[11] 11/09/94–17/09/94
tại Chùa Từ Ân , Quận 11
Ngũ
giới của cư sĩ tại gia
Khi
nào mới có thể thọ Giới Bồ tát tại gia
Lúc
ngủ có nghi tình
Nhân
duyên kiếp trước giữa Đức Phật và Kiều Trần Như
Tác,
chỉ, nhậm, diệt
Sư
phụ kiến tánh chưa
Thế
nào là pháp, pháp giớỉ
Trừ
tập khí là trừ cái gì?
Bổn
lai vô nhất vật, làm sao có chơn tâm?
Ngày
vía Bồ tát Quán Thế Âm
Thế
nào viên giác diệu tâm?
Động
lực của vũ trụ
Tánh
thấy khắp không gian thời gian
Vấn
đề ăn chay, sát sanh và nhân quả
Tỷ
phú Trung Quốc độ bà mẹ ăn chay
Đã
qui y nơi khác, có thể qui y thêm một lần?
Cảnh
giới lúc lâm chung
Thế
nào là chuyển ngữ?
Hỏi:
Thế nào là ngũ giới của cư sĩ tại gia?
Đáp:
Giới thứ nhất là sát sanh, thứ nhì là trộm cắp, thứ ba
là tà dâm, thứ tư là vọng ngữ, thứ năm là uống rượu.
Giới
thứ nhất cấm sát sanh: Đã muốn thọ giới của Phật thì
trước tiên là cấm sát sanh, bất cứ sinh vật gì thuộc hữu
tình đều cấm giết hại.
Giới
thứ nhì cấm trộm cắp: Đồ vật của cải của người khác,
nếu muốn lấy xử dụng phải được sự đồng ý của chủ
nó, nếu không được sự đồng ý mà lén lấy thì gọi là
trộm cắp. Dĩ nhiên các đồ vật trong gia đình giữa cha mẹ
anh em thường dùng qua dùng lại lẫn nhau là không phạm, nhưng
cái nào cũng có sự giới hạn, ví như con cái ăn cắp tiền
của cha mẹ cũng phạm giới trộm cắp.
Giới
thứ ba cấm tà dâm. Thế nào là tà dâm? Người tại gia thường
có gia đình, quan hệ vợ chồng chính thức là chánh dâm, ngoài
vợ chồng chính thức ra đều thuộc tà dâm, phải cấm. Còn
người xuất gia thì chánh dâm, tà dâm đều cấm.
Giới
thứ tư cấm vọng ngữ, gồm bốn thứ: Vọng ngôn, ỷ ngữ,
ác khẩu, lưỡng thiệt. Vọng ngôn là nói dối, tức nói có
thành không, nói không thành có; Ỷ ngữ là lời nói thêu dệt,
Ác khẩu là chửi mắng người khác; Lưỡng thiệt là thị
phi hai đầu, làm cho hai bên bất hòa, khiến thù oán nhau, cũng
thuộc về vọng.
Giới
thứ năm cấm uống rượu: đáng lẽ uống rượu chẳng có
hại, nhưng vì uống rượu rồi có thể phạm phải bốn giới
trước nên cấm. Giới nhà Phật có khai giá trì phạm,
ví như mình có bệnh, thầy thuốc nói phải dùng thuốc rượu,
tự mình công khai nói ra là có thể uống được. Lại nữa,
có trường hợp vì không biết đó là rượu mà uống phải
thì chẳng phạm; hoặc trong lúc nấu nướng cần bỏ rượu
vào để chế biến cũng chẳng phạm. Ngoài ra, một số thực
phẩm có men rượu nhưng ăn vào không bị say như cơm rượu…
cũng dùng được.
Ngũ
giới này của cư sĩ tại gia, đã thọ rồi phải suốt đời
giữ theo giới, nếu sơ ý phạm phải thì sám hối với một
người cư sĩ đã thọ ngũ giới rằng:”Xin ông hãy chứng
minh cho tôi đã lỡ phạm giới này, từ nay về sau tôi không
dám phạm nữa.” Vậy là hết tội phá giới, còn tội nhân
quả thì chẳng thể sám hối được, giết một mạng phải
trả một mạng, ăn cục thịt trả cục thịt.
