CHƯƠNG
II
BÌNH
LUẬN CẢNH NGỮ
CỦA
CỔ NHÂN KHAI THỊ
Ngài
Triệu Châu nói: Ba mươi năm chẳng tạp dụng tâm, trừ mặc
áo ăn cơm là tạp dụng tâm.
BÌNH:
Chẳng phải chẳng dụng tâm mà là chẳng dụng tạp tâm, chỗ
gọi là: “Để tâm một chỗ không việc nào chẳng xong”.
٭
Ngài
Triệu Châu nói: Ông chỉ cần tham cứu lý đạo, ngồi khán
hai ba mươi năm, nếu chẳng hội, cứ chặt đầu lão Tăng
đi!
BÌNH:
Triệu Châu sao gấp quá vậy! Mặc dầu như thế, năm tháng
dài tìm một người hai ba mươi năm tâm không đổi khác cũng
khó có.
٭
Ngài
Triệu Châu nói: Lão Tăng lúc mười tám tuổi đã biết phá
sạch gia sản.
Lại
nói: Ta thuở xưa bị mười hai thời sai sử, hiện nay sai sử
được mười hai thời.
BÌNH:
Ở trên gia sản làm kế sống thì bị mười hai thời sai sử.
Phá được gia sản thì sai sử được mười hai thời. Chợt
có một vị Tăng hỏi: “Cái gì là gia sản?” Bác Sơn tôi
đáp: “Cởi bỏ cái đảy da đi, ta sẽ nói cho ông nghe”.
٭
Ngài
Triệu Châu nói: Nếu ông một đời chẳng rời Tòng lâm, chẳng
nói năm năm, mười năm, không có người gọi ông làm người
câm, về sau, Phật cũng không làm gì được ông.
BÌNH:
“Chẳng nói” tức là chẳng tạp dụng tâm. Nếu chẳng nhằm
dưới y áo tham cứu lý thì rất cách xa vậy.
٭
Thiên
Thai Thiều Quốc Sư nói: Dẫu cho đáp thoại, biện luận như
sông dài cũng chỉ thành cái tri kiến điên đảo. Nếu chỉ
quý đáp thoại, biện luận thì có gì khó đâu, chỉ e vô
ích đối với người, trở lại thành tự dối.
BÌNH:
Người bây giờ học được một bụng, bình thường hỏi
đi đáp lại, đem Phật pháp làm trò đùa, chẳng những vô
ích, phần nhiều thành tội lỗi, mà nay phóng túng ngữ ngôn
rỗng tuếch cho là tông thừa. Xem lời của cổ nhân nói, da
mặt dày bao nhiêu!
٭
Quốc
Sư nói: Sở học trước kia của các Thượng tọa biện luận,
vấn đáp, ghi nhớ, nói đạo lý rất nhiều, vì sao cái tâm
nghi chẳng dứt, nghe nói phương tiện đặc biệt của cổ
nhân mà chẳng hội, chỉ vì nhiều hư dối mà ít chân thật.
BÌNH:
Biện luận, ghi nhớ đều thuộc về duyên lự, gốc sanh tử
chẳng chặt đứt, làm sao hội được ý của cổ nhân, vì
thế nói: Lời huyền diệu kẹt nơi đầu tâm, trở lại thành
ra duyên lự; lý chân thật ở trước mắt lại trở thành
cảnh danh tướng.
٭
Quốc
Sư nói: Thượng tọa chi bằng từ dưới gót chân nhất thời
nhìn rõ xem đó là đạo lý gì, có bao nhiêu pháp môn làm Thượng
tọa nghi, cầu giải thích mới biết sở học trước kia chỉ
là cội nguồn sanh tử, làm kế sống trong ngũ ấm, thập bát
giới, vì thế cổ nhân nói: “Chẳng thoát ra kiến, văn, như
mò trăng đáy nước”.
BÌNH:
Kiến, văn, duyên lự, người nào chẳng có, song cần phải
có sự chuyển biến lớn lao mới được. Nếu chẳng cùng
với công phu tương ưng, xuyên suốt qua cung thủy tinh thì trọn
chẳng dính dáng. Cổ Đức nói: “Tri giải nhập vào tâm như
đổ dầu vào bún không làm sao lấy ra được, phải nên thận
trọng”.
