người đều được phát
tâm chánh đẳng chánh giác.
Ngay
trong thời gian thấy cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh đó, lúc
đó ông Bảo Tích và 500 ông trưởng giả đều được vô
sanh pháp nhẫn. Còn 8 muôn 4 ngàn vị khác phát tâm bồ đề.
Đó là trường hợp thứ nhất.
Trường
hợp thứ hai:
Phật
mới nhiếp thần túc (Thần túc tức là thần thông của Ngài).
Khi ấy thì thế giới trở lại như xưa, như cũ. Những người
cầu Thanh Văn thừa có 3 muôn 2 ngàn chư thiên và người biết
pháp hữu vi thảy đều vô thường. Xa lìa trần cấu, được
pháp nhãn tịnh. 8000 Tỳ Kheo không có thọ các pháp (Nghĩa
là không có nhận các pháp lậu tận ý giải).
Như
vậy khi mà cảnh trang nghiêm thanh tịnh đang hiện thì Bồ
tát liền được vô sanh pháp nhẫn. Hoặc là phát tâm vô thượng
chánh đẳng chánh giác. Còn hàng Thanh Văn và người thì thấy
lúc đó sao. Dửng dưng hà! Không có gì hết. Nhưng khi Phật
thâu thần túc lại rồi, thì từ hồi nãy là cõi tịnh, bây
giờ thành cõi uế. Các Ngài liền làm sao? Liền ngộ được
lý vô thường. Hồi nãy như vầy. Bây giờ khác đi. Như vậy
rõ ràng là vô thường. Bởi ngộ được lý vô thường cho
nên lìa xa trần cấu, được pháp nhãn tịnh. Rồi các vị
Tỳ Kheo chứng được Lậu Tận Ý giải.
Như
vâỵ mình mới thấy hạng Thanh Văn thì lại khác. Bồ tát
thấy rõ cõi này nó nguyên là thanh tịnh. Mà vì chúng sanh
mê nên thấy nó là bất tịnh. Khi hiện ra thanh tịnh liền
phát tâm. Nhận được tịnh độ là từ tâm. Bởi nhận tịnh
độ từ tâm cho nên ngay đó các Ngài phát tâm hoặc các Ngài
chứng đạo. Còn Thanh Văn thì không nhận được cái đó.
Mà nhận được lý vô thường. Cho nên từ cõi tịnh biến
thành cõi uế. Liền đó các ông thức tỉnh phải không? Thức
tỉnh thì chứng được đạo quả của hàng Thanh Văn. Nay mới
thấy hai trình độ sai biệt. Bởi hai trình độ sai biệt cho
nên có kết quả sai biệt nhau.
Nay
tới Phẩm Phương Tiện. Chữ Phương Tiện lâu nay chúng ta
cũng quen dùng rồi. Coi như là danh từ quen thuộc. Chữ Phương
là phương pháp. Chữ Tiện là tiện dụng hay là tiện nghi
đó. dùng một phương pháp mà dùng làm phương tiện để giải
quyết mọi việc trong lúc tạm thời thì gọi đó là phương
tiện. Bởi vì Phương Tiện ngược với chữ cứu cánh. Cứu
cánh là chuyện lâu dài, cái cao tột. Còn Phương tiện là
cái tạm thời. Bởi vậy nên nói phần Phương Tiện là chỉ
cho những việc làm không phải là chỗ chủ yếu. Cứu cánh
hiện như thế này mà làm như thế khác, thì gọi đó là phương
tiện.
Khi
ấy ở trong thành lớn Tỳ Da Ly có ông Trưởng Giả tên là
Duy Ma Cật. Ông đã từng cúng dường vô lượng Phật. Và
sâu gieo trồng gốc lành, được vô sanh nhẫn. Biện tài vô
ngại. Du hí thần thông và được các tổng trì. Được vô
sở quí, hàng ma và an ủi những kẻ oán thù. Vào sâu trong
pháp môn khéo nơi trí mà độ người. Thông suốt phương tiện,
đại nguyện được thành tựu. Rõ thấu được chỗ thú hướng
của tâm chúng sanh. Lại hay phân biệt các căn lợi và độn.
