[14] 15/02/95–21/02/95
tại Chùa Từ Ân, Quận 11
Tại
sao nhà khoa học phải dùng ngũ giác quan?
Vật
lý sinh mạng công trình học & Triết lý sinh mạng công
trình học
Không
gian bốn chiều và làn sóng ánh sáng
Tốc
độ siêu ánh sáng
Quả
cầu thời gian
Vũ
trụ khoa học toàn diện quán
Cách
thức đi khất thực
Có
thể dùng quán tưởng để sửa lại nhân quả?
Mật
mã tin tức của sinh mạng
Thuyết
tái sinh
Thái
hậu và hạt châu
Những
kinh điển của Phật có phải chơn lý không?
Vua
Trần Nhân Tông va Tuệ Trung Thượng sĩ là người kiến tánh
Sự
tích Kim Bích Phong
Phật
tánh hiện tiền, mọi thứ y như cũ
Tâm
như họa sĩ khéo, hay vẽ các hình tượng
Mạng
căn đứt tức trở về không?
Dùng
sức tâm để ảnh hưởng người thân
Ai
ăn nấy no, vậy chúng con làm những việc phước lành, có
thể ảnh hưởng cha mẹ và người thân không?
Hỏi:
Tại sao nhà khoa học phải dùng ngũ giác quan?
Đáp:
Nhà khoa học phải dùng ngũ giác quan tức nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân để cảm nhận sự vật, nếu ngũ giác quan không
cảm nhận được là họ không biết. Như ánh sáng chiếu trên
không gian có thể chứng tỏ sự tồn tại của không gian,
mà ánh sáng chiếu trên thời gian thì không thể chứng tỏ
sự tồn tại của thời gian, vì thời gian thuộc về ẩn tánh,
ngũ giác quan không thể cảm nhận. Mặc dù không cảm nhận
được, nhưng chẳng thể phủ nhận thời gian.
Theo
lý luận tương đối của Einstand, khi một vật thể có vận
tốc gần bằng tốc độ ánh sáng, thì vật thể đó sẽ rút
nhỏ lại, và thời gian được kéo dài thêm. Nhà khoa học
chỉ biết tốc độ ánh sáng là tốc độ cao nhất, chẳng
có gì cao hơn; lại nữa, hạt tử của ánh sáng là vật thể
nhỏ nhất, chẳng cái nào nhỏ hơn. Nhưng nếu dùng tâm lực
khiến vận tốc của vật thể siêu việt tốc độ ánh sáng,
thì vật thể đó sẽ biến thành không có thực thể, gọi
là hư thể, vì là hư thể nên có thể xuyên qua vật cản
mà chẳng chướng ngại. Như ông Trương Bữu Thắng, người
có công năng đặc dị ở Trung Quốc, dùng tâm lực xuyên qua
vách tường và vật cản, không vật chất nào chướng ngại.
Tôi
mới lập ra một lý luận mới về vũ trụ khoa học toàn diện
quán, tức ngoài cái có sẵn của Vật lý khoa học, còn thêm
vào cái triết lý để hiển bày tâm lực sẵn có của
mọi người.
Lý
luận của nhà khoa học đặt ra gọi là vật lý sinh mạng
công trình học, và lý luận mới mà tôi đặt ra gọi là Triết
lý sinh mạng công trình học, đó thuộc về trạng thái của
tâm linh, dùng ngũ giác quan chẳng thể cảm nhận. Như vấn
đề thời gian, chính các nhà khoa học cũng chẳng thể phủ
nhận được, nay tôi muốn khiến khoa học từ không gian ba
chiều tiến lên không gian bốn chiều, rồi nhiều chiều, siêu
chiều, cho đến vô cực, tức không có cực điểm; chẳng
có cái cao nhất, cũng chẳng có cái thấp nhất.
Tôi
thường giảng về tánh Không của tự tâm, nó trống rỗng
không có gì cả, nhưng sức dụng vô lượng vô biên, cũng
là vô cực, tức không có cực hạn. Nay dùng số 0 để
thí dụ:
Người
ta thường nói “bằng như số 0,” tức là không có gì hết,
nhưng giá trị thực tế của số 0 là vô cực: có thể lớn
tới vô cực, cũng có thể nhỏ tới vô cực. Ví dụ, lấy
đơn vị là 1, ở phía sau thêm vào một số 0 thì số 0 này
có giá trị bằng 9, 1 + 9 = 10. Nếu đơn vị là 10, thêm vào
số 0 thì giá trị của nó bằng 90, 10 + 90 = 100. Nếu đơn
vị là 100, thêm một số 0 thì giá trị của nó là 900, 100
+ 900 = 1000… cứ thêm mãi như thế có thể lên đến vô cực.
Bây
giờ muốn rút nhỏ lại cũng có thể nhỏ tới vô cực: Ví
dụ đơn vị là 1, ở trước số 1 thêm vào số 0, tức 0,1,
nếu thêm vào một số 0 nữa thành 0,01… có thể rút nhỏ
đến không có cực hạn. Vũ trụ cũng vậy, tự tâm cũng vậy,
cho nên gọi là “vũ trụ vô cực.”
