[09] 14/07/94–20/07/94
tại Chùa Từ Ân , Quận 11
Hoa
khai kiến Phật ngộ vô sanh
Chọn
ngày xuất gia ?
Tâm
vốn trong sạch, làm sao ham dính bụi
Phiền
não từ đâu đến?
Phát
Bồ đề tâm
Tham
thiền không biết đến đúng sai
Tà
đến phiền não đến, chánh đến phiền não trừ
Thế
nào là Vô môn quan?
Vô
ký không
Phật
pháp tức thế gian pháp
Bát
phong thổi chẳng động
Tông
Thiên Thai : Tam chỉ tam quán
Tự
tâm hiện lượng
Tất
cả do tâm tạo
Giới
Bồ tát cấm nuôi mèo
Chơn
ngôn biến thực
Nhân
quả và nghiệp lực
Vô
tình diệt vô chủng, vô tánh diệt vô sanh
Hữu
tình vô tình đồng viên chủng trí
Vấn
đề trì ngọ
Thế
nào làm cho thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng, giết A
xà lể
Vấn
đề tu phước, tu huệ
Công
phu cực lạ, cực quên, và phi phàm phi thánh
Vừa
tham thiền vừa xem kinh, được không?
Tại
sao ở nơi vô thỉ vô minh lại sanh nhất niệm vô minh?
Tập
khí từ đâu rả
Người
tham thiền có được chư thiên hộ trì không?
Thiền
Luận của Suzuki Nhật Bản
Công
đức hồi hướng, phóng sanh
Hỏi:
Theo Tịnh độ có 9 phẩm, tùy theo sự tu chứng của mỗi người
đi về từng phẩm, còn theo Tổ Sư Thiền phải đi đến kiến
tánh thành Phật. Nhưng nếu trong thời mạt pháp, chúng con
không thể kiến tánh ngay kiếp này thì sẽ đi về đâu? Và
nợ cơm áo của Đàn na tín thí làm sao trả?
Đáp:
Đối với vấn đề đi về đâu; Phật tánh khắp mọi
nơi, khắp không gian thời gian, chẳng có chỗ sanh khởi và
cuối cùng, ấy mới là bất sanh bất diệt của Phật tánh,
nếu có chỗ về thì chẳng phải Phật tánh. Như Tịnh độ
nói “Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,” vô sanh là chẳng
có sự sanh khởi, hễ có sanh tức có bắt đầu, có sanh tức
có diệt, vẫn còn trong sanh tử luân hồi. Nên người chứng
ngộ nói “ngộ pháp vô sanh,” đã vô sanh thì đi về đâu?
Do chấp thật có sanh nên mới có tử, mới nói là có chỗ
về, nên cứ ở trong sanh tử luân hồi mãi.
Hỏi:
Con muốn xuất gia, nên tìm đọc quyển lịch nói về năm xuất
gia xem có thuận lợi hay không, trong đó có chỉ dẫn cả ngày
giờ xuống tóc, đọc xong khiến con do dự, vì năm nay con gặp
năm súc sanh, năm tới gặp năm ngạ quỷ, tuy nhiên người
tu hành không cần xem xét những vấn đề này, nhưng vì con
tuổi già sức yếu, không biết có vượt qua những khảo đảo
và bệnh hoạn hay không?
Đáp:
Người viết cuốn sách này đã gieo tội địa ngục, vì không
biết Phật pháp, dùng pháp mê tín hại người, gọi là cuồng
vọng thuyết pháp, tạo tội địa ngục. Phật tánh của mọi
người đều đầy đủ, mặc dù nay là chúng sanh, nhưng đã
thành Phật. Những gì bà nói đều là pháp mê tín, xuất gia
là vì muốn liễu thoát sanh tử luân hồi, chứ đâu phải
vì cái khác mà phải sợ đến tướng số !
Nay
nhiều người xuất gia, ở chùa hưởng sự cúng dường của
Phật tử mười phương nhưng vẫn còn lo cho gia đình, như
đám giỗ ông bà cha mẹ cũng do Phật tử cúng dường, đã
xuất gia thì không có nhà, nay lợi dụng sự xuất gia, nhờ
Phật tử giúp đỡ cho gia đình, lo cho con cháu, ấy là hư
tiêu tín thí, là tội địa ngục, sau này từ địa ngục ra,
còn phải làm trâu làm ngựa trả nợ thí chủ, hại còn
nhiều hơn ích, chẳng thà không xuất gia còn không gây tội
nặng như thế. Cho nên tôi thường khuyên ai muốn xuất gia
phải là người quyết tử, không biết đến gia đình con cháu
mới được, nếu không chẳng thà tu tại gia tốt hơn.
Hỏi:
Tâm mình trong sạch, tại sao lại ham dính bụi?
Đáp:
Sắc thanh hương vị thuộc tiền trần, trần là bụi, khiến
dơ mình, tại sao lại cứ muốn dính bụi? Ví như tâm gương
vốn sáng, chiếu soi rõ mặt mũi, hễ dính đầy bụi thì mất
tác dụng chiếu soi, nay muốn cho không dính bụi, nên phải
tham thoại đầu. Tại sao? Sở dĩ dính bụi là do sự biết:
Biết sắc đẹp thì ham, biết sự khen ngợi của người khác
thì mừng… Nay tham thiền dùng cái không biết để tu, thấy
sắc chẳng biết xấu hay đẹp, nghe tiếng cũng chẳng biết
khen hay chê thì đâu dính bụi? Nên phải dùng cái không biết
để cho không dính bụi. Hễ không dính bụi thì ánh sáng gương
được hiện, người nam đến thì hiện tướng nam, nữ
đến hiện tướng nữ, rõ ràng chiếu soi.
Hỏi:
Phiền não của con rất sâu đậm, con chẳng thể phá tan được,
kính xin Sư phụ khai thị.
Đáp:
Kinh nói “Trực tâm là đạo tràng,” nay tôi hỏi cô, mà
tôi hỏi cái nào thì cô trả lời cái nấy, phải dùng tâm
ngay thẳng để trả lời:
- Cô
nói phiền não sâu đậm, vậy cô phải biết phiền não của
cô sanh khởi từ chỗ nào?
- Dạ
thưa sanh khởi từ lửa sân.
- Vậy
lửa sân sanh khởi từ chỗ nào?
-
Dạ thưa nó có đủ thứ…
- Tôi
chỉ hỏi cô nó sanh khởi từ chỗ nào, trong thân của cô
thì cô phải biết nó sanh khởi từ đâu chứ ! Ví như trong
túi tôi có tiền, người ta hỏi tôi “Trong túi ông có tiền
không?”
Tôi
nói “có,”
Hỏi
“Có bao nhiêu?”
Tôi
nói “Có mười ngàn.”
-
Đồ của mình thì mình phải biết, cô nói phiền não của
cô mà cô lại không biết nó sanh khởi từ đâu?
-
Dạ thưa vì việc gia đình của con, việc gì nó cũng
dồn tới …
- Thân
cô đâu phải của gia đình? Cho dù là cha mẹ cô thì cũng
là thân của người khác, đâu phải của cô? Ví như bây giờ
cô đang đói, cha mẹ cô có thể ăn no giùm cô được không?
Anh em có thể ăn no giùm cô được không? Cha mẹ anh em khác
hơn thân của cô mà ! Bây giờ phiền não đó đâu phải là
cha mẹ hay anh em sanh ra? Làm sao nói là gia đình được?
