[17] 15/05/95–21/05/95
tại Chùa Từ Ân, Quận 11
Thế
nào chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác?
Cảnh
giới thập thiện
Xin
xuất gia chuyên tu
Niệm
Phật tam muội
Quên
là điều tốt?
Thế
nào chơn tâm và vọng tâm?
Nhân
chi sơ, tánh bổn thiện
Văn
tự, suy nghĩ, lời nói, ba là một
Thực
tế chẳng thể thí dụ
Khi
có người thân lâm chung, bên Tổ sư thiền phải làm saỏ
Y
báo, chánh báo
Đến
chơn tham như thế nàỏ
Nhịn
ăn chẳng phải Phật pháp
Tâm
linh là chủ sinh mạng
Thế
nào trái ngược hiện nghiệp?
Ngồi
kiết già
Sát
sanh theo luật nhân quả
Tu
ở trong chúng khiến tâm lực mạnh
Ngộ
rồi đồng như chưa ngộ
Hỏi:
Thế nào là chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác?
Đáp:
Pháp môn Tổ sư thiền cần giữ nghi tình, chỗ thoại đầu
là không hiểu không biết, nếu giải thích là biết rồi,
làm sao tu? Câu “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác”là
ở trong Kinh Pháp Bảo Đàn. Ở nước Mỹ, có một cô Phật
tử xem Kinh Pháp Bảo Đàn đến chỗ này, cô ấy đem “Chẳng
nghỉ thiện, chẳng nghĩ ác, đang lúc đó thế nào là bản
lai diện mục của Thượng tọa Minh” thay vào tên mình và
hỏi mãi như vậy trong vòng một tháng, căn bệnh lâu năm của
cô chữa trị cả Đông Tây y đều không khỏi tự nhiên
được hết. Lúc đó cô ấy chưa biết tôi, sau này mới tìm
đến Thiền đường gặp tôi .
Hỏi:
Trước đây con tu theo thập thiện, nay chuyển qua Tổ sư thiền
cần tiếp tục tu thập thiện không?
Đáp:
Cảnh giới cao nhất của thập thiện là được sanh cõi Trời,
kế đó là sanh vào cõi Người và cõi A-tu-la, thuộc tam thiện
đạo. Còn thập ác nặng nhất là Địa ngục, nhẹ hơn là
Ngạ quỷ, rồi Súc sinh, thuộc tam ác đạo. Mặc dù được
sanh thiện đạo, nhưng vẫn còn ở trong luân hồi, chẳng thể
giải thoát. Muốn giải thoát phải tu một pháp môn nào, ngộ
được bản tâm rồi, gọi là kiến tánh thành Phật mới giải
thoát được.
Hỏi:
Vậy tham Tổ sư thiền có thể đưa đến nhất tâm bất loạn
không?
Đáp:
Nhất tâm bất loạn không phải mục đích của tham thiền.
Tham thiền là muốn kiến tánh thành Phật, đạt đến giải
thoát, còn nhất tâm bất loạn chưa thể đạt đến giải
thoát, chỉ là vọng tưởng không nổi lên thôi. Dẫu cho dẹp
hết tất cả vọng tưởng, cũng chỉ là vô thỉ vô minh, còn
nằm trong vô minh.
Tịnh
độ nói tu đến nhất tâm bất loạn là được vãng sanh,
nhưng nếu tu không đúng tông chỉ của Tịnh độ thì dù nhất
tâm bất loạn cũng không được vãng sanh, vì nhất tâm bất
loạn chỉ là đè nén vọng tưởng thôi. Tham thiền chỉ cần
giữ được nghi tình không biết thì những thứ kia tự động
dẹp hết.
Hỏi:
Kính bạch Sư phụ, vì công việc và đời sống khiến con
bị gián đoạn công phu, nên sáng nay con đã từ giã vợ con,
quyết lên núi để tu cho đến nơi đến chốn. Nhưng được
thầy Quảng Trọng giới thiệu con về Chùa Tam Bảo, con đã
thu dọn hành trang đi xuống đó tu và muốn xin xuất gia.