Vì
khoa học hiện đại có thực chất nên có cực hạn, chẳng
có cái gì nhỏ hơn thể tích của hạt quang tử (hạt ánh
sáng) nên có tốc độ ánh sáng. Nhưng tâm lực phát ra làn
sóng, ở đây tạm gọi là làn sóng tin tức của tâm linh,
nó nhỏ hơn hạt quang tử nhiều, cho nên có thể một niệm
liền đến. Hiện nay các nhà khí công Trung Quốc đã phần
nào thể hiện được sức dụng đó và có thể biểu diễn
cho mọi người xem, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã
nhóm tụ lại để nghiên cứu những hiện tượng này, thấy
có sự thật lại không biết lý do tại sao, chẳng có gì để
chứng tỏ, chẳng thể dùng lý luận logic, vì đó là siêu
việt logic.
Bây
giờ chúng ta tham thiền, phải tin sức tâm của mình bằng
với Phật Thích Ca, chẳng kém hơn chút nào, năng lực của
Phật tánh mình với Phật chẳng khác, chỉ là sức dụng của
Phật được hiện ra, chẳng bị thời gian không gian số lượng
hạn chế, chúng ta do có ngã chấp, nên phải bị thời gian
không gian số lượng hạn chế, chẳng thể hiện ra sức dụng
mà thôi. Nhưng chẳng phải là không có; nếu mình có sự tu
đến mức như Phật Thích Ca thì cũng phát huy ra được.
Hỏi:
Thế nào là không gian bốn chiều và làn sóng ánh sáng?
Đáp:
Theo các nhà khoa học, nơi không gian ba chiều: dài, rộng, cao,
có tốc độ cao nhất là tốc độ ánh sáng. Tốc độ ánh
sáng vận hành trong một giây đồng hồ vòng quanh trái đất
bảy vòng, tức ba trăm ngàn dặm/ giây. Mọi tốc độ khác
đều không bằng. Ví như tốc độ vận chuyển của vô số
hạt nguyên tử trong cái bàn này, chỉ bằng ½ hoặc 1/3 của
tốc độ ánh sáng, máy bay siêu thanh cũng không thể so bằng
tốc độ ánh sáng.
Nhà
khoa học ước tính từ trái đất đi đến các hành tinh khác
phải trải qua mấy trăm quang niên, như ánh sáng từ mặt trời
phát ra, chiếu tới trái đất phải mất thời gian tám ngày,
nhưng tâm lực của mình chỉ một niệm là đến. Lại nữa,
thời gian đã trôi qua là không thể trở về quá khứ, nhưng
tâm niệm thì có thể trở về, nên người chứng quả A-la-hán
biết được tám muôn kiếp trước và tám muôn kiếp sau.
Về
phương tiện truyền thông qua điện thoại, khi chúng ta nói
trong điện thoại, âm thanh sẽ được chuyển thành làn sóng
đến đầu dây bên kia rồi trở thành âm thanh lại. Cũng thế,
những hình ảnh phát ra từ Đài truyền hình đến khắp nơi
cũng nhờ làn sóng điện, nhưng làn sóng âm thanh và làn sóng
điện còn kém xa so với tốc độ ánh sáng. Cho đến nhà khoa
học biết rằng, quang tử là vật thể nhỏ nhất và có tốc
độ nhanh nhất trong không gian ba chiều, nhưng đối với không
gian bốn chiều, tức chiều thời gian thì nhà khoa học
chẳng thể biết. Tại sao? Vì không thể cảm nhận được
sự tồn tại của thời gian bởi ngũ giác quan. Nhưng tâm lực
của chúng ta cảm nhận một phần, gọi là siêu
ngũ giác quan, ví như những nhà khí công và những người
có công năng đặc dị đến bậc cao rồi thì có thể cảm
nhận .
Hỏi:
Theo vật lý khoa học, muốn khiến một vật thể bay lên hư
không phải hội đủ các điều kiện tứ đại như địa,
thủy, hỏa, phong, máy móc và phải có phản lực; còn các
vị A-la-hán hồi xưa có thể dùng tâm lực khiến cả một
khối đá bay lên trên không, vậy hai sự việc có khác nhau
không?
Đáp:
Khác. Máy móc phải có động lực bằng sức nóng như điện,
nhiên liệu, năng lượng mặt trời v.v… động lực ấy là
vật chất, còn A-la-hán là dùng động lực của tâm linh. Cái
kia là áp dụng vật lý khoa học, còn cái này là dùng triết
lý của tâm linh.
Theo
các nhà khoa học, bất cứ vật chất gì đều do nhiều nguyên
tử hợp lại mà thành, trong mỗi hạt nguyên tử có một hạt
trung tử, xung quanh có nhiều điện tử ngày đêm xoay chuyển
không ngừng, dùng con mắt chẳng thể thấy, phải dùng kính
hiển vi mới thấy rõ. Sự xoay này nhỏ từ hạt tử, lớn
đến hệ mặt trời, hệ ngân hà v.v… đều xoay chuyển như
thế, cho đến các hỏa tiển, phi thuyền được phóng đi cũng
xoay như vậy. Tốc lực xoay là 1/3 tốc độ của ánh sáng,
và tốc độ bay bằng ½ của tốc độ ánh sáng. Tại sao tất
cả đều không bằng tốc độ ánh sáng? Vì chẳng có cái
gì nhỏ bằng hạt quang tử.
