CHƯƠNG
I
CẢNH
NGỮ KHAI THỊ
NGƯỜI
MỚI PHÁT TÂM THAM THIỀN
Tham
thiền đầu tiên cần phải phát tâm phá vỡ sanh tử cho vững
chắc, thấy rõ thế giới, thân tâm thảy đều là giả duyên
không có chủ tể. Nếu chẳng phát minh cái lý vĩ đại sẵn
có thì tâm sanh tử chẳng vỡ. Tâm sanh tử đã chẳng vỡ
thì làm sao trừ được con quỷ vô thường giết người trong
mỗi niệm chẳng dừng. Hãy đem một niệm này làm viên ngói
gõ cửa, tương tợ như ngồi trong đống lửa lớn muốn cầu
thoát ra, đi bậy một bước chẳng được, dừng lại một
bước chẳng được, sanh một niệm khác chẳng được, mong
người khác cứu chẳng được. Ngay lúc ấy chỉ cần chẳng
màng đến lửa lớn, chẳng màng đến thân mạng, chẳng mong
người cứu, chẳng sanh niệm khác, chẳng chịu tạm dừng,
chạy thẳng đến trước, chạy được thoát mới là tay tài
giỏi.
Tham
thiền quý ở chỗ khởi nghi tình. Cái gì là nghi tình?
Như sanh chẳng biết từ đâu đến, chẳng được chẳng nghi
chỗ đến. Tử chẳng biết đi về đâu, chẳng thể chẳng
nghi chỗ đi. Cửa ải sanh tử chẳng phá vỡ ắt nghi tình
liền phát, treo ở trên lông mày, buông cũng chẳng xuống đuổi
cũng chẳng đi. Bỗng một mai đập vỡ khối nghi, hai chữ
sanh tử thành cái đồ tầm thường trong nhà. Cổ Đức nói:
“Nghi lớn ngộ lớn, nghi nhỏ ngộ nhỏ, chẳng nghi chẳng
ngộ”.
Tham
thiền đem chữ tử
dán trên trán, coi cái thân tâm máu thịt này như đã chết,
chỉ có một niệm muốn tham cứu hiện tiền. Một niệm này
như thanh Ỷ thiên trường kiếm, nếu chạm nhằm lưỡi bén
thì chẳng thể được, nếu bỏ bê để lụt ắt là kiếm
ấy từ lâu không dùng.
Tham
thiền sợ nhất là say đắm cảnh tịnh; cảnh tịnh khiến
người ta kẹt trong không tịch mà chẳng hay chẳng biết. Cảnh
động người ta chán, cảnh tịnh phần nhiều chẳng sanh chán,
Do vì người tu hành luôn ở trong chỗ ồn ào, nên một khi
được với cảnh tịnh tương ưng như ăn kẹo ăn mật, như
người mệt mỏi lâu thích ngủ, đâu thể tự biết ư?
Ngoại
đạo khiến thân tâm đoạn diệt hóa làm đá cứng cũng từ
cảnh tịnh mà vào. Bởi vì lâu ngày chầy tháng không đó
lại không, tịch đó lại tịch, rơi vào vô tri cùng với gỗ
đá đâu khác. Chúng ta hoặc ở nơi cảnh tịnh chỉ muốn
phát minh một đoạn đại sự dưới sự y áo (kiến tánh),
chẳng biết ở tại tịnh cảnh mới được, ở trong đại
sự cầu tướng tịnh ấy trọn chẳng thể được, đây gọi
là được vậy (kiến tánh rồi thì động tịnh đều chẳng
sanh).
Tham
thiền phải ở trong đó mạnh dạn tiến tới, chẳng gần
gũi nhân tình. Nếu theo tình ứng đối thì công phu hạ thủ
chẳng tiến, chẳng những hạ thủ chẳng tiến mà lâu ngày
chầy tháng ắt chắc chắn trở thành ông thầy chạy theo dòng
thế tục.
Người
tham thiền ngước lên chẳng thấy trời, cúi xuống chẳng
thấy đất, thấy núi chẳng phải là núi, thấy nước chẳng
phải là nước, đi chẳng biết đi, ngồi chẳng biết ngồi,
ở giữa ngàn người muôn người chẳng thấy có một người,
khắp thân trong ngoài chỉ là một khối nghi, có thể nói là
khuấy đục thế giới, khối nghi chẳng vỡ chẳng thể thôi
nghỉ. Đây là công phu khẩn yếu.
Thế
nào là khuấy đục thế giới? Cái lý vĩ đại vốn sẵn có
từ vô lượng kiếp đến nay chìm chìm lặng lặng chưa từng
động đến, cần phải chính đương nhân phấn chấn tinh thần,
xoay trời chuyển đất, tự có một đoạn thọ dụng ba đào
dậy sóng.