Đáp:
Ông nói đã tin Phật tánh không giảm bớt, không gián đoạn,
thì còn lo gì nữa, còn đi tìm gì nữa? Làm nghề đạp xích
lô cứ làm, đạp xích lô cũng đầy đủ Phật tánh, đâu
có gián đoạn ! Tại ông không tin, hoặc tin chưa đầy
đủ mới đi chỗ khác tìm, tính toán xuất gia. Nếu có nhân
duyên thì tự nhiên sẽ có dịp đi đến xuất gia, nếu không
cứ làm nghề cũ, đạp xích lô cũng kiến tánh thành Phật
vậy, đâu nhất thiết phải đi xuất gia hoặc đi lên núi
!
Đã
nói cuộc sống hằng ngày là sự tu, từ ăn cơm, mặc áo,
nói năng tiếp khách v.v…cho đến đạp xích lô cũng là đang
tu, nếu đã tin Phật tánh đầy đủ thì đâu cần lo gì nữa?
Chỉ là phát hiện cái của mình sẵn có thôi, tu đến đâu
phát hiện đến đó, bởi vì sẵn có mà !
Hỏi:
Không biết con có nghiệp chướng gì, khi đề câu thoại đầu
lên nó cứ từng mảng ép đầu và ngực con đau quá chịu
không nỗi, mới tu có một chút còn hơn đạp xích lô mấy
năm, suy nghĩ qua việc khác thì không sao, hễ tham vô là đầu
con giựt lên, tham nhanh giựt nhanh, muốn dừng lại cũng không
được.
Đáp:
Tôi đã nói là đừng ra sức, tham thiền ít phí sức chừng
nào tốt chừng nấy, chỉ cần công phu miên mật liên tiếp,
khỏi cần tập trung tinh thần, khỏi cần cố gắng ra sức.
Nếu chẳng ra sức thì không bị những thứ đó.
Hỏi:
Nếu tham như Sư phu nói thì chừng nào mới đến?
Đáp:
Đã nói nghi tình là dùng cái không biết để tu, đã không
biết thì đâu cần biết tới những gì xảy ra? Do ông còn
có cái biết, nay cần giữ cái không biết là đủ. Muốn giữ
được phải nhìn chỗ không biết, nhìn chỗ chưa có niệm
nổi lên, tức năng biết sở biết đều không có.
Hỏi:
Vậy khi con ngồi nó cứ lắc cái thân, muốn dừng lại cũng
không được?
Đáp:
Lắc cứ cho nó lắc, đừng có dừng; cái lắc đó là do cơ
thể tự vận động, có ích cho sức khỏe. Nếu trong cơ thể
có bệnh, lắc riết nó hết bệnh luôn, chớ có kềm chề,
kềm là có hại.
Hỏi:
Trước kia con học theo pháp môn niệm Phật của Hòa thượng
Trí Tịnh, con thấy căn cơ của con thích hợp tu theo pháp đó.
Nhưng bây giờ biết được pháp môn tham Tổ sư thiền, vậy
con có thể hành theo pháp này được không?
Đáp:
Muốn theo pháp nào cũng được .
Hỏi:
Hòa thượng Trí Tịnh nói “Pháp môn niệm Phật là pháp môn
thiền Tam muội?”
Đáp:
Tam muội là tiếng Ấn Độ, dịch là chánh định. Pháp Thiền
nào đều có thể đạt đến chánh định, ngoại trừ những
pháp thiền không phá ngã chấp là chẳng thể đạt được
mà thội.
Tổ
sư Thiền khác hơn tất cả pháp thiền khác; các pháp thiền
khác chú trọng ngồi và quán tưởng, có năng quán sở quán.
Chỉ có Tổ sư thiền không chú trọng ngồi và chẳng năng
quán sở quán, chỉ là giữ nghi tình, dùng cái không biết
để tu, rất đơn giản.
