[16] 05/04/95–11/04/95
tại Chùa Từ Ân, Quận 11
Trì
ngọ & bát quan trai
Thế
nào “Nhìn vào chỗ tối tăm mịt mù”?
Phá
chấp “Tự tánh khắp trời khắp đất”
Năm
thứ chủng tánh
62
kiến chấp
Làm
sao chuyển câu niệm Phật thành tham thiền?
Tẩu
hỏa nhập ma
Đàm
Không Đình
Phá
chấp Phi tưởng phi phi tưởng định
Sự
học với sự tu đi song song
Phân
biệt giữa định và hôn trầm
Trình
công phu
Người
khảo công phu có phải người kiến tánh?
Tại
sao Đức Phật đã thành Phật còn bị quả báỏ
Bồ
tát thị hiện thân con heo
A-đà-la
thức
Châu
Kim Cang
Hễ
tin nhân quả, không cần lo cho tương lai
Chơn
tu & duyên tu
Hỏi:
Ánh chớp phương nam sẹt lông mày, chập chùng cây lá rã tan
ngay, trời đất sanh tử buông tay thẳng, bản lai mặt mũi
chẳng khác mày.
Đáp:
Ý thầy muốn hỏi gì?
Hỏi:
Sanh tử bản lai không.
Đáp:
Bài kệ trên có phải do thầy làm không?
Hỏi:
Chính là con.
Đáp:
Nếu do thầy làm, hãy tham thêm ba mươi năm rồi mới trình
lại.
Gọi
là “kiến tánh thành Phật,”là tự tánh (tâm linh mình) toàn
vẹn hiện ra khắp không gian thời gian; nói “khắp không gian
thời gian”cũng chỉ là phương tiện mà thôi. Nếu nói theo
tự tánh bất nhị thì không gian thời gian tức tâm mình, tâm
mình tức không gian thời gian, chẳng những như thế, tất
cả ở trong không gian thời gian đó cũng là tâm mình. Đã
vậy thì làm sao còn có kiến giải để nói ! Bởi vì hễ
có cái gì để trình tức chẳng phải rồi !
Tôi
kể một câu chuyện: Một vị Tăng đi cùng một vị Thị giả
đã kiến tánh, vị Tăng ấy cũng tự cho mình đã kiến tánh,
nhưng qua cách nói chuyện, Thị giả biết vị này chưa kiến
tánh, mà vị Tăng lại không phục thị giả. Dọc đường
lên núi, Thị giả lượm một miểng đá để trên tảng đá,
bảo Tăng ấy hãy nói ra một lời chuyển ngữ. Tăng chừng
chừ suy nghĩ, Thị giả nói:
-
Như vậy là không phải rồi.
Lúc
đó vị Tăng mới chịu công phu thêm.
Tôi
chưa kiến tánh, mà quí vị đến hỏi tôi còn không cần suy
nghĩ. Các vị Tổ sau khi kiến tánh thường làm ra bài kệ,
nhưng không nhất thiết, không làm cũng được, cũng không
cần ai biết. Nay nhiều người xem ngữ lục của chư Tổ rồi
muốn bắt chước, cũng làm bài kệ cho là mình kiến tánh,
ấy là hiểu theo lời nói văn tự, thời xưa chư Tổ hay mắng
là “Ăn phẩn của người khác, chẳng phải con chó tốt,”ý
nói bắt chước không được, đó là của người khác. Hễ
ngộ là ngộ tâm của mình, tâm mình như hư không, vốn chẳng
có gì, nay đặt ra một nghĩa lý, cho đó là nghĩa lý cao siêu,
có nghĩa lý đã chẳng phải bản tâm rồi.
Hỏi:
Trong hàng Phật tử có những vị phát tâm trì Ngọ, tức sau
giờ Ngọ không dùng thức ăn đặc, chỉ dùng chất lỏng như
sữa, nước cháo, nước trái cây v.v… Vậy trì Ngọ có cần
thiết đối với hàng cư sĩ chúng con không? Trì Ngọ có lợi
ích gì? Sau giờ Ngọ chỉ được uống nước hay có thể dùng
những thức ăn lỏng nói trên?
Đáp:
Theo giới luật nhà Phật, trì Ngọ chỉ đối với hàng Tu
sĩ; đã thọ giới Sa-di, một trong mười điều giới là không
ăn phi thời, tức từ lúc mặt trời đứng bóng cho đến rạng
đông là không ăn, chứ Phật không yêu cầu cư sĩ phải trì
Ngọ.
Lại
nữa, giới Thọ bát cũng là dành cho Tu sĩ, sở dĩ tổ
chức Thọ bát quan trai, là muốn cho cư sĩ học tập cuộc
sống của Tu sĩ trong một ngày đêm. Do đó, trong mười giới
thọ bát quan trai của cư sĩ, có chín điều chỉ giới hạn
trong một ngày đêm, đến giờ không cần xả giới, nó tự
xả.
Còn
nói cư sĩ thọ Bồ tát giới, hàng tháng có sáu ngày là không
ăn phi thời, điều đó không quan trọng, vì cư sĩ phải làm
việc thế gian, đói bụng thì làm không nổi, nhất là ở
xứ lạnh, nên có thể xả giới trì Ngọ và được ăn sau
khi đã báo cho một người khác .
Hỏi:
Trước khi Sư phụ ra hoằng pháp Tổ sư thiền này, chúng con
chỉ biết cách dụng công tham thiền qua cuốn Yếu Chỉ
Tham Thiền của ngài Hư Vân do Hòa thượng Thanh Từ dịch.
Theo ngài Hư Vân thì đề một câu thoại đầu lên, phát ra
nghi tình, rồi nghi tình dần dần yếu đi, lúc sắp tắt lại
đề lên một câu nữa.
Vào
cuối năm 1981, con gặp Sư phụ dạy cách tham như sau:
Đề khởi câu thoại, không hiểu không biết rồi cứ hỏi
nữa, hỏi mãi như thế. Con thấy cách dụng công như vậy
rất hữu ích, vì luôn giữ được nghi tình ở mức độ cao.