Tham
thiền chẳng sợ chết chẳng được sống, mà chỉ sống chẳng
được chết. Nếu quả cùng với nghi tình kết lại
một chỗ, thì cảnh động chẳng đợi khiển trừ mà tự
trừ, vọng tâm chẳng đợi tịnh mà tự tịnh, cửa sáu căn
tự nhiên rỗng rang khoát đạt, điểm nhằm liền đến, gọi
tới liền ứng, lo gì chẳng sống ư?
Công
phu tham thiền được tiến, như mang gánh nặng ngàn cân buông
cũng chẳng xuống, tương tự như tìm vật quan trọng bị đánh
mất, nếu tìm không ra lòng quyết chẳng chịu thôi. Trong ấy
chỉ cần chẳng nên sanh chấp, sanh trước, sanh kế. Chấp
thành bệnh, trước thành ma, kế thành ngoại đạo. Nếu được
nhứt tâm nhứt ý như tìm vật bị đánh mất thì ba thứ lỗi
trên không có dính dáng, chỗ gọi là: “Sanh tâm động niệm
liền trái pháp thể”.
Tham
thiền, lúc cử khởi thoại đầu cần phải rõ ràng sáng suốt
như mèo bắt chuột. Cổ nhân nói: “Chẳng chém được đứa
mọi, thể chẳng thôi”. Bằng không ngồi trong hang quỷ hôn
hôn trầm trầm luống qua một đời có ích gì!
Lúc
mèo bắt chuột, nó mở to đôi mắt, bốn chân sẵn sàng chỉ
muốn chụp chuột đưa vào miệng, dẫu cho có gà chó bên cạnh
nó cũng chẳng thèm ngó tới. Người tham thiền cũng vậy,
chỉ tức tối muốn rõ cái lý này, dầu có tám cảnh thay
nhau hiện ra trước mắt cũng chẳng màng đến, vừa có niệm
khác, chẳng những chuột và mèo cũng chạy mất.
Tham
thiền một ngày phải thấy công phu ngày đó, nếu lơ láo
qua ngày thì trải qua trăm kiếp ngàn đời cũng chưa có ngày
xong, Bác Sơn tôi thuở trước cắm một cây hương, thấy cây
hương tàn, bèn nói: “Công phu y như trước, không có thêm
bớt, một ngày mấy cây hương? Một năm bao nhiêu cây hương?”
Và nói: “Tấc bóng dễ qua, thời giờ chẳng đợi người,
đại sự chưa sáng, ngày nào mới xong”. Do sự thống thiết
này, càng thêm cố gắng.
Tham
thiền chẳng nên ở trên công án cổ nhân suy nghĩ giải thích,
dẫu cho mỗi mỗi đều lãnh hội được đi nữa, cùng với
chính mình cũng không dính dáng gì cả. Trái lại chẳng biết,
một lời một câu của cổ nhân như đống lửa lớn, đến
gần chẳng được, chạm đến chẳng được, huống là ngồi
nằm trong ấy ư? Lại ở trong ấy phân đại phân tiểu, luận
thượng luận hạ, chẳng tán thân mất mạng hầu như ít có.
Việc
này chẳng cùng giáo thừa hợp, cho nên người tu tập Đại
thừa lâu năm còn chẳng hiểu chẳng biết, huống các Tiểu
thừa, Thanh văn, Duyên giác; Tam hiền, Thập thánh há chẳng
thông giáo, nghe đến một việc này hàng tam hiền vỡ mật,
Thập địa hồn kinh, Bồ tát Đẳng giác thuyết pháp như mây
như mưa độ bất khả tư nghì chúng sanh nhập vô sanh pháp
nhẫn còn bị gọi là sở tri ngu cùng với đạo toàn trái,
hà huống là những người khác ư? Bởi vì việc này từ địa
vị phàm phu chóng đồng Phật thể. Người rất khó tin, người
tin là pháp khí, người chẳng tin thì chẳng phải pháp khí.
Người tu hành muốn vào Tông thừa này đều phải từ cửa
tin mà vào. Một chữ tin có cạn, có sâu, có tà,
có chánh, chẳng thể biện.
Cạn
nghĩa là phàm nhập pháp môn, ai nói chẳng tin, song chỉ tin
pháp môn mà chẳng tin tâm mình.
Sâu
thì các Bồ tát thừa còn chẳng đủ niềm tin, như Hoa Nghiêm
Sớ nói: “Thấy có người hay thuyết pháp, có chúng nghe pháp
là chưa vào cửa tin”. Như nói: “Tức tâm tức Phật”,
ai nói chẳng tin, đến khi hỏi: Ông là Phật chăng? Thì lắc
đầu từ chối, thừa đương chẳng nổi. Kinh Pháp Hoa nói:
“Tất cả cùng nhau suy nghĩ chẳng thể lường Phật trí”.