Hỏi:
Con nghe các thầy nói:”Người nữ tu hành phải đợi khi chuyển
thành thân nam mới có thể kiến tánh,” phải vậy không?
Đáp:
Đó là lời nói của những vị tu theo Tiểu thừa, còn Đại
thừa thì chẳng phải vậy. Trong lịch sử Thiền tông, người
nữ kiến tánh rất nhiều, như tôi đã kể trong cuốn Đường
lối thực hành tham Tổ Sư Thiền. Trong Kinh Pháp Hoa, Long nữ
tám tuổi thành Phật; ngoài ra còn có một bé gái họ Trịnh,
mười ba tuổi kiến tánh, người đời gọi là “Trịnh mười
ba”. Một cô họ Tô, mười lăm tuổi kiến tánh, là cháu
gái của Thừa tướng Tô Công Tụng. Cô này sau là Diệu Tổng
Thiền sư, được Tỉnh trưởng mời về chùa làm chức Trụ
trì.
Hỏi:
Sư phụ nói “Quên là điều tốt,” nhưng nhiều lúc niệm
Phật, con quên phiền não, quên luôn cả những gì trong
cuộc sống hàng ngày, quên đường về nhà … con rất sợ
vì trước khi mẹ con qua đời, mẹ cũng quên đến nỗi không
còn biết tên con cái …
Đáp:
Tôi nói “Quên là tiến bộ”là đối với pháp môn Tổ sư
thiền, vì pháp này dùng cái không biết để tu, hành giả
Tổ sư thiền khi giữ được nghi tình rồi có quên là tiến
bộ, còn mấy pháp khác đều không phải . Ví như niệm Phật
là dùng cái biết để tu thì quên là có hại, chứ chẳng
phải là tiến bộ. Còn đối với người bệnh tâm thần
thì cái quên ấy là bệnh !
Hỏi:
Làm thế nào để ra khỏi phân biệt?
Đáp:
Giữ được nghi tình là không có phân biệt, vì phân biệt
là biết, nghi tình thì không biết, đã không biết làm sao
phân biệt !
Hỏi:
Ví như có cái “không biết”cũng là có vậy?
Đáp:
Chẳng biết “có”thì chẳng phải có, chẳng biết “không”thì
chẳng phải không. Do ông dùng cái tâm chấp thật, nên nói
đến đâu cũng đều là có hoặc không, hoặc chẳng có chẳng
không, cũng có cũng không, đều là lọt vào tứ cú. Cái không
biết này chỉ là công cụ đưa mình đến chỗ kiến tánh
thành Phật, chứ chẳng phải là không biết mãi. Lại nữa,
cái không biết này là không biết sống, khác với cái không
biết của người ngủ mê, chết giấc, bệnh tâm thần… ấy
là cái không biết chết.
Hỏi:
Sư phụ thường nhắc đến câu “Nhất thiết duy tâm tạo,”
xin hỏi tâm nào tạo?
Đáp:
Ông có bao nhiêu tâm?
Hỏi:
Con muốn biết là chơn tâm hay vọng tâm?
Đáp:
Nói chơn tâm và vọng tâm là hai, tự tánh bất nhị, chẳng
có hai. Nói “tâm tạo”cũng chỉ là phương tiện thôi,
như công án của Tổ Đạt Ma truyền pháp cho ngài Huệ Khả:
Huệ
khả nói: Tâm của con bất an, xin thầy an tâm cho.
-
Đem tâm đến Thầy an cho !
-
Tìm tâm không được.
-
Đã an tâm rồi đó !
Tâm
còn tìm không được, làm sao có chơn và vọng? Huệ Khả liền
ngộ được nên kiến tánh thành Phật, hễ chấp thì đâu
thể kiến tánh ! Bệnh của chúng sanh chỉ là bệnh chấp,
lời dạy của chư Phật chư Tổ cũng chỉ là lời phá chấp
mà thôi, là phương tiện tạm thời, chẳng phải có thật.
