[20] 24/05/96–30/05/96
tại Trường
Cơ Bản Phật Học Đại Tòng Lâm
Lục
nhập vốn vô sanh
Chư
Tổ buông xã cái gì?
Pháp
sư Đạo An sáng lập hai thời khóa tụng
Hoàng
Bá lạy Phật, Lâm Tế chẳng lạy Phật cũng chẳng lạy Tổ
Đại
ngộ là ngộ cái gì?
Phật
với pháp, cái nào có trước?
Lễ
cử hỏa bên Thiền tông
Chủng
tử hiện hành
Bạch
tịnh thức
Thường
trụ Tam Bảo
Vạn
pháp duy tâm, tự tâm tự cứu
Đem
sự cúng dường của mười phương cúng dường mẹ, phải
trả nợ thí chu?
Sự
truyền giới ở Trung Quốc
Khai
thị học tăng: Học phật phải hiểu căn bản của Phật pháp
Đoạn
hiện tại, vi lai hữu lậu
Niết
bàn vô danh
Tín,
giải, hành, chứng
Đại
nhân bất nhân
Tỳ-kheo-ni
đã chứng quả không đãnh lễ Tỳ-kheo
Hỏi:
Trước đây con học trong Duy thức dạy rằng: Khi lục căn
tiếp xúc lục trần, sanh ra lục thức phân biệt. Nay trong
Kinh Lăng Nghiêm lại nói “Lục nhập vốn vô sanh,” vậy
nghĩa ấy như thế nào?
Đáp:
Quí vị suốt ngày tụng Bát Nhã Tâm Kinh, trong kinh nói “Vô
lục căn, lục trần, lục thức…”chữ VÔ này chẳng phải
không có, chỉ là chẳâng thật. Lục căn, lục trần đã chẳng
thật thì sanh ra lục thức cũng chẳng thật.
Tại
sao Lục căn, lục trần, lục thức chẳng thật? Kinh Lăng Nghiêm
giải thích rất rõ, chứng tỏ đó chỉ là ý thức phân biệt,
là ảo tượng, chẳng có thực tế.
Lời
nói của Phật là muốn chúng ta phải ngộ, ví dụ Tâm Kinh
nói “vô lão tử,” nhưng theo sự hiểu biết của mình thì
rõ ràng có già có chết, điều đó khiến chúng ta phải phát
nghi, từ nghi mới được ngộ, ngộ rồi mới biết vốn là
vô sanh. Cho nên, người chứng quả gọi là ngộ pháp vô sanh,
chứng vô sanh pháp nhẫn, Tịnh độ gọi “Hoa khai kiến Phật
ngộ vô sanh,” phải ngộ đến vô sanh mới là cùng tột.
Nay
quí vị nghe tôi nói vô sanh, ấy là nhận biết theo lời nói,
còn Đức Phật muốn chúng ta phải ngộ tự tâm, chứ lời
nói là nghịch với thực tế. Như ngài Long Thọ nói “Hư
không vô sở hữu mà dung nạp tất cả vật,” Đã vô sở
hữu thì làm sao có hư không? Chẳng có hư không thì làm sao
dung nạp mà nói dung nạp tất cả? nhưng thực tế là
vậy.
Vì
chúng ta chấp vào sự hiểu biết của bộ não, nghịch với
thực tế nên không được giải thoát, do đó Đức Phật mới
khổ tâm dùng đủ thứ phương tiện khiến ngộ nhập thực
tế, ngộ được thực tế gọi là kiến tánh thành Phật,
lúc đó giải quyết được tất cả.
Hỏi:
Chư Tổ buông xả hết tất cả, dán chữ tử trên trán, còn
chúng con là người thế gian, vướng bận việc gia đình, vậy
phải làm sao?
Đáp:
Nói Chư Tổ buông xả là buông xả cái gì? Có cái gì để
buông xả? Tổ nào buông xả? Ấy là tự làm tài khôn bày
đặt ra. Có một bài kệ:
Đài nam tỉnh tọa một lư hương,
Suốt ngày trong lặng muôn lự quên.
Chẳng phải lắng tâm trừ vọng tưởng,
Chỉ vì chẳng việc để suy lường.
Nay
chúng ta cứ suy nghĩ việc này việc kia, tự cho rằng vọng
tưởng mình cũng bỏ, tham sân si mình cũng bỏ v.v… hễ chẳng
việc để suy lường thì có gì để buông bỏ?
(Sư
phụ kể qua sự ngộ của Thiền sư Hương Nghiêm, xem trang
232 ở Quyển thượng).
Ngài
Hương Nghiêm sau khi ngộ nói ra một bài kệ:
Tiếng trúc quên sở tri,
Lại Chẳng nhờ tu trì.
Lối xưa hoát nhiên tuyệt,
Mà chẳng đọa mặc nhiên.
Sự
hiểu biết từ xưa nay nhờ tiếng trúc ấy khiến quên hết
sở tri, mặc dù quên mà chẳng trụ nơi không còn, nên gọi
“chẳng đọa nơi mặc nhiên”
Hỏi:
Vậy con còn vướng bận việc gia đình, chưa thể tu đến
nơi đến chốn, bỏ thân kiếp này, kiếp sau có nhớ đường
quay về không?