Có
người nói: “Thế thì chẳng thà không thọ giới, khỏi phải
mắc đến hai tội, vừa tội nhân quả vừa tội phá giới;
nếu không thọ giới thì chỉ mắc một tội nhân quả mà
thôi .”Sự thật là nếu không thọ giới thì hay phạm nhiều
tội nhân quả, mắc nợ nhiều; còn thọ giới rồi sẽ cẩn
thận hơn, ít phạm tội nhân quả, ít mắc nợ, cho nên có
thọ giới vẫn tốt hơn.
Hỏi:
Khi nào mới có thể thọ giới Bồ tát?
Đáp:
Muốn thọ giới Bồ tát phải hành theo hạnh Bồ tát, tám
chữ “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành”là đạo
Bồ tát, Tất cả ác không làm tức chỉ trì, tất cả thiện
đều phải làm, nếu cảm thấy có thể hành theo thì thọ
giới Bồ tát được.
Theo
giới Bồ tát, trước khi thọ phải nghe giảng các điều giới,
nếu cảm thấy đủ sức thực hành được mới thọ, hễ
thấy tự mình còn chưa thể làm được thì đừng thọ, vì
giới Bồ tát phải hy sinh mình đi cứu giúp người khác,
thọ xong là phải giữ, chứ thọ giới mà không giữ được
giới tức phạm giới, tội còn nhiều hơn. Cho nên, các
giới khác không cho nghe trước, riêng giới Bồ tát là phải
nghe trước.
Hỏi:
Thưa Sư phụ, tại sao lại có chỗ nói là chưa thọ giới
thì không được học giới, học như vậy là phạm luật?
Đáp:
Đó là nói về giới Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni của hàng xuất
gia: Người thọ giới Tỳ-kheo-ni mới được học giới và
xem giới Tỳ-kheo-ni, nếu chưa thọ thì không được xem. Tại
sao? Ý của Phật muốn cho người ta không phỉ báng Tam Bảo,
nếu biết giới của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni rồi, thấy người
ta phạm giới, hễ nói là không được. Theo giới Bồ tát
không được nói lỗi của tứ chúng, nói là phạm.
Chẳng
những như thế, Tỳ-kheo thì được xem giới luật Tỳ-kheo-ni,
phải thông suốt giới luật Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni, còn Tỳ-kheo-ni
chỉ được thông suốt giới Tỳ-kheo-ni, không được biết
giới Tỳ-kheo. Tại sao Tỳ-kheo phải thông suốt giới luật
Tỳ-kheo-ni? Vì theo pháp Bát kỉnh, Tỳ-kheo-ni mỗi nửa tháng
phải mời hai vị Tỳ-kheo đến chùa Ni dạy Tỳ-kheo-ni, nên
phải thông suốt giới luật. Lại nữa, trong pháp Bát kỉnh,
Tỳ-kheo có thể cử tội Tỳ-kheo-ni, nhưng Tỳ-kheo-ni không
được cử tội Tỳ-kheo, nên Tỳ-kheo-ni không được biết
giới của Tỳ-kheo.
Hỏi:
Con tham thiền trong lúc công phu thì có nghi tình, nhưng đến
lúc đi ngủ thì không tham, mà tự nhiên nghi tình vẫn cuồn
cuộn nổi lên rất mạnh, rất căng, cảm giác ấy nhiều lúc
cũng gây khó chịu, muốn buông cũng không được, muốn tiến
cũng không được. Tình trạng cứ như vậy hoài, cho đến
khi ngủ quên rồi thức dậy thì nó không còn gì nữa. Tình
trạng như vậy là thế nào? Kính xin Sư phụ từ bi khai thị.
Đáp:
Nếu trong lúc ngủ còn có nghi tình là tốt, là công phu tiến
tới, đi sâu vào thì ngủ cũng có nghi tình, hễ công phu tự
động rồi mới tự nó cuồn cuộn nổi lên, không đề khởi
mà tự nó như thế là tốt, khỏi hỏi câu thoại cũng được.
Nhưng nghi tình là thắc mắc, còn nếu chỉ nổi lên câu thoại
như niệm thì không phải, cần có nghi tình miên mật.
