[19] 27/01/96–02/02/96
tại Trường
Cơ Bản Phật Học Đại Tòng Lâm
Sổ
tức quán – Ngũ đình tâm quán
Tất
cả cảnh giới đều là hư vọng
Ngọa
Luân hữu kỹ lưỡng, Huệ Năng một lỹ lưỡng
Dục
trừ phiền não trùng tăng bệnh
Hư
không vô sở hữu mà dung nạp tất cả
Vốn
không trói buộc, đâu cần giải thoát?
Đâu
là hạt minh châu của Sư phụ?
Cái
độc đáo của Tổ sư thiền là gì?
Chẳng
nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác & Đối cảnh tâm cứ khở
Chánh
niệm & Chánh định
Tham
đến thoại đầu, tức nhất tâm bất loạn?
Thiền
định giải thoát chẳng phải Phật pháp
Người
chẳng chơn tu, chỉ bắt chước lời Tổ, làm sao đối trị?
Xuất
gia chưa thể quên ơn nghĩa cha mẹ
Luật
sư Hoằng Nhất chỉ giữ đủ ngũ giới của cư sĩ
Trong
lục đạo chỉ có cõi người biết tu thành Phật
Người
tiểu căn tiểu khí có thể tham Tổ sư Thiền không?
Thị
pháp trụ pháp vị, tức vô sở trụ
Tất
cả vật chất đều tồn tại vĩnh viễn, chưa bao giờ mất
Phật
Thích Ca đã thành Phật bao nhiêu kiếp?
Tịnh
độ
Thiện
ác chẳng thể bù trừ
Hỏi:
Khi quán Đức Phật trăm phước trang nghiêm, cái quán đó có
phải vọng tưởng không?
Đáp:
Thầy nói cái quán đó nằm trong tông phái nào?
Hỏi:
Dạ, cũng như thay vì quán hơi thở mà nay quán trăm phước
trang nghiêm của Đức Phật?
Đáp:
Quán hơi thở gọi là Sổ tức quán, là một trong năm thứ
thiền quán của thừa Thanh văn, gọi là Ngũ đình tâm quán,
bao gồm: Từ bi quán, Nhân duyên quán, Lục thức quán, Bất
tịnh quán và Sổ tức quán, ấy là thiền quán riêng biệt
của thừa Thanh văn dùng để đình chỉ cái tâm.
Lại
nữa, cách đếm hơi thở gọi là Lục diệu môn, cũng là của
Tiểu thừa, nếu theo đó tu có thể đạt đến diệu cảnh
của Niết bàn Tiểu thừa. Trong cuốn Danh từ Thiền học
chú giải của tôi cũng có giải thích những danh từ đó.
Còn
bây giờ thầy hỏi là thiền quán nào? Nếu nói về Tổ sư
thiền thì đó là vọng tưởng, nếu nói là Tịnh độ thì
không phải, vì trong mười sáu thứ thiền quán có quán tượng
Phật của A Di Đà, chứ không quán trăm phước trang nghiêm
của Đức Phật.
Nếu
tham thoại đầu mà quán Phật là vọng tưởng, chớ nói là
quán, ở trong Thiền đường của Tòng lâm Thiền tông, niệm
một tiếng Phật phải phạt rửa thiền đường ba ngày! Còn
Tịnh độ thì phải niệm Phật. Bởi vậy, hễ theo pháp thiền
quán nào phải theo đúng tông chỉ tông phái đó, chứ
chẳng phải đều giống nhau, do đó Đức Phật mới dạy tám
mươi bốn ngàn pháp môn.
Hỏi:
Có một cô Phật tử năm nay sáu mươi lăm tuổi, chồng cô
ta mắc bệnh tâm thần hơn bốn mươi năm nay, chạy đủ thầy
thuốc chẳng hết bệnh, cũng chẳng chết. Cô ấy muốn lập
đàn sám hối thay chồng, vậy có lợi ích gì cho người chồng
không?
Đáp:
Nhân quả là ai làm nấy chịu, chứ chẳng thể người này
làm thế cho người khác được.
Hỏi:
Chồng của cô ấy trước kia cũng làm ra một số tiền, nay
cô muốn đem số tiền bố thí cúng dường hoặc làm một
việc gì đó cho chồng được nhẹ bớt bệnh?
Đáp:
Nhưng người chồng phải biết sự phát tâm đó, vì có biết
mới có tâm tạo, hễ tâm tạo một niệm thiện, có thiện
nhân mới được thiện quả.
Hỏi:
Vậy ông đó phải phát tâm mới được?
Đáp:
Phải .
Hỏi:
Con là học Tăng mới, trong quá trình công phu con gặp phải
những hiện tượng bức xúc như cảm thấy thân không còn
nữa, hoặc như đứng trước ngã tư đường, bốn phía đều
bị vây chặt, phía trước lại là hố thẩm chẳng thể bước
tới; hoặc như đứng trước một bức tường chẳng thể
xuyên qua… vậy đó có phải thiền bệnh chăng?
Đáp:
Tất cả thiền đều có thể trải qua những cảnh giới đó.
Theo Kinh Lăng Nghiêm, những cảnh giới đó nếu không cho là
thù thắng thì là cảnh giới tốt, nếu cho là thù thắng sẽ
lọt vào tà ma.
Còn
Tổ sư thiền đối với tất cả cảnh giới đều không biết,
hễ có biết ấy là vọng, là nghịch với Tổ sư Thiền, là
chướng ngại sự kiến tánh. Phải dùng nghi tình để quét
sạch những cảnh giới đó, dẫu cho Phật Thích Ca đến rờ
đầu thọ ký vẫn là không biết, cứ nhìn và hỏi, những
cảnh giới đó tự nhiên tiêu diệt. Vì pháp môn này là dùng
cái không biết để tu, đến chừng biết được rồi thì
tất cả đều biết, gọi là Chánh biến tri.