Theo
suy luận của Einstand, tốc độ cao chừng nào thì thể tích
nhỏ chừng nấy, và khi cao tới siêu ánh sáng thì không còn
thể tích, nên có thể xuyên qua vật cản mà không chướng
ngại . Do đó, dùng tâm lực có thể khiến tốc độ của
vật thể siêu việt ánh sáng, trở thành hư tử, khi nào giảm
bớt tốc độ của vật chất thì vật chất đó trở về
thực thể (thực tử).
Hỏi:
Trước đây, theo các nhà bác học, khi con người chết, chơn
linh đi vào không gian, nếu nhân loại có thể chế tạo một
phi thuyền bay bằng tốc độ ánh sáng thì thấy được những
chơn linh như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Lê Lợi chẳng
hạn, vậy có đúng không?
Đáp:
Có thể, đó gọi là tin tức còn lại. Vì thể tinh thần gọi
là tâm linh, nhà Phật gọi là Diệu tâm, Chơn như Phật tánh
… khắp không gian thời gian, là một chỉnh thể, chẳng quá
khứ, hiện tại, vị lai, chẳng có tên gọi, nay tạm đặt
tên gọi là “cầu thời gian,” tức quả banh thời gian. Đâu
phải chỉ có ông Trần Hưng Đạo, mà cho đến cách xa mấy
ngàn năm, mấy triệu năm vẫn tồn tại. Vì trong quả banh
thời gian đâu có chia thành từng giờ từng phút như con người
tự đặt ra thời gian để tính toán? Kinh Kim Cang nói:”Tâm
quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm
vị lai bất khả đắc,” thì đâu thể đem thời gian chia
thành quá khứ, hiện tại, vị lai?
Bây
giờ nếu tôi đem thời gian chia nhỏ lại cũng không thể thành
lập quá khứ hiện tại vị lai. Tôi thường thí dụ: Đem
một sát na chia thành 60A, 1A chia thành 60B, 1B chia thành 60C,
chỉ chia thêm 3 lần thôi, theo toán học vẫn có con số biểu
thị thời gian 1C, nhưng trên thực tế thì trí óc con người
muốn hiểu về thời gian 1C đó đã không được, vì
tôi vừa nói chưa dứt lời là đã trải qua mấy trăm C thời
gian rồi. Hiện tại đã không thành lập được thì quá khứ,
vị lai làm sao thành lập? Tôi chỉ chia thêm 3 lần, nếu tôi
chia thêm 30 lần, 300 lần, 3000 lần, tuy rất nhỏ, con số biểu
hiện thời gian vẫn còn, nhưng đối với bộ óc của mình
đâu còn biết được thực tế của thời gian đó nữa !
Vì
chúng ta đã quen theo không gian ba chiều, nên không thể nhận
biết được không gian bốn chiều. Einstand cũng có suy luận
đến: Nếu vật thể vận chuyển theo tốc độ gần bằng
ánh sáng thì thể chất của nó thình lình thu nhỏ lại, mà
thời gian được kéo dài ra. Theo suy luận trên, nếu tốc độ
vật thể bằng với tốc độ ánh sáng thì sẽ ra sao? Thể
tích của vật thể có thể rút đến cực nhỏ, và khi đã
siêu việt ánh sáng sẽ trở thành gần như không còn. Chẳng
phải là không còn, nhưng ngũ giác quan đã chẳng thể cảm
nhận được, nên tôi đặt tên là “vật chất ẩn tánh.”
Trong
cuốn sách “Vũ trụ khoa học toàn diện quán”mà tôi đang
biên soạn chia thành hai phần: một phần là Vật lý sinh mạng
công trình học, tức khoa học hiện đại, còn một phần là
triết lý sinh mạng công trình học. Theo lý luận triết lý
sinh mạng công trình học thì thời gian có thể trở ngược
lại, tức dùng tốc độ nhanh để trở ngược lại hôm qua
hoặc tiến nhanh đến ngày mai. Tục ngữ Trung Quốc có câu:
“Trên dưới ba ngàn năm, tung hoành năm muôn dặm,” đi lại
chỉ trong một niệm.
Chớ
nói là trên dưới ba ngàn năm, ba triệu năm cũng đi lại trong
một niệm. Tại sao? Vì bản thể của tâm đã khắp không
gian thời gian thì chẳng có khái niệm khứ lai xa gần, do không
có khứ lai nên gọi là Như Lai; do không có sanh diệt nên gọi
là Niết bàn. (Sư phụ dẫn dụ về tánh thấy tồn tại vĩnh
viễn, khắp không gian, thời gian, lược qua.)
Vì
những người không có tu nên bị ngũ giác quan hạn chế, còn
những người có tu hành đến mức thì siêu việt ngũ giác
quan. Ví như A-la-hán thấy được tám mươi ngàn kiếp trước
và tám mươi ngàn kiếp sau, nhưng vẫn bị số lượng hạn
chế, đến quả vị Phật thì không còn bị hạn chế, không
gian thời gian, chỗ nào cũng như chỗ nấy, vì bản thể của
tâm khắp không gian thời gian.