Ở lâu trong Phật đạo, tâm đã thuần thục. Quyết định
về đại thừa và các sở hữu là các cái đã có. Lại khéo
hay suy lượng. Trụ ở oai nghi Phật. Tâm rộng như biển cả.
Chư Phật khen ngợi. Đệ tử là đệ tử Phật. Hoặc là Đế
Thích. Hoặc là Phạm Thiên. Hoặc là thí chủ đều cung kính.
Đây
là tán thán cái khả năng, công đức của ông Duy Ma Cật trước
đã có. Bởi ông có sẳn những công đức như thế này. Cho
nên ông mới hay làm những phương tiện như ở sau. Đó là
để nói lên cái khả năng, công đức của ông. Cho nên khi
mình học kinh, mình đừng đồng hóas mình với các vị Bồ
tát. Nếu muốn đồng hóa thì phải đối chiếu công đức
của các Ngài trước phải không? Rồi sau mình mới làm.
Thí
dụ như ở đây có đoạn ông nói rằng, vô trong quán rượu,
lại sòng bạc... khi ông dám lại đó, thì công đức ông được
thần thông du hí tự tại rồi. Còn mình vô đó thì mình được
cái gì chưa. Mình còn đang là kẻ nhơ nhiễm mà vào chỗ đó
thì nhiễm nhơ thêm. Bởi vậy các việc làm của các vị Bồ
Tát, các Ngài có quyền làm như vậy, là khi các Ngài đã đầy
đủ những khả năng, thành tựu các công đức rồi thì khi
làm nó không trở ngại.
Bây
giờ tới đoạn này là phương tiện của Ngài.
Vì
muốn độ người, khéo dùng phương tiện ở tại thành Tỳ
Da Ly.
Vì
muốn làm lợi ích cho người, cho nên phương tiện làm ông
cư sĩ. Làm ông trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly này.
Của
cải vô lượng để dùng thu nhiếp những người nghèo khổ.
Giữ giới thanh tịnh để thu nhiếp những người giữ giới
cấm. Dùng cái nhẫn nhục để điều phục những người nóng
giận. Dùng cái đại tinh tấn để nhiếp phục lười biếng.
Dùng nhất tâm thiền định để nhiếp phục những người
loạn ý. Dùng trí tuệ quyết định để nhiếp phục
những người vô trí. Tuy làm người cư sĩ mà vâng giữ giới
luật. Thực hành hạnh thanh tịnh của hàng Sa Môn.
Tuy
là hình thức cư sĩ mà ông làm cái hạnh giữ giới luật
thanh tịnh của hàng Sa Môn. Tuy là người tại gia mà ông không
có nhiễm trước trong tam giới. Thường thường nói người
tại gia mà không nhiễm trước trong tam giới là ý làm sao.
Thường mình ở cõi này thì gọi là cõi dục phải không?
Trong cõi dục này mình có nhiễm nó chưa. Ở ngay trên cõi
dục là cõi thấp nhất trong tam giới mà mình đã nhiễm, đã
thích rồi. Còn Ngài ở trong hàng cư sĩ mà cả tam giới này
không nhiễm. Như vậy là để nói tâm giải thoát phải không?
Tuy ở hàng cư sĩ mà tâm vẫn giải thoát.
Thị
hiện có vợ con mà thường tu cái hạng trong sạch. Hiện có
quyến thuộc mà thường ưa xa lìa. Tuy là mặc đồ trang sức
đẹp đẽ mà dùng tướng hảo để trang nghiêm thân.
Tướng
hảo trang nghiêm thân, mặc đồ đẹp đẽ là trang nghiêm thân
rồi. Tại sao còn nói dùng tướng hảo để trang nghiêm thân.
Bởi vì trong kinh Phật dạy, Phật sở dĩ có 32 là không phải
dùng vàng ngọc châu báu mà trang nghiêm, phải không? Mà do
cái công đức, do tu hành những công đức mà được 32 tướng
tốt.
