[12] 10/10/94-16/10/94
tại Chùa Từ Ân, Quận 11
Làm
thế nào nhìn vào chỗ hầm sâu đen tối
Thâu
nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục
Ăn
cơm mặc áo là tu
Tu
sĩ nuôi dưỡng cha mẹ, nhân quả thế nào
Tham
câu “Niệm Phật là ai” không có nghi tình
Tại
sao Phật giáo nguyên thủy ăn mặn?
Tam
thân
Thế
nào là nhân sinh quan và vũ trụ quan của Phật giáo
Diệt
tận định
Từ
mở mắt chiêm bao thức tỉnh rồi, có trở lại chiêm bao không?
Sau
khi kiến tánh mọi việc vẫn y như cũ
Thế
nào bất trụ hữu vi, bất tận vô vi
Công
đức tùy hỷ
Súc
sinh nghiệp báo chẳng biết tu hành
Sao
gọi Giới tự động?
Nhập
định chẳng phải giải thoát
Giới
Bồ tát tại gia: 6 điều trọng, 28 điều khinh
Định
huệ với nghi tình là đồng hay khác?
Vô
tham là chơn tham
Vọng
chơn là hai vọng
Hỏi:
Thế nào là nhìn vào chỗ hầm sâu đen tối?
Đáp:
Chỗ đen tối là phương tiện để tập nhìn, ví như hiện
nay mở mắt thì thấy rõ cái này là cái bình, kia là
cái tách, còn nhắm mắt thì không thấy, chỉ thấy đen tối,
cái tách cái bình… mọi thứ đều không biết, Tổ Sư Thiền
là dùng cái không biết đó để tu, cứ nhìn chỗ không biết.
Nay dùng cái đen tối đó thay thế chỗ không biết, đến khi
nhìn được rồi, không cần nhờ đen tối để nhìn nữa,
mở mắt cũng không thấy gì. Cũng như lúc tập đi xe
đạp, ban đầu kể cả leo lên cũng không được, phải nhờ
người khác vịn chiếc xe mới leo lên, rồi đạp cũng không
đi, phải nhờ người khác đẩy giùm. Tập một thời gian,
tự mình biết chạy rồi, không cần người khác giúp nữa.
Nhìn vào hầm sâu đen tối cũng vậy, ban đầu nhờ cái đen
tối để nhìn, đã nhìn được thì cái đen tối cũng khỏi.
Hỏi:
Tâm và tánh có khác nhau không?
Đáp:
Nếu nói về bản tâm và bản tánh thì chẳng khác, ví như
nói tự tâm cũng là tự tánh, kiến tánh thì tự tánh hiện,
cũng là tự tâm hiện. Còn người thế gian thì có khác, người
thì tánh thiện, người thì tánh ác, người thì ham thích vui
chơi, người thì ham thích yên tịnh v.v… nhưng tâm không khác,
vốn như hư không chẳng có gì hết.
Hỏi:
Vừa rồi Sư phụ khai thị về nhân quả, nhân nào quả nấy,
giết người phải đền mạng, ăn cục thịt trả cục thịt.
nhưng Phật tử và người xuất gia nếu phạm những giới
điều hoặc tạo tội nhân quả, có cách nào giải quyết tốt
nhất?
Đáp:
Cách giải quyết tốt nhất là kiến tánh, ở trong mở mắt
chiêm bao thức tỉnh, nhảy ra ngoài chiêm bao thì tất cả giải
quyết xong. Không kiến tánh phải từ thân này qua thân khác,
cứ ở trong luân hồi mãi, chẳng thể giải quyết được.
Hỏi:
Thế nào là thâu nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục?
Đáp:
Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đại Thế Chí Bồ tát dạy về cách
tu Tịnh độ: “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục,”
đô là bao gồm, tức nhiếp cả nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý.
Muốn nhiếp nhãn căn phải không phân biệt xấu đẹp, nhiếp
được nhĩ căn thì không phân biệt khen chê, tức là khen cũng
không vui, chê cũng không buồn. Nhiếp những căn khác cũng
vậy.
Nay
nhiều người tu Tịnh độ không nhiếp được căn nào, mà
chỉ mong lúc lâm chung có Phật A Di Đà đến rước, đã không
biết tông chỉ của Tịnh độ thì làm sao thực hành cho đúng?
Phải thực hành đúng mới có Phật đến rước. Nguyện lực
của Phật A Di Đà rất mạnh, ví như làn sóng điện của
đài phát thanh, dù máy radio rất nhỏ, bất kể ở phương
trời nào, chỉ cần vặn đúng với làn sóng tổng đài thì
tự nhiên thu được hiệu quả, hễ xê xích một sợi tóc
là thu không được. Tu Tịnh độ cũng vậy, nguyện của mình
phải đúng với nguyện của Phật Di Đà mới có tương ưng,
xê xích mảy may cũng không được. Hễ không tương ưng thì
dù ở khít một bên cũng không được, đâu phải chỉ niệm
Phật là Phật đến rước !
Hỏi:
Thế nào gọi là tu?
Đáp:
Tu hành là thực dụng trong cuộc sống hàng ngày của chúng
ta, chứ chẳng phải chỉ là miệng nói suông. Cuộc sống hàng
ngày ăn cơm, mặc áo, nói năng, tiếp khách… tất cả đều
là tu, luôn cả ngủ nghỉ, đi đứng nằm ngồi đều là tu,
đâu phải chỉ có niệm Phật tham thiền mới là tu !
Tu
như thế nào? Ăn cơm cứ ăn cơm, chỉ biết ăn cơm, không
cho thêm ý mình vào; mặc áo cứ mặc áo, chỉ biết mặc áo,
tức tu vậy. Thế là làm sao? Ăn cơm chỉ là ăn cơm, đừng
thêm ý của mình cho là cơm này ngon, cơm kia không ngon, đồ
ăn này ngon, đồ ăn kia dở; mặc áo cũng vậy, cho là áo này
đẹp, áo kia xấu v.v…hễ có xen vào ý mình là không phải
tu.
Bất
cứ cái gì trong thực dụng hằng ngày đều là tu, chứ chẳng
phải đi đâu mới là tu, ở chỗ nào cũng là tu cả.
Hỏi:
Con muốn thỉnh Phật về thờ, bên Thiền tông phải làm sao?