Vì sao? Vì có tâm suy nghĩ, bởi niềm tin chẳng đủ mà thôi.
Tà,
chánh: Tự tâm tức Phật gọi là chánh tín, ngoài chấp có
pháp gọi là tà tín. “Tức Phật” cần phải tham cứu cho
sáng tỏ tự tâm. Và phải đích thân dẫm đến, tới chỗ
chẳng nghi mới gọi là chánh tín. Còn như mập mờ lầm lạc
đoán mò chỉ nói: “Tức tâm tức Phật” thật chẳng biết
tu tâm, gọi là tà tín.
Cổ
nhân hái đào cũng định, cuốc đất cũng định, lúc làm
công việc gì cũng định, đâu phải ngồi lâu đè nén khiến
tâm chẳng khởi sau đó mới định ư? Nếu như thế tức là
tà định, chẳng phải ý chánh của Thiền.
Lục
Tổ nói: “Na Già thường tại định, không có lúc nào chẳng
định”, cần phải thấy suốt bản thể mới cùng định
này tương ứng. Ông già Thích Ca từ Đâu Suất xuống hoàng
cung, vào Tuyết Sơn thấy sao mai mọc, khai thị đại chúng
như huyễn, chưa từng xuất định này. Bằng không, ắt bị
cảnh động nhận chìm, đâu thể gọi là định.
Trong
cảnh động tìm chỗ khởi chẳng thể được, trong cảnh tịnh
cũng tìm chỗ khởi chẳng thể được. Động tịnh đã không
có chỗ khởi thì lấy cái gì làm cảnh? Hiểu được ý này
thì tất cả đều là một thể định tràn đầy không thiếu.
Tham
thiền chẳng được đắm nhiễm thế pháp. Trong Phật pháp
còn đắm nhiễm một điểm cũng chẳng thể được, hà huống
là thế pháp ư? Nếu thoại đầu thật sự hiền tiền, đạp
trên băng chẳng thấy lạnh, đạp trên lửa chẳng thấy nóng,
trong rừng gai góc ngang nhiên đi qua chẳng thấy có chướng
ngại, mới có thể ở trong thế pháp hoành hành tự tại.
Bằng không thì đều bị cảnh duyên chuyển; muốn được
công phu thành một phiến đến năm lừa cũng chưa được mộng
thấy.
Tham
thiền chẳng nên chạy tìm trên văn cú ghi nhớ ngữ ngôn,
chẳng những vô ích mà còn làm chướng ngại công phu, khiến
công phu chân thật trở thành duyên lự, muốn được chỗ
tâm hành bặt há có thể được ư?
Tham
thiền sợ nhứt là tỷ lượng, đem tâm suy lý lời Phật lời
Tổ với đạo càng xa, hạ thủ đến Phật Di Lặc ra đời
cũng không dính dáng. Nếu là người nghi tình chóng phát lấp
bít hư không chẳng biết có danh tự hư không, như ngồi ở
trong núi bạc, vách sắt chỉ muốn được một con đường
sống. Nếu chẳng được con đường thì làm sao được an
ổn. Chỉ cần như thế hạ thủ đi, thời tiết đến thì
tự có sự đảo lộn.
Gần
đây có một tà sư dạy người học chẳng cần hạ thủ công
phu. Lại nói: “Cổ nhân chưa từng hạ thủ công phu”. Lời
này rất độc làm mê lầm kẻ hậu sanh, vào địa ngục mau
như tên bắn.
Bài
minh Tọa thiền của Thiền sư Đại Nghĩa nói:
Chớ
nói tin đạo, chẳng cần tham,
Cổ
Thánh nhắc hoài là chỉ nam.
Tuy
nhiên gác cũ nhàn điền địa,
Một
phen tiến đến được hay chưa.
Nếu
chẳng cần tham cứu mà nói đắc lý, đó là Di Lặc trời
sanh, Thích Ca tự nhiên, bọn người này bị gọi là người
đáng thương xót. Bởi vì tự mình chẳng từng tham cứu, hoặc
lấy cổ nhân một hỏi một đáp liền lãnh ngộ bèn đem thức
để hiểu rồi dối gạt người, hoặc gặp một phen bệnh
nặng kêu khổ suốt ngày, những điều hiểu biết bình thường
đều chẳng dùng được, hoặc đến lúc mạng chung như con
cua bị bỏ vào nồi nước sôi tay chân rối loạn, ăn năn
đâu kịp.
