Phần Một
Bây
giờ giải thích về tên kinh. Bài mà chúng ta học hay quyển
kinh chúng ta học đây là do Ngài Cưu La Ma Thập. Tuy rằng trong
ba nhà dịch đều có nổi tiếng. Nhất là như Ngài Huyền
Trang đó, sau này rất nổi tiếng. Nhưng mà xét ra, ba bản
dịch đó đối chiếu lại, hầu hết từ trước đến giờ,
những nhà học Phật đều lấy bản dịch của Ngài Cưu La
Ma Thập làm định bản. Tức là cái bản quyết định hơn.
Còn những bản kia thì không bì kịp. Bởi vậy cho nên bây
giờ chúgn ta học là chọ cái bản của Ngài Cưu La Ma Thập.
Bản của Ngài Cưu La Ma Thập có hai tên: một tên là “Duy
Ma Cật Sở Thuyết Kinh”. Còn một tên khác là “Bất khả
Tư Nghì Giải Thoát Kinh”. Bây giờ tôi tuần tự giải thích
hai tên đó cho quí vị hiểu.
Bây
giờ tên thứ nhất là “Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh”. Duy
Ma Cật tức là tên của ông Duy Ma Cật. Mà Duy Ma Cật là chữ
Phạn. Trung Hoa dịch là Tịnh Danh. Cũng dịch là Vô Cấu. Tịnh
Danh: Chữ tịnh là trong sạch. Danh: Thường thường chúng ta
nói là tên, nhưng mà ở đây không có nghĩa là tên, cái tên
trong sạch thì nó vô nghĩa. Bởi vì chữ danh ở đây nó nằm
ở trong mười hai nhân duyên. Mười hai nhân duyên mà cái phần
thức, thức là duyên gì? Danh sắc. Như vậy chữ Danh và Sắc
đó. Danh là tinh thần, là tâm, sắc là vật chất. Như vậy
thì chữ danh là chỉ cho phần tâm, phần tinh thần. Tịnh Danh
có nghĩa là cái tâm thanh tịnh, tâm trong sạch. Vì sao? Bởi
vì Ngài Duy Ma Cật là một con người, một ông Trưởng giả
giàu có, thê thiếp đầy nhà. Tiền bạc, tôi tớ đầy đủ
mà ông không dính, không mắc trong danh, trong lợi, trong tài,
trong sắc. Vì vậy mà nói tâm ông trong sạch. Vì vậy mà gọi
là Tịnh Danh. Còn Vô Cấu là dịch ngược lại. Vô Cấu là
không có nhơ, không nhớp tức là trong sạch chớ gì. Cho nên
hai cái tên đó nó không có khác nhau. Nhưng mà lấy cái tên
Duy Ma Cật mà giảng đó, quí vị thấy có khi nó cũng hơi
quá. Bởi vì thường thường cái tên của người, không nhất
thiết là đúng với cái nghĩa của cuộc sống con người đó.
Tôi
thí dụ: Như bây giờ có một người nào đó, họ đặt tên
là Hữu Phước nhưng mà họ nghèo cháy da. Như vậy cái tên
đó và cái cuộc sống đó, nó có giống nhau không? Thì thiếu
gì, mình thấy có nhiều người tên đẹp vô cùng, mà tới
nhìn họ thì thấy không có gì đẹp hết. Như vậy thì cái
tên chỉ để mà gọi thôi, chớ không nhất thiết cái tên
đó nó lại mang đầy đủ ý nghĩa cuộc sống con người ấy.
Đó là trường hợp thứ nhất.
Trường
hợp thứ hai, có ai đó đặt tên, muốn cho con mình đẹp thì
đặt tên làm sao. Như muốn cho người ta nghe tên tưởng nó
là quí là đẹp. Thí dụ đặt tên cho gái là Bạch Hoa. Tức
là hoa trắng. Nhưng mà nó lại đen thùi. Như vậy thì đứa
con da đen mà đặt tên là Bạch Hoa. Mình nghe Bạch Hoa thì
mình tưởng đâu người đó trắng lắm, phải không? Nhưng
mà họ đen rồi sao? Như vậy cái tên nó không phải là nhất
thiết hết cái ý nghĩa của họ, phải không?
