[13] 06/01/95–12/01/95
tại Chùa Từ Ân, Quận 11
Sa
ma tha, Tam ma bát đề, Thiền na
Máy
đo hoạt động của bộ não
Nhân
quả ai làm nấy chịu
Lý
do hoằng pháp của Sư phụ
Thiền
sư Thần Tán sau khi kiến tánh, trở về độ cho thầy
Nhìn
chỗ đen tối
Phá
chấp về cái biết
Người
kiến tánh có phải là thánh nhân?
Cách
tu Tịnh độ
Thuần
tưởng thì lên, thuần tình thì đọa
Đọc
thần chú đè nén vọng tưởng
Kiếp
trước của Ngũ Tổ
Tại
sao Tổ Đạt Ma chỉ quảy một chiếc giàỷ
Khai,
giá, trì, phạm trong luật tứ phần
Tỳ-kheo
có thể hiếp đáp tỳ-kheo-nỉ
Tham
sân si là giải thoát
Tán
tâm – Đa tâm – Thiểu tâm – nhất tâm – vô tâm – liễu
tâm
Ngũ
ấm ma
Hành
ấm biến hóa chẳng dừng
Buôn
bán Như Lai
Câu
chuyện nhân quả của hai ông bà ăn xin hồi thời Phật
Tham
thiền là dùng ý thức
Hòa
thượng Hư Vân và ông tăng sửa đường
Hỏi:
Khi Đức Phật sắp nhập diệt, Đức A Nan lên tuyên bố rằng:
“Đối với lời dạy của Đức Phật, chúng con không còn
nghi ngờ gì nữa .” Nhưng chuyện hiểu là một vấn đề,
còn tu là một vấn đề; chúng con tâm chí khiếp nhược, đối
với việc sanh tử không có phát tâm chơn chánh, đối với
lòng tin của Phật tánh không có tánh quyết định, vậy thế
nào là chỗ ách yếu của tin tự tâm? Kính xin Sư phụ từ
bi khai thị, để chúng con được lòng tin quyết định và
nỗ lực tu hành.
Đáp:
Pháp môn Tổ Sư Thiền do Đức Phật thân truyền, còn các
kinh điển khác chẳng phải do Phật thân truyền mà chỉ là
nói thôi. Trong kinh điển Đại thừa nói có ba thứ thiền
quán: Sa ma tha, Tam ma bát đề và Thiền Na.
Sa
ma tha dịch là cực tịnh, trong Kinh Viên Giác thí dụ như âm
thanh ẩn trong chuông trống, mặc dù ẩn trong chuông trống,
nhưng hễ đánh lên là có âm thanh phát ra; khi phát ra sự dụng
vượt ra ngoài chuông trống, không bị cái chuông cái trống
hạn chế. Cũng như tâm của mình, tánh Không khắp hư không,
thời gian, vốn chẳng nghĩa lý gì, chẳng nhúc nhích lay động,
tức là cực tịnh. Quán cái cực tịnh đó gọi là tu pháp
Sa ma tha.
Tam
ma bát đề gọi tắt là Tam ma đề, có nghĩa là tùy duyên
bất biến, như lúa mạ huyển hóa mà dần dần tăng trưởng,
cũng như cha mẹ sanh ra chúng ta, từ đứa bé dần chuyển thành
người lớn.
Thiền
na dịch là tịnh lự: Tịnh là yên tịnh, lự là tư lự. Theo
lẽ thường hễ tịnh là không thể lự, hễ lự là không
thể tịnh, nhưng Thiền na thì tịnh lự đồng thời.
Nếu
thí dụ theo Tông Thiên Thai thì Sa ma tha bằng như quán Không,
Tam ma đề bằng như quán Giả, Thiền na bằng như quán
Trung. Ấy là cách thiền mà Đức Phật nói trong kinh điển,
gọi là Như Lai Thiền. Như Lai Thiền là pháp thiền theo kinh
điển, có nghĩa lý thí dụ, phải vừa học vừa tu, còn Tổ
Sư Thiền là giáo ngoại biệt truyền, chẳng nghĩa lý
thí dụ, chỉ cần thực hành thôi, tức chỉ chú trọng chữ
NGHi, giữ nghi tình mãi.
Muốn
phát khởi nghi tình phải hỏi câu thoại, hễ không biết thì
cái không biết đó đụng với tánh ham biết tự thành nghi
tình, nghi tình tức không biết, nhìn vào chỗ không biết.
Mà nói đến “chỗ”thì không biết làm sao có chỗ? Đó
chỉ là phương tiện để diễn đạt mà thôi. Nói tóm lại,
tất cả pháp tu của các loại thiền khác là có lý luận
và thực hành, còn Tổ Sư Thiền thì không có phần lý luận,
chỉ có thực hành, chỉ cần phát khởi nghi tình và giữ nghi
tình, rất đơn giản. Cho nên tôi thường nói đứa trẻ 6
- 7 tuổi cũng tham thiền được, bà già 80 – 90 tuổi cũng
tham thiền được, nhưng sự thật chứng tỏ là em bé 3 tuổi
cũng tham thiền được.:
Năm
1991, tôi được mời đi thuyết pháp tại Canada, cùng đi có
mười mấy vị Phật tử, trong đó có cô Nguyệt Anh và đứa
con 3 tuổi. Cô Anh đã theo tôi tham thiền và thường ngày có
dạy con tham thiền, tôi chỉ cho là đứa bé niệm câu thoại,
vì tôi thường nói đứa bé 6 – 7 tuổi mới biết tham thiền.
Khi
đến thành phố Toronto, đi tham quan một quán khoa học,
trong đó đang triển lãm một máy điện toán kiểm tra sự
hoạt động của bộ não con người. Máy đó chia thành ba mươi
mấy cấp: khi bộ não của mình hoạt động nhiều thì đèn
hiện ở mức trên, bớt suy nghĩ thì đèn hạ xuống bớt.
Lúc tôi ngồi vào bàn, để tay lên máy, đề câu thoại đầu
lên thì ngọn đèn từ trên cao tuột xuống mức thấp nhất
và tắt luôn. Tôi muốn thử đứa bé 3 tuổi, xem bé có tham
thiền không, bèn ẫm bé ngồi trên đùi, đè tay bé lên máy
và bảo nó:”Tham thiền đi!,” ngọn đèn cũng từ trên tuột
xuống và vụt tắt đi.
Lúc
đó những người Canada ở xung quanh cảm thấy rất ngạc nhiên,
sao cả đoàn ai cũng có thể khiến máy đèn vụt tắt mà họ
làm không được?
Tôi
bảo họ “đừng suy nghĩ mới xuống được.”
Họ
nói: “Tôi không suy nghĩ nhưng nó có chịu xuống đâu !”
Vì
họ đâu thể khống chế bộ não ! Những người tham thiền
do dùng sự không biết để tu, kể cả đứa bé 3 tuổi chỉ
mới tập tu mấy tháng, chứng tỏ cái pháp không biết này
ai cũng tu được. Lại có cô Hằng Thiền mà tôi thường kể
cũng đi cùng đoàn, công phu của cô nhiều người không thể
so bằng, mặc dù khi cô để tay lên máy đèn cũng từ trên
cao tuột xuống và tắt đi, nhưng không nhanh bằng đứa bé
đó.
