Hỏi:
Con
bị áp huyết cao, thần kinh căng thẳng, con tiếp tục tham
hay ngưng rồi uống thuốc cho hết mới được tham?
Đáp:
Nếu
vậy thì đã kể trên không phải thật rồi, nếu thật quên
làm sao còn nhớ áp huyết cao mà sợ? Người ta chưa quên mà
còn phải vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ. Nếu còn
nhớ cái sợ, tức là còn nhớ cái ngã, làm sao gọi là quên?
Hỏi:
Nếu
vừa hỏi vừa nhìn song song, hỏi đến đâu thì nhìn đến
đó, phải vậy không?
Đáp:
Đó
là dùng cái “biết”, chứ không phải dùng cái “không biết”.
Tổ Sư thiền là dùng cái không biết của bộ não, để chấm
dứt cái biết của bộ não, tức là ngưng hoạt động của
bộ não. Vì cái biết của bộ não che khuất cái biết của
chơn tâm. Cho nên phải dẹp những cái che khuất, rồi chơn
tâm mới hiện ra, gọi là kiến tánh thành Phật.
Bây
giờ không những không chịu dẹp, mà lại dùng cái biết để
tìm hiểu, vì có tìm hiểu nên biết mình có áp huyết cao,
rồi sợ áp huyết cao, sợ chết, làm sao mà không biết được?
Nếu đã quên làm sao biết áp huyết cao và sợ chết?
Hỏi
và nhìn đi song song thì đâu có trước sau! Đâu có hỏi trước
nhìn sau, rồi nói hỏi đến đâu rồi nhìn đến đó! Vậy
hỏi trước nhìn sau rồi, tức là nhìn theo cái hỏi; hỏi
và nhìn cùng một lượt, đâu có phải nhìn theo cái hỏi,
cái hỏi theo cái nhìn! Như vậy người đó nghịch với Tổ
Sư thiền, vì tìm hiểu cái không biết.
Cái
“không biết” là từ câu hỏi để kích thích lên niệm
không biết, nhìn là kéo dài niệm không biết. Nhưng không
chịu dùng cái “không biết” để ngưng cái “biết”, mà
dùng cái biết để tìm hiểu, để đuổi theo câu hỏi, nên
mới nói là hỏi tới đâu nhìn tới đó.
Nếu
đã không biết thì đâu có hỏi tới đâu! Làm sao có chỗ
để nhìn tới đó? Vì không biết thì không có chỗ, không
có chỗ thì không có mục tiêu. Vậy làm sao biết hỏi tới
đâu nhìn tới đó được? Tức là câu hỏi mâu thuẩn vì
dùng cái biết. Dùng cái biết là không phải tham thiền, tham
thiền là dùng cái “không biết”.
Tìm
hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết, 3 cái biết này chấm
dứt thì đến thoại đầu. Bây giờ không những không chịu
chấm dứt, lại còn kéo dài tìm hiểu, dùng tìm hiểu để
tìm hiểu nghi tình, cho nghi tình tới đâu thì tìm hiểu tới
đó, tức là có chỗ rồi. Đã không biết thì không có chỗ,
không có chỗ thì không có mục tiêu để nhìn, nhìn mãi không
thấy gì vẫn còn không biết, nên gọi là nghi tình.
Hỏi
thì không biết nên làm sao có chỗ? Vô sở hữu thì không
có, không có nên trống rỗng, trống rỗng thì khắp không
gian, khắp không gian tự nhiên không có chỗ. Vì có chỗ nên
không cùng khắp không gian. Cùng khắp không gian thì không có
khứ lai nên gọi là Như lai.
Vì
trống rỗng cùng khắp không gian tự nhiên cùng khắp thời
gian, tại không gian và thời gian thì không thể rời nhau được.
Cùng khắp thời gian không có sanh diệt gọi là Niết Bàn.
Tôi
không phải có dạy giáo lý cao siêu, là muốn giải tỏa 5
thứ nghi của quý vị để tăng cường lòng tin tự tâm.
Năm
thứ nghi là gì? Là nghi lý, nghi sự, nghi pháp, nghi thầy, nghi
mình.
Tại
sao nghi mình? Nghi mình nghiệp chướng nặng; nhiều người
cho mình là nghiệp chướng nặng, đó là sai lầm.
Tại
sao nghi thầy? Như tôi dạy quý vị, mà quý vị nghi không biết
thầy dạy có đúng không? Nên mới hỏi thì tôi mới giải
tỏa cái nghi đó. Như nghi mình nghiệp chướng thì tôi giải
tỏa nghiệp chướng không có nặng, không có nghiệp chướng
gì hết.
Tại
sao nghi pháp? Không biết pháp này có đúng hay sai, nên tôi
giải tỏa cái nghi đó.
Nghi
sự và nghi lý cũng như nghĩa này, không biết đúng hay không
đúng, sanh ra cái nghi nên đề ra câu hỏi để tôi giải đáp
cho hết nghi.
Quý
vị có hỏi đều ở trong 5 thứ nghi này, qua sự giải đáp
thì hết nghi. Vì 5 thứ nghi này làm chướng ngại lòng tin
tự tâm. Tham thiền là muốn hiện tự tâm của mình, nếu
không tin tự tâm thì tham thiền không hiện tự tâm ra được.
Hỏi:
Thế
nào tránh trong thoại đầu? (Ẩn dấu trong thoại đầu).
Đáp:
Khi
những cái che khuất bị dẹp thì ánh sáng mặt trời hiện
ra. Như mặt trời mới mọc thì mình nhìn được, đến chừng
ánh sáng mạnh thì nhìn không được. Ánh sáng Phật tánh hiện
ra thì ma quỷ và Thiên thần đều không thể thấy được.
Nên không thể nói là tránh!
Bây
giờ, người nào đều cũng có hào quang, người nào có tu
thì hào quang sáng hơn, không tu thì hào quang tối hơn. Với
người kiến tánh thì hào quang rất mạnh.
Sơ
Tổ luật tông là Đạo Tuyên luật sư trì giới rất trang
nghiêm, cảm ứng Thiên thần trên trời. Vì trì luật nên ăn
ngọ (chỉ ăn một bữa trưa, quá 12 giờ không ăn), mỗi bữa
trưa trước giờ ngọ, Thiên thần đem cơm xuống cúng dường
cho Đạo Tuyên, ngày nào cũng như mọi ngày, tiếng tăm truyền
khắp các nơi.
Một
Thiền sư nghe vậy, muốn biết Thiên thần như thế nào? Nên
mới đến thăm Đạo Tuyên để gặp thiên thần. Nhưng hôm
đó đợi mãi qua 12 giờ không thấy Thiên thần, ông nghĩ rằng
Thiên thần hôm nay bận việc nên không đến, rồi từ giã
Đạo Tuyên đi về.
Sau
khi Thiền sư đi về, Thiên thần mới vào. Đạo Tuyên hỏi:
Tại sao hôm nay ông đến trễ? Bây giờ quá ngọ thì đâu
có ăn được!
Thiên
thần nói: Không phải tôi đến trễ, 11 giờ tôi đã đến
rồi, nhưng tòa nhà của ông có hào quang che lấp nên tôi vào
không được, lúc hào quang tan hết thì tôi mới vào nhà được.
Vậy
chứng tỏ Thiền sư ngồi đây có hào quang sáng che khắp tòa
nhà này, nên Thiên thần không vào được. Thiên thần còn
vào không được, huống là quỷ sứ của Diêm La Vương có
nhằm gì! Vậy sao mà cần dấu? Nếu mình tu đến kiến tánh
thì hào quang cũng mạnh vậy.
Kim
Bích Phong có hào quang mạnh nên quỷ sứ của Diêm La Vương
không thấy được. Ông đâu có ẩn dấu! Aån dấu thì không
thể được.
Người
ta nói tụng chú có linh nghiệm, tại sao người này tụng chú
linh nghiệm, mà người kia tụng chú không linh nghiệm? Linh
nghiệm là tâm người tụng, chứ đâu phải do chú ấy! Chú
ấy chỉ là công cụ, làm sao có sức dụng? Sức dụng là
do tâm.