Hỏi:
Khi đọc Kinh Pháp Bảo Đàn, con gặp hai bài kệ; ”Ngọa Luân
hữu kỹ lưỡng, năng đoạn bá tư tưởng, đối cảnh tâm
bất khởi, Bồ đề nhật nhật trưởng.” Còn ngài Lục Tổ
lại nói:”Huệ Năng một kỹ lưỡng, bất đoạn bá tư tưởng,
đối cảnh tâm số khởi, Bồ đề tác ma trưởng.” Ý của
hai bài này như thế nào?
Đáp:
Bài kệ của Lục Tổ là để phá sự chấp thật của Ngọa
Luân, vì Ngọa Luân có tư tưởng chấp thật, mà thực tế
thì chẳng có cái nào thật. Tại sao? Vì tất cả đang biến
hóa, hễ có biến đổi thì chẳng thật. Ví như mặt
mũi của thầy, nhìn vào hình như lúc nào cũng giống nhau,
nhưng sự thật có thay đổi, sát na trước và sát na sau đều
khác nhau. Cũng như đốt lên cây đèn cầy, thấy ngọn lửa
như y hệt, nhưng ngọn đèn sát na trước và sát na sau đã
hoàn toàn khác, chúng sanh không biết, chỉ cho là giống nhau
thôi.
Hỏi:
Đức Phật dạy tám mươi bốn ngàn pháp môn, tùy theo căn
cơ của chúng sanh để hành trì, mục đích là tới thanh tịnh
tâm; nhưng tại sao ngài Lục Tổ lại phủ nhận toàn bộ bài
kệ của Ngọa Luân?
Đáp:
Do thầy cũng có tư tưởng chấp thật nên có câu hỏi này,
vì chấp thật mới cho là cái này đúng, cái kia sai. Nếu không
chấp thật tức nghĩa vô trụ, chẳng trụ chỗ nào cả. Hễ
vô trụ thì cái nào cũng như cái nấy, ăn cơm cứ ăn, nói
năng tiếp khách cứ nói năng tiếp khách, vốn chẳng dính
dáng gì. Chẳng cho là cơm này ngon cơm kia không ngon, áo này
đẹp áo kia xấu… đủ thứ phân biệt đều do tự tâm mình
tạo ra, nên nói nhất thiết duy tâm tạo.
Hỏi:
Câu “Dục trừ phiền não trùng tăng bệnh, xu hướng Chơn
như tổng thị tà,” hai câu này đối đãi nhau, trong khi con
muốn trừ phiền não thì phải làm sao?
Đáp:
Tất cả lời nói của chư Phật chư Tổ đều chẳng thật,
chính Đức Phật nói:”Phàm là lời nói đều chẳng có nghĩa
thật,” Kinh Kim Cang nói:”Vô pháp khả thuyết mới gọi là
thuyết pháp”; “Nếu ai nói ta có thuyết pháp là phỉ báng
Phật,” vậy có phải mâu thuẫn không? Không, bởi vì
lời nói đó chẳng phải, cái phải đó chẳng thể nói. Tất
cả những gì mình hiểu được, nói được đều chẳng phải
thực tế, cái thực tế đó phải ngộ mới được.
Hỏi:
Thể tánh của Phật là thể tánh không, thế thì tại sao bày
ra đủ thứ pháp môn này pháp môn kia như Tổ sư thiền chẳng
hạn, không khéo lại đem bụi bậm vào thể tánh đó?
Đáp:
Tất cả pháp của Phật Thích Ca dạy đều là phương tiện,
mục đích để đạt đến chỗ hiện ra bản lai diện mục
của tâm mình, tất cả danh từ chỉ là danh từ chứ chẳng
có thực tế.
Nói
đến cái Không đó, bởi do tâm của mọi người chẳng hình
tướng số lượng, “Không”là để hiện bày cái dụng,
muốn dùng thì phải có cái Không đó. Ví như cái tách này,
nếu chẳng có cái không, ấy là tách chết, dùng không được;
cái bàn này, bình này, căn nhà này v.v… cũng vậy. Mà cái
Không này là vô sở hữu, vô sở hữu mà dung nạp tất cả,
tất cả đều ở trong vô sở hữu này, và tất cả đều
phải nhờ cái vô sở hữu này mới hiển bày được sự dụng.
Nếu
vô sở hữu thì chẳng nghĩa lý, chẳng lời nói chẳng danh
từ nào để nói; bây giờ muốn nói, đặt ra những danh từ
là phương tiện cho mọi người hiểu được cái dụng. Ví
như bản thể của tâm khắp hư không chẳng khứ lai, nên đặt
tên Như Lai, là đúng như bản lai; vì khắp thời gian thì chẳng
sanh diệt, nên đặt tên Niết bàn, vì trống rỗng chẳng có
gì cả nên đặt tên Tánh Không v.v…
Hỏi:
Nếu như thế thì đâu cần bàn là giải thoát hay không giải
thoát? Vì thể tánh vốn như thế !
Đáp:
Phải. Cho nên có người đến với Tổ sư, Tổ sư hỏi: Muốn
gì?
- Muốn
cầu giải thoát.
Tổ
hỏi: Ai trói buộc ngươi?
Vốn
là không trói buộc thì đâu cần cầu giải thoát, phải không?
(Dạ phải.) Nhưng chính bây giờ ông bị trói buộc rồi, do
tâm ông tự trói nên mới cầu giải thoát.
Hỏi:
Bạch Hòa thượng, đúng. Nhưng nếu con bị trói buộc thì
ngay bản thân con phải tự giải thoát chứ đâu nhờ ai giải
thoát cho con được? Sở dĩ đặt ra những phương pháp đó
chẳng qua chỉ là phương tiện thôi !