Cho
nên, chỉ cần giữ được cái không biết là tham thiền được,
chỉ cần tin tự tâm mình đầy đủ tất cả thần thông trí
huệ, chẳng kém hơn Phật chút nào. Nay ở Trung Quốc nhiều
người cũng thể hiện được sức dụng của tâm,như ông
Trương Bửu Thắng, Nghiêm Tân, Địch Ngọc Minh v.v…
Mục
đích của chúng ta không phải chỉ thể hiện những thứ
đó, hiện được mấy thứ đó hễ chấp vào thì trở ngại
cho sự kiến tánh, vì tất cả đều ở trong tâm mình sẵn
có, khi kiến tánh đều được hiện ra. Nên Thiền tông chư
Tổ có thần thông cũng không cho ai biết, khi phải hiện ra
thần thông thì sau đó liền thị tịch, vì sợ người ta mê
thần thông quên chánh pháp. Chỉ có chánh pháp mới đưa người
đạt đến tự do tự tại, đó mới là thiết yếu. Chỉ e
rằng chúng ta không đạt đến kiến tánh thành Phật, đã
thành Phật rồi lo gì không có thần thông!
Hỏi:
Con từ trước đến giờ sống trong đường đời vì chén
cơm mảnh áo, nên cũng chẳng biết tu là cái gì, chỉ biết
làm phước làm lành, và con cho những cái đó là tu?
Đáp:
Nói làm phước làm lành, cho là đối với con người làm phước
làm lành đi, nhưng đối với tất cả chúng sanh thì ăn thịt
chúng, giết mạng chúng, làm sao gọi là làm phước làm lành
được? Tất cả Phật pháp đều bình đẳng, và đó thuộc
về nhân quả. Còn nói đền sự tu, trong cuộc sống hằng
ngày, ăn cơm mặc áo đều là tu cả.
Hỏi:
Con nghe Sư phụ nói “ai ăn nấy no,” bấy lâu nay con đi chùa,
cúng dường lạy Phật, ý muốn bòn phước đức cho con cháu,
nhưng Sư phụ lại nói là ai làm nấy chịu, con bòn phước
đức mà con cháu không được hưởng, vậy để lại cho ai?
Chẳng lẽ con phải mang theo sao? Mỗi lần con lạy Phật đều
cầu an cho bá tánh, vậy là không được ư?
Đáp:
Cô muốn để cho ai? Sự tu là tu cho chính mình, hễ có cầu
là không được. Tự mình cầu còn không được, làm sao cầu
cho bá tánh? (Sư phụ dẫn dụ về nghiệp chướng và con đường
gai gốc cứt sình, lược qua)
Hỏi:
Sư phụ nói là chưa kiến tánh, nếu chưa kiến tánh thì làm
sao ra hướng dẫn tu Tổ Sư Thiền?
Đáp:
Đáng lẽ tôi không ra dạy Tổ Sư Thiền, nhưng vào ngày
Mùng một tháng 4 năm 1977, khi tôi đi thọ cúng dường tại
Tịnh xá Giác Huê Quận 5, thì ở chùa Từ Ân, lúc cúng Ngọ
thầy Bổn sư của tôi tuyên bố với Phật tử là ngày mùng
2 sẽ có thầy Duy Lực ra dạy Tổ Sư Thiền, ai muốn học
thì mời đến. Khi tôi về chùa cũng chưa hay biết gì, đến
sáng Mùng 2 Hòa Thượng mới báo cho tôi rằng Phật tử đã
đến, mời tôi ra dạy.
Theo
bản ý của tôi là phải đợi kiến tánh xong mới ra hoằng
pháp. Hồi xưa tôi tự mình ở trong phòng tọa hương đi hương,
giường nằm, bàn ghế đều dời cách xa tường để tôi tiện
việc kinh hành. Quý vị cũng biết, ở trong chùa vị nào có
ra làm Phật sự, tụng kinh mới có lợi dưỡng, vì tôi không
có tụng kinh, nên mọi người nói là họ đi làm cho tôi
ăn, nên có một thời gian khoảng nửa năm tôi tự đi bình
bát khất thực…
Lúc
đó nếu tôi không ra dạy thì e làm mất mặt của thầy Bổn
sư, hễ ra dạy lại nghịch với chí hướng của tôi. Cuối
cùng tôi nghĩ: Ngài Lai Quả và Hư Vân, hai vị đã kiến tánh
mà thầy của hai vị cũng chưa kiến tánh. Theo tôi biết,
nếu đi đúng đường lối thực hành thì sẽ kiến tánh. Nay
tôi đã nắm được đường lối thực hành, nên nghe lời
thầy tôi miễn cưỡng ra hoằng dương Tổ Sư Thiền.
Sau một tuần giảng dạy, tôi hỏi qua những người đến
nghe có ai thích tu Tổ Sư Thiền không? Trong ba mươi mấy người
đến nghe về Tổ Sư Thiền, chỉ có một người mà thôi !
Dù chỉ có một người tôi vẫn tiếp tục dạy, dần dần
số người đông dần, từ mấy trăm cho đến mấy ngàn …đã
ra hoằng pháp thì không thể dừng lại được, cho đến ngày
hôm nay.
Theo
tôi thì dù thầy của ngài Lai Quả chưa kiến tánh, nhưng ngài
vẫn được kiến tánh; thầy của ngài Hư Vân chưa kiến tánh,
nhưng ngài Hư Vân vẫn được kiến tánh, dù rằng tôi là
thầy, tôi chưa kiến tánh, nhưng nếu quí vị kiến tánh trước
cũng được vậy !
Hỏi:
Theo thường lệ là thầy ấn chứng cho đệ tử, nếu như
thầy chưa ngộ mà đệ tử lại ngộ thì có nghịch với tông
chỉ của Thiền tông không?
Đáp:
Lịch sử Thiền tông có ghi về Thiền sư Thần Tán: Thầy
của ngài chưa kiến tánh, ngài xin ra ngoài tham học, gặp Thiền
sư Bá Trượng rồi kiến tánh quay trở về, vẫn làm đệ
tử để chăm sóc thầy. Nhà cửa hồi xưa cửa sổ không có
song, chỉ dán một lớp giấy ở ngoài, ban ngày ánh sáng chiếu
qua cửa sổ, con ruồi ở trong phòng thấy sáng bèn muốn bay
qua cửa sổ, nhưng vì có dán giấy nên cứ dùi vào mãi mà
không ra được.
Thiền
sư Thần Tán thưa với thầy: Cửa đã mở mà không chịu ra,
cứ dùi mãi vào giấy làm chi !
Thầy
của ngài cũng biết đệ tử của mình đang ám chỉ thầy
cứ xem kinh mãi không thể ngộ, nên nói:
-
Mấy năm nay con đi ra ngoài có đắc được gì không?
Lúc
đầu ngài không chịu nói ra, Thầy bảo:
-
Ta thấy ngươi có những lời nói khác thường, hãy nói thật
với thầy.
Ngài
mới nói là đã gặp được ngài Bá Trượng. Thầy nói:
-
Sao không chịu nói sớm !
Bèn
mời đệ tử lên tòa, mời đệ tử thuyết pháp, thầy trở
thành đệ tử, sau đó cũng được kiến tánh. Do đó, đệ
tử làm thầy, thầy làm đệ tử cũng được vậy.
Hỏi:
Con có đi đến một Thiền đường kia để tham dự, thấy
vị sư dẫn chúng tu như sau:Trong giờ tham đều mặc áo tràng,
Sư hỏi chỉ định “Niệm Phật là ai? Sắc tức thị không,
không tức thị sắc,” đi hương thật chậm, hai tay để trước
ngực, chúng đi trước, sư đi sau, trong Thiền đường có giờ
học về Giáo môn. Vậy có tu đúng pháp môn không? Kính xin
Sư phụ khai thị.