Thí
dụ như nói, Phật có tướng lưỡi rộng dài là vì ba đời
Ngài không nói dối. Như vậy mỗi một tướng là một công
đức tu. Bởi công đức tu mà được tướng tốt. Như vậy
tuy bây giờ ông trưởng giả này, ông cũng có đồ trang sức,
áo quần đẹp đẽ này kia. Nhưng ông không thấy đó là quan
trọng. Ông chỉ dùng 32 tướng tốt trang nghiêm. Chớ không
đặt vấn đề trang sức quần áo, hay là lụa là, hay là vàng
ngọc để mà trang sức.
Tuy
lại ăn uống mà dùng cái thiền duyệt làm vị.
Cũng
ăn uống mâm cao cổ đầy nhưng ông không thấy đó là quan
trọng. Mà ông lấy cái thiền duyệt làm cái vị ăn cho nên
nói thiền duyệt vi thực đó.
Bây
giờ mấy chú lấy cái gì làm thức ăn. Bánh trái làm thức
ăn hay lấy cái thiền làm thức ăn? Nếu lấy cái thiền thì
coi bộ chán quá. Nuốt không trôi phải không? Ngồi thiền
mà chừng khoảng một giờ rưởi sau, nó còn khỏe không? Bởi
vậy nên người tu cao, khi tâm họ được an định, thân họ
được nhẹ nhàng rồi, thì ngồi thiền là cái thảnh thơi
nhất. Cái an lành nhất. Bởi ngồi thiền là thảnh thơi, là
an nhàn, cho nên nói là Thiền duyệt vi thực.
Duyệt
là vui. Vui trong cái tọa thiền, tu thiền đó làm thức ăn.
Nghĩa là hôm ngào, ngày nào thiếu một giờ ngồi thiền là
coi như đói vậy đó. Còn mình bữa nào thiếu một giờ ngồi
thiền, được ngủ thì coi như gì. Như no vậy đó, chớ không
phải như đói. Đó là chưa được tự tại an lành trong cái
tu. Vì vậy ông là cư sĩ tuy có ăn uống mâm cao cổ đầy,
nhưng cái đó đối với ông không có quan trọng. Mà ông lấy
cái thiền duyệt làm cái vị ăn.
Nếu
ông đến chỗ cờ bạc, đến chỗ hát xướng.
Hí
trường tức là hát xướng đó.
Để
vì nhiếp độ họ.
Nhiếp
độ người chớ không phải tới đó là chơi mà hưởng.
Ông
nhận (hay là ông học) các đạo khác mà không có hủy hoại
chánh tín. Tuy ông thông suốt (minh tức là rõ hết) kinh điển
thế gian mà ông thường ưa Phật pháp. Tất cả chỗ thấy
của ông đều là cung kính.
Cung
kính cái gì? Cung kính và cúng dường là cái tôn trọng bậc
nhất. Bởi vì theo cái thấy của ông, cúng dường tam bảo,
đó là cái ông tôn trọng bậc nhất. Ông giữ gìn chánh pháp.
Ông nhiếp phục người lớn và kẻ nhỏ. Tất cả sự sinh
sống ông đều vui. Kêu bằng thoải mái đó (Hài ngẩu). Như
bây giờ nói hài hòa đó. Ý vui thích trong cuộc sống. Về
phương tiện sống thì ông rất thoải mái, không có gì trở
ngại hết.
Tuy
được hết cái lợi của thế tục mà không cho đó là vui.
Những
cái lợi của thế tục, như làm ăn đâu đó hết. Không cho
đó là vui.
Ông
dạo các ngã tư đường làm lợi ích cho chúng sanh. Ông vào
chỗ chánh trị thì lấy pháp mà cứu hộ tất cả. Ông vào
chỗ giảng luận thì ông hướng dẫn người ta về đại thừa.
Ông vào các học đường để dạy bảo để khai mở cho hàng
đồng mông. Ông vào những chỗ dâm xá, cốt để chỉ lỗi
cho người ta lập được ý chí. Vào quán rượu không phải
vì uống rượu mà để chỉ cho người ta biết rượu là hại,
rồi lập chí bỏ rượu... Nếu ông ở trong trưởng giả thì
trong trưởng giả tôn kính, vì nói pháp thù thắng. Nếu ở
trong cư sĩ cung kính vì họ mà ông đoạn trừ tâm tham trước.
