[28] 1995–1999
Khai thị tại Mỹ Quốc
Do
đời sống vật chất khiến sự tu lui sụt?
Sức
tâm xoay chuyển
Thể
xác là xe chở sinh mạng
Lý
do Sư phụ xuất giả
Chưa
chứng ngộ làm sao giải đáp?
Vài
nét về Pháp sư Nguyệt Khê
Phật
Thích Ca chẳng kiến lập chơn lý
Phật
tánh làm chủ
Thế
nào là tâm bình thường?
Tại
sao Ngũ Tổ truyền y bát cho Lục Tổ?
Thế
nào là đạo
Trà
Triệu Châu
Thoại
đầu dù muôn ngàn, chỉ một cái “không biết”
Người
kiến tánh còn sanh tử không?
Có
thể gấp rút đề câu thoại đầu để thúc đẩy nghi tình?
Thế
nào là Phật giáo, Phật pháp, Phật học?
Tại
sao Phật nói nhiềi kinh?
Ngũ
thời bát giáo là gì?
Phiền
não là gì?
Thuyết
pháp đại khai viên giải
Đốn,
tiệm, biệt, viên
Phật
giáo Tiểu thừa không nhìn nhận Đại thừa
Pháp
tu của Trung Thừa
Kinh
nói 84000 pháp môn, sao Sư phụ chỉ dạy một pháp môn
Thiên
Thai Giáo Quán Tông
Công
án Hòa thượng Thủy Lão gặp Mã Tổ, cô Trịnh mười ba
Bảy
ngàn Tổ ngộ đạo, ai ấn chứng?
Câu
chuyện tu hành của Thiền sư Diệu Cao
Giải
thích Trung Phong Pháp ngữ
Sự
sai biệt giữa Tiểu thừa, Trung thừa và Đại thừa
Thiền
tông không tin kinh điển?
Ngài
Nam Tuyền chém mèo có phải lậu tận không?
Xã
hội thời nay khó tu Tổ sư thiền?
Bỏ
nhiễm duyên lấy tịnh duyên
Thần
thức đi đầu thai là thế nàỏ
Sự
khai ngộ của Ngài Đại Huệ
Tại
sao học Phật pháp có thể thành ngoại đạỏ
Bổn
lai vô nhất vật, lấy cái gì lìa cái gì?
Có
phải tùy theo xá lợi có thể đánh giá sự tu của người
đó?
Thế
nào hành đúng theo chánh pháp?
Ta
nghe như vậy
Hễ
khởi niệm là lọt vào tương đốỉ
Cách
giải thích” Sắc không bất dị”
Câu
chuyện Thiền sư Văn Ích phái Pháp Nhãn Tông đi tham học
Tại
sao phải đọc cuốn 50 thứ ma ngũ ấm?
Thế
nào giải ngộ và chứng ngộ?
Làm
thế nào chấm dứt cái biết?
Hỏi:
Có nhiều người lúc trước ở Việt Nam thì sự tu cũng khá
cao, qua đến đây do đời sống vật chất khiến họ bị lui
sụt, vậy có phải do nghiệp không ?
Đáp:
Ấy là bị hoàn cảnh lôi kéo. cũng như đứa bé sơ sinh chỉ
có tập khí kiếp trước, chưa bị nhiễm tập khí kiếp này,
rồi dần dần lớn lên mới nhiễm phải.
Như
nội dung nhiều trò chơi điện tử thời nay, tập cho đứa
bé có tánh hung dữ, sau này họ trưởng thành, khi có quyền
hành trong tay rồi, chẳng biết thế giới sẽ ra sao. Xã hội
ngày nay, nhiều hung thủ giết người chỉ có mười mấy tuổi,
lái xe thì vô kỷ luật, những người sản xuất đồ chơi
chỉ cần thu được phần lợi lộc, không màng đến hậu
quả ảnh hưởng đem lại tánh hung dữ cho các cháu.
Còn
những nhà đầu tư thì đem chất phế thải, ô nhiễm độc
hại, đầu tư tại các nước cần phát triển, chỉ biết
đem phần lợi về mình là đủ, ô nhiễm môi trường cũng
mặc kệ, chỉ cần không gây ô nhiễm trong nước sở tại
của mình là được. Họ lấy danh nghĩa giúp đỡ, đầu tư,
viện trợ, thực tế là trút phần ô nhiễm cho người khác.
Hỏi:
Quả lắc tự xoay có ý nghĩa như thế nào ?
Đáp:
Nó xoay theo nguyên lý tự xoay: Ví như điện tử xoay nguyên
tử, mặt trăng xoay theo quả đất, quả đất xoay theo mặt
trời, mặt trời xoay theo ngân hà, nay phóng vệ tinh lên trên
không cũng xoay theo quỷ đạo… Sức của tâm cũng vậy, chẳng
bao giờ ngưng. Nên Kinh Pháp Bảo Đàn nói “Tất cả đều
lay động chẳng tịnh.”
Hỏi:
Hiện nay có một số người Thiên Chúa Giáo phản đối Phật
giáo đồ, cho là không đúng, vậy như thế nào ?
Đáp:
Chính Phật giáo đồ đối với Phật pháp cũng chỉ hiểu
một cách mơ hồ. Trong cuốn Góp Nhặt Lời Phật Tổ và Thánh
Hiền, tôi có đề cập đến sự nhận thức của một người
linh mục Mỹ nói về Phật giáo, sự hiểu biết của ông ấy
còn hơn Phật giáo đồ.
Vì
Phật giáo chỉ là giải phẩu tâm linh, còn nhà khoa học là
giải phẩu thể xác; thể xác chỉ là chiếc xe chở sinh mạng,
chứ chẳng phải chủ sinh mạng, chủ sinh mạng là tâm linh.
Cho nên, nhà khoa học muốn tìm hiểu sinh mạng, mà cứ giải
phẩu thể xác thì làm sao tìm được ? Muốn tìm phải tìm
hiểu chủ sinh mạng.
Ví
như khoa châm cứu, thời xưa Đạo giáo đã dùng tâm linh phát
hiện kinh lạc nơi cơ thể con người, gồm mười bốn kinh
lạc và những huyệt vị, nhà khoa học thời nay khi giải phẩu
thể xác chỉ thấy thần kinh, không thấy kinh lạc. Dù chẳng
thể phát hiện qua ngũ giác quan, nhưng công hiệu của châm
cứu liệu pháp thì chẳng thể phủ định, nên trường đại
học Mỹ có khoa châm cứu, cũng phải thực hành theo hệ thống
kinh, lạc, huyệt do tâm linh phát hiện.
Hỏi:
Vì sao Thầy trở thành Tu sĩ ?
Đáp:
Thuở xưa khi bà nội tôi mất , tôi tự nghĩ tại sao lại
có sự chết ? Đến khi ba tôi mất thì tôi mới nghĩ
“sau này tôi cũng phải chết”. Từ đó tôi thường nghĩ
rằng sự chết đó có thể giải quyết được không ? Sau
đó xem kinh Phật, mới biết việc này có thể giải quyết.
Tôi bèn phát tâm xuất gia, và bây giờ tôi phát hiện được
sanh tử vốn là không! Như tôi đã nói ở trên: Chủ sinh mạng
là tâm linh, tâm linh không có sanh tử.
Hỏi:
Lúc Thầy xuất gia còn thân phụ thân mẫu không ?
Đáp:
Tôi còn một người mẹ nhưng không phải mẹ ruột, bà nuôi
tôi từ lúc tôi bốn tuổi, mới chết cách đây mấy tháng,
còn người mẹ ruột thì mất lúc tôi chưa đầy một tuổi.
Hỏi:
Thế thì Thầy cảm thấy an lạc không? Cảm thấy có gì là
quan trọng không ?
Đáp:
Chẳng có an lạc hay không an lạc, vì vốn là trống rỗng
chẳng có gì cả, thành ra tôi đi đến đâu cũng như vậy
thôi. Nếu có cái gì quan trọng thì chẳng phải Tổ sư thiền;
luôn cả Tổ sư thiền cũng không phải Tổ sư thiền. Hễ
có mục đích là có sở trụ, là chướng ngại. (Sư phụ dùng
cánh tay dụ cho tâm linh vô sở trụ, lược qua.)
Hỏi:
Sư phụ tự nói là chỉ được giải ngộ, chưa chứng ngộ
thì làm sao giải đáp được ?
Đáp:
Đã giải ngộ thì tất cả đều giải được.
Hỏi:
Con thừa nhận Sư phụ nói về tánh thấy tánh nghe là đúng,
sự thấy nghe của mình có lúc không hoàn toàn, nhưng đó chỉ
đúng theo logic thôi ?
Đáp:
Logic chỉ có thể dùng trong không gian ba chiều, có vật thể,
thông qua tai mắt. Còn tâm linh là siêu logic, logic chẳng thể
biện chứng được; vì logic chỉ có thể chứng tỏ không
gian, chẳng thể chứng tỏ thời gian.
Hỏi:
Xin Sư phụ kể qua vài nét của ngài Nguyệt Khê ?
Đáp:
Ngài Nguyệt Khê tốt nghiệp tại trường đại học ở Thượng
Hải, rất giỏi về ngoại ngữ Anh, Pháp và thông thạo triết
học Đông, Tây phương .
Người
biên tập cuốn Nguyệt Khê Ngữ Lục và các tác phẩm
của ngài, đem gom lại thành quyển Cội nguồn Truyền Thừa
và Phương Pháp Tu Trì của Thiền Tông. Tôi rất tiếc vì những
đệ tử của ngài sau này trong việc xuất bản, lấy ý mình
xen vào , nhiều người đọc không biết, nhưng khi tôi đọc
thì biết sự khác nhau: Vì lời nói của người chưa kiến
tánh với người đã kiến tánh khác nhau, mà người thường
không thể phân biệt được.
Cũng
như Kinh Pháp Hoa, do người trứ tác chấp thật có Bồ tát
Quán Thế Âm tại núi Phổ Đà, nên trong Phẩm Phổ Môn, người
ta in thêm mười hai đại nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm,
rồi chấp thật có một vị Bồ tát Quán Thế Âm ngồi trên
chiếc thuyền tuần tra nơi biển, hễ gặp ai cầu cứu thì
hiện thân đến cứu giúp, mà chẳng biết là do tự tánh Quán
Âm tự cứu, chỉ vì mọi người tin không nỗi thôi.
Hỏi:
Người thời nay có phương tiện đầy đủ, đáng lẽ dễ
kiến tánh hơn, tại sao lại khó hơn đời xưa ?