Cho
nên, cuốn sách của tôi gom lại tất cả lý luận của nhà
khoa học, nhà triết học, cho đến lý luận của các nhà khí
công, những người có công năng đặc dị v.v… mà sáng lập
ra một lý luận mới, gọi là Vũ trụ khoa học toàn diện
quán.
Pháp
tham Tổ Sư Thiền là pháp xuất thế gian, còn tôi biên soạn
cuốn sách này thuộc pháp thế gian. Tại sao tôi phải làm
như thế? Có phải mâu thuẫn không? Bởi vì tôi muốn hoằng
pháp, vì nhà khoa học chỉ tin ở bộ óc, không tin sức của
tâm linh, cho đến người đời cũng vậy. Bộ óc là cơ thể
vật chất, tâm linh là thể tinh thần, vật chất có hình tướng,
ngũ giác quan có thể cảm nhận được. Bây giờ nhà khoa học
phát minh các máy móc, như điện thoại, truyền hình… chỉ
là khuếch trương sự thấy nghe của tai mắt chúng ta mà thôi,
cũng phải thông qua ngũ giác quan để cảm nhận; còn về thể
tinh thần thì không thể cảm nhận được, mặc dù không thể
phủ nhận sự tồn tại của nó.
Đối
với những gì không thể cảm nhận qua ngũ giác quan thì nhà
khoa học cho là không có, rồi những cái chẳng thể dùng lý
luận để giải thích thì cho là tự nhiên, nhưng Phật Thích
Ca trong kinh đại thừa liễu nghĩa phủ nhận nhân duyên và
tự nhiên, như vấn đề con gà và trứng gà (lược qua). cho
nên tôi đặt ra danh từ, đặt ra lý luận giải thích để
cho mọi người đều tin rằng có cái tâm, mỗi mỗi chúng
sanh đều có tâm linh, đều có sức mạnh vô cùng tận, nếu
qua sự tu trì sẽ hiện được sức dụng của tâm.
Hỏi:
Hồi thời Phật Thích Ca, khi đi bát, người ta cúng dường
đồ chay đồ mặn đều độ hết, cho nên Nam tông cũng theo
truyền thống đó mà đắc quả A-la-hán. Vậy cách thức khất
thực của thời nay như thế nào?
Đáp:
Phân biệt là thức, không phân biệt là trí. Phật pháp là
muốn chuyển thức thành trí, tức chuyển tám thức thành tứ
trí. Phép đi bát có sự qui định, phải đúng theo pháp:
Khi đi không ngó qua ngó lại, không được mở miệng nói chuyện,
đi hết bảy nhà nếu không ai cúng dường cũng phải trở
về với bát không. Ai cho gì ăn nấy, không được phân biệt
thức ăn tốt xấu hoặc thối sình, không được qui định
người thí chủ phải cúng dường như thế nào, mà là tùy
điều kiện khả năng và phát tâm của thí chủ. Đó
mới gọi là trí không phân biệt, hễ không phân biệt tức
là chay.
Nhưng
hiện nay có một số đi bình bát, có người cứ đứng trước
chỗ bán cá, người bán tưởng là muốn xin cá, liền cúng
dường một con cá sống, rồi vị đó lắc đầu, yêu cầu
phải đập chết con cá rồi mới lấy… những hành vi đó
sau này phải trả nợ mạng lẫn nợ thịt. Lại nữa, khất
thực đâu phải đi vào chợ, mà phải đi từng nhà.
Hỏi:
Có thể dùng quán tưởng để sửa lại nhân quả không?
Đáp:
Không được. Do tự mình ham ăn thịt, rồi quán tưởng cho
đó là rau, rồi lại tự nói là ăn được không có nhân quả
ư? Lại nói là tôi giết chết nó là vì muốn độ cho nó
khỏi chịu cái khổ súc sinh? Đâu thể được ! Đây là nghịch
với nhân quả. Do kiếp trước đã tạo nhân và phải chịu
quả báo như thế, nếu nợ nhân quả chưa dứt, vẫn còn phải
đầu thai trả tiếp, Đức Phật còn không thể sửa lại nhân
quả của người khác.
Vũ
trụ như là căn nhà, sự cấu tạo của vũ trụ tức không
gian, thời gian, số lượng là sườn nhà, nếu đem sườn nhà
rút ra thì căn nhà sẽ bị sụp. Mà không gian, thời gian, số
lượng là gì? Chỉ là ba khái niệm do vọng tâm mình đặt
ra chứ không có bản thể. Thiền tông kiến tánh gọi là đập
bể hư không. Hư không làm sao đập bể? Tức phá được khái
niệm không gian, nên Kinh Kim Cang nói:”Tâm quá khứ bất khả
đắc,tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả
đắc.”
Thật
ra, không gian, thời gian, số lượng dù nói thành ba, nhưng
ba khái niệm này chỉ là một thôi, chẳng thể độc lập,
mà tất cả mọi thứ đều bị hạn chế bởi ba cái này .
Ví như tôi đang ngồi đây cũng phải nhờ ba khái niệm này:
Tôi ngồi đây là chiếm chỗ không gian, năm nay tôi 73 tuổi,
73 là số lượng, tuổi là thời gian, nếu đem một trong ba
thứ này rút ra thì làm sao có “Tôi”ngồi tại đây? Tất
cả quí vị cũng vậy.