Đáp:
Thiền đường đầu tiên của ngài Bá Trượng không có thờ
Phật, đó không phải là không kính trọng Phật, vì theo đúng
lời dạy của Phật là phải tin tự tâm là Phật, cũng như
Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ nói:”Tự qui y Phật, tự qui
y Pháp, tự qui y Tăng,” tức qui y tự tánh Phật, chẳng phải
qui y ở ngoài. Cho nên, tất cả tôn giáo khác đều phải
tin theo giáo chủ, còn Phật Thích Ca thì dạy chúng ta phải
tự tin mình, mỗi người đều đạt đến tự do tự
tại, giải thoát tất cả khổ, mới được gọi là độ,
nếu còn phải chịu khổ, hoặc muôn ngàn kiếp sau khổ còn
trở lại thì không được, nên Tâm Kinh nói “Chơn thật bất
hư.”
Hỏi:
Khi con chết phải dặn các con niệm như thế nào?
Đáp:
Đó là bên Tịnh độ và Giáo môn, còn Thiền tông thì ngay
bây giờ, những gì đã qua rồi thì quên đi, không ghi nhớ,
vị lai chưa đến không sắp đặt, hiện tại trước mắt
cũng không trụ. Nếu thực hành được như thế, mặc dù chưa
kiến tánh, cuộc sống cũng rất thoải mái, chẳng có điều
gì phải lo rầu nữa. Quá khứ, hiện tại, vị lai đều không
cần lo, lo chi đến chết ! Nếu sợ chết thì hãy lo tu đi,
nó sẽ tự giải quyết; chẳng lo tu mà lo mong người
khác giúp, hoặc lo sau khi chết phải làm sao, ấy là tư tưởng
của người đời.
Hỏi:
Bản thân con cũng như nhiều vị xuất gia, do cha mẹ nghèo
khổ không ai nuôi nấng, nên đôi khi đem những của cúng thí
mà đàn na thí chủ cúng riêng cho mình để giúp đỡ cho cha
mẹ, ngoài ra cũng có nhiều vị Trụ trì khi cha mẹ mất cũng
làm lễ cúng thất trai tuần v.v… Vậy những vấn đề trên
có phạm phải nhân quả tội báo gì không?
Đáp:
Theo Giới luật, đã xuất gia thì không có gia, Động Sơn Thiền
sư, Sơ tổ tông Tào Động, sau khi xuất gia gởi thư cho cha
mẹ, nói rằng không có gặp nữa. Lá thư này có ghi trong cuốn
Thiền Học Đại Thành.
Người
xuất gia giúp đỡ cho Phật tử thì được, nếu giúp cho cha
mẹ mình, lấy tiền của tín thí đem giúp cho thân nhân mình,
phải mắc nợ tín thí, sau này phải trả. Trong tòng lâm, như
ngài Hư Vân là Trụ trì, muốn mời khách riêng của cá nhân,
đến khố phòng mua dầu xào thức ăn, chỉ thiếu một xu cũng
phải quay về lấy đủ tiền rồi khố phòng mới đưa dầu
cho.
Cho
nên, nói đến vấn đề nhân quả rất vi tế, nếu nói cha
mẹ mình nghèo thì cũng có người nghèo hơn, nghèo đói đến
gần chết, sao mình không giúp mà chỉ giúp cho cha mẹ? Như
vậy là có phân biệt, chẳng thể xem cha mẹ như những Phật
tử khác, tức có ngã chấp. Chánh pháp phải phá ngã chấp,
đã xuất gia thì không còn nhà nữa. Cũng có nhiều vị Tu
sĩ trong tòng lâm, có anh em ruột đến thăm, Tri khách
đãi cho một bữa cơm xong, vị ấy bảo người nhà phải trả
tiền lại. Nay nhiều người dùng tiền của mười phương
làm đám giỗ cho cha mẹ, việc đó bề ngoài bình thường,
mọi người chẳng thấy sao, nhưng trong đó đều có nhân quả.
Tôi thường nói: Nhân nào quả nấy, đã tạo nhân ắt phải
chịu quả . Có bài kệ rằng:
Một
hạt gạo thí chủ,
Lớn
như núi Tu Di,
Nếu
không tu giải thoát,
Mang
lông đội sừng trả.
Hỏi:
Vậy tại sao trong giới luật Tỳ-kheo có ghi: Nếu cha mẹ nghèo
khổ không ai nuôi, có thể khất thực về nuôi cha mẹ?
Đáp:
Đúng. Nếu thật sự chẳng còn ai nuôi dưỡng cha mẹ thì
có thể rước cha mẹ về chùa nuôi. Ngũ tổ Hoằng Nhẫn vì
không còn ai nuôi nấng mẹ, nên rước mẹ về chùa nuôi. Mình
chẳâng phải là không có hiếu, thập phương cúng dường
tiền của là để chúng ta khỏi đi làm việc kiếm sống để
chuyên tu giải thoát, tự giác giác tha, hiếu này là đại
hiếu. Dù xuất gia không nuôi nấng cha mẹ, nhưng phải độ
cha mẹ. Nên Kinh nói:”Trước dùng thỏa mãn ham muốn để
lôi kéo, sau khiến vào trí huệ Phật,” vào trí huệ Phật
mới có thể giải thoát.
Hỏi:
Sư phụ giảng là tội phá giới có thể sám hối, còn tội
nhân quả không thể sám hối. Trong Kinh Niết Bàn kể về Vua
A Xà Thế vì giết cha phạm tội ngũ nghịch, khi đến gặp
Phật thuyết pháp tại sao lại có thể tiêu tội? Việc đó
là tội nhân quả hay tội phá giới?
Đáp:
Tất cả duy tâm tạo, nếu tâm sửa đổi thì tội phải tiêu.
Như bài kệ sám hối: “Tội từ tâm khởi đem tâm sám, tâm
nếu diệt thì tội cũng tiêu. Tội tiêu tâm diệt thảy đều
không, ấy mới gọi là chơn sám hối.” Nếu tâm đã diệt
thì tội dựa vào đâu mà có?
Hỏi:
Theo cuốn Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền nói: Câu
thoại đầu có muôn muôn ngàn ngàn, vậy hành giả có thể
tự đề ra một câu nào thích hợp ngoài năm câu mà Sư phụ
đã đề ra? Câu “Niệm Phật là ai”còn có giá trị
nữa không?
Đáp:
Nếu muốn chọn câu “Niệm Phật là ai?”để tham, phải
khi ăn cơm cũng không biết là ai, mặc áo cũng không biết
là ai, nói năng tiếp khách cũng không biết là ai mới tham
câu này được, nếu mọi thứ đều biết, chỉ không biết
niệm Phật là ai, là tự dối mình, làm sao có nghi tình
được? Cho nên lúc đầu tôi vẫn để cho hành giả chọn
câu này, sau đó phát hiện nguời nào tham câu này đều không
có nghi tình, chỉ tốn hao thì giờ vô ích, vì đã biết là
ta niệm rồi.
