[18] 03/06/95–09/06/95
tại Chùa Từ Ân, Quận 11
Lượm
của đánh rơi, có tội không?
Bát
nhã Tâm Kinh
Cư
sĩ tại gia có được làm lễ qui y, truyền tam qui ngũ giới
không?
Tam
tạng mười hai phần giáo
Tứ
liệu giản
Nhục
thân & Pháp thân
Tu
sĩ tùy thuận tình cảm thế gian, tạo tội địa ngục
Giới
luật là hàng rào ngăn chặn
Sao
Ma Đăng Già nhiếp được A Nan?
Thế
nào công phu ít phí sức?
Ngay
sao khi thọ giới Sa di, có thể thọ luôn giới Bồ Tát?
Cư
sĩ có thể thọ giới Bồ tát xuất gia không?
Thế
nào “Thân y nghĩa lập, độ y thể luận”?
Ở
Tòng lâm, mọi người đều làm chủ
Làm
ruộng xịt thuốc, nhân quả thế nàỏ
Tu
sĩ lãnh con nuôi, nhân quả thế nàỏ
Suy
nghĩ cái chẳng thể suy nghĩ
Người
biết “Thật tướng vô tướng” đó là aỉ
Hỏi:
Chúng con đi đường, gặp tiền của người khác đánh rơi
mà lượm lên, thì có phạm giới trộm cắp không?
Đáp:
Tiền của người khác là có chủ, hễ lấy là trộm cắp.
Hỏi:
Nếu con không lượm thì người khác cũng lượm !
Đáp:
Người khác lượm người khác phạm, mình lượm là mình phạm.
Hỏi:
Nếu con lượm rồi đem vào chùa cúng có được không?
Đáp:
Đâu phải của mình mà đem cúng! Phải đem đến cơ quan chính
quyền, hễ ai làm mất sẽ đến xin lại. Chỉ khi nào người
chủ muốn cúng dường thì nên, chứ tự mình đoạt ý của
người khác đâu được.
Hỏi:
Thế nào là Bát Nhã Tâm Kinh? Thế nào là “Hành thâm Bát
nhã Ba la mật đa thời”?
Đáp:
Kinh này hiển bày tâm linh nên gọi Tâm Kinh. Bát nhã là hiển
bày sự dụng của tâm linh, thế gian gọi lá trí huệ. Trí
huệ của bộ não phải qua tác ý mới sử dụng, còn Bát nhã
khỏi cần tác ý, trí huệ của bộ não có hạn chế, Bát
nhã khắp không gian thời gian mà chẳng bị không gian, thời
gian, số lượng hạn chế. Bây giờ chúng ta chưa chứng quả,
không có tu, do nghiệp nhân được đầu thai thành con người,
có trí huệ của bộ não, nếu chúng ta tu đến một mức độ
nào thì hiện được sức dụng Bát nhã, đó không qua trí
huệ của bộ não, tức chẳng qua tác ý, gọi là Bát nhã.
“Hành
thâm Bát nhã Ba-la-mật đa thời” là thực hành cái dụng
của tâm linh. Bởi chẳng có hạn chế nên gọi là “Thâm,”
chữ thâm này chẳng phải đối với cạn mà nói sâu, nếu
dịch thành “đi sâu vào Bát nhã”là sai. Bát nhã nếu có
sâu cạn tức còn số lượng, còn hạn chế. Ma ha Bát nhã:
Ma ha là lớn, nhưng chẳng phải đối với nhỏ mà nói lớn,
cũng như Kim cang Bát nhã; kim cang là cứng, nhưng chẳng phải
đối với mềm mà nói cứng v.v… đều là siêu việt số
lượng, chẳng phải có tương đối.
Hành
thâm Bát nhã Ba-la-mật là khi dùng được Bát nhã rồi tức
đến bờ bên kia. Nay chúng ta ở bờ bên đây có khổ, có
phiền não, đến bờ bên kia là giải thoát, ấy là nhờ sức
dụng của Bát nhã, tự nhiên khiến ngũ uẩn đều không. Tất
cả ngã chấp đều do chấp thật ngũ uẩn là ta; đến
lúc đó ngã chấp đã sạch, thức thứ sáu chuyển thành Diệu
quan sát trí, sự chiếu soi đã khắp không gian thời gian thì
làm sao còn ngũ uẩn! Nên chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Cái
Không này là cái không của tâm linh, là hư không vô lượng
vô biên, khắp không gian thời gian, chứ chẳng phải không
có gì hết. Tất cả kinh điển của Phật đều là hiển bày
tâm linh. (Sư phụ giảng về cái Không trống rỗng, lược
qua).
Hỏi:
Cư sĩ tại gia có được quyền làm lễ qui y, truyền tam qui
ngũ giới cho Phật tử không?
Đáp:
Cư sĩ tại gia đâu có giới để truyền? Người truyền giới
là những vị đã thọ giới Cụ túc, tức đã đầy đủ giới
rồi mới có giới để truyền, cư sĩ chỉ có ngũ giới thì
làm sao truyền?
Hỏi:
Một số Phật tử nói rằng họ qui y Phật chứ đâu phải
qui y người truyền giới đó?
Đáp:
Qui y Phật nào? Tượng Phật ư? Tượng Phật biết làm lễ
qui y không?
Hỏi:
Có một ông cư sĩ ở Ngã sáu làm lễ truyền giới cho Phật
tử, vì ông nói ông có thể truyền giới được.