Đáp:
Do người thời nay trí thức logic quá mạnh, cái gì cũng phải
hợp logic, nhưng tâm linh thì chẳng thể hợp với logic, vì
logic là nghịch với tâm linh, chướng ngại tâm linh hiển hiện.
Tức là : Hiển thịnh thì ẩn suy; thời nay do hiển quá thịnh
nên ẩn phải suy.
Hỏi:
Ở nước Mỹ, người ta cảm thấy đi đến Đạo Phật chẳng
thể giải thoát ?
Đáp:
Đạo Phật thời nay rất phức tạp, nhiều người dùng chủ
quan của mình để giải thích Phật pháp, ấy đều nghịch
với giáo pháp của Phật Thích Ca. Bởi vì Phật Thích Ca chẳng
kiến lập chơn lý, vừa nói ra liền phủ nhận, nay các nhà
Phật học lại cho lời nói của Đức Phật là chơn lý, nói
thế giống như ngoại đạo rồi.
Hỏi:
Trên đường tu hành, chúng con khi thì hăng hái, khi thì giải
đãi, làm thế nào để khắc phục cái vọng tri của mình
?
Đáp:
Lỗi tại có tri giác. Kinh Lăng Nghiêm nói “Tri giác nãi chúng
sanh.” Nay hãy nhìn qua thế giới vạn hữu, con người cho
con cọp, beo, sư tử là ác thú, nhưng họ không bao giờ giết
hại đồng loại, và chỉ giết hại loài vật khác khi lúc
đói, khi ăn no rồi thì không. Còn con người, ngày thường
thì giết hại loài khác như gà, vịt, cá, heo … ngoài ra còn
giết hại đồng loại, như trong lúc chiến tranh. Ấy đều
là hành động theo sự hiểu biết của mình, rồi lập ra chủ
trương của mình, tức dùng bộ não làm chủ.
Bộ
não phải nhờ ngũ giác quan : Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân;
con mắt thì muốn nhìn đẹp, chê xấu; lỗ tai thì thích tiếng
khen, ghét tiếng chê; lỗ mũi thì muốn ngữi cái thơm, không
chịu cái thúi; lưỡi thì muốn ăn cái ngon, chê cái dỡ, tất
cả đều theo bộ não mà thỏa mãn dục vọng của mình, đến
khi không thể thỏa mãn thì giết hại.
Đức
Phật là muốn cho Phật tánh làm chủ, chấm dứt chủ quyền
của bộ não. Tu hành đạt đến mục đích cuối cùng, là
để Phật tánh làm chủ. Đối với những người chẳng phải
vì mục đích này, hoặc chỉ do hứng thú thì lúc có hứng
thì siêng năng, hết hứng thì giải đãi, có khi do bị ngoại
cảnh lôi kéo khiến giải đãi v.v… nên phải tập dần dần.
Hỏi:
Trong quyển Trung Phong Pháp Ngữ đề ra bốn điều dễ và bốn
điều khó, nói bốn điều dễ là để cho nhập đạo,
bốn điều khó để cho tiến lên con đường đạo, là như
thế nào ?
Đáp:
Bốn điều dễ là để tạo lòng tin, có lòng tin mới có thể
nhập đạo. Vì TIN là mẹ của công đức. Nhưng hễ chấp
vào chỗ đó thì bốn điều dễ sẽ đưa mình xuống địa
ngục! Phải giải quyết bốn điều khó rồi thì bốn điều
dễ này là dễ, nếu không thì bốn điều dễ này là dễ
xuống địa ngục vậy.
Hỏi:
Tại sao đã có Thiền tông rồi lại còn có Mật tông ?
Đáp:
Mật tông lúc ban đầu kỳ thật là của ngoại đạo, sau khi
Phật nhập Niết bàn mấy trăm năm, do ngài Long Thọ, Tổ thứ
14 của Thiền tông chỉnh sửa lại, khiến những ngoại
đạo đương thời trở về chánh pháp, nên ngài làm Tổ cho
sáu môn phái.
Hỏi:
Thế nào là bình thường tâm?
Đáp:
Bình thường tâm tức tâm như hư không chẳng dính mắc, là
nói người đã kiến tánh, dù cho bom nguyên tử làm nổ tung
trái đất này, tất cả đều tiêu tan, nó vẫn bình thường.
Chứ không phải trong cuộc sống hằng ngày trải qua một cách
bình thường gọi là bình thường tâm. Tâm của con người
chưa kiến tánh thì chẳng thể bình thường được, ấy là
điên đảo.
Hỏi:
Có người hỏi Thiền sư Nam Tuyền :”Dưới pháp hội của
Ngũ Tổ có năm trăm vị, người nào cũng thông thái và giỏi
pháp lý. Vậy tại sao ngài chẳng truyền y bát cho người khác,
mà lại truyền cho Lục Tổ Huệ Năng ?”
Ngài
Nam Tuyền đáp: “Sở dĩ truyền cho Huệ Năng, vì ngài không
biết Phật pháp, nhưng biết đạo.” Nghĩa này là thế nào
?
Đáp:
Đức Phật trong Kinh Kim Cang nói: ”Chẳng có pháp gọi là
Phật pháp.”, “Pháp, phi pháp, phi phi pháp.”, “ Ai nói ta
có thuyết pháp là phỉ báng Phật.”, “Vô pháp khả thuyết,
gọi là thuyết pháp”… Không có pháp thì làm sao biết Phật
pháp? Vì ngộ được vốn là chẳng có pháp, nhưng chẳng phải
phủ định tất cả pháp, pháp nào cũng y như cũ; cái tách
vẫn là tách, quả cam vẫn là cam, chứ không có ý của cá
nhân xen vào.
Hỏi:
Vậy thế nào là đạo?
Đáp:
Cũng vậy thôi. Thiền tông là hiểu thiền, hiểu đạo cũng
không cho. Đạo là đường đi, muốn ngộ đến cuối cùng
thì phải đi đúng đường lối; ví như tham Tổ sư thiền,
đường lối thực hành tức là đạo.
Đạo
khả đạo, phi thường đạo. Đạo mà có thể nói được
thì chẳng phải là đạo, vì không có nhất định. Tất cả
nói được đều chỉ là phương tiện, là cơ xảo. Tám mươi
bốn ngàn pháp môn là tám mươi bốn ngàn con đường; đạo
của Tịnh độ khác, đạo của Thiền tông khác…Dù đường
đi mỗi mỗi khác nhau, chỗ đến thì chẳng khác.
Hỏi:
Ngoài công án ra, có cách nào cho người thời nay tu hành được
thích hợp không ?
Đáp:
Công án không bị thời gian, không gian hạn chế, khác hơn
khoa học. Khoa học dần dần tiến bộ, còn công án là để
phát hiện Phật tánh, Phật tánh thì không thể tiến bộ,
vì hễ có tiến bộ là pháp sanh diệt.
Ví
như công án “uống trà” của Tổ Triệu Châu:
Có
người đến gặp Triệu Châu, ngài hỏi:
- Trước
kia đã có đến đây chưa ?
- Dạ
chưa.
- Uống
trà đi !
Người
khác đến, ngài lại hỏi:
- Trước
kia đã đến lần nào chưa ?
- Dạ,
có.
- Uống
trà đi !
Viện
chủ hỏi: Sao người nào ngài cũng bảo đi uống trà ?
Ngài
nói : Viện chủ !
- Dạ
?
- Uống
trà đi.
Bất
kể thời xưa, thời nay, thuyết pháp phải tùy cơ, trên phù
hợp ý Phật, dưới khế hợp đương cơ; phù hợp ý Phật
chẳng có tiến bộ, khế hợp đương cơ cũng chẳng có tiến
bộ.
Hỏi:
Đường lối tham thiền chỉ có một, nhưng trong lúc công phu,
vì căn cơ khác nhau, mỗi người đi một lối rẻ, vậy là
thế nào ?
Đáp:
Thoại đầu dù có muôn ngàn, nhưng đều chỉ là một cái
không biết; tất cả đều là tác dụng kích thích cái không
biết, và khán thoại đầu chỉ là nhìn vào chỗ không biết
mà thôi.
Hỏi:
Người tu Tổ sư thiền có thọ Bồ tát giới không ?
Đáp:
Có. Đại thừa và Tối thượng thừa đều có thọ giới Bồ
tát. Vì Đại thừa là Bồ tát thừa, Tu sĩ Đại thừa phải
thọ giới Bồ tát, nếu không thì chưa phải Đại thừa. Cư
sĩ thì thọ hay không thọ cũng được. Còn Tiểu thừa (Thanh
văn thừa) thì không thọ giới Bồ tát, chỉ thọ giới Tỳ-kheo
mà thôi.
Hỏi:
Người kiến tánh rồi còn sanh tử không ?
Đáp:
Thiền sư Pháp Diễn là thầy của ngài Đại Huệ và Viên
Ngộ. Lúc đó ba huynh đệ Viên Ngộ đều tưởng mình đã
ngộ, nhưng thầy lắc đầu không ấn chứng. Ba huynh đệ
rất tức giận, xin ra đi. Thiền sư Pháp Diễn nói :”Sau này
bệnh nặng mới biết ý của thầy.”
Vì
hễ ngộ thì giải thoát được sanh tử, chưa ngộ triệt để,
đến khi bệnh nặng, dùng sự ngộ đối trị không nỗi, lúc
đó mới nhớ lại lời của thầy rồi quay trở về. Ngài
Viên Ngộ quay về được một tháng thì kiến tánh triệt để.
Hỏi:
Tại sao Đại Thông Trí Thắng Phật mười kiếp ngồi đạo
tràng mà chẳng thành Phật đạo ?
Đáp:
Đại Thông Trí Thắng Phật là Bích Chi Phật, tu theo Trung thừa,
vì chấp ngồi nên chẳng thể thành Phật, chỉ chứng quả
viên giác.
Hỏi
: Hành giả tham Tổ sư thiền có phải gấp rút đề câu thoại
để thúc đẩy nghi tình không ?