Hỏi:
Vậy ngài Lai Quả tham câu này như thế nào?
Đáp:
Ngài Lai Quả tham câu “Niệm Phật là ai?”đến lúc ngủ
mê lớn tiếng niệm Phật mà tự chẳng biết, nên mới có
thể tham câu này được kiến tánh. Theo tôi biết, từ mấy
trăm năm nay, bao nhiêu người chọn câu này, chỉ có một mình
ngài Lai Quả kiến tánh, ngoài ra không có người nào. Còn
các vị tổ khác như ngài Hư Vân tham câu “Kéo tử thi
là ai,” ngài Nguyệt Khê cũng không phải tham câu niệm Phật
là ai. Tôi chỉ đề ra năm câu tượng trưng, nếu người nào
cảm thấy ngoài năm câu này ra, có câu nào thắc mắc nhất
thì vẫn là tốt hơn, bởi vì cần có nghi tình thật sự.
Hỏi:
Tại sao Phật giáo nguyên thủy ăn mặn?
Đáp:
Phật giáo nguyên thủy không phải ăn mặn, hồi thời Phật
Thích Ca, Tu sĩ phải đi khất thực, ai cho cái gì vào
bình bát thì ăn cái nấy, con nít không biết gì, bỏ nắm
cát vào cũng phải ăn luôn, vì không có sự phân biệt, nên
giò heo cũng ăn, nắm cát cũng ăn. Còn thời nay nếu có phân
biệt thì là ăn mặn chứ không phải ăn chay. (Sư phụ kể
về phong tục trai Tăng ở Thái Lan, xem trang 181)
Hỏi:
Thế nào là Ứng thân trong Tam thân?
Đáp:
Phật tánh của ông là Pháp thân, thân hiện tại của ông
là Ứng thân, cũng gọi là Báo thân, tức do trước kia tạo
nghiệp con nguời, nên có cái ứng thân này để ứng với
nghiệp quả. Nếu ông tu đến thành Phật thì hiện ra Thiên
bá ức hóa thân. Như hiện nay Đức Phật có vô số ức Hoá
thân đang thuyết pháp nơi vô số ức quốc độ, đều có
tên họ và tuổi tác khác nhau.
Hỏi:
Vậy thế nào là Hóa thân?
Đáp:
Đợi ông thành Phật rồi tôi giảng cho nghe.
Hỏi:
Gần đây tà pháp thịnh hành, chẳng những hàng Phật tử,
kể cả hàng Tăng ni xuất gia lại chủ trương tin theo cái
thuyết “Phật mẫu Diêu Trì,” rằng mẫu có khả năng sinh
ra nhà cửa đất đai, núi sông và tất cả. Xin Sư phụ khai
thị vấn đề này.
Đáp:
Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói đến 50 thứ ngũ ấm ma, thần
thông biến hóa không ai bằng. Ví như mình ngồi đây, họ
có thể bay từ đây sang Mỹ để đưa về món đồ từ Mỹ
mà không đầy năm phút, những người tà ma có phép thần
thông như thế, khiến người thường cho là Phật, là Bồ
tát v.v… những người đi theo họ, khi họ đọa địa ngục
thì đệ tử họ cùng đọa theo, vì đã giúp họ lừa gạt
người khác.
Hỏi:
Vậy làm thế nào đối trị với nhân sinh quan và vũ trụ
quan sai lầm này? Thế nào là nhân sinh quan và vũ trụ quan
của Phật giáo?
Đáp:
Tôi đã giải thích về tánh không, là tâm của mình, vốn
chẳng hình thể số lượng, trống rỗng chẳng có gì cả,
làm sao có nghĩa lý gì, làm sao có nhân sinh quan và vũ trụ
quan ! Nhân sinh quan là sanh tử mới có, sanh tử là luân hồi,
có sanh tử rồi mới có vũ trụ, tức có TA là sanh tử, ta
đối với nhân sinh cho là phải như vậy vậy mới đúng, cái
kia kia là không đúng… đó là ý của ta, cũng là vọng tưởng.
Trong Kinh Lăng Già gọi là “tự tâm hiện lượng.”
Nhân sinh quan cao nhất tức chủ quan, chớ nói là chủ quan,
dù khách quan cũng không được. Đức Phật là muốn chúng
ta giải thoát khổ sanh tử luân hồi.
Năm
kia tôi thuyết pháp tại Canada, có một vị giáo sư khoa Tâm
lý học dạy ở trường đại học, lại chuyên giảng về
môn tâm lý giữa thầy trò. Khi ông ấy đến với tôi, tôi
không nói về danh từ Phật pháp, chỉ nói về danh từ khoa
học. Tôi hỏi ông ấy:
-
Theo thầy, khi giảng dạy, nên dùng thái độ nào đối với
học trò mới đúng?
Ông
ấy trả lời không được. Tôi nói:
-
Phải giảng bằng thái độ khách quan, nếu giảng bằng thái
độ chủ quan là không đúng.
Giữa
thầy với trò đều phải nhìn bằng góc độ khách quan chứ
không thể nhìn bằng chủ quan, vì chủ quan là có xen vào ý
của mình, ấy là nói theo khoa học. Cho dù nói khách quan, nhưng
vẫn còn cách xa so với Phật pháp, vì khách quan là đối với
chủ quan, chưa phải là nghĩa vô trụ của Phật pháp,
còn nói theo Phật pháp là vô sở trụ, chẳng những chủ quan
không trụ, khách quan cũng không trụ.
Cho
nên, tất cả hành giả tham thiền, trong cuộc sống hằng ngày
chớ có dùng hai chữ “CHO LÀ,” bất cứ cho là cái gì đều
là có sở trụ.
Hỏi:
Diệt tận định, hành pháp thế gian và tổng trì, tương ưng
bất tương ưng?
Đáp:
Diệt tận định có hai thứ: Một là của ngoại đạo và
một là của A-la-hán. Ngoại đạo diệt hết tất cả niệm
nhưng còn chấp ngã, như cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng.
Hỏi:
Diệt tận định đến chỗ tâm không pháp không, dục niệm
đã hết, có tương ưng với chỗ hành pháp thế gian không?
Đáp:
Diệt tận định của ngoại đạo vì còn chấp thức thứ
tám là ta nên không được giải thoát. còn diệt tận định
của A-la-hán thì kiến hoặc tư hoặc đều hết, phá được
ngã chấp nên được ra khỏi sanh tử luân hồi.
Ông
nói tương ưng là tương ưng với cái gì? Tổng trì là gì?