Nay chúng ta cho nghiệp thức, phiền não, nghiệp chướng, tham
sân si là vọng tâm, là trói buộc, cho Bồ đề, Niết
bàn là chơn tâm, mà chẳng biết Bồ đề, giải thoát, Niết
bàn cũng là trói buộc, là xiềng xích bằng vàng. Những trói
buộc bằng sợi dây còn dễ cắt đứt, cái làm bằng vàng
mới khó cắt đứt, trói chặt mình không giải thoát được.
Muốn tự do tự tại, phải cắt đứt tất cả xiềng xích,
dù là bằng vàng cũng không thèm.
Hỏi:
Vạn vật có phải hoa đốm trên hư không chăng?
Đáp:
Tất cả chỉ là phương tiện để thí dụ, nói hoa đốm cũng
vậy. Nếu chấp thật có hoa đốm, cũng như Kinh nói:”Hãy
đợi hoa đốm kết thành quả,” việc đó vốn là chẳng
có mà !
Hỏi:
Nhân chi sơ, tánh bổn thiện, con người mới lọt lòng mẹ
là không biết, vậy so với pháp tu của Hòa thượng dạy thì
như thế nào?
Đáp:
Nhân chi sơ, tánh bổn thiện là lời của nhà Nho, Tổ
sư Thiền là lời của nhà Phật. Nhà Nho có tư tưởng chấp
thật, còn nhà Phật là phá chấp thật: Nhà Nho chấp có nhân
chi sơ thật, nhà Phật thì nói vô thỉ, chẳng những con người
không có bắt đầu, vũ trụ vạn vật đều không có sự bắt
đầu. Lại nữa, nói là tánh bổn thiện, nếu vốn là thiện
thì không thể biến thành ác, sao lại có thể biến thành
ác?
Thiện
với ác là tương đối, Lục Tổ nói:”Chẳng nghĩ thiện,
chẳng nghĩ ác, đang lúc đó thế nào là bổn lai diện mục
của Thượng tọa Minh?” Hễ nghiêng về bên thiện cũng bị
dính mắc, nghiêng về bên ác cũng bị dính mắc, nhà Phật
nói không thiện ác, không tương đối; mặc dù không tương
đối, nhưng chẳng phải bảo người ta đừng làm thiện hoặc
đi làm ác.
Thật
ra, đứa bé mới sinh đã biết khóc, biết người ta thương,
đòi người ta ẵm, nếu người lớn không ẵm là khóc, khi
đói biết đòi ăn, mặc dù chưa biết nói, nhưng biết dùng
tiếng khóc để bày tỏ, sao nói là không biết !
Hỏi:
Cái tâm, cái thức, cái tưởng, nó giống nhau hay khác?
Đáp:
Tưởng là tư tưởng, tức sự suy nghĩ. Suy nghĩ, cảm giác,
tánh thấy, tánh nghe đều là cái dụng của tâm linh, nhưng
bản thể của tâm linh chẳng hình thể số lượng, dùng sự
thấy nghe chẳng thể tiếp xúc được.
Tư
tưởng, văn tự, lời nói, tên gọi dù có ba nhưng sự dụng
chỉ là một: Lời nói là văn tự có tiếng, văn tự là lời
nói có hình, tư tưởng là lời nói không hình không tiếng.
Do tư tưởng nhận biết được, nói ra miệng thành lời nói,
viết ra thành văn tự. Còn có những cái không thể dùng tư
tưởng, lời nói, văn tự để nhận thức và diễn tả: Đó
là thực thể của tâm linh. Nhưng sự dụng của nó rõ ràng
trước mắt, sở dĩ chúng ta thấy nghe được đều nhờ vào
sức dụng của tâm linh.
Hỏi:
Có phải Đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát ám chỉ về trí
tuệ, còn Đại hạnh Phổ Hiền Bồ tát chỉ về cái hạnh,
cởi con trâu trắng tượng trưng cho sự trong sạch?