Đáp:
Nếu tu đúng theo chánh pháp, gieo được chánh nhân thì chánh
quả sẽ đến, chẳng kể tại gia xuất gia. Trong lịch sử
Thiền tông, người tại gia kiến tánh rất nhiều, Nhà vua,
Thừa tướng, người tay bưng vai gánh v.v… kiến tánh rồi
công việc vẫn y như cũ, Nhà vua vẫn làm vua, Thừa tướng
vẫn là Thừa tướng.
Hỏi:
Đốt giấy tiền vàng bạc để cầu siêu cho người quá cố
có lợi ích gì?
Đáp:
Đốt những thứ ấy cho người quá cố là hại cho người
ấy. Tại sao? Vì mục đích cầu siêu là muốn người quá
cố được lên chứ chẳng phải là đọa, nếu được đầu
thai lên cõi Người hay cõi Trời thì đâu cần mấy thứ đó
!
Hỏi:
Hai thời công phu nhật tụng do ai soạn ra? Để làm gì?
Đáp:
Hai thời công phu là do Pháp sư Đạo An đời nhà Tấn lập
ra. Ngài là một vị cao tăng, Pháp sư Huệ Viễn, Sơ tổ tông
Tịnh độ là đệ tử của ngài.
Do
ngài thấy người xuất gia lúc bấy giờ dù mang danh nghĩa
Tu sĩ mà không có sự tu tập, nên lập ra và qui định đại
chúng phải tu theo thời khóa, mỗi thời kinh tụng trong hai
giờ đồng hồ.
Tụng
kinh là để tu chứ chẳng phải tụng cho Phật nghe, do đó
tất cả chúng trong chùa phải tham gia.
Ngài
Đế Nhàn có mở lớp Phật học, tất cả Tăng sinh đều phải
tụ tập để tu. Tu như thế nào? Ấy là tùy duyên quán tưởng,
vừa tụng vừa quán, nên phải đúng hai tiếng đồng hồ.
Thời nay đa số là tụng cho Phật nghe, chỉ bốn mươi phút
là xong ! Thật ra, kinh là do Phật dạy cho chúng ta tu, chứ
đâu cần tụng lại cho Phật nghe?! Lại nữa, nhiều người
đem áp dụng trong việc cầu an cầu siêu, lợi dụng kinh nhật
tụng làm việc khác chứ chẳng phải tu, ấy là sái với mục
đích của Pháp sư Đạo An.
Hỏi:
Vậy thì đối với Chú Lăng Nghiêm, chúng con chẳng biết gì
thì làm sao quán?
Đáp:
Mục đích của câu chú là muốn chúng ta không biết, vì sự
biết hay khiến tâm tán loạn, cho nên câu chú là không giải
thích. Lúc tụng, vì không biết nên có thể lắng tâm lại,
cũng như pháp tham Tổ sư thiền là dùng cái không biết để
chấm dứt tất cả biết, chứ chẳng phải để hiểu, hiểu
là sai lầm.
Hỏi:
Thế nào là trong khi tụng kinh có tự lực cũng có tha lực?
Đáp:
Tha lực là thầy Bổn sư nuôi dạy mình, bạn đồng tu khuyến
khích nhau, đàn na tín thí cúng dường mọi thứ cho mình để
tu… ấy là tha lực. Tự lực là nhân, tha lực là duyên, nhân
duyên hòa hợp mới thành.
Hỏi:
Mỗi lần tụng kinh, chúng con đều hướng về tượng Phật
mà lạy, nếu nói như Hòa thượng thì chúng con không cần
lạy tượng Phật, phải không?
Đáp:
Không phải. Về vấn đề lạy Phật, trong Thiền tông có hai
câu chuyện như sau:
Có
một Sa-di kia chấp rằng tượng Phật là gỗ, đất, không
cần lạy, ngài Huỳnh Bá muốn phá chấp của Sa-di nên thành
kính lạy Phật. Sa-di nói:
- Tượng
Phật là gỗ mà, lạy làm chi !
Ngài
cho một bạt tai. Sa-di kia sau đó trở thành nhà vua.
Còn
đệ tử của Huỳnh Bá là Thiền sư Lâm Tế, muốn phá chấp
nhất định phải lạy Phật của Viện chủ. Khi ngài Lâm Tế
đến, Viện chủ hỏi:
- Lạy
Phật trước hay lạy Tổ trước?
- Phật
cũng chẳng lạy, Tổ cũng chẳng lạy.
Cho
nên, lạy Phật cũng là phá chấp, không lạy Phật cũng là
phá chấp, ý vốn chẳng khác.
Hỏi:
Bổn lai vốn thanh tịnh, lý do nào trở thành chúng sanh?
Đáp:
Bởi do bệnh chấp thật nên trở thành chúng sanh.
Hỏi:
Thế nào là vô tình thuyết pháp hữu tình nghe?
Đáp:
Ai đã từng nghe vô tình thuyết pháp? Chính người hỏi có
nghe qua chưa?
Hỏi:
Thế nào là nghi tình? Nghi là nghi cái gì?
Đáp:
Nghi tình không biết là cái gì mới gọi là nghi tình, nếu
biết nghi cái gì thì đâu phải là nghi tình !
Hỏi:
Nếu nghi không được thì có được cái gì đâu?