Hỏi:
Ngay sau khi Đức Phật thành đao, người đầu tiên được
ngài độ là năm anh em Kiều Trần Như, vậy giữa Đức Phật
và họ có nhân duyên gì?
Đáp:
Kiều Trần Như là do vua Tịnh Phạn sai đi chăm sóc thái tử.
Nói đến nhân duyên, trong quá khứ kiếp, khi Đức Phật
còn là vị nhẫn nhục tiên nhân tu theo nhơn đạo, lúc đó
Kiều Trần Như là vua Ca Lợi . Một hôm vua đi săn bắn, đem
theo cung phi mỹ nữ, họ thấy vị tiên nhân một mình tu trong
rừng núi, bèn bu lại cười giỡn. Vua thấy vậy đến hỏi
tiên nhân có biết mấy vị này là cung nữ hay không? Tiên
nhân trả lời “Biết.” Ông vua nghe rồi nổi giận, liền
dùng dao cắt xén từng bộ phận cơ thể của tiên nhân cho
đến chết. Ngay lúc vị nhẫn nhục tiên nhân bị sát hại,
chẳng những trong lòng không oán hận, còn cảm thấy thương
xót rằng ông vua làm như thế tạo tội rất nặng, sau này
tất phải chịu khổ báo nặng, bèn phát nguyện rằng:”Sau
này nếu tôi thành Phật tôi sẽ độ ông này trước.” Do
nhân duyên này nên Đức Phật độ Kiều Trần Như trước.
Tất
cả chúng sanh đều có nhân duyên quan hệ với nhau, quá khứ
đều là cha mẹ, anh em hoặc vợ chồng, dù phức tạp nhưng
đã có nhân ắt có duyên, cái đó tự nhiên, chẳng thể giải
thích được. Nói tóm lại, tất cả đều là việc trong chiêm
bao, hễ tu đến giác ngộ thành Phật thì biết đó là việc
chiêm bao, nhưng vì Phật muốn độ chúng sanh còn trong chiêm
bao, nên mới kể những việc trong chiêm bao, để cho mọi người
biết đó chỉ là chiêm bao, chớ sanh tâm lưu luyến những
giàu sang phú quí hầu mau được thức tỉnh, ra ngoài chiêm
bao.
Hỏi:
Thế nào là Tác, Chỉ, Nhậm, Diệt?
Đáp:
Ấy là bốn thứ bệnh được nói đến trong Kinh Viên Giác:
Tác là làm, mục đích của Phật pháp là đi đến kiến tánh
thành Phật, nhưng Phật chẳng phải do tác mà thành, nếu chấp
tức thành bệnh. Chỉ là ngưng, nay nhiều người nói vọng
tưởng nhiều quá, phải cho nó ngưng lại, nhưng thành Phật
chẳng phải do chỉ, nên chấp tức thành bệnh. Thế thì mặc
kệ ư? Nhậm là mặc kệ, vọng tưởng nổi lên cho nó lên,
vọng tưởng xuống cho nó xuống, mặc kệ nó, nhưng thành
Phật chẳng phải do mặc kệ, hễ chấp tức thành bệnh. Diệt
là tiêu diệt, cũng như nhiều người nói phải tiêu diệt
nghiệp chướng phiền não, nhưng thành Phật cũng chẳng phải
do diệt mà được, nên chấp thật cũng thành bệnh. Bây giờ
chưa kiến tánh thì dùng đó làm công cụ cũng được, nhưng
không được chấp, không được trụ vào đó, hễ có trụ
tức thành bệnh.
Hỏi:
Có phải sau khi kiến tánh thì tất cả không gian thời gian
tâm mình đều biết hết?
Đáp:
Bây giờ chưa kiến tánh, bản thể của tâm cũng khắp không
gian thời gian, chỉ là tự mình tin không nổi, phải đến
khi kiến tánh rồi, tâm mình hiện lên, được tự chứng phần
rồi, lúc đó mới tin.
Hỏi:
Con xin mạn phép hỏi Sư Phụ kiến tánh chưa? Nếu chưa kiến
tánh, làm sao biết giảng pháp?