Nhưng
mỗi mỗi đều có sự vận động và tốc độ của nó, tôi
tạm đặt tên khoa học gọi là mật mã tin tức, đó cũng
là người đời hay nói là “số mạng đã được ghi trong
kiếp trước.” Giả thiết trong mật mã tin tức của tôi
kiếp trước được ghi trong tâm linh là: Đến 40 tuổi thì
tôi sẽ được làm Bộ trưởng, ấy gọi là mật mã sẵn
có, nhưng có tánh tương đối: Ví như đến 40 tuổi tôi không
làm Bộ trưởng, chỉ làm một chức vụ chủ nhiệm nào đó,
tương đương với chức vị Bộ trưởng, gọi là tánh tương
đối. Hoặc chưa đến lúc đó, do tôi ham tiền, không đi làm
Bộ trưởng mà đi kinh doanh được phát tài… ấy gọi là
tánh khả biến, tức có sự biến đổi, cũng gọi là tu sửa.
Nay chúng ta tu hành là muốn sửa lại mật mã tin tức của
kiếp trước.
Hỏi:
Trong cuốn Bồ đề tâm Văn có ghi: Đại Sư Húy Thật Hiện,
tự Từ Tề, hiệu Tỉnh Am, sinh năm 1685. Năm 1714 yết kiến
Hòa thượng Linh Thứu tại Sùng Phước, tham câu “người
niệm Phật là ai?,” công phu miên mật, đến tháng 4 năm ấy
đã hoát nhiên đại ngộ nói:”Ta tỉnh ngộ rồi.”Từ đó
ngài biện tài vô cùng, ứng cơ vô ngại. Mỗi năm đến ngày
Phật Niết bàn, Đại sư giảng Kinh Di Giáo và Kinh Di Đà,
khai thị cái nghĩa tâm này là Phật, giáo hóa khắp nơi. Không
bao lâu, Đại sư thối ẩn ở Chùa Tuyền Lâm, không ra khỏi
cửa, nỗ lực tu tập Tịnh độ mười vạn tiếng trong một
ngày đêm. Trước khi viên tịch, ngài thấy Tây phương Tam
thánh và bảo: “ngày 14 tôi nhất định vãng sanh,” nói rồi
chấp tay niệm danh hiệu Phật và tịch. Tại sao trước đã
tham thiền được ngộ, sau lại tu tập Tịnh độ, vậy là
thế nào?
Đáp:
Đó cũng chẳng có gì lạ, vì người viết sách này là người
tu Tịnh độ mà không biết về Tịnh độ, lại càng chẳng
biết gì về cách tu Tổ Sư Thiền, dùng ý của mình để biên
soạn.
Ở
Việt nam, các chùa đều thờ tháp của các Tổ ghi là Lâm
Tế Chánh tông, nhưng có một vài chùa không cho đệ tử học
thiền, chẳng những không cho học thiền, lại phỉ báng thiền,
cảnh cáo mọi người “hãy coi chừng tẩu hỏa nhập ma !”việc
trên đã đủ hiểu, đó chỉ là gắn bản hiệu dòng Lâm Tế.
Nhiều
người nói là tu Tịnh độ mà không biết tông chỉ Tịnh
độ, không biết đường lối thực hành, luôn cả thiền của
Tịnh độ cũng không biết, nói đến thiền cứ tưởng là
chỉ có Tổ Sư Thiền mà thôi. Thật ra, Tịnh độ có ba thứ
thiền: Thật tướng niệm Phật, Quán tưởng niệm Phật và
Hồng danh niệm Phật. Trong quán tưởng niệm Phật gọi là
quán Vô Lượng Thọ, gồm 16 thứ thiền quán, nhiều người
không biết đó là thiền của Tịnh độ, cứ cho mọi thứ
đều là Tổ Sư Thiền, phải bài xích, thế thì làm sao có
thể nhận là con cháu của Lâm Tế ! Rồi viết ra những sách
như thế rất có hại, nếu chiếu theo giới luật của nhà
Phật thì đó là phỉ báng pháp, thuộc tội địa ngục.
Hỏi:
Có nhiều lý lẽ được đưa ra để phản bác lại cái thuyết
tái sinh, vì nếu có tái sinh thì dân số trên thế giới phải
không tăng không giảm, khi một người chết phải có một
người khác sinh ra. Nhưng dân số thực tế trên thế giới
mỗi lúc một tăng nhiều hơn, vậy là thế nào?
Đáp:
Không những không thêm bớt, kể cả không khí, nước cũng
không thêm bớt, mặc dù hằng ngày bao nhiêu người xử dụng
nước để sinh sống, tưới cây, sản xuất… nhưng số lượng
nước vẫn không thêm bớt. Tất cả vật chất cũng không
thêm bớt, sự tuần hoàn đó là luật vũ trụ, bất cứ cái
gì, cái bàn này, cái tách này, cho đến mỗi hạt nguyên tử
đều đang tuần hoàn, không chừng ly nước mà tôi đang uống
này, mấy ngàn năm trước vua Tần Thủy Hoàng cũng đã uống
qua ! Kể cả nhà khoa học phóng vệ tinh lên vũ trụ cũng đang
tuần hoàn không ngừng, khi nào muốn quay trở về trái đất
phải áp dụng lực hấp dẫn vạn hữu, và nó không được
rời khỏi sức hấp dẫn của trái đất. Muốn rời khỏi
lực hấp dẫn của trái đất phải dùng năng lực của tâm,
tôi đặt tên đó là lực bài xích hấp dẫn vạn hữu, vì
mọi cái đều chẳng có sự thêm bớt, nên Phật nói là vô
thỉ.