Đáp:
Không có lấy ý mình để thúc đẩy gì cả, chỉ cần đừng
nổi lên một niệm nào thì đã đủ rồi. Bất cứ nỗi lên
niệm gì đều là tâm trộm cắp, ngài Ẩn Am gọi đó là “Dụng
tâm sai lầm”. Tổ nói :
- Người
tham thiền rất kỵ dụng tâm sai lầm: Minh tâm kiến tánh là
dụng tâm sai lầm, thành Phật thành Tổ là dụng tâm sai lầm;
xem kinh giảng giáo là dụng tâm sai lầm, đi đứng nằm ngồi
là dụng tâm sai lầm, ăn cơm ăn cháo là dụng tâm sai lầm,
đại tiện tiểu tiện là dụng tâm sai lầm, nhất động nhất
tịnh, nhất vãng nhất lai là dụng tâm sai lầm. Lại còn có
một chỗ là dụng tâm sai lầm mà tôi không dám nói trắng
ra. Tại sao? “ Nhất tự nhập công môn, cửu ngưu xe bất
xuất”, ý nói bất cứ nổi lên niệm gì, đều là dụng
tâm sai lầm. Đến chỗ nhất tâm không nổi lên, vẫn còn
là vô thỉ vô minh ! Nhưng công phu đến chỗ thoại đầu là
sắp kiến tánh, mà nếu ngồi tại chỗ vô tâm đó thì còn
xa lắm.
Hỏi:
Thế nào là Phật giáo, Phật pháp, Phật học ?
Đáp:
Phật giáo là giáo lý của Phật, Phật pháp là pháp thực
hành giáo lý của Phật, để đưa mình đạt đến giải thoát
tất cả khổ. Phật pháp mặc dù giúp cho sự giải thoát,
nhưng phải học, nên gọi Phật học.
Hỏi:
Thế trí biện thông có phải là một trong Bát nhã?
Đáp:
Thế trí biện thông là chướng ngại cho sự kiến tánh, vì
người thế trí biện thông chấp vào thế trí của chính mình,
cho là cao nhất mà không buông bỏ được, nên thành chướng
ngại.
Hỏi:
Thế nào là vạn pháp quy tâm?
Đáp:
Ấy là người có tư tưởng chấp thật mới nói như vậy.
Bản lai diện mục của bản tâm không có tương đối, Vạn
pháp là tâm, tâm là vạn pháp, vạn pháp với tâm không phải
có hai. Nếu tâm là tâm, vạn pháp là vạn pháp, tức có hai,
là tương đối.
Cho
nên, Phật nói tất cả đều do tâm tạo. Vì tâm khắp
không gian, khắp thời gian thì vạn pháp đều ở trong tâm,
không có cái nào ở ngoài tâm, nên nói: “Ngoài tâm chẳng
có pháp.” Vậy tại sao còn nói ‘vạn pháp quy tâm’? Những
người nói ‘vạn pháp quy tâm’ là tư tưởng chấp thật,
còn nằm trong tương đối.
Hỏi:
Tại sao Phật nói nhiều kinh?
Đáp:
Vì muốn phá cái biết của bộ não, chư Tổ cũng vậy. Cái
biết của bản tâm luôn luôn ứng dụng, nhưng không phải
cái biết và không biết của bộ óc (ý thức). Vì cái biết
và không biết của ý thức làm chướng ngại cái biết của
bản tâm. Cho nên, sát na lìa ý thức là bản tâm hiện ra.
Người
tham học mới vào cửa, Lâm Tế liền hét, người tham học
mới vào cửa, Đức Sơn liền đánh., những hành động của
Tổ là muốn chặn ngang nguồn suối ý thức. Nếu lúc đó
lìa được ý thức thì ngay đó kiến tánh. Còn lìa ý thức
chưa được thì phải phát nghi (không hiểu), như Lâm Tế bị
Hoàng Bá đánh ba lần phát đại nghi, rồi sau này
ngộ triệt để. Tất cả công án, thoại đầu của chư Phật
chư Tổ đều vậy. Ngộ là hiện lên bản tâm của mình, chứ
không phải ngộ đáp án của câu thoại hay công án.
Hỏi:
Chánh biến tri và vô sư trí là như thế nào?
Đáp:
Chánh biến tri là trí Bát Nhã, vô sư trí là trí không do ai
dạy, Phật Thích Ca nói là Pháp Bản Trụ, nó tự như vậy,
không phải do thầy truyền cho.
Hỏi:
Ngũ thời, bát giáo là gì?
Đáp:
Ngũ giáo ở Trung Quốc có 5 hệ phái :Tổ Sư thiền, Giáo môn,
Tịnh Độ, Mật tông, Luật tông.
Phật
thuyết pháp chia ra làm ba giáo thời:
-Giáo
thời thứ nhất: Khi Phật mới thành đạo, vì muốm phá chấp
của Phàm phu và ngoại đạo, nên nói các pháp tứ đại ngũ
uẩn để sáng tỏ không thật, gồm những bộ kinh Tứ A Hàm:
Tăng Nhất A Hàm, Trường A Hàm, Trung A Hàm và Tạp A Hàm (Tiểu
thừa).
-Giáo
thời thứ hai: Phật vì phá chấp pháp của Tiểu thừa, nên
thuyết tất cả pháp đều không thật, là những bộ kinh Bát
Nhã.
-Giáo
thời thứ ba: Phật vì phá sự chấp có của Tiểu thừa, và
phá chấp không của Đại thừa, nên thuyết pháp chẳng có
chẳng không, để sáng tỏ nghĩa bất nhị của trung đạo,
như những bộ kinh Thâm Mật, Pháp Hoa,…
Đây
là theo thời gian mà chia ra làm ba thời.
Còn
3 loại khác biệt:
- Giải
thích các pháp có là đệ nhất thời.
- Giải
thích các pháp không là đệ nhị thời.
- Giải
thích giáo pháp trung đạo bất nhị là đệ tam thời.
Ba
thời này không phải y theo thời gian, chẳng kể thời gian
trước hay sau, mà chỉ phân theo nghĩa loại, gọi là 3
thời giáo.
Không
có bát giáo, bát khổ thì có, từ tam khổ cho đến vô lượng
khổ.
Hỏi:
Phiền não có hai:
-
Nhuận nghiệp vô minh, nhuận là thấm nhuần, là phiền não
quá khứ.
-Nhuận
sanh vô minh là đi đầu thai nơi tình thức, sanh khởi yêu ghét
đối với cha mẹ.
Hai
phiền não này vốn không có tự tánh, nếu ngộ được tự
tánh thì chẳng có việc gì, tức là ngay đó không tịch thì
ai còn có phiền não?
Đáp:
Không phải chỉ có hai pháp này không có tự tánh, mà tất
cả pháp đều không có tự tánh; chúng sanh và Phật cũng không
có tự tánh. Tức là chẳng pháp nào mà có tự tánh! Vì tự
tánh vô sở hữu, tất cả pháp đều là tâm, tâm đã vô sở
hữu thì các pháp đều vô sở hữu.
-Thiền
Sư Bổn Tịnh họ Trương, quê Hán Châu, xuất gia lúc còn nhỏ,
được Lục Tổ ấn chứng nơi Tào Khê, rồi ẩn ở núi Tư
Phong. Sau này, được nhà vua mời vào hoàng cung đàm luận
với các vị cao Tăng.
Thiền
Sư Viễn hỏi: Ý của Thiền sư cho thế nào là đạo?
Sư
nói: Vô tâm là đạo.
Viễn
nói: Đạo vì tâm mới có, đâu thể nói vô tâm là đạo?
Sư
nói: Đạo vốn vô sanh, bởi tâm mới gọi là đạo. Tâm chỉ
là tên gọi, nếu tâm thật có thì đạo cũng thật có. Tâm
đã không tìm ra thì đạo do đâu mà lập? Cả hai đều hư
vọng, thảy là giả danh.
Viễn
nói: Thiền sư thấy có thân tâm là đạo hay không?
Sư
nói: Thân tâm của sơn Tăng vốn là đạo.
Viễn
nói: Vừa mới nói vô tâm là đạo, nay lại nói thân tâm vốn
là đạo, há chẳng phải ngược nhau ư!
Sư
nói: Vô tâm là đạo, tâm diệt, đạo vô; tâm và đạo nhất
như. Nếu nói vô tâm là đạo, thân tâm vốn là đạo, đạo
cũng vốn là thân tâm; thân tâm vốn là không thì tìm cội
nguồn của đạo cũng chẳng có.
Viễn
nói: Thấy hình tướng bề ngoài của Thiền sư rất nhỏ bé
mà lại hiểu lý này.
Sư
nói: Đại đức chỉ thấy tướng của sơn Tăng, chẳng thấy
vô tướng của sơn Tăng, kẻ thấy tướng là Đại đức cảm
thấy. Kinh nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”,
nếu thấy tướng phi tướng tức là thấy đạo. Nếu cho tướng
là thật, cũng chẳng thể thấy đạo.
Viễn
nói: Nay Thiền sư ở nơi tướng mà thuyết vô tướng
ư!
Sư
nói: Kinh Duy Ma Cật nói: “Tứ đại vô chủ, thân cũng vô
ngã thì sở thấy cùng đạo tương ưng. Đại đức! Nếu cho
tứ đại có chủ là ngã, nếu có ngã kiến thì suốt kiếp
chẳng ngộ đạo vậy.
Viễn
nghe xong tâm chẳng còn thắc mắc. Sư có kệ rằng:
Tứ
đại vô chủ, lại như thủy,
Gặp
cong gặp thẳng chẳng bỉ thử.
Hai
chỗ tịnh uế chẳng sanh tâm,
Thông
nhãn đâu từng có ý khác.
Gặp
cảnh chỉ như thủy vô tâm,
Tung
hoành trên đời có việc gì?
Thiền
sư Trí Minh hỏi: Nếu vô tâm là đạo thì ngói đá vô tâm
cũng là đạo, lại nói thân tâm vốn là đạo, thế thì tứ
sanh thập loại có thân tâm cũng là đạo?
Sư
nói: Nếu hiểu theo kiến, văn, giác tri thì càng xa với đạo,
là kẻ cầu kiến, văn, giác tri, chứ chẳng phải kẻ cầu
đạo. Kinh nói: “Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý”, lục
căn còn không thì kiến, văn, giác tri do đâu mà kiến lập?
Tìm nguồn đã chẳng có thì chỗ nào còn tâm? Đâu thể đồng
với cây cỏ ngói đá!
Trí
Minh bịt miệng.
Sư
có kệ rằng:
Kiến,
văn, giác tri vô chướng ngại,
Thanh,
hương, vị, xúc thường tam muội.
Như
ở nơi ‘không’ đều sanh ra,
Chẳng
lấy chẳng xả chẳng yêu ghét.
Nếu
nơi tiếp xúc vốn vô tâm,
Mới
được gọi là Quán Tự Tại.
Thiền
sư Chân hỏi : Đạo đã vô tâm, vậy Phật có tâm chăng? Phật
với đạo là một hay là hai?