Thiền
sư Hoàng Bá nói:
Xuất
trần việc ấy vốn phi thường,
Nắm
chặt đầu dây giữ lập trường.
Chẳng
phải một phen sương thấm lạnh,
Hoa
mai chi dễ thưởng mùi hương.
Lời
này rất thân thiết, nếu đem bài kệ này luôn luôn cảnh
sách thì công phu tự nhiên tấn tới, như đường dài trăm
dặm, bước đi một bước thì ngắn đi một bước, còn nếu
đứng một chỗ chẳng chịu đi thì dẫu nói được sự nghiệp
của quê nhà rõ ràng minh bạch cũng chẳng bao giờ đến nhà,
thử hỏi sẽ được cái gì?
Tham
thiền khẩn yếu nhất là chữ thiết. Chữ thiết
rất có sức mạnh. Chẳng thiết ắt lười biếng sanh. Lười
biếng sanh thì phóng túng buông lung tâm ý. Nếu dụng tâm chân
thiết thì buông lung lười biếng làm sao sanh được. Phải
biết, một chữ thiết này chẳng lo chẳng đến chỗ
ruộng đất cổ nhân, chẳng lo tâm sanh tử chẳng vỡ. Bỏ
một chữ thiết này, cầu Phật pháp nào khác đều là si cuồng
chạy ở ngoài lề, há có thể nói là đồng với hạ thủ
công phu ư?
Một
chữ thiết chẳng những lìa lỗi mà ngay đây lập tức
vượt cả ba tánh thiện, ác, vô ký. Một câu thoại đầu,
dụng công rất thiết thì cũng chẳng nghĩ thiện, dụng tâm
rất thiết thì chẳng nghĩ ác, dụng tâm rất thiết thì chẳng
rơi vào vô ký. Thoại đầu thiết thì không tán loạn, thoại
đầu thiết thì không hôn trầm, thoại đầu hiện tiền thì
chẳng rơi vào vô ký.
Một
chữ thiết là câu rất thân thiết, dụng tâm thân thiết ắt
không kẻ hở, cho nên ma chẳng thể nhập vào, dụng công thân
thiết chẳng sanh tính toán có, không… ắt chẳng rơi vào
ngoại đạo. Người tham thiền đi chẳng biết mình đi, ngồi
chẳng biết mình ngồi, nghĩa là thoại đầu hiện tiền, nghi
tình chẳng vỡ, chẳng biết có thân tâm, hà huống biết có
đi, có ngồi!
Tham
thiền sợ nhất là suy nghĩ làm thơ, làm kệ. làm văn, làm
phú… Thơ kệ thành ắt gọi là thi Tăng, văn phú hay ắt gọi
là văn tự Tăng, cùng với tham thiền không dính dáng gì cả.
Hễ gặp cảnh duyên nghịch thuận làm động niệm tâm người,
liền phải phát giác và đề khởi thoại đầu chẳng theo
cảnh duyên chuyển mới được. Hoặc nói: “Chẳng cần kíp”.
Ba chữ này gây lầm lạc cho người, người học cần phải
xét kỹ.
Tham
thiền, người ta sợ rơi vào không. Thoại đầu hiện tiền
đâu phải là không. Chỉ cái người sợ không này bèn không
chẳng được, hà huống là thoại đầu hiện tiền.
Tham
thiền, nghi tình chẳng vỡ như đi trên vực sâu, tợ bước
trên băng mỏng, mảy may đánh mất chánh niệm thì tán thân
mất mạng, vì nghi tình chẳng vỡ, cái lý vĩ đại chưa sáng,
một hơi thở ra chẳng hít vào là qua đời khác, bị trung
ấm kéo dắt không khỏi đi theo nghiệp thức thay đầu đổi
mặt mà chẳng hay chẳng biết. Do đó, trên nghi lại càng thêm
nghi, đề khởi thoại đầu, chẳng rõ quyết định phải rõ,
chẳng vỡ quyết định phải vỡ, ví như bắt kẻ trộm, cần
phải có tang vật mới được.
Tham
thiền, chẳng được đem tâm chờ ngộ, như người trên đường
đứng ở trên đường chờ đợt đến nhà ắt không bao giờ
đến nhà mà chỉ cần đi thì đến nhà. Nếu đem tâm chờ
ngộ thì chẳng bao giờ ngộ, mà chỉ cần bức bách khiến
cho ngộ. Nếu như đại ngộ như hoa sen chợt nở, như đại
mộng chợt tỉnh. Bởi vì mộng chẳng chờ tỉnh, ngủ mùi
rồi tự tỉnh; hoa chẳng đợi nở, thời tiết đến tự nở;
tâm chẳng đợi ngộ, lúc nhân duyên hội hợp thì tự ngộ.
