Phần 2
Đó
là một cái đoạn quí vị thấy nó có hai phần: Sự và Lý.
Sự là nói rằng mỗi ông Trưởng giả đem lọng báu của
mình tới hiến dâng lên Phật. Mà đây tới 500 ông. Tức là
có tới 500 cái lọng. Mỗi ông dâng cái lọng rồi thì do thần
lực của Phật hóa hiện thành một cái thôi. 500 cái thành
có một cái. Mà khi lọng báu thành một rồi thì trong cõi
tam thiên đại thiên thế giới này, núi, sông, đất liền
gì gì, đều thấy hiện trong đó hết, phải không? Cho tới
hình ảnh cung trời, cũng các vị thần, cho tới 10 phương
chư Phật nói pháp ở cõi nước xa mấy cũng hiện trong đó.
Thì như vậy mới thấy, về phần sự thì bao nhiêu lọng báu
nhỏ, Phật dùng thần lực biến thành cái lọng báu lớn.
Thành lộng báu lớn rồi thì cả Tam thiên đại thiên thế
giới này có cái gì đó đều hiện đủ ra hết. Đó là thấy
đủ hết không thiếu. Chẵng những trong tam thiên đại thiên
thế giới mà cả mười phương chư Phật ở các cõi nước
khác xa nói pháp cho chúng sinh nghe. Nhìn trong đó cũng thấy
luôn. Đó là nói về sự.
Còn
nói về lý, trong bản kinh này đặt trọng là Tâm. Như hồi
nãy tôi nói tâm tịnh thì độ tịnh. Bao nhiêu cái lọng riêng
của các ông Trưởng giả đó dụ cho tâm riêng. Mà khi tâm
nó còn riêng tư thì lúc đó nó không có cái diệu dụng. Khi
tâm nó không có cái diệu dụng. Khi tâm nó đã họp nhất
rồi, lúc đó là thanh tịnh. Thanh tịnh thì mười phương cõi
Phật cho tới trong thế giới này, có cái gì cũng hiện sáng
ở trong đó hết. Cho nên nói tâm tịnh thì quốc độ tịnh.
Khi tâm mình thanh tịnh rồi, tất cả những cái gì ở đâu,
ở xa mấy nó đều hiện vô đó. như đây là một bằng chứng
cụ thể chớ không phải mình nói một cách xa vời.
Thí
dụ: Như đức Phật, Ngài tu dưới cội Bồ đề. Khi tâm Ngài
hoàn toàn thanh tịnh rồi, Ngài nhìn ra, Ngài thấy xa như là
10 phương các cáu tí mù tí mú gì, Ngài cũng thấy hết.
Cho nên. Cho nên Ngài mới nói hằng hà sa số thế giới đó.
Thế giới nhiều như cát sông Hằng. Mà lúc đó có cái phương
tiện nào để Ngài thấy không? Hay tâm Ngài tịnh rồi Ngài
thấy. Vậy thì do tâm Ngài thanh tịnh cho nên Ngài thấy vô
số thế giới bên ngoài. Cũng do tâm Ngài tịnh rồi, Ngài
thấy những vi trùng tí ti. Như vậy rõ ràng tâm tịnh rồi
thì tất cả đều hiện, thấy được hết. Đó là những
đều thực chớ không phải tưởng tượng. Bởi vậy chúng
ta tu không có mơ ước thần thông mà chỉ phải tiêu diệt
những phiền não để cho tâm thanh tịnh. Tâm mình thanh tịnh
thì mọi cảnh bên ngoài, những gì cần biết thì liền thấy,
liền biết, không nghi ngờ nữa. Đó, bởi vậy chủ yếu của
đạo phật là đi tới cái gốc tâm thanh tịnh thì mới thành
cõi Phật thanh tịnh. Chớ mình mơ ước cõi Phật mà lúc đó
mình không có tu, không có điều phục cái tâm mình để thanh
tịnh, thì mơ ước chỉ là viễn vông.
Khi
ấy tất cả đại chúng xem thấy thần lực của Phật liền
tán thán là điều chưa từng có. Chấp tay lễ Phật, chiêm
ngưỡng dung nhan của Phật. Con mắt không có chớp. Ông Trưởng
giả Bảo Tích.
Con
ông Trưởng giả thì nghe không có được chút nào hết.