Nhưng
mà ở đây tôi sở dĩ giảng ý nghĩa là đứng về mặt lý
của các vị Bồ tát. Bởi vì thường thường trong Kinh Đại
Thừa có cái tánh cách ý nghĩa về tâm lý nhiều hơn.
Thí
dụ: Như trong kinh Viên Giác. Mỗi một vị Bồ Tát đứng ra
hỏi phần nào đó, thì cái phần đó mang tên vị Bồ Tát
đó. Mà chính phẩm đó nói đúng ý nghĩa của cái tên đó.
Thí dụ như tên Ngài Viên Giác. Bồ tát Viên Giác thì cái
phẩm đó nói về Viên Giác. Như vậy thì mỗi cái tên của
Bồ Tát nó mang theo cái ý nghĩa, hành động của các Ngài
cho nên mình giảng chữ Tịnh Danh của Ngài Duy Ma Cật đây
là giảng theo ý nghĩa của Bồ Tát. Chớ còn thực tế, cuộc
sống không phải tên nào cũng có ý nghĩa như vậy, phải không?
Có những tên nó rất là đẹp, mà con người nó không có
đẹp gì hết, phải không? Có tên rất là tầm thường mà
con người đẹp. Thì cái đó nó không có cố định. Như vậy
tôi giảng cho quí vị hiểu cái ý nghĩa đó.
Rồi
tới chỗ khác, cũng tên kinh này là “Bất Khả Tư Nghì Giải
Thoát Kinh”. Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát Kinh nghĩa là làm
sao? Tức là sự giải thoát không thể nghĩ bàn.
Bây
giờ tôi thí dụ như vầy để mình biết ý nghĩa của bộ
kinh. Thí dụ như có người họ muốn dứt hết những
nhiễm ô trần tục. Cho nên ngày xưa họ giàu có sang trọng.
Bây giờ họ bỏ hết tất cả sự nghiệp tài sản, vợ đẹp,
con yêu gì bỏ hết để đi tu. Khi vào chùa thì họ một bề
thanh tịnh tu hành, không còn có ước mơ những dục lạc thế
gian nữa. Cũng không còn dính mắc những dục lạc thế gian
nữa. Những vị đó giải thoát mình dễ hiểu không? Cái giải
thoát đó dễ hiểu quá. Nghĩa là ổng gỡ ổng bỏ hết rồi,
cho nên tới đây ông là hoàn toàn thanh tịnh. Còn ngược lại
như ông Duy Ma Cật, ổng ở trong nhà làm trưởng giả, vợ
con đầy đàn, tiền của cả kho đụn, đầy cả kho đụn.
Mà nói giải thoát thì làm sao tin nổi, phải không? cái giải
thoát đó khó mà tin nổi. Bởi vì có vợ có con, rồi tiền
của, rồi tôi tớ, đủ hết như vậy mà làm sao nói ổng
giải thoát. Như vậy chính ông Duy Ma Cật ở trong cái cảnh
đầy dẫy những nhiễm ô đó mà ổng không dính mắc. Thì
cái giải thoát đó có thể nghĩ bàn được không? Bởi vậy
cho nên nói rằng giải thoát không thể nghĩ bàn. Đó là trường
hợp ông Duy Ma Cật. Chính kinh này diễn tả cái giải thoát
đó đó. Ông ở trong hoàn cảnh như vậy mà tâm ông không
dính không nhiễm. Mà ông làm tất cả Phật sự không chướng
không ngại. Cho nên cái giải thoát đó gọi là giải thoát
bất khả tư nghì. Như vậy quí vị mới thấy ý nghĩa của
bộ kinh một phần. Đây tôi cũng nói đơn giản chớ không
nói hết.