-
Dạ, cũng như con cháu của con nó không nghe lời…
-
Con cháu đâu phải thân cô? Nay tôi nói cho cô biết, phiền
não đó chẳng phải của cô, tại cô suy nghĩ phiền não nên
mới thành phiền não. Cái suy nghĩ đó tức là biết, do bộ
óc suy nghĩ cho cái này cái kia là phiền não, nhưng sự thật
bộ óc vốn trong sạch chẳng phiền não, phiền não là ở
ngoài bộ óc của cô. Nếu cô không suy nghĩ đến những phiền
não đó thì phiền não đâu dính mắc? Bây giờ cô thì không
biết có bộ óc, nhưng cô cũng biết có suy nghĩ, thì năng
suy nghĩ đó là bộ óc, sở suy nghĩ là phiền não. Năng
thì chẳng phải sở, sở chẳng phải năng; năng suy nghĩ
đó mới là của cô, sở suy nghĩ chẳng phải của cô. Cho
nên phiền não chẳng phải của cô, tại cô suy nghĩ rồi lấy
cái đó cho là của cô. Do cô tự mình không biết được nguồn
gốc suy nghĩ đó, bản thể suy nghĩ đó, nay tôi đem những
việc trước mắt có thể thấy thí dụ cho cô được rõ:
Hai
chân của cô là năng đi, con đường có gai gốc cứt sình
là sở đi của hai chân, cũng như tâm là năng suy nghĩ, phiền
não là sở suy nghĩ của cô; cái năng suy nghĩ vốn chẳng có
phiền não, cũng như hai chân vốn chẳng dính cứt sình, con
đường có gai gốc cứt sình đó chẳng dính dáng với hai
chân, tại hai chân ham dẫm lên con đường cứt sình mới bị
dính mắc, rồi cho cứt sình đó là của cô, vậy có được
không?
Đức
Phật đã chỉ cho chúng ta con đường bằng phẳng, nhưng mình
không chịu đi, cứ ham đi trên đường gai gốc cứt sình,
rồi nói:”Con đường đó dơ quá khiến tôi bị dính mắc
cứt sình.” Lại nói:”Cứt sình đó của tôi”! Nếu không
dẫm lên con đường đó thì đâu bị dính? Phải vậy không?
Cho nên, cô nói “bị phiền não sâu đậm”là không đúng,
đó ở ngoài tâm cô. Bây giờ cô chỉ tham thiền, không biết
tới những cái đó, tức không suy nghĩ thì chẳng bị
phiền não chướng ngại.
Hỏi:
Trong kinh dạy “người tu hành phải phát Bồ Đề tâm, nếu
không thì như cày ruộng mà không gieo giống.” Kính bạch
Sư phụ, Bồ đề tâm này có tương đương với Từ bi tâm
không? Chúng con phải phát Bồ đề tâm để tu hành không?
Đáp:
Bây giờ tôi hỏi bà: Bà nói Bồ đề tâm, vậy Bồ đề tâm
là cái gì?
-
Dạ con chưa được rõ lắm.
-
Bà nghe vị giảng sư nào giảng “Phải phát Bồ đề tâm”mà
bà không hiểu thì phải hỏi vị giảng sư ấy, nếu
không thì làm sao phát tâm?
-
Vậy kính xin Sư phụ giảng cho con được rõ.
-
Hai chữ Bồ Đề là tiếng Ấn Độ, nghĩa là giác ngộ, cũng
có người dịch là “Đạo,” tức đạo giác ngộ. Vậy giác
ngộ cái gì? Giác ngộ cuối cùng gọi là “vô sở đắc.”
Tại sao? Vì trong tâm sẵn đủ thần thông trí huệ, khắp
không gian thời gian, chẳng thiếu sót chút nào, nên chẳng
cần đắc nữa. Nếu còn có sở đắc thì chẳng phải Bồ
đề tâm. Cho nên, phát tâm Bồ đề tức phát tâm vô sở đắc.
Đó cũng là tại sao trong mười điều kiện thực hành tham
Tổ Sư Thiền, điều trước tiên là “Vô sở đắc, vô sở
cầu, vô sở sợ,” thì tâm này là tâm Bồ đề.
Chư
Tổ có câu “Phiền não tức Bồ đề.” Tại sao? Vì vô sở
đắc thì làm sao đắc phiền não? Đắc sự hạnh phúc sung
sướng còn không có, huống là phiền não? Không có phiền
não tức Bồ đề, chẳng những phiền não tức Bồ đề, tất
cả đều là Bồ đề, vì vô sở đắc vậy.
Hỏi:
Trong lúc con dự Thiền thất, có hai buổi con bị rơi vào tình
trạng như sau: Gần cuối giờ tọa thiền, đang tham con ngủ
thiếp đi lúc nào không hay nhưng vẫn ôm câu thoại đầu,
khi thức tỉnh thì thấy thầy đang dẫn chúng đi hương,
Xin Sư phụ chỉ ra chỗ sai của con để con sửa, hầu tránh
tình trạng đi sai một bước cách xa ngàn dặm.
Đáp:
Bây giờ biết đúng cũng là sai, biết không đúng cũng là
sai, biết mình tinh tấn cũng là sai, biết không tinh tấn cũng
là sai, vì tham thiền là dùng sự không biết để tu, nay có
một niệm biết tức chẳng phải tham thoại đầu, có sự
biết là trái với nghi tình, nên không thể cho là đúng
hay sai.
Nay
đang tập tham tất nhiên còn có sự biết, đến khi tới thoại
đầu rồi tất cả đều không biết. Mục đích của chúng
ta là muốn đến chỗ đó, nên phải tập giữ cái không biết
để tu. Mà cái không biết này khác hơn cái không biết của
ngủ mê, khác hơn cái không biết của người tâm thần, người
khờ ngốc, vì những cái không biết kể trên không có tánh
ham biết. Con người thì có tánh ham biết, khi giữ cái
không biết để tu, đụng với tánh ham biết mới khởi lên
thành nghi tình, mới gọi là tham thiền.
Hỏi:
Để phá tan phiền não vọng tưởng trong lúc tham thoại đầu,
con nhớ sáu câu kệ của ngài Lục Tổ:”Tà đến phiền não
tới, chánh đến phiền não trừ. Tà chánh đều chẳng chấp,
thanh tịnh đến cùng tột. Hễ bỏ tâm chấp quấy, phiền
não tự tan rã.” Những lúc vọng tưởng đến, con có thể
tạm ngưng thoại đầu trong giây lát để áp dụng sáu câu
này không?
Đáp:
Không cần. Sáu câu này của Lục Tổ dạy là muốn chúng ta
giữ được nghi tình, hễ giữ được nghi tình là đã thực
hành sáu câu này rồi. Nói tà đến là vọng tưởng, chánh
đến là nghi tình, đến cuối cùng nghi tình bùng nổ thì
tà chánh đều hết, lúc đó mới tới cùng tột. Nay chưa tới
cùng tột, giữ được cái chánh tức nghi tình thì vọng tưởng
nổi lên chẳng được tức tà không đến.
Lúc
mới tập tham, vọng tưởng cứ nổi lên hoài, lúc vọng tưởng
nổi lên thì nghi tình ngưng, đề khởi nghi tình thì vọng
tưởng ngưng, vọng tưởng với nghi tình đánh nhau, có khi
vọng tưởng thắng thì nghi tình mất, khi nghi tình thắng thì
vọng tưởng mất, tập dần dần đến khi nghi tình thắng
hoàn toàn, vọng tưởng nổi lên không được, chỉ còn cái
chánh. Khi nghi tình bùng nổ thì tà chánh đều sạch, lúc đó
mới là thanh tịnh đến cùng tột. Chỉ cần giữ câu thoại
đầu tham tới mãi, chứ không cần niệm sáu câu này.
Hỏi:
Thế nào là Vô Môn Quan?
Đáp:
Vô môn quan là công án của Thiền tông: Vô môn là không có
cửa, Quan là cửa ải, ví như bốn bề là vách tường, chẳng
có cửa mà ra vào được, là thấu Vô Môn Quan. Thiền tông
gọi Vô môn quan tức khán thoại đầu và tham thoại đầu,
từ chỗ không cửa mà thấu qua được tức kiến tánh.
Hỏi:
Nói Thân cận Thiện tri thức, mục đích chỉ vì cầu pháp
cầu trí huệ, vậy tại sao Đức Phật trong Kinh Kim Cang nói
“Ta ở nơi Phật Nhiên Đăng, chẳng có thật đắc pháp A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề”?
Như thế chẳng phải đánh mất mục tiêu cầu pháp cầu trí
huệ sao?
Đáp:
Phải biết tại sao Đức Phật nói như thế? Câu nói này chỉ
có người kiến tánh rồi mới có thể nói, vì người đã
kiến tánh tất cả thần thông trí huệ đều sẵn đủ, không
lọt vào có không. Nếu còn kiến lập một pháp nào, nói Có
là thật có, ấy là thêm; nói Không là thật không, ấy là
bớt. Vì muốn phá chấp có và không của chúng sanh, nên không
có kiến lập. Đây cũng chính là sự khác nhau giữa Phật
giáo và các tôn giáo khác; các tôn giáo đều kiến lập chơn
lý, Phật giáo thì không. Vì Phật tánh sẵn có này đã là
chơn lý rồi, nếu còn kiến lập tức thành hai chơn lý, hễ
có hai chơn lý tức chẳng phải chơn lý rồi.