Đáp:
Nếu không đặt ra thì ông làm sao biết để đi đến giải
thoát? Cho nên Đức Phật mới đặt ra phương tiện. Mặc dù
đặt ra, nhưng ngài lại sợ người ta chấp vào lời nói của
Phật, nên nói:”Ta bốn mươi chín năm chưa từng thuyết một
chữ,” “Ai nói ta có thuyết pháp là phỉ báng Phật.” Vậy
ông có hiểu không?
- Dạ
hiểu.
- Thế
thì khỏi hỏi nữa.
Hỏi:
Mỗi người đều có một viên minh châu, vậy đâu là viên
minh châu của Hòa thượng?
Đáp:
Bây giờ nói chỉ là lời nói, ví như nói về cái tâm, cũng
chỉ là danh từ để nói thôi. Mặc dù Phật đặt ra những
danh từ, nhưng ngài nói là chẳng có nói. Tại sao? Vì cái
thực tế nói không được.
Đức
Phật đặt ra danh từ rồi bảo chúng ta phải thực hành, phải
đi đến chỗ thực tế của danh từ đó. Muốn đến chỗ
thực tế của danh từ đó phải tu.
Hỏi:
Qua những câu hỏi trên, khiến con nhận thức rằng những
tri kiến được tiếp thu qua vạn pháp ở thế gian đều là
những phương tiện, chẳng phải cứu cánh. Những văn tự
ngôn từ diễn đạt tình trạng tâm linh mà người ta thường
dùng, vô tình đã gây chướng ngại cho sự phát triển
minh tâm kiến tánh. Vậy xin Sư phụ từ bi khai thị phương
pháp độc đáo của Tổ sư thiền cho chúng con hầu thấu triệt
công phu trên đường tu tập.
Đáp:
Cái độc đáo nhất ấy là vô sở hữu, tức hư không trống
rỗng vô sở hữu. Tất cả chúng sanh, vũ trụ vạn vật, núi
sông đất đai, nhà cửa cây cối, đều phải ở trong vô sở
hữu này; trong cuộc sống hàng ngày, mặc áo ăn cơm, nói năng
tiếp khách… đều phải nhờ cái vô sở hữu này.
Tâm
của con người luôn muốn có sở hữu: Tiền này là sở hữu
của tôi, nhà này là sở hữu của tôi, bất cứ tài sản
gì đều muốn thuộc về sở hữu của tôi, từ đó sanh ra
đủ thứ phiền não, chướng ngại cái dụng vô sở hữu.
Sự
dụng của vô sở hữu vốn khắp không gian thời gian, chẳng
có hạn chế, nay hễ sanh ra một mảy may cầu sở hữu liền
bị hạn chế, chướng ngại cái dụng của tâm vô sở hữu.
Nên pháp tham thiền là dùng cái không biết để tu, vì không
biết thì chẳng thể có tâm muốn sở hữu, hễ mống tâm
mong cầu là biết vậy.
Hỏi:
Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, có hai đoạn hình như mâu thuẫn nhau:
Đoạn trên ngài Lục Tổ dạy Huệ Minh khi đối cảnh chẳng
khởi thiện chẳng khởi ác, đoạn sau lại dạy cho Ngọa Luân
đối cảnh tâm cứ khởi, vậy hai đoạn này có phải mâu
thuẫn không?
Đáp:
Lời của Lục Tổ nói với Huệ Minh chẳng phải lời dạy,
ấy là câu thoại đầu, thoại đầu là chưa nổi niệm lên,
chẳng khởi niệm thiện cũng chẳng khởi niệm ác mới được
gọi là thoại đầu. Nếu đã khởi lên một niệm, dù là
niệm thiện cũng gọi là thoại vĩ chứ chẳng phải thoại
đầu. Đến thoại đầu là chẳng có niệm nào, chỗ đó gọi
là đầu sào trăm thước, hễ tiến thêm một bước là kiến
tánh. Lục Tổ là muốn Huệ Minh ngay đó kiến tánh, chứ chẳng
phải là dạy.
Đối
với bài kệ để phá chấp thật của Thiền sư Ngọa Luân,
như trên đã nói, chỉ là phá chấp thật thôi, cũng chẳng
phải là dạy. Bởi vì vô sở hữu thì đâu có gì để dạy
! Chư Phật chư Tổ cũng chẳng có gì để dạy, chẳng có
gì cho người; trong Truyền Đăng Lục nói:”Nếu nói tôi có
gì cho ngươi, ấy là lừa gạt ngươi.”
Cho
nên, nếu dùng tư tưởng chấp thật để tìm hiểu kinh điển
Đại thừa là sai lầm, vì tất cả kinh Đại thừa đều chỉ
là phá chấp thật mà thôi.
Hỏi:
Trong kinh Phật thường nói đến hai chữ “Chánh niệm,”
tức tâm mình ở trong trạng thái chánh niệm. Theo con hiểu,
chánh niệm là vô niệm. Kinh Pháp Bảo Đàn nói:”Vô niệm
là nơi niệm mà lìa niệm,” tức trong tâm chẳng khởi niệm
nào thì tâm được chánh định, phải không?
Đáp:
Phải. Bài Vô Tướng Tụng trong Kinh Pháp Bảo Đàn:”Vô niệm
niệm tức chánh, hữu niệm niệm thành tà,” chẳng có niệm
nào cả là chánh niệm, bất cứ nổi lên niệm gì, dù là
niệm thiện, cũng thành tà. Chữ Tà này chẳng phải tà ác,
chỉ là không đúng với chánh thôi.
Hỏi:
Lúc tâm mình chẳng khởi lên một niệm nào, thì tâm ở vào
trạng thái đó gọi là chánh định, phải không?