Đến
cuối năm 1984- 1985, ở Chùa Huệ Quang, thỉnh thoảng Sư phụ
nhắc đến vấn đề “khán và nhìn vào chỗ tối tăm mờ
mịt,”con vẫn cứ đề câu thoại đầu liên tục, chỉ khi
nào nhức đầu, không khỏe mới đề chậm chậm, chứ không
để ý đến việc “khán thoại đầu.”
Gần
đây, theo con được biết, vì nhiều người đã nhầm lẫn
chấp vào câu thoại, “khán câu thoại”chứ chẳng phải
khán thoại đầu, nên Sư phụ thường nhấn mạnh phải “khán
thoại đầu,”tức chỗ “trước khi có câu thoại,”không
phải tham câu thoại, vì câu thoại chỉ là phương tiện để
công phu mà thôi. Lại nữa, Sư phụ cũng nói nhiều về “chiếu
cố thoại đầu”và “nhìn vào chỗ tối tăm mịt mù.”Bạch
Sư phụ, ngay từ những ngày đầu tiên thọ pháp Sư phụ,
chúng con chỉ biết giữ nghi tình, con biết nghi tình chưa phải
là đầu câu thoại, vậy chỗ mà Sư phụ nói “tối tăm mịt
mù”đó, có phải là nghi tình không?
Đáp:
Chư Tổ cần chúng ta công phu miên mật chứ không cần ra sức
cố gắng, nếu đề câu thoại đầu rồi cách một khoảng
thời gian mới hỏi nữa thì có kẽ hở, vọng tưởng sẽ
từ đó nổi lên, nên phải hỏi tới mãi, giữ cho miên mật.
Khán
thoại đầu và chiếu cố thoại đầu là một nghĩa, chiếu
cố cũng là nhìn, nhưng vì nhìn thì khó hơn, có người không
nhìn được, nếu hỏi thì dễ hơn. Nói là nhìn vào chỗ tối
tăm mịt mù cũng không đúng, nhưng vì mọi người không biết
nhìn thoại đầu là nhìn vào chỗ nào, nên phải nhắm mắt
lại, tạm mượn chỗ đen tối để nhìn, đến khi nhìn được
rồi thì khỏi cần nhìn vào chỗ đen tối nữa. Tôi thường
thí dụ như tập đi xe đạp, lúc đầu tập phải nhờ người
khác vịn, đẩy, khi đi được rồi thì không cần nữa.
Chùa
Cao Mân là Tổ đình của Thiền tông, ngài Lai Quả ở đó
cũng đã mấy mươi năm. Khi tôi đến đó vào năm 1992, mọi
người nói với tôi rằng:
-
Khi đề khởi câu thoại đầu hỏi tới, nghi tình không kéo
dài, vừa hỏi xong là mất, chẳng thể thành khối.
Tôi
nói: Phải chiếu cố câu thoại đầu mới được. Chiếu cố
tức là nhìn.
Mọi
người nghe theo và nhìn vào thoại đầu thì nghi tình được
kéo dài hơn.
Sự
thật cho tôi thấy, đại chúng ở đó luôn có sự thay đổi:
lớp thì mới đến rồi lớp cũ ra đi, kể cả vị Duy na quản
chúng ở chùa cũng bỏ đi. Bởi do hàng ngày ở đó chỉ có
khai thị mà không cho chúng hỏi, chúng có hiểu lời khai thị
hay không cũng chẳng biết, Đối với pháp môn này, cách thực
hành như thế nào phải cho người ta hỏi, hiểu rồi mới
có lòng tin, nhất là lòng tin tự tâm.
Rồi
sợ mọi người nghe chán lại kể qua công án, chính ngài Lai
Quả không cho kể công án, không cho giải thích công án, e
đánh mất sự nghi. Nhiều người ngồi ở đó ngủ gục, và
có năm – mười người thường ở ngoài không vào, thầy
Trụ trì là Hòa thượng Đức Lâm chỉ chăm lo việc xây cất
chùa. Thầy năm nay đã hơn tám mươi tuổi, lúc trước tu học
theo tông Thiên Thai, có tặng cho tôi mấy lời của Thiên Thai
về không, giả, trung… nói đến lịch sử Thiền tông thì
chưa từng xem một chữ.
Khi
tôi đến hỏi thăm, Thầy đem giáo lý ra giải thích, thật
ra Tổ Sư Thiền đâu cho đem giáo lý vào? Ngài Lai Quả đã
quở:”Các ngươi chứa đầy bụng Kinh Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm…
ở đây một chữ cũng xài không được!.”Nay thầy Trụ trì
lại giải theo Giáo môn thì sự thật đã nghịch với Thiền
môn rồi, nhưng tôi làm sao nói được ! Trước tình hình này,
tôi chỉ biết lo tự tu thôi.
Hỏi:
Như vậy chỗ đen tối mà Sư phụ nói đó không phải là nghi
tình?
Đáp:
Bây giờ nói tham thoại đầu, khán thoại đầu, nhưng sự
thật cách thoại đầu còn xa lắm, phải nhờ đến cái hỏi,
hỏi câu thoại đã là thoại vĩ rồi. Phải hỏi để kích
thích cái không biết tức nghi tình, nhờ nghi tình đưa mình
đến thoại đầu. Cho nên phải vừa hỏi vừa nhìn, nhìn vào
chỗ không biết đó, muốn biết mà biết không nỗi, chứ
chẳng phải hoàn toàn không biết. Nếu không nhấn mạnh cái
nhìn, chỉ hỏi không là không được.
Hỏi:
Vậy chúng con phải nhìn vào chỗ nào?
Đáp:
Vì không có chỗ nên nói nhắm mắt thấy đen tối, ví như
mở mắt thấy biết đủ thứ, nhắm mắt thì không thấy,
không thấy nên không biết, chỉ thấy đen tối. Nói “đen
tối”là dùng để thay thế cái không hiểu không biết, chứ
chẳng phải mục đích là nhìn đen tối. Nếu nhìn được
chỗ không biết rồi hãy bỏ cái đen tối đó đi.
Một
vị trình công phu: Kính bạch Sư phụ, khắp trời khắp đất
sao lại có chỗ để lạy?
Đáp:
Cái gì khắp trời khắp đất?
-
Tự tánh.