٭
Thiền
sư Thiệu Nham nói: Này chư nhân giả! Hôm nay Quốc chủ đến
thỉnh chỉ muốn chư nhân giả minh tâm, ngoài ra không có đạo
lý nào khác. Chư nhân giả có minh tâm chưa? Phải chăng là
lúc ngữ ngôn nói cười, lúc nín thinh im lặng, lúc tham tầm
Thiện tri thức, lúc đạo bạn thương lượng, lúc du ngoạn
sơn thủy, lúc tai mắt bặt dứt đối cảnh là tâm của ông
chăng? Những kiến giải như trên đều là chỗ chấp của
ma mị, đâu phải minh tâm?
BÌNH:
Nói chẳng phải, nín chẳng phải, thấy nghe chẳng phải, lìa
thấy nghe cũng chẳng phải, làm sao hội? Chỉ cần thiền giả
chớ nắm bắt bậy bạ là tốt.
٭
Ngài
Thiệu Nam nói: Còn có một bọn người lìa vọng tưởng trong
thân ra, riêng nhận mười phương thế giới bao hàm nhật nguyệt,
thái hư là bổn lai chân tâm, đây cũng là chỗ chấp của
ngoại đạo, chứ chẳng phải minh tâm.
BÌNH:
Đây gọi là Thiên Không ngoại đạo, lại đâu có được
thân tâm nhứt như, ngoài thân không thừa ư? Chính người
tham thiền ngày nay chẳng từng gặp Thiện tri thức, tự mình
làm chủ tể, phần nhiều rơi vào kiến chấp này.
٭
Lại
nữa, chư nhân giả muốn hội chăng? Tâm không “Phải”,
cũng không “Chẳng phải”. Ông tính chấp nhận có thể được
sao?
BÌNH:
Hai thứ trước đều là bệnh, lỗi ở tại hai chữ chấp
nhận. Đoạn trước là thuốc, chỉ cần không chấp nhận
là “Phải” và “Chẳng phải” thì bệnh liền lành.
٭
Thiền
sư Thoại Lộc nói: Đại phàm, tham học vị tất học vấn
thoại là tham học, vị tất học đại ngữ là tham học, vĩ
tất học biệt ngữ là tham học, vị tất hiểu rõ ngôn ngữ
kỳ đặc trong kinh luận là tham học. Nếu tham học như vậy,
mặc cho ông thông đạt đến mức nào đi nữa, đối với
Phật pháp nếu không thấy rõ ràng (kiến tánh) thì gọi đó
là bọn Càn Huệ. Đâu chẳng nghe: “Thông minh chẳng địch
nổi sanh tử, càn huệ há thoát khỏi cái khổ luân hồi”.
BÌNH:
Người thời nay đều như vậy, đúng là bỏ vàng ròng, lượm
ngói gạch; chẳng chịu chân thật tham cứu, phóng túng tam
muội đầu mồm. Như Hương Nghiêm, hỏi một đáp mười, hỏi
mười đáp trăm, chẳng phải người thông đạt sao, mà ở
trong Phật pháp không thấy gì cả, chỉ một câu “Trước
khi cha mẹ chưa sanh”, không biết phải làm thế nào. Bọn
học ngữ ngày nay hãy nói xem giúp được cái gì?
٭
Thiền
sư Thoại Lộc nói: Nếu là tham học, cần phải chân thật
tham học mới được, lúc đi thì đi tham, lúc đứng thì đứng
tham, lúc ngồi thì ngồi tham, lúc ngủ cũng tham, lúc nói cũng
tham, lúc nín cũng tham, lúc đang làm công việc cũng tham. Lúc
nào cũng tham như thế, hãy nói: Người tham là ai? Cái lời
tham cái lời gì? Đến chỗ này, cần phải tự có chỗ minh
bạch mới được. Nếu chẳng như vậy, gọi là bọn vội
vàng hấp tấp ắt không có chỉ thú cứu cánh.
BÌNH:
Cần nhất là phải tham cứu “Cái lời tham là gì? Người
tham là ai?” Nếu chẳng tham cứu lời đó, chẳng biết người
tham đó, ấy là luống qua vô ích, chẳng phải tham học.