Đáp:
Thì đâu có được cái gì ! Cuối cùng tu đến kiến tánh
thành Phật mới biết chẳng có Phật để thành, vô tu vô
chứng, có đắc cái gì đâu ! Do ông muốn đắc nên có câu
hỏi này.
Hỏi:
Tiểu nghi tiểu ngộ, đại nghi đại ngộ, là ngộ cái gì?
Đáp:
Đã nói chẳng phải ngộ cái gì. Nếu có cái gì để ngộ
thì chẳng phải rồi.
Hỏi:
Thế thì nói chữ NGỘ để làm chi?
Đáp:
Ông ăn cơm để làm gì? Mặc áo để làm gì?
-
…………..
-
Hãy trả lời đi !
-
Bạch Sư phụ, trả lời không được, khó trả lời lắm .
-
Ông hỏi đại ngộ là ngộ cái gì, nay tôi kể qua câu chuyện
về đại ngộ:
Ở
trong Thiền hội, Trụ trì thường là người đã kiến tánh.
Vào một đêm khuya, một vị Tăng hô to:
-
Ta đã ngộ rồi, ta đã ngộ rồi !
Sáng
ra, Trụ trì thăng tòa hỏi:
-
Đêm hôm vị nào la lớn rằng đã đại ngộ? Hãy bước ra
đây.
Vị
Tăng bước ra đảnh lễ, ngài hỏi:
-
Ông đã đại ngộ, thấy gì?
Đáp:
Sư cô vốn là người nữ .
Ngài
Trụ trì mỉm cười, gật đầu ấn khả.
Theo
sự hiểu biết của quí vị, sư cô vốn là người nữ, chuyện
đó ai mà chẳng biết, tại sao ngài Trụ trì lại ấn khả
cho sự ngộ?
Lại
nữa, ở Thiền hội của ngài Đại Huệ có Thiền sư Khiêm
tham hai mươi năm chẳng thấy gì, nhưng ngài biết công phu
của Thiền sư sắp chín muồi, nên sai Thiền sư đến kinh
thành đưa thư cho Ngụy Quốc Công, một cư sĩ có chức vị
Công tước đã kiến tánh.
Thiền
sư nghĩ: Tôi tham thiền hai mươi năm, ngày đêm công phu chẳng
gián đoạn mà chưa thấy gì, nay lại phải đi đưa thư, thật
là chướng ngại.
Mặc
dù trong lòng không muốn đi nhưng chẳng dám nói. Thiền sư
Di Quang là bạn đồng tham, cũng là người kiến tánh, biết
nhân duyên của Thiền sư Khiêm sắp kiến tánh nên phát tâm
cùng đi để hỗ trợ.
Dọc
đường, Thiền sư Di Quang nói:
-
Tất cả việc trong suốt lộ trình tôi đều giúp ông được,
duy chỉ có năm việc là tôi chẳng giúp được.
-
Năm việc gì?
-
Ăn cơm, mặc áo, tiêu, tiểu và kéo tử thi đi trên đường.
Ngài
nghe xong liền ngộ, nên Thiền sư Di Quang để cho ngài một
mình đi tiếp, đến kinh thành gặp Ngụy Quốc Công và giao
thư.
Bà
mẹ của Ngụy Quốc Công suốt ngày ăn chay tụng kinh
niệm Phật, ông muốn khuyên mẹ bỏ pháp môn niệm Phật,
chuyển qua tham Thiền để sớm được giải thoát, nhưng bà
mẹ không nghe, ông nhờ Thiền sư ở lại để độ cho
người mẹ. Do có nhân duyên với bà nên bà vâng lời, tu không
bao lâu cũng được ngộ.
Đó,
câu chuyện đại ngộ tôi kể ra, mà có biết gì đâu? Việc
này phải tự mình ngộ, chứ chẳng thể dùng sự suy nghĩ
đoán mò được.
Hỏi:
Nói đến Phật pháp, là Phật có trước hay pháp có trước?
Nếu nói pháp có trước, ấy là do Phật nào thuyết? Nếu
nói Phật có trước thì nương nơi pháp nào được thành tựu?
Đáp:
Tại người hỏi bệnh chấp quá nặng, Đức Phật đã nói
vô thỉ vô sanh thì làm sao Phật bắt đầu trước hay pháp
bắt đầu trước ! Ấy đã nghịch với Phật pháp rồi ! Đã
chẳng có sự sanh khởi thì làm sao có sự bắt đầu? Bất
cứ cái gì, con gà cũng không thể bắt đầu trước, trứng
gà cũng không thể bắt đầu trước, chứ chẳng phải chỉ
có Phật pháp. Nên người chứng quả gọi là ngộ pháp vô
sanh, đã ngộ pháp vô sanh thì làm sao có thể truy cứu sự
bắt đầu?
Hỏi:
Nghi lễ Tổ sư thiền đối với người lâm chung như thế
nào?
Đáp:
Về nghi lễ cho người lâm chung bên Tịnh độ là tụng kinh
niệm Phật để được vãng sanh, nay tôi kể một câu chuyện
về nghi lễ của Tổ sư thiền được ghi trong Truyền Đăng
Lục:
Thiền
tông Trung Quốc chia làm năm phái: Lâm Tế, Tào Động, Pháp
Nhãn, Vân Môn và Qui Ngưỡng, trong đó phái Lâm Tế hưng thịnh
nhất và tiết ra hai phái xuất sắc, ấy là Huỳnh Long và
Dương Kỳ.