Sư
đáp: Chẳng một cũng chẳng hai.
Hỏi:
Phật độ chúng sanh là có tâm, đạo chẳng độ người là
vô tâm; một độ một chẳng độ thì đâu thể chẳng hai?
Sư
đáp: Nếu nói Phật độ chúng sanh, đạo thì chẳng độ,
ấy là Đại Đức vọng sanh nhị kiến, còn sơn Tăng không
phải vậy! Phật là hư danh, đạo cũng vọng lập, cả hai
đều chẳng thật, thảy đều là vọng sanh. Trong một cái
giả làm sao phân ra làm hai?
Hỏi:
Phật với đạo tuy là giả danh, thì giả danh này ai lập?
Nếu có kẻ lập thì đâu thể nói không?
Sư
đáp: Phật với đạo bởi tâm mà lập, tuy lập nhưng tâm
vẫn là không, tâm đã là không, liền ngộ cả hai đều chẳng
thật, biết như mộng huyễn thì ngộ vốn không, cưỡng lập
hai tên thật với giả, ấy là kiến giải của Nhị thừa.
Do
đó, Sư thuyết kệ vô tu vô tác rằng:
Thấy
đạo mới tu đạo,
Chẳng
thấy làm sao tu?
Tánh
đạo như hư không,
Hư
không lấy gì tu?
Quán
khắp người tu đạo,
Vạch
lửa tìm bọt nước.
Thấy
xem hát múa rối,
Dây
đứt hết cả thôi.
Thiền
sư Pháp Không hỏi: Phật với đạo đều là giả danh, vậy
mười hai phần giáo cũng không phải thật. Tại sao các tôn
túc xưa kia đều nói tu đạo?
Sư
đáp: Đại Đức hiểu lầm ý người xưa rồi, đạo vốn
vô tu, mà Đại Đức cưỡng tu! Đạo vốn vô tác, mà Đại
Đức cưỡng tác! Đạo vốn vô sự, mà lại cưỡng sanh nhiều
sự, đạo vốn vô tri, mà cưỡng sanh nhiều tri. Kiến giải
như thế, trái ngược với đạo. Các tôn túc xưa chẳng phải
như thế, chỉ vì Đại đức không hiểu thôi, suy nghĩ kỹ
xem!
Sư
có kệ rằng:
Đạo
thể vốn vô tu,
Vô
tu tự hợp đạo.
Nếu
khởi tâm tu đạo,
Người
ấy chẳng hiểu đạo.
Bỏ
mất tánh nhất chân,
Lại
vào chỗ náo nhiệt.
Bổng
gặp người tu đạo,
Tốt
nhất chớ hướng đạo.
Thiền
sư Am hỏi: Đạo đã giả danh, Phật cũng vọng lập, mười
hai phần giáo dùng để thuyết Pháp độ sanh, tất cả đều
vọng thì lấy gì độ sanh?
Sư
đáp: Vì có vọng nên mới lập chân để đối trị cái vọng,
nay truy tìm tánh vọng vốn không thì chân cũng đâu có? Nên
biết chân vọng đều là giả danh, hai việc đối trị với
nhau nên chẳng thật thể. Suy tìm cội gốc thì tất cả đều
không.
Hỏi:
Đã nói tất cả đều vọng, vọng cũng đồng chân, chân vọng
chẳng khác, vậy là vật gì?
Sư
đáp: Nếu nói vật gì thì vật gì cũng vọng, khi nói không
tương tự chẳng so sánh, đường ngôn ngữ dứt, như chim bay
trên hư không, chẳng có dấu vết.
Thiền
sư Am cảm thấy hổ thẹn kính phục. Sư có kệ rằng:
Suy
chân chân vô tướng,
Tìm
vọng vọng giả danh.
Ngộ
đạo cũng như thế,
Rốt
cuộc chỉ là vậy.
Thiền
sư Đại Tánh hỏi: Lời Thiền sư rất vi diệu, chân vọng
đều diệt, Phật đạo đồng quy, tu hành tánh không, nên tướng
chẳng thật. Thế giới như huyễn, tất cả giả danh, lúc
hiểu theo như thế, chẳng phải đoạn dứt hai gốc thiện
ác của chúng sanh ư?
Sư
đáp: Hai gốc thiện ác bởi tâm mới có, tìm tâm có thì gốc
mới có, suy tâm đã không thì gốc do đâu mà lập? Kinh nói:
“Pháp thiện và pháp bất thiện từ nơi tâm hóa sanh, thiện
ác nghiệp duyên vốn chẳng có thật.”
Sư
có kệ rằng:
Thiện
cũng từ tâm sanh,
Ác
cũng chẳng lìa tâm.
Thiện
ác là ngoại duyên,
Nơi
tâm thật chẳng có.
Bỏ
ác về chỗ nào?
Lấy
kiến để ai giữ?
Than
ôi! Người giữ kiến,
Phan
duyên chạy hai đầu.
Nếu
ngộ tâm vốn không,
Mới
biết trước lỗi lầm.
Có
Đại thần hỏi: Thân này từ đâu đến, trăm năm sau đi về
đâu?
Sư
đáp: Như người lúc mơ từ đâu đến, lúc thức tỉnh đi
về đâu?
Hỏi:
Lúc mơ chẳng thể nói không, lúc thức tỉnh chẳng thể nói
có. Dù có nhưng vô vãng lai, mà chẳng xứ sở.
Sư
đáp: Thân của sơn Tăng này cũng giống như mộng.
Khai
thị kệ rằng:
Đời
người như trong mộng,
Trong
mộng thật náo nhiệt.
Bổng
giác vạn sự như,
Đồng
như người mới thức,
Người
trí ngộ việc mộng.
Kẻ
mê tin mộng thật,
Tỉnh
mộng như là hai.
Khế
ngộ thì chẳng khác,
Phú
quí với bần tiện,
Chẳng
có đường phân biệt.
Năm
thứ 2 niên hiệu Thượng Nguyên nhà Đường. Sư viên tịch,
vua ban hiệu Đại Hiển Thiền Sư.
Hỏi:
Nếu người ta chỉ dạy người khác tin cõi Phật Di Đà và
khuyến khích niệm danh hiệu Phật A Di Đà, không còn pháp
nào khác nữa. Vậy thì như thế nào?
Đáp:
Phật có quy định cho người thuyết pháp là đại khai duyên
giải, tức giải ngộ tất cả các pháp đều không có khác,
nếu không thì lọt vào một bên, gọi là biên kiến ở trong
5 năm thứ ác kiến. Nhiều người lọt vào biên kiến mà tự
mình không biết. Nên Ngài Bá Trượng nói: “Nếu Pháp sư
thuyết pháp chỉ giảng được một câu hay hai câu, là nằm
trong tương đối, thì Pháp sư đó bị tội địa ngục, nếu
giảng thấu ba câu, mà người nghe hiểu lầm là lỗi của
người nghe, không dính dáng với Pháp sư”.
Đức
Phật trong kinh Pháp Hoa quy định tư cách pháp sư giảng kinh:
Nếu Pháp sư không biết mà giảng bậy bạ, gọi là cuồng
vọng thuyết pháp, bị tội địa ngục. Như Pháp sư thuyết
pháp không người nào tin thì pháp sư đó không có tội, vì
không hại đến ai. Ngược lại, người tin nhiều chừng nào
thì pháp sư bị tội lớn chừng nấy.
Hỏi:
Có chỗ nói bát giáo là: Tạng Giáo, Thông Giáo, biệt Giáo,
Viên Giáo, Bí mật Giáo, Tiệm Giáo, Đốn Giáo, Bất Định
Giáo. Vậy những thứ này như thế nào?
Đáp:
Những thứ này là do tông đó chia ra như vậy, chứ Phật Giáo
không chia. Như trong kinh Lăng Già có chia theo căn tánh của
chúng sanh, gồm có: Thanh Văn chủng tánh, Duyên Giác chủng
tánh, Bồ Tát chủng tánh, Bất định chủng tánh, Ngoại đạo
chủng tánh.
Vừa
rồi nói giáo pháp tam thời do có nghĩa khác biệt mới chia
làm tam thời theo thời gian, đó là người đời sau chia ra
tổng quát, để các tông phái nào cũng đều thích hợp.
“Đốn,
tiệm, biệt (thiên), viên”, những thứ này có thể còn có
nghĩa, kỳ thật không có nghĩa để kiến lập. Kinh liễu nghĩa
đều bao gồm“Đốn, tiệm, biệt, viên”, như năm quyển
trước của kinh Lăng Nghiêm tiếp người thượng căn, gần
như pháp đốn; còn năm quyển sau tiếp người trung, hạ căn.
Mà bao gồm hết gọi là viên, nghiêng về mê gọi là biệt,
tiệm tu và đốn ngộ gọi là đốn tiệm. Bất cứ quyển
kinh liễu nghĩa nào cũng bao gồm đầy đủ.
Tạng
pali của Tiểu thừa không có Đại thừa, mà lại không nhìn
nhận có Đại thừa.
Kinh
Hoa Nghiêm bao gồm lục tướng (đồng, dị, tổng, biệt, thành,
hoại). Ở trong lục tướng chia ra làm 2: -Sai biệt và bình
đẳng. Tướng thành, tướng đồng và tổng tướng thuộc
về bình đẳng; còn tướng biệt, tướng dị và tướng hoại
thuộc về sai biệt.
Hỏi:
“Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, Tối Thượng thừa”,
lối chia này của người Tối Thượng thừa. Như vậy người
Tiểu thừa có công nhận lối chia này không?
Đáp:
Lối chia này không phải do Phật Thích Ca chia, mà là do người
đời sau. Phật Thích Ca ban đầu thuyết liễu nghĩa, nhưng
người nghe không chấp nhận được, nên phải thuyết bất
liễu nghĩa, rồi mới thuyết liễu nghĩa.
Tam
thừa giáo là đối tượng khác nhau, ban đầu phá chấp của
phàm phu và ngoại đạo, thời thứ nhì phá chấp của Tiểu
thừa, giáo thời thứ ba phá chấp Đại thừa.
Phật
thuyết pháp là để khế hợp với căn cơ, chứ không phải
có chia. Những việc này là những giai đoạn, Đại thừa không
phải thật, vì Phật cũng phủ định.
Nên
Phật nói: “Ta 49 năm thuyết pháp, chưa từng nói một chữ”.
Tất
cả lời của Phật nói ra liền phủ định, những người
dịch kinh chấp có pháp thật, là vì không hiểu căn bản Phật
pháp, cũng có ý của mình xen vào.