Trưởng
giả Bảo Tích liền ở trước Phật dùng bài tụng để tán
thán rằng:
Đây
là bài tụng của Ông.
Con
mắt rộng đẹp như hoa sen.
Tịnh,
Tu, Quảng ba chữ. Tịnh là Tập, Tu là sửa sang. Quảng là
rộng. Nhưng mà mình nói con mắt đẹp đẽ là đủ rồi.
Con
mắt đẹp đẽ như hoa sen.
Tâm
trong sạch đã qua hết các thiền định.
Đã
lâu chứa chất nghiệp thanh tịnh.
Xưng
là vô lượng hay khen là vô lượng.
Dẫn
đường cho chúng để được yên lặng.
Cho
nên con kính lễ.
Bốn
câu này là giải thích cái gì? Là Ngài tán thán Phật.
Câu
thứ nhất: là tán thán về sắc thân của Phật nó đẹp đẽ.
Nhưng mà trên đây là tán thán con mắt người khác. Bởi vì
quí vị nhớ, người thông minh người ta nhìn cho mắt, họ
thấy làm sao. Nó trong và sáng phải không? Con mắt trong sáng.
Còn người ít thông minh thì nhìn con mắt thấy nó làm sao.
Nó đục đục, nó lờ đờ, vậy thôi. Chớ nó không trong
không sáng. Vì Phật là giác ngộ cho nên phần trí tuệ nó
biểu lộ ở con mắt. Con mắt trong mà sáng. Đó ở đây tán
thán con mắt Phật. Tức là tán thán về hình tướng.
Rồi
kế đó, câu thứ hai: là tán thán tâm của Ngài. Bởi vì tâm
của Ngài nó đã hoàn toàn thanh tịnh, cho nên Ngai qua hết
các thiền định. Tại sao tâm thanh tịnh lại qua các thiền
định? Bây giờ chúng ta ngồi thiền để làm gì? Để hàng
phục tâm. Và để gì nữa? An trụ tâm. Mà nếu tâm chúng
ta đã hàng phục, đã an trụ rồi thì ngồi thiền làm chi
nữa. Cho nên nói tâm Ngài đã thanh tịnh. Cho nên Ngài đã
qua hết các thiền định. Đó là tán thán về tâm của Ngài.
Đây
câu thứ ba là tán thán cái nghiệp của Ngài. Ngài đã lâu
rồi, Ngài tích lũy nghiệp thanh tịnh. Cái nghiệp là nghiệp
thanh tịnh. Nó được vô lượng.
Rồi
câu thứ tư là tán thán về cái gì? Là giáo hóa. Dẫn đường
chúng sinh đi đến chỗ tịch tịnh. Cho nên con đảnh lễ Ngài.
Như
vậy chỉ có bốn câu thôi mà chúng ta thấy tán thán đủ.
Nào là tán thán thân, tán thán tâm, tán thán cái nghiệp và
tán thán luôn cả sự giáo hóa, hướng dẫn.
Rồi
bốn câu kế:
Đã
thấy đại thánh dùng thần biến,
Khắp
hiện mười phương vô lượn cõi.
Trong
ấy chư Phật diễn nói pháp,
Khi
ấy tất cả phải thấy nghe.
Chữ
“ư thị” là khi ấy. Nhớ ư thị là khi ấy nha. Bốn câu
này là tán thán thần lực của Phật. Khi Ngài dùng thần lực
để họp các lọng thành một cái đó. Khi họp thành một
cái rồi thì mười phương cõi nước vô lượng đều thể
hiện chư Phật ở trong mười phương nói pháp... Tất cả
đều nhìn thấy sẵn ở trong lọng hết. Khi ấy nhìn cái lọng
đều thấy sẵn hết. đó là tán thán thần lực của Phật.
Cái
sức pháp lực của đấng pháp vương siêu vượt cả quần
sanh.
Thường
dùng pháp thí, tài thí mà thí cho tất cả.
Hay
khéo phân biệt tướng của các pháp.
Nơi
nghĩa đệ nhất nó không động.
Đến
bốn câu này là tán thán Phật khéo nói pháp. Ngài là đấng
pháp vương dùng sức pháp của Ngài, khéo nói để dẫn dắt
hay là vượt hơn tất cả mọi chúng sinh. Ngài thường dùng
cả tài thí và pháp thí để mà lợi ích cho mọi người,
rồi Ngài lại khéo phân biệt tướng của các pháp. Tuy rằng
khéo phân biệt tướng của các pháp mà đối với nghĩa đệ
nhất không có động.