Đáp:
Lúc đó sẽ gần đến bản lai. Câu tiếp theo trong Vô Tướng
Tụng là “Tà chánh đều chẳng chấp”mới là đến chỗ
bản lai. Nếu còn chấp vào cái chánh, chỉ là đến thoại
đầu, chỗ đầu sào trăm thước, nên phải từ đầu sào
trăm thước tiến thêm một bước, tức chẳng trụ nơi chánh
nữa.
Hỏi:
Nếu tham đến chỗ chỉ còn một niệm, tức nhìn vào câu
thoại muốn biết mà biết không nỗi đó, thì gọi là nhất
tâm bất loạn, phải không?
Đáp:
Nói nhất tâm bất loạn là của pháp môn Tịnh độ, còn Thiền
tông thì định với loạn là tương đối, ví như vô ký, dù
lúc đó tâm chẳng có loạn, mà Thiền tông cho đó cũng là
bệnh.
Vì
Thiền tông muốn giữ sự thắc mắc, muốn biết mà không
biết, vẫn còn là không biết. Nhất tâm bất loạn của Tịnh
độ có cái nguyện cầu vãng sanh, còn Thiền tông thì chẳng
có nguyện, vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ, nên giống
mà chẳng phải.
Tổ
sư thiền là pháp thiền trực tiếp, mục đích là đi đến
chỗ ngộ, chứ không muốn đi đến chỗ nhất tâm bất loạn,
thanh thanh tịnh tịnh. Chẳng có sự mong cầu gì, hễ công
phu đến mức tự động sẽ ngộ.
Hỏi:
Về phần lý, đến chỗ nhất tâm bất loạn có phải là định
chưa?
Đáp:
Tất cả thiền đều muốn đạt đến thiền định giải thoát,
còn Tổ sư thiền thì như ngài Lục Tổ nói với Pháp sư Ấn
Tông trong Kinh Pháp Bảo Đàn: ”Thiền định giải thoát chẳng
phải Phật pháp, Phật pháp là pháp bất nhị.” Những gì
của Giáo môn coi trọng như thiền định giải thoát… thì
Thiền tông lại không màng đến, nên Lục Tổ nói thẳng là
chẳng phải Phật pháp.
Vì
Thiền tông là muốn đến chỗ thực tế, thực tế bất nhị,
chẳng tương đối. Thiền định là đối với tán loạn, dẹp
bỏ tán loạn rồi mới nói là định; giải thoát là đối
với trói buộc, mở trói rồi mới được giải thoát. Tự
tánh bất nhị, vốn chẳng phải loạn thì làm sao có định;
vốn chẳng trói buộc thì làm sao nói là giải thoát !
Cho
nên, có một vị Tăng đến hỏi Tổ sư xin giải thoát, Tổ
nói:
- Ai
trói buộc ngươi?
- Chẳng
ai trói.
- Thế
thì đâu cần xin giải thoát !
Thiền
tông khác với các tông phái khác là đối với tất cả những
danh từ đều không màng đến, những gì Giáo môn cho là quí,
Thiền môn chỉ cho đó là dây xích bằng vàng, cũng là dây
xích trói buộc thôi.
Hỏi:
Về phần hành, khi nghi tình làm mất câu thoại, tiến vào
vô thỉ vô minh hoặc đến thoại đầu, vậy thì thoại đầu
với nơi chánh niệm hay chánh định đó có khác nhau không?
Đáp:
Bây giờ nói chánh niệm, thoại đầu, vô thỉ vô minh, căn
bản vô minh v.v… mặc dù đủ thứ tên gọi nhưng không khác,
tức chỗ đó là nguồn gốc của ý thức, từ chỗ đó tiến
lên một bước, lìa ý thức là kiến tánh, phải lìa ý thức
rồi mới không có tương đối, còn ý thức là còn phân biệt
là tương đối.
Hỏi:
Về phần lý là vô niệm, tức nơi niệm mà lìa niệm, về
phần thực hành thì pháp môn tham thoại đầu đã đưa người
ta thực sự tâm chẳng còn dính một niệm nào, vậy theo con
tìm hiểu pháp tham thoại đầu này qua phần lý và phần thực
hành rất tương ưng. Chúng con được pháp này là một điều
đại nhân duyên, nay con đã được Hòa thượng từ bi khai
thị rõ ràng, chỉ dẫn con đường sáng tỏ để đến bờ
bên kia, xin thành kính cảm tạ ơn Sư phụ.
Đáp:
Đó là bổn phận của tôi. Bổn phận người Tu sĩ là đi
đúng theo nghĩa chữ Phật: Tự giác và giác tha, muốn tự
giác giác tha phải dùng công phu, phải tu, nếu chỉ học hỏi
là không đủ.
Hỏi:
Sư phụ vì lợi ích tất cả mọi người đứng ra hoằng pháp,
khổ tâm khổ trí, theo tư cách của một người tu phải chơn
tham, chơn thực tu hành mới mong đạt đến kết quả giải
thoát. Thế mà có những người bắt chước lời Phật lời
Tổ, bắt chước cách làm của Tổ, làm trò cười cho thiên
hạ, kinh Phật nói là “Kẻ đáng thương xót.” Đối với
những người đã lâm vào tà kiến như thế, có cách nào giúp
cho họ ra khỏi sự tà kiến đó?
Đáp:
Những người không có sự chơn tu, chỉ bắt chước lời nói
cử chỉ của chư Phật chư Tổ, Thiền tông gọi là “con
chó”chứ chẳng phải con sư tử, tự tạo tội địa ngục
mà chẳng hay. Những người này chẳng cách nào trị nỗi,
kể cả Phật Thích Ca. Phải đợi họ xuống địa ngục, chịu
đủ khổ rồi ra mới sửa đổi được, còn bây giờ thì
vô phương trị.