Như
tông Thiên Thai, đến Tổ thứ ba là Trí Giả đại sư mới
hoàn thành đầy đủ giáo lý của tông Thiên Thai. Trí Giả
đại sư ở trên núi Thiên Thai, nên người ta gọi là tông
Thiên Thai. Tông Hoa Nghiêm cũng vậy, đến đời Hiền Thủ
đại sư mới hoàn thành giáo lý của tông Hoa Nghiêm, vì Tổ
thứ ba tông Hoa Nghiêm là Hiền Thủ, nên người ta gọi là
tông Hiền Thủ.
Tông
Thiên Thai căn cứ kinh Pháp Hoa để tu , cũng gọi là Pháp Hoa
Tông. Tông Hiền Thủ căn cứ kinh Hoa Nghiêm, cũng gọi là Hoa
Nghiêm tông, đều là kinh liễu nghĩa. Nói về giáo lý đầy
đủ phong phu,ù thì kinh Hoa Nghiêm hơn kinh Pháp Hoa.
Hỏi:
Tổ Sư thiền có câu thoại đầu làm phương tiện, tông Hiền
Thủ có kinh Hoa Nghiêm để tu, vậy nên bỏ và lấy cái nào?
Cái nào hơn?
Đáp:
Chẳng có bỏ và lấy cái nào cả, cũng chẳng có cái nào
hơn cái nào. Pháp thiền của tông Hoa Nghiêm gọi là Pháp Giới
Quán Thiền, chia làm 4 loại: -Lý pháp giới –Sự pháp giới
–Lý sự vô ngại pháp giới – Sự sự vô ngại pháp giới.
Sau
49 năm thuyết pháp, trong hội Linh Sơn, Đức Phật đưa lên
cành hoa, Ngài Ma ha Ca diếp mỉm cười, lúc đó Thiền
tông ra đời, còn gọi là pháp thiền trực tiếp, cũng gọi
pháp Tổ Sư thiền.
Tổ
Bồ Đề Đạt Ma đem Tổ Sư thiền qua Trung Quốc truyền cho
Huệ Khả,… sau Lục Tổ Huệ Năng mới có năm phái thiền,
đều là Tổ Sư thiền, nhưng mỗi gia phong có khác, mà ngộ
đạo thì không khác. Như Lâm Tế dạy người tham học, vô
cửa liền hét, Đức Sơn vô cửa liền đánh, với mục đích
niêm hoa thị chúng của Phật và gia phong của chư Tổ đều
không khác.
Hỏi:
Trung thừa dùng kinh nào để tu?
Đáp:
Trung thừa dùng Thập Nhị Nhân Duyên, nên gọi là Duyên Giác,
vì do nhân duyên mà được ngộ đạo. Lúc họ ngộ đạo mà
không có Phật thì gọi là Độc Giác, họ không cần kinh điển,
quán vũ trụ vạn hữu có thành, trụ, hoại, không hay sanh,
trụ, dị, diệt.
Hỏi:
Thập Nhị Nhân Duyên ở trong kinh nào?
Đáp:
Thập Nhị Nhân Duyên không ghi ở trong kinh nào, nhưng tất
cả kinh nào cũng có, vì đó là nhân duyên. Phật pháp là do
nhân duyên hòa hợp nên sanh, nhân duyên tan thì diệt. Phật
pháp nói đến nhân duyên, nhưng nhân duyên là tánh không, là
phương tiện để phá chấp của ngoại đạo và Tiểu thừa.
Ngưỡng
Sơn thí dụ: Lục căn như căn nhà có sáu cửa sổ, giữa nhà
thắp một cây đèn, ánh sáng rọi ra sáu cửa sổ ra ngoài.
Tiểu thừa đem màng đen che sáu cửa sổ, để cho ánh sáng
khỏi tiếp xúc cảnh ngoài, có khi cũng có thể ánh sáng lọt
ra ngoài. Tối Thượng thừa khỏi cần che cửa sổ, chỉ cần
tắt cây đèn là xong, thì đâu còn ánh sáng để tiếp xúc
bên ngoài. Cửa sổ vẫn y nguyên, và ánh sáng trong nhà và
ánh sáng ngoài nhà đều giống nhau.
Hỏi:
Nói là từ chỗ không có bắt đầu, rồi đến chỗ không
cuối cùng. Nhưng Phật Giáo chia ra nhiều thừa (Tiểu thừa,
Trung thừa, Đại thừa, Tối Thượng thừa). Như vậy việc
ấy như thế nào?
Đáp:
Phật thuyết pháp vừa xong liền phủ định không có thừa
nào cả. Thiền Sư Bổn Tịnh nói: “Phật còn không có, Tâm
cũng không”. Giáo pháp là để hiển bày tâm, nếu tâm còn
không thì hiển bày cái gì?
Hỏi:
Sư Phụ nói: Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, chỉ có Tối
Thượng thừa tham thoại đầu, công án… mà sao con thấy cái
nào
cũng giống nhau, phải không?
Đáp:
Phải, cuối cùng cái nào cũng đều giống nhau. Vì hỏi sự
khác biệt của các thừa, nên Phật dùng phương tiện để
giải thích, cuối cùng Phật đã phủ định. Nếu đến chỗ
cuối cùng thì chẳng có cái gì, như hư không vô sở hữu
mà dung nạp tất cả, dùng hư không để thí dụ tâm mình
cũng vô sở hữu. Tâm đã vô sở hữu thì lấy cái gì để
lập ra giai cấp?
Ông
đã có tư tưởng chấp thật, tôi giải thích chỗ cuối cùng
là vô tu vô chứng, Bồ Đề viên mãn thì không tu không chứng.
Không tu làm sao có giai cấp, có bậc Trung thừa, Đại thừa?
Làm sao có tu chứng?
Hỏi:
Trong kinh nói có tám mươi bốn ngàn pháp môn để tu, sao Thầy
chỉ dạy một pháp môn?
Đáp:
Một pháp môn cũng bao gồm tất cả pháp môn. Pháp môn nào
cũng đều muốn hiển bày cái Tâm, Tổ Sư thiền là pháp thiền
trực tiếp, đi con đường thẳng, những pháp kia là đi con
đường gián tiếp, nhưng cuối cùng cũng từ nghi đến ngộ.
Cho đến Tịnh Độ và các pháp thiền Đại thừa cũng vậy.
Còn thiền Tiểu thừa chưa ngộ triệt để, vì họ ngộ rồi
còn chấp cái ngộ, nên gọi là Niết Bàn Tiểu thừa.
Nói
tám mươi bốn ngàn pháp môn chỉ là ước số, chứ không
phải thật nhất định có tám mươi bốn ngàn pháp môn. Ở
Trung Quốc gồm năm phái :Thiền, Tịnh, Giáo, Luật, Mật.
Hỏi:
Như Xã hội văn minh và xã hội kém văn minh thì pháp môn Tối
Thượng thừa thích hợp cho xã hội nào?
Đáp:
Đa số người phương Tây thích tìm hiểu, người phương Đông
cũng vậy. Không những các nhà triết học, khoa hoa học tìm
hiểu, những người hoằng dương Tổ Sư thiền, phần nhiều
cũng dạy người ta tìm hiểu. Cho nên, tìm một người ngộ
đạo thật khó. Tuy thật khó, nhưng đời nào cũng có người
ngộ đạo.
Giáo
Môn của Trung Quốc, Đại thừa có 4 tông: Thiên thai, Hiền
Thủ, Tam Luận, Duy Thức.
Tông
Thiên Thai có Trí Giả đại sư ngộ đạo, nhưng chính Trí
Giả đại sư nói: “Tôi chỉ ngộ được ngũ phẩm, nếu
tôi không dẫn chúng tu hành thì có thể ngộ cao hơn”. Sau
Trí Giả đại sư là không thấy có ai ngộ. Pháp sư tông Thiên
Thai giảng kinh thuyết pháp bây giờ vẫn còn, nhưng dù giảng
theo giáo lý Thiên Thai, lại quy về Tịnh Độ. Như Pháp sư
Đế Nhàn giảng giáo lý Thiên Thai, nhưng thực hành Tịnh Độ.
Bây
giờ ở Việt Nam cũng có Thiên Thai Giáo Quán Tông. Quán Tông
Tự của Ngài Đế Nhàn ở Tỉnh Triết Giang Trung Quốc. Bên
này cũng nói là Thiên Thai Giáo Quán Tông, nhưng đối với
giáo lý Thiên Thai thì không biết.
Tông
Duy Thức là do Pháp sư Huyền Trang từ Ấn Độ truyền qua,
dịch kinh thì nhiều, nhưng không có nghe ai chứng quả.
Tổ
của Tam Luận Tông là Ngài Long Thọ, sau này không nghe ai chứng
quả nữa.
Trong
lịch sử Thiền Tông Trung Hoa có 7.000 Tổ kiến tánh, đều
có ghi rõ họ tên, sự truyền thừa và nhân duyên được ngộ.
Như có người thấy con khỉ leo cây mà ngộ, có người thấy
hoa đào nở mà ngộ, có người đi bị vấp té mà ngộ, có
người bị bạt tai mà ngộ, có người nghe hát mà ngộ,…
Ví
như Hòa Thượng Thủy Lão là một cao Tăng, đến yết kiến
Mã Tổ. Mã Tổ bảo đảnh lễ, Thủy Lão vừa quỳ xuống
thì bị Mã Tổ đá nhào xuống đất liền ngộ.
Đệ
tử của Thiền sư Đạo Lâm tên là Hội Thông, muốn từ giả
đi nơi khác, Đạo Lâm hỏi: Ông muốn đi chỗ nào?
Hội
Thông nói: Con xuất gia là muốn giải thoát, Thầy không dạy
Phật pháp thì làm sao giải thoát?
Thầy
nói: Nếu Phật pháp thì ở đây tôi cũng có chút đỉnh vậy.
Hỏi:
Thế nào là Phật pháp của Hòa Thượng?
Đạo
Lam nhổ lông áo dài thổi trước mặt Hội Thông, Hội Thông
liền ngộ.
Công
án như vậy ở trong Thiền Tông rất nhiều. Những người
thông thạo giáo lý mà ngộ cũng có, như Nam Tuyền,… người
không biết giáo lý ngộ cũng có.
Tiểu
thừa cho là người nữ không thể ngộ, nên các nước Tiểu
thừa không cho người nữ xuất gia. Còn trong Thiền tông có
nhiều người nữ ngộ đạo. Trong
Đường
Lối Thực Hành Tham Thiền đề ra ba đứa bé gái (8 tuổi,13
tuổi,15 tuổi) ngộ đạo.