Đáp:
Tôi đã tuyên bố nhiều lần là tôi chưa kiến tánh. Tôi giảng
pháp không phải giảng giáo lý cao siêu cho quí vị được
biết nhiều thêm, mà chỉ là đem thuốc giả của chư Phật
chư Tổ để trị bệnh giả, tức đem đàm giải của chư
Phật chư Tổ truyền lại thôi, và tôi cũng đang trị bệnh
vậy. Quí vị nay đã biết bệnh sanh tử của mình thì tự
phải lo điều trị, chứ đừng lo cho người khác, dù lo cho
bạn đồng tham cũng không được. Vì pháp môn này là dùng
cái không biết để tu, nếu ngoài muốn biết cái của mình
ra, còn muốn biết thêm của người khác thì mênh mông, làm
sao biết hết được ! Dẫu cho biết hết cũng đâu có ích
lợi gì? Ấy là chướng ngại, là nghịch với pháp môn rồi
!
Pháp
môn này là dùng sự không biết để tu, không cho tìm hiểu,
không cho ghi nhớ, phải chi ông tìm hiểu cách thực hành
để đi cho đúng cũng còn được đi, nay lại đi tìm hiểu
cái vô ích, tìm hiểu cái nghịch với cách thực hành ! Chư
Tổ nói:”Hiểu thiền hiểu đạo còn không cho, ghi nhớ, suy
nghĩ cũng vậy.” Tất cả đều phải nhờ nghi tình này chấm
dứt hết, nay chẳng những không chấm dứt, lại cho là có
cái tài khôn muốn trở lại khảo thầy !
Hỏi:
Khi con ngồi tham thiền, thấy lửa cháy xung quanh người, vậy
có sao không?
Đáp:
Chớ nói đó chỉ là ảo tưởng, cho dù lửa cháy thật, nếu
lòng tin chơn thật đầy đủ cũng không sợ. Có một vị Thiền
sư đi với nhiều người lên núi, đang đi đột nhiên gặp
đám cháy to, mọi người hoảng sợ bỏ chạy, Thiền sư nói:”Nhất
thiết duy tâm tạo, nếu tâm không tạo thì làm sao có.” Lửa
cháy xung quanh, nhưng khi đến gần Thiền sư thì tự tắc.
Hỏi:
Con đang đi xe, đang làm việc đồng thời cũng đang tham, mà
cũng chạy đến đúng chỗ, vậy phải là có hai tâm?
Đáp:
Không phải có hai tâm, tâm chỉ có một. Mỗi người chỉ
có một cái biết, lúc dùng cái biết của bộ não thì cái
biết của chánh biến tri bị che khuất, hễ cái biết của
bộ não ngưng thì cái biết của chánh biến tri tự động
thay thế.để làm việc, trường hợp như vậy đã có nhiều
Phật tử chứng tỏ, như cô thợ may, như Trương Quốc Anh
v.v…
Hỏi:
Đang tham thiền có vọng tưởng con vẫn biết, Sư phụ đang
giảng con cũng đang nghe, như vậy phải là có hai tâm?
Đáp:
Nếu có nghi tình phải là không biết, hễ biết thì lúc đó
không có nghi tình, tức cái biết và nghi tình xen lộn hoài
chứ chẳng phải có hai tâm.
Hỏi:
Thế nào mới được giải thoát sanh tử?
Đáp:
Kiến tánh thì được giải thoát sanh tử.
Hỏi:
Các bài chú có hiệu nghiệm như thế nào?
Đáp:
Bài chú chẳng có hiệu nghiệm gì cả, tại sao? Nếu bài chú
có hiệu nghiệm thì ai tụng cũng hiệu nghiệm, phải không?
Sở dĩ hiệu nghiệm là tại tâm mình. Tôi thường nói: sức
dụng của tâm vô lượng vô biên, chẳng có sự hạn chế,
người có tâm lực mạnh mới có hiệu nghiệm, còn người
tâm lực yếu thì tụng cách mấy cũng chẳng hiệu nghiệm,
đủ chứng tỏ đó là do sức tâm chứ chẳng do bài chú.
Hỏi:
Thế nào là pháp?