Hỏi:
Đức Phật đã kiến tánh, nói như thế thì được, nhưng
đối với hàng phàm phu chúng tôi, có phải nên cầu mới đắc?
Đáp:
Nếu cầu mà đắc thì không có nhân quả, phải không?
Hỏi:
Vậy thì đâu cần thân cận Thiện tri thức nữa?
Đáp:
Nếu nói không cần cũng không được, nếu chẳng luyện bỏ
tạp chất thì vàng thiệt đâu thể hiện ra? Cho nên, chẳng
phải là cần hay không cần, đó tùy thuộc vào căn cơ trình
độ của mỗi người, nên mới có tám mươi bốn ngàn pháp
môn.
Hỏi:
Thế nào là lọt vào vô ký không?
Đáp:
Bây giờ chúng ta tham thiền phải chú trọng nghi tình, có nghi
tình mới gọi là tham thiền. Nhưng vì mới tập tham, vọng
tưởng cứ nổi lên hoài, vọng tưởng nổi lên thì nghi tình
mất, nghi tình nổi lên thì vọng tưởng mất, có vọng tưởng
có nghi tình hai thứ cứ xen lẫn nhau. Tham được một thời
gian, vọng tưởng bớt mà nghi tình cũng không nổi lên, tức
không có vọng tưởng cũng không có nghi tình, gọi là lọt
vào vô ký không. Hễ lọt vào vô ký không thì chẳâng thể
kiến tánh, nên phải mau mau đề khởi thoại đầu để
có nghi tình lại. Vì nghi là nhân, ngộ là quả, không có nhân
thì không có quả, nên người tham thiền phải luôn giữ được
nghi tình.
Hỏi:
Có một vị hành giả tự mình ăn chay nhưng lại bán đồ
mặn, vậy có bị nhân quả không?
Đáp:
Dĩ nhiên là bị nhân quả, hễ khởi tâm động niệm
đều có nhân có quả, huống là làm ! Ví dụ: Cha mẹ vì sợ
nhân quả nên ăn chay, lại thương con đi mua thịt cho con ăn,
ấy là phải chịu nhân quả, thịt thì con ăn, nợ thì cha
mẹ phải chịu.
Hỏi:
Phật pháp và thế gian pháp là một hay hai?
Đáp:
Phật pháp cũng là thế gian pháp, vì thế gian pháp cũng là
tâm, Phật pháp cũng là tâm. Tâm cũng như đất, chẳng
cái gì rời khỏi đất mà sanh trưởng cả, nên nói là tâm
địa. Người thế gian cũng phải sống trên mặt đất, nhà
cửa cây cối cũng phải ở trên mặt đất, mà mặt đất
thì ở trên tâm chứ chẳng phải ở ngoài. Phật nói “Nhất
thiết duy tâm tạo,” nếu thế gian ở ngoài Phật pháp thì
chẳng phải nhất thiết rồi.
Hỏi:
Thiền sư Bác Sơn nói “Dù cho bát cảnh thay nhau hiện trước
mắt cũng chẳng màng đến,” vậy thế nào là bát cảnh?
Đáp:
Bát cảnh cũng là bát phong, tức được, mất, khen, chê, vinh,
nhục, khổ, vui. Ý nói là đối với tất cả những tình cảm
tốt xấu đều không bị ảnh hưởng, gọi là bát
phong thổi chẳng động.
Trong
Thiền tông có một công án: Ông Tô Đông Pha là nhà văn nổi
tiếng đời nhà Tống Trung Quốc, đồng thời cũng là một
vị có tu hành, chơi thân với Thiền sư Phật Ấn, một vị
Thiền sư đã kiến tánh. Tô Đông Pha thường hỏi pháp với
Thiền sư, lúc đó hai người ở cách nhau bởi con sông Trường
Giang.
Một
hôm, Tô Đông Pha viết một lá thư cho Thiền sư, nói rằng
ông đã tu đến bát phong thổi chẳng động. Thiền sư
nhận được thư, hạ bút phê trên đó hai chữ
“địt, địt” (trung tiện, cũng có nghĩa là nói bậy) và
gửi trả lại cho Tô Đông Pha.
Khi
nhận được thư, Tô Đông Pha rất giận, nói :”Tôi chỉ
trình công phu, sao lại sĩ nhục tôi như thế !” Liền qua
sông trách vấn Thiền sư. Thiền sư nói:”Chẳng phải
trong thư ông nói là bát phong thổi chẳng động ư? Sao lại
bị hai cái địch đó thổi qua sông vậy !”
Tôi
thấy nhiều hành giả tham thiền cũng có tình trạng như thế,
tự mình khoe công phu đắc lực, sự thật thì không phải.
Hỏi:
Tổ Sư Thiền là dùng cái không biết để tu đến khi bùng
vỡ sự không biết, nhưng Như Lai Thiền là dùng sự biết
để tu, làm sao lại có thể đạt đến chỗ khối nghi tan
rã?
Đáp:
Như Lai Thiền dùng sự biết để tu, biết bao nhiêu mới tu
bấy nhiêu. Ví như Giáo môn thuộc Như Lai Thiền, ở Trung Quốc
gồm bốn tông: Thiên Thai, Hiền Thủ, Tam Luận, Duy Thức. Nay
trong Phật học viện cũng còn dạy Duy thức, nhưng Duy Thức
Quán Thiền lại chẳng có ai tu.
Ở
Việt Nam còn pháp Chỉ Quán thiền của tông Thiên Thai, gồm
tam chỉ tam quán, gọi là Không, Giả, Trung. Người tu chỉ
ngưng nghỉ quán xét, ban đầu quán Giả, ví như quán cái tách
này không thật, cái bàn này không thật, cho là giả, quán
đến cuối cùng thì giả cũng chẳng phải thật giả, lại
quán Không, đến cuối cùng thì Không cũng chẳng phải thật
không. Chẳng phải thật giả, chẳng phải thật không, là
cái gì? Phải quán Trung, cũng như Không với Giả là hai đầu,
Trung là ở giữa. Hai đầu đã không thành lập thì ở giữa
làm sao thành? Vậy chẳng phải giả, chẳng phải không, chẳng
phải trung, là cái gì? Từ đó mới phát lên nghi tình như
tham thiền vậy.
CHỈ
là ngưng nghỉ, có ba cấp:
1/
Hệ duyên chỉ: Tâm mình như con khỉ chẳng chịu ngưng nghỉ,
nay đem buộc lại ở dưới rốn không cho phan duyên, gọi là
Hệ duyên chỉ.
2/
Tiến thêm một bước, gọi là Tùy duyên chỉ, ví như ham thích
cái này, nay không còn ham thích nữa; ghét cái này từ nay không
ghét nữa, tùy duyên ngưng nghỉ là chỉ.
3/
Cuối cùng phán xét ba thứ Không, Giả, Trung đều chẳng phải,
vậy là cái gì? Phát khởi nghi tình, gọi là Thể chơn chỉ.
Thể là thể cứu, thể cứu chơn thật, sau cùng phát nghi rồi
đến ngộ.
Ví
như người tu Tịnh độ muốn sanh cõi Cực Lạc, vì tin tham
thiền không nỗi, nên chỉ tu pháp Tịnh độ tới Bất thối
Địa tức không lui sụt, đến Cõi Cực Lạc rồi do Phật
A Di Đà dạy tham thiền, phát nghi rồi đến ngộ.
Pháp
môn nào cũng vậy, cuối cùng là từ nghi đến ngộ, cuối
cùng cũng thành Phật, nhưng phải trải qua con đường xa hơn,
còn tham Tổ Sư Thiền là pháp thiền trực tiếp, thẳng tắt
hơn.
Hỏi:
Con xem Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật có dùng phương tiện phá
lục căn và lục trần không thật. Lục căn và lục trần
sanh ra lục thức, căn và trần không thật thì thức cũng không
thật, vậy tại sao Đức Phật không phá luôn một thể, mà
phải dùng đủ thứ thí dụ chứng tỏ lục thức chẳng thật?