٭
Ngài
Ba Tiêu nói: Như người đi đường, chợt gặp trước mặt
vực âu muôn trượng, sau lưng lửa cháy gấp, hai bên là rừng
gai góc. Nếu chạy về phía trước thì rơi xuống vực sâu,
nếu lui về phía sau thì bị lửa đốt cháy, nếu chạy băng
ra hai bên thì bị rừng gai góc làm chướng ngại. Ngay lúc
ấy, làm sao khỏi được? Nếu khỏi được là có con đường
xuất thân, nếu khỏi chẳng được thì mất mạng.
BÌNH:
Cần phải chẳng màng nguy vong mới được cái chỗ triệt
đầu, vừa do dự ắt tán thân mất mạng. Lời này của ngài
Ba Tiêu rất khẩn yếu cho việc tham thiền. Người học phần
nhiều cầu tri giải rơi vào trong hang ổ huyền ảo, chẳng
lưu ý đến lời này thì luống uổng một đời.
٭
Ngài
Vân Môn nói: Có một bọn cướp giựt đồ hư giả, lượm
đàm giải của người, ghi nhớ được một mớ, một gánh
đồ tạp nhạp, đi khắp nơi khua môi lừa, múa mỏ ngựa,
nói năng lưu lót khoe rằng ta biết cách hỏi từ Thiện tri
thức này đến Thiện tri thức khác. Dẫu cho ông từ sáng
hỏi đến tối, trải qua nhiều kiếp thế ấy có từng mộng
thấy chăng?
BÌNH:
Ngài Vân Môn đương thời chính là mắng một hai người trong
số mười người thôi. Ngày nay phần đông đều như thế,
chưa từng nhằm dưới nạp y thể cứu. Hoặc giả có ngồi
trong chốc lát chẳng hôn trầm cũng tán loạn, bởi vì một
bụng tri giải mửa chẳng ra, cắt chẳng đứt. Nếu là người
linh lợi, vừa nghe nói thế ấy, phải biết hổ thẹn mới
được.
٭
Ngài
Vân Môn dạy chúng: Các huynh đệ chớ nên dể duôi khiến
thời gian trôi qua vô ích, rất cần phải kỹ lưỡng. Người
xưa có nhiều phương tiện để dạy nhau; như ngài Tuyết Phong
nói: “Cả đại địa là tự kỷ của ông”; ngài Giáp Sơn
nói: “Trên đầu ngọn cỏ tiến thủ lão Tăng, trong chợ
ồn náo biết được Thiên tử”; ngài Lạc Phổ nói: “Một
hai bụi vừa khởi dậy, đại địa toàn thâu, một đầu sợi
lông hiện toàn thân sư tử”. Đều là chỗ ông nắm lấy,
tham tới tham lui, lâu ngày chầy tháng tự nhiên có chỗ vào.
BÌNH:
Ba đoạn ngữ lục này dắt ông vào cửa, song điều thiết
yếu là ông phải chịu vào bằng không, thì đều ở trong
hang quỷ làm kế sống. Ông nếu vào được cửa, tự nhiên
xong xuôi, chẳng thấy có sơn hà đại địa, chẳng thấy có
tự kỷ, tiến (ngộ) cũng chẳng tiến (chẳng ngộ) là lời
nói hai đầu.
٭
Ngài
Vân Môn nói: Ánh sáng chẳng thấu thoát, có hai thứ bệnh:
Một là tất cả chỗ chẳng rõ, trước mắt có vật. Hai là
thấu được tất cả pháp không, mơ hồ in tuồng có vật
cũng là ánh sáng chẳng thấu thoát.
Lại,
Phật thân cũng có hai thứ bệnh: Một là được đến Pháp
thân, vì pháp chấp chưa quên, kiến giải của chính mình hãy
còn, nên chỉ ngồi bênh cạnh Pháp thân. Hai là dẫu cho thấu
được Pháp thân rồi thân chẳng thể buông bỏ kiểm điểm
kỹ lưỡng lại có chút khí tức gì cũng là bệnh.
BÌNH:
Bệnh này toàn do bên cảnh lượng làm kế sống, chẳng từng
tọa đoạn, chẳng từng thấu thoát, chẳng từng được chuyển
thân nhả khí. Chỗ này nếu riêng sanh niệm khác ắt thành
ma tác quái.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Bồ tát học Bát nhã cần phải có đủ đại
căn khí, có đại trí huệ thì mới được. Nếu có trí huệ
thì hiện tại liền được giải thoát.