Nếu ông ở trong dòng Sát Đế Lỵ thì trong hàng Sát Đế
Lỵ tôn kính. Ông dạy họ phương pháp nhẫn nhục...
Sát
Đế Lỵ là dòng võ tướng, chinh phục, cầm binh ra trận.
Cho nên tới đó ông phải dạy họ cách nhẫn nhục.
Nếu
ông ở trong dòng Bà La Môn thì trong Bà La Môn tôn trọng. Vì
họ mà dạy họ trừ hết ngã mạn.
Bà
La Môn là dòng cao nhất, nên tâm ngã mạn, khinh hết các dòng.
Tới đó ông dạy cho họ diệt trừ ngã mạn.
Nếu
ở trong Đại thần thì là Đại thần tôn kính, thọ chánh
pháp. Nếu ở trong hàng vương tử thì trong hàng vương tử
tôn kính, chỉ dạy cho họ trung hiếu. Nếu ở trong nội cung
thì trong nội cung tôn kính, giáo hóa họ làm người cung nữ
chân chính. Nếu ở chỗ thứ dân thì thứ dân tôn trọng,
dạy cho họ làm những điều phước lành.
Nếu
ở chỗ Phạm Thiên thì là Bậc Phạm Thiên cung kính. Dạy
bảo họ trí huệ thù thắng. Nếu ở trong hàng Đế Thích
thì được trong hàng Đế Thích tôn trọng, thị hiện cảnh
vô thường.
Tại
sao ở trong hành Đế Thích thị hiện cảnh vô thường mà
không dạy cái gì. Bởi vì Đế Thích đang ở cõi trời, thừa
hưởng ngũ dục lạc nên mê quá đi. Mê hưởng mà không biế
tu. Nên tới đó hiện cảnh vô thường. Hiện cảnh vô thường
họ giựt mình thì họ tu. Thấy có người chết, thấy người
bệnh, thấy người già để cho họ thức tỉnh.
Nếu
ở trong cõi trời Hộ Thế thì trong cõi trời Hộ Thế tôn
trọng mà bảo hộ các chúng sanh. Ông trưởng giả Duy Ma Cật
dùng vô lượng phương tiện như thế để làm lợi ích cho
chúng sanh.
Như
vậy tất cả việc làm ở cảnh nào ở trường hợp cũng
nhắm thẳng cái lợi ích cho người mà ông ở hoàn cảnh đó.
Chớ không phải vì thụ hưởng vì an vui riêng mình mà ở
trong cảnh đó. Như vậy ở trong cảnh giàu, ở trong cảnh
quan quyền, ở trong cảnh dòng họ cao quí... Đều là vì thức
tỉnh họ. Vì để cảnh giác họ chớ không vì thụ hươngr
bản thân mình, cá nhân mình. Đó là để nói phương tiện
của Ngài là như vậy. Đây thêm cái phương tiện nữa.
Do
phương tiện kia mà Ngài hiện thân có bệnh. Bởi vì Ngài
có bệnh cho nên Quốc vương. Đại thần, Trưởng giả, Cư
sĩ, Bà la Môn... và các hàng Vương tử, những bá quan khác,
các Ngài quan thuộc vô số cả ngàn người đều đến thăm
bệnh ông. Những người đến đó nhân dùng, hay là lấy cái
thân bệnh mà rộng vì họ nói pháp.
Nhân
cái thân ông bệnh mà ông vì họ nói pháp. Như vậy ông bệnh
là cốt nói pháp cho các vị đó nghe. Chớ không phải ông
bệnh là vì nghiệp chướng của ông mà phải bệnh. Bây giờ
giả sữ chúng ta không có đượv như ông mà lỡ có bệnh
thì sao. Có nên nói pháp cho người khác nghe hay là có bệnh
nên rên. Tuy rằng mình không được như ông, nhưng lỡ có
bệnh, ai tới thăm, đó cái thân vô thường vậy đó. Mới
hôm qua tôi đi sân sẩn, nay tôi nằm queo đây. Nhắc cho người
ta tỉnh. Như vậy cũng là nhân thân bệnh mà cảnh tỉnh người.