-
Dạ thưa Sư phụ, tổng trì là tất cả pháp, cũng là pháp
tánh.
-
Ông nói tương ưng là tương ưng với thế gian hay xuất thế
gian? Ngoại đạo thì chẳng thể tương ưng với pháp xuất
thế gian, vì chưa ra khỏi luân hồi. Còn diệt tận định
của A-la-hán thì tương ưng với xuất thế gian, nhưng chỉ
ở trong phạm vi Tiểu thừa vì chưa phá được pháp chấp,
chưa thể tương ưng với Đại thừa.
Hỏi:
Trong mười bức tranh chăn trâu, bức thứ mười “Thỏng tay
vào chợ”thì hành giả tu trong thời nay, hành pháp của
họ dù ở thế gian nhưng họ luôn giữ cái uy nghi là tổng
trì pháp xuất thế gian, phải vậy không?
Đáp:
Vì ông chưa hiểu nghĩa Tổng trì, tổng là bao gồm tất cả
pháp thế gian và xuất thế gian. Bây giờ ông nói chuyện cũng
là tổng trì vậy, vì pháp thế gian cũng là bao gồm trong tổng
trì, nhưng ông chỉ tương ưng với pháp thế gian thôi, không
thể là xuất thế gian được.
Hỏi:
Nếu vậy là không thấy diệt tận định?
Đáp:
Làm sao diệt tận định được? Diệt tận định là
phải tu, tu đến tất cả tư tưởng đều diệt hết.
Hỏi:
Vậy thì hành pháp tu của Sư phụ như thế nào? Có phải chỉ
có tham thoại đầu mới được diệt tận định, còn tất
cả hành pháp khác đều không được ư?
Đáp:
Ai nói? Pháp của tôi hoằng dương không có đưa đến diệt
tận định, phải quét sạch diệt tận định, không cho biết
tới diệt tận định. Pháp này do Phật Thích Ca thân truyền,
chỉ chú trọng một chữ NGHI thôi, không có cho là có diệt
tận định, cũng không cho biết có diệt tận định.
Hỏi:
Cái biết của bộ não và cái biết của Phật tánh khoảng
cách bao xa?
Đáp:
Khi nào kiến tánh rồi sẽ biết là bao xa, nay chưa kiến tánh
không thể biết được. Ngài Lai Quả nói:”Nay ta chỉ nói
chỗ hành chứ chẳng phải chỗ thấy, chỗ thấy phải quý
vị đi đến chỗ đó tự thấy.”
Hỏi:
Hàng đêm từ nhắm mắt chiêm bao thức tỉnh rồi lại có
thể đi vào chiêm bao nữa, vậy khi từ mở mắt chiêm bao thức
tỉnh rồi, có khi nào lại đi vào chiêm bao không?
Đáp:
Không. Đức Phật trong Kinh có nói:”Cây đã đốt thành tro
thì không thể trở lại thành cây nữa, quặng đã luyện thành
vàng thì không trở lại thành quặng.” Nhắm mắt chiêm bao
ngủ đã rồi tự thức, thức rồi ngủ lại đi vào chiêm
bao, nhưng mở mắt chiêm bao chẳng thể tự động thức tỉnh,
phải tu hành, phải tham thiền mới có thể thức tỉnh được,
thức tỉnh rồi thì không đi vào chiêm bao nữa.
Hỏi:
Vậy người từ mở mắt chiêm bao thức tỉnh rồi, có
phải còn ăn cơm đi tiêu tiểu không?
Đáp:
Nếu còn thân người thì mọi việc vẫn y như cũ, trước
kia mỗi bữa ăn ba chén cơm, nay vẫn như vậy, ông vua kiến
tánh vẫn làm vua, Thừa tướng kiến tánh vẫn làm Thừa tướng,
cuộc sống với người thường chẳng khác, nhưng tâm thì
không như trước nữa.
Hỏi:
Hòa thượng dạy chúng con phải tu, ai tu nấy chứng, ai ăn
nấy no, uống nước tự biết lạnh nóng, vậy tại sao trong
kinh lại có câu “Nhất nhơn chứng đắc cửu huyền thăng”?
Đáp:
Đó chẳng phải của Phật nói, mà là của ngoại đạo nói.
Hỏi:
Với số lượng kinh sách hiện nay rất nhiều, chúng con hàng
tại gia tài mọn sức kém, Vậy xin Hòa thượng chỉ cho kinh
nào đáng xem và kinh nào không nên?
Đáp:
Kinh nào phá chấp thật là đúng, kinh nào chấp thật là không
đúng; kinh nào phá ngã chấp là đúng, kinh nào chấp ngã là
không đúng.
Hỏi:
Giới Bồ tát tại gia và giới Bồ tát xuất gia có gì khác
không?
Đáp:
Khác. Giới Bồ tát tại gia chỉ có 6 trọng 28 điều khinh,
còn Giới Bồ tát xuất gia là 10 trọng 48 điều khinh. Tức
giới Bồ tát xuất gia về giới trọng nhiều hơn 4 điều,
về giới khinh nhiều hơn 20 điều, Lại nữa, về dâm giới
thì Bồ tát xuất gia cấm cả tà dâm và chánh dâm, còn giới
Bồ tát tại gia chỉ cấm tà dâm, không cấm chánh dâm.
Hỏi:
Vô vi của Phật pháp và vô vi của Lão Tử đồng và khác
nhau như thế nào?
Đáp:
Khác nhau ở chỗ: Vô vi của Lão tử đến vô thỉ vô minh
là hết, còn vô vi của Phật phải phá luôn vô thỉ vô minh
mới triệt để.
Hỏi:
Thế nào là bất trụ hữu vi, bất tận vô vi?
Đáp:
Tức là tâm mình vốn chẳng có hữu vi và vô vi, do tâm chấp
của chúng sanh mới thành có . Nếu chấp vào hữu vi hoặc
vô vi đều không được, nên nói là vô trụ, tức chẳng trụ
chỗ nào hết, cũng là bản thể của tâm và dụng của tâm.
Hỏi:
Các Thầy thường dạy phải phước huệ song tu, đối với
những người bố thí thì có phước báo, còn đối với những
người không có tiền của bố thí, chỉ lo chuyên tu về huệ,
vậy giữa hai người đó, người chuyên tu về huệ có phải
mau kiến tánh hơn không?
Đáp:
Chẳng phải như vậy, người không có tiền của cũng có thể
phát tâm bố thí, hễ có phát tâm là có phước. Ví như tôi
không có tiền, muốn bố thí một ngàn đồng mà không có,
phát tâm sau này nếu có một ngàn đồng tôi sẽ bố thí,
ấy cũng đã tạo được phước duyên; hoặc thấy người
khác bố thí, phát tâm hoan hỉ, gọi là công đức tùy hỉ.