Đáp:
Vốn chẳng có giới thì làm sao truyền ! Nói Qui y là qui y
Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng, chẳng thể tách rời. Có Phật
Bảo, có Pháp Bảo, nếu không có Tăng Bảo thì Phật pháp
cũng tiêu diệt nơi thế gian, vì đâu có ai truyền ! Truyền
là nhờ Tăng Bảo, nay cho rằng khỏi cần nhờ Tăng Bảo, thế
thì hãy nói với Phật Thích Ca vậy!
Hỏi:
Con là Phật tử, nếu cúng dường không đúng chánh pháp có
nhân quả không?
Đáp:
Nếu theo tà ma ngoại đạo, như Kinh Lăng Nghiêm nói:”Thầy
xuống địa ngục, trò cũng xuống theo!”
Hỏi:
Thế nào là Tam tạng mười hai phần giáo?
Đáp:
Tam tạng gồm Kinh, Luật, Luận: Tất cả kinh điển do Phật
thuyết là Kinh tạng; tất cả giới luật do Phật chế
định là Luật tạng; Tổ sư đời sau muốn sáng tỏ nghĩa
kinh, rồi lập ra các luận, gọi là Luận tạng. Nên người
thông suốt kinh, luật, luận, gọi là Tam tạng pháp sư.
Mười
hai phần giáo chẳng phải đem giáo lý chia thành mười hai
phần, mà là văn chương diễn tả giáo lý đó gồm mươi hai
thứ như: Tụng, kệ, dài, ngắn v.v… tức dùng mười hai loại
hình thức văn chương diễn tả Phật pháp.
Hỏi:
Có một vị thầy bảo Phật tử rằng:”Muốn học thiền
mà chưa có phước phải bị ma nhập.” Vậy phải đợi khi
nào có phước rồi mới tu thiền được, phải không?
Đáp:
Thầy đó làm sao biết người ta có phước hay không? Thầy
đó dùng sự bói toán hay có thần thông như các vị A-la-hán
quán được tám muôn kiếp trước?
-
Dạ, con không biết, mà con nghe người ta nói thầy đó nổi
tiếng lắm !
-
Phật pháp là y pháp bất y nhơn, nay có nhiều người nổi
tiếng nhưng chẳng biết Phật pháp chút nào.
Hỏi:
Thế nào là Tứ liệu giản của ngài Lâm Tế?
Đáp:
Ấy là cơ xảo của ngài, nói “Đoạt pháp chẳng đoạt nhơn,
đoạt nhơn chẳng đoạt pháp, nhơn pháp đều đoạt, nhơn
pháp đều chẳng đoạt.” Đó tùy theo căn cơ: Người căn
cơ kém hay chấp pháp thì phá chấp cho nhẹ, nên đoạt pháp
chẳng đoạt nhơn; người căn cơ cao hơn thì đoạt nhơn
chẳng đoạt pháp. Cao hơn nữa là nhơn pháp đều đoạt, đối
với người siêu việt tất cả căn cơ thì khỏi cần đoạt
gì cả, nhơn và pháp đều chẳng đoạt.
Hỏi:
Thế nào là Tứ thiền Bát định?
Đáp:
Gồm bốn cấp thiền ở cõi Trời Sắc giới từ Sơ thiền
đến Tứ thiền, có thiền thì có định, cộng với bốn thứ
định ở cõi Vô sắc giới, nên gọi Tứ thiền Bát định.
Xem Kinh Lăng Nghiêm sẽ giải thích kỹ hơn.
Hỏi:
Nhục thân và pháp thân có khác nhau không?
Đáp:
Nếu nói về bản thể của tâm linh thì chẳng khác, như Kinh
Pháp Bảo Đàn nói “sắc thân với pháp thân chẳng khác,”
còn theo tư tưởng chấp thật thì có khác.
Hỏi:
Trong Kinh Viên Giác nói đến cách tu Chỉ quán phải tránh bốn
bệnh tác, chỉ, nhậm, diệt; lúc đầu con không biết làm
sao tránh khỏi, sau nghe Sư phụ giảng hễ tham thiền khởi
lên nghi tình thì không rơi vào tâm phân biệt. Vậy có phải
chỉ có tham thiền khởi nghi tình là không rơi vào bốn bệnh
này?
Đáp:
Chẳng phải chỉ có bốn bệnh tác, chỉ, nhậm, diệt; không
lọt vào tứ cú, không lọt vào 62 kiến chấp, không lọt vào
bất cứ chỗ nào, tức là nghĩa vô sở trụ. Nhưng sự thật
thì lúc chưa ngộ, hễ trụ vào tác, chỉ, nhậm, diệt là
chướng ngại, còn nếu không trụ thì đó là phương tiện
để tu, là thuốc chứ chẳng phải bệnh ! Phật pháp gọi
là pháp bất định, chẳng phải có sự nhất định.
Hỏi:
Nếu tu theo pháp môn khác có rơi vào bốn bệnh kể trên không?
Đáp:
Nếu tu đúng theo tông chỉ của pháp môn đó cũng không bị
rơi vào. Tổ sư thiền có một đặc điểm là chỉ chú trọng
chữ nghi; cái nghi là nhân của ngộ, nên bất cứ thiền gì,
cuối cùng cũng phải từ nghi đến ngộ. Ví như pháp thiền
Chỉ quán, tu đến Thể-chơn-chỉ là phát nghi; cho đến pháp
môn Tịnh độ, vãng sanh cõi Cực lạc rồi Phật A Di Đà mới
dạy cách tham thiền và phát nghi rồi được ngộ.
Phật
pháp giải thoát cần sự ngộ, chúng ta học Phật là muốn
học pháp giác ngộ, tất cả Phật pháp đều muốn dẫn dắt
mình đến con đường giác ngộ, chứ chẳng phải muốn trừ
vọng, muốn dẹp bệnh này bệnh kia.