Đáp:
Không phải. Những thứ ông vừa nói là cách nói của pháp
sư bên Giáo môn, còn nói về cái thực tế thì chẳng có gì
để thí dụ được. Thực thể của tâm linh muốn nhận biết
còn không được, lấy gì để thí dụ? Gọi là thật tướng
vô tướng, không có tướng mới gọi là thật tướng, Kinh
Kim Cang nói:”Nếu thấy tất cả tướng đều phi tướng mới
thấy Như Lai.” Như lai là thật tướng đó, nếu dùng
tư tưởng chấp thật để diễn tả đều không đúng.
Hỏi:
Khi có người thân lâm chung, bên Tổ sư thiền phải làm sao?
Đáp:
Chẳng làm sao cả. Nếu muốn chiều theo truyền thống đã
quen thì tụng kinh cũng được, hễ tự mình làm chủ được
thì không tụng kinh cũng được; hoặc mời các bạn đồng
tham tụ nhau tham thiền cũng được, tức chẳng có sự cố
định.
Hồi
thời Phật Thích Ca chưa có kinh, lấy gì để tụng? Sau khi
Phật nhập diệt, do Tôn giả A Nan kết tập lại mới thành
kinh. Lại nữa, mục đích tụng kinh cho người chết để làm
gì? Nếu trong kinh có công năng siêu thoát cho người thì không
có nhân quả; vì nếu người quá cổ đã tạo nghiệp ác,
phải đầu thai tam ác đạo để trả quả, mời thầy tụng
kinh liền có thể siêu thoát thì làm ác cũng chẳng sao, có
phải vậy không?
Kinh
Phật chỉ để dạy người tu hành, giải thoát khổ vĩnh viễn,
muốn làm chủ cho mình, được tự do tự tại phải giác ngộ.
Nếu chúng ta không chịu thực hành, cứ không ăn
cơm thì làm sao được no !
Hỏi:
Thế nào là y báo và chánh báo?
Đáp:
Chánh báo, y báo là tùy theo nghiệp nhân của mình đáp lại
quả báo. Hành động và tư tưởng của mình làm thiện thì
tạo thiện nghiệp, làm ác tạo ác nghiệp, có nghiệp nhân
ắt có nghiệp quả: Thân hiện nay của chúng ta là nghiệp
quả của nghiệp nhân kiếp trước, gọi là báo thân.
Trong
kinh Phật nói đến tam thân: Pháp thân, hóa thân và báo thân.
Báo thân này là chánh báo, tức do mình có cái nghiệp nhân,
thành quả báo được cái thân này, hoặc thân con trai, hoặc
thân con gái, cho đến ngu si, trí huệ, giàu sang, nghèo khổ
…
Tất
cả vạn vật trong vũ trụ để cho thân này thọ dụng gọi
là y báo, như thức ăn, nước uống, quần áo, nhà ở… cung
cấp cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta, tức mọi sự đi
đứng nằm ngồi để nuôi dưỡng cái chánh báo này gọi là
y báo.
Hỏi:
Đến chơn tham như thế nào?
Đáp:
Ngài Lai Quả nói “Vô tham mới chơn tham,” tham thiền mà
không biết mình đang tham gọi là chơn tham, tức giữ được
nghi tình kéo dài mãi không gián đoạn, tự nhiên đạt
đến chơn tham, hễ còn nổi lên cái biết, sự nghi và sự
biết xen lộn hoài, sát na thay đổi, còn kẽ hở thì chưa
phải chơn tham.. Thường thường chơn tham là đến thoại đầu,
tức 24/24 giờ không gián đoạn, chẳng có cái biết nào nổi
lên.
Hỏi:
Chúng con nhập thất liên tục bảy ngày, mỗi ngày chỉ niệm
Phật, không ăn, chỉ uống nước hai lít, vậy có tu đúng
chánh pháp không?