Tôi nói: “Lúc nhân duyên tự hội hợp, quý ở chỗ thoại
đầu chân thiết bức bách khiến cho ngộ, chớ chẳng phải
chờ ngộ đâu!” Lại lúc ngộ như vẹt mây mù thấy trời
xanh rộng rãi không nương gá (vô y), trời xoay đất chuyển
lại là một cảnh giới đặc biệt.
Tham
thiền cần phải khẩn, chánh, miên mật và dung hoát.
Thế
nào là khẩn? Mạng
người ở trong hơi thở, đại sự chưa rõ, một hơi thở
ra chẳng hít vào, đường trước mịt mờ chưa biết về đâu,
chẳng được chẳng khẩn. Cổ Đức nói: “Như dây gai thấm
nước, một bước khẩn cấp một bước”.
Thế
nào là chánh?
Người học cần phải đủ con mắt trạch pháp, ba ngàn
bảy trăm Tổ sư đều là gương mẫu cho người tham thiền.
Nếu sai mảy may ắt vào lối tà. Kinh nói: “Chỉ một việc
này thật, cái thứ hai nào khác chẳng phải chân”.
Thế
nào là miên mật?
Lông mày cùng hư không kết chặt, kim châm không lọt, nước
rưới chẳng thấm, chẳng để hở một mảy may. Nếu có một
kẻ hở bằng mảy lông ắt ma cảnh thừa chỗ sơ hở chen
vào. Cổ Đức nói: “Một giây phút nào thoại đầu chẳng
hiện tiền thì y như người chết”.
Thế
nào là dung hoát?
Thế giới rộng trượng thì gương xưa rộng một trượng.
Gương xưa rộng một trượng thì lò lửa rộng một trượng.
Quyết chẳng cầu chấp trụ ở một chỗ như nắm chặt đầu
con rắn chết, cũng chẳng rơi vào hai đầu, tự tại thênh
thang. Cổ Đức nói: “Tròn đồng thái hư, không thiếu không
dư”. Người thật sự đến chỗ dung hoát thì trong chẳng
thấy có thân tâm, ngoài chẳng thấy có thế giới, mới được
chỗ nhập đầu.
Khẩn
mà chẳng chánh ắt uổng dụng công. Chánh mà chẳng khẩn
ắt chẳng thể nhập. Đã nhập cần phải miên mật mới được
tương ưng. Đã tương ưng, cần phải dung hoát mới thành hóa
cảnh.
Tham
thiền chẳng được có một mảy lông niệm khác, đi, đứng,
nằm, ngồi chỉ đề khởi câu thoại đầu bổn tham phát khởi
nghi tình, tức tối muốn tìm đến chỗ tận cùng. Nếu có
mảy lông niệm khác, người xưa nói là “Tạp độc nhập
tâm”, chẳng những tổn thương thân mạng, mà còn tổn thương
huệ mạng, người học chẳng thể chẳng thận trọng.
Tôi
nói: Niệm khác nghĩa là chẳng những pháp thế gian mà cho
đến trừ cái tình này ra, tất cả việc tốt trong Phật pháp
cũng đều là niệm khác. Lại, chẳng những việc ở trong
Phật pháp mà cho đến ở trong tâm thể, giữ nó, buông nó,
chấp nó, hóa nó, cũng đều là niệm khác (mất chánh niệm).
Tham
thiền, phần đông đều nói: “Tham chẳng được”, thì cứ
ngay chỗ tham không được hãy tham đi, như người chưa biết
đường hãy tìm đường, chứ chẳng nên nói “tìm chẳng
được đường”, bèn thôi sao! Như tìm được đường rồi
thì quý ở chỗ đi đến nhà mới thôi, chẳng được đứng
ở trên đường chẳng chịu đi thì đâu có ngày đến nhà.
Tham
thiền, tham đến chỗ chẳng thể dụng tâm, chỗ vực sâu
muôn trượng, chỗ sơn cùng thủy tận, chỗ tận cùng khu ốc,
như con chuột chun vào sừng trâu tự có sự dội ngược (ngộ
đạo).
Tham
thiền sợ nhất là cái tâm linh lợi, tâm linh lợi là thuốc
kỵ của tham thiền, phạm nhầm một chút dù cho thuốc hay
hiện tiền cũng chẳng cứu được. Nếu thật là người tham
thiền, mắt như mù, tai như điếc, lúc tâm niệm vừa mống
khởi như đụng nhầm núi bạc vách sắt; như thế, công phu
mới được tương ưng.
Tham
thiền được chân thiết, đem thân tâm cùng thế giới luyện
được như thanh sắt, chỉ đợi nó bỗng nổ tung ra, rồi
cần phải gom lại thành đống mới được.