Đức
Phật là muốn chúng ta ngộ, chứ không phải muốn chúng ta
hiểu. Nếu đuổi theo cái hiểu đó thì không bao giờ ngộ
được.
Cô
Trịnh 13, lúc 12 tuổi, theo một vị Sư cô đi tham vấn Quy
Sơn. Sư cô ấy đuổi theo lời nói, Trịnh 13 tuổi ngộ mà
tự mình không biết.
Trưởng
lão Bảo Phước hỏi: Có phải Trịnh 13 gặp Quy Sơn không?
Trịnh
13 đáp: Phải.
Bảo
Phước hỏi: Quy Sơn tịch rồi sẽ đi về đâu?
Trịnh
13 không trả lời, đứng một bên thiền sàng.
Trưởng
lão khác hỏi: Ngày bình thường miệng nói như suốt chảy,
sao hôm nay lại không nói?
Trịnh
13 nói: Nhúc nhích hai miếng da này làm được gì?
Trưởng
lão nói: Vậy không dùng hai miếng da thì làm được cái gì?
Trịnh
13 nói: Bịt miệng con chó lại.
Trịnh
13 theo đến Quy Sơn lễ bái rồi đứng dậy, Quy Sơn hỏi:
Sư cô này ở đâu?
Sư
cô nói: Ở bờ sông Nam Đài.
Quy
Sơn liền hét đuổi ra, rồi hỏi: người đứng sau lưng Sư
cô ở đâu?
Trịnh
13 lại gần.
Quy
Sơn hỏi lại lần nữa.
Trịnh
13 nói: Đã trình cho Hòa Thượng rồi!
Quy
Sơn bảo Trịnh 13 và Sư cô đi xuống Pháp Đường. Sư cô
nói: Bình thường Trịnh 13 nói chuyện như kiếm bén, tại
sao Đại Sư hỏi lại không trả lời được?
Trịnh
13 nói: Khổ thay! Khổ thay! Uổng công lâu nay phải đi hành
cước, nên cởi áo xuất gia cho tôi mặc đi!
Sau
này đem chuyện kể cho Thiền sư La Sơn (Thiền Sư đã ngộ,
có danh tiếng): Tôi tham kiến Quy Sơn và trả lời như vậy
được không?
La
Sơn nói: Chẳng những không lỗi!
Sư
cô nói: Lỗi ở chỗ nào?
La
Sơn nạt một tiếng.
Trịnh
13 nói: Như gấm thêu hoa.
Hỏi:
Sư phụ nói trong sách lịch sử Thiền Tông Trung Hoa có 7.000
người đã ngộ, khi một người được ghi là ngộ, ấy là
do chính người đó nói là tôi ngộ, hay do người khác xác
nhận người đó ngộ, mới được ghi vào sử ? Ví dụ nhớ
lại Phật Thích Ca tự nói ta ngộ, chứ đâu có ai xác nhận
Phật đã ngộ? Những quyển sách của người Trung Hoa hay của
người Nhật Bản nói: Các đệ tử tham thoại đầu hay tham
công án, rồi vào gặp Thầy trình sở đắc của mình. Đầu
tiên, Thầy nói chưa ngộ gì hết. Lần thứ hai có thể gần,
lần thứ ba cũng chưa, lần thứ tư nói là ngộ. Vậy chuyện
trong sách do người Thầy nói đã ngộ, hay người đệ tử
nói chính tôi ngộ rồi? Ai xác nhận ?
Đáp:
Không phải ai nói, trong Pháp Bảo Đàn, có người hỏi Lục
Tổ: Ngài ngộ chưa?
Lục
Tổ nói: Tôi chưa ngộ.
Trong
Nam Tuyền Ngữ Lục có kể công án về ông Quan hỏi Ngũ
Tổ:
- Tại
sao 500 Tăng chỉ có Lục Tổ được truyền y bát, còn những
người kia không được truyền?
Ngũ
Tổ nói: 499 người kia đều biết Phật pháp, chỉ có Huệ
Năng là siêu việt, nên mới được truyền.
Ai
xác nhận đâu! Ngày xưa, lời nói của chư Tổ không cho đệ
tử ghi, nhưng do tánh con người ham biết mới ghi lén, mới
thành Truyền Đăng Lục, lúc ấy vua niên hiệu là Cảnh Đức,
nên gọi Cảnh Đức Truyền Đăng Lục. Trong đó ghi 1700 công
án, những người ngộ này có thầy ấn chứng, nhưng sự ấn
chứng không nói ra. Như Quy Sơn và La Sơn ấn chứng Trịnh
13 đã ngộ, nhưng không nói đã ngộ.
Hỏi:
Nếu người đã kiến tánh mà không có thầy ấn chứng thì
người đó có thể tự biết không?
Đáp:
Thì người đó tự biết, mà cái biết đó không phải là
cái biết của bộ não. Như Trịnh 13 đã ngộ thì tự biết,
còn Sư cô chẳng biết gì. Vì sự hiểu biết của người
thế gian là cần có cái gì để chứng minh, nhất là dùng
logic để chứng minh. Logic chỉ chứng minh được những việc
tương đối; còn kiến tánh là phủ nhận tương đối, dùng
logic không thể chứng minh được, và người thường cũng
không thể lấy cái gì để chứng minh, chỉ có người ngộ
với người ngộ tự biết. Nhưng nói với người chưa ngộ
thì không được.
Hỏi:
Người tham thiền chỉ một ngày chết phải đi đầu thai,
còn người tu Tịnh Độ, sau khi chết có vị nào đó đến
hướng dẫn thần thức đi đầu thai đến chỗ tốt. Như vậy
là thế nào?
Đáp:
Diệu Cao Thiền Sư tham thiền rất dũng mãnh, nhưng ngồi tham
thiền lại buồn ngủ. Ngài lên ngồi trên tảng đá, phía
dưới là vực thẳm, lúc ngồi tham thiền cũng buồn ngủ rồi
té xuống vực thẳm, nhưng lại có người đỡ. Ngài hỏi:
Ai cứu tôi vậy?
Đáp:
Hộ pháp Vi Đà.
Thấy
có người cứu bèn nổi ý kiêu căng, mừng thầm và nghĩ :
Khắp thiên hạ có ai bằng như tôi!
Hộ
pháp Vi Đà nói: Ông nổi niệm kiêu căng, nên 20 năm tôi không
hộ pháp cho ông nữa.
Diệu
Cao nghĩ “lần này hễ té xuống mà không ai cứu
thì phải chết, nhưng chẳng thà chết cũng ngồi nữa”. Ngài
đã tự sám hối, rồi ngồi tham thiền. Lúc ngồi tham thiền
lại buồn ngủ té xuống vực thẳm, rớt chưa tới đất đã
có người đỡ lên.
Ngài
hỏi: Ai cứu tôi vậy?
Đáp:
Hộ Pháp Vi Đà.
Ngài
nói: Vừa rồi ông nói 20 năm không hộ tôi, mà tại sao bây
giờ lại hộ?
-Hộ
Pháp Vi Đà nói: Ông khởi lên một niệm sám hối thì đã
hơn 20 năm.
Một
niệm sám hối đã hơn 20 năm, vì thời gian tánh không.
Hỏi:
Kính xin Sư Phụ khai thị 2 đoạn văn của Ngài trung Phong dạy
đồ chúng:
-Trong
suốt ngày đêm chỉ muốn niệm niệm chẳng quên, lúc đi thì
đi niệm, lúc ngồi thì ngồi niệm, lúc cử động, nói nín,
nằm xuống, đứng dậy, đều niệm, lúc làm việc, tiếp vật,
cho đến khốn khổ, hoạn nạn, hiểm nguy cũng đều niệm.
Thân như cây khô, như tảng đá, như thây chết, như tượng
đất, chỉ tâm tâm ở tại đạo; ứng đáp với người như
si , như say; nghe tiếng, thấy sắc như điếc, như đui. Vì
thế dụ như mèo rình bắt chuột, tâm và mắt chăm chú nhìn
vào một chỗ, lơ đãng một chút ắt chuột chạy mất. Như
gà ấp trứng, hơi ấm cần phải liên tục, gián đoạn một
chút là không thể thành gà con được. Vì thế niệm này là
một điều khó.
-Tham
thiền chẳng linh nghiệm, thường chỉ là tâm trộm cắp chưa
chết. Vì thế năm tháng trôi suông, chứ không có bệnh nào
khác. Nếu tâm trộm cắp nay chết ở ngày hôm nay thì ngày
hôm nay liền tương ưng, chết ở ngày mai thì ngày mai bèn
tương ưng.
Cái
gì là tâm trộm cắp?
Hễ
lià câu thoại đầu sở tham ra, riêng thấy có tự kỷ là
tâm trộm cắp. Ở ngoài cái tự kỷ bị thấy ra, riêng thấy
có nhân, có ngã là tâm trộm cắp. Lúc tham được thuần thục
biết thuần thục, ấy là tâm trộm cắp. Lúc tham thiền chẳng
thuần thục biết chẳng thuần thục, ấy là tâm trộm cắp.
Lúc chẳng thấy có hôn trầm, tán loạn, chỉ có câu thoại
đầu sở tham cùng nghi tình giao kết chẳng gián đoạn, ấy
là tâm trộm cắp. Hễ ở chỗ khán thoại đầu chợt sanh
một niệm, bất luận là phàm, là Thánh, là chân, là ngụy,
nói chung đều là tâm trộm cắp.
Bỗng
có người linh lợi hướng vào chỗ tôi nói đều chẳng dính
dáng, riêng giúp cho một con đường là đạo, là lý, là kiến,
là văn, đây gọi là tâm trộm cắp trong tâm trộm cắp. Phật
chẳng thể cứu chữa, chỉ cần hết những tâm trộm cắp,
chỉ thế ấy y bổn phận nắm chắc câu thoại đầu sở tham
như tượng gỗ, tượng đất, như người chết có hơi thở,
ngoài chẳng thấy có đại chúng, trong chẳng thấy có tự
kỷ, lạnh băng băng, tuyệt kiến văn, như vậy giữ đi, lâu
ngày sẽ được tâm không thi đậu về.
Đáp:
Nói tóm lại hai đoạn trên: Tánh của con người ham nghiên
cứu lý và cầu hiểu biết, nhất là người phương Tây. Nhưng
bây giờ người phương Đông cũng vậy. Tổ Sư thiền thì
phải lìa lý, lìa hiểu biết, phải ngược lại. Khoa học
phải nghiên cứu lý để tìm hiểu cho biết. Trong Phật pháp,
phàm có biết một chút gì đều gọi là sở tri ngu, hiểu
biết rất vi tế cũng gọi là cực vi tế sở tri ngu, là tâm
trộm cắp.