Hỏi
Những người xuất gia học Phật pháp đều biết rằng đã
xuất gia lìa khỏi gia đình, đối với tình cảm cha mẹ họ
hàng đều không quan tâm đến, gọi là thân sơ bình đẳng.
Nhưng bản thân con chắc do ảnh hưởng tư tưởng thế gian
nhiều, cho nên tình cảm cha mẹ vẫn ăn sâu vào tâm khảm,
nhất là khi về nhà thăm gia đình, thấy cha mẹ tuổi già
vẫn còn phải lao động làm con cảm thấy buồn. Vậy đó
là do tâm trí con quá yếu hèn, phải không?
Đáp:
Đó là tập khí phiền não từ lâu đời, người nào cũng
vậy. Bây giờ tu là muốn sửa lại tập khí, phải có công
phu mới sửa đổi được. Kỳ thật, cha mẹ vẫn có nhân
quả của cha mẹ, con cái tự có nhân quả của con cái. Đối
với cha mẹ kiếp này, nếu mình không xuất gia thì ở nhà
lo cho cha mẹ, còn đã xuất gia, thọ sự cúng dường của
mười phương, phải xem cha mẹ cũng như những Phật tử khác
vậy.
Tôi
thường nói Tu sĩ phải tự giác giác tha, cha mẹ cũng nằm
trong đối tượng giác tha đó, đâu phải ở ngoài? Như Phật
Thích Ca thành đạo rồi cũng về độ hết cha mẹ vợ con
và dòng tộc, nhưng không xem họ là đặc biệt hơn, cũng như
đối với cha mẹ người khác vậy.
Hỏi:
Con theo Sư phụ đã được đôi ba năm, xét về phần tu hành
không thấy khả quan lắm, nhưng vẫn cố gắng học hỏi tu
tập giới luật, nếu có thời gian rãnh cũng nghiên cứu kinh
điển, trao dồi thêm giới phẩm của mình.
Thấy
gần đây những Tu sĩ phần nhiều chú trọng học thức, không
chịu nghiên cứu thêm giới luật, tế hạnh, để làm mô phạm
cho tất cả chúng sanh, làm bậc thầy của trời, người, nên
con thấy đây là vấn đề nan giải và đau lòng nhất. Kính
mong Sư phụ ban cho vài lời cảnh sách.
Đáp:
Nói đến Giới luật rất vi tế, Luật sư Hoằng Nhất ở
Trung Quốc thời gần đây nói: Mặc dù ngài đã thọ giới
Tỳ-kheo qua Tam đàn đại giới, nhưng đối với sự vi tế
của giới luật Tỳ-kheo cũng chưa đủ, mà chỉ giữ đầy
đủ ngũ giới của cư sĩ thôi. Thế mới biết sự vi
tế như thế nào. (Sư phụ giảng về giới luật, xem trang
139)
Người
phạm giới là vì muốn thỏa mãn dục vọng của mình, nếu
có công phu thì tự nhiên không nhớ đến dục vọng và giữ
giới được. Còn bây giờ học và ghi nhớ giới luật, nhưng
gặp cảnh liền bị cảnh lôi kéo và phạm giới, Cho nên,
nhiều người thông suốt giới luật vẫn phạm giới, do không
có tu nên chẳng có sức lực dẹp tan dục vọng. Ví dụ đối
với số tiền ít thì không bị động tâm, hễ gặp số tiền
lớn thì động tâm. Các cái khác cũng vậy, tài, sắc, danh,
thực, thùy (ngủ)… ngủ thì không phải, đó thuộc vấn đề
sinh lý, nhưng người tu hành ngủ vừa vừa thôi, chứ không
cho ngủ nhiều.
Nói
tóm lại, bất cứ tu pháp môn nào, phải có sự tu, phải có
công phu mới mong sửa lại dần, nếu không tu mà chỉ nghiên
cứu, mặc dù tất cả giới luật học thuộc lòng, rốt cuộc
đối cảnh cũng bị phạm. Phải đối cảnh chẳng động tâm
mới chắc là giữ được giới.
Hỏi:
Trong Kinh dẫn dụ: Chúng sanh vô lượng vô biên mà ứng thân
của Phật tùy theo căn cơ trình độ của mỗi loài cũng ứng
hóa vô lượng vô biên. Thế nhưng trong thực tế, Phật nói
tám mươi bốn ngàn pháp môn chỉ ứng dụng cho loài người,
còn đối với súc sinh lớn như con voi, nhỏ như côn trùng
thì Đức Phật hóa độ bằng cách nào?
Đáp:
Trong lục đạo luân hồi gồm Trời, Người, A-tu-la, Súc sinh,
Ngạ quỷ, Địa ngục, cõi Trời phước báo lớn hơn, chỉ
thọ vui mà chẳng có khổ, vì không có khổ để kích thích
sự ham tu, nên chỉ hưởng vui, không biết tu. Chỉ có
cõi Người có khổ có vui mới biết tu. Cõi A-tu-la phước
báo bằng cõi Trời, nhưng vì có tánh sân, hay nổi giận, lại
cố ý nghịch với Phật pháp nên cũng không có tu. Súc sinh
thì phải trả ác nghiệp, không thể tu; Ngạ quỷ và Địa
ngục cũng vậy, do phải chịu khổ báo, khó tu, cho nên
chỉ có con người mới tu được.
Do
đó trong Phật pháp có câu “Thân người khó được,” chỉ
có thân người mới nghe được Phật pháp tu giải thoát, cũng
chỉ có cõi người mới được thành Phật, ngoài ra năm cõi
kia thì chẳng có. Còn Súc sinh phải chịu khổ báo mãn rồi
mới có thể đầu thai thành con người và gặp được Phật
pháp mới tu hành thành Phật.