Câu
chuyện này xảy ra ở phái Huỳnh Long: Khi Thiền sư Hối Đường
tịch, đem đi hỏa táng, lúc đầu mời vị trưởng lão ra
làm lễ cử hỏa nhưng đốt không cháy, sau mời các vị khác
cũng đốt không cháy, cuối cùng mời đệ tử ruột của ngài
là Thiền sư Tử Tâm ra cử hỏa. Đáng lẽ đệ tử không
được cử hỏa cho thầy, nhưng vì người khác không hữu
hiệu, nên phải chọn Thiền sư.
Trước
khi thiêu, Thiền sư nói ra bốn câu kệ:
Xưa nay tai họa liên lụy tôi,
Tội ác tày trời đáng tru di
Hiện nay hai chân duỗi thẳng rồi,
Chẳng làm con trâu thì làm lừa. Thiêu !
Nói
xong là cháy liền.
Thời
xưa khi phạm trọng tội, vua ban tru di tam tộc tức ba đời
cha mẹ, con và cháu, những người có liên quan đều chém
hết. Còn tru di cửu tộc thì gồm những ai có liên hệ đến
bốn đời trên và bốn đời dưới của người tội phạm
là chém hết.
Theo
người thường thì nói vậy đâu được, phải không?
Hỏi:
Nhất niệm vô minh có tương ưng với chủng tử hiện hành
không?
Đáp:
Nhất niệm vô minh tức là chủng tử: Nổi một niệm ác,
một niệm thiện đều là chủng tử, cuộc sống hàng ngày
của chúng ta từ niệm này qua niệm khác ngày đêm chẳng ngừng,
đều sống trong nhất niệm vô minh, dẫu cho ngủ mê cũng vậy.
Cho nên, khi ngủ thì nhất niệm vô minh tạo ra nhắm mắt chiêm
bao, lúc thức tạo ra mở mắt chiêm bao; chẳng những lúc sống
chẳng ngừng, lúc chết cũng chẳng ngừng, đến khi nào kiến
tánh triệt để mới thôi.
Con
người có tám thức: Tiền ngũ thức nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, thức thứ sáu là Ý thức, thức thứ bảy Mạt na thức,
thức thứ tám Tạng thức. Sáu thức trước do ý thức lãnh
đạo, hễ nổi niệm thiện thì có chủng tử thiện, được
thức thứ bảy đưa vào Tạng thức; nổi một niệm ác cũng
được thức thứ bảy chuyển vào Tạng thức. Tạng thức
chứa chủng tử thiện, ác, vô ký… khi nhân duyên chín muồi,
lại được thức thứ bảy chuyển ra ngoài, giao ý thức lãnh
đạo tiền ngũ thức thi hành, gọi là chủng tử hiện hành.
(Sư
phụ giải thích về tám thức. Lược qua.)
Hỏi:
Nhờ tham thoại đầu quét sạch tập khí, như vậy A-lại-da
thức chuyển thành Bạch-tịnh-thức, phải không? Đến đây,
Bạch tịnh thức tương ưng như thoại đầu chưa?
Đáp:
A lại da là Tạng thức, chỉ là cái kho thôi, Bạch tịnh thức
là chưa có thiện ác nào, nay đã có chủng tử thiện ác chứa
ở kho thì không phải.
Hỏi:
Đến đây Bạch tịnh thức có tương ưng với đầu sào trăm
thước không?
Đáp:
Tịnh là trong sạch chẳng ô nhiễm, gọi Bạch tịnh thức
là chưa có nghiệp nhân nào cả, chẳng có chủng tử thiện,
ác, hay vô ký, tất cả chủng tử đều không có. Cái đó
là sau khi kiến tánh, tập khí phiền não đều hết sạch.
Bây giờ trong A-lại-da thức của mình chứa đủ thứ chủng
tử nên chẳng phải.
Hỏi:
Hòa thượng nói tụng kinh chẳng thể siêu thoát, lại nói
bốn người cư sĩ cũng là Tăng, và vấn đề tự qui y Tam
Bảo… Người Phật tử qui y Phật, Pháp, Tăng ở chỗ nào?
Con thấy người thế gian vẫn còn bận bịu gia quyến sự
nghiệp, làm sao tu bằng người xuất gia?
Đáp:
Nói đến vấn đề tự qui y, quí vị tụng kinh có câu “Qui
y Đại thừa thường trụ Tam Bảo,” tượng Phật thay cho
Phật Bảo, kinh sách thay cho Pháp Bảo, Tăng Ni thay cho Tăng
Bảo, nhờ sự giáo hóa của thường trụ Tam Bảo, tu hành
đúng theo chánh pháp, mới ngộ được tự tánh Tam Bảo. Tự
tánh mình cũng đầy đủ Tam Bảo, nên ngài Lục Tổ nói:”Tự
qui y Phật, tự qui y Pháp, tự qui y Tăng.”
Về
vấn đề tụng kinh: Kinh là lời Phật dạy cho chúng ta tu,
Giáo môn tụng kinh là để nghe Phật thuyết pháp, tùy kinh
quán tưởng, theo pháp đó tu hành. Chứ kinh sách chẳng có
công năng độ người sống, cũng chẳng có công năng độ
người chết; nếu có công năng đó thì ai tụng cũng độ
người được, chỉ cần biết mặt chữ là biết tụng kinh
rồi !