Đáp:
Nhịn ăn để làm gì? Nếu để trị bệnh thì không phải
Phật pháp. Phật pháp cũng không dạy người nhịn ăn cho là
tu. Cũng có người không hiểu, thực hành theo ngạ thất, tức
nhịn ăn bảy ngày, ấy là theo tà pháp, chẳng phải Phật
pháp, chẳng thể giải thoát được. Tổ sư thiền không phải
vậy, Như Lai thiền cũng không phải vậy.
Hỏi:
Con đã thọ giới Bồ tát tại gia, khi đi đám ma có thể lạy
vong linh không?
Đáp:
Thọ giới Bồ tát chưa phải đã thành Bồ tát, dù đã thành
Bồ tát vẫn có thể lạy được. Chúng sanh bình đẳng chẳng
cao thấp, chứ không phải mới thọ giới Bồ tát rồi cho
mình cao hơn là không được.
Hỏi:
Những phát minh khoa học là do trí hay do thức?
Đáp:
Do thức. Phàm do bộ não nghiên cứu tìm hiểu đều là thức.
Hỏi:
Tất cả việc ở ngoài đời là do trí của bộ não tạo chứ
đâu phải do tâm linh, phải không?
Đáp:
Bộ não cũng do nghiệp nhân tạo thành, có tâm linh mới có
thể sanh ra nghiệp nhân. Tất cả đều do tâm linh mới có,
nên nói “Nhất thiết duy tâm tạo.”
Do
đủ thứ nghiệp nhân mới tạo thành thân người, nghiệp
của con người có bộ não, cũng như nghiệp của con dơi có
rađa. Tâm linh là chủ của sinh mạng, trong cuộc sống hàng
ngày mắt thấy tai nghe đều là sức dụng của tâm linh, là
tùy nghiệp hiển dụng.
Trong
tâm linh của chúng ta sẵn đủ tất cả, nay nhà khoa học cứ
phát minh những khoa học mới và tiến bộ mãi, những cái
đó ở trong tâm linh của mình đã sẵn, chứ chẳng phải
nhờ học hỏi rồi mới phát minh. Ví dụ: Nhà khoa học nghiên
cứu con dơi rồi phát minh ra đa, nhưng nghiệp của con dơi
khi sinh ra đã sẵn có ra đa; Nhà khoa học bắt chước sự
cấu tạo của bộ não phát minh máy vi tính, ấy là nghiệp
của con người sẵn có…
Bất
cứ những gì có trong nghiệp đều đã sẵn trong tâm linh mình,
chẳng phải do học. Cho nên, khoa học mới có tiến bộ, còn
tâm linh thì không, vì từ hồi nào đã có sẵn rồi.
Thời
xưa chưa phát minh kính hiển vi, Đức Phật đã biết có vi
trùng. Lại nữa, Phật nói tất cả đều bất sanh bất diệt,
là Niết bàn, đến thế kỷ thứ XIX, nhà khoa học mới phát
hiện rằng tất cả vật chất năng lượng đều bất sanh
bất diệt. Mặc dù khoa học chưa chứng minh nhưng trong tâm
linh đã sẵn, cái học đó chẳng dính dáng đến cái sẵn
có, nếu chúng ta tu đến tất cả chấp thật đều không thì
cái đã sẵn có ấy sẽ hiện ra bằng Phật.
Ví
dụ: Theo sự nhận biết của khoa học, tốc độ ánh sáng
là nhanh nhất, nhưng những nhà khí công, người có công năng
đặc dị đã chứng tỏ so với tốc độ của tâm linh thì
tốc độ ánh sáng lại là tốc độ thấp nhất ! Giả sử
một máy bay bằng tốc độ ánh sáng bay từ quả đất đến
một hành tinh khác, như Hải dương tinh chẳng hạn, phải trải
qua mấy trăm quang niên (tốc độ ánh sáng trong một giây là
ba trăm ngàn dặm), trong khi tâm linh mình một niệm liền đến,
chẳng có số lượng về thời gian!