Hỏi:
Người tiểu căn nghe pháp môn Tổ sư thiền ví như cây cỏ,
cội gốc thì nhỏ, nếu bị mưa lớn sẽ ngã ngay, chẳng thể
nào tăng trưởng được. Như chúng con thì thế nào?
Đáp:
Nếu người tiểu căn nghe pháp Tổ sư thiền không được
thì tu Tiểu thừa, bất quá chậm thôi. Tôi đã nói hạ căn
có thể chuyển thành thượng căn, mạt pháp có thể chuyển
thành chánh pháp, hễ người nào tự cho mình là tiểu căn
mà muốn tu pháp Tổ sư thiền, dần dần đủ lòng tin rồi
cũng tu được, tức chuyển hạ căn thành thượng căn.
Hỏi:
Như Sư phụ mấy ngày nay giảng, tất cả đều là diệu
dụng của vô sở hữu. Tu pháp tham thoại đầu đến đầu
sào trăm thước có biết tất cả những sự việc hay không?
Đáp:
Tôi nói cái vô sở hữu đó là bổn lai vốn như vậy, chứ
chẳng phải do tu mới thành. Ngài Long Thọ nói:”Hư không
vô sở hữu mới dung nạp tất cả,” hiện tiền trước mắt
đây, cũng như thầy đang hỏi tôi, tôi giải đáp được cũng
nhờ cái hư không vô sở hữu này; thầy thấy được tôi,
tôi thấy được thầy cũng là nhờ cái hư không vô sở hữu
này; tất cả vạn vật đều là ở trong cái vô sở hữu này.
Nên
bài Đại Trí Độ Luận mà tôi trích dịch ra, có người hỏi:
- Tại
sao nói hư không vô sở hữu dung nạp tất cả vật, mà chẳng
nói hư không quảng đại dung nạp tất cả vật?
Ngài
Long Thọ đáp:Vì hiện tiền thấy hư không là vô sở hữu,
nhưng tất cả vũ trụ vạn vật đều ở trong đó, đều phải
nhờ cái vô sở hữu mới được hiển bày.
Hỏi:
Trong Kinh Kim Cang nói:”Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng,”
Kinh Pháp Hoa lại nói:”Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng
thường trụ,” vậy có khác nhau không?
Đáp:
Kinh Kim Cang và Kinh Pháp Hoa đều là Đại thừa liễu nghĩa,
ý vốn chẳng khác. Kinh Kim Cang nói “Phàm sở hữu tướng
giai thị hư vọng,” vì có sở hữu tức là hư vọng, hễ
có sở hữu một tí cũng là chướng ngại, sở hữu nhiều
chừng nào thì chướng ngại nhiều chừng nấy, nên nói là
hư vọng. Chỉ có vô sở hữu mới không bị hạn chế. Đến
chừng hoàn toàn vô sở hữu rồi thì có tên gọi là thật
tướng, thật tướng vô tướng, đó chẳng phải hư vọng,
Đại thừa ấn chứng người đã ngộ gọi là “Ấn thật
tướng”
Hai
câu “Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ”của
Kinh Pháp Hoa là nghĩa vô sở trụ, cũng là vô sở hữu. Pháp
nào trụ theo ngôi pháp đó, ví như cái dĩa này là trụ theo
ngôi pháp dĩa, dĩa này làm bằng mủ, đem đốt thành tro thì
trở thành pháp vị tro, tro đó bị gió thổi tan thành không
thì trụ ngôi pháp vị không. Pháp vị sanh trụ nơi sanh,
pháp diệt trụ nơi diệt, chữ TRỤ ở đây không thể dịch
là “còn,” thường trụ không thể dịch là thường còn,
chẳng trụ cũng không có nghĩa là chẳng còn, nếu dịch thành
“còn”là không đúng nghĩa, vì ngôi pháp biến đổi hoài.
Vô sở trụ chẳng phải không còn, chỉ là không trụ thôi,
tất cả cũng y như cũ.
Kinh
Lăng Nghiêm nói “vốn là Như Lai tạng,” là tùy theo pháp
vị, chẳng thêm vào ý mình cho là đúng hay sai, cho là hợp
lý hay chẳng hợp lý… thì không trụ theo pháp vị.
Nay
Phật dạy chúng ta trụ theo pháp vị tức vô sở trụ, vô
sở trụ tức vô sở hữu, thế gian tướng phải trụ như
vậy. Nghĩa thế gian tướng là sanh diệt, nhưng nếu trụ như
vậy thì pháp sanh trụ nơi sanh, pháp diệt trụ nơi diệt,
nên thế gian tướng thường trụ; thường trụ như thế là
chẳng trụ chỗ nào cả.
Hỏi:
Con tham câu “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải
vật, là cái gì?”nhưng tự nhiên lúc đang tham, trong tư tưởng
của con phát ra những câu nói:”Phật tánh vốn không sanh
diệt, chơn tâm vô sanh bất hoại, vạn vật bất khả trường
tồn, thân ý bất luận như nan, đắc quả chơn vị Bồ đề,
không không có có Như Lai thị. Vậy những câu nói trên do
thức nào của con phát sinh ra?
Đáp:
Do vọng tưởng của cô. Tại cô cứ suy nghĩ hoài, tham thiền
là muốn chấm dứt sự suy nghĩ. Nay tôi nói cho biết:Tất
cả vật chất đều tồn tại vĩnh viễn, chưa bao giờ mất,
ví như ly nước tôi đang uống đây, có thể cả tỷ người
đã uống qua, nó không có mất, mà tất cả năng lượng đều
tồn tại vĩnh viễn không có mất, Kinh Lăng Nghiêm nói: Tất
cả tánh thấy, tánh nghe của mình chẳng chết cũng chẳng
mất, tánh ngửi, tánh nếm cũng vậy. Dù thân này hư hoại,
nhưng những tánh thấy, tánh nghe vẫn tồn tại, ấy là năng
lượng của tâm.