Thường
thường khi phân biệt thì động hay không động? Phân biệt
thì động. Mà tại sao Ngài phân biệt pháp tướng mà nghĩa
đệ nhất không động. Như bây giờ tôi nói, tôi ví dụ như
cái nhà. Bây giờ tôi phân tích cái nhà. Cái nhà này nó không
tự có, mà nó do gạch, do xi măng, do cát, do nước, rồi do
tôn, do gỗ... do những cái đó họp lại thành cái nhà. Phân
tích như vậy thì cái nhà không thực có. Bởi nhà không thực
có nên cái nhà này tự tánh là không, phải không? Tôi phân
tích như vậy đó, nó có động tới tự tánh không hay không?
Đối với tự tánh không có bị động không? Như vậy thì
phân tích để cho người ta thấy rõ cái nhà không có tự
tính. Không có tự tính đó là thấy tánh không. chớ không
phải do phân tích đó mà động cái tánh không. Mà tánh không
tức là đệ nhất nghĩa.
Đã
đối với các pháp được tự tại.
Thế
nên con đảnh lễ pháp vương này.
Hai
câu này Ngài tán thán là Phật đã được tự tại đối với
các pháp. Cho nên Ngài đảnh lễ đấng pháp vương.
Nói
pháp chẳng có cũng chẳng không.
Do
nhân duyên cho nên các pháp sanh.
Vô
ngã, vô tạo, vô thọ giả.
mà
nghiệp thiện ác cũng không mất.
Câu
này là khen ngợi Phật nói pháp. Cái pháp Phật nói nó không
thuộc về có cũng không thuộc về không. Vì sao không thuộc
có cũng không thuộc không. Vì do duyên cho nên các pháp sanh.
Bởi nhân duyên các pháp sanh cho nên không phải thật có cũng
không phải thật không. rồi đến vô ngã không tạo tác, không
có thọ giả mà nghiệp thiện ác không mất. Đó, các pháp
Phật nói nó khéo léo như vậy.
Bốn
câu này dễ hiểu không? Nói rằng do nhân duyên nên pháp chẳng
phải có cũng chẳng phải không. Bây giờ dùng cái thí dụ
nào xa xôi thì khó hiểu. Bây giờ tôi dùng cái thí dụ cụ
thể nhất. Thí dụ như bàn tay của tôi, khi mình xòe 5 ngón
ra, rồi nắm lại, thì gọi là gì? Là nắm tay. Nắm tay này
tự có hay là do nhân duyên hợp. Như vậy nắm tay này có là
do nhân duyên hợp, phải không? Trước khi năm ngón chưa co
lại thì có nắm tay không? Bây giờ, nếu trong khi co lại,
rồi buông ra thì nắm tay còn không? Như vậy trong khi năm ngón
tay co thì tạm gọi là nắm tay. Nắm tay nguyên trước không,
sau không. Trong khi co lại thì tạm có, phải không? Trước
không, sau không. Đó thì nói nó như là không nhưng mà khi co
lại tạm có thì nó không phải là không. Như vậy khi chúng
ta co năm ngón lại rồi thì tạm gọi là nắm tay. Nhưng bây
giờ nếu phân tích, ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp,
ngón út, từng ngón thì kiếm nắm tay có không? Cũng không.
Như vậy cái thể nắm tay nó là không. Nhân duyên hợp thì
tạm có. Như vậy nói nắm tay là có hay là không? Như vậy
nói có nói không đều không được. Mà nói nó phải sao? Chẳng
phải có mà cũng chẳng phải không, phải không? Chẳng phải
có, vì trước không có, sau không có. Duyên hợp phân tích
ra cũng không thấy thật nắm tay. Không có tự thể nắm tay
nên nói chẳng phải có, phải không. Nhưng khi duyên hợp thì
tạm thấy có nắm tay, thì không phải không.
Như
vậy thì pháp Phật nói lý nhân duyên nó như vậy. Cái gì
mà hiện có đây đều do nhân duyên. Do nhân duyên thì không
phải thật có mà cũng không phải thật không. không phải
thật có không phải thật không thì nó làm sao? Nó có như
huyễn như hóa phải không. Như vậy thì cái có đó là hư
dối không thật. Mà bây giờ mình có chịu nó không thật
không? Chịu không? Đúng thấy được cái lý nhân duyên thì
các pháp không thật. Mà thấy lý nhân duyên ngu hay là trí.