Đáp:
Thức là sự phân biệt của bộ não, phàm tất cả do bộ
não nhận thức được đều không thật. Trong Kinh Lăng Già
giảng về Duy thức để phá sự chấp của ngoại đạo, ngoại
đạo giảng kinh cũng dùng danh từ và giải nghĩa giống như
Phật, khiến nhiều người hiểu lầm . Mặc dù lời của Phật
và lời của ngoại đạo giống nhau, nhưng nếu xem xét kỹ
thì khác. Tại sao? Vì ngoại đạo có sở trụ còn Phật thì
vô trụ.
Tất
cả danh từ lục căn, lục trần, lục thức …đều có số
lượng, trong kinh gọi là tự tâm hiện lượng. Nếu hiện
ra số lượng thì chẳng phải chơn tâm, vì chơn tâm của mình
tức Phật tánh, vốn chẳng hình tướng số lượng. Nay dù
có trí huệ cao nhất, số lượng cao nhất cũng là vọng, cũng
gọi là tự tâm hiện lượng. Trong kinh nói “Nếu ngộ được
tự tâm hiện lượng tức giải thoát.” Trong Kinh Lăng Nghiêm
cũng có giải thích, nhưng kỹ càng nhất là Kinh Lăng Già .
Hỏi:
Tu theo tông chỉ của Tịnh độ và tông chỉ của Thiền tông
đưa đến kết quả như thế nào?
Đáp:
Tông chỉ của Tịnh độ, của Thiền tông, kể cả của các
tông các phái trong Phật giáo, mục đích đều như nhau, cũng
là muốn thành Phật. Thành Phật không phải trở thành một
vị thần linh, mà là giác ngộ, ở trong chiêm bao thức tỉnh
thì khổ trong chiêm bao tự dứt. Vì giác ngộ mới giải
thoát tất cả khổ, đạt đến tự do tự tại, cho nên nói
là thành Phật, kỳ thật Phật đã thành sẵn, Kinh Viên Giác
nói “Tất cả chúng sanh đều đã thành Phật”(Sư phụ thí
dụ quặng vàng, lược qua).
Tất
cả pháp môn cuối cùng chỉ là hiện ra Phật tánh, thật ra
nói Phật tánh là tâm. Tại sao nói Phật tánh? Vì chữ Phật
nghĩa là giác ngộ, tâm này có tánh giác ngộ, nên gọi Phật
tánh; nếu không có tánh giác ngộ thì chẳng thể thành Phật.
Nói
đến chữ TÂM thì tất cả đều là tâm, “vạn pháp duy tâm,”
“tất cả do tâm tạo,” vũ trụ vạn vật, địa, thủy,
hỏa, phong v.v… đều bao gồm trong đó, chẳng cái nào thiếu
sót, cho nên nói tất cả pháp thế gian đều là Phật pháp;
Lục Tổ nói “Phật pháp tại thế gian, chẳng lìa thế gian
giác,” cái tách này, bình này, kể cả cái thân này đều
từ diệu tâm sanh ra. Bây giờ chúng sanh chấp cái thân này
là ta, còn cái tách, cái bình chẳng phải ta, nếu theo
Phật pháp thì tất cả đều là ta, bởi vì tất cả đều
từ tâm sanh ra, thì đâu có cái nào ở ngoài tâm? Nên nói
đều là tự kỷ. Nếu tất cả đều là tự kỷ, thì mặc
dù nói là ta, nhưng đã phá được ngã chấp, chẳng còn tương
đối, nên nói là đồng thể bi, tất cả đồng một bản
thể (tâm).
Thế
thì Tịnh độ cũng là tâm, Thiền cũng là tâm, những người
tu Tịnh độ do không biết nên chấp thật cái thân này.
Nếu
nói cho đúng thì Phật giáo chẳng phải là một tôn giáo,
hai chữ Tôn Giáo là do người Nhật đặt ra, tất cả các
tôn giáo khác như Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo… chú trọng về
tín ngưỡng, phải tin Giáo chủ, nên thuộc về tôn giáo; còn
Phật giáo thì khác, Phật Thích Ca nói “Tất cả chúng sanh
đều là Phật,” đều bằng với Phật.
Vì
tâm chẳng có hình tướng số lượng, bộ não chẳng thể
nhận biết, nhưng sự dụng thì rõ ràng, ví như cái thân này,
cái tách này, cái bàn này, ghế này… đều là dụng của
tâm, vũ trụ vạn vật đều là dụng của tâm, nên Đức Phật
nói “Nhất thiết duy tâm tạo.” Nhưng nhà khoa học thì không
tin, chỉ tin vào vật chất, nói tâm này cũng do vật chất
sanh ra. Ngài Nguyệt Khê trong Đại Thừa Tuyệt Đối Luận
có một biểu đồ nói về bốn thừa: Tiểu thừa nói về
duy vật, Trung thừa nói về duy tâm, Đại thừa nói tâm vật
hợp một, Tối thượng thừa thì vô sở trụ, nói chẳng phải
tâm, chẳng phải vật, tức chẳng phân biệt tâm khác với
vật, là phi tâm phi vật, chẳng phải có hai.
Ví
như mấy mươi cây đèn trong một phòng, đèn lớn ánh sáng
mạnh, đèn nhỏ ánh sáng yếu, đèn dù khác nhau nhưng ánh
sáng chẳng phải có hai; năm cây đèn cũng chỉ một ánh sáng,
một triệu cây đèn cũng chỉ một ánh sáng. Lại nữa, những
người học khoa học thì biết rõ ánh sáng cùng khắp hư
không, đã cùng khắp thì sự tương đối tự nhiên tiêu diệt,
chẳng còn tương đối nữa.
Theo
Phật pháp, nguồn gốc của tương đối là hữu và vô, hữu
là có, vô là không . Tất cả chúng sanh đều do chấp ngã
mới gây ra đủ thứ khổ và phiền não, tức chấp thân này
là ta, bây giờ thành lập có ta tức hữu ngã, được không?
Ví dụ thân ta là một trong những cây đèn, muốn thành lập
hữu ngã thì phải chỉ ra ánh sáng đèn nào thuộc về của
ta, quí vị có ai chỉ ra được không? Ánh sáng đèn cùng khắp
chánh điện này, có ai chỉ ra được ánh sáng nào là của
ta? Không được. Tạïi sao? Vì ánh sáng đèn nào cũng cùng
khắp, dù lớn hay nhỏ, bao nhiêu triệu cây đèn cũng cùng
một ánh sáng, chẳng sức mạnh nào chia thành hai ánh sáng
được.
Thế
thì nói là không có ta, tức vô ngã, được không? Muốn thành
lập vô ngã, quí vị phải chỉ ra chỗ nào không có ánh sáng
đèn của ta? Chỗ nào cũng cùng khắp, vậy muốn thành lập
nghĩa vô ngã cũng không được, vì chẳng thể chỉ ra.
Mặc
dù chẳng thể chỉ, nhưng không phải là không có những cây
đèn khác biệt, ví như một trăm cây đèn vẫn là một trăm
cây, đèn lớn vẫn phát ra ánh sáng mạnh hơn, đèn nhỏ vẫn
phát ra ánh sáng yếu hơn, chứ chẳng phải tương đối
tiêu diệt rồi ánh sáng và đèn cũng tiêu diệt luôn. Cho nên,
tất cả chúng sanh dù cùng một Phật tánh, cùng một tâm,
nhưng mỗi mỗi chúng sanh vẫn là khác nhau, cũng như tất cả
đèn cùng chung một ánh sáng mà mỗi mỗi đèn vẫn khác nhau
vậy. Nếu chúng ta sanh khởi tâm chấp thì có cái này cái
kia, muôn ngàn sai biệt; có Tịnh độ,ù Thiền tông, Thiên
thai, Hiền thủ, Duy thức, Tam luận… đủ thứ tông phái,
cho đến tà ma ngoại đạo, thế gian công thương kỹ nghệ…
Nhưng công thương kỹ nghệ, tà ma ngoại đạo, tông phái này
tông phái kia đều là một tâm chứ chẳng phải hai tâm. Do
đó, nói Phật giáo chẳng phải tôn giáo, vì tất cả đều
gồm trong đó. Nếu hiểu được tất cả đều ở trong tâm,
chẳng phải ở ngoài thì khỏi cần phân biệt Tịnh độ và
Thiền, sở dĩ có phân biệt vì có tâm chấp vậy.