Cho
nên, người tâm lực mạnh tụng chú thì linh nghiệm, người
tâm lực yếu tụng chú thì không linh nghiệm. Chứng tỏ chú
ấy không có linh nghiêm gì hết, có linh nghiệm hay không là
tâm người tụng, chứ không phải do chú. Hỏi câu thoại đầu
cũng vậy, câu thoại chỉ kích thích niệm không biết, chứ
đâu có sức che dấu!
Hỏi:
Người
tham thoại đầu, khi nghi tình thành khối thì Diêm La Vương
có bắt được người ấy không?
Đáp:
Nếu
dẹp hết che khuất thì hào quang hiện ra, tức là được tâm
lực mạnh thì nghiệp lực sẽ sửa đổi. Như lúc mình tạo
ác nghiệp, kiếp trước làm cho người ta chết đói, nhưng
tâm lực chỉ 1 độ. Kiếp này mình không tu thì tâm lực cũng
chỉ 1 độ, nên phải chịu quả chết đói.
Nếu
mình biết tu thì tâm lực từ 1 độ lên đến 2 độ,…10
độ, tức là không làm ác mà chỉ làm thiện, cái quả sẽ
đến trước. Các nhân ác đã làm, nhưng yếu hơn nhân thiện,
nên nhân ác này phải ẩn lại để nhân thiện hiện ra trước.
Như
mình tham thiền tâm lực lên 10 độ, rồi không tham thiền
nữa, khi cái quả 10 độ hết thì quả 9 độ đến, dần dần
đến quả 1 độ thì mình phải chịu chết đói. Còn bây giờ
mình không có ngưng tham thiền, từ 1 độ đến 1 triệu độ
là thành Phật, nhưng cái nhân chết đói đó vẫn còn.
Khi
thành Phật phải độ chúng sanh (nghĩa chữ “Phật” là tự
giác, giác tha. Giác tha là độ chúng sanh). Những người nào
mình làm cho họ chết đói thì tự nhiên phải độ họ trước.
Tiền
thân của Phật là Tiên Nhân bị Ca Lợi Vương xẻ thịt, sau
này vị Tiên Nhân thành Phật Thích Ca, Ca Lợi Vương là Kiều
Trần Như thì được độ trước, nên cái nhân mới hết.
Khi
kiến tánh thành Phật thì không phân biệt thiện ác, người
có ân với mình thì cũng được độ, người có thù với
mình (hại mình) cũng được độ, như tiền thân Kiều Trần
Như hại tiền thân Phật cũng được ưu tiên độ trước.
Chánh
pháp phải phá ngã chấp, nếu tu có ngã chấp thì không bao
giờ kiến tánh được. Tu là phải quên thân mình, đừng coi
nặng thân này, coi nặng thân này là ngã chấp. Như có người
nói là xuất gia, đáng lẽ xuất gia là ra gia đình, tức là
không có gia đình. Nhưng cũng phải lo cho gia đình, lo cho con
cái, lo cho cháu chắc.
Nếu
dùng tiền của Thí chủ 10 phương để lo cho gia đình thì
sau này phải làm trâu làm ngựa trả nợ cho Thí chủ. Cho nên
Phật giáo có bài kệ:
Hạt gạo của Thí chủ,
Lớn bằng núi Tu di.
Nếu không tu giải thoát,
Mang lông đội sừng trả.
Cho
nên, một hạt gạo của Thí chủ không dễ gì ăn! Không phải
mình cạo đầu mặc áo tu cho là có địa vị cao, mà để
cho người ta kính lễ cúng dường, nếu mình thiếu tu thì
không thể được.
Người
tại gia có bổn phận của chồng, vợ, con cái. Người Tu sĩ
có bổn phận của người Tu sĩ, Sa Di có bổn phận của Sa
Di, Tỳ Kheo có bổn phận Tỳ Kheo, Sa Di Ni và Tỳ Kheo Ni đều
cũng vậy.
Nếu
không giữ đúng vai trò của mình, như kinh Lăng Nghiêm nói
có 4 thứ địa ngục:
1-
Hư tiêu Tín thí: Là những việc ăn, ở, đi,… đều của
Thí chủ cúng dường cho mình, nếu mình không tu giải thoát
theo đúng nghĩa chữ Phật, phải đầu thai trâu ngựa trả
nợ cho Thí chủ sau khi chết. Cho nên, mình làm Tu Sĩ thọ nhận
của 10 phương Thí chủ, mình phải tu giác ngộ, rồi giác
ngộ cho người khác, mới đúng nghĩa chữ “Phật” là tự
giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.
2-
Lạm nhận cung kính: Như người tại gia lạy người xuất
gia, nếu người xuất gia không giữ đúng bổn phận của mình,
tức là không có tu thì gọi là lạm nhận cung kính của người
tại gia, cũng là tội địa ngục, phải đầu thai trâu ngựa
để trả nợ cho Thí chủ.
3-
Phỉ báng đại thừa.
4-
Phá hoại luật nghi.
Hỏi:
Vừa
rồi Sư Phụ nói chấp nghiệp sâu nặng là sai lầm. Vậy như
thế nào?
Đáp:
Một
Kỹ sư người Mỹ, khoa học và Phật pháp đều thông suốt.
Kỹ sư nói với tôi: Con có nghiệp chướng phiền não nhiều
quá, thầy dạy cho con trừ nghiệp chướng đó.
Tôi
hỏi Kỹ sư: Nghiệp chướng của ông phải không?
Kỹ
sư đáp: Phải.
Tôi
hỏi: Nếu nghiệp chướng của ông thì ông biết nghiệp chướng
từ đâu mà ra? Như tiền trong túi của ông thì ông biết tiền
đó từ đâu mà có phải không?
Kỹ
sư suy nghĩ trả lời không được. Tôi nói tiếp: Ông khỏi
trả lời, tôi sẽ nói cho ông biết, nghiệp chướng của ông
là do ông suy nghĩ mà ra. Tâm ông là năng suy nghĩ, nghiệp chướng
là sở suy nghĩ. Năng thì không phải sở, sở thì không phải
năng. Tâm của ông không có nghiệp chướng, tại ông suy nghĩ
nên mới có sở sanh ra nghiệp chướng.
Tâm
là danh từ mà ai cũng nói được, nhưng ai cũng không biết
được. Kỹ sư giỏi khoa học, thông suốt giáo lý, nhưng đối
với danh từ “tâm” còn mơ hồ. Tôi nói vậy Kỹ sư chưa
hiểu được, vì tâm là một danh từ trống rỗng, không có
hình thể, không có số lượng. Nên tôi phải nói cái khác,
nói cái có hình thể có số lượng.
Hai
chân của ông là năng đi, con đường gai gốc cứt sình là
sở đi của hai chân, tại vì hai chân của ông ham giẫm trên
con đường đó, rồi bị dính cứt sình, tự cho cứt sình
của mình.
Kỹ
sư hỏi tôi: Có cách nào để rửa sạch cứt sình đó?
Tôi
nói: Khỏi cần, cái đó là sở thôi, hai chân của ông sạch
đâu có cứt sình! Vì hai chân của ông ham đi con đường đó,
mới bị dính cứt sình, cho cứt sình đó của ông, rồi nhờ
tôi tìm cách rửa sạch cứt sình đó. Mặc kệ nó, chỉ cần
hai chân không giẫm trên con đường đó thì đâu có bị dính!
Vì nó là sở.
Tâm
của ông cũng vậy, tâm của ông đâu có nghiệp chướng! Tại
ông ham suy nghĩ nên mới có nghiệp chướng, nghiệp chướng
đó là sở suy nghĩ.
Hỏi:
Câu
“bổn lai vô nhất vật”, hiện tại con tham câu “chẳng
phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật là cái gì?”
Ý 2 câu này có giống nhau không ?