Ngu hay trí? Là trí. Còn không thấy đúng lý nhân duyên đó
là ngu phải không? Mà bây giờ các pháp do duyên hợp là không
thật. Mà mình thấy thật là mình làm sao? Vậy mà mấy chú
có chịu ngu đâu, phải không? Cứ tưởng mình thông minh lắm
phải không? Bởi vì do nhân duyên hợp thì nó không phải thật
có mà cũng không phải thật không. Bây giờ mình nói nó thật
có, là đã ngu rồi phải không? Đó là không thấy được
lý nhân duyên. Như vậy cho nên cái pháp của Phật nói nó
rất là khó hiểu vì nó trái với cái ngu của phàm phu. Tại
mình ngu nên mình khó hiểu phải không? Chớ nếu mình thông
minh như các vị Bồ Tát nghe cái hiểu liền. Đó là cái thứ
nhất.
Đến
cái khó thứ hai nữa nè! Cái pháp của Ngài nói là vô ngã.
Tức là không có ta, không có người tạo tác, cũng không có
người thọ nhận. Mà cái nghiệp thiện ác không mất đó,
thì thường thường nói, bây giờ mình hay nói với nhau làm
sao. Mình làm lành thì đời sau hưởng phước lành, phải không?
Mình đời này làm lành thì đời sau thì đời sau hưởng phước
lành. Như vậy đời này mình làm lành, đời sau hưởng phước
lành thì dễ hiểu quá. Như vậy có mình đời này làm, rồi
cũng có mình đời sau hưởng, phải không? Nhưng mà Phật nói
mình không thật. Vô ngã là đâu có ta thật, không có ta thật
thì làm đều lành rồi đời sau ai hưởng. Mà không có ta
thật thì ai làm lành. Không có người làm cũng không có người
hưởng mà tại sao cái nghiệp báo không mất. Không làm không
hưởng tức là nghiệp báo mất tiêu chứ gì, phải không?
Nói như vậy thì thật là khó hiểu.
Bây
giờ tôi thí dụ gần nhất. Thí dụ như bây giờ bản thân
mình hiện tại đây, cái gì là mình. Mấy chú chỉ giùm tôi
đi. Cái gì là ta? Cái ta bây giờ thật là khó mà chỉ. Ngay
thân này chỉ cái gì là ta, chỉ không được. Nhưng mà lúc
nào mình cũng nghĩ mình có cái ta làm chủ cái thân này. Nhưng
bây giờ cái ta là cái gì. Mà thật là mình làm chủ thân
này chưa. Đó là một cái.
Bây
giờ tôi hỏi mấy chú, tại sao mấy chú ăn? Tại mình muốn
ăn hai tại bao tử trống nó đòi. Nếu mà nói tại mình muốn
ăn đó thì có cái món nào mà mình thích nhất, rồi khi đó
có ai cho mình ăn cơm no đầy, rồi người khác đem cái món
mình thích nhất ra, mình có muốn ăn không? Nếu tại mình
thì cái gì mình thích thì mình phải ăn. Nhưng bây giờ cái
bao tử đầy rồi thì có thích thì thích, chớ nuốt không
vô phải không? Như vậy thì mình muốn ăn hay bao tử muốn.
Đó, như vậy mới thấy rõ ràng rằng cái bao tủ khi nó trống,
nó đòi hỏi thì mình muốn ăn phải không? Như vậy mình muốn
hay bao tử muốn? Nhưng mà lúc nào cũng nói mình hà. Tôi muốn
ăn. Chớ sự thực ra, do bao tử trống. Như vậy chúng ta mới
thấy khi chúng ta ăn, những thức ăn vô, chúng ta có muốn
nó chế biến ra máu, ra gì gì đó, bằng cách nào không? Cứ
dồn đại vô đó rồi tự nó làm sao nó làm cũng không biết
nữa.