Đáp:
Tất cả vũ trụ vạn vật đều là pháp, cái tách này, bình
này, bàn này, cái thân của ông v.v…đều là pháp, cái Có
cũng là pháp, cái Không cũng là pháp, pháp hữu vi cũng là
pháp, pháp vô vi cũng là pháp.
Hỏi:
Vậy pháp giới là gì?
Đáp:
Tất cả pháp gọi là pháp giới.
Hỏi:
Thế thì muôn pháp về một là về với cái tâm, phải không?
Đáp:
Nói về với cái tâm cũng được, nhưng tâm về chỗ nào?
Bây giờ đừng có cho là cái gì, cứ giữ cái không hiểu
không biết mà tham là được rồi.
Hỏi:
Tập khí cụ thể là cái gì?
Đáp:
Tập khí làm sao có cụ thể?
Hỏi:
Có phải phiền não tham sân si là tập khí phiền não?
Đáp:
Phiền não là cái gì?
- Dạ
thưa là người ta làm cho mình buồn phiền không vừa ý.
- Làm
cho buồn mới là phiền não, còn đau ngứa có phiền não không?
- Dạ
cũng có.
- Ăn
không tiêu có phiền não không?
- Dạ
có.
- Vậy
những thứ này đâu có ai làm cho buồn, phải không?
Hỏi:
Thế thì trừ tập khí là trừ cái gì?
Đáp:
Tập khí là huân tập thói quen, tập khí tức thói quen. Cũng
như ông mỗi ngày đều dùng ba bữa cơm, lâu ngày thành tập
khí; hằng đêm đều đi ngủ lúc tám giờ, lâu ngày cũng thành
tập khí.
Hỏi:
Nếu bổn lai vô nhất vật thì làm sao có chơn tâm?
Đáp:
Chơn tâm là gì? Nếu chơn tâm là vật chất phải có hình
tướng số lượng, vậy chơn tâm có hình tướng số lượng
không? Tôi thường nói Tánh không tức tâm, vốn như hư không
chẳng hình tướng số lượng, hư không chẳng phải vật,
thế thì không có vật tức chẳng có hư không sao? Nếu
chẳng có hư không thì chúng ta làm sao có thể ngồi tại đây?
Nó vốn là không có vật gì mà !
Hỏi:
Vía Quán Thế Âm Bồ tát có tất cả ba ngày, vậy ngày nào
là chính?
Đáp:
Chẳng có ngày vía nào chính, cũng chẳng có ngày vía nào không
chính. Quán Thế Âm Bồ tát là do Phật sở thuyết, nói chi
Quán Thế Âm Bồ tát, chính ngày Phật Đản cũng có đủ thứ
sai biệt, Phật Giáo Thế giới phải họp lại để chọn một
ngày cho thống nhất, huống là ngày vía Quán Thế Âm Bồ tát
! Như ở trong Kinh Vạn Phật, cùng một hiệu Quán Thế Âm
biết bao nhiêu, cũng như ở đây, mỗi người đều có tự
tánh Quán Âm, không những Tự tánh Quán Âm, Tự tánh
Phật nữa!
Hỏi:
Thế nào là vô lượng vô biên?
Đáp:
Hư không là vô lượng vô biên, tâm của mọi người cũng
như hư không vô lượng vô biên.
Hỏi:
Thế nào là Viên giác Diệu tâm? Viên giác Diệu tâm có phải
Phật tánh không?
Đáp:
Phải, Phật tánh cũng là cái tâm, Viên giác Diệu tâm cũng
là cái tâm. Kinh Phật nói đến chữ Diệu là bất khả tư
nghì, chẳng thể suy lường. Diệu tâm là tâm của mọi người,
hễ bộ não có thể nghĩ đến, lục căn có thể tiếp
xúc được thì chẳng thể nói là diệu. Tại sao? Vì Diệu
tâm chẳng hình tướng, con mắt không thể thấy; Diệu tâm
chẳng âm thanh, lỗ tai không thể nghe, chẳng mùi vị
nên không thể ngửi nếm được. Vì chẳng có bản thể
số lượng nên ý căn muốn biết cũng biết không nổi. Cho
nên Lục căn tiếp xúc không đến, nhưng chẳng phải hoàn
toàn không có, sự dụng vô lượng vô biên, có mà không tiếp
xúc được, nên gọi là Diệu tâm.