Đáp:
Tham
thiền là dùng cái không biết để chấm dứt tìm hiểu biết,
suy nghĩ biết, ghi nhớ biết. Không được tìm hiểu câu thoại
đầu, tìm hiểu nghi tình. Tìm hiểu đáp án câu thoại là
sai lầm lớn. Ba cái biết trên (tìm hiểu, suy nghĩ, ghi nhớ)
hết, đến thoại đầu mới hy vọng kiến tánh. Nếu dùng
cái biết tìm hiểu nghi tình thì vĩnh viễn không thể kiến
tánh được.
Hỏi:
Đức
Phật Thích Ca mới sanh ra nói: “Thiên thượng thiên hạ duy
ngã độc tôn”. Chúng con chưa rõ, xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Phật
Thích Ca mới sanh ra nói câu này là muốn hiển bày Tự tánh
bất nhị. Thiền tông có một công án cũng ý này:
Tăng
đem việc này hỏi Vân Môn. Vân Môn nói: “Nếu lúc ấy gặp,
tôi sẽ đánh chết cho chó ăn”.
Tại
sao? Phật Thích Ca nói “duy ngã độc tôn” là không có đối
đãi, tức là bất nhị. Nếu có Phật thích Ca và Vân Môn
khác nhau là nhị rồi. Đánh chết mà còn xác cũng là nhị,
nên phải đem xác cho chó ăn thì không còn xác mới gọi là
bất nhị. Cho nên, Vân Môn nói: “Đánh chết cho chó ăn”
cũng là hiển thị nghĩa bất nhị.
Hỏi:
Hoàng
hậu Ma Gia nơi vườn Lâm Tỳ Ni sanh ra Thái tử, có nơi gọi
là đản sanh, có nơi nói là sanh bên hông, xin Sư Phụ từ
bi khai thị?
Đáp:
Tự
tánh bất nhị không thể dùng lời nói để diễn tả được.
Thường thường dùng văn học cổ truyền của Ấn Độ để
thí dụ diễn đạt. Nếu lấy đó để giải thích thì vô
lý, giống như thần thoại, không nên hiểu theo ý của mình.
Lời
của chư Phật chư Tổ là muốn mình ngộ, không phải muốn
mình hiểu. Nếu mình không ngộ thì không hiểu, không hiểu
thì sẽ phát nghi, giữ cái nghi đó sau này sẽ được ngộ.
Ngài
Long Thọ nói “Tâm như hư không vô sở hữu” tức là trống
rỗng thì không có nghĩa lý gì hết. Nhưng bộ não đem cái
không đó hạn chế thành cái không của cái tách, cái bình,
cái nhà,… thì muôn ngàn thứ nghĩa không khác biệt, vì có
hạn chế nên mới sanh ra nghĩa lý, có nghĩa lý rồi mới có
sự tranh cải.
Nếu
không có cái không làm sao dựng cái nhà lên được? Làm sao
có cái không của cái tách? Làm sao có cái không của cái bình?
Cái không ở trong nhà và cái không ở ngoài nhà, cái không
ở trong tách và cái không ở ngoài tách thì đâu có khác?
Nhưng
đem cái không này không kia để hạn chế thành ra có khác.
Cái dụng của mỗi thứ đều khác, nhưng nguồn gốc của
nó thì không có khác, mà luôn nghĩa lý của nó không có nữa.
Vì kiến lập rồi nên mới có nghĩa lý khác nhau.
Cho
nên, Phật Thích Ca rất sợ người ta đuổi theo lời nói,
vì vậy Phật nói “49 năm thuyết pháp, tôi chưa từng nói
một chữ”. Kinh Kim Cang nói “ai nói Phật có thuyết pháp
là phỉ báng Phật”. Vì không thể nói được, nếu nói được
thì không phải rồi. Nói ra là để mình ngộ nhập, chứ không
phải để hiểu nghĩa lý, nên tìm hiểu nghĩa lý là sai lầm,
nghịch với ý Phật.
Hỏi:
A
lại da thức là gì?
Đáp:
A
lại da thức là thức thứ 8. Tiền ngũ căn (nhãn căn, nhĩ
căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn) là đối với tiền ngũ
trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc) mới có tiền ngũ
thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức).
Thứ thứ 6 là đối với pháp trần (không cần trước mắt),
cũng như quá khứ, vị lai cách xa đều thấy được.
Thức
thứ 7 gọi là mạt na thức, có 2 nhiệm vụ:
-
Chấp thức thứ 8 là ta.
- Truyền
tống thức là đem chủng tử thiện ác của thức thứ 6 vào
thức thứ 8 và khi chủng tử thiện ác chín mùi từ thức
thứ 8 giao cho thức thứ 6 cùng 5 thức trước thi hành.
Thức
thứ 8 còn gọi là tạng thức, tức kho chứa chủng tử thiện
ác. Đầu thai là thức thứ 8 đi, nhưng thức này bao gồm hết
7 thức kể trên, chứ không phải có 8 thức riêng biệt.
Bản
thể là A lại da thức cũng là bản thể sanh mạng và bản
thể vũ trụ. Vì bản thể này trống rỗng tức là vô sở
hữu mà dung nạp và ứng dụng. Như hư không trống rỗng dung
nạp mặt trời, mặt trăng, đất đai, nhà cửa,… bất cứ
cái gì cũng đều nhờ cái trống rỗng này.
Hỏi:
Tâm
viên ý mã ẩn dụ như thế nào?
Đáp:
Như
con khỉ ở trên cây nhảy qua nhảy lại, con ngựa hay chạy
nhảy, không bao giờ yên tịnh.
Tâm
của mình cũng vậy, suốt ngày nổi niệm này sang niệm khác,
cứ suy nghĩ liên tục không bao giờ ngưng, nên gọi là “tâm
viên ý mã”. Trong Phật học gọi là nhất niệm vô minh, ban
đêm hoạt động gọi là nhắm mắt chiêm bao, ban ngày hoạt
động biến hiện ra mở mắt chiêm bao.
Như
bây giờ tôi đang giảng và các vị đang nghe đều ở trong
mở mắt chiêm bao là do tâm thức hoạt động biến hiện ra.
Hỏi:
Thế
nào là giới tánh?
Đáp:
Giới luật nhà Phật chia ra làm 2 thứ: Tánh giới và giá giới.
- Những
giới có dính líu đến sát, đạo, dâm, vọng gọi là tánh
giới.
- Những
giới thuộc về oai nghi gọi là giá giới. Ở trong giới luật
Tỳ Kheo có 100 giới oai nghi thuộc về giá giới, giới này
không có tội nhân quả mà có tội phạm giới.
Tại
sao Phật muốn chế giới? Vì Phật muốn đem Phật pháp hoằng
dương ở nước nào cũng hoan nghinh, nên phong tục tập quán
của nước nào thì giới luật cũng có thể thuận theo.
Như
phong tục ở Ấn độ không cho Tu sĩ đi làm ruộng, nếu Tu
sĩ đi làm ruộng thì phạm giới, nên Tu sĩ phải đi khất
thực để sống. Ở Trung Quốc, nếu Tu sĩ đi làm ruộng thì
được hoan nghinh, còn đi khất thực thì người ta chê là
“con sâu ăn gạo”.
Cho
nên, Tu sĩ ở Trung Quốc làm ruộng là giữ giới, ở Ấn Độ
là phạm giới, tức là theo phong tục truyền thống của địa
phương, nên gọi là giá giới. Để Phật giáo khỏi bị phê
bình là không tốt, giá giới có thể tùy theo địa phương
mà thay đổi.
Tánh
giới thì không thể thay đổi, tánh giới là có cái phạm
pháp luật nhà nước, có tội nhân quả. Như sát, đạo, dâm,
vọng thì bất cứ nước nào cũng có pháp luật để cấm.
Mặc
dầu, những giới mà nhà nước không cấm, nhưng có tội nhân
quả. Như giới sát, nếu giết hại con người thì cấm, còn
giết hại súc sanh thì không cấm, nhưng có tội nhân quả,
tức là giết một mạng phải trả một mạng, ăn cục thịt
phải trả lại cục thịt.