Hỏi:
Con là hành giả tham thiền, người ta thiếu nợ con, đòi mãi
không trả, nhiều lúc tiếng to tiếng nhỏ qua lại, vậy có
mắc tội gì không?
Đáp:
Bất cứ việc gì đều có nhân quả, nếu đã tự cho mình
là hành giả tham thiền thì phải giữ đúng nghi tình; nghi
tình là không biết, đã không biết thì kể cả người khác
thiếu nợ mình cũng quên luôn. Vã lại, Phật pháp nói về
nhân quả, nếu người ta thiếu nợ mình mà không trả, có
thể do kiếp trước mình thiếu nợ họ, nên cũng khỏi cần
đòi; nếu kiếp trước mình không mắc nợ họ, mà kiếp này
họ thiếu nợ mình không trả, kiếp sau cũng phải trả.
-
Dạ, đôi lúc phải làm dữ rồi họ mới trả.
Đó
là ngã chấp chứ chẳng phải hành giả tham thiền, hành giả
tham thiền không biết đến việc này.
-
Vậy khỏi cần đòi hả Sư phụ?
-
Khỏi lo. Nhân dịp này tôi kể một câu chuyện cho cô nghe:
Trong
hoàng cung, Thái hậu của vua thình lình đánh mất một hạt
châu quý giá, ông vua biết được chuyện này, định khám
xét hết tất cả cung nữ và thái giám, thái hậu ngăn không
cho, lại nói rằng:
-
Đồ vật của ta không thể mất được, vì từ mấy mươi
kiếp trước đến nay ta không hề lấy đi đồ vật của người
khác, không có tạo nhân mất đồ, khỏi tìm, ít bữa nó sẽ
tự trở về.
Ông
vua nghe rồi đành thôi, ít ngày sau Tôn giả A Nan lượm được
hạt châu ở vườn hoa, đem trả lại cho vua. Thái hậu nói:
-
Đó, con thấy chưa, ta nói nó sẽ trở về mà !
Vua
nói: May nhờ Tôn giả A Nan lượm được, nếu là người khác
thì làm gì có chuyện đó !
-
Con không tin hả, con hãy đem hạt châu này bỏ ở bất cứ
nơi nào cũng được, nó sẽ trở về.
Ông
vua bèn sai người đem hạt châu bỏ ở một ngã tư đường
đông người, và cho người theo dõi xem có ai lấy đi không.
Trải qua mấy ngày mà vẫn nằm nguyên ở đó, các quan về
báo cáo, vua hỏi:
-
Ở đó không ai nhìn thấy hạt châu sao?
-
Dạ những người qua lại chỉ nhìn thoáng qua mà không ai lấy.
Ông
vua nổi giận, chính tay mình đem hạt châu thẩy xuống biển,
để xem nó trở về bằng cách nào. Mấy hôm sau, người làm
bếp trong hoàng cung khi làm cá, phát hiện hạt châu ở trong
bụng cá, liền mang trả lại cho vua. Vua mới chịu tin, đành
đem trả lại cho thái hậu .
Cho
nên, hễ không có tạo sẽ không phải chịu nhân quả.
Hỏi:
Trong kinh nói “tưởng đi lên, tình đi xuống, không tình không
tưởng mới được ra khỏi tam giới”là thế nào?
Đáp:
Tình với tưởng là sự suy nghĩ, bây giờ tham thiền là muốn
chấm dứt cái ghi nhớ biết, suy nghĩ biết và tìm hiểu biết
thì tình và tưởng đều bặt.
Hỏi:
Con nghe Sư phụ khai thị nhiều lần nói “Phật Thích Ca không
kiến lập chơn lý,” như vậy những kinh điển sau này được
đệ tử của Phật ghi lại không phải chơn lý sao?
Đáp:
Phật Thích Ca trong Kinh Lăng Nghiêm nói “Phàm là lời nói
đều chẳng có nghĩa thật.” Đã không có nghĩa thật tức
không có chơn lý rồi. Tất cả kinh điển đều là lời nói,
cho đến cuối cùng Phật nói “Bốn mươi chín năm chưa từng
nói một chữ,” “Ai nói ta có thuyết pháp là phỉ báng Phật.”
Nếu không hiểu được ý Phật sẽ cho lời nói của Phật
là mâu thuẫn; chẳng có nghĩa thật, chẳng phải chơn
lý thì còn nói ra làm gì? Nói ra là để phá chấp. Ví
như bảy chỗ tìm tâm của A Nan, hễ chấp ở trong thì phá
ở trong, chấp ở ngoài là phá ở ngoài. Như ngài Lâm Tế
nói: “gặp ma chém ma, gặp Phật chém Phật,” chém ma thì
được chứ tại sao chém Phật? Đó là chém cái tâm chấp
Phật của mình vậy.
Hỏi:
Thiền sư Việt Nam có vị nào tu kiến tánh chưa?