Phật
tánh chỉ là biệt danh của Diệu tâm, vì Diệu tâm có tánh
giác ngộ, nay chúng ta dù có Diệu tâm nhưng chưa giác ngộ,
tham thiền thì sau này sẽ giác ngộ, vì có tánh giác ngộ
nên gọi Phật tánh. Chữ PHẬT nghĩa là giác ngộ chứ chẳng
phải là một vị thần linh.
Hỏi:
Thế nào là nhất thiết duy tâm tạo?
Đáp:
Như trên đã nói, tất cả đều từ Diệu tâm sanh ra, cái
tách này, cái bình này, cái thân này…nên nói nhất thiết
duy tâm tạo. Tôi đã thường giảng về tánh Không của tâm
chẳng bản thể hình tướng số lượng, tâm là hư không,
hư không là tâm, vì có cái Không nên tất cả pháp mới được
thành tựu. Nay vì tất cả đều từ hư không sanh ra, tất
cả đều từ tâm này sanh ra, nên nói nhất thiết duy tâm tạo.
Mặc dù sự thật thì chẳng phải do hư không này tạo, vì
thật tế vốn chẳng có cái gì tạo cái gì, nên gọi là vô
sanh, hễ có tạo tức có bắt đầu.
Do
chúng ta không thể tiếp xúc với cái tâm, lại do mọi người
không thể tin rằng sức mạnh của tâm vô lượng vô biên.
Nhà khoa học dù phát minh cái này cái kia, cũng chưa tin được
cái tâm. Cái nào mà nhà khoa học chưa phát minh chưa hiểu
thì qui cho là tự nhiên, còn Phật thì phủ định tự nhiên.
(Sư phụ dẫn chứng phi nhân duyên, phi tự nhiên, lược qua)
Bây
giờ nói đến động lực của vũ trụ, ví như vũ trụ lớn
thì sức xoay mạnh, như mặt trăng xoay theo trái đất, trái
đất xoay theo mặt trời, mặt trời xoay theo ngân hà…mà ngay
trong vũ trụ nhỏ như hạt bụi, những hạt nguyên tử điện
tử cũng đang xoay. Như trong cái tách này có cả muôn triệu
hạt nguyên tử đang xoay, cái bàn này, cái ghế này… bao nhiêu
hạt điện tử hợp thành cũng đang xoay. Các nhà khoa học
đã chứng tỏ tất cả vật chất đều do nhiều nguyên tử
tổ chức thành, trong mỗi hạt nguyên tử có một trung tử,
chung quanh có nhiều điện tử luôn xoay chuyển chẳng ngừng,
chẳng có sự bắt đầu và cuối cùng. Nay dù đem đập bể
cái tách, thì những hạt nguyên tử trong miểng tách cũng vẫn
xoay chuyển không ngừng; đem bàn này đốt thành than thì những
hạt nguyên tử cũng chẳng hề ngưng.
Muốn
khởi động chiếc xe hơi phải đổ xăng vào, khởi động
cho máy nóng lên rồi mới chạy được; nay những hạt nguyên
tử điện tử xoay chuyển nhau, vậy động lực đó từ đâu
ra? Tại sao có sức xoay chuyển ngày đêm chẳng ngừng? Sức
đó từ đâu ra, biết không? Ấy là sức của tâm. Nói
như vậy có lẽ mọi người khó lãnh hội, Lục Tổ thì nói
rõ hơn, trong Kinh Pháp Bảo Đàn ngài nói:”Chẳng phải gió
động, chẳng phải phướn động, là tâm của ông động.”
Do
tâm của ông động gió mới động, do tâm của ông động
phướn mới động, ấy là nhất thiết duy tâm tạo vậy.
Hỏi:
Con đang học tại Viện Phật Học, làm thế nào có thể vừa
tham thiền vừa học cho hết chương trình?
Đáp:
Đang học thì đừng tập tham, hết giờ học mới tập tham,
tập đến quen thuộc rồi thì đang học hành cũng tham được,
làm việc cũng vậy.