BÌNH:
Người đại căn khi một nghe ngàn ngộ được đại tổng
trì. Nói hai chữ “giải thoát” đã là lời phương tiện.
Vì sao? Vì từ xưa đến nay chẳng từng trói buộc.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Nếu là người căn cơ chậm lụt cần phải
siêng năng khắc khổ ngày đêm quên nhọc, bỏ ngủ, quên ăn
như đưa ma mẹ, cấp thiết như thế suốt cả một đời đi,
rồi được Thiện tri thức giúp đỡ thật sự khắc cốt
tham cứu, thì lo gì chẳng được thành tựu, huống ngày nay
ai là người có đủ tư cách học.
BÌNH:
Người khắp quả đất này đều có đủ tư cách học, chỉ
trừ người vô tri, chẳng đủ lòng tin, dẫu cho đức Phật
Thích Ca phóng quang động địa cũng không giúp ích được
người ấy.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Này nhân giả! Chớ nên chỉ ghi nhớ ngôn ngữ
giống in như niệm thần chú, đáp bước hướng tới trước
miệng niệm lâm râm, bị người nắm đứng lại cật vấn,
bí lối, bèn nổi giận nói: “Hòa thượng chẳng vì tôi đáp
thoại”. Học như thế thì rất khổ biết không?
BÌNH:
Ghi nhớ ngôn ngữ, bị gọi là tạp độc nhập tâm, chướng
ngại chánh tri kiến. Người đọc sách ở thế gian ghi nhớ
văn tự nhiều còn chẳng thể dung hóa, hà huống là người
tham cứu pháp xuất thế mà chịu ăn đàm dãi của người
khác ư!
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Có một bọn Hòa thượng ngồi thiền sàng xưng
là Thiện tri thức, được hỏi đến thì lắc thân động
tay, mở mắt lè lưỡi nhìn sửng.
BÌNH:
Bọn người này khắp thân là ma, toàn thân là bệnh, đến
ngày ba mươi tháng chạp không khỏi bối rối.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Lại có một bọn nói cái linh đài trí tánh
sáng rỡ linh diệu hay thấy hay nghe, nhầm vào trong thân năm
uẩn làm chủ tể. Thế ấy mà làm Thiện tri thức thật là
lừa gạt người.
Biết
chăng, ta nay hỏi ông: Ông nếu nhận cái sáng rỡ linh diệu
ấy là cái chân thật của ông, tại sao lúc ngủ quên chẳng
còn sáng suốt linh diệu nữa. Nếu lúc ngủ quên chẳng phải,
thì tại sao có lúc sáng rỡ. Ông có hội chăng? Đây gọi
là nhận giặc làm con, là gốc sanh tử, là duyên khí của
vọng tưởng.
BÌNH:
Đây là người đùa tinh hồn, lúc ngủ quên đã làm chủ chẳng
được, thì lúc sanh tử đến làm sao đối phó, cả một đời
lầm lẫn, chẳng những lừa gạt người, mà cũng là tự dối
gạt mình.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Ông nay muốn được ra khỏi cái thân do năm
uẩn chủ tể kia, chỉ cần biết cái thể kim cương bí mật
của ông. Cổ nhân nói với ông: “Viên thành chánh biến trùm
khắp sa giới”.
BÌNH:
Thể kim cương bí mật tức là “Viên thành chánh biến trùm
khắp sa giới”. Nói rõ ràng với ông rằng: “Cần phải
toàn thân ngộ nhập mới được”.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Phật đạo thênh thang không có lộ trình, không
cửa là cửa giải thoát, không ý là đạo nhân, chẳng thuộc
ba thời gian quá khứ, vị lai, hiện tại, cho nên chẳng thể
thăng trầm. Hễ kiến lập thì trái với lý chân vì chẳng
thuộc về tạo tác.
BÌNH:
Nếu hội được ý này, chẳng phí mảy may công hạnh, lập
tức thành Phật, hãy còn dư một chữ “thành”.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Động ắt khởi cái gốc sanh tử. Tịnh ắt
say đắm trong sự hôm trầm. Động tịnh đều bặt thì rơi
vào không vong. Động tịnh đều thấu nhận thì mập mờ lầm
lạc Phật tánh.