-
Tự tánh đã chẳng có, lấy gì để khắp? Phải mâu thuẫn
không? Bộ não của con người, nếu nói theo lời thế gian
gọi là “tự làm tài khôn,”nó đặt ra đủ thứ nghĩa lý,
cho là như vậy mới đúng, như thế không đúng; rồi có người
nghiên cứu đi sâu, cho là đúng với không đúng đều chẳng
có…tất cả đều là ý của mình, đều là tạo tác của
bộ não.
Còn
tâm linh của chúng sanh chẳng có sản phẩm, chẳng sanh ra cái
gì, cũng chẳng tiêu diệt cái gì, tất cả vật chất đều
không sanh không diệt, không tăng không giảm, đó cũng là nghĩa
vô thỉ vô sanh của nhà Phật, nên người chứng quả gọi
là ngộ pháp vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn.
Pháp
đã vô sanh thì có nghĩa lý gì để nói nữa? Có thể nói
được đều là sản phẩm của bộ não; bất cứ cho là cái
gì, cho là “có tự tánh”hay “chẳng có tự tánh”; cho
là “khắp trời khắp đất”hay “chẳng khắp trời khắp
đất”… đều là tương đối.
Tâm
linh của mình, nhà khoa học gọi là năng lượng, vì tất cả
sức lực, năng lượng đều trong tâm linh mọi người sẵn
có, nên Đức Phật nói “Nhất thiết duy tâm tạo.”Trong
Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ nói càng rõ hơn:”Chẳng phải
phướn động, chẳng phải gió động, là tâm của ông động.”Do
tâm động mới có gió động, tâm động mới có phướn động…
nhưng tất cả đều là lời nói, miễn cưỡng nói như thế,
kỳ thật tâm chẳng có động; hễ có động tức có biến
đổi, nên Kinh Hoa Nghiêm nói:”Chơn như bất động.”Chẳng
có biến động mới tồn tại vĩnh viễn, không thêm không
bớt.
Hỏi:
Tham thiền với Đệ nhất niệm là Chơn không, đệ nhị niệm
là Diệu hữu của Kinh Bát Nhã có tương ưng không?
Đáp:
Không. Tham thiền là trước khi chưa nổi niệm mới gọi là
thoại đầu, nếu có đệ nhất niệm, đệ nhị niệm là nhất
niệm vô minh, làm sao tương ưng được?
Hỏi:
Vậy trực giác có thể tương ưng với Bát nhã không?
Đáp:
Trực giác cũng là sản phẩm của bộ não, cũng thuộc về
nhất niệm vô minh.
Hỏi:
Con có một sự thắc mắc: Con thấy quý Thầy thường nói:”Tu
pháp môn Tịnh độ niệm Phật là đệ nhất,”sau nữa là
“Tu pháp môn Ba mươi bảy phẩm Trợ đạo là đệ nhất.”Nhưng
hôm nay đến đây, Hòa thượng dạy chúng con tham thiền, con
vẫn biết là so với pháp tham thiền quán tưởng thì pháp
nào cũng thua. Vậy trong ba pháp môn, Hòa thượng cho con tu pháp
môn nào?
Đáp:
Phật Thích Ca không phải chỉ thuyết ba pháp môn, mà tám mươi
bốn ngàn pháp môn là tùy theo căn cơ trình độ của mọi
chúng sanh, chọn một pháp môn nào thích hợp. Đức Phật cũng
chẳng chỉ định người nào phải tu pháp môn gì. Tôi còn
chẳng phải Phật, làm sao có thể chỉ định cho cô?
Trong
Kinh Lăng Già, Đức Phật có nói đến năm thứ chủng tánh:
Thanh văn chủng tánh, Duyên giác chủng tánh, Bồ tát chủng
tánh cũng gọi là Như Lai chủng tánh, ngoại đạo chủng tánh
và bất định chủng tánh. Nếu thuộc Thanh văn chủng tánh
thì thích hợp tu Tiểu thừa, thuộc Duyên giác chủng tánh
thích hợp tu Trung thừa, thuộc Bồ tát chủng tánh thích hợp
tu Đại thừa. Ngoại đạo chủng tánh chẳng thể giải thoát,
vì ngã chấp quá nặng, dẫu có tu cũng chỉ thành tà ma ngoại
đạo, còn bất định chủng tánh thì không nhất định; gặp
Tiểu thừa thành Thanh văn, gặp Trung thừa thành Duyên Giác,
gặp Đại thừa thành Bồ tát, tùy theo cơ duyên, nên gọi
bất định chủng tánh.
Tham
Tổ sư thiền thuộc Tối thượng thừa, không nằm trong tam
thừa đó. Lại nữa, Tổ sư thiền chẳng có quán tưởng,
chẳng năng quán sở quán, chỉ chú trọng một chữ Nghi thôi,
chẳng phải thiền quán tưởng. Quán tưởng thuộc giáo môn,
cho đến ngoại đạo cũng có thiền quán tưởng.
Hỏi:
Nghĩa Chơn không Diệu hữu như thế nào?
Đáp:
Chơn không Diệu hữu thuộc Giáo môn, Diệu thì chẳng phải
Hữu, nếu cái Không là chơn thì chẳng có hữu hay vô, ấy
là tương đối. Còn Thiền môn thì hữu và vô không dính dáng.
Hỏi:
Phải từ cái Có sau đó mới thành cái Không, nếu tự nhiên
nói là không thì điều đó rất phi lý.
Đáp:
Trong Kinh Đại Niết Bàn, Phật có giải thích về vấn đề
này. Kinh Lăng Già nói “Lìa tứ cú, tuyệt bách phi,”phàm
có tương đối đều lọt vào tứ cú. Nguồn gốc của tứ
cú là Hữu và Vô, tất cả tư tưởng đều bắt nguồn từ
đó. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn nói đến 62 kiến chấp, thế
nào là 62?
Tức
ngũ uẩn x tứ cú = 20,
20
x tam thế (Quá khứ, hiện tại, vị lai) = 60.