Nay
người đời nhìn Phật giáo như là một tôn giáo, vì thấy
Phật giáo đồ mê tín, cho rằng Phật giáo là một tôn giáo
mê tín. Sự thật thì giáo lý của Phật giáo là chánh tín,
là phá mê tín, nhưng vì Phật giáo đồ không hiểu , trong
Thiền tông có nói:”Ấy chẳng phải lỗi tại đệ tử, là
lỗi tại người Thầy,” tại Tu sĩ tự mình mê tín rồi
dạy Phật tử cũng mê tín theo.
Tại
sao nói chánh tín là phá mê tín? Như Bát Nhã Tâm Kinh, các
chùa ngày thường đều tụng mấy lần, tụng thì tụng, mà
trong cuộc sống hằng ngày thì nghịch với Kinh: Trong Kinh nói
“Vô lục căn, lục trần, lục thức, vô lão tử… cho đến
vô Khổ Tập Diệt Đạo, vô trí diệc vô đắc,” vô lão
tử là không có già chết, cái đó còn thuộc phạm vi Giáo
môn chứ chưa phải Thiền môn, người ta còn tin không nổi,
huống là Thiền môn bất lập văn tự, làm sao tin nổi ! Nếu
muốn phổ biến cho nhiều người thì phải dạy người ta
mê tín, đó mới dễ tin và phổ biến được nhiều, vì những
người mê tín rất dễ dàng đem gia tài đi cúng, họ
cho rằng càng cúng nhiều càng được phước nhiều. Còn
dạy người chánh tín thì tất nhiên khó tin rồi . Chỉ có
những người đã phát tâm tu giải thoát, kiếp trước đã
tu, đã gieo trồng thiện căn rồi, kiếp này mới có lòng tin
chơn thật. Kinh Kim Cang nói:”Phát lòng tin trong sạch, chẳng
phải chỉ kiếp trước nơi một Phật hai Phật gieo trồng
thiện căn, mà là vô lượng vô biên hằng sa chư Phật gieo
trồng thiện căn,” mới được lòng tin trong sạch như
hiện nay vậy. Có lòng tin chắc chắn, sự tu mới chắc chắn,
giải thoát mới chắc chắn.
Nhiều
người đã phát tâm tu, ấy là nhiều kiếp đã gieo trồng
thiện căn, mới có nhân duyên đến dự Thiền thất, đến
nghe tôi giảng về pháp chánh tín. Tôi không bao giờ giảng
về mê tín, người cúng dường chánh tín không mong đợi phước
báo và cúng dường vô điều kiện, không đòi hỏi tôi tụng
kinh cầu an cầu siêu, cũng không cần biết phước
báo đó sẽ lớn như thế nào.
Tôi
đến giảng tại các Phật học viện, mặc dù tôi chuyên hoằng
Tổ Sư Thiền, nhưng người ta hỏi về Tịnh độ thì tôi
giải đáp về Tịnh Độ, hỏi về Thiền giải đáp thiền,
cho đến các pháp môn
khác.
Ai thích tu pháp môn nào thì tôi dạy pháp môn đó, chứ chẳng
phải bắt buộc mọi người phải tu Tổ Sư Thiền.
Hỏi:
Trong chùa có nuôi chó mèo, con mèo không chịu ăn chay, vậy
có thể mua cá cho nó ăn không?
Đáp:
Người nào mua cá cho mèo ăn thì người đó trả nợ giùm
con mèo.
Hỏi:
Vậy nếu con mèo bị chết đói thì chúng con có phải chịu
tội nhân quả không?
Đáp:
Trong giới Bồ tát cấm nuôi mèo, tại sao? Vì nó sát sanh.
Nay muốn nuôi con mèo để nó bắt chuột là gián tiếp sát
sanh, còn phải trả nợ mạng nữa.
Hỏi
Những vật thực cúng vong, người tu không ăn được, tại
sao?
Đáp:
Tôi thì có ăn, người ta cho tôi, tôi ăn hết.
Hỏi:
Tại sao lúc nhập Hạ, buổi trưa ăn cơm quá đường thường
cúng súc sanh, và đọc câu “Đại bàng kim xí điểu, khoáng
giả quỉ thần chúng”là như thế nào?
Đáp:
Đó gọi là thí thực, nhưng nếu nói biến một hạt gạo
thành bảy, bảy biến thành bốn mươi chín, cứ biến hoài
bằng biến thực chơn ngôn ấy phải có sức biến, nếu không
có sức biến tức trở thành lừa gạt. Vì có mấy hạt cơm
thì làm sao đủ cho người ta ăn no? Hễ biến được thì bao
nhiêu cũng đủ, dẫu biến cho con người ăn cũng được nữa.
Hỏi:
Vậy phải là người kiến tánh rồi mới biến được?
Đáp:
Không phải, người ấy phải trì giới trong sạch, phải có
sức tu và tâm lực mạnh mới biến được, vì nhất thiết
duy tâm tạo. Cho nên, nếu là người không đủ sức biến
tức thành lừa gạt.
Hỏi:
Nhân quả và nghiệp lực có giống nhau không?
Đáp:
Nghiệp do nhân quả mới có, gọi là nghiệp nhân nghiệp quả;
hễ nổi lên một niệm thiện thì tạo nghiệp thiện được
thiện quả, nổi một niệm ác là tạo ác nghiệp bị ác quả.
Có nghiệp nhân mới có nghiệp quả, nay chúng ta chưa kiến
tánh, vẫn phải theo nghiệp xoay chuyển: nổi niệm lên cũng
là nghiệp, theo niệm đi làm cũng là nghiệp, nếu không có
nghiệp thì không có luân hồi.
Hỏi:
Chúng sanh trong vòng tam giới chưa được giải thoát, các Bồ
tát và A-la-hán đã giải thoát rồi, vậy cảnh giới của
những vị này đang trụ xứ khác hay không khác?
Đáp:
Bây giờ không lo cho mình tu giải thoát mà lo cho các bậc Thánh,
cảnh giới của những bậc này đâu cần mình lo ! Dẫu cho
lo cũng đâu biết được? Công phu của mình đến chỗ nào
mới biết đến chỗ đó, Bồ tát chứng quả Sơ địa muốn
biết về Nhị địa cũng không được, chứng quả Nhị địa
rồi muốn biết cảnh giới Tam địa cũng không được. Bậc
Bồ tát đã cao hơn A-la-hán, Bích Chi Phật còn không thể biết,
huống là chưa chứng ư ! Biết có lợi ích gì? Muốn biết
thì phải lo tu.
Hỏi:
Trong Kinh Pháp Bảo Đàn có câu “Hữu tình lai hạ chủng,
gieo nhân quả ắt thành, vô tình diệc vô chủng, vô tánh diệc
vô sanh.” Vậy thế nào là vô tánh diệc vô sanh?
Đáp:
Bài kệ này là kệ truyền Pháp của Ngũ Tổ truyền cho Lục
Tổ: Hữu tình mới có thể gieo giống, tức tu thành Phật,
có nhân địa quả mới được sanh, còn vô tình thì không
phải hạt giống Phật, chẳng thể thành Phật.
Hỏi:
Vậy tại sao trong Tam tạng giáo điển lại nói: “Hữu tình
vô tình đồng viên chủng trí”?
Đáp:
Nếu không phân biệt thì hữu tình và vô tình đều là do
tâm tạo. Nhưng hữu tình mới có tâm, vô tình thì chẳng tâm;
có tâm đã thành Phật, vô tình vô tâm, lấy gì để
thành Phật? Nó chỉ sanh trưởng theo công thức mà thôi. Cũng
có người nói: Cây cỏ cũng có sinh mạng, như lấy dao chặt
cây cũng ra mủ như con người ra máu vậy; giết hữu tình
là sát sanh, đốn cây chặt cỏ cũng sát sanh, phải không?
Không
phải. Hai chữ Bồ tát tức Bồ đề Tát đõa, dịch là giác
hữu tình. Bồ tát chỉ có thể giác ngộ hữu tình, không
thể giác ngộ cho vô tình, vì vô tình không có tâm giác ngộ,
nên chẳng thể thành Phật.