Bây
giờ tôi thí dụ. Thí dụ như bây giờ ở đây có ông trụ
trì hay ông tri sự, ngoài kia có một số con nít nó vô nó
xé rào. Nó vô bẻ “Điều” hay làm gì đó. Rồi ông tri
sự thấy, tức là làm sao? Mới điều hành chúng ra đuổi
nó ra phải không? Điều hành chúng chạy ra đuổi. Thấy
nó xé rào của mình, mình đuổi nó ra. Như vậy mình là chủ,
ai xâm phạm mình liền biết. Biết thì mình liền đuổi ra.
Bây
giờ đây cơ thể mình, mấy con vi trùng ở ngoài nó xâm phạm
mình có hay không? Rồi mình có điều động các vi trùng của
mình lại để diệt nó không? Không biết gì hết trơn. Ở
trỏng nó làm sao làm, mình chớ có biết, phải không? Rồi
ăn đồ ăn vô nó chế biến làm sao mình chớ có hay. Chớ
phải chi ăn vô rồi mình ấn cái nút nào đó, để cho nó
được tiết chất gì. Ấn cái nút gì để tiết chất gì,
để tiêu hóa, rồi nó bổ dưỡng. Như vậy mình mới là chủ
chớ, phải không? Cái này nó làm cái gì mình không biết hết.
Rồi tới chừng nó ra thì hay vậy thôi. Rồi nó thành cái
gì thì thành. Như vậy chủ ở chỗ nào chớ. Có chủ không?
Mà không chủ thì làm sao có ta. Ngã là chú đó.
Tuy
nó không chủ như vậy mà nếu mấy chú cứ uống rượu hoài
thì lâu nó có ghiền không? Ghiền không? Hút thuốc mãi thì
có ghiền không. Tuy không chủ mà nghiệp không mất phải không?
Không chủ mà nghiệp không mất. Nghĩa là làm cái nghiệp gì
thì kết quả nó đi tới đó.
Như
vậy mới thấy rõ rằng không có ngã, không tạo tác, không
thọ giả mà nghiệp không mất. Đó là một cái đặc biệt.
Mình lâu nay mình si mê, mình cứ tưởng mình là chủ. Khi mình
tưởng mình là chủ đó thì thực ra cái tưởng tượng thôi.
Cái giả tưởng chớ không có thực. Vì thực ra con người
mình, mình đâu biết rõ nó phải không? Mình chỉ biết khái
quát nó vậy thôi. Rồi ở trong đó mọi sinh hoạt của nó
mình đều không biết hết. Rồi nhu cầu nó đòi cái gì đó
thì, thí dụ bây giờ nghe khô ở trỏng, khát nước thì mình
cứ uống vô, cho ở trỏng có nước nôi cho mát mẻ, nó
hoạt động. Rồi nhu cầu nó thiếu lương thực của cái bao
tử thì dồn vô. Như vậy là đều do cái nhu cầu ở trỏng
rồi mình làm theo cái cái nhu cầu đó. Chớ mình có chủ gì
đâu. Bây giờ mấy chú thử làm chủ cái coi. Khi bao tử trống
rỗng không thèm ăn. Không thèm ăn vô thử coi chịu nổi không?
Rồi khi mình vô đầy rồi, nó muốn ra đừng thèm cho nó ra.
Chịu nổi không? Thử làm thử coi. Mấy cái đó đâu làm chủ
được phải không? Nghĩa là nó tới giai đoạn đó, nó đòi
vô thì phải cho nó vô. Nó đòi ra phải cho nó ra. Chớ mình
không làm chủ gì hết. Như vậy mới thấy rõ là không có
chủ. Mà không có chủ tức là vô ngã chứ gì. Đó, đã vô
ngã thì ai là tạo tác, ai là người thọ. Nhưng mà cái nghiệp
gì mình tạo thì nó không mất. Cái thói quen nào mình tập
thì nó thành công. Nó mắc kẹt ở đó. Như vậy mới thấy
cái ý nghĩa của đạo Phật thật là khó. Vì nó tế nhị
quá. Đó là bốn câu tán thán pháp của Phật nó rất là nhiệm
mầu khó hiểu. Rồi kế.
Mới
ở cội Bồ đề mà thành Phật hay là mới ở cội Bồ đề
dùng sức mà hàng phục chúng ma được diệt cam lồ giác thành
đạo.
Mấy
câu này nghe rất là khó.
Đã
không tâm ý không thọ hành mà phải hàng phục các ngoại
đạo.