Đáp:
Những gì bà nói là không phải Tổ Sư Thiền, Tổ Sư Thiền
chỉ có khán thoại đầu và tham thoại đầu, là dùng cái
không biết để tu, và không có nghi thức gì cả.
Hỏi:
Khi con nhìn vào chỗ đen tối thì lại có cái tâm biết, vậy
cách khán như thế nào mới đúng?
Đáp:
Tôi chẳng bảo nhất định phải nhìn chỗ đen tối, nói “cái
đen tối”là bất đắc dĩ, do không biết nhìn chỗ nào, vì
nó chẳâng có chỗ, chỗ không biết là chỗ chưa có ý niệm
nổi lên. Hễ có ý niệm rồi mới có cái biết, ý niệm là
năng biết, có năng biết phải có sở biết. Bây giờ không
biết thì không có sở, không có năng biết sở biết là không
có ý niệm. nhưng vì mọi người không hiểu, không có chỗ
để nhìn, nên tôi mới phương tiện nói “Nhắm mắt nhìn
chỗ đen tối.” Chỉ là tạm thời nhìn chỗ đen tối, khi
nào nhìn được rồi thì không cần nhìn chỗ đen tối nữa.
Hỏi:
Có phải cái tâm không biết đó ở ngay chỗ nhìn, chứ chẳng
phải là mình nhìn vào chỗ không biết?
Đáp:
Không phải vậy. Tâm biết và tâm không biết đều là một
tâm, nhưng tâm này chẳng hình thể số lượng, dùng cái biết
của bộ não tiếp xúc chẳng được, kiến văn giác tri cũng
tiếp xúc nó không được, thế thì làm sao diễn tả? Chỉ
có thể tạm thời nói là “không biết”thôi.
Hỏi:
Về việc công phu tham thoại đầu, có cần vận dụng bộ
não của mình để tham không? Và có phải bộ não của mình
là chánh?
Đáp:
Vận dụng cái không biết của bộ não chứ chẳng phải vận
dụng cái biết của bộ não. Bộ não có hai mặt: Một mặt
biết và một mặt không biết. Nếu vận dụng cái biết của
bộ não để thực hành là Như Lai Thiền, cũng như Thiền quán
của Tông Thiên Thai, Hiền Thủ, Tam Luận, Duy Thức v.v….Còn
Tổ Sư Thiền là vận dụng cái không biết của bộ não để
chấm dứt tất cả biết của bộ não, sau cùng chỉ có cái
không biết, gọi là nghi tình. Khi nghi tình bùng nổ là giờ
phút kiến tánh, cái không biết của bộ não cũng tan rã, ngay
lúc đó, cái biết và không biết của bộ não sạch hết,
cái biết của tự tánh tự hiện khắp không gian thời gian,
gọi là Chánh biến tri, tất cả đều biết, chẳng còn cái
nào không biết nữa, chẳng còn cái gì để nghi nữa,
gọi là đoạn dứt nghi căn, không những gốc nghi hết, mạng
căn cũng hết.(Nếu còn một chút gì không biết tức gốc
nghi chưa hết.) Mạng căn hết tức ra khỏi sanh tử luân hồi.
Hỏi:
Con nghe Hòa thượng nói Như Lai Thiền là dùng cái biết
để tu, biết để trở về chỗ một niệm chưa sanh; còn Tổ
Sư Thiền là dùng cái không biết để tu. nhưng con có điều
thắc mắc: Nếu còn cái thân ngũ uẩn này mà nói là không
biết thì vẫn còn cái biết để biết cái không biết, vậy
có gì sai khác với Như Lai Thiền không?
Đáp:
Như Lai Thiền là Thiền Giáo môn, gồm Sa ma tha, Tam ma đề
và Thiền na. Trong Kinh Viên Giác, do ba thứ trên đảo qua đảo
lại thành hai mươi lăm thứ. Tổ Sư Thiền là pháp thiền
trực tiếp, ở ngoài Giáo môn kinh điển, bất lập văn tự,
không nhờ văn tự lời nói, trực chỉ nhơn tâm, kiến tánh
thành Phật. Nói đến Tâm là Diệu tâm, tâm này chẳng hình
thể số lượng, dùng kiến văn giác tri tiếp xúc không được,
nên dùng lời nói diễn tả không được.
Những
gì không có hình thể mà có số lượng thì bộ óc nhận biết
được, vì cái biết của bộ não có giới hạn, nên phàm
là bộ não nhận biết được đều không phải thực tế,
Bát Nhã Tâm Kinh nói là “vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý,”
vì nó không có thật. Chẳng những lục căn lục trần lục
thức không thật, luôn cả Tứ diệu đế, Khổ Tập Diệt
Đạo đều dùng chữ VÔ để quét; cho đến Thập nhị nhân
duyên, Đại thừa Bồ tát… trí huệ của Bồ tát cũng quét.
Ai
ai đều nói “tu hành phát trí huệ,” tại sao trong Kinh lại
nói “vô trí diệc vô đắc”? Vì trí huệ đó đã sẵn,
chẳng phải do học mới biết, nếu do học được thì chẳng
phải cái bổn lai sẵn có. Như ở trên tôi dùng cảm giác
của lớp da để thí dụ: Cảm giác của lớp da là biết,
cái biết đó khắp không gian thời gian của cơ thể, đụng
chỗ nào cũng biết; một người chạm vào cũng biết, mười
người đồng thời chạm vào cũng biết; đau, ngứa, lạnh,
nóng, trơn, rít… Vậy lúc không có đụng, không có đau ngứa,
cảm giác của lớp da có biết không?
-
Dạ biết. Kinh Lăng Nghiêm nói đó là “biết cái không biết.”
-
Cái biết đó sẵn sàng, phải không?
-
Dạ phải.
-
Vậy cái biết đó do học mới biết, hay là không học cũng
tự biết?
-
Dạ, không học cũng sẵn sàng.
-
Thế thì tại sao ông chấp vào phải học rồi mới biết?
Lớp da thuộc cơ thể của mình, là sờ thấy được, chẳng
cần học cũng đã biết, huống là Phật tánh, là hơn sự
biết của lớp da, là cái sẵn sàng bổn lai. Nay mình tham thiền
là muốn phát hiện cái sẵn sàng bổn lai chẳng phải do học
đó. bây giờ ông hiểu chưa?
Hỏi:
Vâng, con đã hiểu nhưng vẫn còn thắc mắc: Nếu không học
là không tham khảo kinh điển thì làm sao nhận được chỗ
đó?
Đáp:
Thì đã nhận được rồi phải thực hành thôi.
Hỏi:
Vậy là lúc ban đầu vẫn phải dĩ huyễn độ chơn chứ? Phải
tham khảo kinh điển cho sâu rộng rồi mới nhận được
chỗ đó chứ?
Đáp:
Hôm qua tôi có nhắc đến đứa bé 3 tuổi trong chuyến đi
Canada, bé có biết gì đâu, nó vẫn tham thiền được mà,
đâu cần phải tham khảo kinh điển !
Hỏi:
Có phải ngày nay Hòa thượng dạy pháp tham thoại đầu là
vì lúc trước Hòa thượng không tham khảo kinh điển?
Đáp:
Tại ông chấp thật cái biết của bộ não, nay tôi nói cho
biết: Nếu ông muốn tham Tổ Sư Thiền, thì phải đem tất
cả những gì biết được của bộ não, cho đến những gì
khi xưa học được, ngộ được, quăng xuống biển hết, trở
lại thành một người khờ ngốc không biết gì cả, mới
có thể tương ưng với Tổ Sư Thiền. Nếu cứ nhớ cái hiểu
biết của bộ não hồi xưa, hay là mấy cái ngộ được cho
là cao siêu đó thì là chướng ngại, chẳng phải tham Tổ
Sư Thiền, dù có tham cũng không thể kiến tánh.