Tham
thiền chẳng sợ sai lầm mà chẳng sợ biết mình quấy. Dẫu
cho đang đi ở chỗ sai lầm, nếu chịu có một niệm biết
quấy, ấy là nền tảng thành Phật làm Tổ, là con đường
trọng yếu ra khỏi sanh tử, là vũ khí lợi hại để phá
lưới ma. Đại sư Thích Ca ở trong mỗi pháp của ngoại đạo
đều có chứng qua, mà chẳng ngồi ở trong hang ổ ấy, đem
bốn chữ “biết quấy liền bỏ” đi từ phàm phu đến địa
vị đại thánh. Ý này chẳng những ở trong pháp xuất thế
mà ở trong pháp thế gian hễ có đánh mất chánh niệm, chỉ
cần phí bốn chữ “biết quấy liền bỏ” thì làm được
một con người tốt đẹp trong trắng.
Nếu
ôm chặt lấy chỗ sai lầm cho là đúng, chẳng chịu biết
quấy, dẫu cho Phật hiện tiền cứu người ấy cũng chẳng
được.
Tham
thiền chẳng nên tránh huyên náo cầu tịch lặng, nhắm mắt
ngồi trong hang quỷ làm kế sống. Người xưa gọi là ngồi
dưới núi đen tối, ngâm trong nước chết; giúp được cái
gì. Chỉ cần ở trên cảnh duyên mà tham cho được, mới là
chỗ đắc lực. Một câu thoại đầu ở trên lông mày, trong
sự đi ngồi, mặc áo, ăn cơm, tiếp tân đãi khách, chỉ cần
rõ cái chỗ rơi của một câu thoại đầu này, một mai lúc
rửa mặt rờ nhằm cái lỗ mũi nguyên lai rất gần, bèn được
ít phí sức (tỉnh lực).
Tham
thiền sợ nhất là nhận thức thần làm Phật sự, hoặc nhướng
mày chớp mắt, xoay đầu ngó lại, cho là có ít nhiều kỳ
đặc. Nếu nhận thức thần làm việc chánh thì làm tôi tớ
cho ngoại đạo cũng chẳng được.
Tham
thiền cần phải chỗ tâm hành diệt, điều thiết yếu chẳng
nên đem tâm nghiên cứu, suy lý cơ duyên vấn đáp… Nên ngài
Động Sơn nói: “Tham cứu diệu lý thì đánh mất tông chỉ
của Thiền, làm cho cơ dụng linh động trở thành ám muội;
hạng người này không đủ tư cách nói chuyện với nhau. Nếu
được triệt ngộ thì mọi tam muội từ trong tự tâm lưu
xuất, suy nghĩ tạo tác ắt cách xa, khác nào như trời với
đất”.
Tham
thiền chẳng sợ chẳng được, tham chẳng được cần phải
tham cho kỳ được mới là công phu. Cổ Đức nói: “Không
cửa là cửa giải thoát, không ý là ý đạo nhân, quý ở
chỗ thể hội được chỗ vào. Nếu tham chẳng được bèn
đánh trống rút lui thì dẫu trăm kiếp ngàn đời cũng không
làm sao tham được”.
Nghi
tình phát khởi buông chẳng xuống, ấy là lên đường; đem
hai chữ sanh tử
dán trên trán, như cọp dữ đuổi đến, nếu chẳng chạy
thẳng về nhà ắt tán thân mất mạng, còn có thể dừng chân
ư?
Tham
thiền chỉ ở trên một tắc công án dụng tâm, chẳng nên
giải hội ở trên tất cả công án. Dẫu có thể giải được
thì cũng chỉ là giải chứ chẳng phải là ngộ. Kinh Pháp
Hoa nói: “Đem tâm suy nghĩ đo lường cảnh giới Viên giác
Như lai như đem lửa đom đóm đốt núi Tu di, trọn không thể
được”. Ngài Động sơn nói: “Toan đem ý học huyền tông,
như muốn đi về hướng Tây mà quay mặt về hướng Đông”.
Người nghiên cứu giải thích công án cần phải dưới da
có máu, biết hổ thẹn mới được.
Tham
thiền đề khởi thoại đầu, chỉ biết nghi tình đập chẳng
vỡ ắt không có niệm thứ hai. Quyết chẳng nên nhằm trên
kinh sách dẫn chứng kích động thức tình; tình thức bị
kích động ắt vọng niệm nổi lên, muốn được đường
ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt, làm sao được!