Hành
giả nghe kinh rồi phải thực hành theo mới đạt đến kết
quả, nếu chỉ nghe kinh mà không thực hành, lại cho là trong
kinh có công năng đặc biệt, hễ nghe là khiến xóa tội được
phước, như vậy là xóa bỏ nhân quả, khỏi cần tu, phải
không?
Hỏi:
Tất cả pháp đều qui về một để đưa chúng con đi về
chỗ giải thoát, phải không?
Đáp:
Phải. Một là một tâm, nói chung là tâm. Vạn pháp duy tâm,
phàm tất cả kinh Phật đều hiển bày tâm này, chư Tổ cũng
là hiển bày tâm này. Con người mỗi mỗi đều có cái tâm,
tất cả năng lượng xuất phát từ tâm. Ngài Lục Tổ trong
Kinh Pháp Bảo Đàn nói thẳng ra:”Chẳng phải gió động,
chẳng phải phướn động, là tâm của ông động.”Do sức
của tâm nên gió mới động, phướn mới động, nên nói “nhất
thiết duy tâm tạo.”
Hàng
Tu sĩ đáng lẽ là người hoằng phạm Tam giới; hoằng là
hoằng hóa chánh pháp, phạm là mô phạm, tức làm mô phạm
cho Tam giới. Tam giới gồm: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc
giới. Cõi người là Dục giới, Cõi trời có sáu lớp thuộc
Dục giới, mười tám lớp thuộc Sắc giới, bốn lớp thuộc
Vô sắc giới, tổng cộng hai mươi tám lớp đều nhờ con
người làm mô phạm, nhờ con người hoằng dương chánh pháp.
Tất
cả người xuất gia đều có bổn phận hoằng pháp lợi sanh,
làm mô phạm cho Tam giới, phải theo lời Phật dạy, phải
tin ở sức của tâm. Nhưng ngày nay chẳng những không nghe
lời Phật dạy, cũng chẳng tin sức của tâm mà lại nhìn
nhận sức của lục trần, ấy là nghịch với kinh Phật.
Kinh
Kim Cang nói:”Nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu ta,
là người hành tà đạo, chẳng được thấy Như Lai.”Bây
giờ chấp sắc tướng cho là có công năng, chấp âm thanh cho
là có công năng, mà chẳng biết công năng ở nơi tự tâm,
do tâm của người tụng mới có công năng đó. Nếu nói công
năng ở nơi âm thanh thì tụng “cây chổi”cũng có công năng
vậy !
Lại
nữa, người đời thường cho là tụng danh hiệu Quan Thế
Âm Bồ tát thì được tai qua nạn khỏi, được Bồ tát đến
cứu; còn niệm “Nam mô A Di Đà Phật”sẽ được vãng sanh,
kỳ thật chẳng phải vậy. Nay tôi kể một câu chuyện:
Đời
nhà Minh Trung Quốc, có dân làng tạo phản, vua sai tướng lãnh
binh dẹp loạn, dọc đường bắt được bốn mươi người,
định giải về doanh trại xử chém.
Trên
đường giải về, đi ngang qua một ngôi chùa và nghỉ chân
tại đó. Trong số bốn mươi người có hai người thấy một
vị Sư đang kinh hành, oai nghi trang nghiêm, bèn xin Đại sư
cứu mạng. Sư nói:
- Tôi
chẳng có sức cứu các anh, nhưng tôi dạy các anh một cách
tự cứu, ngay từ bây giờ hãy niệm “Nam mô A Di Đà Phật”đi
!
Chưa
nói dứt lời thì đoàn người phải lên đường đi ngay, hai
người kia xưa nay chưa từng niệm Phật, chỉ nghe người ta
thường nói hai chữ “Mô Phật,” bèn trong tâm niệm “Mô
Phật”cho đến khi giải về trại lính. Vị Tướng cũng chẳng
thèm xét hỏi, hạ lệnh chém hết. Khi hành quyết hết ba mươi
tám người, còn lại hai người kia, thình lình Tướng kêu
lên hỏi:
- Tại
sao các ngươi dám làm phản?
Hai
người liền kêu oan rằng:”Chúng tôi là dân thường, vào
rừng đốn củi, chứ có tạo phản đâu?
Tướng
nghe vậy, cho thả về.
Cho
nên, hễ niệm đến nhất tâm thì sức dụng hiện ra, là tự
tâm tự cứu, chẳng phải hai tiếng “Mô Phật”kia cứu.
Hỏi:
Con là người xuất gia, được nhiều thí chủ cúng dường,
con xài không hết, thấy cha mẹ túng thiếu nên đem tiền của
thí chủ cho cha mẹ, vậy có nhân quả gì?
Đáp:
Thì chính mình và cha mẹ phải trả nợ thí chủ, ấy là hại
cho cha mẹ. Đem tiền cúng dường của mười phương cho cha
mẹ mình, sao không đem cho cha mẹ của người khác? Sao
không đem cho những người cần hơn?