Hỏi:
Nếu không có dụng thì lấy gì làm thể?
Đáp:
Tôi đã thí dụ về sự cảm giác của lớp da, mà ông nói
là đã biết rồi, đó có phải thể dụng đồng thời không?
Hỏi:
Nếu đã thể dụng đồng thời thì tại sao còn phân chia Tổ
Sư Thiền và Như Lai Thiền?
Đáp:
Cái chia đó là người ngu si muốn cứu giúp người ngu si,
do người bệnh chấp nặng quá. Như cảm giác của lớp da,
thể cũng sẵn sàng, dụng cũng sẵn sàng, làm sao chia ra thể
dụng !
Hỏi:
Vậy tham cứu kinh điển cũng đâu có trái với Tổ Sư Thiền?
Đáp:
Làm sao không trái? Cũng như ông dùng kinh điển để so sánh
đã là trái rồi !
Hỏi:
Nếu con trái thì Hòa thượng cũng trái?
Đáp:
Phải, do ông trái nên tôi phải trái, vì cái này giải thích
không được, nếu tôi không trái thì làm sao giải thích cho
ông biết? Trong Kinh Đại Niết Bàn, Ma Ha Ca Diếp hỏi Phật
về Thế lưu bố tưởng và trước tưởng, như ông là ở
nơi thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng, còn tôi giải
đáp, mặc dù cũng dùng thế lưu bố tưởng, nhưng không sanh
ra trước tưởng.
Hỏi:
Thế thì tham cứu kinh điển cũng vậy, nếu không sanh ra trước
tưởng?
Đáp:
Tại sao muốn tham cứu? Mục đích tham cứu là gì?
Hỏi:
Là vì vô lượng kiếp do mê lầm…
Đáp:
Không phải. Sự tham cứu là muốn biết cách thực hành để
giải thoát tất cả khổ, đạt đến tự do tự tại. Bây
giờ đã biết, đã thực hành rồi, ví như muốn đi đến
Sài gòn, lúc chưa biết đường đi thì phải hỏi, phải tham
khảo sách vở để hướng dẫn đường đi, đã biết rồi
thì cứ đi sẽ đến, đâu cần cầm bản đồ, cầm sách chỉ
đường xem mãi để làm gì? phải vậy không?
Hỏi:
Người kiến tánh có phải là thánh nhân không?
Đáp:
Người kiến tánh rồi mới biết là không có thánh, kiến
tánh thành Phật rồi mới biết chẳng có Phật để thành.
Tôi ví dụ cho ông biết, Thủ đô của Việt Nam là Hà Nội,
chúng ta chưa đi qua lần nào, nay muốn đi là phải có kế
hoạch, hoặc mua vé máy bay, hoặc đi tàu hỏa, xe khách v.v…
bây giờ không đi mà cứ hỏi “không biết Hà Nội như thế
nào, đường phố ra sao?…”mặc dù nghiên cứu nhiều bài
viết về Hà Nội đến thuộc lòng, rốt cuộc chẳng phải
đích thân đi đến. Khi nào tự mình đi đến rồi, cái biết
đó mới rõ ràng chơn thật.
Hỏi:
Trong thời gian qua, con có nhập thất tại Chùa Tam Bảo khoảng
hai tháng, trong quá trình tu, lúc đầu con có tiến, nhưng sau
một cơn bệnh tự điều trị mà không được giảm, tự nhiên
công phu bị lui sụt và tâm con không được yên ổn. Con có
quay về Sài Gòn, sau khi trao đổi với huynh đệ, dù tâm vẫn
chưa được yên, nhưng an ổn hơn. Vậy kính xin Sư phụ từ
bi giải đáp.
Đáp:
Ông nói nhập thất là nghĩa lý gì? Dự Thiền thất gọi là
nhập thất hay tự nhốt mình ở trong phòng?
Hỏi:
Ở Tam Bảo có hai cách tu: Một là cách thông thường với
đại chúng, ngoài ra thầy Trụ trì có cất một cái thất
ở vườn nhãn, có chiều dài 4m x 6m, cũng có thể đi kinh hành
được. Có hai huynh đệ ở đó trước, nên con về ở chung
với hai vị đó, chúng con áp dụng cách ăn Ngọ. Có thể do
không hạp nên trong vòng hai tháng đó con bị bệnh đường
ruột, sau đó bị bệnh phù. Con tự điều trị giảm được
một phần, nhưng về an ổn nơi tâm để tiếp tục công phu
thì nó không tinh tấn.
Đáp:
Tôi đã thường nói, Thiền tông là “bất phá trùng quan bất
bế quan,” là sau khi ngộ mới nhập thất, lúc tu là không
được nhập thất, có hại chứ không có ích. Nay nhiều người
thích nhập thất để tu, lại hiểu sai về Thập Ngưu Đồ,
ấy là nghịch với tông chỉ của Thiền tông.
Hỏi:
Sư phụ đã khai thị nhiều lần rằng Phật tử phải tin chắc
vào nhân quả, chẳng thể do cầu mà được. Vậy phương pháp
Tịnh độ của nhà Phật cầu sanh Tịnh độ cũng không đúng,
phải không?
Đáp:
Đó là phương tiện bất đắc dĩ của Phật, nhà Nho nói:”Giữa
hai thứ có hại thì lựa thứ hại ít hơn; hai thứ có lợi
thì lựa thứ lợi nhiều hơn.” Tánh ham cầu của con người
không thể sửa lại được, hễ bỏ thì họ chẳng thể giải
thoát. Cho nên bất đắc dĩ bảo họ bỏ hết danh lợi thế
gian, chỉ cầu sanh cõi Cực Lạc. Nhưng chẳng phải chỉ cầu
cho bản thân mình, mà phải cầu cho tất cả chúng sanh, trong
đó đã là phá ngã chấp rồi.
Người
tu Tịnh độ mỗi ngày phải phát đại nguyện, cầu cho tất
cả chúng sanh đều vãng sanh Cực lạc. Đã phát đại nguyện
thì phải bình đẳng với tất cả chúng sanh, cho đến con
muỗi con kiến, cho nên, những người tu Tịnh độ còn ăn
thịt chúng sanh là không bao giờ được vãng sanh. Ví như có
người nói là do bệnh nặng phải dùng con gà chưng thuốc,
nếu không thì phải chết… Tôi nói:”Nếu tin nhân quả thì
chấp nhận cái chết thôi, bây giờ lại đi giết hại
chúng sanh khác để tạo thêm ác nhân, để sau này phải trả
nợ mạng.”
Lại
nữa, trong cái cầu của đại nguyện là có sự tu hành, trong
Kinh Lăng Nghiêm nói:”Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương
tục,” con mắt phải không phân biệt xấu đẹp, tai không
phân biệt khen chê, mũi không phân biệt thơm thúi, lưỡi không
phân biệt ngọt đắng… Tịnh niệm tương tục, tịnh là
trong sạch, tâm niệm trong sạch và kéo dài mãi cho đến khi
được vãng sanh. Nay nhiều người tu Tịnh độ đâu có thực
hành theo tám chữ này? Nếu được tịnh niệm tương tục
thì sự cầu đó chỉ là lúc ban đầu, đã thực hành sâu
rồi chỉ còn lại tám chữ “đô nhiếp lục căn, tịnh niệm
tương tục”mà thôi.