Pháp
giới tánh thì lại khác, pháp giới là bao gồm tất cả vũ
trụ. Chữ Hán là tùy theo chỗ hợp danh từ này thì nghĩa
thế này, với danh từ kia là nghĩa thế kia, danh từ có nghĩa
khác nhau. Như thường nói tánh và tướng khác nhau, chưa giác
ngộ thì khác, khi giác ngộ rồi thì tánh và tướng chẳng
khác, gọi là bất nhị. Cho nên, nguồn gốc vạn vật là thật
tướng. Nói là Tự tánh bất nhị thì thật tướng cũng là
bất nhị vậy.
Hỏi:
Vừa
nhìn vừa hỏi song song với nhau. Vậy nhìn vào câu hỏi hay
nhìn chỗ không biết mới đúng?
Đáp:
Câu
thoại đầu là kích thích niệm không biết, không phải nhìn
vào câu thoại đầu; nhưng hỏi với nhìn phải cùng một lượt,
không có trước sau, phải một tâm hỏi và một tâm nhìn;
hỏi và nhìn cùng một tâm đồng thời 2 thứ, 2 thứ không
gián đoạn đều một lượt.
Như
mình muốn 3 thứ một lượt cũng được. Ví dụ cái đồng
hồ này, nhìn kim giờ, kim phút và kim giây và 3 kim này chạy
không gián đoạn.
Hỏi:
Xin
Sư Phụ kể lại người bán đậu hủ đi 3 vòng trong Thiền
Đường thì được lợi ích, lúc chết không đầu thai làm
con chó, mà được tăng thêm 30 năm nữa?
Đáp:
Phật
nói: “Tất cả đều do tâm tạo”, Phật pháp muốn hiển
bày cái tâm, tâm ấy là chơn tâm, không phải bộ não. Người
ta nói tâm là bộ não, biết tìm hiểu, biết suy nghĩ, biết
ghi nhớ. Như vậy không phải là chơn tâm, mà là vọng tâm
che khuất chơn tâm.
Chơn
tâm là không hình thể, không số lượng, không phải vật
chất. Vọng tâm là bộ não, hệ thống thần kinh đều là
vật chất. Vật chất có thể hoại diệt. Còn phi vật chất,
như 8 thức thì không thể hoại diệt.
Tham
thiền được tâm lực mạnh, những thứ che khuất bị dẹp
thì chơn tâm hiện ra. Sức chơn tâm rất mạnh không bị không
gian và thời gian hạn chế.
Người
thiền định đến mức nào thì có thể biết được quá khứ,
biết được vị lai. Ông bán đậu hủ thiền định chưa đến
mức đó, nhưng cũng hiện ra một chút dụng. Các nghiệp ác
của ông tạo yếu thì ẩn lại sau, các nghiệp thiện của
ông tạo mạnh hơn thì hiện ra trước. Không phải ông đó
đi 3 vòng mà được lợi ích.
Như
Kim Bích Phong chỉ có 1 tuần lễ ra sức tham thiền thì quỷ
sứ không thấy được ông. Tham thiền được tâm lực mạnh
thì có thể sửa đổi nghiệp quả của mình, nên đời sống
cũng được sửa đổi.
Hỏi:
Kính
xin Hòa thượng giảng chữ “tri” của Ngài Huyền Giác?
Đáp:
Chữ
“tri” của Ngài Huyền Giác là cái tri của Phật tánh, tri
của Phật tánh thì không thể kiến lập, vì vốn sẵn có
đã kiến lập rồi. Nếu có kiến lập thì thành 2 cái tri.
Một người chỉ một cái tri, nếu kiến lập thành 2 cái tri,
nên Thiền tông gọi là “đầu mọc thêm đầu”.
Bây
giờ mình có một cái đầu thì đủ dùng, nếu ở trên đầu
mọc thêm một cái đầu nữa thì khổ lắm, phải mời bác
sĩ cắt bỏ mới được, cho nên tri không thể kiến lập.
Bốn
bài kệ của Ngài Huyền Giác nói về chữ “tri”:
1-
Bài kệ thứ nhất là kiến lập sở tri tịch lặng, bình thường
người ta tu đến thanh tịnh cho là cao, nhưng kiến lập sở
tri biết tịch lặng thành chướng ngại, không hiện ra cái
dụng hoạt bát vạn năng của bản tri (vô duyên tri), vì có
sở tri thì phải có năng tri. Như tay cầm như ý thì trụ nơi
ngoại cảnh, đánh mất sự hoạt bát vạn năng của tay, tay
chẳng cầm cây như ý thì tay muốn lấy gì cũng được, hễ
tay cầm cây như ý thì muốn lấy gì cũng chẳng được.
2-
Bài kệ thứ hai là tiến thêm một bước, dù chẳng lập sở
tri nhưng biết mình có năng tri vẫn là kiến lập sự tri,
nên chẳng phải vô duyên tri. Như tay chẳng cầm vật bên ngoài
mà tự làm nắm tay (tức là trụ nơi cái tri của tự mình
kiến lập) thì mất hết sự dụng hoạt bát vạn năng của
cánh tay, nên chẳng thể cầm lấy đồ vật nào cả.
3-
Vậy chẳng biết ngoại cảnh cũng chẳng tự có biết, người
ta thường cho như thế là lọt vào vô tri như gỗ đá chẳng
biết gì cả, nên có bài kệ thứ ba: Vì tự tánh rõ ràng,
chẳng đồng như gỗ đá. Thế thì làm sao chứng minh được?
4-
Nên có bài kệ thứ tư dùng cánh tay để chứng tỏ: Như tay
chẳng cầm vật ngoài, cũng tự làm nắm tay, chẳng phải là
không tay, vì tay vẫn an nhiên chẳng hề bị mất, nên chẳng
đồng như sừng thỏ, vì sừng thỏ chỉ có tên gọi mà chẳng
có vật thật vậy.
Ngài
Huyền Giác luôn cả cái tri cũng không kiến lập, nhưng người
tham thiền hay ham thích cái biết, dùng vọng tâm để tìm hiểu;
dùng vọng tâm là mây đen che khuất, Phật dạy mình dẹp hết
che khuất, lại không chịu dẹp mà càng tăng thêm. Ngài Huyền
Giác dạy mình đừng kiến lập cái biết, vì cái biết chơn
tâm sẵn có, chỉ cần dẹp những che khuất thì cái biết
chơn tâm hiện ra dùng.
Nhưng
bây giờ người ta khó tin, khi đã sanh ra thì cha mẹ dạy mình
chấp thật rồi, tin cái biết vọng tâm. Vào trường thầy
cô cũng dạy mình vậy. Bổng nhiên sửa lại, nghịch với
thói quen của mình, nên rất khó. Cho nên, Phật dạy lấy cái
“không biết” của bộ não để chấm dứt cái “biết”
của bộ não, tức là ngưng hoạt động của bộ não.
Hỏi:
Phật
cao nhất xích, ma cao nhất trượng. Nghĩa này như thế nào?
Đáp:
Thuốc
là dùng để trị bệnh; Phật pháp là trị bệnh chấp ngã,
nhưng người ta không biết, như học giáo lý, học sơ cấp
rồi lên trung cấp, lên cao đẳng; theo chánh pháp thì phải
phá ngã chấp mới đúng, thực tế thì không phải vậy.
Lúc
học sơ cấp thì cái ngã còn nhỏ, học hết trung cấp thì
cái ngã lớn hơn, đến cao đẳng thì ngã càng lớn nữa cho
mình biết nhiều. Chỗ này kinh Viên Giác, Phật có chỉ ra:
Những người cho mình thuyết pháp tứ là thuyết cái ngã tướng,
không phải thuyết pháp Niết Bàn. (Ở văn phòng 2 có đọc.
Trang 333).
-----------------------------------------------------------
Tức
là thông suốt giáo lý mà tăng cường ngã chấp, ngã chấp
đó là ma. Cho nên, Phật cao nhất xích, ma cao nhất trượng
là vậy. Cho ta thuyết pháp, các ngươi là người nghe pháp,
đó là cái ngã.
Hiểu
hết giáo lý của Phật, rồi cho ta là cao nhất, ta biết còn
các ngươi không biết, đó chính là cái ngã, ngã là ma, vì
thế không ngộ được bản giác trong sạch.