Rồi
kế đó nữa, Kinh Duy Ma Cật này có liên hệ đến Thiền tông
khá nhiều. Bởi vì kinh này, chúng ta nhớ đọc sách thiền,
một vị nào mà ngộ lý thiền từ kinh Duy Ma Cật, quí vị
nhớ không? Chính Ngài Thiền Sư Huyền Giác. Ngài nghiên cứu
kinh Duy Ma Cật, Ngài phát ngộ. Khi ngộ rồi, thì Huyền Sắc
đến, nói chuyện với Ngài thì thấy rõ ràng cái hiểu của
Ngài đúng như cái hiểu của chư Tổ, không có khác. Bởi
vậy mới xúi dục Ngài đi đến Lục Tổ, để nhờ Lục Tổ
ấn chứng cho. Rồi chính Ngài khi đến Lục Tổ học thêm
nhiều ít? Chỉ là qua câu chuyện đối đáp thì được Lục
Tổ ấn chứng rằng: Ờ! Đúng rồi, cái hiểu của ông đúng
như thật. Không có sai chạy. Ngang đó thì Ngài trở về, chớ
không có học hỏi gì thêm hết.
Như
vậy để thấy rằng cái tinh thần giải thoát của Ngài đã
sẵn đủ. Chớ không phải do tới Lục Tổ Ngài mới chỉ
dạy cho rồi mới giải thoát sau. Hay là ngộ đạo sau cái
ngộ của Ngài là ngộ là ngộ từ kinh Duy Ma Cật này. Bởi
vậy cho nên kinh Duy Ma Cật cũng có ảnh hưởng lớn trong giới
tu thiền của chúng ta. Vì vậy mà học nó cũng có cái tầm
vóc như học những sách Thiền vậy. Đó là tôi nói tổng
quát rồi, bây giờ đi tới chánh văn.
Yï
nghĩa phẩm kinh này. Phẩm này tên là Phẩm Phật Quốc thứ
nhất. Hồi nãy tôi đã giảng tên kinh và người dịch rồi.
Bây giờ nói về tên phẩm. Phàm trong những bộ kinh mà phẩm
đầu đều là phẩm Tự. Tự tức là lời tựa đó. Nhưng
mà đây lại không để phẩm Tự, mà lại để là phẩm Phật
Quốc. Lý đáng cái phẩm này phải có chia ra hai phần: Phần
thứ nhất là nói về Tựa. Phần thứ hai mới nói về Phật
Quốc.
Phần
thứ nhất nói tựa tức là chỉ cho từ “Như Thị Ngã Văn”
cho tới tất cả đều câu hội”. Rồi bắt đầu Phật thuyết
pháp đó. Đó là phần tựa. Vì đó là phần chung. Kể diễn
tả trong hội. Nhưng mà ở đây lại không nói phần tựa đó,
mà lại nói Phật Quốc. Thì coi như đã khỏa lấp phần tựa
rồi. Như vậy thì có ý nghĩa gì? Bởi vì Ngài Cưu La Ma Thập,
Ngài thấy rằng trong toàn bộ kinh Duy Ma Cật đều lấy cái
chủ đích là “Thanh tịnh cõi Phật”. Chủ đích là thanh
tịnh cõi Phật, mà muốn thanh tịnh cõi Phật thì phải y cứ
nơi tâm chúng sinh. Bởi vậy nên muốn có cõi Phật thanh tịnh
là quả, thì tâm chúng sinh là nhân. Có cái tâm thanh tịnh
thì mới có cái cõi Phật thanh tịnh. Nếu tâm chưa thanh tịnh
thì không thể nào có cõi Phật thanh tịnh được. Bởi vậy
nên từ đầu chí cuối bộ kinh đều nhằm thẳng cái mục
đích đó. Nghĩa là tâm tịnh thì cõi Phật mới tịnh.
Như
vậy phẩm Phật Quốc này có thể là tổng quát toàn bộ kinh.
Cho nên không còn nói tựa riêng của nó mà nói phần chung
cho toàn bộ. Vì vậy mà Ngài không có để tên cái phẩm tựa
mà để tên phẩm Phật Quốc. Đoạn sau lời hỏi của các
vị Bồ Tát đó sẽ hiển bày cái lý này. Tôi nói đại khái
cho quí vị biết về ý nghĩa của cái phẩm. Bây giờ bắt
đầu vô trong chữ nghĩa. Ráng dò chữ Hán lại kỹ kỹ một
chút.