Hỏi:
Vậy xin Sư phụ khai thị lại hai câu cuối của bài kệ .
Đáp:
Thật ra sanh tử đã không có sự bắt đầu tức là vô tánh
cũng vô sanh, đã nói vô thỉ vô sanh thì tánh bắt đầu từ
đâu, sanh bắt đầu từ đâu? Nếu có sanh ắt phải có sự
bắt đầu. Nên người chứng ngộ gọi là ngộ pháp vô sanh,
chứng vô sanh pháp nhẫn.
Hỏi:
Thế thì hai câu sau với hai câu trước cho thấy hai thái cực
khác nhau?
Đáp:
Do có tâm chấp thật mới thành khác. Nói “hữu tình lai hạ
chủng”chẳng phải là thật, “vô tình diệc vô chủng”cũng
chẳng phải là thật, đều là vô tánh vô sanh. Nếu hữu tình
lai hạ chủng là thật có chủng để sanh thì làm sao nói là
vô tánh diệc vô sanh? Vì có sự bắt đầu, có sự sanh khởi
rồi! Có sanh có chủng với vô sanh vô chủng chẳng khác, cũng
như nhắm mắt chiêm bao và mở mắt chiêm bao đều là chiêm
bao. Nhất thiết duy tâm tạo: hữu tình lai hạ chủng là tâm
tạo, vô tình diệc vô chủng cũng là tâm tạo, tâm tạo thì
chẳng thật, chẳng thật thì không có tánh, nên nói vô
tánh diệc vô sanh, đâu có mâu thuẫn?
Hỏi:
Người tu hành chỉ thọ bữa cơm Ngọ, có lợi ích gì
trong việc tu hành?
Đáp:
Trong mười giới của Sa-di có một điều là không ăn phi thời.
Quá giờ Ngọ cho đến rạng sáng hôm sau thuộc phi thời, uống
thì được, những thực phẩm phải nhai thì không đuợc dùng.
Đó có hai nguyên do: Một là sau khi ăn no ngồi thiền rất
khó, hai là buổi chiều nếu còn ăn thì người tại gia phải
lo tiếp một bữa cơm nữa. Theo phong tục ở Thái Lan, người
xuất gia nào cũng phải đi khất thực, kể cả ông vua xuất
gia cũng vậy. Người tại gia muốn cúng dường bao nhiêu phần
thì chuẩn bị bao nhiêu xuất, sáng sớm đem dọn ra trước
cửa, đợi các vị Tu sĩ đi qua, cúng dường xong mới dẹp
bàn. Các vị Tăng nhận được phần ăn sẽ chia làm hai:
bữa sáng một nữa và bữa trưa một nữa, hễ quá giờ Ngọ
là không ăn.
Cho
nên ở Thái Lan, Tu sĩ không được đi mua đồ ăn vào
buổi chiều, mọi người sẽ cho là phá giới, mặc dù phần
ăn đó là chuẩn bị cho ngày mai cũng không được. Những
Tu sĩ người Hoa không trì Ngọ, khi dùng bữa chiều phải đóng
cửa lại ăn lén, sợ người Thái Lan thình lình
bắt gặp cho là không giữ giới.
Hỏi:
Vấn đề trì Ngọ ở Việt Nam như thế nào? Chúng con ở chùa
nếu không ăn tối không đủ sức kinh hành.
Đáp:
Việt Nam thuộc xứ nóng, còn dễ, Trung Quốc là xứ lạnh,
mùa đông thường lạnh đến chịu không thấu, ở Chùa Cao
Mân vào mùa đông lại thường đả luôn mười thất, liên
tiếp 70 ngày, theo giới luật là phải trì Ngọ, ngài Lai Quả
thấy mấy vị Tăng trẻ lúc bào hương không đủ nhiệt năng
để chống lại rét lạnh, ảnh hưởng đến sự tu, nên ngài
cho buổi chiều dùng cháo, ấy cũng là phương tiện giúp cho
tu giải thoát.
Nếu
theo giới luật ấy là phá giới, nhưng sở dĩ trì Ngọ là
vì sự tu đến giải thoát, mà không trì Ngọ cũng vì sự
tu để đi đến giải thoát, chứ không phải phá giới. Tất
cả những giới luật chướng ngại đến sự tham thiền ngài
Lai Quả đều bãi bỏ, ấy là vì sự tu chứ chẳng phải phá
giới. Đức Phật cũng có nói “Tùy theo phương tiện có thể
sửa đổi,”
Ví
như ở Ấn Độ, Tu sĩ đi làm ruộng là phá giới, còn ở
Trung Quốc thì phong tục lại khác, Tu sĩ đi xin ăn thì người
đời cho là “con mọt gạo,” còn Tu sĩ đi trồng trọt mới
được khen ngợi. Cho nên, ở Ấn Độ làm ruộng là phá giới,
ở Trung Quốc làm ruộng là trì giới. Sở dĩ Đức Phật
chế định Giá giới vì muốn Phật pháp được hoằng
dương nơi thế gian, nếu người thế gian không chịu thì làm
sao hoằng dương? Thế nên Phật pháp đến bất cứ nơi nào
trên thế gian đều được hoan nghinh, vì theo giới luật của
Phật giáo: Nếu ai phạm luật của nhà nước, tức phạm giới
luật nhà Phật.
Hỏi:
Ni chúng chỉ được xuất gia một lần, nếu có những vị
đã ra đời rồi trở lại chùa, Thầy cho xuất gia thọ giới
lại nữa, vậy có nhân quả gì không?
Đáp:
Tức là xuất gia hai lần. Nếu bổn sư biết mà vẫn tiến
hành thì vị bổn sư đó phải chịu nhân quả.
Hỏi:
Nếu người đó dù ra đời nhưng vẫn còn độc thân, không
có lập gia đình?
Đáp:
Đó là ý của người bổn sư chứ không phải theo đúng nhà
Phật, thì bổn sư đó phải chịu nhân quả.
Hỏi:
Thế nào là làm cho thân Phật chảy máu?
Đáp:
Đốt kinh Phật, phá hủy tượng Phật là làm cho thân Phật
chảy máu.
Hỏi:
Thế nào là phá Hòa hợp Tăng?
Đáp:
Phá Hòa hợp Tăng là tội lớn. Chữ Tăng là tiếng Ấn Độ,
dịch là hòa hợp chúng, theo qui định phải từ bốn vị Tỳ-kheo
trở lên mới gọi là Tăng. Nếu dùng những hình thức như
thị phi hai đầu, khiến Tăng đoàn bị tan rã, ấy là
phá hòa hợp Tăng, phỉ báng Tăng đoàn.
Hỏi:
Thế nào là giết A-xà-lê?
Đáp:
A Xà Lê là tiếng Ấn Độ, dịch là thân giáo sư. Ví
như đi thọ giới, vị giáo thọ sư gọi là Giáo thọ A Xà
Lê, người dạy về Yết-ma gọi là Yết-ma A Xà Lê. Tu sĩ
giết hại người thường cũng còn phạm tội Ba-la-di, nếu
giết hại A-xà-lê thì tội càng nặng hơn.
Hỏi:
Nếu như tình cờ đốt hết nguyên một ổ kiến thì chúng
con cũng phải đầu thai thành từng con kiến một để trả
nợ sao? Vì con nghĩ con người lớn hơn con kiến mà !
Đáp:
Phải, vì nó cũng là chúng sanh, cũng có Phật tánh, sau này
cũng sẽ thành Phật. Chúng sanh bình đẳng, chẳng phải vấn
đề lớn hay nhỏ, ví như con voi tuy lớn như thế, cũng chỉ
là một sinh mạng .
Hỏi:
Con cái khó dạy khiến bậc cha mẹ luôn phải lo lắng phiền
não, vậy có phải là nghiệp quả kiếp trước hay kiếp này
không? Làm sao tiêu trừ nghiệp chướng?
Đáp:
Tâm của chúng ta vốn chẳng nghiệp chướng, ấy là bởi do
mình suy nghĩ nên trở thành nghiệp chướng của mình. Cái
tâm năng suy nghĩ vốn chẳng có nghiệp, nghiệp là sở suy
nghĩ của tâm, nếu tâm chẳng suy nghĩ thì không có nghiệp
chướng. Nay chúng ta tham thiền là không cho tâm suy nghĩ, chỉ
cần giữ được nghi tình không biết, nghiệp chướng chẳng
cần diệt, tự nó sẽ tiêu trừ.