Vì
lời Phật dạy đâu phải của mình tu chứng! Nhưng rồi cho
là của mình, mình thông suốt giáo lý, thuyết pháp độ sanh,
lại chấp vào đó, chính là “ma cao nhất trượng”.
Hỏi:
Từ
vô thỉ, Đạo cùng một cội nguồn. Nay ta theo đạo Phật,
ta có thể tìm thêm kiến thức cho ta để chứng ngộ không?
Vậy có phải ngay đó tự đến? Tìm ai? Tìm ở đâu?
Đáp:
Câu
hỏi này đã sai lầm rồi, Phật đã nói vô thỉ thì không
có cội nguồn, có cội nguồn tức là có thỉ (có bắt đầu).
Phật đã nói trắng ra là không có sự bắt đầu, cũng là
nghĩa vô sanh tức là không có sanh khởi. Nếu có sanh khởi
thì mới có nguồn, đã không có sanh khởi làm sao có nguồn!
Có nguồn thì mới có bắt đầu. Nhưng thực tế thì không
thể bắt đầu. Cho nên, người chứng quả là ngộ pháp vô
sanh, cũng là chứng vô sanh pháp nhẫn.
Nếu
bắt đầu thì bắt đầu từ chỗ nào? Theo mình hiểu thì
phải 2 chỗ bắt đầu: Chỗ có và chỗ không có.
-Nói
bắt đầu từ chỗ có thì không gọi là bắt đầu. Tại sao?
Vì cái có kia đã bắt đầu rồi.
-Bắt
đầu chỗ không có là vô lý. Tại sao? Vì bắt đầu chỗ
không có thì không sanh ra đủ thứ. Như cây lý khỏi cần
cây lý sanh, cây đào khỏi cần cây đào sanh, con người khỏi
cần con người sanh, con dê khỏi cần con dê sanh. Nếu vậy
thì loạn hết rồi, nhưng thực tế thì không phải vậy. Con
người thì phải con người sanh, con dê thì phải con dê sanh,
cây đào thì phải cây đào sanh, cây lý thì phải cây lý sanh,
chứ không phải từ chỗ không có mà sanh được.
Không
cần tinh trùng con dê đực cũng có thể làm ra con dê được,
tuy không có tinh trùng nhưng phải có tế bào của con dê đực;
tế bào của con dê đực là chủng tử thức thứ 8, tức là
thức thứ 8 làm cơ nhân, đem tế bào của con dê đực chích
vào trứng con dê cái, rồi ở trong tử cung con dê cái sanh
ra con dê con. Đâu phải chỗ không có mà sanh ra được? Nếu
chỗ không có mà sanh được thì loạn hết! Vì tất cả không
có sự bắt đầu, không có sanh khởi, vậy làm sao có nguồn?
Câu
“từ vô thỉ đến nay” đã là bệnh. Vô thỉ làm sao có
đến nay được? Phải hữu thỉ mới có đến nay, phải bắt
đầu kiếp nào rồi đến kiếp nào. Vô thỉ thì không có
lúc bắt đầu, sự thật câu nói của thế gian đều là bệnh,
vì ở trong tương đối. Như nói kiến tánh, nếu chấp 2 chữ
“kiến tánh” cũng là bệnh. Vì Tự tánh không có sở kiến,
nếu Tự tánh có sở kiến thì có năng kiến rồi, có năng
sở là nhị. Tự tánh là bất nhị không có năng sở.
Kinh
Viên Giác nói: “Biết có sở chứng thanh tịnh Niết Bàn cũng
là ngã tướng”. Người hỏi này có ngã tướng quá nặng
không thể cứu nổi. Chánh pháp Phật pháp thì phải phá ngã
chấp. Tứ tướng là ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng,
thọ giả tướng (kinh Kim cang), kinh Viên Giác gọi là thọ
mạng tướng. Bốn thứ tướng này là cảm giác sai lầm của
vọng tâm. Như nói chứng quả là ta chứng, đó là ngã tướng,
nói thuyết pháp là thuyết cái bệnh ngã tướng, không phải
thuyết pháp Niết Bàn.
Hỏi:
Cái
biết sẵn có, có thể sáng chế như cái biết của các khoa
học gia không?
Đáp:
Không
thể kiến lập cái biết, nếu có kiến lập thì giống như
trên đầu mọc thêm đầu, làm chướng ngại cái đầu chính,
cần bác sĩ cắt bỏ mới được.
Hỏi:
Tánh
hung ác, tánh không chân thật, tánh tham lam,… Vậy tánh nào
là chân tánh của các tánh trên và có khác với tánh thấy
tánh nghe không?
Đáp:
Tất
cả đều là vọng, kinh Lăng Nghiêm nói: “Chơn với vọng
là 2 thứ vọng”, phàm có tương đối đều là vọng, hễ
có dùng lục căn nhận biết đều là vọng.
Hỏi:
Nói
có tâm độc ác, có tâm tham, có tâm thiện. Các tâm ấy đều
là vọng, trước không khởi, đó có phải là chơn không?
Đáp:
Chơn
với vọng là hai thứ vọng, còn thực tế thì không có đối
đãi, không có chơn với giả, không có chơn với vọng, gọi
là Tự tánh bất nhị hay Thật tướng vô tướng, không phải
chấp vào một bên mà nói vô tướng. Tức là hữu tướng
cũng vô và vô tướng cũng vô, Thật tướng là phá vô tướng
và hữu tướng. Nếu chấp thật cái hữu tướng là biên kiến,
chấp thật vô tướng cũng là biên kiến.
Người
hỏi này thì Phật không thể giáo hóa nổi, vì có ngã chấp
quá nặng.
Hỏi:
Tám
thức chuyển thành tứ trí chỉ là tên gọi chẳng chân thật,
nghĩa là chỉ chuyển cái tên mà cái thể chẳng thể chuyển.
Vậy bản lai diện mục của vô thỉ vô minh và bản lai Phật
tánh giống nhau không?
Đáp:
Chuyển
thức thành tứ trí của Pháp Bảo Đàn có 8 câu kệ:
Đại
viên cảnh trí tánh thanh tịnh,
Bình
đẳng tánh trí tâm chẳng bệnh.
Diệu
quan sát trí chẳng tác ý,
(Sự
thấy của Diệu quan sát trí chẳng cần tác ý)
Thành
sở tác trí đồng viên cảnh.
Ngũ,
bát, lục, thất quả nhân chuyển,
Chỉ
dùng tên gọi chẳng thật tánh.
Nếu
ngay nơi chuyển chẳng dính mắc,
Ở
chỗ náo động cũng đại định.
Lược
giải:
1.
Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh: Thức thứ 8 chuyển thành
trí, như gương tròn chiếu soi, phổ chiếu vạn pháp là trí
vốn thanh tịnh của bản tánh.
2.
Bình đẳng tánh trí tâm chẳng bệnh: Thức thứ 7 chấp thức
thứ 8 là ta (thức thứ 8 là bản thể tất cả pháp) thành
ô nhiểm, nay chuyển thành “bình đẳng tánh trí”, ảnh hưởng
thức thứ 6 chẳng khởi phân biệt tưởng thì tâm chẳng bệnh.
3.
Diệu quan sát trí chẳng tác ý: Do sự chấp ngã của thức
thứ 7 khiến thức thứ 6 sanh khởi vọng tưởng phân biệt,
khi chuyển thành Diệu quan sát trí rồi, dù thấy mà chẳng
có tác ý phân biệt, nên gọi là chẳng tác ý.
4.
Thành sở tác trí đồng viên cảnh: Tiền ngũ thức duyên theo
sự lãnh đạo của thức thứ 6 mà khởi vọng tưởng phân
biệt, khi chuyển thành sở tác trí rồi, tức đồng như Đại
viên cảnh trí, dù dùng nhưng chẳng tác ý phân biệt.
5.
Ngũ, bát, lục, thất quả nhân chuyển: Nghĩa là lục và thất
trong nhân chuyển, thức thứ 6 là nhân tiệm tu của Giáo môn,
thức thứ 7 là nhân đốn ngộ của Thiền môn. Ngũ và bát
là trên quả chuyển, vì vọng chấp của thức thứ 7 chuyển
thì ngũ và bát cũng chuyển theo.