Hỏi:
Người đời nói tình yêu, trong đạo nói tình thương, vậy
giữa hai danh từ này có khác nhau không?
Đáp:
Tình yêu và tình thương đều là tình cảm của người đời,
còn pháp xuất thế gian nói “Hễ tình sanh thì trí cách,”
bất cứ mống lên tình cảm gì thì trí huệ bị ngăn cách
chướng ngại.
Tu
sĩ đã xuất gia, đối với tình thương của gia đình cũng
không còn; tình thương đã trở thành từ bi, tức chẳng có
TA, gọi là vô duyên từ và đồng thể bi, tức đã phá sạch
ngã chấp, chẳng còn đối đãi, khác với tình thương của
người đời.
Nói
một cách rõ hơn là thương tất cả chúng sanh đều bằng
nhau. Trong Triệu Luận nói “Đại nhơn bất nhơn,” nhơn
là tình thương, đại nhơn đã cùng khắp rồi thành ra không
có tình thương, vì đối với chúng sanh nào cũng như nhau,
chẳng còn phân biệt nữa. Còn người thế gian thì khác, đối
với anh em cha mẹ thì có nhiều tình thương, còn đối với
người khác thì không .
Nói
đến tình yêu thì Dục giới mới có, Sắc giới và Vô sắc
giới đã không có rồi.
Hỏi:
Trường hợpï có một thiếu nữ đến ôm một vị Tỳ-kheo
và nói:”Nếu thầy không yêu em thì em sẽ chết và chết
ngay tức khắc!”Xin hỏi Sư phụ nên giải quyết như thế
nào?
Đáp:
Mặc cho cô ấy chết .
Hỏi:
Vậy thì không có lòng từ bi sao?
Đáp:
Tôi đã nói từ bi khác hơn bác ái; từ bi đã không có ta
rồi mới thành từ bi; từ bi chẳng phải chỉ thương một
người, tất cả chúng sanh đều bằng nhau.
Chớ
nói chi xa, hãy ra chợ đến các hàng bán cá, những con cá
cũng sắp chết, chẳng những chết, người ta còn đem về
làm thịt kìa ! Nó với cô thiếu nữ đâu có khác, tại sao
không đi cứu !
Bổn
phận của người Tu sĩ thọ cúng dường của mười phương,
nếu bỏ bổn phận tu hành mà đi làm việc từ thiện; người
ta thiếu áo cho áo mặc, đói cho ăn, bệnh cho thuốc…cũng
còn bị thiện nhân chiêu ác quả, trong Giới luật ghi rõ mười
sáu điều. Tại sao? Vì chữ Phật là giác ngộ, phải tự
giác giác tha, nay mình là Tu sĩ Phật giáo, nếu bỏ bổn
phận tu thì làm sao tự giác rồi giác tha? Những việc làm
từ thiện đó được mọi người ca ngợi, đem lại nhiều
tiếng tăm, là tăng thêm ngã chấp, còn tu hành là phá ngã
chấp. Những việc làm trên so với việc của cô thiếu nữ
đó ra sao? Nếu bỏ hết những sự cúng dường của mười
phương trước đó mà chiều theo cô thiếu nữ, ấy là phá
giới, là tội Ba-la-di, đọa địa ngục chín triệu năm xong,
sau khi ra khỏi, phải đầu thai thành trâu ngựa để trả nợ
của thí chủ !
Hỏi:
Từ khi xuất gia đến giờ, có hai điều khiến con cảm thấy
buồn: Một là số huynh đệ sau một thời gian tu vì không
giữ được giới dâm phải ra đời; hai là có những vị tu
đến bậc Thượng tọa, Đại đức, trong thời gian tu rất
tinh tấn, sau đó cũng ra đời vì vấn đề quan hệ nam nữ…
Đáp:
Giới luật của Đức Phật chế ra rất tỉ mỉ: Tu sĩ mới
xuất gia phải thọ mười giới của Sa-di, Sa-di ni, nhưng mười
giới này Tu sĩ thời nay không có giữ. Như thầy đã thọ
giới Sa-di rồi, thầy có giữ không?
-
Bạch Sư phụ, con có thọ, nhưng…
-
Không có giữ, phải không? Trong mười giới của Sa-di, năm
giới trước thì cư sĩ khi thọ ngũ giới đã phải giữ. Giới
thứ ba là dâm giới, cư sĩ thì cấm tà dâm, không cấm chánh
dâm, còn Tu sĩ phải cấm cả hai.
Tại
sao Đức Phật phải chế ra năm giới kế tiếp? Ví dụ giới
không dùng các loại hương thơm, không ngồi giường cao rộng,
không đi xem hát bóng v.v…Năm giới kế tiếp này nhiều người
tưởng là không cần thiết, mà chẳng biết đó là dây kẽm
gai để rào chắn lại, ngăn chặn không cho vi phạm giới dâm.
Nhưng thời nay không ai giữ, xem như không có gì, Sa-di thọ
giới cứ thọ, mà giữ thì không giữ.
Theo
giới luật, ngay sau khi xuất gia, thời gian chậm nhất không
quá một ngày, Sa-di phải thọ mười giới, nhưng có nhiều
người không thọ mười giới, kễ cả ngũ giới cũng chưa
! Có người thọ rồi lại không giữ, vì không giữ nên năm
lớp dây kẽm gai của Đức Phật chế ra coi như chẳng tác
dụng, nên mới dễ vi phạm giới dâm.
Trong
các vật dụng hàng ngày như kem đánh răng cũng có mùi thơm,
xà bông cũng có dầu thơm… từ khi xuất gia đến nay, tôi
không bao giờ dùng những loại kem đánh răng có mùi thơm và
xà bông thơm.