Tôi
nghe như vầy một hôm Phật ở rừng Tỳ Gia Ly, vườn cây
Am La, cùng với chúng đại Tỳ Kheo tám ngàn người chung hội.
Bồ Tát có Ba vạn hai ngàn đều là bậc thiên hạ được
biết. Chúng sở tri thức đó tức là thiên hạ đều nghe đều
biết. Cái trí huệ lớn bổn hạnh thiệt thảy đều thành
tựu.
Đây
là diễn tả cái khả năng, cái đức độ của các vị Bồ
Tát đó.
Do
cái oai thần của chư Phật mà dựng lập nên. Các vị đó
là cái thành để hộ pháp và thọ trì chánh pháp. Các vị
Bồ Tát đó hay rống tiếng rống của Sư Tử. Cái danh tiếng
của các Ngài nó đồn đãi khắp mười phương. Các Ngài làm
bạn không đợi chúng thỉnh, mà để an ủi họ. (Chúng nhơn
bất thỉnh hữu di an chi. Nghĩa là mọi người không thỉnh
mà vẫn làm bạn để an ủi cho họ). Và nối tiếp Tam Bảo.
Hay khiến không có dứt hàng phục các ma quái và chế ngự
chúng ngoại đạo”.
Đó
là tôi giảng lần đoạn này trước cho quí vị thấy. Đây
là tán thán công đức của ba muôn hai ngàn bị Bồ Tát. Ba
muôn hai ngàn vị Bồ Tát có mặt trong hội này đều là những
vị có đầy đủ công đức như ở đây kể. Nhưng mà cái
điều mình thấy, các nơi luôn luôn kiết tập thì để nói
rằng có 1250 vị Tỳ Kheo, phải không? Theo Phật hay là câu
hội. Còn ở đây nói có được bao nhiêu. Có 8.000 người
câu hội mà không kể tên ai hết. Mà chỉ kể các vị Bồ
Tát thôi. Như vậy để thấy cái bản kinh này không có đề
cao Tỳ Kheo, mà là đề cao Bồ Tát. Bồ Tát ở đây là Bồ
Tát tại gia, phải không? Đó là đặc điểm mà mình thấy.
Những vị Bồ Tát đó trong những đặt điểm nêu lên cho
chúng ta thấy.
Trước
hết những vị Bồ Tát này là những người mà tất cả thiên
hạ ai cũng nghe cũng biết. Trí Tuệ các Ngài rộng lớn. Các
hạnh của các Ngài đều thành tựu. Các Ngài nhờ đã đượcc
chư Phật lâu đời dựng lập nên. Các vị Bồ Tát này là
cái thành hộ pháp. Tức là ủng hộ chánh pháp. Rồi cũng
thọ trì chánh pháp. Rồi các Ngài hay giảng dạy. Rồi danh
tiếng các Ngài đồn khắp mười phương. Cái câu hay nhất
là các Ngài làm bạn không đợi thỉnh mời, phải không? Mình
bây giờ muốn giảng thì sao? Có ai mời mình mới giảng. Như
vậy mình chỉ là bạn khi nào có kẻ mời. Còn các Ngài làm
bạn mà không đợi thỉnh mời. Đó là để nói lên cái tâm
của Bồ Tát. Khi thấy cần làm lợi ích cho chúng sinh thì
lăn xả vào mà làm. Chớ không phải đợi mời, đợi thỉnh.
Rồi
các Ngài có cái khả năng để mà nối nắm Tam bảo. Duy trì
tam bảo, hàng phục ngoại ma... Tức là ma quái và ngoại đạo.
Thảy
đã thanh tịnh hằng lìa Cái Triền. Chữ cái là ngũ cái. Triền
là Thập Triền. Tâm thường an trụ trong cái vô ngại giải
thoát. nào là Niệm, Định, Tổng Trì, Biện tài không dứt.
Bốn
cái đó là chỉ cho khả năng của các Ngài. Niệm nè, Định
nè, Tổng trì: Tổng trì tức là gồm hết, nhớ hết. Biện
tài tức là cái tài biện luận. Đó là mấy phần riêng. Rồi
bây giờ tới Lục Độ. Nào là:
Bố
thí, Trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ
và cái sức phương tiện không có cái gì chẳng đủ. Hay là
nói đều đầy đủ.