6.
Chỉ dùng tên gọi chẳng thật tánh: Nghĩa là 8 thức kể trên
chuyển thành tứ trí chỉ là tên gọi chẳng có tánh thật,
nghĩa là chỉ chuyển cái tên, chẳng thể chuyển cái thể
vậy.
7.
Nếu ngay nơi chuyển chẳng dính mắc: Nghĩa là ở ngay nơi
chuyển mà chẳng chấp trước, chẳng chấp thật.
8.
Ở chỗ náo động cũng đại định: Nghĩa là ở chỗ náo
động cách mấy cũng đều đại định, chẳng có nhập định
và xuất định tức là vĩnh viễn ở trong định.
Đây
là chuyển 8 thức thành 4 trí.
Hỏi:
Như
Lai thiền dùng cái “biết” để tu, tu khác với Tổ Sư thiền
như thế nào?
Đáp:
Như
Lai thiền là dùng cái “biết” để tu, còn Tổ Sư thiền
dùng cái “không biết” để tu. Bộ não của mình gồm có
2 mặt: Mặt biết và mặt không biết. Dùng mặt biết để
tu là Như Lai thiền, Như Lai thiền của Phật dạy, còn dùng
cái biết của tà ma ngoại đạo thì không phải.
Dùng
cái không biết cũng là Phật Thích Ca dạy, do Phật Thích Ca
truyền xuống cho Ma Ha Ca Diếp, rồi Ma Ha Ca Diếp truyền cho
A Nan, A Nan truyền cho Thương Na Hòa Tu,… từ Tổ từ Tổ truyền
xuống, nên gọi là Tổ Sư thiền. Thiền này chỉ hỏi và
nhìn, hỏi là kích thích niệm không biết, nhìn là giữ niệm
không biết được kéo dài.
Tu
Như Lai thiền gồm có 52 cấp (Thập Tín,Thập Trụ, Thập Hạnh,
Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác và Diệu Giác).
Tổ Sư thiền từ địa vị phàm phu tu chứng Phật quả, không
qua giai cấp nào.
Hỏi:
Ban
đêm tham Tổ Sư thiền, ban ngày học giáo lý. Vậy con đi 2
cái song song được không?
Đáp:
-Biết
và không biết có nghịch nhau không?
-
Có nghịch nhau.
- Nếu
có nghịch nhau làm sao song song được? Bây giờ cô học giáo
lý Tiểu thừa, Trung thừa hay Đại thừa?
- Con
học sơ cấp Phật học năm thứ hai ở chùa Tòng Lâm.
Cô
nói đại khái sơ cấp là gì?
- Bài
đầu tiên là vô thường, kế đến nghiệp và nhân quả, luân
hồi, thiểu dục tri túc, đó là năm thứ hai của con.
- Theo
cô nói thì gần như Tiểu thừa, nhưng phải căn cứ kinh nào?
Vì giáo môn phải căn cứ lời kinh.
- Bây
giờ có lẽ là kinh Tiểu thừa, nhưng ở chùa con có chương
trình Cao đẳng Phật học thì học Diệu Pháp Liên Hoa.
- Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa là kinh Đại thừa, thiền của Đại thừa
thì khác thiền của Tiểu thừa và Trung thừa. Thiền Đại
thừa gọi là Bồ Tát thừa. Thiền Trung thừa gọi là Duyên
Giác thừa. Thiền Tiểu thừa gọi là Thanh Văn thừa.
Thiền
Thanh văn thừa là Ngũ Đình Tâm Quán có 5 thứ thiền quán:
Sổ Tức Quán, Bất Tịnh Quán, Từ Bi Quán, Lục Thức Quán,
Nhân Duyên Quán. Những thiền quán này là đình chỉ cái tâm.
Cô
học Tiểu thừa mà không biết Tiểu thừa thiền là gì! Còn
Trung thừa là Duyên Giác, thiền của thừa Duyên Giác là Thập
Nhị Nhân Duyên là từ vô minh đến lão tử (12 thứ nhân duyên).
Trong Đại Thừa Tuyệt Đối Luận có giải thích 4 thừa.
Ba
thứ thiền quán ghi trong kinh Lăng Nghiêm, nhưng chỉ dịch âm
không có dịch nghĩa, gọi là Sa ma tha, Tam ma bát đề, Thiền
na.
Kinh
Viên Giác giải thích 3 thứ thiền:
-Sa
ma tha là thiền quán cực tịnh, thí dụ như gương soi các
tướng; bất cứ người nào đến gần trước gương thì nó
chiếu soi rõ ràng, nhưng nó không lay động.
-Tam
ma bát đề là biến hóa mình không thể thấy được, nó đang
biến hóa, thí dụ lúa mạ dần dần tăng trưởng, như mình
đem hạt lúa bỏ vào đất thì mọc thành cây mạ, không thấy
nó tăng trưởng, nhưng nó đang tăng trưởng trong từng sát
na.
-Thiền
na thí dụ tiếng ẩn trong chuông trống, như chuông trống đâu
có tiếng, nhưng trong đó có tiếng, đánh nhẹ ra tiếng nhỏ,
đánh mạnh ra tiếng lớn, mà tiếng không bị hạn chế trong
chuông trống, nó vượt ra ngoài xa tùy theo mức độ đánh.
Tông
Thiên Thai Trung Quốc có 3 thứ Chỉ quán thiền:
-Sa
ma tha giống như Không quán của tông Thiên Thai.
-Tam
ma bát đề giống như Giả quán của tông Thiên Thai.
-Thiền
na giống như Trung quán của tông Thiên Thai.
Nhưng
chỉ giống thôi, chứ không phải hoàn toàn không có khác!
4 tông thiền quán Đại thừa của Trung Quốc là : Thiên Thai,
Hiền Thủ, Tam Luận, Duy Thức. Mỗi thừa đều có thiền quán
riêng biệt, thiền quán đó không ngoài Sa ma tha, Tam ma bát
đề, Thiền na. Nhưng mỗi mỗi khác, không phải hoàn toàn
giống nhau hết, cuối cùng có một cái giống nhau là “ từ
nghi đến ngộ”.
Tổ
Sư thiền là bắt đầu từ nghi rồi đến ngộ. Hành giả
mới bắt đầu tham thiền, tôi đã dạy hỏi và nhìn tức
là giữ cái nghi (không hiểu không biết) để đưa đến ngộ.
Tông
Thiên Thai mới trải qua rất lâu đến cùng tột rồi mới
phát nghi. Như ban đầu thì quán giả, quán mãi thấy không
thật giả, rồi đến quán không, nhưng không thì không phải
thật không, chẳng phải giả chẳng phải không thì quán trung.
Nhưng
giả với không là hai đầu, hai đầu không có làm sao quán
trung được? Tức là hai đầu không có làm sao có chính giữa
được? Cho nên mới phát nghi “không phải giả, không phải
không, không phải trung là cái gì?” Ấy là phát nghi rồi,
phát nghi là đến thể chơn chỉ, gọi là tam chỉ tam quán.
Ban
đầu là hệ duyên chỉ, tùy duyên chỉ đến thể chơn chỉ.
Thể chơn chỉ là thể cứu Chơn Như bằng tham Tổ Sư thiền,
nhưng đến chỗ cùng tột mới tự nhiên phát nghi. Vì cái
gì đều cũng không phải thì tự nhiên phát nghi: Tại sao?
Là cái gì vậy? Là cái gì mới phải?
Bất
cứ tông nào cũng vậy, như tông Hiền Thủ gọi là Pháp Giới
Quán thiền, gồm có: Lý pháp giới, lý sự vô ngại pháp giới,
rồi đến sự sự vô ngại pháp giới, mới phát nghi giống
như tông Thiên Thai vậy.
Vì
có nghi mới có ngộ, cho nên cuối cùng các pháp môn đều
phải phát nghi, như tông Tịnh Độ cũng vậy.