Hễ
cha mẹ thọ nhận tiền của cúng dường phải trả nợ, ăn
cục thịt trả cục thịt, giết một mạng trả một mạng,
thiếu đồng xu trả đồng xu, nhưng người Tu sĩ đó phải
trả nhiều hơn. Tại sao? Vì thí chủ cúng dường trong Phật
pháp, một đồng có thể được quả báo mấy mươi đồng,
cũng như gieo một hạt lúa có thể sanh nhiều hạt lúa, nên
Tu sĩ nhận một phải trả mấy mươi, mấy trăm.
Còn
cha mẹ chỉ nhận một trả một mà thôi.
Hỏi:
Trong Luật Tỳ Ni dạy: Phật chế giới luật, Tỳ-kheo phải
học giới luật xong, sau đó mới thính giáo tham thiền. Như
vậy, có những người mới xuất gia, chưa học qua giới luật
mà học pháp tham thiền, có sái với giới luật không?
Đáp:
Đã thọ giới, hễ có phạm thì phải chịu tội phá giới;
ví như phạm giới Ba-la-di phải chịu tội địa ngục chín
triệu năm, phạm giới Đột Kiết La phải chịu tội địa
ngục mấy trăm ngàn năm, nếu qua sự sám hối thì tội phá
giới được miễn, ấy tùy thuộc phạm giới hay phá giới.
Trong
giới luật có khai, giá, trì, phạm. Người học giới luật,
nhất là Tỳ-kheo, phải thông suốt hai bộ luật Tỳ-kheo và
Tỳ-kheo-ni, và phải biết thế nào là khai, giá, trì, phạm,
nếu không thì làm sao dạy Tỳ-kheo-ni? Những người thọ giới
mà không biết giới, không phạm giới thì đâu bị tội phạm
giới? Những người đã học giới lại phạm giới thì phải
chịu tội phá giới, ấy là tùy thuộc theo trì và phạm.
Sự
truyền giới ở Trung Quốc phải trải qua năm mươi ba ngày,
vì trong giới có một trăm điều sau cùng thuộc giới oai nghi,
một trăm điều này mặc dù gọi là Giá giới, chẳng có tội
nhân quả, nhưng hễ phạm là mắc tội phá giới. Cho nên,
khi đi thọ giới phải học từng điều một, như tôi đi thọ
giới Tỳ-kheo, phải học ngày đêm về bốn Ba-la-di, mười
ba Tăng tàn v.v… rồi phải học oai nghi cho đúng, giới luật
oai nghi đều qua sự học và được giảng dạy rất kỹ. Lại
nữa, theo qui định, thọ giới xong phải vào học Giới đàn,
thực tập ba năm, chứ chẳng phải như ở đây chỉ học trong
ba ngày hoặc một tuần.
Nay
tự mình có học qua cũng còn không biết, lại đi chỉ trích
người không có học… Tôi từng hỏi mấy vị đã học giới
luật, nhiều người luôn cả giới luật của tỳ -kheo còn
chưa biết, làm sao dạy Tỳ-kheo-ni ! Cho dù đã học qua, nếu
không nắm rõ khai, giá, trì, phạm thì làm sao xử? Thế nào
là có phạm? Thế nào là không phạm? Ấy là việc vi tế.
Tất
cả pháp đều do tâm, hễ tâm thông suốt thì kinh cũng thông
suốt, giới cũng thông suốt, tất cả đều thông suốt, chứ
đừng có chỉ trích Tổ sư thiền, chớ đem sự hiểu biết
ít ỏi của mình đi phê bình cái này cái kia, hễ biết đến
đâu thì thực hành đến đó vậy !
Hỏi:
Con thấy hiện nay một số người học pháp Tổ sư thiền
chưa biết gì, rồi đi mở đạo tràng truyền bá pháp môn
này, những người đó có tội không?
Đáp:
Tất nhiên có ! Ấy là lỗi của cá nhân chứ không được
đổ lỗi cho pháp, vì pháp này là do Phật Thích Ca truyền
lại, pháp là pháp. Ví như đi thọ giới, học giới, phạm
giới, rồi đổ thừa tại giới đó ! Ấy là do người phạm
không chịu thực hành theo giới, chứ đâu thể đổ thừa
giới luật, phải không? Ví như có một ông Tú tài kia
phạm lỗi, rồi đem chỉ trích nhà Nho; một Tỳ-kheo phạm
lỗi, đâu phải lỗi của tất cả Tỳ-kheo? Một tín đồ
Phật giáo làm sai, mà chỉ trích Phật giáo là sai, vậy có
được không?
Ngày
16/06/96 khai thị Tăng Ni sinh lớp Sơ đẳng và Cao đẳng Trường
Cơ Bản Phật học Đại Tòng Lâm, tỉnh Bà rịa Vũng tàu:
Tất
cả Tăng Ni sinh lớp cơ bản và Cao đẳng học chung là chú
trọng cái mà đúng với nghĩa chữ Phật, ấy là gíác ngộ,
nay đem giáo lý và pháp tu dung hợp lại nữa, gọi là Phật
học, Phật pháp.
Thế
nào là Phật pháp, thế nào là Phật học? Phương pháp giác
ngộ gọi là Phật pháp, học pháp giác ngộ gọi là Phật
học. Đối với Pháp giác ngộ, theo Giáo môn là từ giáo lý
vào, Thiền Tam thừa cũng từ giáo lý vào, chỉ có Thiền Tối
thượng thừa gọi là pháp thiền trực tiếp, khỏi qua giáo
lý, nhưng cũng chẳng trái ngược với giáo lý.