Chữ
Vô Bất cắt nghĩa đầy đủ là “Đều”. Vô là “Không”.
Bất là “Chẳng”. Không chẳng nghĩa là làm sao? Vô Bất
Cụ Túc: Không chẳng đầy đủ. Nghĩa là đều đầy đủ.
Nhớ mấy cái chữ đó.
Đều
hông có sở đắc, không có khởi pháp nhẫn.
Câu
này quí vị nghe, “Đến”, Chữ đó là “Đến”. Đãi là
“Đến”. Là “Kịp” đó. Đến được cái vô sở đắc,
không khởi pháp nhẫn. Như mình bây giờ do tâm ý mình còn
sân si nhiều, ai động tới mình nổi giận. Mà muốn tu thì
phải làm sao? Phải đè cơn giận xuống. Đè cơn giận xuống
gọi là gì? Là nhẫn. Nhẫn là nhịn đó. Như vậy nhờ nhẫn
mà mình mới tu. Chớ còn người ta nói tới mà mình không
nhẫn thì sao? Tức nhiên mình dễ sân si lắm, phải không?
Nhưng mà tại sao ở đây các Ngài không có nhẫn. Không khởi
pháp nhẫn. Bởi vì tham sân si không còn. Mà không còn gì khởi
nhẫn. Cho nên mình tưởng mình nhẫn hay đó là mình tu hay,
phải không? Nhẫn hay đó là tại sân nhiều. Sân nhiều cho
nên phải nhẫn nhiều.
Còn
người hết sân nrồi còn gì phải nhẫn. Vì vậy cho nên nói
vô sở đắc. Bởi vô sở đắc rồi thì còn gì mà nhẫn nhục.
Đã
hay tùy thuận chuyển bánh xe bất thối. Khéo hiểu các tướng
hay là tướng các pháp. Biết được cái căn của chúng sinh.
Che đậy tức là che mát các đại chúng được vô sở quí.
Mấy
chỗ đó phải nhớ cho kỹ.
Công
đức trí tuệ, lấy công đức trí tuệ để mà tu nơi tâm.
Còn lấy cái tướng hảo mà trang nghiêm nơi sắc thân làm
đệ nhất. Bỏ hết các đồ trang sức ở thế gian.
Ơí
chỗ này quí vị thấy có cái lạ nữa. Câu nói lấy công
đức trí tuệ mà tu ở đây, thì cái đó dễ hiểu rồi. Còn
nói lấy cái tướng hảo, tức là tướng tốt để mà trang
nghiêm thân. Vì vậy sắc thân là bậc nhất. Rồi xả bỏ
các đồ trang sức ở thế gian. Thường thường ở thế gian
người ta nói có trang sức thì mới đẹp. Bây giờ bỏ hết
đồ trang sức thì làm sao mà đẹp. Nói là trang nghiêm cái
thân, thân tốt đẹp. Muốn trang nghiêm thân thì phải có các
đồ trang sức chớ, phải không? Mà tại sao trang nghiêm thân
tốt đẹp lại bỏ các đồ trang sức? Là bởi thế này. Thường
thường chúng ta muốn cho thân đẹp cho nên mới dùng những
món đồ trang sức để cho nó tăng cái vẻ đẹp. Mà đồ
trang sức là cái bên ngoài, cái phương tiện bên ngoài.
Còn
với Bồ tát này thì lấy ba hai tướng tốt của Phật đó,
để mà trang nghiêm thân. Ba hai tướng tốt đều do công tu
mà ra, phải không? Cái công tu hành mà được. Cho nên muốn
trang nghiêm thân thì lấy công đức tu hành để cho thân có
đủ tướng tốt. Chớ không phải mượn cái món đồ ở ngoài
trang sức cho thân đẹp. Nó khác với mình bây giờ.
Bởi
vì trong ba mươi hai tướng tốt của Phật, Phật nói mỗi
tướng đều do công tu của Ngài. Tỷ dụ như tướng lưỡi
rộng dài là do Ngài tu cái hạnh không nói dối, phải không?
còn cái trái tai dài, là sống dai, là do Ngài tu cái hạnh không
giết hại chúng sanh... Mỗi cái tướng tốt đều là công
hạnh tu của Ngài mà được.