Thật
ra, tám chữ “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục”là
ngài Đại Thế Chí dạy cho người cách thực hành tu Tịnh
độ, nhưng tôi đã từng gặp nhiều người tự nói là tu
pháp Tịnh độ và những vị pháp sư dạy về Tịnh độ,
thì đối với tám chữ này hoàn toàn không dính dáng, không
để ý.
Lại
nữa, Mọi người đều biết về Ấn Quang Đại Sư, Tổ thứ
13 của Tông Tịnh Độ ở Trung Quốc, ngài có một tác phẩm
“Ấn Quang Văn Sao,” cũng có người tóm tắt lại tinh hoa
của tác phẩm đó, gọi là “Ấn Quang Văn Sao Tinh Hoa Lục,”
trong đó hướng dẫn cách tu tông chỉ của Tịnh độ về
Tín, Nguyện, Hành: Có ba thứ tin, hai thứ nguyện và hai thứ
hành, đường lối thực hành rất tỉ mỉ.
Do
người tu Tịnh độ không thực hành đúng theo đường lối,
lại cho tụng kinh gõ mõ là tu, ăn chay niệm Phật là Tịnh
độ… thật ra, tụng kinh thuộc về Giáo môn chứ chẳng phải
Tịnh độ, và ăn chay niệm Phật chưa phải là Tịnh độ,
phải đi đúng theo tông chỉ Tín, Nguyện, Hành. Ai ai cũng nói
là mình tu Tịnh độ, ở chùa Tịnh độ, sự thật thì không
biết Tịnh độ, làm sao được vãng sanh? Đức Phật nói là
thật đáng thương xót.
Hỏi:
Kinh Lăng Nghiêm có câu “Thuần tưởng thì đi lên, thuần
tình thì đọa xuống,” Nếu tu pháp môn Tịnh độ đến mức
của nó rồi có phải là thuần tưởng không?
Đáp:
Đâu có thuần tưởng? Vì đã niệm trong sạch thì không có
tưởng nữa rồi, hễ còn tưởng thì không phải tịnh niệm.
Thuần tưởng là suy nghĩ, là vọng tưởng, như buồn, vui,
yêu, ghét, tham, sân, si, sát, đạo, dâm v.v… bất cứ suy nghĩ
cái gì đều không phải là tịnh niệm.. Còn thuần tưởng
của phàm phu sở dĩ được sanh cõi Trời là do nhân quả,
nhưng không được giải thoát.
Hỏi:
Trong Kinh Lăng Nghiêm nói:”Con người lúc lâm chung, khi thuần
tưởng thì được sanh lên, khi sanh lên mang hai nghiệp phước
và trí, tùy niệm tưởng nhớ mười phương Như Lai, tùy ý
liền được sanh, vậy là thế nào?
Đáp:
Tịnh độ nói lâm chung mười niệm thì được đới nghiệp
vãng sanh. Tôi cũng có giảng:”Nếu thực hành đúng theo tông
chỉ của Tịnh độ, phát đại nguyện và thực hành đúng
theo đại nguyện của mình phát, thì chỉ một niệm cũng được
vãng sanh.” Nếu chỉ phát nguyện, miệng nói tâm nghĩ mà
không thực hành, tức là nguyện suông nguyện giả, lúc lâm
chung dù ngàn niệm muôn niệm cũng đâu thể được vãng sanh?
Hoặc chỉ được sanh cõi Trời mà thôi.
Hỏi:
Trong lúc đọc thần chú, có phải là tịnh niệm không? Còn
có ngã không?
Đáp:
Đọc thần chú thuộc Mật tông, nếu đọc thần chú để
đè nén vọng tưởng thì điều đó nguy hiểm lắm, mặc dù
đọc đến có thần thông cũng là nguy hiểm. Theo tôi biết,
có người dùng lục tự Di Đà niệm mãi, như đá đè cỏ,
cũng đè nén được vọng tưởng, lâu ngày rồi cũng phát
được thần thông, nhưng vì không phá ngã chấp, tham sân si
còn nguyên, nhất là lòng tham. Theo kiến thức vật lý, một
vật bị đè mạnh chừng nào thì phản lực mạnh chừng nấy,
lúc tu đến mức cao, tâm lực mạnh, vọng tưởng cũng mạnh,
khi tham vọng kềm chế không được sẽ xảy ra ba tình trạng:
Có người ói máu chết liền, hoặc bị phát điên, hoặc bị
phá giới, nên rất nguy hiểm.
Thái
Hư Đại sư là một vị pháp sư danh tiếng ở Trung Quốc,
đồ chúng rất đông, ngài cho ba người học trò sang Tây Tạng
học Mật tông, sau khi học mấy năm có thần thông rồi trở
về Thượng Hải, do hiện được thần thông nên khiến đông
đảo Phật tử rất mê say. Thượng Hải rấtù nhiều Phật
tử giàu sang, vì không kềm nỗi lòng tham, cuối cùng các vị
bị phá giới và chết vì thần thông.
Hỏi:
Khi Phật tử cúng duờng tiền cho con, con đem về nuôi cha mẹ,
vì con nghĩ rằng cha mẹ đã có công sinh thành dưỡng dục,
con nuôi như vậy có nhân quả gì không?
Đáp:
Nếu cha mẹ không ai nuôi thì mình phải nuôi, việc đó không
sao; hễ có anh em khác thì mình không nuôi. Như câu chuyện
của Ngũ Tổ:
Kiếp
trước của Ngũ Tổ là người trồng cây tùng, chắc cũng
đã kiến tánh, được sanh tử tự do nhưng chưa ai ấn chứng,
ngài tìm đến Tứ Tổ xin ấn chứng, Tổ nói:
-
Nay ông đã quá già, thời gian hoằng pháp chẳng còn bao lâu,
nay hãy đi đầu thai lại, rồi tôi sẽ đợi ông.
Ngũ
Tổ quay về, dọc đường đi ngang qua một con sông thấy một
cô thôn nữ đang giặt quần áo, cô chưa có chồng, ngài hỏi:
-
Cô có thể cho tôi ở nhờ được không?
Thôn
nữ đáp: Việc này phải xin ý kiến của cha mẹ tôi.
Ngài
nói: Cô hứa rồi tôi mới hỏi cha mẹ cô.
Cô
ấy gật đầu, ngài liền đầu thai. Do cô chưa chồng mà có
mang, cha mẹ cô tức giận, nghĩ rằng con mình thất đức bèn
đuổi cô ra khỏi nhà. Sau khi sanh, cô đem đứa con thả xuống
sông trải qua một ngày đêm mà không chìm mới vớt lên, đi
khất thực để nuôi nấng con. Đến năm 14 tuổi, ngài mới
gặp lại Tứ Tổ và tu kiến tánh. Lúc đó người mẹ đã
già, nên ngài rước về chùa nuôi.
Hỏi:
Tại sao Tổ Đạt Ma chỉ quảy một chiếc giày?
Đáp:
Theo truyền thuyết, Tổ Đạt Ma đến Trung Quốc muốn truyền
pháp môn Tổ Sư Thiền nhưng chưa tìm được người kế thừa,
nên ở lại Thiếu Lâm Tự đợi chín năm, sau đó ngài Huệ
Khả mới kế thừa làm Nhị Tổ. Lúc đầu hoằng pháp, có
nhiều vị đang học Giáo môn rồi chuyển qua học Tổ Sư Thiền,
khiến những pháp sư danh tiếng đương thời nổi lòng ganh
tỵ, dùng thuốc độc muốn giết hại Tổ Đạt Ma. Dù Tổ
thừa biết đó là thuốc độc cực mạnh, vẫn uống vào mà
không sao cả. Như thế trải qua năm lần bị đầu độc mà
không chết, đến lần thứ sáu, bởi đã truyền pháp cho Tổ
Huệ Khả, công việc đã xong, Tổ định quay về Ấn Độ,
cho nên lần này uống thuốc vào là chết. Sau khi Tổ thị
tịch, môn đồ đem chôn ở núi Hùng Nhĩ, sau núi Thiếu Thất.