Đáp:
Theo lịch sử Thiền tông Việt Nam, Vua Trần Nhân Tông và chú
ruột của vua là ngài Tuệ Trung Thượng sĩ là người kiến
tánh, ngài Tuệ Trung còn để lại ngữ lục lưu truyền
đến ngày nay. Ngoài ra cũng có nhiều vị được kiến tánh.
Hỏi:
Xin Sư phụ kể qua sự tích của ngài Kim Bích Phong?
Đáp:
Kim Bích Phong là chủ sự của chùa, do ngày thường công việc
bận rộn nên không có thời gian công phu. Đợi đến lúc lâm
chung, Diêm la Vương sai quỉ sứ đến bắt, ngài mới giật
mình và năn nỉ quỉ sứ rằng:
-
Do ngày thường chỉ lo công việc cho chùa nên quên mất sự
tu, nay xin cho sống thêm bảy ngày để cố gắng công phu, được
không?
- Quỉ
sứ nói: Việc này tôi đâu có quyền quyết định, hãy đợi
tôi về báo cáo Diêm la Vương, nếu được thì tôi không quay
lại nữa, nếu không thì tôi quay lại liền.
Ngay
sau khi quỉ sứ đi rồi, ngài liền đề khởi công phu tham
mãi trong bảy ngày bảy đêm không gián đoạn. Bảy ngày trôi
qua, khi quỉ sứ quay lại chùa thì tìm khắp mọi nơi đều
không thấy ngài ở đâu cả. Ngài không hề bỏ trốn, nhưng
vì hào quang của ngài đầy khắp, nên tiểu quỉ không thể
tìm thấy được, đành tay không trở về, và ngài tiếp tục
tu đến kiến tánh.
Theo
sự hiểu biết của chúng ta, mọi người đều có hào quang,
người có tâm lực mạnh thì hào quang phóng ra mạnh, hào quang
mạnh thì quỉ sứ không thấy được mặt mũi của người
đó.
Hỏi:
Tất cả việc thế gian hễ có hình tướng thì có thể tan
hoại, chỉ có tâm chơn như mới tồn tại mãi mãi. Do nghiệp
nặng quá chưa quét sạch trần lao thì chưa tin ta có Phật
tánh,, mà tu pháp Thiền hết nghiệp trần lao thì Phật tánh
mới hiện tiền, khỏi đi đâu tìm cả, vậy có đúng không?
Đáp:
Không đúng, mọi thứ vẫn y như cũ không thêm bớt, chỉ là
thay đổi mật mã của mình thôi. Như mấy hôm trước tôi
đã thí dụ: Nước vẫn không thay đổi, không khí cũng không
thêm không bớt, tất cả vũ trụ vạn vật đều không tăng
không giảm, chứ chẳng phải chỉ có Chơn như Phật tánh.
Hỏi:
Có phải tham Tổ Sư Thiền thì không cần tụng kinh, không
cần cầu siêu cho người quá cố?
Đáp:
Cách tu tụng kinh của Giáo môn là người tụng kinh lúc tụng
tức tự tu cho mình, chứ không phải là dùng sự tụng kinh
để bán cho người khác, độ cho người khác.Tại sao nói
lúc tụng là lúc tự tu? Vì lúc tụng phải quán tưởng theo
lời kinh, tức là thực hành lời dạy của Phật, đó là tu.
Bây giờ đem việc tụng kinh ra bán. Ví như có một vị Tu
sĩ nói với Phật tử rằng ông có cái kho chứa kinh, ngày
thường, lúc rãnh rỗi ông tụng sẵn các bộ Kinh Kim Cang,
Kinh Pháp Hoa, Kinh Địa Tạng v.v…và chứa trong kho, ai cần
cầu siêu cho cha mẹ hoặc người thân, muốn bao nhiêu bộ
cũng có sẵn…
Vì
ai cũng cho là tụng kinh có công năng bớt tội, phải vậy
không? Nhưng sự thật thì kinh có công năng đó không? Rồi
nhiều người nghe tôi nói vậy lại cho là tôi nói khỏi cần
tụng kinh, khỏi cần cầu siêu…Tôi đâu có dạy người ta
như thế? Tôi chỉ dạy mọi người thực hành đúng đường
lối pháp tu, chứ không dạy người làm những việc phi lý
thôi.
Hỏi:
Cư xử với xã hội như thế nào mới gọi là người chơn
tu?
Đáp:
Chỉ biết lỗi của mình, không biết lỗi của người khác,
gọi là người chơn tu.
Hỏi:
Sanh tử vô thường, đến không biết trước, dù mọi người
đều cố gắng tu hành, nhưng làm sao đối phó?
Đáp:
Tất cả đều là nghiệp nhân nghiệp quả, bây giờ chúng
ta chưa kiến tánh là tùy nghiệp xoay chuyển, gọi là lục
đạo luân hồi; hễ tạo nghiệp cõi Trời thì sanh cõi Trời,
tạo nghiệp người sanh cõi người, cho đến tạo nghiệp địa
ngục thì sanh nơi địa ngục, đó tùy theo tâm của mỗi người
tạo. Đức Phật trong Kinh Hoa Nghiêm nói:”Tâm như họa sĩ
khéo, hay vẽ các hình tượng,” vẽ ra địa ngục thì thấy
sợ, vẽ ra thiên đường thì thấy mừng… ấy đều do tự
mình vẽ ra, tốt nhất là đừng vẽ, chỉ tại chúng ta không
chịu ngưng, cứ ham vẽ mãi.