Như
vậy thì muốn được tướng tốt đó thì phải tu những công
hạnh đó được. Lấy cái đó để trang sức thân mình, chớ
không có mượn những đồ trang sức hoa hòe ở bên ngoài.
Như vậy mới hiểu rằng các Ngài bỏ hết những đồ trang
sức ở thế gian là vậy đó.
Cái
tướng tốt của các Ngài nó cao và xa, vượt cả núi Tu Di.
Các Ngài tin sâu và kiên cố ví như là Kim Cương. Cái pháp
bảo này khắp soi như là mưa nước cam lồ. Ơí trong chúng
nói pháp cách vi diệu đệ nhất. Các Ngài ở trong chúng nói
pháp vi diệu đệ nhất. Các Ngài thâm nhập được lý duyên
khởi và đoạn các tà kiến. Không có mắc kẹt hai bên có
và không, và không còn những tập khí thừa. Diễn pháp không
có sợ ví như là con Sư tử rống. Những lời nói của các
Ngài giảng nói ra như là tiếng sấm vang. Không có lượng
và đã quá cái hạn lượng.
Bởi
vì cái tiếng của Ngài giảng nó vang xa. Nó không có giới
hạn. Nó quá cái hạn lượng.
Nhóm
họp các pháp bảo rộng như biển.
chữ
“Như hải đạo sư” đó. Tức là ông thầy dẫn đường
như biển thì nghe nó khó hiểu. Bởi vì pháp của Phật nói
ra, tùy bệnh mà cho thuốc. Cho nên chúng sinh bệnh nhiều, các
pháp Phật cũng nhiều. Gom hết những pháp đó thì nó rộng
như biển. Mà pháp đó là cái hướng để dìu dắt chúng sinh
ra khỏi bể khổ. Cho nên nói là đạo sư. Vì vậy mà nói
là nhóm họp các pháp bảo rộng lớn như biển. Nó là phương
tiện dìu dắt chúng sanh như bậc thầy.
Thấu
suốt được các pháp thâm diệu, cái nghĩa thâm diệu của
các pháp. Khéo biết cái chỗ qua lại của chúng sanh. Hay là
khéo biết cái chỗ qua lại và tâm sở hành của chúng sinh.
Gần bậc Phật vô đẳng đẳng, tự tại huệ, thập lực,
tứ vô quí, thập bát bất cộng.
Vì
các vị Bồ Tát này là thường gần gũi Phật. Phật là bậc
vô đẳng đẳng, được tự tại huệ, được Thập Lực,
được Tứ Vô Sở Quí, được Thập Bát Bất Cộng.
Các
vị Bồ Tát này đã đóng cửa tất cả các đường ác mà
sanh trong ngũ thú để hiện thân kia.
Câu
này có mâu thuẩn không. Nói các Ngài đã đóng cửa tất cả
đường ác. Mà đã đóng cửa các đường ác. Tại sao lại
hiện sanh trong ngũ thú. Hiện thân sanh trong ngũ thú là sao?
Nếu đóng cửa các đường ác rồi thì đâu có bị sanh trong
ngũ thú. Tại sao đóng cửa đường ác mà lại hiện thân
trong ngũ thú. Thì đây để thấy rằng, đóng cửa các đường
ác là cái nghiệp để tạo sinh trong các cõi ác, cõi xấu
đó nó không còn nữa. Các Ngài không còn nghiệp để sanh
trong tam giới. Hay là trong lục đạo. Nhưng mà các Ngài lại
vì lòng đại bi mà thệ nguyện sanh trong lục đạo để giáo
hóa chúng sinh. Bởi vậy cho nên đóng hết các cửa trong các
đường ác nhưng mà vẫn hiện thân sanh ở trong ngũ thú, đó
là cái chỗ này. Sanh trong ngũ thú để làm gì?