BÌNH:
Người tu hành phần nhiều chán động cầu tịnh, tịnh lâu
nghĩ lại muốn động. Cần phải nhướng lông mày đập vỡ
hang ổ động tịnh mới là chỗ đạo nhân dụng tâm.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Cần phải đối trần đối cảnh như cây khô,
tro lạnh, gặp lúc ứng dụng chẳng mất cơ nghi, như gương
soi vật chẳng loạn ánh sáng, như chim bay trong hư không chẳng
lẫn lộn không, sắc.
BÌNH:
Như cây khô tro lạnh, bởi vô tâm. Chẳng mất cơ nghi, bởi
ứng vật. Há cùng với người “bặt tâm, diệt trí” như
nhau ư? Chẳng loạn ánh sáng, chẳng lẫn lộn không, sắc…
tự nó chẳng làm gì đến mình.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Sở dĩ mười phương bóng dáng, ba cõi tuyệt
hành tung, chẳng rơi vào hai đầu, chẳng trụ nơi chặng giữa,
trong ấy còn một mảy lông chẳng hết tức là quyến thuộc
ma vương; trước câu, sau câu, là chỗ khó của người học.
Vì thế một câu giữa trời tâm muôn cửa dứt hẳn sanh tử.
BÌNH:
Lời này quý ở chỗ “Một câu giữa trời tám muôn cửa”,
cả mười phương thế giới không một mảy lông hở trống,
không một mảy lông bóng dáng, không một mảy lông dấu vết,
đáng gọi là xán lạn, hoạt bát; Phật Tổ, chúng sanh không
có chỗ đặt để, hai chữ sanh tử là ai nói như thế.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Dẫu cho như bóng trăng dưới đầm nước thu
trong trẻo, chạm đến nổi sóng chẳng tan, như tiếng chuông
giữa đêm trường tịch mịch, động đến âm vang không thiếu,
vẫn còn là việc bên bờ sanh tử.
BÌNH:
Người tọa thiền muôn người không có một người đến
chỗ này. Dẫu cho đến được đi nữa cũng còn là việc bên
bờ sanh tử, cần phải tự tìm con đường sống mới được.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Chỗ tu hành của đạo nhân như lửa đốt tan
băng, trọn không trở lại thành băng nữa; mũi tên đã lìa
dây cung, không trở lại nữa. Vì thế, củi lồng chẳng chịu
ở, kêu gọi chẳng quay đầu, cổ thánh chẳng an bài, đến
nay không xứ sở.
BÌNH:
Tâm đạo nhân phải nên như thế. Chỉ cần đem đoạn này,
thực hành cho kỹ, tương lai tự nhiên ít phí sức, dính vào
một chút chẳng được. Nếu đem thức tâm suy lý, thì chính
đó là “Nhân địa chẳng chân, đưa đến kết quả cong queo”.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Người thời nay chẳng nghĩ đạo lý trong ấy,
dối tự lăn vào trần lao thế sự, chỗ nào cũng đắm nhiễm,
nơi nào cũng trói buộc. Dẫu ngộ đi nữa ắt trần cảnh
rộn ràng, danh tướng chẳng thật.
BÌNH:
Chỗ nào cũng đắm nhiễm, nơi nào cũng trói buộc là do tâm
tham cứu chẳng thiết tha, mạng căn chẳng cắt đứt, chẳng
chịu chết đi. Người chân chánh tham học, như đi ngang qua
xứ có độc sâu cổ, chẳng được nếm một giọt nước,
mới được chỗ triệt đầu.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Toan muốn ngưng tâm thức niệm, nhiếp sự về
không, nắm mắt che con ngươi, vừa có niệm khởi mau mau phá
trừ, vọng tưởng vi tế vừa sanh liền đè bẹp. Kiến giải
như thế là rơi vào ngoại đạo không vong, người chết mà
hồn chưa tan, mờ mờ mịt mịt vô giác vô tri như bị tai
ăn cắp chuông, luống tự dối gạt.
BÌNH:
Bệnh ở tại chẳng khởi nghi tình, chẳng tham cứu công án,
chẳng chịu toàn thân nhập lý, chỉ đem thức tâm đè nén.