Hỏi:
Cũng có nhiều trường hợp nguời nữ dùng thủ đoạn như
đem những chất dơ bẩn pha lẫn trong thức ăn để mê hoặc
người nam, như vậy làm sao cứu vãng?
Đáp:
Tà thường chẳng thắng nỗi chánh; do trong cái chánh đã có
tà rồi thì tà mới nhập được. Như trường hợp A Nan bị
Ma Đăng Già mê hoặc nhiếp vào nhà dâm trong Kinh Lăng Nghiêm:
Tại
sao Ma Đăng Già có thể dùng tà chú nhiếp được A Nan? Vì
lúc đó trong lòng A Nan đang nghĩ đến vấn đề dùng pháp
bình đẳng để khất thực, cho rằng Tu Bồ Đề và Ma-ha Ca-díếp,
người thì chuyên khất thực nhà giàu, người chuyên khất
thực nhà nghèo là không bình đẳng. Do đó muốn hành theo
pháp bình đẳng của Phật, không phân chia giàu nghèo, hầu
tránh cho Phật pháp không bị người đời phỉ báng.
Nghĩ
như thế là chuyện tốt, nhưng đang lúc nghĩ thì bị Ma Đăng
Già dùng tà chú nhiếp vào nhà dâm. Tại sao? Như ngài Lục
Tổ nói:”Vô niệm niệm tức chánh, hữu niệm niệm thành
tà,” do hữu niệm nên liền bị tà nhiếp. Suy nghĩ việc
chính đáng còn như thế, huống là những suy nghĩ bậy bạ
kia!
Nếu
là người chơn tu, như tham thiền là dẹp hết tất cả suy
nghĩ, không cho dùng tâm suy nghĩ.
Hỏi:
Thuở xưa A Nan bị nạn Ma Đăng Già được nhờ thần chú
của Phật để thoát nạn, còn hàng chư Tăng bây giờ nếu
bị nạn thì sao?
Đáp:
Câu chú đâu có sức lực? Sức dụng ở tại nơi tâm người
dùng chú, nếu câu chú có sức lực thì ai niệm cũng có công
hiệu sao !
Vấn
đề mà thầy đưa ra về tình thương nam nữ đó, Đức Phật
sở dĩ chế ra giới luật là giữ gìn nghiêm ngặt cẩn thận
cho hàng Tu sĩ, như mười giới kể trên, đều là hàng rào
ngăn chặn vấn đề phạm giới. Lại nữa, giữa chùa Tăng
và chùa Ni, không cho cách xa lắm nhưng cũng không cho ở gần,
khoảng cách chừng nửa cây số, để mỗi nửa tháng Tỳ-kheo-ni
phải mời Tỳ-kheo Tăng đến giảng dạy đúng theo pháp Bát
kỉnh.
Ngoài
ra, trong giới luật qui định:
-
Tỳ-kheo được xuất gia bảy lần, Tỳ-kheo-ni chỉ được
một lần.
-
Về tội Ba-la-di: Tỳ-kheo chỉ có bốn tội, trong khi Tỳ-kheo-ni
đến tám tội.
-
Nam từ Sa-di lên thẳng Tỳ-kheo, còn Sa-di ni phải qua Thức
xoa hai năm rồi mới lên Tỳ-kheo-ni.
Cho
nên, Phật Thích Ca đã cho phòng ngừa trước, chỉ vì người
đời sau không chịu hành theo giới luật, nay người thọ giới
chẳng tự trách mình không giữ giới, lại trách do người
khác cám dỗ sao được ! Như thầy nói về trường hợp
cô thiếu nữ kia, cô ấy là người ngoài đời, chẳng biết
giới luật, còn mình là Tu sĩ, đã thọ giới thì phải giữ
giới, đâu thể nói “Nếu để cô đó chết là không từ
bi !”
Vấn
đề này trong xã hội chúng ta hiện nay ngày càng nghiêm trọng.
Tại sao mấy cô gái không tìm bạn trai ngoài đời mà vào
chùa tìm những vị Tu sĩ? Vì khi tiếp cận Tu sĩ theo cách
cúng dường của Phật tử là điều kiện dễ dàng thân cận
và công khai, lại chẳng mất lòng tự ái như theo đuổi một
người con trai ở ngoài đời. Nhưng vì Đức Phật đã biết
trước, đã phòng ngừa trước rồi, nếu ai nấy đều giữ
theo giới của mình thì đâu có việc gì xảy ra ! Nói đi nói
lại, phải tự trách mình, chứ đừng trách người khác.
Chẳng
những Tu sĩ, mà tất cả mọi người đều phải giữ bổn
phận của mình; cha mẹ có bổn phận cha mẹ, con cái,
vợ chồng v.v… mỗi mỗi đều phải có bổn phận. Người
xuất gia thì Sa-di có bổn phận của Sa-di, Sa-di ni có bổn
phận Sa-di ni… Nếu bỏ bổn phận của mình đi làm việc
khác, mặc dù cao quí hơn, được người ta tán thán hơn, vẫn
là thiện nhân chiêu ác quả, trong giới luật Đức Phật đã
qui định rất rõ.
Nay
tôi khuyên mọi người phải hết lòng tự mình lo tu, đã là
vai trò nào thì làm đúng bổn phận vai trò đó. Mình không
tự lo cho mình, lỗi của chính mình không kiểm soát, cứ nhìn
thấy lỗi người khác, như Lục Tổ nói:”Hễ thấy lỗi
của người, trở thành lỗi của mình,” Khi xưa lúc
ngài Lai Quả mới đến Thiền đường Chùa Cao Mân cũng vậy,
cứ nhìn thấy lỗi của người này người kia, sau đó tỉnh
giác rằng:”Mình đến đây là muốn tu giải thoát, đâu phải
đến để biết lỗi của người
khác !” Cho nên tu bốn năm là kiến tánh.