Hỏi:
Người tham thiền có phải là trở về tánh thấy và tánh
nghe của nội tâm?
Đáp:
Chẳng có đi cũng chẳng có trở về, vì tánh thấy tánh nghe
vốn cùng khắp không gian thời gian, nên chẳng có đi và về.
Thí dụ: Cô có thể đồng thời thấy một lượt cả chúng
ở đây, hoặc phải thấy từng người một? Nếu đồng thời
thấy hết tức tánh thấy khắp không gian; chẳng những thấy
được đại chúng, luôn cả cái bàn, cái ghế, tách, bình
v.v… đều thấy cả, vậy đâu có trở về? Về đâu?
Hỏi:
Tự mình làm chủ một cơ sở, không đi chợ mua đồ mặn
cho công nhân ăn, chỉ đưa tiền cho người khác đi, vậy có
chịu nhân quả không?
Đáp:
Tự mình không đi mà đưa tiền cho người khác đi, ấy là
sai người khác làm. Trong Kinh Lăng Già nói những người
đi bắt chim cá là trực tiếp bắt, còn người mua ăn là dùng
tiền đi bắt, cũng phải có nhân quả.
Hỏi:
Những cư sĩ tại gia đã thọ giới Bồ tát, nếu chưa thể
hoàn toàn trường chay, hoặc chỉ thọ năm ngày chay, mười
ngày chay là vẫn tiếp xúc đến cá thịt, còn những vị đã
phát tâm trường chay rồi, không tiếp xúc sát sanh và nêm
nếm mùi vị, nhưng vì gia đình họ vẫn đi mua về xắt gọt
nấu nướng, dù không nêm nếm mùi vị, vậy họ có chịu
nhân quả không?
Đáp:
Người thọ giới Bồ tát là muốn học theo hạnh Bồ tát,
muốn cứu giúp chúng sanh, nếu còn ăn thịt chúng sanh tức
phá giới . Lại nữa, tự mình đã không ăn mà còn đi mua,
tức dùng tiền đi bắt, cũng phải có nhân quả. Ngũ giới
của cư sĩ tại gia là cấm uống rượu, không uống thì
không phạm, bán rượu cũng không phạm, còn Giới Bồ tát
là uống rượu tội nhẹ, ï bán rượu thì tội nặng. Tại
sao? Vì uống rượu chỉ hại cho bản thân, bán rượu
là hại đến người khác. Đã muốn học hạnh Bồ tát để
cứu giúp chúng sanh còn trở lại hại người sao ! Cho nên
tội nặng.
Phật
pháp nói tất cả do tâm tạo, tự tâm đã tạo nhân thì phải
chịu quả. Trong gia đình nếu mình là người có quyền quyết
định thì mình phải chịu nhân quả. Nếu làm việc cho người
khác, hễ không thực hiện theo sẽ phải mất chén cơm việc
làm, chỉ thực hiện theo sự sai bảo của người khác, tự
mình không cố ý thì người sai khiến phải chịu.
Ở
Trung Quốc có một Tỷ phú làm chủ một ngân hàng, ông ấy
dù rất giàu sang, cũng biết nhân quả, cả gia đình đều
ăn chay trường, duy chỉ có bà mẹ không chịu ăn chay. Mỗi
lần ông khuyên người mẹ ăn chay đều bị la rầy:”Đã
nói là tôi không ăn chay được, cứ nói ăn chay ăn chay hoài
!”
Vì
ông ấy là đứa con có hiếu, biết rằng bà mẹ mắc nợ
thịt như thế, sau này phải chịu quả báo, muốn độ giúp
mẹ mình, nên đã sai người nấu bếp chế biến những món
chay rất ngon mà không nói đó là đồ chay. Hằng ngày người
mẹ dùng các món ăn cũng chẳng biết đó là chay, chỉ cảm
thấy rất ngon miệng. Như thế trải qua hai năm, đến ngày
sinh nhật của mẹ, ông thưa với mẹ rằng:
- Kỳ
này con định tổ chức bữa tiệc lớn chúc mừng sinh nhật
của mẹ, mời hết tất cả bà con bạn bè, Bữa tiệc sẽ
làm toàn các món ăn chay, mẹ cũng ăn luôn nhé !