Vì tất cả do tâm tạo, nói phước huệ song tu, kỳ thật
tự tâm đầy đủ cả.
Hỏi:
Sư phụ thường giảng về cái Tánh Không sẵn sàng, vậy nghi
tình có sẵn sàng không? Cái biết của bộ não có sẵn sàng
không?
Đáp:
Cái biết của bộ não là vọng, vọng thì đâu có sẵn sàng
! Nếu đã sẵn sàng thì làm sao phá được? Cái sẵn sàng
là phá không được, ví như hư không. Tất cả đều phá được,
chỉ có hư không là chẳng phá được.
Hỏi:
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tại sao loài súc sinh
chẳng thể thành Phật trong hiện đời?
Đáp:
Trong lục đạo gồm cõi Trời, Người, A-tu-la, Súc sinh, Ngạ
quỷ, Địa ngục, chỉ có cõi Người mới có thể tu thành
Phật, cõi Trời dù cao hơn người nhưng chẳng thể tu thành
Phật được. Tại sao? Vì họ chỉ có vui, không có buồn khổ,
họ cứ hưởng cái vui, không biết đến khổ. Còn con người
biết có khổ, nên tu hành để dứt khổ.
Đối
với Súc sinh, Ngạ quỷ, cho đến Địa ngục, do nghiệp thức
nên không nghe biết sự thuyết pháp, không biết tu hành thì
làm sao có thể tu thành Phật? Chẳng những như thế, họ còn
tạo thêm nghiệp, như con mèo sát hại các sinh vật khác, chỉ
gây thêm nghiệp chứ không thể dứt nghiệp được. Như cõi
Trời có tuổi thọ sống lâu là để hưởng, còn Địa
ngục có tuổi thọ sống lâu là để chịu tội, hễ tội
nặng chừng nào thì sống lâu chừng nấy để chịu tội nhiều
hơn, đâu còn thời gian để tu?
Hỏi:
Ở loài hữu tình thì gọi là Phật tánh, ở loài vô tình
gọi là pháp tánh, vậy Phật tánh và pháp tánh là đồng hay
khác?
Đáp:
Vì tâm có tánh giác ngộ, nên gọi là Phật tánh. Đối với
pháp tánh, nếu nói cho đúng thì tất cả pháp đều chẳng
tự tánh, nay do con người đặt ra các tánh mỗi mỗi khác
biệt, như tánh không của cái bình khác với tánh không
của cái tách v.v…do con người tự hạn chế thành có khác,
nhưng cái Không sẵn sàng thì chẳng khác.
Ví
như nói “Phật tánh”vốn không phải là Phật tánh, vì tâm
này sẽ giác ngộ được, mà chữ Phật nghĩa là giác ngộ,
nên gọi là Phật tánh; Niết Bàn, Như Lai … tất cả
tên gọi đều chẳng có tự tánh, chỉ do con người đặt
ra mà thôi.
Hỏi:
Tại sao gọi là giới tự động?
Đáp:
Cũng như chúng ta tham thoại đầu, hễ giữ được nghi tình
thì tự nhiên không phạm giới, nên gọi giới tự động.
Hỏi:
Ngày 16/10/1986, con bế quan mười lăm tuần, trong tuần thứ
bảy, ngày thứ năm, sau khi điểm tâm buổi sáng, con lên bồ
đoàn bắt đầu tham câu “Muôn pháp về một, một về chỗ
nào?,” vừa đề khởi xong là thoại đầu mất, cho đến
năm giờ chiều con mới tỉnh lại. Sau mỗi lần tỉnh lại
như thế, trong tâm con lại có một cuộc sống mới, cảm thấy
an lạc, lặng lẻ. Lúc đó có thể đề khởi thoại đầu
tham tiếp mà không bị gián đoạn. Vậy kính xin Sư phụ khai
thị cho con.
Đáp:
Cái đó người ta gọi là thiền định, thiền định cao nhất
của cõi Trời Tứ không là tám muôn đại kiếp, rồi sáu
muôn đại kiếp, bốn muôn đại kiếp … cũng chưa thể ra
khỏi luân hồi. Tổ Sư Thiền không phải thiền định
thường, Tổ Sư Thiền chỉ cần cái ngộ, còn vấn đề định
thì Lục Tổ nói là Na Già Định, tức lúc nào cũng định.
Pháp
môn này là pháp môn tâm địa, địa là đất, tâm mình cũng
như trái đất mênh mông, tất cả nhà cửa cây cối đều
ở trên trái đất này, cho đến cứt sình dơ bẩn cũng không
chê, những gì thơm ngát cũng không mừng, vốn chẳng nhúc
nhích lay động, cái gì cũng dung nạp được. Nếu tâm chúng
ta có thể so bằng trái đất như thế thì sự tu mới là tiến
bộ nhiều. Nay hãy so sánh xem, tâm mình có như đại địa
không? Dù chỉ bằng một mãnh đất nhỏ, cũng là có ích cho
xã hội.
Còn
bây giờ dù được cái định một ngày nửa ngày, như có
một vị nhập định bảy ngày, thầy y cho là kiến tánh, thật
ra, định được tám muôn đại kiếp cũng còn chưa kiến tánh,
vẫn phải đọa làm con chồn bay. Cho nên, dù sau khi thiền
định ai cũng cảm thấy nhẹ nhàng, nhưng nếu ham thích vào
chỗ đó sẽ thành chướng ngại, không thể giải thoát.
Hành
giả tham thiền chỉ cần trong một sát na kiến tánh, ngoài
ra bất cứ thấy cái gì đều là vọng, đều chỉ là cảm
giác của bộ não.
Hỏi:
Đồng thời là pháp môn bất nhị, tại sao có vị lại nín,
có vị lại nói? Vậy có ý nghĩa gì?
Đáp:
Nếu có ý nghĩa tức chẳng phải rồi, là hiểu theo bộ não.
Chư Phật chư Tổ chỉ cần chúng ta ngộ, chứ không phải
cần mình hiểu ý nghĩa, ngộ thì không có ý nghĩa. Như tôi
thường nói về tánh không, vốn chẳng ý nghĩa gì hết. Bây
giờ nói và nín đều lọt vào tứ cú, Đức Phật thì dạy
mình phải lìa tứ cú.