Đạo,
chẳng nên rời dù trong khoảnh khắc, nếu rời thì chẳng
phải đạo. Công phu chẳng nên gián đoạn dù trong khoảnh
khắc, nếu gián đoạn thì chẳng phải công phu. Người chân
chánh tham cứu như lửa cháy lông mày, tợ lửa cháy đầu
đâu có rỗi rảnh để việc khác làm động niệm. Cổ Đức
nói: “Như một người địch với muôn người, đối diện
đâu cho nháy mắt”. Lời này rất thiết yếu đối với người
tham thiền, cần phải biết vậy.
Tham
thiền, tự mình tham chưa triệt ngộ, chỉ nên lo giải quyết
chưa xong việc tham cứu của mình, chẳng nên dạy người,
như người chưa đến kinh thành mà nói cho người khác nghe
về việc trong kinh thành, chẳng những dối người mà cũng
là dối mình vậy.
Tham
thiền ngày đêm chẳng dám biếng trễ, như Đại sư Từ Minh
ban đêm buồn ngủ Ngài dùng mũi dùi đâm vào mình, và nói:
“Người xưa vì đạo quên ăn bỏ ngủ, còn ta nay là người
gì?”
Cô
nhân vẽ một vòng tròn bằng phấn, đạo lý chẳng rõ, chẳng
bước chân ra ngoài. Người thời nay buông lung tình ý, đi
chơi lêu lổng cho đó là hoạt bát, thật đáng tức cười.
Tham
thiền hoặc được khinh an, hoặc có tỉnh phát, chẳng cho
đó là ngộ. Bác Sơn tôi đương thời khán câu “Không tung
tích” của Hòa thượng Thuyền Tử, một hôm nhân xem Truyền
Đăng Lục thấy ngài Triệu Châu dặn ông Tăng rằng: “Phải
đi ra ngoài ba ngàn dặm tìm gặp Thiện tri thức mới được”,
bất giác tôi đánh mất cái túi vải như buông gánh nặng
ngàn cân, tự cho là đại ngộ. Đến khi gặp ngài Bảo Phương,
tôi mới biết mình như thanh gỗ vuông tra vào lỗ tròn, nên
rất hổ thẹn. Nếu sau khi ngộ chẳng gặp đại Thiện tri
thức, dẫu được an lạc tự tại cũng chưa phải xong.
Ngài
Bảo Phương khuyến khích tôi bằng bài kệ:
Lấy
không để quét không thì công rất lớn,
Lấy
có để tìm có thì đức càng nhỏ.
Không
nên dùng sự hiểu biết của mình để phỉ báng Tổ sư.
Chỗ
được tiện nghi tức là mất tiện nghi.
Đây
là câu đầu sào trăm thước tiến bước, người tham thiền
cần phải xét kỹ. Tôi thường nói với người học: “Tôi
được hai chữ chẳng phải của ngài Bảo Phương thọ
dụng bất tận”.
Tham
thiền chẳng được cho là đạo lý, cứ miệt mài tham đi
mới phát khởi được nghi tình. Nếu cho là đạo lý thì không
tiến tới được, chẳng những việc mình chẳng thấu triệt
mà nghi tình cũng chẳng phát khởi. Như có người hỏi: “Vật
đựng trong rương là vật gì?” Thật chẳng thấy vật người
kia chỉ! Người kia lấy chẳng phải là phải, nên chẳng thể
phát nghi. Lại chẳng những chẳng khởi nghi mà còn cho vật
kia là vật này, cho vật này là vật kia. Hiểu lầm như thế,
nếu chẳng mở rương ra đích thân thấy qua một phen thì suốt
đời cũng chẳng thể nói chắc được.
Tham
thiền chẳng nên cho là vô sự, phải tức tối muốn sáng
tỏ lý này. Nếu cho là vô sự thì suốt một đời chỉ là
người vô sự, một việc lớn dưới y áo chẳng bao giờ xong;
như người tìm vật bị đánh mất, tìm ra mới thôi. Nếu
tìm chẳng ra bèn bỏ vào cái vỏ vô sự, không có ý tìm nữa
thì dẫu cho vật bị đánh mất có hiện tiền cũng lầm qua
trước mặt, bởi vì không có ý tìm vật vậy.
Tham
thiền chẳng nên cho là đá nhoáng ánh chớp. Nếu ánh sáng
đầu cửa chợt có chợt không thì giúp được việc gì? Cần
phải đích thân thật sự bước đến thấy một phen mới
được. Nếu thật sự đắc ý, như giữa thanh thiên bạch
nhật thấy cha mẹ mình, không có cái vui thế gian nào hơn
được.
Tham
thiền, chẳng được nhằm dưới ý căn tính toán; suy nghĩ
tính toán khiến công phu chẳng được thành phiến, chẳng
thể phát khởi được nghi tình. Bốn chữ “suy nghĩ tính
toán” làm chướng chánh tín, chướng chánh hạnh và chướng
con mắt đạo. Người học đối với nó phải như sanh oan
gia mới khá.