- Sao
cứ nói ăn chay hoài vậy, tôi đã bảo là không ăn được
mà !
- Thế
mà hai năm nay chẳng phải ngày nào mẹ cũng ăn chay ư, sao
mẹ nói ăn không được?
- Thật
vậy sao?
Cuối
cùng bà mẹ mới biết và từ đó về sau mới công khai việc
ăn chay.
Hỏi:
Trước kia chúng con đã qui y rồi, nay muốn qui y Sư Phụ một
lần nữa được không?
Đáp:
Nếu qui y rồi tức đã là đệ tử của Tam Bảo thì không
cần qui y nữa. Tam Bảo là đại diện cho Phật, Pháp, Tăng,
chứ không phải thuộc về một cá nhân nào. Nói qui y vị
thầy nào đó chỉ là thay mặt cho Tam Bảo chứng minh cho mình
đã trở thành đệ tử của Tam Bảo, chứ chẳng phải là
đệ tử riêng của thầy đó.
Hỏi:
Kính bạch Sư Phụ, chúng con không qui y có tu Tổ Sư Thiền
được không?
Đáp:
Không có qui y cũng tu Tổ Sư Thiền được, và cũng có thể
kiến tánh được.
Hỏi:
Có người lúc lâm chung, những người xung quanh thấy có ánh
sáng xẹt ra, vậy người đó đã được Phật rước, đúng
không?
Đáp:
Không đúng. Nay dù thấy Phật Thích Ca đến rờ đầu thọ
ký sẽ thành Phật cũng còn không đúng, huống là thấy ánh
sáng ! Tất cả đều là vọng, đều do vọng tâm biến hiện.
Trong Bá Trượng Quảng Lục, ngài nói: Khi người lâm chung,
cảnh giới mà mình ham thích sẽ hiện tiền, ví như ham thích
nhà lầu xe hơi thì cảnh đó sẽ hiện lên, hễ đi vào đó
khi trở ra đã thành con chó con heo. Vì đó là do mình đã tạo
nghiệp rồi, nên phải trả quả.
Hỏi:
Ngài Hư Vân và ông lão sửa đường đều đã kiến tánh,
cùng một chánh biến tri nên không có hai cái biết, nhờ hỏi
và nói chuyện với nhau, tức qua bộ não của mình rồi phàm
phu mới biết được ông lão kia là kiến tánh, phải không?
Đáp:
Người đã kiến tánh tự hiện ra cái dụng vô sở trụ,
cử chỉ lời nói đều là vô sở trụ, đã vô sở trụ rồi
thì những lời nói đó Thiền tông gọi là chuyển ngữ. Vô
trụ nghĩa là không thật, nên mặc dù nói những lời đó
nhưng không trụ vào những lời đó, nếu còn chấp thật tức
chưa kiến tánh. (Sư phụ giảng về thế lưu bố tưởng và
trước tưởng, lược qua.)
Hỏi:
Thế nào là chuyển ngữ?
Đáp:
Chuyển ngữ là lời nói chẳng trụ ở chỗ nào hết, phải
là người kiến tánh rồi mới nói được, người chưa kiến
tánh thì nói không ra.
Hỏi:
Vậy có phải đó là câu trả lời sáng suốt đúng sự thật?
Đáp:
Nếu nói trả lời sáng suốt đúng sự thật là bậy, tức
chỉ hiểu theo lời nói, là con chó đuổi theo cục xương.
Hỏi:
Vậy chuyển ngữ là như thế nào? Xin Sư phụ thí dụ.
Đáp:
Cái này không phải cho hiểu. Chuyển ngữ là chư Tổ dùng
để khám xét hành giả tham thiền đã ngộ hay chưa, nếu ngộ
rồi mới nói ra được, hễ chưa ngộ thì nghe cũng chẳng
biết gì. Đó chẳng phải có nghĩa lý để giải thích, chẳng
có gì để thí dụ được, khi nào bà kiến tánh rồi thì
tự biết, bây giờ chỉ cần dùng công phu để tu đến kiến
tánh thôi.