Sư
phụ giảng về Giới Bồ tát tại gia:
Theo
Phật pháp đều phải có nhân duyên, quý vị hôm nay đến
đây dự Thiền thất, nghe tôi giải đáp, người nào cũng
có nhân duyên từ kiếp trước, hoặc nhiều kiếp trước,
hoặc vô số kiếp trước, nếu không thì đã chẳng cùng gặp
nhau nơi chánh điện này. Như Kinh Kim Cang nói:”Chẳng phải
một Phật, hai Phật, ba bốn năm sáu Phật gieo trồng thiện
căn, mà từ Vô lượng Phật gieo trồng thiện căn,” nên chúng
ta phải có tự tin, chớ nói là tôi nghiệp chướng nặng,
không thể tu kiến tánh. Người nào cũng có thể tu kiến tánh,
kiến tánh hay không chỉ tại mình chứ chẳng do người khác.
Nay
tôi giảng về Giới Bồ Tát Tại Gia:
Giới
Bồ Tát tại gia gồm 6 điều trọng, 28 điều khinh. Tất cả
từ ngũ giới đến 10 giới, 250 giới, 348 giới cho đến Bồ
tát giới, căn bản là sát, đạo, dâm, vọng. Nhưng giới Bồ
tát gọi là Giới Tâm địa, khác hơn Giới Thanh văn, giới
Thanh văn là khi thân làm rồi mới phạm, còn giới Bồ tát
hễ khởi tâm động niệm là phạm. Ví dụ:
Đối
với giới Thanh văn, muốn ăn cắp cái tách này, tay đã chạm
vào tách, gặp người vào liền rút tay lại, ấy là chưa phạm,
khi nào lấy tách rời khỏi chỗ cũ là phạm. Còn giới Bồ
tát khởi niệm muốn ăn cắp đã là phạm rồi.
Thường
thường, đối với tất cả giới có tám chữ:”Chư ác mạc
tác, chúng thiện phụng hành.” Chư ác mạc tác là chỉ
trì, tức không làm là trì giới; còn chúng thiện phụng hành
là tác trì, tức phải làm, không làm là phạm. Giới Thanh
văn là chỉ trì, giới Bồ tát là tác trì, có một số điều
phải chúng thiện phụng hành, không làm là phạm.
6
điều trọng:
-
Điều thứ nhất là sát sanh: Hễ khởi niệm muốn giết, giết
người cho đến con kiến đều là phạm giới sát sanh, chưa
giết đã phạm, cho đến tự tử cũng là phạm.
-
Điều thứ hai là trộm cắp: Bất cứ đồ vật, tiền của,
người chủ chưa đồng ý mà tự ý lấy đi là phạm. Trong
gia đình, đồ vật của cha mẹ anh em sử dụng qua lại, đồng
ý với nhau là không phạm, còn nếu chưa được sự đồng
ý mà lấy đi, như ăn cắp tiền của cha mẹ, của anh em ruột
vẫn là phạm.
-
Điều thứ ba là Đại vọng ngữ. Thế nào là đại vọng
ngữ? Tu hành chưa chứng nói đã chứng, chưa đắc nói đã
đắc, ấy là đại vọng ngữ.
-
Điều thứ tư là tà dâm: Ngoài vợ chồng chính thức
ra, mọi quan hệ nam nữ đều gọi là tà dâm.
-
Điều thứ năm là nói lỗi của tứ chúng: Tứ chúng gồm
hai chúng xuất gia, Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni, hai chúng tại gia
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tức cư sĩ đã thọ ngũ giới. Mặc
dù biết họ có lỗi, nhưng không được nói với người khác
về lỗi lầm của họ. Nếu không có người thứ ba mà chỉ
có người phạm lỗi, có thể khuyên bảo họ để sửa sai
thì không phạm. Nhưng nói với người thứ ba là phạm, hoặc
lúc khuyên bảo có người thứ ba cũng là phạm.
-
Điều thứ sáu là Bán rượu: Theo ngũ giới là uống rượu
mới phạm, bán rượu không phạm, còn giới Bồ tát thì bán
rượu phạm giới trọng, uống rượu chỉ phạm giới khinh.
Tại sao? Vì bán rượu là hại đến người khác, đã thọ
giới Bồ tát, hành đạo Bồ tát là hy sinh mình để cứu
giúp người khác, nay chẳng những không cứu giúp người,
vì lợi nhuận của mình lại gây hại đến người khác, nên
thuộc giới trọng. Còn uống rượu chỉ hại chính bản thân,
nên thuộc. Giới khinh.
28
điều khinh
1-
Không cúng dường cha mẹ sư trưởng: Người tại gia, cha mẹ
nuôi mình lớn lên, phải phụng dưỡng lại cha mẹ, còn sư
trưởng dạy mình nên người, cũng nên cúng dường. Nhưng
vì người tại gia đi học có đóng học phí, cũng là cúng
dường sư trưởng; hoặc tỏ lòng nhớ ơn sự dạy bảo của
thầy cô mà cúng dường . Nếu mình không có tiền của cúng
dường, chỉ phát tâm cúng dường cũng được.
2-
Ham uống rượu: Ở trên điều thứ sáu bán rượu là phạm
giới trọng, còn ở đây uống rượu là phạm giới khinh.
3-
Ác tâm không đi thăm người bệnh khổ: Như hiện nay trong
các bệnh viện đầy bệnh khổ, làm sao thăm hết được?
Những người bà con, bạn bèø có quan hệ với mình là phải
đi thăm, có khi vì không hay biết hoặc do cuộc sống khó khăn
nên không thể đi thăm. Ở đây chú trọng hai chữ “ác tâm,”
tức có dịp đi thăm mà cố ý không đi, gọi là ác tâm không
đi thăm người bị bệnh khổ, là phạm.
4-
Có người ăn xin đến xin mà không cho: Mình có thể cho nhiều
cho ít tùy sức, trường hợp trong túi không có tiền, phát
tâm muốn cho cũng được. Đối với người ăn xin đến xin
mình, chẳng những không cho, còn đuổi họ đi là phạm.
5-
Gặp tứ chúng tôn trưởng không lễ bái là phạm. Đó là
điều lễ phép, hễ gặp là phải chào hỏi.
6-
Thấy tứ chúng phá giới, dù không nói với người khác, nhưng
nổi tâm khinh bỉ, rằng:”Ông là Tỳ-kheo, hoặc bà đã là
Tỳ-kheo-ni còn phá giới, còn tôi chỉ là cư sĩ mà không phá
giới,” nổi tâm kiêu mạn, cho rằng người khác phạm giới.
Ai phạm giới thì người đó phải chịu tội, ví như Tỳ-kheo
hoặc Tỳ-kheo-ni phạm giới Ba-la-di là chín triệu năm tội
địa ngục, cấp thứ năm gọi là Độït Kiết La cũng phải
chịu tội địa ngục mấy trăm ngàn năm, khỏi cần mình lo.