Hỏi:
Kính bạch Hòa thượng, chúng con cũng rõ chơn tâm của chúng
con vốn là thường trú, thể tánh cũng sẵn là tịch
minh, hơn nữa nó là bất sanh bất diệt…
Đáp:
Ấy là lời nói, là hiểu biết theo lời nói. Ví như người
mù hỏi người mắt sáng ”Mặt trời như thế nào?”Người
mắt sáng nói “Mặt trời là tròn với nóng”; ấy là lời
nói, nhưng nếu cho tròn với nóng là mặt trời thì sai. Nay
dùng lời nói để truy cứu thực tế thì càng truy cứu càng
xa.
Cho
nên, Đức Phật khuyên chúng ta tu, khi được tự chứng phần
rồi tự rõ, nếu không tu mà chỉ dùng bộ não để truy cứu,
cũng như các nhà khoa học, nhà triết học muốn nghiên cứu
sự bắt đầu của vũ trụ, sự bắt đầu của sinh mạng,
dù nghiên cứu thêm một tỷ năm cũng không được, vì vốn
chẳng có sự bắt đầu.
Đức
Phật nói “Vô thỉ vô sanh,” nên người chứng quả gọi
là ngộ pháp vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn. Pháp đã vô
sanh thì làm gì có nghĩa lý để tranh cãi, để hỏi?
Cái hỏi đó đã có sanh khởi, đã có sự bắt đầu rồi
!
Hỏi:
Nếu nói vốn là vô sở hữu thì chúng con phải dụng công
như thế nào?
Đáp:
“Vô sở hữu”cũng là lời nói, phàm là lời nói đều chẳng
phải nghĩa thật .
Hỏi:
Con có những điều nghi vấn, kính xin Sư phụ giảng rõ: Trước
đây Sư phụ có nói mượn hữu hình giảng về vô hình, mượn
tất cả nhân duyên “có”mà nói “không,” mượn nhân duyên
“không”mà nói “có.”
Trong
tứ thời đi đứng nằm ngồi lúc nào cũng nhập vào Thiền
định thì mắt nhìn vào chỗ hư không, lỗ tai nghe vào chỗ
hư không, mũi cũng ngửi chỗ hư không, thiệt nếm chỗ hư
không, thân và tâm ý cũng ở trong hư không, thế thì con đã
nhập được pháp giới tánh của chư Phật chưa?
Đáp:
Chưa.
Hỏi:
Vậy làm sao để nhập được pháp giới tánh của chư Phật?
Đáp:
Phải hỏi câu thoại và nhìn vào chỗ không biết. Tại ông
biết nhiều quá, mục đích tham thiền là chấm dứt sự hiểu
biết, nay ông chẳng chịu chấm dứt, lại phân tích đủ thứ,
cho là tri kiến cao siêu. Tất cả tri kiến đều phải quét
sạch mới là đúng với Tổ sư thiền.
Hỏi:
Phẩm “Tùng địa dũng xuất”thứ mười lăm trong Kinh Pháp
Hoa nói: Để hộ trì Phật pháp nơi cõi Ta bà này, vì thế
các vị Bồ tát từ dưới đất vọt lên và xin để các ngài
hộ trì, các ngài đó chính là đệ tử của Phật nơi quá
khứ. Chính Đức Phật đã xác nhận rằng các ngài là đệ
tử quá khứ, vì Ngài đã thành Phật từ nhiều kiếp trước.
Nhưng
theo giáo lý Đại thừa, có nhiều chỗ nói Đức Phật là
Bồ tát Hộ Minh từ trên cung Trời Đâu Suất giáng trần,
mới thành Phật kiếp này?
Đáp:
Phẩm Như Lai Thọ Lượng trong Kinh Pháp Hoa dùng danh từ “trần
điểm kiếp”để thí dụ, vì thời đó chưa có Đại số:
Vi trần là đơn vị rất nhỏ, Phật đem thí dụ số kiếp
rằng: Đem một đại thiên thế giới mài thành mực, rồi
cứ đi qua mười đại thiên thế giới thì chấm một chấm
mực, chấm hết tất cả mực. Thử hỏi số mực của một
đại thiên thế giới là bao nhiêu? Rồi lại cách mười
đại thiên thế giới mới chấm một chấm mực? Sau khi chấm
hết tất cả mực, lại đem những đại thiên thế giới có
chấm mực và không chấm mực đều mài thành hạt bụi, vậy
số đó đếm làm sao nỗi? Mà Đức Phật nói “Thọ của
ta là hơn số đó !”
Kỳ
thật, Phật đã nói trắng ra cho chúng ta biết là vô thỉ,
tức chẳng có sự bắt đầu. Hễ có sự bắt đầu là có
con số, dù gọi là trần sa số kiếp, nhưng đếm lâu ngày,
lâu năm, lâu kiếp cũng sẽ đếm hết; nói “không có bắt
đầu”là vô số, vô số thì chẳng thể đếm, nên nói vô
sanh.
Nay
chúng ta nói Phật giáng sinh, nhưng giáo lý của Phật là vô
sanh, nên người chứng quả gọi là ngộ pháp vô sanh, tức
được tự chứng phần rồi chứng tỏ chẳng có sự sanh khởi.
Do đó, nói về số kiếp bắt đầu ấy chỉ là phương tiện
mà thôi.
Trong
lịch sử Thiền tông, có một vị Tăng hỏi Mã Tổ:
- Sao
ông nói tức tâm tức Phật?
- Tại
muốn gạt con nít nín khóc.
- Sau
khi nín thế nào?
- Chẳng
phải tâm chẳng phải Phật.
Cho
nên, tất cả lời Phật lời Tổ cũng chỉ là phương tiện
thôi.