Do
đó, những gì học được đâu thể so bằng tâm linh sẵn
có ! Còn sự tu có thể khiến tâm linh chúng ta hiện ra nhiều
sức dụng, như những người có công năng đặc dị, người
có năng khiếu đặc biệt v.v…
Hỏi:
Thế nào là trái ngược hiện nghiệp?
Đáp:
Ai cũng biết về nghiệp, nay muốn sửa lại nghiệp của mình
thì phải làm trái với nghiệp. Hễ kiếp trước tạo nghiệp
nhân xấu thì kiếp này phải làm ngược lại; như trước
kia ham thích thì nay không ham thích nữa, chê ghét cũng vậy,
tức bất cứ muốn nổi một tâm niệm nào đều phải làm
ngược lại.
Bởi
do tâm suy nghĩ rồi hành theo sự suy nghĩ đó, mới thành cái
nghiệp: Kiếp trước tạo thành nghiệp kiếp này, kiếp này
tạo nghiệp kiếp sau… cứ xoay chuyển mãi trong luân hồi,
nay muốn chầm dứt luân hồi, phải sửa lại nghiệp của
mình.
Hiện
nghiệp là chấp thật, muốn trái ngược hiện nghiệp phải
phá chấp thật, như tham thoại đầu là không hiểu không biết,
không biết cái xấu thì không chê, chỉ cần giữ được cái
không biết là có thể trái ngược hiện nghiệp.
Hỏi:
Đức Phật dạy ngồi theo kiểu kiết già có tác dụng và
hữu ích gì?
Đáp:
Cách ngồi theo kiết già không phải do Phật dạy, hồi chưa
có Phật Thích Ca, các ngoại đạo đã ngồi theo kiểu kiết
già, vì ngồi như thế có thể ngồi lâu được, có nhiều
người ngồi nhập định đến khi chứng quả A-la-hán, trải
qua mấy trăm năm, mấy ngàn năm.
Hỏi:
Giả sử có một kẻ quá ác, có khả năng giết hại nhiều
người, và có một người khác giết kẻ này để giải cứu
bao nhiêu người kia; giữa họ chẳng có thù hằn cá nhân nào,
chỉ vì muốn cứu đại chúng nên buộc lòng phải ra tay giết
kẻ ác kia, vậy trường hợp đó nhân quả ra sao?
Đáp:
Giết người phải thường mạng, nhưng nếu người đó chẳng
ác ý, chỉ vì muốn cứu người, tâm không tạo nghiệp
thì không có. Nếu có khởi tâm giết hại là có tạo nhân,
có nghiệp nhân ắt có nghiệp quả. Còn những người do chức
trách như nhà cầm quyền, dù đã thọ giới Bồ tát, vì trách
nhiệm của mình phải xử tử người khác, cũng như giết
một người để cảnh cáo nhiều người thì không bị luật
nhân quả, vì thực hiện theo đúng pháp luật Nhà nước qui
định. Vấn đề này trong Hư Vân Niên Phổ có đề cập.
Trong
giới luật của nhà Phật có qui định: Hễ phạm luật pháp
nhà nước là phạm giới luật nhà Phật. (Sư phu kể về sự
giữ giới của Luật sư Hoằng Nhất, lược qua).
Hỏi:
Còn những người cướp của nhà giàu rồi đem phân phát cho
người nghèo thì nhân quả ra sao?
Đáp:
Đó cũng là phạm tội, không những vi phạm luật pháp nhà
nước, cũng vi phạm giới luật nhà Phật về tội trộm cắp.
Hỏi:
Tu ở trong chúng và đến dự thiền thất có ích lợi gì?
Đáp:
Đả thiền thất, tụ đông để tu, làm trợ duyên với nhau
khiến tâm lực mạnh, ví như ánh sáng đèn: Một cây đèn
thì ánh sáng yếu, mười cây đèn ánh sáng mạnh hơn, một
trăm cây đèn ánh sáng càng mạnh. Như tôi thường nói; mỗi
mỗi đều có cái tâm, nếu một trăm người cùng chung một
tâm tham thiền thì sức dụng kích thích khiến tâm tu được
mạnh hơn.