Có
một số người không nhìn nhận tu Tịnh Độ là thiền, tất
cả pháp môn của Phật dạy đều là Thiền, 3 cách tu Tịnh
Độ là thiền, có số người tu Tịnh Độ không biết. 3 cách
tu của Tịnh Độ là:
1-Thật
tướng niệm Phật giống như Tổ Sư thiền.
2-Quán
tưởng niệm Phật là thiền quán trong kinh Quán vô Lượng
Thọ là kinh của Tịnh Độ. Tịnh Độ chỉ có 3 thứ kinh:
Kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ và A Di Đà (tiểu
A Di Đà, đại A Di Đà). Phật có dạy 16 pháp thiền quán ghi
ở trong kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Nhưng
sao số người tu Tịnh Độ không nhìn nhận Tịnh Độ có
thiền? Tôi cũng không hiểu nữa! Mà lại những người ấy
bài xích thiền! Vì bất cứ pháp môn nào đều phải có thiền
mới gọi là tu. Nhưng thiền có đủ thứ, tà ma ngoại đạo
cũng có thiền vậy.
3-Trì
danh niệm Phật là muốn đến chỗ “nhất tâm bất loạn”,
nếu đến nhất tâm bất loạn là thiền rồi. Vì nhất tâm
bất loạn là thiền định, mà tại sao số người đó phải
nhờ tha lực, còn thiền thì phải nhờ tự lực? Họ không
chịu tự lực, sự thật đâu có ai tu giùm! Phải tự lực
tu chứ không phải nhờ người khác hay Phật A Di Đà tu giùm
cho mình.
Họ
còn không biết đại nguyện của kinh A Di Đà là mình sanh
về cõi cực lạc rồi, Phật A Di Đà mới dạy pháp Tổ Sư
thiền là “từ nghi đến ngộ”. Bây giờ các vị đồng
tham chưa chết mà đã tham Tổ Sư thiền rồi.
Hỏi:
Diệu
dụng công phu Tổ Sư thiền và làm thế nào hành giả đi đúng
đường lối Tổ Sư thiền?
Đáp:
Chỉ
cần hỏi và nhìn, hỏi là kích thích niệm không biết gọi
là tham thoại đầu, khán là nhìn chỗ không biết, nói chỗ
không biết nhưng không có chỗ, vì có chỗ là biết rồi.
Không có chỗ là không có mục tiêu để nhìn, nên nhìn trống
rỗng thì không biết gì, chỉ cần giữ cái niệm không biết
được kéo dài (nghi tình). Tham thoại đầu và khán thoại
đầu là 2 cái đi song song, đó là công phu của Tổ Sư thiền.
Đoạn
này diễn tả hiện ra cái dụng:
-Chẳng
thể thấy mà hợp logic kia, cần phải nhờ tâm lực cá nhân
của chúng ta sẵn có chứng minh, khi chúng ta y theo pháp thiền
trực tiếp (Tổ Sư thiền) do Phật Thích Ca truyền dạy, thực
hành đến trình độ N tức là đến giai đoạn tự động
hóa được một khoảng thời gian khiến 3 thứ biết: Tìm hiểu,
tư duy, ghi nhớ được tạm ngưng. Nghĩa là bộ não được
ngưng hoạt động thì phát huy được công năng sẵn có, chẳng
dùng bộ não mà hoàn thành công tác bộ não chẳng thể
làm. Khi ngưng hoạt động của bộ não càng lâu thì độ thiền
càng sâu có công năng phát ra càng lớn.
Tiểu
thừa cũng ngưng hoạt động của bộ não, tức là dùng Ngũ
Đình Tâm Quán để đình chỉ Tâm, Trung thừa và Đại thừa
cũng vậy. Nhưng Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa là dùng
cái biết để tu, còn Tổ Sư thiền là dùng cái không biết
để tu.
Hỏi:
Lục
Diệu Pháp Môn có phải tu bước đầu không?
Đáp:
Lục
Diệu Pháp Môn của thừa nào? Tiểu thừa cũng có Lục Diệu.
Nếu là Tổ Sư thiền thì khỏi cần Diệu, chỉ cần hỏi
và nhìn tức là hỏi câu thoại đầu cảm thấy không biết
và không đi tìm hiểu là đủ rồi. Khi nào kiến tánh rồi
tự nhiên sẽ Diệu, nếu chưa kiến tánh có muốn Diệu cũng
không được.
Hỏi:
Hiện
tượng cầu hồn cầu cơ của người dân tộc đối với trong
Phật pháp phải giải thích như thế nào?
Đáp:
Trong
Phật pháp thì Phật cấm những mê tín dị đoan, cầu hồn,
cầu cơ. Nếu dùng những thứ đó để sanh sống thì Phật
pháp gọi là tà mạng thực, tức là dùng pháp tà để kiếm
ăn.
Hỏi:
Hành
giả tham Tổ Sư thiền có vượt qua 50 thứ ma ngũ ấm không?
Đáp:
Tại
có chấp ngũ ấm là ta nên mới có ma ngũ ấm. Tổ Sư thiền
điều thứ nhất trong 10 điều của Đường Lối Thực Hành
Tham Tổ Sư Thiền là phá ngã chấp. Tức là không có ta, vì
không có ta nên vô sở đắc, vô sở cầu và vô sở sợ. Ta
còn không có thì ngũ ấm cũng không có, ngũ ấm còn không
có làm sao có ngũ ấm ma?
Hỏi:
Con
người có trí khôn hơn các loài động vật, tu hành sẽ mau
thành Phật. Loài động vật nhỏ bé như con kiến, con muỗi,
cua, ốc, côn trùng,… với ý thức nhỏ bé có thành Phật
không?
Đáp:
Thành
Phật không phải nhờ trí khôn. Chứng Đạo Ca nói: “Ngoại
đạo thông minh chẳng trí huệ”. Súc sanh muốn thành Phật
phải đầu thai thành người, tức là ngoài con người và các
ngoại đạo không thể thành Phật. Chỉ có người tu theo chánh
pháp của Phật mới thành Phật.
Bên
ngoài nhìn thấy hành giả tham thiền giống như khờ ngốc,
nếu thật sự hành giả tham thiền đến giai đoạn khờ ngốc
thì mới hy vọng thành Phật. Vì giữ được công phu tốt
nên người ta nói mình như khờ ngốc. Vì vậy không cần phải
nhờ trí khôn để tu thành Phật.
Hỏi:
Pháp
thí có thể đổi được tài thí không? Ví dụ có người
cho mình nhiều đồ vật, rồi ta đem pháp mà nói cho họ nghe
hoặc đem kinh tặng cho họ. Như vậy có thể đổi được
đồ vật của họ cho mình không?
Đáp:
Người
hỏi không biết pháp thí là gì! Nếu chấp có pháp để thí
cho người thì người đó đã có ngã tướng. Kinh Viên Giác
nói: “Cho ta có thuyết pháp là ngã tướng”, mà có sở đắc
có sở chứng cũng là ngã tướng.
Ngã
tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng là
từ thấp lên cao. Chứng đến thanh tịnh Niết Bàn cũng còn
ngã tướng, vì không tham luyến ngũ uẩn ngã, nhưng tham luyến
Niết Bàn ngã, cho Niết Bàn là ta chứng, nên vẫn còn ngã.
Tại
có ngã nên mới thấy có người để ta thí pháp, ta thấy
có pháp để thí cho người là còn ngã, chứ không phải pháp
Niết Bàn.
Hỏi:
Con
nhặt được của rơi, rồi đem cho người bạn dùng. Vậy
nhân quả đó ai chịu?
Đáp:
Nhân
quả là “ai làm nấy chịu”, như ăn cơm là “ai ăn nấy
no”, không có người khác ăn no giùm cho mình được! Người
nào làm người ấy chịu, không phải con làm mà mẹ chịu,
không phải mẹ làm con chịu.
Hỏi:
Tiểu
thừa thiền và Đại thừa thiền có phải thuộc về Như Lai
thiền không?
Đáp:
Những
pháp thiền do Phật dạy dùng cái biết để tu là Như Lai thiền,
như phạm vi thiền thì khác.