Khỏi cần mình khinh, hễ nổi tâm khinh là phạm.
7-
Đã thọ giới Bồ tát tại gia, hàng tháng phải thọ sáu ngày
Bát quan trai, học tập cuộc sống của người xuất gia trong
một ngày một đêm. Sáu ngày là: Mùng 8, 14, 15, 23, và 2 ngày
cuối tháng. Bây giờ mình hành đạo Bồ tát, gọi là sơ học
Bồ tát chứ chẳng phải chứng quả Bồ tát, phải thọ giới
Bát quan trai, nếu không đến chùa thì thọ ở nhà cũng được.
8-
Không đi nghe thuyết pháp. Tại sao không đi nghe thuyết pháp
là phạm? Vì mục đích học theo hạnh Bồ tát là để giúp
ích cho người khác, thực tế là phải giúp cho người được
giải thoát, đạt đến tự do tự tại vĩnh viễn, muốn như
vậy phải dùng đến Phật pháp. Nếu tự mình không biết
thì làm sao dạy người khác tu giải thoát? Cho nên, nghe chỗ
nào có pháp sư thuyết pháp giảng kinh là phải đi nghe, để
mình đủ tư cách hành đạo Bồ tát. Trong này nói đến phạm
vi 40 dặm, 10 dặm = 6 km, 40 dặm là 24 km.
9-
Thọ dụng ngọa cụ của Tăng. Ở trong chùa, đồ dùng của
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni mà cư sĩ tại gia sử dụng là phạm,
còn những gì dành cho cư sĩ tại gia thì không phạm. Phòng
riêng của Tăng hoặc Ni, không được chủ đồng ý, tự ý
đến ngồi hoặc nằm, tự ý thọ dụng là phạm.
10-
Uống nước có sâu tức sát sanh, là phạm. Bồ tát muốn cứu
giúp chúng sanh nên phải tránh sát sanh, trong nước nếu có
sâu bọ mà uống vào là phạm giới, nên Tăng Ni đi thọ giới
có đem theo đãi lọc nước, trước khi dùng phải lọc qua
thì không phạm.
11-
Đi chỗ nguy hiểm: Bồ tát muốn cứu giúp người khác, hy
sinh mình cũng được, nhưng nếu không có giá trị mà hy sinh
thì không được, phải giữ thân này tu đến giải thoát và
giúp cho người khác tu giải thoát. Nên cấm một mình đi đến
chỗ nguy hiểm. Nếu biết chỗ đó nguy hiễm mà đi một mình
thì phạm, có nhiều người cùng đi sẽ tránh được nguy hiểm.
12-
Nam cư sĩ đi đến chùa Ni, hoặc nữ cư sĩ đi đến chùa Tăng,
nếu hoàn cảnh bắt buộc ở lại không có chỗ nghỉ, phải
có hai người trở lên mới được, chứ một người là không
được, là phạm.
13-
Vì tài của mà đánh mắng người, như người giúp việc vô
tình làm bể đồ vật của mình, do tiếc của mà đánh người;
hoặc sai đi mua đồ làm mất tiền mà đánh, dù là đầy tớ
hay người khác, hễ đánh mắng người vì tài của là phạm.
14-
Đồ ăn mình ăn thừa không được đem bố thí cho tứ chúng,
hễ bố thí đồ ăn thừa là phạm.
15-
Không được nuôi con mèo con chó, vì những loại này hay sát
sanh, mình nuôi chúngï cũng như gián tiếp sát sanh, là phạm.
Nuôi mèo thì phạm, nuôi trâu ngựa để làm việc cho chùa
là không phạm, vì loại này ăn chay, nhưng phải qua tịnh thí.
Thế nào là tịnh thí? Mặc dù con trâu con ngựa là của
mình, nhưng chỉ được quyền nuôi, không được đem cho hoặc
bán cho người khác, tức thí cái chủ quyền của mình. Tại
sao? Vì hễ đem cho người khác thì người ấy có thể bán
hoặc giết hại con vật.
17-
Tam điều y, ngũ điều y tức hạ y, bảy điều là trung y,
chín điều đến hai mươi lăm điều trở lên là thượng y,
đây là y của người xuất gia, ngoài ra còn có bát và tích
trượng, người tại gia sao phải tích tụ những thứ
này? Vì thọ giới Bồ tát là học theo hạnh Bồ tát, mục
đích muốn mọi chúng sanh đều giải thoát, đạt đến tự
do tự tại vĩnh viễn, không còn khổ nữa. Nhưng trách nhiệm
hoằng pháp là của người Tu sĩ, những đồ dùng này là của
người Tu sĩ, vì họ không có sản xuất, cư sĩ tại
gia đã phát tâm Bồ tát, hàng ngày phải tích lũy, như hàng
tháng dành dụm một trăm đồng, nếu không đủ sức có thể
chỉ để dành mười đồng, hoặc một đồng… tùy theo sức
mình, đến ngày chùa qui định phát y áo bình bát cho các Tu
sĩ để thay cũ đổi mới,thì đem cúng dường cho chư
Tăng Ni. Hàng năm, trong phái khất sĩ có hai đợt phát y và
bình bát cho Tu sĩ, y áo của những ai đã cũ rách thì đăng
ký với Trụ trì, Trụ trì thông báo đến cư sĩ đã có tích
lũy để dành, đến ngày đó đem cúng dường và Trụ trì
sẽ gom lại phát cho đại chúng.
18-
Tại gia phải sản xuất hoặc canh tác, khi canh tác thì dưới
đất có sâu bọ, cày cuốc khó tránh khỏi giết hại chúng
sanh, cho nên hễ làm ruộng phải tìm chỗ nước đất trong
sạch mới canh tác, nhưng điều này rất khó tránh. Tiểu thừa
đã chứng quả Tu đà hoàn thì các sâu bọ tự nhiên tránh
được, không bị lỗi sát sanh. Cũng như quí vị tham thiền
đến một lúc nào đạt mức của Tu đà hoàn, thì việc canh
tác sẽ tránh được sát hại các loài sâu bọ.
19-
Tại gia không sản xuất thì buôn bán, việc buôn bán đó phải
công bằng, cân đong đo đếm phải đúng lượng. Nhiều người
buôn bán không đúng lượng, cân 1kg chỉ còn 950gr, ấy là
phạm. Lại nữa, ví như món đồ này giá thị trường chỉ
bán 100 đồng, mình đã bán ra, dù người mua chưa lấy hàng,
sau đó nghe nói thị trường đã bán với giá 200 đồng, muốn
đổi ý bán theo giá mới là không được, đã hứa giá bao
nhiêu thì bán bấy nhiêu, không được thay đổi, và bán đúng
theo giá thị trường, không tự ý nâng giá là không phạm.