Hỏi:
Phương pháp chiếu soi và hằng sống với bản giác của mình,
đó có phải là bước đường từ phàm phu đến các đẳng
vị Bồ tát?
Đáp:
Bây giờ nói sống với bản giác của mình; bản giác của
mình đâu có mất? Ai ai cũng sống với bản giác, nếu không
có bản giác thì chẳng thể sống. Dù không có tu cũng sống
với bản giác, cái bản giác đó vẫn y nguyên. Bản giác tức
Phật tánh, do tu mới dứt các tập khí phiền não, dứt tri
kiến rồi bản giác mới hiện ra, nay dù chưa hiện nhưng không
mất. Do đó, nói “sống với bản giác”ấy là thừa.
Hỏi:
Con đọc trong Kinh Dược Sư, nói Đức Dược Sư Lưu Ly Quang
Như Lai chỉ đọc một câu thần chú là chúng sanh hết bệnh
khổ, nghĩa đó như thế nào? Xin Sư phụ giảng thuyết cho
con được rõ.
Đáp:
Kinh Dược Sư thuộc kinh bất liễu nghĩa, theo cách tu nhơn
thiên thừa, tức tạm thời chẳng thể tu đến giải thoát,
chỉ xây dựng nền tảng để sau này tiến lên con đường
giải thoát.
Hiện
nay, pháp Tịnh độ được hoằng dương nơi thế gian có ba
thứ, phổ biến nhất là Di Đà Tịnh độ, cũng gọi là Tây
phương Tịnh độ; Tịnh độ của Dược Sư Lưu Ly Quang Như
Lai gọi là
Dược
sư Tịnh Độ, cũng gọi là Đông phương Tịnh độ. Ngoài
ra còn có Đâu Suất Tịnh độ của Bồ tát Di Lặc.
Phương
pháp tu theo Tây phương Tịnh độ đối với phước báo của
thế gian đều buông bỏ, tu theo Dược sư Tịnh độ còn cầu
phước báo thế gian, vẫn còn ở trong luân hồi, nhưng thích
hợp với tư tưởng của người đời. Như hiện nay đa số
Phật tử đến chùa là cầu phước báo, ít có cầu tu giải
thoát.
Về
Đâu Suất Tịnh độ của Bồ tát Di Lặc: Bồ tát Di Lặc
hiện đang ở Nội viện cõi Trời Đâu Suất, trong Nội viện
là những người tu giải thoát, còn Ngoại viện là của cõi
Trời. Người được sanh vào Nội viện, đợi khi Bồ tát
Di Lặc giáng sinh nơi cõi Ta bà này nối tiếp Phật pháp của
Phật Thích Ca, những vị này sẽ xuống để trợ giúp Phật
Di Lặc hoằng dương Phật pháp.
Người
cầu sanh nơi Đâu suất Tịnh độ thường là những vị pháp
sư giảng kinh thuyết pháp có trí huệ cao, người tu Dược
sư Tịnh độ phần nhiều là người chỉ ham đắm phước
báo, không có trí huệ, nhưng Đức Phật cũng đặt ra phương
tiện để họ cầu cho đúng, sau này nhờ phước báo đó gặp
được thiện tri thức rồi hướng dẫn tu theo con đường
giải thoát.
Hỏi:
Trong kinh Dược Sư có bảo chưng bốn mươi chín ngọn đèn,
vậy phải chưng như thế nào?
Đáp:
Ấy chỉ là hình thức nghi lễ để cho người ta cầu phước
báo; phải làm việc thiện để giúp đỡ cho người khác,
sau này người khác trả ơn nên được phước báo. Nói ngọn
đèn chỉ tượng trưng cho niềm tin, nếu bày đèn ra để cúng
sao thì việc đó là mê tín, chẳng thuộc pháp môn Dược Sư
Tịnh độ.
Hỏi:
Có một vị Sa-di ra đời nhưng sợ thiếu nợ thí chủ, rồi
đem tiền đến chùa đã ở trước kia để cúng dường, như
vậy có hết thiếu nợ không?
Đáp:
Cúng dường thì được phước báo, còn nợ là phải trả
riêng, chứ nhân quả chẳng thể bù trừ được. Tạo nghiệp
thiện được thiện quả, gây ác nghiệp phải chịu ác quả,
hai cái chẳng thể bù trừ, nhưng mình tu thì có thể sửa
lại được.
Tu
đến tâm lực mạnh hơn lúc tạo nghiệp ác đó thì sửa đổi
được. Kỳ thực tâm lực của mọi chúng sanh đều bằng
nhau, do bị che khuất nên nhờ sự tu mới hiện ra. Ví như
tâm lực lúc tạo nghiệp ác chỉ có một độ, nay nhờ sự
tu khiến tâm lực lên đến mười độ, thì quả báo của
tâm lực lúc mười độ sẽ đến trước, điều đó cũng
như sự thiếu nợ nơi thế gian, hễ ai có thế lực mạnh
sẽ được trả trước, thế lực kém thì trả sau, nên nhân
yếu nơi một độ được kéo về sau.
Nếu
như tu đến tâm lực mười độ rồi ngưng không tu tiếp thì
quả báo của mười độ trả hết đến chín độ, rồi tám
độ… dần dần quả báo của một độ cũng sẽ đến. Nếu
chúng ta không ngừng tu hành và tiến mãi đến hai mươi độ,
ba mươi độ,,, đến khi kiến tánh thành Phật, thành Phật
rồi ác nhân vẫn còn, nhưng đã thành Phật là tự giác giác
tha, độ tất cả chúng sanh, kể cả chủ nợ; bất cứ
chủ nợ mạng, chủ nợ thịt đều được ưu tiên độ trước,
thì lúc đó nghiệp nhân mới hết. Điều đó phải tự mình
sửa, chứ dùng tiền tài là không thể thay thế.