Dẫu cho lóng lặng đi nữa mà rốt cuộc mạng căn chưa cắt
đứt thì cũng chẳng phải là người tham thiền.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Nhân giả chớ nên lưu luyến lưới ái sanh tử
mà bị nghiệp ác lôi đi không có phần tự do. Dẫu cho ông
luyện được thân tâm đồng hư không đi nữa, dẫu cho ông
đến chỗ tinh minh lóng lặng chẳng lay động, cũng chẳng
ra ngoài thức ấm. Cổ nhân gọi nó như dòng nước chảy nhanh,
người chẳng biết lầm cho nó là yên lặng.
BÌNH:
Thức tâm chẳng đoạn dứt, dẫu cho luyện được thân tâm
như hư không, rốt cuộc cũng bị nghiệp ác lôi đi. Chỗ tinh
minh lóng lặng chẳng lay động, chính là thức ấm, thì làm
sao khỏi được sanh tử. Nói tóm lại, chẳng tham cứu thấu
suốt đại lý thì đều là hư vọng.
٭
Ngài
Huyền Sa nói: Tu hành thế ấy ra khỏi luân hồi chẳng được,
thì y như thuở trước bị luân hồi kéo đi. Vì thế nói:
“Các hành vô thường” ngay cả công quả của Tam thừa,
như vậy thật là đáng sợ. Nếu không có con mắt đạo chẳng
cứu cánh.
BÌNH:
Tóm lại, mấy pháp ngữ ở trên đều chẳng phải cứu cánh.
Người tu hạnh Tam thừa dẫu hành lục độ vạn hạnh cũng
đều là pháp sanh diệt, đối với thật tế lý địa chẳng
dính dáng gì!
٭
Ngài
Kính Sơn nói: Hiện nay có một bọn ngoại đạo mắt mình
chẳng sáng, chỉ lo dạy người chết đi một cách ngoan cố,
thôi đi, nghĩ đi. Nếu thôi nghĩ như thế, đến ngàn Phật
ra đời cũng thôi nghĩ cũng chẳng được, càng khiến cho tâm
mê muội mà thôi.
BÌNH:
Chẳng chịu khởi nghi tình thì mạng căn chẳng cắt đứt.
Mạng căn đã chẳng cắt đứt thì thôi cũng chẳng được,
nghỉ cũng chẳng được. Chính hai chữ “thôi nghỉ” này
là cội gốc sanh tử rồi. Dẫu cho trăm kiếp ngàn đời trọn
không có ngày xong việc.
٭
Ngài
Kính Sơn nói: Lại có một bọn người dạy người tùy duyên
quán đời vong tình mặc chiếu, chiếu tới chiếu lui, đới
qua đới lại, càng thêm mê muội không có ngày xong.
BÌNH:
Đã có cái tâm năng đới, cảnh sở chiếu; năng sở đối
lập, chẳng phải vọng là gì? Nếu lấy vọng tâm làm tham
cứu thì đối với tự tâm chẳng được tự tại. Chỉ cần
tọa đoạn hai đầu, năng sở chẳng lập ắt cái vật ngăn
trong lồng ngực bị vỡ tan như thùng lủng đáy vậy.
٭
Ngài
Kính Sơn nói: Lại có một bọn người dạy người chớ lo
việc gì cả, chỉ cần thế ấy thôi đi, thôi được đến
chỗ tình niệm chẳng sanh, đến lúc ấy chẳng phải mờ mịt
vô tri mà tỉnh tỉnh rõ ràng. Bọn này rất độc hại làm
mù mắt người, chẳng phải là việc nhỏ.
BÌNH:
Dẫu đến chỗ tỉnh tỉnh rõ ràng, đây là pháp đối đãi
với tịch, chẳng phải tham cứu. Nếu tham cứu thì muốn phát
minh ngay đại sự. Đã chẳng như vậy, há chẳng phải là
kẻ độc hại sao?
٭
Ngài
Kính Sơn nói: Chẳng luận là bậc tiền bối tham cứu đã
lâu, nếu muốn thật sự tịnh thì cần phải cái tâm sanh
tử này vỡ. Và chẳng chấp trước công phu. Nếu tâm sanh
tử vỡ thì tự nhiên được tịnh.
BÌNH:
Nghi tình phát khởi được thì tâm sanh tử ngưng kết lại
một chỗ. Nghi tình vỡ ắt tâm sanh tử vỡ. Ở chỗ vỡ này,
cầu tướng động trọn chẳng thể được.