Cũng
như thức thứ sáu luôn ham vẽ chẳng chịu ngừng nghỉ, ban
đêm thì vẽ ra nhắm mắt chiêm bao, ban ngày vẽ ra mở mắt
chiêm bao, Đức Phật muốn chúng ta đừng vẽ nữa. Nay chúng
ta tham Tổ Sư Thiền đề câu thoại đầu khởi lên nghi tình
là không biết, không biết thì không vẽ. Do có biết mới
có vẽ, nay không biết thì dần dần chấm dứt hết tất cả
tìm hiểu biết, tùy duyên biết, ghi nhớ biết, tất cả quên
hết, chỉ còn lại nghi tình là không biết. Nhưng cái không
biết này chẳng phải không biết mãi, thỉnh thoảng nó cũng
biết, hễ biết là muốn vẽ nữa, ấy là gốc của tai họa,
đến cuối cùng nghi tình bùng nổ và tan rã, biết cùng không
biết của bộ óc mới sạch, gọi là kiến tánh, lúc đó Phật
tánh toàn vẹn hiện ra khắp không gian thời gian, chẳng còn
vẽ nữa.
Hỏi:
Có phải mạng căn đứt thì con người trở về không, lúc
đó gần như hư vô không có gì hết?
Đáp:
Làm sao có cái không để trở về? Nếu không có gì hết thì
làm sao có sự dụng? Ở trên tôi đã dùng cái thí dụ về
ánh sáng cây đèn, mỗi mỗi cây đèn đều y như cũ, mỗi
mỗi chúng sanh vẫn còn y như cũ không thay đổi. Có thay đổi
là hành vi của mình tạo, Phật pháp gọi là cái nghiệp đó,
đến lúc đó thì thiện nghiệp, ác nghiệp, kể cả nghiệp
vô ký cũng hết, nhưng tâm linh của mình thì tồn tại vĩnh
viễn không mất: Mỗi mỗi tâm linh vẫn còn, tánh thấy tánh
nghe tánh ngữi… vẫn còn.
Hỏi:
Ý con muốn nói là tất cả chúng sanh đều đã tu đến kiến
tánh, chẳng có Phật chẳng có chúng sanh nữa thì thế giới
này chẳng còn là thế giới nữa, phải không?
Đáp:
Ấy là cái tâm chấp của cô, ý cô nói là đi đến cái tâm
không, lấy cái gì để không? Phải từ có rồi tiêu diệt
nó mới thành không, vốn chẳng phải có, lấy gì để không?
Hỏi:
Sư phụ nói là ai ăn nấy no, vậy chúng con làm những việc
phước lành, có thể ảnh hưởng cha mẹ và người thân không?
Đáp:
Mục Kiền Liên là vị tu đến có thần thông, tâm lực cũng
mạnh nhưng chưa đủ sức làm cho bà mẹ sửa đổi, Phật
phải dạy ngài trai Tăng, dùng sức tâm của một ngàn Tăng
hợp lại mới có thể ảnh hưởng khiến tâm của người
mẹ sửa đổi, giải thoát khổ ngạ quỷ. Lại nữa, một
ngàn vị Tăng kia đều đã chứng quả A-la-hán, trì giới trong
sạch, đã tu hành ra khỏi sanh tử luân hồi, tâm lực rất
mạnh mới có sức ảnh hưởng này.
Như
trên tôi nói, tụng kinh là tu cho chính mình, như Pháp sư Đế
Nhàn đời thứ 41 Tông Thiên Thai Trung Quốc, ngài ở Chùa
Quán Tông huyện Ninh Ba tỉnh Triết Giang, mọi người gọi
là Thiên Thai Quán Tông. Tăng chúng ở đó mỗi ngày ba khóa
tụng, tất cả mọi người đều phải tụng.
Đó
là sự tu, Giáo môn gọi là tùy duyên quán tưởng, tụng đến
đâu quán tưởng đến đó, là y theo lời dạy của Phật.
Cho nên, hễ mỗi khóa tụng ở Chùa Quán Tông là phải trọn
hai tiếng đồng hồ, nếu không đủ hai tiếng, ngài biết
được là la rầy, cho là không có tu. Chứ không phải như
một số chùa hiện nay, chỉ cử vài ba người tụng cho thật
nhanh, tưởng là có người tụng cho Phật nghe là được, vậy
đâu phải tu !
Hỏi:
Nhiều người thế gian không biết đến Phật pháp, chỉ vì
muốn cầu phước nên thỉnh Tăng đến tụng niệm và cúng
dường lì xì, vậy có phải là dùng tiền để mua phước
lành không?
Đáp:
Nếu như thế là mua bán, là có trao đổi, quí Thầy dùng
tụng niệm để đổi lấy tịnh tài. Nếu muốn cúng dường
là phải vô điều kiện, khỏi cần quí thầy đến nhà
tụng kinh hay đến chùa yêu cầu cúng dường để hồi hướng.
Có sự trao đổi như thế là buôn bán Như Lai, đâu còn phước
đức gì?.