Theo
giới luật, Thầy bổn sư phải có trách nhiệm dạy đệ tử
xuất gia, và Tỳ-kheo phải ở bên bổn sư mười năm, Tỳ-kheo-ni
là mười hai năm mới được rời bổn sư. Nay nhiều người
làm bổn sư mà chẳng dạy đệ tử, lại còn bênh vực đệ
tử mình nữa!
Bây
giờ chúng ta tham thiền, chỉ cần giữ được nghi tình của
mình, ngoài ra không biết tới tất cả, đến chừng nào ngộ
rồi tự biết.
Hỏi:
Thế nào là công phu ít phí sức và thế nào là phí sức?
Đáp:
Phí sức là cố gắng tập trung tinh thần, còn ít phí sức
chỉ là kéo dài nghi tình hỏi cho miên mật thôi, khỏi cần
cố gắng, khỏi cần tập trung tinh thần.
Hỏi:
Thế nào là Tứ hoằng thệ nguyện? Ví như nói “chúng sanh
vô biên thệ nguyện độ”là chúng sanh nào? Làm sao độ?
Làm thế nào đoạn dứt phiền não vô tận?
Đáp:
Tôi thường nói “Tất cả do tâm tạo,” chúng sanh cũng do
tâm tạo, chúng sanh chính là tâm của mình. Nói “độ”là
độ chúng sanh của tâm mình, như tâm tham, tâm sân, tâm si…
đều là chúng sanh. Hễ nói ra thì có số lượng, dù vô lượng
vô biên, nhưng cũng bao gồm trong tâm.
Chữ
Phật là giác ngộ, muốn giác tha thì trước tiên phải tự
ngộ, gọi là chúng sanh vô biên thệ nguyện độ. Phiền não
vô tận cũng là do tâm tạo, pháp môn vô lượng thệ nguyện
học cũng là tâm. Nói đến vô lượng, như nay học pháp môn
Tổ sư thiền đã bao gồm tất cả rồi, chẳng cần học theo
từng pháp môn, vì nguồn gốc của nó là tâm. Phật đạo
vô thượng thệ nguyện thành cũng là tâm, khi kiến tánh thành
Phật thì bản tâm tự hiện, mặc dù nói đủ thứ danh từ,
nào là Vô thỉ vô sanh, Bồ đề, Niết bàn, giải thoát v.v…
nhưng cũng là tâm, ý vốn chẳng khác, nên nói “Tự tánh
bất nhị.”
Hỏi:
Trong một giới đàn, có một lần sau khi thọ giới Sa-di xong,
các vị Sa-di xin thọ luôn giới Bồ tát thì Ban Lãnh Đạo
nói:”Vị nào thọ giới sa-di xong liền thọ giới Bồ tát
thì sau này không được thọ giới Tỳ-kheo,” vậy có đúng
không?
Đáp:
Không phải vậy, tại những vị ấy chưa thông suốt giới
luật . Trong giới luật có tiệm giới và đốn giới: Tiệm
là phải tiến lên theo từng lớp, như giới Thanh Văn, phải
thọ ngũ giới rồi mới được thọ mười giới, rồi mới
đến 250 giới của Tỳ-kheo, ấy là cho phái nam; còn phái nữ
thọ mười giới rồi còn phải thọ Thức xoa xong mới được
thọ giới Tỳ-kheo-ni, gọi là tiệm thứ.
Còn
giới Bồ tát và Bát quan trai gọi là đốn giới, tức khỏi
cần cấp bậc, chưa qui y Tam Bảo cũng thọ giới Bồ tát được,
vì trong lúc thọ giới có làm lễ qui y, cư sĩ thọ ngũ giới
xong là có thể thọ giới Bồ tát tại gia, thọ giới Bát
quan trai cũng vậy. Người chưa thọ ngũ giới vẫn được
thọ giới Bát quan trai, chứ chẳng cần phải theo thứ lớp.
Hỏi:
Cư sĩ có thể thọ giới Bồ tát xuất gia không?
Đáp:
Cư sĩ hễ thọ giới Bồ tát xuất gia phải hành theo hạnh
xuất gia, ví như giới dâm: Cư sĩ chỉ cấm tà dâm, còn xuất
gia là chánh dâm cũng cấm, nếu chịu thực hành giữ giới
xuất gia cứ thọ. Giới Bồ tát là không hạn chế, còn các
giới khác phải theo thứ lớp.
Hỏi:
Trong Lâm Tế Ngữ Lục có câu:”Thân y nghĩa lập, độ y thể
luận, do đó pháp tánh thân và pháp tánh độ đều là quang
ảnh của tự tâm.” Vậy thế nào là thân y nghĩa lập?
Đáp:
Nói đến “nghĩa,” trong pháp tứ y có “Y nghĩa bất y ngữ”;
chẳng y theo lời nói mà y theo nghĩa, nghĩa đúng thì theo, hễ
lời nói đúng nhưng chẳng đúng với nghĩa cũng không theo.
Nói
“Nghĩa”là nghĩa gì? Nghĩa cao nhất là thắng nghĩa, thắng
nghĩa là muốn đạt đến cuối cùng, kiến tánh thành Phật,
chứ chẳng phải nghĩa của người đời, mà là siêu việt
cái nghĩa của người đời.