Vì
làm ông thầy thuốc. Vua thầy thuốc hay ông thầy thuốc lớn,
khéo trị lành bệnh cho chúng sanh. Nó hợp với bệnh mà cho
thuốc, khiến đều được lành bệnh. Các ngài vô lượng
công đức thảy đều thành tựu. Vô lượng cõi Phật thảy
đều trang nghiêm thanh tịnh. Ai mà thấy hay nghe được các
Ngài đều có lợi ích. Vô bất mong ích đó. đều có lợi
ích. Những việc làm của các Ngài đều không có luống uổng.
Như thế tất cả công đức thảy đều đầy đủ.
Như
vậy thì tán thán công đức của những vị đó rất đầy
đủ.
Tên
của các Ngài là Bồ Tát Đẳng Quán, Bồ Tát Bất Đẳng Quán...
cho đến sau chót là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử.
Như thế... ba muôn hai ngàn người.
Tức
là ba muôn hai ngàn vị Bồ Tát câu hội.
Lại
có một muôn vị Phạm Thiên, Phạm Thiên Vương, Thi Khí...
từ ở tứ thiên hạ khác mà đến chỗ Phật và để nghe
pháp. Lại có một muôn hai ngàn Thiên Đế cũng từ ở tứ
thiên hạ khác đến, ngồi ở trong hội, cùng những vị đại
oai lực, chư Thiên, Long,, Thần, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La,
Ca Lầu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Dà thảy đều ngồi trong hội.
Những vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đều
đến ngồi ở trong hội.
Khi
ấy Phật cùng chúng vô lượng trăm ngàn cung kính vây quanh
mà vì nói pháp. Thí như ngọn núi Tu Di lớn nó hiển hiện
ở trong biển cả. Làm An Sử chúng bảo như tòa.
Tức
là Ngài ngồi trên cái tòa An sử. Tức là ngồi yên đó. ngài
ngồi yên trên tòa Sư tử.
Các
thứ báu, bảy báu đó che hết tất cả các Đại chúng mới
đến. Tức là Ngài ngồi trên tòa Sư tử bảy báu thì hào
quang sáng của Ngài phủ hết, trùm hết các đại chúng.
Như
vậy đoạn này tánh cách là tựa, là dẫn. Cái buổi mà Phật
sắp thuyết pháp đây. Có những ai tụ hội về để dự trong
buổi này. Số người dự, kể ra cho chúng ta biết. Và buổi
họp đó ở tại chỗ nào... như vậy đó là tánh cách tựa.
Còn chưa nói gì tới giáo lý. Bây giờ đọc tiếp tới phần
giáo lý.
Khi
ấy ở thành Tỳ Da Ly có những ông Trưởng Giả.
Cái
chữ “Tử” này, thiên hạ cứ mắc kẹt. Trưởng giả tử
là cho ông trưởng giả phải không? Còn nếu nói Khổng Tử
là con ông Khổng Tử phải không? Lão Tử là con ông Lão Tử
phải không? Chữ “Tử” không phải nghĩa là “Con” không.
Mà còn có nghĩa là “Ông”.
Tức
là có những ông Trưởng giả tên là Bảo Tích nè, cùng với
500 ông Trưởng giả đều mang cái lọng bảy báu đến chỗ
Phật. Đầu mặt lễ chân Phật. Mỗi vị lấy cái lọng của
mình mà dâng lên cúng dường Phật. Phật dùng oai lực khiến
cho các lọng báu hợp lại thành một cái lọng, để che khắp
cả tam thiên đại thiên thế giới. Mà những tướng rộng
dài của thế giới này thảy đều hiện ở trong. Lại cái
tam thiên đại thiên thế giới này, các núi Tu Di, núi Vân,
núi Tuyết, núi Mục Chân Lân Đà, núi Ma Hạ Mục Lân Đà,
núi Hương, núi Bảo, núi Kim, núi Hắc, núi Thiết Vi, núi Đại
Thiết Vi. Rồi biển cả sông ngòi, các dòng suối và mặt
trời, mặt trăng, tinh tú, thiên cung, long cung, cung của các
vị tôn thần. Thảy đều hiện cái lọng báu ấy. Lại chư
Phật ở mười phương, chư Phật đang nói pháp, cũng đều
hiện ở trong núi ấy. Trong cái lọng báu ấy