Cộng
thêm nguồn gốc Hữu và Vô = 62
Bất
cứ chấp vào cái gì đều nằm trong phạm vi 62 kiến chấp
này. Thế nào là ngũ uẩn x tứ cú? Tức sắc, thọ tưởng,
hành, thức nhân với hữu, vô, chẳng hữu chẳng vô, cũng
hữu cũng vô. Hễ chấp thật cái sắc là hữu thì lọt vào
cú thứ nhất, chấp sắc là vô thì lọt vào cú thứ nhì,
chấp sắc là chẳng hữu chẳng vô, lọt vào cú thứ ba, chấp
sắc là cũng hữu cũng vô, lọt vào cú thứ tư. Hoặc chấp
quá khứ có, hiện tại không v.v…đã gọi là chấp thì chẳng
có thật.
Hỏi:
Con từ Phan Rang vào đây dự Thiền thất đã bốn ngày mà
không quên được sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật,” vậy
làm sao tham thoại đầu cho dễ dàng? Xin Sư phụ từ bi khai
thị
Đáp:
Cô niệm Phật đã bao lâu?
-
Dạ thưa tám năm.
-
Ngày đêm không quên, phải không?
-
Dạ.
-
Lúc ngủ mê có quên không?
- Dạ quên.
-
Nếu ngủ mê vẫn không quên thì có thể tham câu “Niệm Phật
là ai.”Vậy cô chọn câu nào?
-
Dạ thưa câu “Khi chưa có trời đất ta là cái gì?”
-
Khi có trời có đất thì có cô tại đây, khi chưa có trời
đất cô là cái gì? Biết không?
-
Dạ thưa không biết.
-
Thì cái không biết đó gọi là nghi tình, cứ nhìn vào chỗ
không biết đó để tham . Nhưng do thói quen từ trước đã
niệm Phật, còn tham thiền là mới lạ, cái nào quen thì thắng,
lạ là thua, nên câu danh hiệu Phật nổi lên hoài. Bây giờ
phải tập cho cái lạ thành quen, cái quen kia thành lạ chẳng
phải một hai ngày là được, phải tập một tháng, hai tháng…
lâu ngày rồi, như ngài Lai Quả nói:”Cái lạ đó quen được
một ngày thì cái quen kiá cũng lạ đi một ngày,”cái lạ
đó tăng thêm thì cái quen kia giảm bớt, dần dần sáu chữ
không nổi lên nữa. Nay dù có nổi lên cũng mặc kệ nó, cứ
nhìn và hỏi, đừng gián đoạn, lâu ngày rồi sẽ từ lạ
thành quen.
Hỏi:
Thấy nghe hiểu biết là tánh hay là tâm?
Đáp:
Chẳng phải tánh cũng chẳng phải tâm, là vọng. Kinh Duy Ma
Cật nói:”Nếu hành theo kiến văn giác tri, ấy là kiến văn
giác tri, chẳng phải cầu pháp.”Tất cả Phật pháp đều
muốn hiển bày cái tâm, nói tự tánh cũng là cái tâm.
Hỏi:
Có một vị hành giả tham thiền lỡ bị tẩu hỏa nhập ma,
làm mất bổn tâm, vậy trong kiếp sau được làm người, có
bị tiếp tục mất bổn tâm không?
Đáp:
Do không phải tham Tổ sư thiền, không đi đúng cách thực
hành nên mới có những việc đó, nếu thật tham Tổ sư thiền
thì không bị tẩu hỏa nhập ma. Tại sao? Vì trong mười điều
kiện tham Tổ sư thiền, điều đầu tiên là phá ngã chấp,
vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ. Sở dĩ tẩu hỏa nhập
ma là vì muốn cầu muốn đắc nên có sở sợ, ma mới có
thể thừa dịp mà nhập. Nếu không có TA thì ma nhập vào
đâu?
Hỏi:
Vậy làm thế nào hàng phục?
Đáp:
khỏi cần hàng phục, chỉ là nhìn và hỏi, giữ nghi tình
mà thôi.
Hỏi:
Không hàng phục làm sao sống?
Đáp:
Ăn cơm thì sống. Cứ đói thì ăn, buồn ngủ thì ngủ, đâu
cần hàng phục !
Có
một người hỏi một vị Thiền sư:
-
Ông tu cách nào để đạt đến kiến tánh?
Đáp:
Đói thì ăn, mệt thì ngủ.
-
Thế là tôi cũng tu vậy! Tôi cũng đói ăn mệt ngủ.
Đáp:
Không phải.
-
Tại sao không phải?
-
Tôi ăn cơm chỉ là ăn cơm, còn ông thì không chịu ăn cơm,
cứ chê lên chê xuống, thứ này ngon thứ kia không ngon; tôi
buồn ngủ chỉ là ngủ, còn ông thì không chịu ngủ, trăm
điều suy nghĩ, cái này cái kia…
Hỏi:
Phật pháp có lìa thế gian pháp không?
Đáp:
Phật pháp bất nhị, nếu có lìa thế gian pháp là nhị, như
tôi thường nói tâm linh của mình là hư không, thế gian
có ở ngoài hư không đâu mà lìa !
Hỏi:
Vậy là không lìa cũng không bỏ?
Đáp:
Chẳng lấy chẳng bỏ. Tức là không tự lấy vọng tưởng
của mình xen vào . Tôi kể qua một công án của Thiền tông:
Ở
Trung Quốc, Tòng lâm là nơi tu hành của mười phương, Trụ
trì do chính quyền mời về, thường là người đã kiến tánh.
Tỉnh trưởng có quyền mời Trụ trì, cũng có quyền thôi
Trụ trì, nhưng đã mời Trụ trì rồi, việc trong chùa do Trụ
trì chịu trách nhiệm, dù là Tỉnh trưởng cũng không được
can thiệp.
Một
ngày kia, ông Tỉnh trưởng đi dạo trên núi, đến một cái
đình dành cho mọi người dừng chân nghỉ mát, gọi là “Đàm
không đình.”Gặp ngài Trụ trì, Tỉnh trưởng hỏi:
-
Thế nào là Đàm Không Đình?
Đáp:
Thì Đàm không đình là Đàm không đình.
Tỉnh
trưởng không chịu, rồi đi hỏi một Tu sĩ chưa kiến tánh,
vị đó đáp:
-
Chỉ nghe đình thuyết pháp, đâu cần miệng đàm không !
Do
vị này chưa kiến tánh, tự xen vào ý mình để đặt ra cái
lý, Tỉnh trưởng nghe có lý, mừng rỡ lại khen vị này cho
là hay, liền thôi chức vị Trụ trì kia, mời vị ấy
lên làm Trụ trì.