Một
hôm, một vị triều thần tên Tống Vân trên đường từ Ấn
Độ về nước, gặp Tổ Đạt Ma gánh một chiếc giày nơi
biên giới, bèn hỏi thăm:
-
Đại Sư đi đâu?
-
Về Ấn Độ.
Tống
Vân về triều đình tâu với vua rằng ở biên giới có gặp
Tổ Đạt Ma, vua không tin, vì mọi người đều cho là Tổ
đã chết, bèn sai người khai quật mộ, mở nắp hòm ra thấy
trong đó chỉ có một chiếc giày, đó là vật kỷ niệm mà
Tổ để lại Trung Quốc. Chiếc giày đó lúc đầu được
giữ trong Thiếu Lâm Tự, sau mấy lần di chuyển, cuối cùng
không biết lạc về đâu.
Hỏi:
Thế nào là khai giá trì phạm trong luật Tứ phần?
Đáp:
Chẳng phải là cô không biết về khai giá trì phạm, nhiều
người dạy luật cũng chưa rõ vấn đề này. Chúng ta phải
biết căn bản của Phật pháp:
Khai:
Ví như uống rượu là phạm giới, có tội phạm giới nhưng
không có tội nhân quả, cho nên có thể khai. Khai bằng cách
nào? Trường hợp mắc bệnh mà thầy thuốc nói cần uống
thuốc rượu mới hết, người ấy khai báo ra lý do, ấy là
không phạm.
Giá:
Giá là che. Tại sao phải che? Trong giới luật, như một trăm
điều về tứ oai nghi cũng chỉ có tội phá giới, không có
tội nhân quả. Vậy thì tại sao phải lập ra những giới
điều trên? Là vì muốn che không cho người đời phê bình.
Ví như ở Ấn Độ, nếu Tu sĩ đi làm ruộng thì người đời
phê bình, cho nên làm ruộng là phạm. ngược lại, ở Trung
Quốc, Tu sĩ đi khất thực thì người đời lại chê là con
mọt gạo, còn đi canh tác thì được chấp nhận, nên ở Trung
Quốc làm ruộng là giữ giới, ở Ấn Độ làm ruộng lại
phá giới. Tại sao phải che? vì hễ muốn hoằng pháp thì phải
phù hợp với phong tục của địa phương đó.
Trì
và phạm: Gồm chỉ trì và tác trì, từ 5 giới, 10 giới, đến
250 giới, 348 giới thuộc giới Thanh Văn, gọi là chỉ trì,
tức không làm thì không phạm, còn giới Bồ tát gọi là tác
trì, những việc cần làm thì phải làm, không làm là phạm.
Hỏi:
Tỳ-kheo ni phải hành theo pháp Bát kỉnh, vậy Tỳ-kheo có thể
hiếp đáp không?
Đáp:
Không được, nếu vị Tỳ-kheo đó vô cớ hiếp đáp, thì
Tỳ-kheo-ni có thể hợp chúng lại Yết-ma. Đáng lẻ theo pháp
bát kỉnh, Tỳ-kheo-ni phải đảnh lễ khi gặp Tỳ-kheo Tăng,
nhưng vì vị Tỳ-kheo Tăng đó vô cớ hiếp đáp, nên không
nhìn nhận vị Tỳ-kheo đó và không kính lễ.
Hỏi:
Những lúc tham sân si khởi lên là do vô minh mà ra, vậy làm
cách nào để diệt tham sân si và ai chịu trách nhiệm về
nó? Cái thân này ư?
Đáp:
Trong Kinh Duy Ma Cật nói “Dâm nộ si là giải thoát,” Kinh
Lăng Nghiêm nói “Tham sân si là đạo Quỉ, không có tham sân
si là đạo cõi Trời.” Giữa hai cái Có và Không thay phiên
nhau xoay chuyển mãi nên có luân hồi. Lại nữa, Tâm
kinh nói:”Vô vô minh diệc vô vô minh tận,” do
có vô minh mới có tham sân si, đã không có vô minh thì làm
sao có tham sân si? Không có tham sân si thì làm sao có vô minh
tận? Cho đến vô lão tử: có sanh tử mới có tham sân si,
sanh tử còn không có, làm sao có tham sân si, mà nói là tham
sân si khởi !
Hỏi:
Nếu không có tham sân si tức là thường hằng thanh tịnh ư?
Đáp:
Bây giờ tôi hỏi ông: ông có tham sân si không?
-
Hiện thời thì không có.
-
Tại sao không có? Nay ông muốn hiểu được cái tham sân si
đó cũng là tham vậy ! Thế thì tham sân si của ông từ đâu
có?
-
Dạ, do cái chấp mà có, nếu không chấp thật thì không có.
-
Ông đã biết rồi đó, hễ chẳng chấp thật thì không có
tham sân si, vậy sao lại còn hỏi tôi ! Nhưng cái chấp đó
từ đâu khởi, biết không?
-
Dạ….
(
Sư phụ giảng về nghiệp chướng và đôi chân dẫm cức sình,
lược qua.)
Hỏi:
Thế nào là từ tán tâm đến đa tâm, từ đa tâm đến thiểu
tâm, rồi nhất tâm, vô tâm, liễu tâm của ngài Lai Quả?
Đáp:
Ấy là phương tiên bất đắc dĩ để khuyến khích hành giả
tham thiền, nay nếu chúng ta quyết tử tham thiền thì cứ nhìn
vào chỗ thoại đầu, dùng cái không biết để tu, đã không
biết thì làm sao còn biết đến đa tâm, thiểu tâm cho đến
liễu tâm? Giáo môn có một bài kệ:”Nếu khởi tâm
tinh tấn, là vọng chẳng tinh tấn, nếu tâm chẳng nổi vọng,
tinh tấn vô cùng tận.” Khởi tâm tinh tấn còn không được,
huống là muốn biết đa tâm, thiểu tâm làm chi. Đó là ngài
Lai Quả dùng phương tiện để khuyến khích mọi người tham
thiền từ từ tiến lên, bây giờ mình tham cũng sẽ tự
nó từ từ tiến lên.
Hỏi:
Vậy chữ Liễu là thế nào?
Đáp:
Liễu là sạch hết, luôn cả cái “vô”cũng không có. Khi
chúng ta đến thoại đầu thì tất cả niệm, tất cả vọng
tưởng đều không có, tức là vô, nhưng chưa có kiến tánh,
phải sạch cả cái vô mới là liễu, đến liễu mới kiến
tánh. Cho nên có hai câu kệ “Chớ tưởng vô tâm tức là
đạo, vô tâm còn cách muôn trùng quan.”
Hỏi:
Kính bạch Sư phụ, con nhận thấy có những huynh đệ đồng
tham, khi công phu có sở đắc, liền sanh tâm chấp trước;
rồi những thấy nghe hiểu biết hơi khác thường liền sanh
trưởng bản ngã, dùng những suy nghĩ của mình dẫn chứng
kinh điển của chư Phật chư Tổ, giải thích một cách sai
lầm, nên kính thỉnh Sư phụ nói về cảnh giới ngũ ấm ma
trong Kinh Lăng Nghiêm.
Đáp:
Trong Kinh Lăng Nghiêm nói về ma ngũ ấm gồm: Sắc, thọ, tưởng,
hành, thức. Sắc thuộc vật chất, thọ, tưởng, hành là suy
nghĩ cảm giác, thuộc thể tinh thần, chẳng phải vật chất.