Hỏi:
Con tham thiền không chú ý câu thoại đầu, có bị tẩu
hỏa nhập ma không?
Đáp:
Tẩu hỏa nhập ma phải có nhân do: Có sở cầu, có sở đắc,
có sở sợ thì có thể tẩu hỏa nhập ma. Còn đường lối
thực hành tham Tổ Sư Thiền là vô sở cầu, vô sở đắc,
vô sở sợ, tức đã phá được ngã chấp thì ma nhập ở
chỗ nào? Tham không đúng chỉ là không có công hiệu thôi.
Hỏi:
Trước khi tham Tổ Sư Thiền và dự Thiền thất thì con ăn
mặn, vậy có tội gì không?
Đáp:
Ăn mặn là nhân quả, có tu Tổ Sư Thiền hay không tu Tổ Sư
Thiền thì ăn một cục thịt vẫn phải trả một cục thịt,
giết một mạng phải trả một mạng, chứ không dính dáng
với Tổ Sư Thiền.
Hỏi:
Ý con muốn hỏi là trong thời gian dự Thiền thất, phải ăn
chay đúng bảy ngày không?
Đáp:
Mục đích tham dự Thiền thất là muốn đạt đến kiến tánh
thành Phật, giải thoát tất cả khổ, chẳng dính dáng đến
mấy vấn đề trên.
Hỏi:
Con nghĩ rằng nếu căn cứ trên vấn đề nhân quả, mà người
tu hành chỉ chú trọng tu phước không tu huệ, thì A-la-hán
còn ôm bát không. Lại nữa, trong lịch sử Thiền tông có
những vị Tổ sau khi kiến tánh rồi còn thiếu duyên
về hoằng pháp lợi sanh, phải ở ẩn không ra hoằng pháp.
Đức Phật cũng nói “Nếu người thường tạo phước hữu
lậu, khi chứng quả thì phước hữu lậu sẽ trở thành phước
vô lậu’,” sao Sư phụ lại nói không dính dáng với Tổ
Sư Thiền?
Đáp:
Mục đích tu Tổ Sư Thiền là muốn phát hiện bản tâm của
mình, khi bản tâm hiện lên gọi là kiến tánh thành Phật,
tất cả năng lực đều sẵn đủ, chứ chẳng phải do tu phước,
tu huệ mới thành.
Thiền
tông tạm gác qua, nay nói về Giáo môn: Bát Nhã Tâm Kinh nói
“Vô trí diệc vô đắc,” bài này mỗi chùa hằng ngày đều
tụng trên ba lần, nói “Tu phước, tu huệ”chỉ là
lời phương tiện để lừa gạt chúng sanh cho ham thích sự
tu, ấy cũng như Thiền tông nói”Lấy lá cây vàng gạt con
nít nín khóc”mà thôi!
Những
gì ông hỏi đều là phương tiện đối với người có
bệnh chấp nặng, còn Thiền tông thì khác, vì đó là pháp
Thiền trực tiếp, để cho những người tin được ít phí
sức, mau đạt đến tự do tự tại, tự làm chủ cho mình.
Người tu phước tu huệ dẫu cho thành công cũng chẳng thể
giải thoát, vì ngã chấp còn quá nặng; hễ ngã chấp còn,
dù tu thành cũng chỉ thành tà ma ngoại đạo. Trong Phật pháp
bất cứ Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, căn bản đều
phải phá ngã chấp, nay dùng ngã chấp để dạy người, dẫu
cho mọi người nghe theo, đâu có ích lợi gì?
Hỏi:
Nếu những người không đủ lòng tin đối với Tổ Sư Thiền
thì sao?
Đáp:
Nếu họ theo tà ma thì thành tà ma, theo ngoại đạo thành ngoại
đạo. Mà tu theo Tịnh Độ cũng được, tu theo các tông phái
của Giáo môn cũng được, đâu nhất thiết phải bắt buộc
tu theo Tổ Sư Thiền !
Hỏi:
Trong cuốn Thiền Thất Khai Thị Lục, ngài Lai Quả dạy rằng
trong quá trình dụng công có ba trạng thái xảy ra: “cực
lạ, cực quen và phi phàm phi thánh” là như thế nào?
Đáp:
Vọng tưởng đã quen từ lâu đời, nghi tình thì lạ; nghi
tình quen được một ngày thì vọng tưởng lạ đi một ngày,
đến khi nghi tình quen thuộc hết thì vọng tưởng không còn,
lúc đó là đến thoại đầu, tức sắp kiến tánh.
Hỏi:
Lúc dụng công ở Thiền đường, ví dụ khi tọa hương, nghi
tình được mười phần thì khi mở mắt chỉ còn năm,
đứng dậy đi kinh hành còn lại hai, về đến nhà chỉ còn
một, và đôi khi mất tiêu luôn?
Đáp:
Vì công phu còn lạ, còn dùng tâm phân biệt, còn có sự
biết chứ không phải là tâm không biết. Bây giờ bất cứ
biết có năm phần mười phần, cho dù biết có 100% cũng không
được, đều là biết, thoại đầu là chưa nổi niệm biết,
chưa có niệm nào hết mới là tham thiền, cứ dùng cái biết
để tham thì chẳng phải tham thiền, chỉ là niệm câu thoại,
tham thoại vĩ mà thôi.
Hỏi:
Vậy khi dụng công ở Thiền đường là có Long thần Hộ pháp,
hay từ lực của Sư phụ?
Đáp:
Tôi đã nói là “Giữ nghi tình không biết,” nay cứ muốn
tìm hiểu, muốn biết, là nghịch với nghi tình rồi. Nếu
chỉ dùng sự không biết để tu thì chỗ nào cũng như nhau,
đã không biết thì chỗ náo nhiệt cũng không biết, chỗ
vắng lặng cũng không biết.
Hỏi:
Con là người ăn chay, nhưng ở nhà nấu cơm cho con cháu ăn
thì con có dùng mỡ để làm đồ ăn. Tối đến, con chiêm
bao thấy Phật bà nói với con rằng “Hãy giữ mười hai giới
cấm.” Theo con biết, cư sĩ chỉ có ngũ giới, vậy
là thế nào?
Đáp:
Tại người có tà kiến nên mới thấy Phật bà. Phật bà
là gì? Trong đạo Phật không có Phật bà, nay thấy có Phật
bà tức có tà kiến mới thấy. Vì đó là tà nên khác hơn
ngũ giới của cư sĩ, Sa-di cũng chỉ có mười giới, tại
gia làm sao có mười hai giới !
Hỏi:
Kính bạch Sư phụ, con vừa hỏi câu thoại, vừa nhìn chỗ
không biết đó, càng nhìn càng hỏi càng thắc mắc, công phu
như vậy có đúng không?
Đáp:
Nếu công phu thật sự như vậy, giữ được nghi tình như
vậy là đúng,
Hỏi:
Con vừa tham thiền vừa xem kinh sách của Sư phụ để tăng
trưởng lòng tin tự tâm, được không?
Đáp:
Khi tin tự tâm chưa đầy đủ thì phải như vậy, nếu tin
tự tâm 100% thì không cần xem kinh sách, và nếu tin tự tâm
100% cũng chẳng còn hứng thú để xem nữa.
Hỏi:
Người tham thiền vừa đề lên câu thoại đầu là nghi tình
nổi lên liền, hay là tham một thời gian sau nghi tình mới
nổi lên?
Đáp:
Ấy là tùy theo mỗi người, có người lúc đầu chỉ là niệm
câu thoại tức tham thoại vĩ, có người vừa đề câu thoại
thì có thắc mắc, tức có nghi tình nổi lên; cũng có người
tham một thời gian rồi thình lình nghi tình bị ngưng lại
một hai ngày. Ngài Lai Quả cũng có kinh nghiệm này, nhưng không
sao.