Tư
tưởng ở ngoài thế gian hiện nay ai cũng vậy, bậc Thánh
chỉ có thế lưu bố tưởng, không sanh ra trước tưởng, còn
người chưa kiến tánh thì sanh ra trước tưởng.
Hỏi:
Những người sống trong pháp thế gian, lại tự cho mình là
Bồ tát học Phật, nên bác bỏ thế gian pháp?
Đáp:
Trong giới luật của Tu sĩ, Tỳ-kheo cũng như Tỳ-kheo-ni, chưa
chứng nói chứng, chưa đắc nói đắc, gọi là đại vọng
ngữ. Ví như chưa chứng quả Bồ tát mà tự nói mình đã
chứng quả, là tội Ba-la-di, đọa địa ngục chín triệu năm.
Chẳng những tội địa ngục chín triệu năm, còn là tử hình;
tử hình không phải xử tử, chỉ là kiếp này mất đi thân
phận Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, muốn trở lại phải đợi kiếp
sau. Còn nếu chỉ lừa gạt nói dối là tiểu vọng ngữ, tội
nhẹ hơn.
Hỏi:
Cách đây vài hôm, khi con đang công phu, tự nhiên vọng thức
nổi lên, con nhìn ngay chỗ vọng thức nổi mà kềm chế không
được. Trải qua thời gian khoảng một tiếng rưỡi, từ từ
vọng thức lắng xuống rồi mất, lúc đó con không biết có
bị lạc thiền hay không, dần dần tất cả tan biến, ngã,
pháp, vũ trụ đều tan biến, con chẳng còn biết gì cả. Vậy
không biết có bị lạc vào vô tưởng định hay phi phi tưởng
định hay không?
Đáp:
Còn xa lắm. Nay cứ giữ cái không biết, trong cái không biết
phải có nghi, có thắc mắc mới được.
Hỏi:
Nếu lạc vào vô tưởng định hay phi phi tưởng định thì
làm cách nào ra?
Đáp:
Phi tưởng phi phi tưởng định là cảnh giới cao nhất của
cõi Tứ Không, nó nhập định tám muôn đại kiếp, chẳng
còn thể xác nữa. Thời gian một đại kiếp bằng bốn
trung kiếp; một trung kiếp bằng hai mươi tiểu kiếp, và một
tiều kiếp là mười sáu triệu năm, thầy làm sao đi đến
chỗ đó được ! còn cách xa lắm.
Bây
giờ cứ hỏi và nhìn mãi, ngoài ra đừng cho là lọt vào định
hay không định, lọt hay không lọt đều chẳng biết đến.
Tham thiền không phải là muốn định, cũng chẳng nói
là không muốn định; cái định của ngài Lục Tổ nói
“Na già định” là đại định. Ngài nói:”Cầm gươm
ra trận vẫn là định,” ồn ào cách mấy cũng là định,
chứ không phải ngồi yên lặng mới định.
Hỏi:
Khi con tập tham thiền, về chùa phải tụng kinh, vậy tụng
kinh có nghịch với sự tham thiền không?
Đáp:
Như các ngành nghề nơi thế gian, làm thợ hồ cứ làm, tham
thiền cứ tham; tụng kinh cứ tụng.
Hỏi:
Nghĩa là con vẫn có thể vừa tham thiền vừa theo học Trường
Cơ Bản Phật Học?
Đáp:
Thì cứ như vậy. Tôi cũng có dạy tại các trường Cơ bản
Phật học ở Long An, Thủ Đức, Sa Đéc và Đại Tòng Lâm,
nay Trường Cơ Bản Đại Tòng Lâm có mở thêm lớp Cao đẳng.
Tôi đến bất cứ trường nào cũng đề nghị sự học với
sự tu phải đi song song, vừa học vừa tu, vì nếu chỉ có
học mà không tu thì Phật pháp không dùng được, phải tu
rồi mới biết sự học đó đúng hay không.
Nếu
đang trong lúc học chưa thể tham được thì ngưng tham thiền,
đến giờ nghỉ học mới tham. Nếu thật sự đã đến mức
định rồi thì lúc học cũng là định, việc đó tự động.
Vì tôi biết thầy còn chưa đến mức đó, hãy cứ đề khởi
câu thoại đầu nhìn tới đi.
Hỏi:
Con đề câu thoại đầu nhìn chỗ không biết để có nghi
tình, vậy khi có nghi tình, tâm con nhìn chỗ trống rỗng mênh
mông rộng lớn bao la vô cùng tận, không có hạn lượng, không
có nơi xuất phát và không có chỗ cuối cùng, như thế có
đúng không?
Đáp:
Không đúng. Tại biết nhiều quá ! Nào là rộng lớn mênh
mông… đã không biết thì làm sao biết đến những thứ này
!
Hỏi:
Khi cái nhìn đã quen rồi thì luôn cái tâm nhìn cũng không
có, phải không?
Đáp:
Ấy là đã đến thoại đầu, đến thoại đầu rồi
câu thoại tự mất, chỉ còn nghi tình, ngoài ra không còn gì
khác, cũng không có quên hay không quên. Nhưng bây giờ chưa
đến thoại đầu, phải luôn nhìn vào chỗ không biết.
Hỏi:
Làm sao phân biệt giữa định và hôn trầm?
Đáp:
Tham thiền phải giữ được nghi tình, luôn có sự thắc mắc,
muốn biết mà biết không nỗi, nhưng không có tán loạn, gọi
là định, hễ có tán loạn ắt có vọng tưởng, chẳng phải
định.
Nếu
không có nghi tình, không biết gì hết, ấy là hôn trầm, cũng
như cái không biết của người ngủ mê, cái không biết của
người chết giấc, của kẻ tâm thần v.v…, ấy là cái không
biết chết, gọi là hôn trầm. Khi đang công phu, bất chợt
chìm vào giấc ngủ, lát sau mới tỉnh dậy, vậy không phải
là định, mà là hôn trầm.
Hỏi:
Khi hành giả tham thiền lên trình bất cứ vấn đề nào thì
đó là trình cái biết, là không phải, khi đã ngộ thì chẳng
có gì để trình. Vậy trong quá trình còn đang tham thiền chưa
đến ngộ thì trình lên cái gì?