Nhưng
mặc dù tu một mình ở nhà, đã phát tâm rồi thì ở đâu
cũng vậy, tức là nếu có nhiều bạn đồng tham tu chung càng
tốt, nếu không thì tu một mình cũng được, tùy theo nhân
duyên. Nay tạo đủ mọi nhân duyên giúp cho đại chúng tu được
mau kiến tánh, cũng như giúp mình vậy, người khác cũng giúp
lại cho mình mau kiến tánh, ấy cũng là phước báo của mình
gieo trồng từ kiếp trước, nhưng đừng có tâm ỷ lại, phải
tận sức của mình mà tùy duyên tham tới mãi.
Hỏi:
Con thấy tu một mình ở cốc riêng dễ sinh ra giải đãi, nhiều
khi khuya thức không nỗi, rồi cho là mình có bệnh, đợi ngủ
đến sáng rồi mới tu.
Đáp:
Cho nên ngài Lai Quả khuyên mọi người nên tu trong Tòng lâm,
ở chùa nhiều người tu chung có công hiệu hơn, có sức mạnh
hơn.
Hỏi:
Người đã chứng ngộ rồi, tự tâm hiện lên đầy đủ sẵn
sàng những trí huệ thần thông biến hóa, tại sao Sư phụ
lại nói ngộ rồi đồng như chưa ngộ?
Đáp:
Tâm linh của mọi người đều giống nhau, đều đầy đủ
tất cả thần thông trí huệ năng lực, sở dĩ chưa dùng ra
được là bởi có tâm chấp, nếu ngộ rồi chấp vào
sự ngộ vẫn là chấp. Người đã ngộ thật sự thì đồng
như chưa ngộ, tức chẳng chấp vào sự ngộ, tất cả diệu
dụng mới hiện ra được. Hễ còn chấp cái ngộ là còn chướng
ngại.
Hỏi:
Làm sao biết mình có chấp vào cái ngộ đó hay không?
Đáp:
Cho mình có ngộ đó ! Nếu không cho là mình có sự ngộ thì
ngộ rồi đồng như chưa ngộ.
Hỏi:
Chúng con là Phật tử ở Vũng tàu, theo chúng con biết, mỗi
lần Sư phụ đến Vũng tàu đều ở tại Chùa Từ Quang, và
đó không phải thuộc hẳn pháp môn tham Tổ sư thiền, nên
một số Phật tử chúng con muốn thành lập một chùa, một
Thiền đường riêng thuộc môn phái Tổ sư thiền ở Vũng
tàu. Kinh xin ý kiến của Sư phụ?
Đáp:
Ở Vũng tàu, nhiều vị cũng muốn cúng dường đất đai, chùa
chiền cho tôi, chỗ thì hai - ba mẫu, chỗ thì một mẫu rưỡi…
hiện nay đất đai rất có giá, nhưng tôi không nhận, kể
cả cúng dường chùa cũng không nhận. Vì tìm người quản
lý rất khó, cái ngã, mỗi người đều có, rồi từ cái ngã
đó sinh ra sự tranh chấp. Hiện nay có một số chùa, vị Trụ
trì sáng lập ra ngôi chùa, sự nghiệp lớn lao, đến tuổi
già tịch đi, rồi đệ tử tranh giành tài sản với nhau, nên
tôi không muốn lập bất cứ ngôi chùa nào, hễ người nào
có duyên với pháp thì tu, không có duyên thì thôi vậy.
Hỏi:
Tu Tổ sư thiền có cần tu Lục độ không?
Đáp:
Tham thiền là pháp thiền trực tiếp do Phật Thích Ca thân
truyền, đã bao gồm tất cả, không cần học thêm nữa.