Thọ là sự cảm thọ, như buồn, vui… tưởng là suy nghĩ,
hành có hai thứ: Một là hành vi, hai là sự biến đổi: Như
các tế bào trong cơ thể biến đổi từng sát na, mỗi sát
na không biết có bao nhiêu tế bào chết, rồi bao nhiêu tế
bào sanh. Thức là phân biệt: theo Duy Thức Học chia làm tám
thức, tiền ngũ thức là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, thức
thứ sáu là ý thức, thức thứ bảy Mạt na thức, thức thứ
tám là tạng thức.
Tấm
thân này hình thành bởi ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành,
thức, nhưng nó không có chủ; nay nói sắc uẩn là ta cũng
không được, nói thọ uẩn là ta cũng không được, tưởng,
hành, thức cũng vậy, vốn chẳng thể thành lập cái
TA này. Nhưng vì do thức thứ bảy chấp thật thức thứ tám
là ngã, ngày đêm không gián đoạn, dùng sự suy nghĩ cho là
đúng hay sai, rồi cảm giác vui buồn, phân biệt tốt xấu
v.v…tất cả đều không đúng.
Nếu
nói một cách thực tế về chủ của chúng ta, đó là Chơn
như Phật tánh, cũng gọi là Diệu tâm. Do Diệu tâm không hình
tướng số lượng, chẳng thể nhận biết được; những gì
có thể nhận biết được là ngũ uẩn, do ngũ uẩn chấp thật
mới có thiên ma và tâm ma, tự mình làm hại cho mình., cứ
cho những cảm giác suy nghĩ là ta, cho là của mình thì có
sở đắc, cái nào không được thì muốn cầu, và có sở
sợ. Chẳng biết những cái đó đều không thực tế, đều
là việc trong chiêm bao, vì chấp lấy những việc trong chiêm
bao cho là thật nên có đủ thứ buồn vui yêu ghét, vì chấp
ngã nên chỉ biết lo cho mình.
Đức
Phật nói chúng sanh bình đẳng: Ví như trong xã hội có một
ngàn người, và phát hành số tiền một trăm ngàn đồng,
nếu chia bình quân là mỗi người được một trăm đồng.
Bây giờ chính mình đã có một trăm đồng, nhưng vì muốn
nhiều hơn nên phải chiếm đoạt của người khác; hễ muốn
hai trăm đồng thì trong một ngàn người phải có một người
bị chiếm mất, muốn một ngàn đồng thì có chín người
bị chiếm mất phần tiền v.v… mà dã tâm của con người
đâu chỉ dừng lại ở một ngàn đồng, mà là muốn toàn
bộ chín mươi chín ngàn đồng kia là của ta, nếu những người
kia không đồng ý thì phải đánh lộn, đổ máu, thậm chí
chiến tranh …Chớ nói là người ngoài, trong gia đình
chị em ruột với nhau, vì tranh giành gia tài của cha mẹ mà
đưa đến kiện tụng, giết hại lẫn nhau… ấy cũng là do
suy nghĩ cảm giác, chẳng có thật mà chấp cho là thật rồi
tự hại mình. Những vấn đề như thế đầy nhẩy trong xã
hội, mỗi ngày đều có, mắt thấy tai nghe, đâu phải chỉ
có nói trong Kinh Lăng Nghiêm!
Những
thứ kể trên còn chưa phải gọi là ma, Đức Phật đã dạy
bảo chúng ta rằng “ngũ uẩn chẳng thật,” Tâm kinh nói:”Vô
sắc, thọ, tưởng, hành, thức,” dùng chữ VÔ quét sạch
tư tưởng chấp thật của chúng ta, nhưng có ai chịu nghe đâu
! Chẳng phải chỉ có người không biết Phật pháp mới
không nghe, mà ngay cả những người mỗi ngày mỗi tụng
cũng không chịu nghe, cho đến pháp sư giảng kinh thuyết pháp
dạy Phật tử mà chính bản thân những vị này còn chưa chịu
nghe, cho nên xã hội đủ thứ ma chướng, cứ xảy ra tai nạn
hoài.
Nay
muốn quét sạch những ma chướng đó phải dùng nghi tình,
đạt đến liễu tâm rồi mới có thể quét sạch được.
Hỏi:
Có phải hành ấm là trạng thái sanh diệt của tư tưởng?
Đáp:
Cũng đúng. Vì hành ấm là thay đổi, và tư tưởng thì cứ
sát na thay đổi hoài, như ngọn đèn đang đốt cháy, chúng
ta nhìn thấy ngọn đèn hình như không thay đổi, nhưng thực
tế nó thay đổi từng sát na, ngọn đèn ở sát na thứ nhì
đã chẳng phải ngọn đèn ở sát na thứ nhất rồi, nó cứ
sanh diệt mãi, hành ấm cũng vậy.
Hỏi:
Vì bệnh tật của mẹ, con đã bốn lần phát nguyện muốn
xuống tóc khi mẹ còn nằm trong bệnh viện: ba lần trước
thì mẹ con qua được cơn đau nặng, nhưng con lại không thực
hiện được lời phát nguyện của mình, và lần thứ tư thì
mẹ con đã không qua được. Ông thầy của con bảo con hãy
tâm nguyện trước bàn thờ Phật, rồi thầy đọc kinh và
giá kéo cắt đi ba chùm tóc của con. Vậy con có tội lỗi
không?
Đáp:
Tại sao cô muốn xuống tóc? Việc xuống tóc đó có ích lợi
gì?
-
Dạ, tại lần đầu tiên khi mẹ con đau nặng, con quá lo sợ
cho mẹ con.
-
Tại sao cô lại đem việc xuống tóc coi như một điều kiện
trao đổi như việc mua bán? Người tại gia nếu không biết
được xuống tóc vì mục đích gì, rồi tự tiện xuống tóc
và mặc áo Tu sĩ, việc đó chẳng những không có công, còn
mang tội giả mạo Tu sĩ nữa.
-
Con chẳng có ý muốn tu hành, nhưng vì hồi xưa con thích ăn
diện, thích trang điểm, nên con chỉ nghĩ là việc xuống tóc
là một sự hy sinh đối với con mà thôi.
-
Hy sinh như thế là tạo tội lớn chứ chẳng ích lợi gì.
Hỏi:
Vậy thầy con xuống tóc cho con trước chánh điện có tội
gì không?
Đáp:
Tội là lấy việc xuống tóc coi như một điều kiện mua bán
trao đổi. Xuống tóc xuất gia là để chuyên tu, vì muốn giải
quyết việc lớn sanh tử, đạt đến tự do tự tại, giải
thoát tất cả khổ cho chính mình và cho chúng sanh, nay làm
như thế chẳng những không thể báo hiếu cho mẹ, lại gây
tội cho mẹ và cho mình nữa.
Hỏi:
Kính bạch Sư phụ, trường hợp một vị xin thầy xuống tóc,
chưa thọ Sa-di, chỉ tập sự xuất gia, xuống tóc xong không
chịu ở với thầy Bổn sư mà bỏ về nhà sống với cha mẹ
gia đình,nhưng vẫn giữ nguyên hình dáng Tu sĩ, như thế có
được gọi là người xuất gia không?
Đáp:
Không. Theo giới luật nhà Phật, Tỳ-kheo phải qua mười năm
rồi mới được rời bổn sư, còn Tỳ-kheo-ni phải mười
hai năm. Nếu mới xuất gia đã rời bổn sư là phạm giới.