Hỏi:
Con tham câu “Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?,” tự
hỏi thầm câu thoại, muốn biết nơi đi về khi chết nhưng
không biết được nên thắc mắc, con dùng tâm nhìn chăm chăm
cái thắc mắc như mèo rình bắt chuột, muốn soi thủng cái
cản trở không cho mình biết. Khi cái thắc mắc đó lặng
hết, con lại thầm hỏi nữa, công phu như thế có đúng không?
Đáp:
Đúng một phần nào. Tại cứ dùng cái biết để so sánh,
chẳng giữ cái không biết, mà cứ so sánh cho là mình như
thế này, thế kia. Bây giờ tham thiền cứ nhìn chỗ không
biết và hỏi câu thoại để kích thích sự không biết đó,
đừng dùng ý thức cho là cái gì cả.
Hỏi:
Sư phụ dạy phải vô sở trụ, nhưng chúng con nghe pháp của
Sư phụ nói đến đâu thì trụ đến đó, trụ hoài chẳng
bỏ được, vậy phải làm sao?
Đáp:
Cũng là do cái ngã, do muốn đắc muốn cầu, còn sợ, tức
chưa thực hành chín chữ “Vô sở đắc, vô sở cầu, vô
sở sợ”và chưa tin tự tâm, hoặc tin tự tâm chưa đầy
đủ, nên còn muốn tìm kiếm ở ngoài.
Hỏi:
Niết bàn của Tiểu thừa có phải tới vô thỉ vô minh không?
Đáp:
Phải.
Hỏi:
Tại sao ở nơi vô thỉ vô minh lại sanh ra nhất niệm vô minh?
Đáp:
Vô thỉ vô minh bị kích thích, nổi lên một niệm, gọi là
nhất niệm vô minh.Tiểu thừa dẹp được nhất niệm vô minh
thì trở lại vô thỉ vô minh. Nếu không phá được vô thỉ
vô minh, cứ trở đi trở lại , hễ bị kích thích lại nổi
lên nhất niệm vô minh, dẹp được nhất niệm vô minh lại
trở về vô thỉ vô minh. Trong Đạo giáo Trung Quốc nói “Vô
cực”tức vô thỉ vô minh, nói từ vô cực nổi lên một
niệm gọi là Thái cực, từ Thái cực sanh lưỡng nghi tức
âm dương. Triết học Phương Đông và Triết học Phương Tây
cũng đến được vô thỉ vô minh: Triết học phương Tây thì
dùng ý thức suy nghĩ đến Vô thỉ vô minh, còn triết học
phương Đông như Lão Tử, Trang Tử dùng sự tu, có kinh nghiệm
trực tiếp chứ chẳng phải dùng suy luận để đến vô thỉ
vô minh, nên hơn Triết học phương Tây. Nhưng vì cho chỗ đó
là cuối cùng tức là Niết Bàn.
Hỏi:
Vậy từ chỗ nào kích thích để nổi lên nhất niệm vô minh?
Đáp:
Thấy cái đẹp liền nổi niệm ham thích, biết cái xấu liền
nổi niệm chê bai, ấy là kích thích. Mắt thấy tai nghe đều
có kích thích, ngửi, nếm, xúc đều có kích thích, tức lục
căn tiếp xúc lục trần đều có kích thích, tai thì muốn
nghe lời khen ngợi chứ không muốn nghe tiếng chửi mắng chê
bai, hễ gặp người chửi mắng liền tức giận, đó là kích
thích.
Hỏi:
Vậy tập khí từ đâu ra?
Đáp:
Tập khí tức thói quen: Ví như xưa kia chưa có đèn điện,
mọi người quen dùng đèn dầu, nay đã quen dùng đèn điện,
thỉnh thoảng cúp điện một buổi liền thấy bực bội, ấy
là tập khí khiến thành kích thích. Bây giờ chúng ta tu là
muốn dứt hết tất cả tập khí.
Hỏi:
Đã nói là tâm thì tại sao lại bị kích thích?
Đáp:
Tại có tâm chấp.
Hỏi:
Con tham câu “Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?,”
con nhìn vào chỗ không biết, chăm chăm như mèo rình bắt chuột,
công phu như thế phải không?
Đáp:
Phải thì phải, nhưng không cần nổi niệm biết như mèo rình
chuột.
Hỏi:
Người hành giả tham Tổ Sư Thiền có được chư Thiên hoặc
ai đó hộ trì không?
Đáp:
Trong các Kinh đều nói đến Long thiên Hộ pháp, những người
chơn tu chánh pháp đều được Long thiên Hộ pháp ủng hộ,
chứ không phải chỉ có người tham thiền.
Hỏi:
Trong cuốn Nghiên Cứu Kinh Lăng Già của Thiền sư Suzuki nói:”Bồ
tát muốn thành Phật phải nhờ Phật gia trì,” như vậy đúng
không?
Đáp:
Không đúng. Vì Suzuki là dùng tri giải, dùng kiến thức của
ý thức. Suzuki có trước tác cuốn Thiền Luận, chỉ hai chữ
“Thiền Luận”đã là không đúng rồi. Tổ Sư Thiền không
thể luận, có luận thì chẳng phải Tổ Sư Thiền. Ngã chấp
của ông ấy còn quá nặng, tại sao biết? Nếu là người
thật sự kiến tánh thì không cần người biết, không muốn
người ta biết, còn Suzuki lại đi khắp thiên hạ để khoe
tài, đem những lời nói của Phật Thích Ca đã bỏ vào thùng
rác, lượm lên cho là quí báu để đi khoe khoang, cho những
lời đó không phải của Phật Thích Ca mà là của y. Tuy ngã
chấp rất nặng, nhưng vì ông ấy giải thích công án rất
có lý, nên giới trí thức rất khâm phục, cho ông ấy là
đệ nhất Thiền sư trên thế giới.
Hỏi:
Hồi hướng là gì? Phóng sanh rồi đem công đức hồi hướng
cho người khác được không? Gia trì luật là gì? Và Phật
gia trì cho ai? Bằng cách nào?
Đáp:
Thập Hồi Hướng là của Giáo môn, dùng để phá ngã chấp,
thời nay đệ tử của Tam bảo lại mượn hai chữ Hồi hướng
để tăng cường ngã chấp, cho làm việc lành đó là của
tôi, tôi muốn hồi hướng cho ai cũng được: Người này là
thân nhân của tôi nên tôi hồi hướng; người kia tốt với
tôi nên tôi hồi hướng… tức tăng thêm ngã chấp, ấy là
nghịch với ý của Phật. Còn Đức Phật dạy về Thập Hồi
Hướng là để phá hết ngã chấp rồi lên Sơ Địa.
Về
sự phóng sanh: Phóng sanh tự nhiên sẽ được phước đức,
sau này những con thú đó sẽ báo ơn lại, chứ không cần
hồi hướng. Bố thí cũng vậy. Nay người ta muốn phóng sanh,
đi mua xong đem về chùa, tụng kinh tụng chú rồi mới thả,
mấy trăm con chim nhốt chặt trong lồng, đến khi tụng kinh
xong muốn phóng thì đã chết hết một số. Lại nữa, có
người sợ đến ngày phóng sanh không có chim, phải đi đặt
trước, tức mượn người ta đi bắt, bắt xong rồi thả,
cho nên đó không đúng với ý nghĩa phóng sanh. Phóng sanh là
khi gặp ở ngoài đường liền mua liền thả, hoặc chỉ cần
niệm Phật hay đọc tam qui y, không cần niệm chú, vì dù nó
có nghe cũng đâu biết là gì?
Còn
nói đến gia trì: không thể gia trì được. Nếu Phật có
thể gia trì cho mình thì không có nhân quả, tức là không
trồng bí mà xin Phật gia trì cho mình được quả bí, không
nhân mà được quả. Lại nữa, như trồng đậu mà xin gia
trì được quả bí, ấy là không đúng nhân quả. Làm thiện
được phước quả, làm ác bị khổ quả, bây giờ làm ác
rồi xin Phật gia trì cho phước quả sao? Cho nên, nếu gia trì
được là không có nhân quả.
Tất
cả đều do tâm mình tự tạo, chứ chẳng thể do người khác
tạo cho mình, nên tôi thường dùng ăn cơm để thí dụ: Ai
ăn nấy no, cha mẹ dù thương con thế nào cũng không thể ăn
no giùm con, con dù hiếu thảo đến đâu cũng không thể ăn
no giùm cha mẹ.