Nếu
có lý cao siêu về lời Phật cũng là tâm trộm cắp, Pháp
sư giảng kinh có lý rất hay, cũng lọt vào tâm trộm cắp…
Muốn lìa lý lìa hiểu biết rất khó, vì cuộc sống hằng
ngày người ta cần hiểu biết, nếu không hiểu biết
thành khờ ngốc sao?
Nếu
thấy cái gì cũng như mù, nghe cái gì cũng như điếc, thì
không bị ngoại cảnh lôi kéo. Hễ muốn đến chỗ vắng lặng
để tu hay nhập thất, việc ấy rất là có hại, vì không
thấy cảnh thì không khởi tâm động niệm, nhưng nhập thất
một thời gian rồi ra thì thấy tâm còn động thêm nhiều.
Theo Thiền Tông khi ngộ rồi mới nhập thất để bảo nhiệm.
Hỏi:
Kính xin Sư Phụ khai thị thêm đoạn văn của Ngài Trung Phong
dạy đồ chúng dưới đây:
-Người
học đạo có linh nghiệm là tâm trộm cắp chết hết. Tâm
trộm cắp còn một mảy lông chết chẳng hết, thì muôn kiếp
không có lý tự thành. Nói thẳng ra, chết được một phần
tâm trộm cắp thì học được một phần đạo. Chết được
tâm trộm cắp năm phần thì học được năm phần đạo. Tâm
trộm cắp hoàn toàn không thì toàn thể là đạo. Bởi vì
sự chướng đạo của tâm trộm cắp giống như bụi bặm
che mất ánh sáng của gương.
Người
thời nay chỉ biết có đạo để thành, mà chẳng biết có
tâm trộm cắp nên hết. Hoặc tâm trộm cắp chưa hết mà
muốn đạo được thành, khác gì ngồi ở trong nước mà muốn
đừng ướt, xưa nay trong thiên hạ không có lẽ đó.
Thuở
xưa, Hòa Thượng Vĩnh Minh thống thiết nói: “Tình sanh trí
cách, tưởng biến thể thù”, nghĩa là: Tình nổi dậy thì
trí huệ bị che lấp, tư tưởng biến đổi thì thân thể
cũng theo đó mà biến dạng, khiến công án sẵn sàng, của
báu gia truyền chẳng được thọ dụng. Tình sanh tưởng biến
là biệt danh của tâm trộm cắp mà tôi vừa nói.
Muốn
bất cứ lúc nào tình chẳng sanh, bất cứ chỗ nào tưởng
chẳng biến, thì cần phải thật đem việc lớn sanh tử để
ở trong lòng, lấp bít ý căn, tình vừa muốn sanh thì bị
nó ngăn, tưởng toan muốn biến liền bị nó đoạt. Ông nếu
chẳng vì việc lớn sanh tử, ở trong lòng khán câu thoại
đầu quyết cầu ngộ chứng, mà chỉ là một bề đè nén
cho tình tưởng kia chẳng sanh chẳng biến, khác chi người
đã chết mà muốn thở ra hít vô để làm gì?
Người
xưa có nói: “Tham thiền không bí quyết, chỉ cần sanh tử
thiết”. Lời này thật thông suốt cả ba đời, là cội gốc
lớn của sự học đạo. Ví như chẳng lấy sanh tử vô thường
làm trách nhiệm nặng nề của mình, nằng nặc muốn hiểu
thiền hiểu đạo mà tham cứu việc này, thì giống như bảo
người tịch cốc (những người suốt đời không biết đói,
không cần ăn), đi cấy trồng mà chẳng biết đó chẳng phải
là việc của họ (vì họ không cần ăn thì cấy cày để
làm gì?).
Đáp:
Nếu mình lấy ý thức để tìm hiểu giáo lý cao siêu của
Phật Thích Ca, cũng là tâm trộm cắp, còn gọi là sở tri
ngu.
Hỏi:
Kính xin Sư Phụ khai thị đoạn văn kế tiếp của Ngài Trung
Phong dạy đồ chúng:
-Bậc
tiền bối ba mươi năm, năm mươi năm chí càng bền, niệm
càng thiết, hạnh càng siêng và chẳng chịu có chút gián đoạn,
chẳng phải do thầy bạn cảnh sách, tòng lâm khuyến khích,
ngôn thuyết chỉ bày, phương tiện khuyến tấn mà được
như vậy. Mà bởi cội gốc của các Ngài chỉ là một cái
nguyện thống niệm sanh tử chưa giải quyết xong. Giả sử
đời này chẳng xong thì đời nào mới xong? Niệm tấn đạo
nếu tự chẳng chân thật thiết tha, dẫu Phật Tổ có thầân
dị đổi phàm thành Thánh, khiến A La Hán khởi tham sân si,
tuy cố làm đó, quyết chẳng thể lâu được.
Có
người vì muốn hiểu đạo mà học đạo, mà không chiếu
phá được cảnh phù huyễn nổi trước mắt, lại bị cảnh
duyên đó làm cho vọng niệm khởi lên chẳng dừng. Vọng niệm
đã khởi thì dầu sức học đạo như núi gò, sẽ thấy có
ngày bị vọng niệm làm hại. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Cuồng
tâm chưa ngưng nghĩ, ngưng nghĩ tức Bồ Đề”. Cái gì là
cuồng tâm? Hễ ngoài việc thống niệm sanh tử, đề câu thoại
đầu sở tham ra, dù có làm trăm ngàn điều siêu việt thế
gian, đều chẳng khỏi chê là cuồng tâm.
Tổ
Thiếu Lâm nói: “Ngoài dứt các duyên, trong không nghĩ tưởng,
tâm như tường vách, có thể vào đạo”. Nhưng vào đạo
gác lại chẳng hỏi. Tâm này có từng như tường vách hay
chưa? Nếu chưa mà muốn mong nhập đạo, đó là điều chẳng
tự xét.
Tham
thiền cả một đời chẳng ngộ, học đạo cả một đời
chẳng rõ, chỉ cần chẳng dể dàng buông bỏ cái chánh niệm
này, để tham để học, thì chắc chắn có ngày đến chỗ
cùng tột. Nếu bỏ chánh niệm này, vọng đem thức tình xuyên
tạc, lấy lời người khác làm kiến giải của mình, dẫu
hiểu hết cổ kim, tọa đoạn Phật Tổ, cũng đều là dối
trình cuồng kiến, tự mang tội lỗi, chẳng phải là điều
của người chân thật học đạo làm.
Đáp:
Nói nhiều cũng giống như ý trên, người ta chỉ biết có
chánh niệm, rồi bỏ tà niệm giữ chánh niệm! Ngài Trung Phong
nói: “Tà niệm là nhiễm, chánh niệm là tịnh, mà nổi lên
niệm nhiễm là tâm trộm cắp, nổi lên niệm tịnh cũng là
tâm trộm cắp”. Người ta bỏ tà niệm còn khó, huống là
bỏ chánh niệm! Cho nên, khỏi cần bỏ, vì không có cái gì
để bỏ, mà bỏ cái gì? Chỉ cần có lòng tin tự tâm, như
Ngài Long thọ nói: “Tâm như hư không vô sở hữu”, chỉ
cần tin vô sở hữu mà mình đang dùng. Tất cả đều ở trong
vô sở hữu này, như mặt trời, mặt trăng, núi sông, đất
đai,… đều ở trong vô sở hữu này. (Sư phụ dẫn dụ tâm
như hư không vô sở hữu, lược qua.)
Cho
nên, Phật nói những hiểu biết trước mắt của mình đều
là sai lầm, không đúng với thật tế. Vì vậy mới gọi là
tâm trộm cắp, làm chướng ngại cái thật tế. Thật tế
là bản thể của Phật tánh, dẹp hết tất cả lý cao siêu
của tâm trộm cắp thì bản thể Phật tánh tự động hiện
lên. Nay tuy Bản thể Phật tánh chưa hiện lên, nhưng mình
cũng đang dùng.
Hỏi:
Ngày xưa các ngài khó hiểu biết, vì không có phương tiện
nghe nhìn; còn ngày nay phương tiện nghe nhìn có nhiều, nên
người tham học khỏi đi hành cước. Đáng lẽ, người nay
phải ngộ nhiều hơn người xưa, tại sao ngược lại?
Đáp:
Nghe hiểu nhiều chừng nào thì sự chứng quả ít chừng nấy.
Nghiên cứu lý để tìm hiểu là chuyện thế gian, muốn tu
pháp xuất thế gian thì phải lìa lý lìa hiểu. Cho nên, hiểu
nhiều thì phải xa sự chứng ngộ.
Hỏi:
Ngày xưa, Ngài Hám Sơn trong khi tu có Ngài Cao Phong giúp đỡ;
ngày nay, chúng con cần phải học hỏi tìm hiểu, vậy có thể
chứng ngộ không?
Đáp:
Ngày nay người ta tôn trọng khoa học và triết học, nhưng
khoa học và triết học hiện đại là phải cứu lý tìm hiểu.
Phật pháp phải ngược lại lìa lý lìa tìm hiểu, Tiểu thừa
chấm dứt lục căn, không cho lục căn tìm hiểu. Ngũ Đình
Tâm Quán của Tiểu thừa là ngưng hoạt động của tâm, Trung
thừa và Đại thừa cuối cùng cũng đình chỉ hoạt động
của tâm. Đình chỉ tâm là mục đích đến chỗ kiến tánh,
đến lúc kiến tánh thì không cần đình chỉ nữa. Vì bản
thể tự tánh luôn luôn khắp không gian, khắp thời gian, không
bao giờ ngưng.
Hỏi:
Cách hành trì của Tiểu thừa, Trung thừa và Đại thừa như
thế nào?
Đáp:
Đại thừa gồm Tối thượng thừa, Tiểu thừa gồm Trung thừa.
Có 5 thứ khác biệt:
1.Điểm
xuất phát chẳng đồng:
a.Tiểu
thừa: Bắt nguồn từ nhân sinh quan đắm khổ, nghiệp cảm
duyên khởi, nhàm chán phiền não mà cầu nơi thanh tịnh.
b.Đại
thừa: Từ nhân sinh quan từ bi, chân như tỏa ra, lấy hóa tha
tự tại làm chí nghiệp.