Nếu
nói theo người đời thì thấy được phải có tướng, ví
như đây là tướng của cái tách, tướng của cái bình …
cái nghĩa Không của cái tách là nó đựng được sữa, cà
phê, nhưng chẳng có khả năng giữ ấm, còn cái nghĩa Không
của cái bình thì được giữ ấm, nó khác hơn nghĩa Không
của cái tách, khác hơn nghĩa Không của căn nhà… Tất cả
đều có cái nghĩa Không khác nhau, nhưng có chung một nguồn
gốc là cái nghĩa Không sẵn sàng ấy lại chẳng có nghĩa
lý gì !
Đức
Phật vì muốn thuyết pháp độ chúng sanh cho dễ hiểu, nên
phân biệt tướng và tánh: Tướng với tánh hơi khác; tướng
là hình thức, tánh là cái dụng. Lại nữa, đem cái tướng
chia thành ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả để mọi người
dễ tu: Phá được ngã tướng rồi đến nhơn tướng, phá
hết nhơn tướng tiến đến chúng sanh tướng, ba thứ ngã,
nhơn, chúng sanh tướng đều nằm trong thời gian, chấp vào
thời gian là còn thọ giả tướng, ấy là tứ tướng của
phàm phu.
Tứ
tướng của bậc thánh: Phá được ngã tướng là năng chứng
sở chứng và có thân ngũ uẩn để chứng đều chẳng thật,
tiến thêm một bước là có năng ngộ sở ngộ, ấy là nhơn
tướng. Liễu tri năng chứng sở chứng, năng ngộ sở ngộ
đều không đúng, nhưng có cái tâm liễu tri, gọi là chúng
sanh tướng. Rồi tiến thêm một bước nữa là chứng quả
Niết bàn. Phá được ba tướng ngã, nhơn, chúng sanh, nhưng
chấp tướng tịch diệt Niết bàn, là thọ giả tướng. Tiểu
thừa chấp đó là thật, trụ nơi Niết bàn, tức mạng căn
chưa dứt, Thiền tông thì phải cắt đứt mạng căn đó. Chứng
đến cuối cùng chẳng phân biệt tánh tướng nữa, lại đặt
cho tên gọi là “Thật tướng,” cho nên nghĩa cùng tột là
Thật tướng.
Do
bốn thứ tướng kia đều chẳng thật, mà thật tướng vô
tướng, chẳng có nghĩa lại lập ra đủ thứ nghĩa, nên nói
“Thân y nghĩa lập.” Nếu chẳng có nghĩa thì chẳng thể
lập, cũng như tất cả nghĩa Không của cái bình, cái tách,
căn nhà v.v… đều là từ nghĩa Không của hư không chẳng
có nghĩa mới đặt ra được, tức hư không là thật tướng.
Do phàm phu ham chấp tướng, chẳng có tướng thì không chịu,
nên hễ nghe nói “cắt đứt mạng căn”là hoảng sợ.
Hỏi:
Vậy thế nào là “độ y thể luận”?
Đáp:
Thể là bản thể. Nay chỉ biết tâm linh mình gọi là Như
Lai, Bồ đề, Niềt bàn, Phật tánh… nhưng đối với bản
thể thì không biết. Bản thể là hư không, là trống rỗng,
là tâm linh của mình, tất cả pháp đều y thể này mà lập,
tức hiển bày sự dụng. Như Trung Quán Luận nói:”Do có nghĩa
Không nên thành tựu tất cả pháp.” Ví như hiện nay thầy
hỏi pháp tôi phải nhờ cái Không sẵn sàng này, nếu không
thì thầy cũng chẳng thể hỏi và tôi cũng chẳng thể trả
lời.
Hỏi:
Trong chùa, Ban chức sự bảo đại chúng ra làm ruộng, lở
cuốc đất phạm phải giới sát sanh thì chúng con phải chịu
nhân quả hay người điều hành phải chịu?
Đáp:
Chúng ở trong Tòng lâm, gọi là phổ thỉnh thì người nào
cũng phải đi làm, chẳng phải trách nhiệm của riêng ai. Vì
Mọi người đều làm chủ Tòng lâm, chứ không phải chỉ
có Trụ trì mới làm chủ: ở đậu một ngày làm chủ một
ngày, ở mười ngày làm chủ mười ngày, ở một năm làm
chủ một năm, khi nào đi thì thôi. Cho nên, quyền lợi và
nghĩa vụ như nhau, chẳng phải như ở trong gia đình, người
gia chủ phải chịu trách nhiệm.
Hỏi:
Khi làm ruộng gieo mạ phải xịt thuốc trừ sâu, vậy nhân
quả thế nào?
Đáp:
Cái gì cũng có nhân quả, người đã thọ giới Bồ tát phải
chọn đất và nước trong sạch, chẳng sâu bọ mới trồng
trọt. Hễ tu đến chứng được sơ quả Tu đà hoàn thì sâu
bọ tự lìa, nếu không thì khó tránh khỏi vấn đề sát sanh.
Muốn giải quyết triệt để phải kiến tánh mới được,
nay chưa kiến tánh, dùng cái lý mình hiểu biết chẳng thể
giải quyết vấn đề. Tại sao? Cũng như con vi trùng bệnh,
khi chúng ta bệnh là do vi trùng xâm nhập cơ thể, đi khám
Bác sĩ phải dùng thuốc diệt trùng, như tôi thường khuyên
người ta đừng sát sanh, nhưng đâu thể khuyên người ta không
đi khám bệnh ! Vi trùng bệnh cũng là chúng sanh vậy ! Cho nên,
chỉ là tùy duyên mà làm thôi.