Bổn sư phải có trách nhiệm dạy đệ tử. Nếu là Tỳ-kheo,
muốn dạy đệ tử phải thông suốt hai bộ luật Tỳ-kheo
và Tỳ-kheo-ni, chứ chưa nói đến vấn đề Phật pháp, nếu
không thì lấy gì để dạy đệ tử?
Hỏi:
Xin Sư phụ kể về câu chuyện nhân quả của hai ông bà ăn
xin hồi thời Phật.
Đáp:
Tâm lực yếu thì tạo nhân yếu, tâm lực mạnh tạo
nhân mạnh. Hồi thời Phật Thích Ca, có hai vợ chồng nghèo
đi ăn xin, trong nhà chẳng có đồ vật gì, kể cả quần áo,
hai vợ chồng chỉ mặc chung một cái xà rông, hễ người
chồng đi xin ăn thì người vợ phải ở nhà và ngược lại,
vợ đi xin thì chồng phải ở nhà. Cuộc sống của hai người
rất khổ, khi đói khi no, lúc có bệnh lại càng khổ thêm.
Một
hôm, gặp một vị Tăng khất thực đi ngang qua nhà, Người
chồng liền chạy ra xin Sư tạm chờ một lát, rồi quay về
bàn với vợ:
-
Chắc tại chúng mình kiếp trước không bố thí cúng dường,
nên kiếp này nghèo khổ như thế, bây giờ phải bố thí,
để mong kiếp sau được tốt hơn.”
Người
vợ đồng ý. Nhưng đâu còn cái gì để bố thí ngoài cái
xà rông duy nhất kia? Thôi thì gởi cái xà rông này nhờ Sư
đem về cúng dường Đức Phật vậy.
Hai
người thừa biết nếu đem cúng dường chiếc xà rông là
không còn đồ để mặc ra ngoài xin ăn, phải chịu chết đói
ở nhà nhưng vẫn không thay đổi ý định, rồi từ trong lỗ
vách đưa chiếc xà rông ra nhờ vị Tăng gởi đến cúng dường
Phật.
Khi
vị Tăng đến với Đức Phật thì ngài đang tiếp chuyện
với ông vua, Phật kể với vua về sự phát tâm của đôi
vợ chồng này, vua nghe xong rất cảm động, liền xin Phật
đến thăm hai vợ chồng và mang theo tiền, quà tặng cho hai
vị, đồng thời phong cho người chồng một quan chức nhỏ.
Nhân
mới gieo mà quả lập tức, ấy là vì sự cúng dường này
phát tâm quá mạnh, mặc dù chiếc xà rông kia dơ bẩn chẳng
đáng giá, nhưng là phương tiện nuôi sống cho hai mạng người.
Cho nên hễ cái nhân mạnh thì quả đến tức thời.
Hỏi:
Tham thiền có phải là vọng tưởng không?
Đáp:
Đó là nhất niệm vô minh. Tôi thường nói: Nay chúng ta tham
thiền là dùng ý thức, ý thức ngày đêm hoạt động là vọng
tưởng, đến chỗ thoại đầu cũng là vô thỉ vô minh.
Bây giờ dùng cái biết để tu Như Lai Thiền là nhất niệm
vô minh, dùng cái không biết để tu Tổ Sư Thiền cũng là
nhất niệm vô minh. Tất cả những gì do bộ não, kiến văn
giác tri nhận biết đều là vọng tưởng, Kinh Lăng Già
gọi là “tâm lượng.” Tâm thì không có số lượng, hễ
có số lượng của tâm tức là vọng, mặc dù trí huệ cao
nhất vẫn là có số lượng, có số lượng là vọng.
Nghiệp
chướng, phiền não, vọng tưởng v.v…là xiềng xích làm bằng
sợi chỉ, rơm cỏ; còn Bồ đề, Niết bàn, giải thoát là
xiềng xích bằng vàng, mặc dù rất quý nhưng vẫn là xiềng
xích trói buộc, thì đâu có cái nào chẳng phải vọng tưởng
đâu ! Cho nên, tham Tổ Sư Thiền là học thiền học đạo
cũng không cho, bởi vì đã thực hành rồi, còn muốn học
cái gì nữa !
Cái
nhất niệm vô minh trong cuộc sống hằng ngày là dẫn mình
từ khổ vào khổ, còn cái nhất niệm vô minh của tham thiền
là dẫn mình từ khổ ra khổ, mặc dù cũng là nhất niệm
vô minh. Sự khác biệt giữa người biết tham thiền và người
không biết tham thiền là vậy.
Hỏi:
Thời nay có ai kiến tánh không?
Đáp:
Thời gần đây có ngài Lai Quả, ngài Hư Vân, ngài Nguyệt
Khê, cho đến vị Tăng sửa đường lộ ở tỉnh Vân Nam. Có
những vị do có nhân duyên thì người ta biết được, còn
những vị không có nhân duyên thì người đời chẳng biết.
Tại
sao nói không có nhân duyên? Như vị Tăng sửa đường lộ
ở tỉnh Vân Nam là do ngài Hư Vân phát hiện mới biết:
Ngài
Hư Vân muốn lập ngôi chùa tại núi Kê Túc tỉnh Vân Nam.
Khi ngài đi hóa duyên, nghe người kể về một vị Tăng suốt
ngày sửa đường một mình trải qua mấy mươi năm, mọi
người cho tiền thì không nhận, cho gạo chỉ nhận một ít
để ăn qua ngày, ngoài ra không lấy gì cả, bất cứ ai đến
chào hỏi cũng không màng đến. Hồi xưa đường đi ở vùng
đó rất xấu, trở ngại cho người và xe cộ, sau khi được
vị Tăng đó tu sửa dần suốt mấy mươi năm, khiến đường
đi dễ dàng hơn nhiều, và ông vẫn một mình lặng lẽ sửa
mãi.
Ngài
Hư vân nghe nói bèn tìm gặp vị Tăng ấy, hai người cùng
nhau sửa đường, buổi trưa về chỗ ở của ông ấy, hai
người giúp nhau làm cơm, rồi ông tự mình lấy chén đũa,
tự ăn một mình, coi như không hề biết sự có mặt của
ngài Hư Vân, mặc cho ngài tự tìm chén đũa, hai người sống
chung như thế trải qua mười mấy ngày, cùng ăn cùng làm,
chẳng ai nói chuyện với ai.
Một
buổi tối, đêm trăng sáng tỏ, ngài ngồi trên tảng đá ở
sau chùa ngắm trăng, vị Tăng hỏi ngài:
-
Ông làm gì thế?
-
Ngắm trăng.
-
Trăng ở đâu?
-
Sáng vằng vặc.
Vị
Tăng ấy nói ra hai câu thiền ngữ, ngài Hư Vân đáp lại,
lúc đó vị ấy mới biết đây là người kiến tánh, mới
mừng rỡ và nói chuyện với ngài. Hai người ấn chứng với
nhau về sự kiến tánh, vị Tăng kể lại: Ông đã kiến
tánh từ hồi hai mươi bốn tuổi ở Chùa Kim Sơn, sau đó đi
hành cước đến chỗ này, thấy đường lộ hư hoại nhiều,
khó khăn cho sự đi lại, muốn kết duyên như Trì Địa Bồ
tát trong Kinh Lăng Nghiêm, bèn phát tâm sửa đường cho mọi
người. Từ lúc hai mươi mấy tuổi đến lúc gặp ngài đã
là tám mươi mấy tuổi rồi, nếu không gặp ngài Hư Vân thì
chẳng ai biết vị đó đã kiến tánh. Việc này được ghi
lại trong “Hư Vân Niên Phổ.”