2.Hành
vi chẳng đồng:
a.Tiểu
thừa: Tự lợi tự độ, chỉ được giải thoát theo tiêu
cực, tức là lấy đoạn dứt phiền não làm Niết bàn và
mục tiêu cuối cùng.
b.Đại
thừa: Tự độ độ tha, lấy hoạt động tích cực làm hành
vi, đắc đại tự tại làm tư tưởng chung cuộc.
3.Cảnh
giới chẳng đồng:
a.Tiểu
thừa: Ngừng nơi hiện tượng giới.
b.Đại
thừa: Vào nơi thực tại giới.
4.Phương
pháp chẳng đồng:
a.Tiểu
thừa: Dứt lục căn, đoạn nhất niệm vô minh, vào nơi đoạn
diệt, chủ nghĩa cấm dục.
b.Đại
thừa: Phá vô thỉ vô minh, kiến Phật tánh, chủ nghĩa tự
tại, chủ nghĩa thực tại (tức Chân Như), sắc tâm và pháp
đều tồn tại vĩnh viễn.
5.Lý
luận chẳng đồng:
a.Tiểu
thừa: Tầm khảo sát ngưng nơi hiện tượng và cho rằng chủ
khách thực tế tồn tại, là nhị nguyên luận. Ngoài ra dùng
chủ nghĩa cảm giác phủ định những thực tại ngoài cảm
giác.
b.Đại
thừa: Siêu việt phạm vi nhận thức của bộ não, sự cùng
tột của thực tại với hiện tượng giới chẳng khác, chủ
khách như một, chân vọng hợp nhất, là nhất nguyên luận,
là thực tại luận siêu việt Hình Nhi Thượng.
Triết
học phương Tây chỉ có hai giai đoạn: Ngã chấp và pháp chấp,
đều nằm trong phạm vi nhất niệm vô minh, tức tư duy và
lý niệm. Nhưng tư duy và lý niệm đều là hóa thân của nhất
niệm vô minh, cũng là tác dụng của bộ não.
Mục
đích triết học phương Tây là nghiên cứu lý luận để tìm
hiểu, nên chẳng chịu rời bỏ nhất niệm vô minh. Bởi vì
nếu tiến vào phạm vi của vô thỉ vô minh thì cảm giác trống
rỗng chẳng có lý luận để tuy cứu, cũng chẳng có gì để
tìm hiểu, hoàn toàn trái ngược với mục đích của họ.
Cho
nên, xưa nay các nhà triết học phương Tây chưa ai từng đi
vào cảnh giới vô thỉ vô minh, hễ chưa vào cảnh giới vô
thỉ vô minh thì chẳng thể đột phá cái chấp không, cũng
chẳng vào được tuyệt đối. Phá được cái chấp không
là kiến tánh, đạt đến tự do tự tại vĩnh viễn.
Mục
đích của nhà triết học phương Tây là truy lý cầu tri, còn
mục đích tu trì Phật pháp là liễu thoát sanh tử; triết
học phương Tây chú trọng lý luận, Phật pháp thì chú trọng
thực tiễn, tức là từ nhất niệm vô minh tiến thẳng vào
tuyệt đối vậy.
Hỏi:
Lý do gì sự ngộ của Thiền tông không cần kinh điển?
Đáp:
Kinh chỉ là trợ duyên, công phu đến mức thì gặp cái gì
cũng ngộ, cũng như có người gặp con khỉ leo cây mà ngộ,
có người thấy hoa đào nở thì ngộ, có người đi bị vấp
té lại ngộ, có người bị bạt tai ngộ, có người nghe hát
ngộ, có người đi ngang chỗ bán thịt, nghe nói “bán cho
tôi một cân thịt nạt”, người bán chặt mạnh con dao xuống
bàn và nói lớn “chỗ nào không phải là thịt nạt?”, người
ấy liền ngộ. Đâu phải chỉ xem kinh mới ngộ? Cũng có người
xem kinh mà ngộ.
Như
có người tham kiến Mã Tổ, Mã tổ nói: Hãy đảnh lễ đi.
Người
đó mới lạy xuống thì Mã Tổ đá một cái ngả xuống đất
liền ngộ. Nghe kinh ngộ chỉ một phần ít, cái ngộ là do
nghi tình đến mức bùng nổ, lúc đó muốn không ngộ cũng
không được.
Hỏi:
Các giới luật có ảnh hưởng đến tu Tổ Sư thiền không?
Đáp:
Tổ Sư thiền cũng phải giữ giới. A Nan hỏi Phật:
- Sau
khi Phật nhập Niết Bàn thì chúng con lấy ai làm thầy?
Phật
nói: Lấy giới luật làm thầy.
Hỏi:
Có phải Thiền tông không tin vào kinh điển không?
Đáp:
Sao nói là Thiền tông không tin kinh điển! Thiền tông tự
nhiên ăn khớp với kinh điển, chứ không phải không tin kinh
điển, chỉ là không chấp kinh điển.
Hỏi
: Xin Thầy nói rõ: Không tin và không chấp?
Đáp:
Nếu giải thích triệt để thì Phật nói: “Phàm có lời
nói đều chẳng có nghĩa thật”. Bây giờ nói không chấp
là đã chấp rồi, tại có chấp nên mới nói không chấp,
vì còn nằm trong tương đối. Nếu chấp vào một bên, là
nằm trong một của 5 thứ ác kiến:
Chấp
nhất định có Phật cũng lọt vào biên kiến, chấp nhất
định không có Phật cũng lọt vào biên kiến. Cho nên nói:
“Lấy vô Trụ làm gốc”, tức là không trụ bên nào, có
trụ là không được.
Hỏi:
Sư phụ đã giải thích cho mọi người thì kiến thức của
thầy đã cản trở hay giúp thầy trên đường tu tập?
Đáp:
Cản trở trên đường tu tập. Tôi là người đầu tiên hoằng
dương Tổ Sư thiền ở Việt Nam, cũng là người đầu tiên
đả thiền thất ở Việt Nam. Mọi người đã quen biết Giáo
môn và Tịnh Độ, còn đối với Tổ Sư thiền thì người
ta lại khó tin, nên tôi phải biết, như thế họ mới tin tôi.
Rồi từ từ người tham Tổ Sư thiền ngày càng đông. Nếu
hỏi tôi không trả lời được thì có ai chịu học Tổ Sư
thiền đâu!
Hỏi:
Ngài Nam Tuyền chém mèo có coi là lậu tận giới không?
Đáp:
Người ta cứ dùng tập khí bộ óc lâu đời để suy nghĩ
. Như Phật nói trong kinh Kim Cang: “Chúng sanh, tức phi chúng
sanh, thị danh chúng sanh”, chúng sanh là giả danh, như Bát
Nhã Tâm Kinh nói: “Vô lão tử diệc vô lão tử tận”, nếu
không có sanh tử, làm sao có việc chém chết?
Một
Thiền sư đưa cây phất trần lên hỏi: Cây phất trần với
việc Nam Tuyền chém mèo có khác hay không khác? Rồi tự mình
làm bài kệ, câu thứ tư là:
“Phất
trần với chém mèo đâu có khác!”. Vì mình đuổi theo cảnh
hay lời nói thì bị cảnh lôi kéo.
-Có
người nói: Lục Tổ ăn rau bên cạnh thịt thì tôi cũng ăn
được, vậy đâu cần phải ăn chay?
-Người
ngộ đạo ở trong thế lưu bố tưởng không sanh ra trước
tưởng, thì không có nhân quả, vì tâm không có tạo. Người
ngộ đã nhảy ra ngoài chiêm bao, không dính líu chiêm bao. Tổ
nói: “Tình sanh trí cách”, có người chưa kiến tánh nói
“tôi chẳng nổi tình cảm gì hết, chẳng dính dáng đến
tình cảm”, nhưng rồi cũng bị người kiến tánh chê.
“Chẳng
dính dáng đến tình cảm” vẫn còn ở trong nghĩa ba câu của
Bá Trượng, tức còn có tri giải. Các vị tin pháp môn Tổ
Sư thiền và tin tự tâm được 100%, tức Phật tánh của mình
và Phật tánh của Phật Thích Ca chẳng khác biệt chút nào
cả. Như vậy thực hành rất dễ, rất đơn giản, chỉ là
giữ được nghi tình thì tất cả sẽ tự động giải quyết
xong.
Nhưng
bây giờ các nhà sách bán nhiều sách thiền, cũng nói Tổ
Sư thiền và giải thích nghĩa lý Tổ Sư thiền; giải thích
công án thì lọt vào ý thức phân biệt, nên không bao giờ
ngộ.
Mục
đích Tổ Sư thiền là muốn chấm dứt ý thức phân biệt,
nên sát na lìa ý thức liền kiến tánh. Còn bây giờ không
lìa ý thức, mà lại dùng ý thức để giải thích phân biệt
để tìm hiểu đáp án. Cho nên, giải công án là sai lầm và
nghịch với Tổ Sư thiền, vì vậy chư Tổ nói là phỉ báng
Tổ, cũng là phỉ báng pháp.
Hỏi:
Xã hội ngày nay khoa học tiến bộ, con người không được
rảnh rang như người xưa, nên không để ý sự tu, nhất là
tu Tổ Sư thiền rất khó, vậy có phải không?
Đáp:
Do hiểu theo người thế gian, như nhà triết học, nhà khoa
học,… thì sự tu của họ lại khó. Vì cuộc sống hằng
ngày đều phải dùng bộ óc để nghiên cứu triết học hay
nghiên cứu khoa học, bất cứ nghiên cứu cái gì đều nhờ
bộ óc. Nếu bây giờ chấm dứt hoạt động của bộ óc thì
người ta phản đối, họ cho “đồ khùng”. Phải rồi, vì
theo tư tưởng thế gian là vậy.
Cho
nên, thiền giải đáp công án ở Nhật Bản dễ truyền khắp
thế giới. Hiện nay người Trung Quốc cũng đi học thiền
giải công án, rồi về dạy cho người Hoa. Chùa Cao Mân là
Tổ đình của Thiền Tông, nhưng cũng lọt vào kiến giải.
Ngày xưa Ngài Lai Quả không cho người ta giảng công án, khi
tôi ở đó thấy đêm nào cũng có vị Trưởng lão giảng công
án.
Hỏi:
Những pháp thiền của các tôn giáo khác là để ngưng hoạt
động của bộ óc hay để im lặng, vậy có khác với cách
tu của Tổ Sư thiền không?
Đáp:
Các thiền của tôn giáo khác là mục đích bỏ nhiễ