Tất
cả Phật pháp đều hiển bày cái tâm, nay tôi giới thiệu
quí vị xem bài Duy Tâm Quyết của ngài Vĩnh Minh trong cuốn
Góp Nhặt Lời Phật Tổ và Thánh Hiền, (sách này đã có trong
Thư viện của Trường).Theo quí vị biết, ngài Vĩnh Minh là
Tổ sư bên Tịnh Độ, kỳ thật cũng là Tổ thứ hai phái
Pháp Nhãn bên Thiền tông. Cho nên, đối với bài Duy tâm Quyết,
nếu đọc đi đọc lại nhiều lần có thể đưa đến giải
ngộ (nếu theo giáo lý vào), hoặc chứng ngộ (nếu theo pháp
Thiền). Chữ Quyết thường chỉ về bí quyết, nhưng sự thật
chẳng phải bí mật; nay chưa ngộ được là bí mật, ngộ
rồi là hết bí mật.
Quí
vị là Tăng ni sinh của Trường, phải học giáo lý, nếu từ
chỗ giáo lý vào, sẽ giải ngộ được căn bản của Phật
pháp, chứ không cần học thuộc lòng. Phật pháp cần sự
giác ngộ, nếu đã ngộ được căn bản của Phật pháp thì
khỏi cần ghi nhớ, người ta hỏi đến đâu tự nhiên trả
lời đến đó.
Tôi
cũng chỉ là giải ngộ thôi, nhưng ngộ được căn bản, nguồn
gốc của Phật pháp, nên tôi muốn chỉ cho quí vị cũng được
ngộ. Dù chỉ là giải ngộ, chưa phải chứng ngộ, giải ngộ
một cái hơn sự học ba năm. Lại nữa, sự học cực hơn
sự ngộ, hễ ngộ được căn bản rồi thì bất cứ kinh điển,
giáo lý, giới luật đều thông suốt, vì tất cả đều
chẳng ở ngoài tâm.
Hỏi:
Trong Giới luật, phần thập cú nghĩa điều thứ tám về lợi
ích người thọ giới có nói “Đoạn hiện tại hữu lậu,”
và điều thứ chín nói “Đoạn vị lai hữu lậu.”Như vậy,
hiện tại đã dứt thì vị lai đâu có nữa? Tại sao phải
đưa ra Thập cú nghĩa như thế?
Đáp:
Thầy đã hiểu nghĩa chữ “lậu”chưa?
-
Dạ, chữ lậu có nghĩa là rỉ, dột.
-
Đúng, ví như cái bình bị chảy, cứ rót nước vào mà chẳng
thể đầy được. Tập khí con người cũng gọi là lậu, Đức
Phật dạy chúng ta phải dứt sạch cái lậu đó, muốn dứt
phải có phương pháp, ấy là thiền.
Nay
học giáo lý biết được sự hữu lậu, vậy làm sao cho nó
không còn rỉ chảy? Phải ngăn bít lại cái lỗ đó. Bằng
cách nào? Việc ấy phải thực hành mới được. Tức
là: Học giáo lý chỉ biết được lý luận về hữu
lậu, nhưng muốn cho ngừng chảy phải có phương pháp khiến
ngăn ngừa, nên Điều thứ tám gọi là “Đoạn dứt hữu
lậu.”
Trong
Kinh Lăng Nghiêm có tam tiệm thứ là ba cách để dứt
hữu lậu trước mắt:
Thứ
nhất là dứt các trợ nhân, ví dụ hạt lúa, muốn cho nẩy
mầm sinh trưởng phải có trợ nhân như tưới nước, trừ
sâu v.v…nên điều thứ nhất phải ngưng dùng ngũ tân.
Thứ
hai là nạo sạch chánh tánh. Chánh tánh là tánh dâm dục, vì
tất cả sinh mạng phải nhờ tánh dâm dục mới được sanh
khởi, nên đó là chánh tánh tạo ra tất cả sinh mạng. Tại
sao phải nạo sạch? Như thùng đựng phẩn quá thúi, mặc dù
đổ sạch, rửa sạch, nhưng đã thấm mùi vào thùng cây, phải
nạo mới sạch.
Thứ
ba là xoau ngược hiện nghiệp, tức trái ngược lại hiện
nghiệp của mình. Theo tập khí chúng ta, hễ thấy đẹp thì
ham, thấy xấu thì chê, nay hễ có ham thích thì trở ngược
lại không ham thích, hễ nổi ý muốn chê liền trở ngược
lại không chê… tập dần dần để đoạn dứt hữu lậu
trước mắt. Còn hữu lậu vị lai thì chưa sanh khởi.
Nói
tóm lại, hữu lậu hiện tại là tập khí phiền não của
phàm phu, còn hữu lậu vị lai là tập khí phiền não của
xuất thế gian, khi tu đến chứng quả rồi phải dứt tập
khí phiền não đó, hiện nay thì chưa, nên gọi “Vị lai hữu
lậu.”
Hỏi:
Xin Hòa thượng giải thích cho bốn nghĩa: Hữu dư Niết bàn,
Vô dư Niết bàn, Vô trụ xứ Niết bàn và Tự tánh thanh tịnh
Niết bàn. Theo pháp Thiền và Tịnh độ, muốn chứng đến
bốn Niết bàn trên phải tu như thế nào?