Đáp:
Trong Thiền đường Trung Quốc, tất cả hành giả tham thiền
đều là Tỳ-kheo, đều thọ nhận sự cúng dường của mười
phương, nên phải có bổn phận tu cho đúng, tu đến kiến
tánh. Nói đến trình công phu, theo thường lệ, khi Thiền thất
đến ngày chót phải khảo công, tức khảo sát công phu của
mọi người, khiến công phu miên mật và phát khởi nghi tình.
Trình là trình cái công phu đó chứ chẳng phải trình kiến
giải và sự hiểu biết.
Chẳng
những thiền Đại thừa, Thiền Tiểu thừa cũng có khảo công
phu. Năm 1974, tôi đến Trung tâm Thiền viện Thái Lan, cách
thủ đô Bangkok khoảng một trăm cây số, trung tâm đó
không có thiền đường lớn để tu chung, chỉ mỗi người
ở một cốc riêng. Trong đó có người Thái, người Hoa và
người Việt, nhưng đa số là người Thái Lan. Cứ mỗi nửa
tháng, mọi người phải trình công phu cho vị Thiền chủ,
nhằm nắm được tiến độ của đại chúng, hễ ai tu sai
liền sửa lại cho đúng. Vị Thiền chủ cũng dùng cơ xảo
kích thích khiến cho công phu của mọi người dũng mãnh hơn.
Nhưng
đối với Thiền Nhật Bản thì cái trình đó thật sự là
trình kiến giải, vì tu theo cách thấu công án. Ở Thiền đường
bên Mỹ, có một vị hành giả người Mỹ, ông ấy đã tu
tại Thiền đường Nhật Bản ba năm theo cách thấu công án,
tự cảm thấy không ổn, đi tham học ở Đại Hàn bốn tháng,
sau đó đi qua Trung Quốc và Hồng Công. Do ở Hồng Công không
ai dạy tham Tổ Sư Thiền, nên sau cùng mới tìm đến tôi.
Ông ấy mỗi lần hỏi tôi, đều hỏi về công phu, còn số
Phật tử người Việt và người Hoa khi đến hỏi tôi là
hỏi về kiến giải.
Như
ngài Lai Quả khảo công phu, không khảo nơi thiền đường,
mà khảo ngay nơi Phương trượng, có ai dám không vào, khi bị
phát hiện phải ăn hương bảng. Nhưng Chùa Cao Mân ngày nay
thì chẳng còn sự khảo công phu, chính thầy Trụ trì nói
với tôi: “Quy củ hồi xưa thực hành 100% thì ngày nay chỉ
ứng dụng được 10%.” Vì không có sự khảo công phu, nên
sự tu của mọi người đúng hay sai cũng chẳng ai biết.
Ở
Việt nam vì hoàn cảnh không thích hợp, mọi người sợ bị
khảo công phu, lại quí vị phần nhiều là cư sĩ, không có
thọ nhận sự cúng dường, không thể bắt buộc khảo công,
nên tôi cho miễn. Vã lại, người có công phu sẽ tự tìm
đến và trình lên, còn những người không có công phu thì
khỏi trình.
Hỏi:
Người khảo công phu có phải người đã kiến tánh?
Đáp:
Ở Việt nam gọi là Thiền chủ, dù chưa kiến tánh cũng phải
nắm được cách thực hành cho đúng. Ví như thầy của ngài
Lai Quả chưa kiến tánh, nhưng ngài Lai Quả tu đúng cũng kiến
tánh; thầy của ngài Hư Vân chưa kiến tánh, nhưng ngài Hư
Vân tu đúng cũng kiến tánh.
Hỏi:
Ngoài pháp môn tham Tổ sư thiền, còn pháp môn nào đưa đến
kiến tánh không?
Đáp:
Như Lai thiền và tất cả thiền khác, nếu có phá ngã chấp,
sẽ đưa đến kiến tánh, Tổ sư thiền gọi là pháp thiền
trực tiếp, còn các pháp thiền khác gọi là pháp gián tiếp,
nhưng cuối cùng cũng tự động phát nghi rồi từ nghi đến
ngộ, y như Tổ sư thiền .Ví như pháp tu Chỉ quán thiền của
Tông Thiên Thai là căn cứ theo Kinh Pháp Hoa (xem trang 170), tông
Hoa Nghiêm căn cứ theo Kinh Hoa Nghiêm, tu đến Sự sự vô ngại
pháp giới cũng như tham Tổ sư thiền vậy.
Cho
nên, nhiều người không biết, cứ nghe nói đến chữ “Thiền
“thì sợ hãi khuyên bảo nhau “Hãy coi chừng tẩu hỏa nhập
ma !,” làm như thế vô tình phỉ báng Phật pháp, phỉ báng
Phật, Tổ, tạo tội địa ngục mà tự không hay.
Hỏi:
Trong cuốn Thất Chơn Nhân Quả ghi rằng: Một hôm Đức Phật
đang thuyết pháp tại Kỳ Viên, đột nhiên một mũi tên thần
bay phất phơ trên không. Phật hiện thần thông bay lên thì
mũi tên theo lên, bay xuống mũi tên cũng theo xuống. Đức Phật
nói với đại chúng:
Trong
tiền kiếp của Phật, một lần cùng đi với một đoàn người
năm trăm vị, trong đó có một người nảy ý giết hại tất
cả để cướp đoạt tài sản, do đó Phật phải ra tay giết
người đó. Và hôm nay quả báo đã đến, nên Đức Phật
sẵn sàng đưa bàn chân ra đón nhận mũi tên đó.
Kính
bạch Sư phụ, Đức Phật là người đã giác ngộ, và xuất
phát từ tấm lòng muốn cứu người, việc làm như vậy là
đúng, tại sao lại phải trả quả báo như thế?
Đáp:
Tất cả lời dạy của Phật chỉ là phương tiện, chứ chẳng
thể chấp thật, nên nói “Tất cả lời nói chỉ là phương
tiện,”“Ai nói ta có thuyết pháp là phỉ báng Phật.”Tại
sao? Vì nhân quả là việc trong chiêm bao, khi chưa ra khỏi chiêm
bao phải chịu nhân quả trong chiêm bao, khi nào ra khỏi mở
mắt chiêm bao rồi mới không bị dính mắc.