Tham
thiền, chẳng được ở chỗ nêu lên Tông sư mà dùng trí
giải để lãnh hội. Nếu dùng trí giải để lãnh hội thì
lầm lạc, chẳng tương ưng với việc tham cứu. Chỉ cần
phát khởi nghi tình, tham cho triệt, không có chỗ lãnh hội
tri giải, như lầu gác trong hư không tự tại vô ngại. Bằng
không, nhận giặc làm con, nhận tớ làm chủ. Cổ Đức nói:
“Chớ đem cái yên lừa cho là cái quai hàm của cha” là nghĩa
này vậy.
Tham
thiền, chẳng được cầu người nói trắng ra. Nếu nói trắng
ra thì hoàn toàn của người khác chứ không dính dáng gì với
mình. Như người hỏi đường đến Trường An, chỉ có thể
hỏi đường, chứ chẳng nên hỏi việc ở Trường An. Người
kia có nói rõ ràng mọi việc ở Trường An, trọn là cái việc
của người kia thấy chứ chẳng phải người hỏi đường
đích thân thấy. Nếu chẳng cố gắng tham cứu mà cầu người
nói trắng ra, cũng giống như vậy.
Tham
thiền, chẳng phải niệm công án, niệm tới niệm lui có gì
dính dáng, niệm đến lúc ngài Di Lặc hạ sanh cũng không dính
dáng, sao chẳng niệm A Di Phật còn có lợi ích hơn. Chẳng
những bảo chẳng cần niệm mà phải luôn luôn đề khởi
thoại đầu, như khán chữ vô thì ở trên chữ vô khởi
nghi tình, như khán cây bách thì ở trên cây bách khởi
nghi tình, như khán một qui về chỗ nào thì ở trên
qui về chỗ nào khởi nghi tình. Nghi tình phát khởi thì
tận mười phương thế giới là một khối nghi, chẳng biết
có thân tâm cha mẹ sanh. Toàn thân là một khối nghi, chẳng
biết có mười phương thế giới, chẳng phải trong chẳng
phải ngoài, đập lại thành một khối; chỉ đợi khối nghi
kia tự vỡ như thùng đứt dây đay, gặp Thiện tri thức, chẳng
đợi mở miệng; đại sự xong xuôi mới vỗ tay cười lớn;
nhìn lại sự niệm công án thật giống như chim Anh võ học
nói, nào có dính dáng gì đến đại sự.
Tham
thiền chẳng nên đánh mất chánh niệm,dù trong khoảnh khắc.
Nếu đánh mất chánh niệm tham cứu ắt bị cuốn theo dị
đoan, quên quay trở lại. Như người tĩnh tọa chỉ thích tịch
lặng, lấy cái thuần thanh tuyệt điểm cho là Phật sự, đây
gọi là mất chánh niệm, vì rơi vào trong tịch lặng. Hoặc
nhận lấy cái hay giảng, hay nói, hay động, hay tịnh là Phật
sự, đây cũng gọi là mất chánh niệm, vì niệm thức thần.
Hoặc lấy sự đè ép vọng tâm không cho mống khởi là Phật
sự, đây cũng gọi là mất chánh niệm, vì vọng tâm đè vọng
tâm như đá đè cỏ, lại như lột bẹ chuối, hết lớp này
đến lớp khác, không biết đến ngày nào mới xong. Hoặc
quán tưởng thân tâm như hư không, chẳng khởi niệm như tường
vách, đây gọi là mất chánh niệm, vì ngài Huyền Sa nói:
“Nghĩ muốn ngưng tâm thức niệm, nhiếp sự về không tức
là rơi vào phái ngoại đạo chủ trương không vong như người
chết hồn chẳng tan”.
Tham
thiền, nghi tình phát khởi, lại cần phải đập cho vỡ, phải
xác thật chánh niệm phát đại dũng mãnh, ở trong khẩn thiết
lại càng khẩn thiết mới được. Ngài Kính Sơn nói: “Bậc
đại trượng phu muốn cứu cánh một đoạn đại sự nhân
duyên này phải là hạng người đập vỡ da mặt, tánh tình
nóng nảy, dựng đứng xương sống, chẳng thuận nhân tình,
đem cái chỗ nghi xưa nay của mình dán trên trán như thiếu
nợ người muôn trăm quan tiền bị người đòi ngặt không
có tiền để trả, chỉ sợ người sỉ nhục, sự kiện này
không gấp cũng phải gấp, không vội cũng phải vội, không
lớn cũng phải lớn thì mới có phần xu hướng (ngộ).