Đáp:
Trong Triệu Luận Lược Giải, ngài Hám Sơn giải thích rất
kỹ về Niết bàn Vô danh: Hữu dư Niết bàn chưa chứng tới
Niết bàn thực tế, Vô dư Niết bàn thì chứng tới Niết
bàn thực tế, tức bất sanh bất diệt.
Có
hai thứ sanh tử: Phần đoạn sanh tử và Biến dịch sanh tử,
hết hai thứ sanh tử mới gọi là Niết bàn. Phần đoạn sanh
tử là có sắc thân, từ thân này qua thân khác, từ thân người
qua thân thú, từng đoạn từng đoạn.
Bậc
Thánh do chứng quả nên không còn phần đoạn sanh tử nhưng
còn biến dịch sanh tử, như chứng quả A-la-hán rồi bỏ A-la-hán
tiến lên Bích Chi Phật, Từ Bích chi Phật tiến lên Sơ địa,
từ Sơ địa tiến lên Nhị địa v.v…từng cấp một biến
dịch, gọi là Biến dịch sanh tử. Nói sanh tử là để
hình dung, chẳng phải có sanh có tử, tức bỏ cấp bậc này
tiến đến cấp bậc khác. Đến Diệu giác thì tất cả sanh
tử hết, chẳng còn gì cả, luôn cả Niết bàn cũng hết,
nên gọi Vô dư Niết bàn.
Trong
Triệu Luận giải thích đến bảy thứ Niết bàn chứ chẳng
phải chỉ có bốn, ấy là do bệnh chấp của chúng sanh, không
phải Niết bàn cũng cho là Niết bàn.
Hỏi:
Kinh Pháp Hoa có câu:”Nếu ai thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa mà sanh một niệm tín giải, sẽ sanh vô lượng vô biên
công đức, nhiều hơn công đức của người bố thí, trì
giới, nhẫn nhục trong tám muôn na do tha kiếp.” Vậy một
niệm tín giải nghĩa là thế nào?
Đáp:
Kinh Pháp Hoa là kinh Đại thừa liễu nghĩa, nếu thực hành
đúng theo kinh sẽ đạt đến kiến tánh, giải thoát tất cả
khổ, nhưng phải bắt đầu từ chữ Tín.
Tín
là tin, giải là hiểu, phải tin rồi mới hiểu. Quí vị vào
Trường Phật học, do tin rồi mới vào học, học rồi phải
hiểu, hiểu rồi mới theo sự hiểu biết thực hành. Bây giờ
tôi là muốn dạy cho quí vị thực hành, hành rồi mới chứng,
chứng ngộ rồi là đạt đến tự do tự tại. Bây giờ quí
vị chưa thích thực hành vì chưa hiểu rõ, khi đã tin và hiểu
rồi tự nhiên sẽ thích thực hành.
Lại
nữa, người đời do tập khí sâu nặng, muốn thỏa mản ngũ
dục, đuổi theo cảnh trần sắc, thanh, hương, vị, xúc. Nay
được cạo tóc xuất gia, lại được học trong Trường Phật
Học, phải khác hơn người đời, sau khi tốt nghiệp ra, làm
mô phạm cho người đời. Nếu cứ học theo người đời thì
sau này làm sao dạy người? Hay bị người đời dạy lại
!
Hỏi:
Tu có được yêu không?
Đáp:
Tu là không yêu cũng không ghét, vì yêu ghét là tương đối.
Sự yêu của người tu là bình đẳng, gọi là “Đại nhân
bất nhân.” Nhân là nhân nghĩa, là tình thương, yêu đến
cùng tột là phổ biến khắp mọi chúng sanh, đã khắp rồi
thì chẳng yêu một chúng sanh nào, mà là toàn vẹn cho tất
cả chúng sanh, chứ chẳng phải theo tình cảm riêng tư của
mình chỉ yêu một cá nhân nào. Hễ chỉ đuổi theo tình cảm
cá nhân là phải bị đọa, tình nhiều chừng nào đọa nhiều
chừng nấy, Kinh Lăng Nghiêm nói “Tưởng thì lên, tình thì
đọa,” vấn đề này trong Triệu Luận nói rất rõ.
Hỏi:
Ngày xưa bà Kiều Đàm Di đã chứng quả A-la-hán, các vị
Tăng mới xuất gia biết bà đã chứng quả, vẫn để cho bà
đảnh lễ họ, vậy có sái với luật đạo quả không?
Đáp:
Chúng sanh bình đẳng, cho dù chịu sự đảnh lễ của Phật
Thích Ca cũng không có tội, chứ đừng nói chi A-la-hán. Tội
với phước do tâm tạo, nếu tâm đã bình đẳng thì
Phật Thích Ca đảnh lễ cũng như một chúng sanh thường đãnh
lễ thôi, đâu có khác !
Chớ
nói là chứng quả A-la-hán, dù là Bồ tát, như Thường Bất
Khinh Bồ tát trong Kinh Pháp Hoa, đã chứng quả Bồ tát mà
gặp ai cũng đảõnh lễ, ấy là cái hạnh. Được đảnh lễ
đâu phải có tội? Cho nên, chớ có chấp thật, Phật pháp
là phá ngã chấp mà !