Chớ đừng nhân thân bệnh, người ta tới rồi rên hì hì...
nhiều khi còn than thở nữa.
Đây
ổng giáo hóa cách làm sao?
Này
các nhân giả, cái thân này là vô thường, nói không có mạnh
mẽ, nó không có sức lực, nó không có bền bỉ, nó là cái
pháp mau chóng hữu hoại.
Tức
là bại hoại. Cái thân này vô thường, không mạnh mẽ, không
sức lực, không bền bỉ, nó là pháp mau bại hoại. Không
có thể tin được vậy. Bây giờ mấy chú tin được thân
mình không. Tin không? Bây giờ có ai biết mình tới bao giờ
chết đâu, phải không? Nếu tin mình nói: tôi biết tôi tới
80 tuổi, ngày mấy tháng mấy tôi chết đó, thì mới tin, chớ
còn bây giờ không biết. Ngay nay đi đây chớ ngày mai chết
cũng có. Ngồi đây ngày mai bệnh cũng có, không có nhất định
gì hết. Không biết ngày mai ra sao, làm sao tin, vậy mà cứ
tin. Ngầm tin mình sống lâu, ngầm tin mình khỏe mạnh, mình
sống lâu. Cho nên nếu ai báo tin mình sắp chết, cái hoảng
lên. Mình mạnh khỏe, nên khi ngã bệnh cũng tức tối bực
bội. Chớ hiểu rõ thân này không có gì bảo đảm. Đã không
bảo đảm thì có gì chúng ta đáng tin.
Nó
là khổ, nó là não, nó là chỗ nhóm họp của các bệnh
Cái
thân nào là khổ là não, là nhóm họp của các bệnh. Bây
giờ mỗi người kể lại coi mình có mấy bệnh. Cỡ như Thông
Tạng có mấy bệnh. Thực là chỗ nhóm họp của các bệnh,
phải không? Không có gì an ổn hết.
Này
các nhân giả, cái thân nó như thế, người trí sáng
suốt thì không nên trông cậy vào nó.
Chữ
cổ là nương, không có trông cậy vào nó.
Điểm
thứ nhất bảo mình đừng tin cậy vào nó.
Điểm
thứ hai là bảo mình đừng trông cậy vào nó. Vì nó có đáng
tin đâu mà tin. Bởi vì nó là khổ não thì làm sao tin cậy
vào nó được.
Thân
này như chùm bọt nước, không thể nắm bắt.
Mình
ra ngoài biển mình thấy từng cụm bọt phải không? Bọt nó
nổi, mình nắm nó thì sao? Nắm tới đâu nó tan tới đó.
Thân
này như bong bóng nước, không được lâu bền.
Như
vậy mới thấy khi hạt mưa rơi cái chỏm xuống mái nhà, thấy
bong bóng nổi lên. Nổi lên rồi sao? Vừa thấy bong bóng rõ
ràng, chút rồi nát. Như cái thân không bền bỉ.
Cái
thân này như ánh sáng. Lằn chớp sáng từ nơi khát ái mà
sanh.
Dương
điện tức là như sóng nắng, từ khát ái mà sanh, nó không
có thật, mà vì khát ái. Khát ái là sao? Ái là yêu thích.
Khát là thường thường nói con nai khát nước quá, nó nhìn
thấy đằng xa ánh nắng chập chờn. Nó tưởng rằng là dòng
nước, nó ù tới để tìm uống. Nhưng mà ù tới rồi sao?
Tới rồi nó thất vọng. Không có nước. Mình yêu thích thân
này, nó thèm khát, nó mong mỏi, nó cứ bám giữ. Mà bám giữ
được không? Bám giữ tới đâu đó, rồi cũng nát cũng hoại.
Không có bền lâu.
Thân
này như cây chuối, trong không có lõi chắc.