Tiểu
thừa thiền là muốn dứt lục căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý). Vì Tiểu thừa cho rằng lục căn tiếp xúc lục trần
sanh ra phiền não, nên phải dứt lục căn mới hết phiền
não. Lục trần là vật chất, theo triết lý gọi là Duy Vật
Luận.
Trung
thừa biết dứt lục căn là không đúng, vì muốn dứt lục
căn thì phải giữ một niệm, chính một niệm đó gọi là
nhất niệm vô minh, cũng từ đó sanh ra phiền não. Nhưng nhất
niệm đối với pháp trần thì ở trong nội tâm, nên triết
lý gọi là Duy Tâm Luận.
Đại
thừa không dứt lục căn, không dứt nhất niệm vô minh, chỉ
cần phá vô thỉ vô minh (căn bản vô minh).
Ngài
Nguyệt Khê đã kiến tánh tịch năm 1965, có thí dụ: Nhất
niệm vô minh và lục căn là vũ khí và binh lính của cướp,
vô thỉ vô minh là vua cướp; Đại thừa là dùng vũ khí và
binh lính của cướp để bao vây bắt vua cướp.
Lục
căn như vũ khí của cướp, nhất niệm là binh lính của cướp.
Nếu tịch thu hết vũ khí, nhưng cũng có thể sắm lại vũ
khí, hay giết hết binh lính, nhưng vua cướp còn thì có thể
chiêu binh mãi mã lại.
Cho
nên, Đại thừa không tịch thu vũ khí và không giết lính
của cướp, mà lại dùng vũ khí và binh lính của cướp để
bao vây bắt vua cướp. Vua cướp bắt được rồi thì vũ khí
và binh lính của cướp đều trở thành tài sản và lính chính
quy của nhà nước, khỏi cần giết chết binh lính. Đó là
pháp thiền Đại thừa.
Tiểu
thừa gọi là Duy Vật, Trung thừa gọi là Duy Tâm, Đại thừa
gọi là Tâm Vật hợp một, Tổ Sư thiền gọi là Tối Thượng
Thừa, không phải tam thừa, còn gọi là Phi tâm phi vật (chẳng
phải tâm chẳng phải vật), không có gì hết, trống rỗng.
Hỏi:
Có
người suốt đời làm thiện, khi cuối đời gặp ác duyên.
Vậy việc này như thế nào?
Đáp:
Có
người nói: suốt đời không có làm ác, sao tôi bị tai nạn
đến hoài?
Tôi
hỏi: Ông có ăn cá thịt không? Có giết kiến, giết muỗi
không?
Người
ấy không trả lời được, vì một bửa cơm đã ăn biết
bao nhiêu con cá con tép rồi? Vậy từ nhỏ đến lớn đã ăn
hết bao nhiêu chúng sanh? Giết hại hết bao nhiêu chúng sanh?
Làm sao nói không có làm ác? Theo nhân quả giết một mạng
phải trả một mạng, ăn cục thịt phải trả cục thịt.
Như
Lương Võ Đế đã làm việc thiện, nhưng cũng có làm ác,
thành ra làm ác thì phải chịu khổ báo, làm thiện thì được
phước báo, 2 việc này thì không thể trừ với nhau được.
Mà lại nhân quả là tam thế, như kiếp trước làm thì kiếp
này phải chịu, kiếp này làm thì kiếp sau phải chịu, vì
mình không thấy chứ không phải là không có nhân quả.
Hỏi:
Thế
nào là đới nghiệp vãng sanh?
Đáp:
Có
nghiệp nhân phải có nghiệp quả, nhân quả rõ ràng. Nếu
muốn được đới nghiệp vãng sanh, mặc dầu nghiệp nhân
đã gieo mà được vãng sanh, tức là quả báo kiếp này khỏi
đến, nhưng phải có cái nguyện. Tịnh Độ có đại nguyện
và tiểu nguyện.
Nếu
tiểu nguyện cầu một mình mà được vãng sanh thì không hợp
nhân quả, vì ăn cục thịt phải trả cục thịt, giết một
mạng phải trả một mạng, nên phải đi đầu thai để trả
nợ, chứ không được vãng sanh.
Còn
đại nguyện như mình thiếu nợ mà không có tiền để trả,
thiếu tiền rất nhiều, nhưng mình có trương mục ngân hàng,
tiền ở ngân hàng có ít không đủ trả nợ, mình có thể
ký kỳ phiếu là 10, 20 năm sau trả. Người tu Tịnh Độ được
vãng sanh rồi mới trả, việc ấy giống như kỳ phiếu cũng
gọi là đại nguyện.
Phát
đại nguyện là cùng tất cả chúng sanh đều được vãng
sanh, phải thực hành đại nguyện là coi chúng sanh bình đẳng,
khi đã được vãng sanh rồi thành Phật thì những chúng sanh
chủ nợ thịt chủ nợ mạng được ưu tiên độ trước.
Như mình mỗi ngày gởi tiền vào ngân hàng thì sau này người
ta cầm kỳ phiếu đến ngân hàng mới lãnh được tiền.
Phát
đại nguyện mà không thực hành đại nguyện của mình phát,
còn ăn thịt chúng sanh, giết chết chúng sanh, tức là mỗi
ngày không gởi tiền vô ngân hàng thì sau này người ta đến
ngân hàng lãnh không có tiền, như thế là ngân phiếu giả,
ở thế gian phải bị tù, làm sao có công đức để được
vãng sanh? Vì chỉ miệng nói tâm nghĩ nhưng không thực hành,
gọi là nguyện giả.
Được
đới nghiệp vãng sanh đâu phải dễ! Thực hành được đại
nguyện cũng không phải dễ! Nói dễ là tham thiền mới thật
là dễ, chỉ cần hỏi và nhìn, ngoài ra không cần biết đến
cái gì hết, chỉ giữ cái không biết là đủ.
Hỏi:
Người
tu Tổ Sư thiền có cần phát đại nguyện và hồi hướng
đến quả Vô thượng Bồ đề không?
Đáp:
Người
hỏi này không biết lại chấp cái biết của mình và theo
giáo môn cũng còn không biết. Kinh Đại Niết Bàn thuộc về
giáo môn có 3 cửa giải thoát: Không, vô tướng, vô nguyện.
-Vô
nguyện là không có nguyện, nếu còn ôm cái nguyện thì không
được kiến tánh, vì tâm như hư không vô sở hữu (trống
rỗng) là giải thoát, không bị trói buộc, nó đã sẵn như
vậy. Chỉ cần phát hiện vốn không có sanh tử, vốn không
có trói buộc thì đâu cần nguyện gì nữa!
Nếu
có nguyện tức là còn có trói buộc, những người có bệnh
chấp thì còn trói buộc, nên mới có cái nguyện để mở
trói. Tổ Sư thiền ngộ thấy không có trói, vì trống rỗng.
Ngộ không có trói thì đã giải thoát rồi, đâu phải là
bị trói rồi mới mở trói cho là giải thoát! Vậy đâu cần
mở trói, vì đâu có ai trói!
Hỏi:
Có
phải tất cả chiêm bao đều là giả không? Và chuyện nàng
dâu châm kim thêm 19 lần cho bà mẹ chồng như lời nhắc nhở
trong mộng, khi bà nằm ngủ. Vậy chuyện này chiêm bao hay không
phải chiêm bao?
Đáp:
Người
hỏi này không biết, nên Phật nói “rất đáng thương xót!”.
Chân tâm là bất nhị thì không có tương đối. Họ bỏ chấp
thật lại chấp giả, nếu chấp thật thì bệnh còn dễ trị,
chấp giả thì bệnh khó trị hơn. Vì thật và giả là tương
đối, chấp thật và chấp giả đều lọt vào biên kiến.
Biên kiến ở trong Phật pháp là một thứ trong 5 thứ ác kiến,
nhưng chính người hỏi lại không biết, thành ra mới đặt
ra câu hỏi vậy.
Đã
là chiêm bao thì không có thật, chơn thật không phải thật,
cái giả cũng không phải thật. Vì chiêm bao đâu có cái nào
thật, đâu có cái nào giả? Thật không thành lập làm sao
lập ra cái giả?