20-
Cư sĩ tại gia với vợ chồng chính thức dù không phạm giới
tà dâm, nhưng nếu phi thời phi xứ, tức không phải lúc và
không đúng chỗ ở của mình là phạm. (Phi thời: Các ngày
chay, vía Phật. Phi xứ: Trừ phòng ngủ riêng, nam nữ căn)
21-
Buôn lậu là phạm. Theo giới luật nhà Phật là không vi phạm
pháp luật nhà nước. Vì Đức Phật muốn hoằng dương Phật
pháp, khiến ai ai cũng được giải thoát, Do đó bất
cứ đến nước nào đều được chính phủ sở tại hoan nghinh,
nên Phật tử phải giữ đúng luật pháp nhà nước. Trong này
có nói đến vấn đề nộp thuế, hoặc ăn cắp thuế của
nhà nước: Luật sư Hoằng Nhất có nói:”Người gởi tiền
qua Bưu điện phải đóng chi phí gởi, có người không muốn
gởi qua Bưu điện mà đem tiền bỏ vào phong bì gởi đi, ấy
cũng là một hình thức ăn cắp thuế của nhà nước, là phạm
giới.
22-
Điều này càng nói rõ: Hễ phạm luật pháp của nhà nước,
bất cứ phạm phải lỗi gì, tức là phạm giới.
23-
Khi trồng trọt có thu hoạch rồi, lần thu hoạch đầu tiên
phải đem cúng dường Tam Bảo, sau đó mới tự dùng. Ấy là
để tập cho chúng ta luôn biết kính trọng Tam Bảo, nếu không
là phạm.
24-
Mặc dù mình là cư sĩ tại gia, có thể thuyết pháp dạy người
khác tu hành, nhưng nếu Tăng đoàn thấy mình chưa đủ trình
độ tư cách, không cho đi thuyết pháp, mà tự làm tài khôn,
thuyết pháp là phạm.
25-
Khi đi ra ngoài đường, cư sĩ tại gia luôn tránh đường cho
năm chúng xuất gia, tức Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thức xoa, Sa-di,
Sa-di ni. Nếu chúng ta đi mà không biết có năm chúng đi sau
lưng, sau khi phát giác phải đứng sang một bên, nhường cho
Tu sĩ đi trước, nếu không là phạm.
26-
Khi thọ trai quá đường, mình phân chia thức ăn phải công
bằng, nếu chia không công bằng hoặc chia theo tình cảm yêu
ghét, hoặc lựa những thức ăn ngon cho người mình ưa thích,
chia thức ăn không ngon cho người mình không ưa thích, ấy
là phạm.
27-
Nuôi con tằm là phạm: vì muốn lấy tơ tằm phải giết chết
nó, nên phạm.
28-
Khi đi ngoài đường, thấy có người bệnh nặng mà bỏ đi
là phạm. Ví như đang đi trên tàu xe, ra đến ngoại ô chỗ
vắng người, thấy ở giữa đường có người bệnh nặng
hoặc bị thương nặng không ai cứu giúp, phải bỏ vé xe,
xuống cứu giúp người đó, hoặc chở đi bệnh viện, hoặc
đưa về tận nhà, giao tận nơi xong mới trở lại mua vé đi
tiếp. Nếu thấy mà bỏ đi không cứu giúp là phạm, tức
phải làm là không phạm, gọi là tác trì.
Hỏi:
Trong các kinh thường nói tức định tức huệ, định huệ
đẳng trì, còn tham thiền thì chú trọng nghi tình, vậy định
huệ với nghi tình là đồng hay khác?
Đáp:
Nghi tình là cách thực hành để đi đến kiến tánh, còn định
huệ là ở trong tự tánh sẵn sàng, là thể dụng của tự
tánh, kiến tánh hay chưa kiến tánh đều sẵn có định huệ.
Tự tánh bất nhị, tất cả đều chẳng khác, chẳng những
pháp xuất thế gian, pháp thế gian cũng vậy. Nếu đã kiến
tánh thì tất cả đều là tuyệt đối, nay chưa kiến tánh,
dùng vọng tâm phân biệt thì có đủ thứ sai biệt.
Hỏi:
Thế nào gọi là chơn tham?
Đáp:
Lai Quả Thiền sư nói “Vô tham mới là chơn tham.” Vô tham
chẳng phải là không có tham, mà là tham thiền đến không
biết mình đang tham. Vì pháp môn này là dùng cái không biết
để tu, đến lúc luôn cả tham thiền cũng không biết, mới
gọi là chơn tham.
Hỏi:
Thiền sư Pháp Loa dòng Trúc Lâm dạy:”Pháp chơn là y theo
giới pháp tiến tu, còn pháp ngụy là bàn luận ngoại đạo,
suy đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ rồi truyền trao cho nhau,”
vậy ý nghĩa này như thế nào?
Đáp:
Kinh Lăng Nghiêm nói:”Vì muốn hiển bày cái chơn mới nói
là vọng, mà chơn với vọng thật sự là hai thứ vọng .”
Tại sao? Vì còn đối đãi, là nhị, tự tâm bất nhị, không
đối đãi. Nay muốn hiển bày cái chơn thì lập cái vọng,
muốn hiển bày cái vọng thì lập cái chơn, ở trong thực
tế, chỗ bổn lai của tâm vốn chẳng có chơn vọng, Do đó,
nếu có chơn có vọng thì hai thứ đều là vọng; tại có
kiến lập chơn thì chơn cũng là vọng, chứ chẳng phải chỉ
có vọng mới là vọng.
Ngoại
đạo kiến lập chơn lý, các giáo chủ cũng do ngồi thiền
ngộ được chơn lý, rồi tự làm giáo chủ để hoằng dương
chơn lý của mình ngộ được. Còn Phật giáo, Phật Thích
Ca là giác ngộ cái tâm chứ chẳng phải giác ngộ chơn lý.
Nay nói chơn lý thì cái tâm tức chơn lý, nhưng cái tâm không
có kiến lập, vì nó vốn là vô sanh, vốn là vô thỉ, không
có sự bắt đầu, không có bắt đầu thì không có kiến lâp,
nên người ngộ pháp gọi là ngộ pháp vô sanh, chứng ngộ
là chứng vô sanh pháp nhẫn, tức chứng thực tất cả pháp
đều không có sanh khởi.