Nói
rằng đức Phật khi Ngài tu ban đầu dưới cội Bồ đề,
Ngài mới dùng sức để hàng phục ma quái. Như mình đọc
trong sử hay nói rằng: Ngài hàng phục ma vương đó. rồi chữ
“Đắc cam lồ giác diệt giác đạo thành”. Đắc cam
lồ diệt là làm sao? Bởi vì trong Tứ Đế, Diệt đế là
Niết bàn. Diệt đế tức là vị cam lồ. Mà được Diệt
đế rồi thì mới giác ngộ mới thành đạo. Như vậy thì
mình mới thấy chỉ có mấy chữ thôi mà nói quá rộng. Bởi
khi Ngài ngồi dưới cội Bồ đề dùng sức hàng phục ma quái.
Khi hàng phục ma quái rồi, được cái Diệt. Diệt đó là
được cái tâm thanh tịnh. Đó là cái vị cam lồ. Nhân đó
Ngài mới giác ngộ mới thành đạo. Ngài đã không còn có
cái tâm ý, không còn có cái thọ hành. Thọ hành tức là nghiệp
đó. mà phải hàng phục được các ngoại đạo. Thường thường
thì muốn hàng phục ai, muốn lý luận với ai thì trước mình
phải làm sao. Trước mình phải suy nghĩ, phải không? Mình
tìm lý này, lẽ kia để mà mình cố chinh phục họ. Đó là
tâm ý sưe dúng trước nhưng mà với Phật thì cái ý nghiệp
Ngài đã hết. Đã thanh tịnh tất cả. Nhưng tâm phiền não
không còn. Như vậy lấy cái gì mà Ngài hàng phục ma quái
hay là hàng phục ngoại đạo. Tuy rằng tâm ý không còn suy
nghĩ phân biệt mà Ngài hàng phục được ngoại đạo. Đó
là cái đặc biệt. Cho nên thường gọi là thời trí đó.
Ngài không cần suy nghĩ trước. Nhưng mà vừa tới, người
ta đề ra cái gì là Ngài thấy rõ vấn đề đó. Ngài liền
bẻ họ. Chớ không phải như mình phải nằm suy nghĩ năm tháng,
ba tháng gì. Rồi để mà lập lý luận, mà tới bàn với người
ta. Không phải vậy. Bởi vậy cho nên nói cái đặc biệt của
Ngài đó, là khi mà giác ngộ rồi thì tâm ý Ngài đã trong
sạch. Nghiệp không còn. Như vậy mà Ngài khéo hay hàng phục
hết thảy các ngoại đạo.
Ba
phen chuyển pháp luân ở đại thiên. Cái pháp luân kia xưa
nay thường thanh tịnh. Trời, người được đạo này.
Tức
là được đạo do chuyển pháp luân đó, là chứng quả.
Tam
bảo nơi đây hiện thế gian.
Hay
là tam bảo khi ấy hiện thế gian. Đây là tán thán đức Phật
ở vườn Lộc Uyển. Ngài khéo chuyển pháp luân hay là tam
chuyển pháp luân. Rồi những vị có mặt ở đó là người,
là trời... Nhờ đó mà chứng được đạo. Từ đó mới đủ
tam bảo hiện thế gian. Tại sao nói rằng chuyển pháp luân
ở đại thiên. Thường thì chúng ta thấy Ngài chuyển pháp
luân ở vườn Lộc uyển, với năm anh em Kiều Trần Như thôi
phải không? Chớ đâu có chuyển khắp hết mà nói là cả
đại thiên. Nhưng mà nếu đọc sử thì mấy chú thấy, khi
Phật chuyển pháp luân tại vườn Lộc Uyển rồi thì cái
tiếng đó vang lên, chư thiên ở các cõi trời đều lập lại
cái đó phải không? Lập lại tiếng đó cho đến vang khắp
cả cõi Trời, tới cõi Phạm Thiên. Bởi vậy cho nên nói rằng
chuyển pháp luân cả đại thiên là vậy. Nghĩa là khi Phật
nói, thuyết pháp ở vườn Lộc Uyển, năm anh em ông Kiều
Trần Như nghe pháp Tứ đế đó. Nghe cái đó rồi thì chư
Thiên, Long Thần, Thổ Địa mới diễn tiếng đó lại. Rồi
nó vang lên ở trên các cõi đều diễn tiếng đó mà nó trùm
cả tới cõi Trời Phạm Thiên.