Tất
cả đều là việc trong chiêm bao, bất kể nhắm mắt chiêm
bao hay mở mắt chiêm bao. Muốn giải quyết triệt để là
phải rời khỏi chiêm bao, trong chiêm bao thức tỉnh mới lìa
khỏi nhân quả, nếu không vẫn phải chịu nhân quả trong
chiêm bao.
Do
có sanh tử mới có việc này việc kia, tất cả đều do sanh
tử mới có, nên chư Phật chư Tổ nói “Sanh tử là việc
lớn,” bảo chúng ta phải giải quyết vấn đề sanh
tử. Nếu chưa ra ngoài sanh tử thì chẳng thể tránh khỏi
được.
Ăn
cục thịt trả cục thịt, ấy là do mình có tác ý tạo, hoặc
giết hại theo sự giận tứøc như khi bị con muỗi chích,
bị con kiến bu ăn thực phẩm, bị mối mọt làm hư hoại
đồ vật …thì nhân quả nặng hơn,. Còn những việc làm
không tác ý tạo, không khởi tâm giết hại thì nhân quả
nhẹ, như khi bệnh rồi phải đi thầy thuốc khám chữa bệnh
cho mau khỏi. Mặc dù có ý tạo tác như vậy, nhưng có thể
tránh được, ngoài ra còn có những trường hợp mình chẳng
thể tránh, cho nên phải giải quyết nguồn gốc sanh tử.
Như
pháp môn tham Tổ sư thiền là muốn cho mọi người đạt đến
giải quyết vấn đề nguồn gốc.
Hỏi:
Con làm nghề bán cơm rượu, có một số Phật tử bảo con
ngưng bán, chẳng thà họ gởi gạo, rau cải cho con sống qua
ngày, nếu cứ bán tiếp sau khi chết sẽ có tội, phải vậy
không? Kính xin Sư phụ từ bi khai thị/
Đáp:
Tôi đã nói ăn cơm rượu không phạm giới cấm uống rượu,
còn bán cứ việc bán, vì người ta không hiểu nên nói vậy.
Hỏi:
Từ khi xuất gia, con làm việc thì nhiều, tu thì ít, đến
khi con bị bệnh, xin thầy con cho đi tìm thiền đường chuyên
tu và trị bệnh, thầy con không cho, bảo con ở lại vừa làm
vừa tu. Nhưng con chẳng thể vừa làm vừa tu được, nay con
định đi tìm một nơi để chuyên tu, nếu không thì mang nợ
thí chủ, vậy có phản thầy không?
Đáp:
Thật ra trong cuộc sống hàng ngày đều là tu, tôi đã nói:
Ăn cơm cứ ăn cơm là tu, mặc áo cứ mặc áo, là tu… tất
cả đều là tu; chứ chẳng phải đi đến Thiền đường hay
một chỗ nào mới là tu. Pháp môn Tổ Sư thiền là tối thượng
thừa, chẳng bị không gian, thời gian, số lượng hạn chế,
nếu giữ được nghi tình thì tâm không biết, chỗ nào cũng
như chỗ nấy, chỉ tại tâm mình thôi.
Hỏi:
Vì chúng con mới tập tu, nếu mệt quá thì khi lên chánh điện
chỉ ngồi ngủ gục thôi chớ tu không nỗi !
Đáp:
Tôi đã giảng đứa bé ba tuổi chẳng biết gì cả cũng tham
thiền được, huống chi mình là người lớn .
Hỏi:
Người lớn vừa làm vừa tu không được, làm mệt quá rớt
hết !
Đáp:
Thế thì cứ ngồi đó ngó lên trời đợi rớt xuống ăn vậy
!
Hỏi:
Con là người xuất gia, có nhận một đứa bé nuôi từ thuở
nhỏ, con nuôi bé bằng tiền của tín thí, lớn lên cho đi
ăn học mà nó không có tu, chỉ lo việc ngoài đời. Vậy nuôi
như thế có nhân quả không?
Đáp:
Có nhân quả. Tệ hại này bây giờ nhiều lắm, nhiều Ni cô
ham làm mẹ, đó là đặc tính của người nữ, như con gà
mái ấp trứng. Đã xuất gia là không có nhà, lại nuôi thêm
đứa bé, nhiều người nuôi một đứa chưa đủ, nuôi cả
ba bốn đứa. Mục đích nuôi để làm gì? Chỉ tăng cường
ngã chấp! Đến chừng đứa bé lớn lên, đâu biết tu, cũng
đâu có tu? Sự hao tổn của đàn na tín thí là nợ phải trả,
người nuôi phải chịu nhân quả chứ đứa bé đâu biết
gì !
Hỏi:
Lúc con hành thiền không có tham câu thoại đầu, mà chỉ là
niệm Phật và cũng không nhất định ngồi theo kiểu kiết
già, vậy có được không?
Đáp:
Niệm Phật phải theo đúng tông chỉ của Tịnh độ, Tông
chỉ của Tịnh độ là gì?
Hỏi:
Khi con ngồi, chỉ biết niệm Phật và trì chú, tâm con chẳâng
buông lung cũng chẳng nghĩ ngợi gì cả..
Đáp:
Đường lối thực hành còn không biết, làm sao tu ! Muốn thực
hành pháp nào cũng được, nhưng phải biết rõ cách thực
hành. Nếu không biết, như người mù đi đường, bị té vào
hố sâu cũng chẳng hay, té xuống hầm cầu cũng không biết.
Niệm Phật đâu cần ngồi!
Hỏi:
Nếu con không ngồi thì chẳng thể nhất tâm được.
Đáp:
Đã nói niệm Phật chẳng cần ngồi, tham thiền cũng chẳng
cần ngồi, đi, đứng, nằm, ngồi, đâu cần nhất định phải
ngồi? Tông chỉ thực hành chẳng phải do ngồi, phải biết
rõ con đường đó rồi mới đi được.