Vô
hữu kiên: không có chắc. Cây chuối mình lột ra làm sao? Cứ
từng bẹ tách ra, tách ra. Kiếm thân cây cứng chắc không
có.
Thân
này như huyễn hóa. Từ điên đảo mà khởi. Thân này như
mộng. Do cái thấy hư dối mà thành. Thân này như cái bóng,
từ nơi nghiệp duyên mà hiện. Thân này như vang, nó thuộc
về các nhân duyên. Thân này như mây nổi, trong chốc lát nó
liền biến diệt. Thân này như làn điện chớp. Mỗi niệm
nó không dừng. Thân này không chủ như là đất. Thân này
không có ngã như là lữa. Thân này không có thọ mạng như
là gió. Thân này không có người như là nước. Thân này không
có thật, do tứ đại làm nhà. Thân này là không lìa ngã và
ngã sở. Thân này là vô tri như là cỏ cây, ngói gạch. Thân
này không tạo tác, do sức gió mà chuyển.
Nói
thân này không tạo tác, mình không chịu. Mình thấy mình cuốc
đất, mình gặt lúa. Mình làm đủ thứ hết, mà nói không
tạo tác, mình chịu không? Nói khó hiểu quá! Nhưng mà sự
thật ở đây, tất cả hoạt động của mình, từ gió mà
ra cả. Bây giờ mấy chú ăn là nghĩa làm sao? Uống nghĩa là
sao? Khi uống nước là sao? Có gió hút vô không? Mình uống
nước là lấy hơi gió hút vô. Nước nó theo. Rồi tới ăn
cũng vậy. Nếu hoài mà không có gió nó nuốt vô thì nó có
vô được đâu, phải không? Như vậy ăn cũng nhờ gió, uống
cũng nhờ gió. Đem vô rồi nuôi thân này. Rồi hoạt động,
tim đập, máu chảy. Các cơ thể hoạt động đều từ gió
hết. Khi đem vô rồi, tới tống ra có nhờ gió nữa không?
Cũng phải nhờ gió. Như vậy tất cả hoạt động đều là
gió, chớ đâu phải làm mình. Mình không biết, mình tưởng
có mình làm chủ, mình làm này làm kia. Nhưng mà không ngờ
chính tất cả cái đó là do sức gió mà làm ra như vậy.
Thân
này nó nhơ nhớp, ô uế dẫy đầy. Thân này là hư dối (Tuy
nhờ tắm gội, ăn mặc).Thảy đều trở về tiêu diệt. Cái
thân này là tai họa. 101 bệnh nó sinh, nó làm não loạn. Thân
này như là cái gò giếng bị cái già nó bức bách. Thân này
nó không có nhất định là chủ yếu hay cốt yếu phải đến
chết.
Thân
này có định gì đâu. Cần là đi tới chỗ chết là cùng.
Thân
này là rắn độc. Như là kẻ oán thù, cướp giựt. Như là
xóm rỗng. Nào là ấm, giới, các nhập chung hợp mà thành.
Như
vậy kể một mạch thì thấy cái thân ra sao. Thực ra Ngài
kể thì quá kỹ. Kỹ vô cùng phải không? Thân này nó không
đáng tin. Thân này không đáng nương cậy. Thân này tạm bợ.
Thân này là tạm bợ. Thân này là tai họa. Thân này là nhơ
nhớp. Thân này như rắn độc. Vừa rồi tôi kể đó. Thân
này là kẻ oán thù, kẻ giặc cướp vậy đó. Nó cứ giựt
của nhau. Rồi nó không tụ như cái chỗ rỗng, rồi hợp lại,
chớ có gì thật đâu. Rồi nào là ấm, nào là giới, nào
là nhập chung lại mà thành chớ cái gì thật là thân. Vậy
mà mình thấy cái thân là thật. Nếu mình biết rõ thân không
bền, thân không đáng trông cậy. Thân là tạm bợ. Thân là
nhớp nhúa. Thân là khổ đau. Tất nhiên thân còn gì là quí,
phải không? Mà không quí thì còn gì chấp. Mà không chấp
thì đó là nhân để rồi đi tới vô ngã, tới giải thoát.