Vì
muốn khuyến khích người đời tin nhân quả, nên nói “Ta
thành Phật rồi vẫn phải chịu quả báo”, nhưng việc đó
không nhất định. Ví như câu chuyện Đức Phật bị nhức
đầu ba ngày, ở Kinh này nói như vậy, ở kinh khác Phật lại
nói:”Nói như thế chứ không phải có nhức đầu,”ấy là
vì muốn cho mọi người tin nhân quả.
Kiến
tánh là ở trong mở mắt chiêm bao thức tỉnh, nếu cứ chấp
thật cái thân này, thì phải có nhân quả, còn Phật Thích
Ca đâu có chấp vào thân này, không có thân thì ai chịu nhân
quả ! Ví như trong Kinh Pháp Hoa nói về Thiên bá ức hóa thân,
Phật nói:”Nay ta đang thuyết pháp nơi vô lượng vô biên
thế giới, đồng thời giảng Kinh Pháp Hoa, có tên họ, tuổi
tác khác nhau.
Hỏi:
Tôi đồng ý rằng phương tiện chỉ là linh động mà thôi,
nhưng nếu trong kinh đã nói như thế là có sự dẫn chứng
hẳn hoi, vậy tôi cảm thấy cần phải sửa lại những
kinh sách để tránh hiểu lầm Phật, đã làm điều rất phải,
còn bị quả báo mũi tên thần !
Đáp:
Tại tâm chấp của ông quá nặng, thần thoại của Ấn Độ
là một thứ văn học theo truyền thống, Phật pháp vốn chẳng
thể nói, nhưng nếu không nói thì làm sao mọi người tin?
Nên phải theo phong tục tập quán của địa phương, dùng thần
thoại để thể hiện, đó là tùy sự nhu cầu. Ví như trong
Kinh Phổ Môn nói ba mươi hai ứng thân: Gặp người nam hóa
thân nam để thuyết pháp, gặp người nữ hóa thân nữ thuyết
pháp, gặp Phật hóa thân Phật thuyết pháp, gặp Bồ tát hóa
thân Bồ tát để thuyết pháp…
Bồ
tát muốn độ con heo thì phải đầu thai thành con heo để
hóa độ. Nhân dịp này tôi kể qua câu chuyện Bồ tát đầu
thai thành con heo:
Một
vị Tăng du phương đến một ngôi chùa, chúng ở chùa cũng
đông, trong đó có một cụ già bệnh yếu, mọi người khinh
chê, chẳng ai chăm sóc, vị Tăng đến chăm sóc cho ông
cụ và rất mực kính trọng. Đến khi sắp trở về kinh thành,
Tăng đến từ giã, ông cụ nói:
-
Tôi muốn nhờ ông đem lá thư này đến cửa Nam giùm.
Tăng
nhận lời. Thư không dán lại, trên bìa thư chỉ ghi người
nhận tên là Bạc Hà và cửa Nam mà không ghi rõ số nhà đường
phố, vị Tăng cảm thấy kỳ lạ nên rút thư ra xem, trong đó
chỉ ghi mười mấy chữ, nội dung:”Hóa độ chúng sanh xong
thì mau trở về, chớ ở lại tạo thêm nghiệp”
Về
đến cửa Nam, vị Tăng đang ngỡ ngàng chẳng biết tìm người
này ở đâu thì nghe mấy đứa trẻ chơi chọi nhau, gọi tên
“Bạc Hà, Bạc Hà !.”Tăng liền hỏi:
-
Bạc Hà ở đâu?
Mấy
đứa trẻ chỉ vào con heo nằm ở một góc kia. Tăng nghĩ:
“Chẳng lẽ ông cụ lại bảo tôi giao thư cho con heo này ư?”hỏi
một cậu bé:
-
Chủ của nó là ai?
-
Chủ nó họ Triệu.
Sau
khi hỏi rõ địa chỉ, vị Tăng tìm đến gặp ông Triệu,
hỏi:
-
TaÏi sao con heo tên Bạc Hà?
-
Vì nó chỉ ăn bạc hà, nên mọi người gọi nó là Bạc Hà.
-
Sao con heo già quá, nuôi đã mười mấy năm mà không bán?
-
Tôi làm nghề đồ tể, nuôi rất nhiều heo, ngày thường thỉnh
thoảng có những con chạy lạc cũng không hay. Từ khi nuôi
con Bạc hà thì heo không bị mất nữa. Mỗi lần nó kêu lên
là các con heo đều chạy về, tôi thương nó lắm nên không
làm thịt.
Vị
Tăn g nghe nói, đến trước mặt con heo bỏ lá thư xuống,
Bạc Hà liền dùng chân trước nhặt lên bỏ vào miệng, rồi
đứng bằng hai chân sau như con người và tịch luôn. Mọi
người mới biết con heo này là Bồ tát đến hóa độ con
heo.
Trong
pháp Tứ nhiếp của Bồ tát có đồng sự nhiếp, muốn hóa
độ ai thì phải cộng sự với họ, gọi là Đồng sự nhiếp,
chỉ có bậc Bồ tát mới làm được, và cũng chỉ trong Phật
giáo mới có.
Hỏi:
Ở trên Sư phụ giảng về vấn đề nhân quả, theo con hiểu
thì chư Phật thường không có vọng ngữ và cuống ngữ, chỉ
theo phương tiện nói về nhân quả, đem tiền kiếp của Phật
ra dẫn chứng như bị kim thương, mã mạch, nhức đầu ba ngày
v.v…Nếu lấy sự hiểu biết sai biệt của chúng sanh thì
thấy có thật, còn những vị đã thức tỉnh từ chiêm bao
thì chuyện có hay không đều không dính dáng, phải không?
Đáp:
Bởi do chúng sanh ở trong thế lưu bố tưởng sanh ra trước
tưởng nên có sự chấp thật, còn bậc Thánh chỉ có thế
lưu bố tưởng, chẳng có trước tưởng, nên Phật nói Có
cũng chẳng lọt vào cú thứ nhất, Phật nói Không cũng chẳng
lọt vào cú thứ nhì, nói chẳng có chẳng không cũng chẳng
lọt vào cú thứ ba, nói cũng có cũng không cũng chẳng lọt
vào cú thứ tư.