Hỏi:
Thế nào là “Suy nghĩ cái chẳng thể suy nghĩ được, chẳng
thể suy nghĩ thì suy nghĩ làm sao”? Câu này thuộc Tổ sư
thiền hay Mặc chiếu?
Đáp:
Ấy là dùng lời nói để hình dung, do bộ óc chúng ta từ
lâu đời ham suy nghĩ, nên chiều theo sự suy nghĩ của bộ
óc, suy nghĩ đến chỗ nguồn gốc, chỗ phát lên cái suy nghĩ
đó. Chỗ này ngài Ngưỡng Sơn ở tông Qui Ngưỡng cũng có
dạy:
Có
một học Tăng tham thiền nhưng ham suy nghĩ, ngài Ngưỡng Sơn
hỏi:
-
Sư là người gì?
Tăng
trả lời nơi quê hương đang ở.
-
Sư có nhớ nhà không?
-
Dạ có.
-
Vậy sư nhớ tất cả nhà cửa đường phố xe cộ v.v..nơi
quê hương không?
-
Dạ nhớ.
-
Trong cái tâm suy nghĩ của sư có cái đó không?
-
Dạ không có.
Vì
đó chỉ là sự suy nghĩ của tâm, còn năng suy nghĩ thì không
có. Nay ông hãy trở lại suy nghĩ cái tâm năng suy nghĩ đó,
tìm xem có gì không? Tìm mãi không thấy gì mới chấm dứt
được sự suy nghĩ và ngộ.
Một
vị trình công phu: Kính bạch Sư phụ, con có một việc
vô cùng phấn khích, biết ơn Sư phụ đã tổ chức đạo tràng
cho chúng con được dịp tu học…Con xin trình bày:
Con
bắt đầu biết đến pháp môn này cách đây mười năm. Trong
quá trình thực hành, công phu của con có lúc đắc lực, có
lúc không. Cho đến dịp này dự thất, khi con trình lên câu
tham, được Sư phụ sửa lại câu “Trước khi mẹ sanh, mặt
mũi con ra sao?”Thế là con đem hết mình tham, luôn cả lúc
về nhà.
Đến
buổi sáng thất thứ năm, khoảng chín giờ, lúc đó con chẳng
hay biết cũng chẳng khởi tưởng gì cả, bỗng dưng nghe có
tiếng trả lời “Thật tướng mà, Thật tướng vô tướng
mà ! Mặt mũi hình tướng gì !”Và con cảm thấy một sự
nhẹ nhàng như được cởi trói cho cả thân tâm. Vẫn không
tin đó là một phần giác hay cái gì đó, nên con lại tiếp
tục tham, nhưng con tham không được nữa, cứ có sự trả
lời như thế. Do đó con tự ý đổi qua câu tham “Không phải
tâm, không phải Phật, không phải vật, là cái gì?”Cũng
lại được trả lời:”Ấy là vô tướng, vô tâm
mà !”Con thử bẻ mạnh ngón tay mình để có sự tỉnh giấc
và kích thích tận xương cốt mà vẫn cảm thấy nhẹ nhàng…
Con
cũng có sự mừng mừng vui vui. Tiếp theo con lại nhớ đến
một câu”Ba thuở tìm tâm tâm chẳng thấy, dốc lòng kiếm
vọng vọng hoàn không,” con tự tra xét lại cũng chẳng thấy
có vọng tưởng nào, trong tâm hoàn toàn là một sự vắng
lặng rỗng rang.
Khi
trên đường về nhà, thấy cảnh vật bên ngoài cũng có phần
nào thay đổi, nhìn lên bầu trời thấy xa khơi mênh mông và
có một sự rung cảm nào đó…
Đến
ngày thất thứ sáu, đi vào thiền thất cũng với câu tham
cũ, con lại chợt nhận ra “Theo dòng nhận được tánh, chẳng
buồn cũng chẳng vui.”Đến buổi chiều thì con nhận thấy
không có lực tham nữa, thế là con lại có một câu:”Khi
chưa biết gì, còn đang lo tham thì mặt mũi như lo ma mẹ, biết
rồi mặt mũi cũng như lo ma mẹ.”Con cảm thấy con đường
tu tiến hãy còn xa lắm, chưa được gì đâu, đừng vội mừng.
Với
nội dung con trình bày kể trên, xin Sư phụ tra xét tâm con
và chỉ dạy cho con.
Đáp:
Tâm của ông là bị sở tri chướng; .do trước kia hiểu biết
nhiều quá, chứa đầy trong bụng. Theo ngài Lai Quả nói “Chẳng
những phải đổ ra hết, hễ còn cái bụng vẫn chưa được,
vì còn có dịp cho chứa vào, phải quăng luôn cả cái bụng,
không cho chứa nữa mới là triệt để.”
Bây
giờ tôi hỏi ông: Người biết Thật tướng đó là ai?
-
Dạ, chính là Thật tướng vô tướng.
Sư
phụ: Đã vô tướng thì ai biết vô tướng đó?
-
Con thấy như là chính cái đó nó biết chứ chẳng phải con
biết..
Sư
phụ: Đã nói là vô tướng thì lấy cái gì để biết?
-
Dạ, con chịu thua, không biết.
Sư
phụ: Cái không biết đó, bây giờ tham đi, nhìn chỗ đó đi,
cứ hỏi và nhìn ngay chỗ đó xem xem là gì, tại sao có cái
biết đó?
- Xin
Sư phụ vui lòng hỏi lại con câu hỏi đó.
- Người
biết Thật tướng vô tướng đó là ai?