Phàm
phu hễ mở miệng là lọt vào tứ cú, không mở miệng cũng
lọt vào tứ cú; vì nói, nín, chẳng nói chẳng nín, cũng nói
cũng nín, đều lọt vào tứ cú. Nên Kinh Lăng Già dạy
chúng ta phải lìa tứ cú, nhưng vì bệnh chấp của chúng sanh
không thể sửa đổi được, ấy là tập khí từ vô thỉ.
Có bài kệ:
A-đà-la-thức thậm thâm tế,
Vô thỉ tập khí thành bộc lưu.
Ngã ư phàm ngu bất khai giảng,
Khủng bỉ phân biệt chấp vi ngã.
Tập
khí như nước chảy xiết, mặc dù thấy như không chảy, nhưng
thực tế chảy rất gấp, nên Phật đối với phàm ngu thường
không khai giảng, sợ họ chấp thật vậy.
Một
số bậc trí thức ngày nay cho Kinh Kim Cang là nói bậy, vì
lúc thì nói là thật, lúc thì nói là chẳng thật, nói lật
đi lật lại; còn đối với Kinh Lăng Nghiêm, như ông Lương
Khải Siêu là nhà văn nổi tiếng ờ Trung Quốc lại nói kinh
này là giả, vì hiểu không nổi.
Đức
Phật muốn mọi người đều kiến tánh, đến chừng kiến
tánh là hiểu cả. Nếu chưa chứng, cũng như Kinh Viện Giác
nói:”Người chưa kiến tánh, còn ở trong luân hồi thì làm
sao hiểu được !” Nếu dùng tri kiến luân hồi để hiểu
Chơn như thì hiểu cách cao siêu nhất cũng chỉ là tri kiến
luân hồi, đều là việc trong chiêm bao, chẳng thể thực tế
được.
Hỏi:
Người bán xôi bán chè khi kiến tánh rồi có hoằng pháp được
không?
Đáp:
Có một công án như sau:
Một
vị Tăng họ Châu, vị này chuyên nghiên cứu Kinh Kim Cang, là
pháp sư giảng kinh Kim Cang thật thông suốt, và giải thích
ra thành một bộ sớ giải, nên người đời tôn xưng là Châu
Kim Cang.
Châu
Kim Cang ở miền Bắc Trung Quốc, nghe nói Thiền tông rất thịnh
hành ở miền Nam, khiến người kiến tánh chỉ trong một sát
na. Trong lòng ông ấy rất giận, vì nói theo Giáo môn là phải
tu trải qua ba A tăng kỳ kiếp, muôn kiếp học oai nghi,
muôn kiếp học tế hạnh của Phật, sao người tham thiền
dám nói trong sát na thành Phật ! Bèn nổi ý muốn quét sạch
bọn Thiền-hòa-tử kia !
Sư
gánh sớ giải lên đường đi miền Nam, dọc đường gặp
một bà cụ bán điểm tâm. Đang lúc đói bụng, muốn mua điểm
tâm, bà cụ hỏi:
-
Thượng tọa gánh cái gì vậy?
-
Sớ giải Kim Cang.
-
Trong đó nói gì?
-
Giải thích Kinh Kim Cang.
Bà
cụ nói: Vậy tôi xin hỏi Thượng tọa về Kinh Kim Cang, nếu
trả lời được tôi sẽ cúng dường; nếu không trả lời
được thì tôi không bán, mời Thượng tọa đi mua chỗ khác.
-
Bà cụ cứ hỏi.
-
Trong Kinh Kim Cang nói:”Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện
tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc, xin hỏi
Thượng tọa muốn điểm tâm nào?
Châu
Kim Cang trả lời không được, mặt đỏ bừng, trong tâm hổ
thẹn: Chính mình muốn quét sạch những Thiền-hòa-tử ở
miền Nam, nay mới gặp một bà cụ bán hàng rong mà trả lời
không được, thì còn đủ tư cách nào nữa, đành trở về
thôi.
Bà
cụ kêu lại: Thượng tọa chớ vội đi về, nay tôi chỉ cho
một nơi, hãy đến Long Đàm gặp Thiền sư Sùng Tín, sẽ được
sự giúp đỡ.
Sư
nghe lời bà cụ, tìm gặp Thiền sư Sùng Tín, sau đó nối
pháp của Thiền sư. Châu Kim Cang chính là ngài Đức Sơn, có
tiếng tăm về Đức Sơn Phảng, vào cửa liền đánh.
Như
bà cụ bán điểm tâm nói trên cũng thừa sức ra hoằng pháp,
nhưng vì sự hoằng pháp phải có nhân duyên, và bà chỉ có
nhân duyên với ngài Đức Sơn thôi.
Hỏi:
Kinh nói “Việc quá khứ không ghi nhớ, tương lai không sắp
đặt, hiện tại đừng để ý,”con nghĩ mình phải lo tương
lai cho con cái mình, mà nay con bị thất nghiệp, phải lo tìm
việc làm, vậy phải làm sao? Xin Sư phụ từ bi khai thị.
Đáp:
Người tu phải tin nhân quả, hễ tin nhân quả thì không cần
lo, nhưng chẳng phải là không đi làm. Nếu trong nhân quả
không bị đói thì sẽ không đói. Vì theo Phật pháp, nếu
là người chơn tu sẽ có Long thần Hộ pháp sắp đặt giúp,
khiến được sống qua ngày để tu, ngoại trừ không tin nhân
quả mới phải lo.
Hỏi:
Làm sao biết mình là chơn tu hay tùy duyên tu?
Đáp:
Người chơn tu thì quyết tử, còn tùy duyên tu không quyết
tử với đủ thứ lý do: Nào là còn phải kiếm sống nuôi
gia đình, nào là để ít năm sau con cái lớn rồi, xong việc
gả cưới mới tu… những người này là không có hy vọng.
Hễ quyết tâm thì phải bắt đầu ngay, tôi thường nói:”Trong
cuộc sống hàng ngày, bất cứ đi đứng nằm ngồi, mặc áo
ăn cơm đều là tu hành cả.”