Hỏi:
Ngài
Mục Kiền Liên là người đã chứng ngộ, tại sao còn bị
nhân quả? Nhân quả là ở trong chiêm bao, nhưng ngài Mục Kiền
Liên đã thoát ra khỏi chiêm bao mà vẫn bị chiêm bao chi phối?
Đáp:
Phật
Thích Ca muốn cho người ta tin nhân quả nên mới dùng phương
tiện. Như trong Hư Vân Niên Phổ nói: “Tiền thân của Phật
là đứa bé đánh con cá lớn 3 cái, mà bây giờ Phật bị
nhức đầu”. Theo lẽ thường người ta nói chân thật chưa
chắc tin, còn Phật nói là “lời của tôi không phải thật”,
đừng có chấp thật mà muốn người ta tin. Vì Phật nói xong
là phủ nhận liền, như Phật nói: “49 năm thuyết pháp, tôi
chưa từng nói một chữ”, kinh Kim Cang nói: “Ai nói Phật
có thuyết pháp là phỉ báng Phật”, như thế có phải mâu
thuẩn không?
Chẳng
có pháp để thuyết mới gọi là thuyết pháp. Phật rất sợ
người ta chấp vào lời của Phật, nên Phật vừa nói xong
thì phủ nhận liền. Như mình cho có vô minh có sanh tử, đến
chừng kiến tánh thấy rõ ràng không có sanh tử. Nhân quả
trong chiêm bao, ra khỏi chiêm bao thì hết nhân quả. Tổ Đạt
Ma nói trong Pháp Môn An Tâm: “Kiến tánh triệt để thì nhân
quả đều hết”.
-Pháp
môn an tâm của Tổ Đạt Ma:
Lúc
mê thì người đuổi theo pháp (còn pháp chấp), lúc ngộ thì
pháp thuận theo người (pháp chấp đã dứt sạch); lúc mê
thì sắc thân làm chủ của tâm, lúc ngộ thì tâm làm chủ
sắc thân. Hễ khởi tâm phân biệt đo lường thì hiện lượng
tâm thức đều như mộng huyễn chẳng thật. Nếu tâm thức
tịch diệt, chẳng còn chỗ niệm khởi, ấy gọi là chánh
giác.
Hỏi:
Thế
nào là hiện lượng của tâm thức?
Đáp:
Thấy
tất cả pháp có, có chẳng tự có, do tự tâm chấp thật
thành có; thấy tất cả pháp không, không chẳng tự không,
do tự tâm chấp thật thành không. Bất cứ pháp nào cũng thế,
đều do tự tâm chấp có chấp không mà thành.
Nếu
tạo tất cả tội, mà người ấy tự kiến Pháp Vương (kiến
tính triệt để, từ mở mắt chiêm bao thức tỉnh) thì liền
được giải thoát. Hễ từ nơi ấy “sự” ngộ được thì
sức dụng mạnh, nơi tự kiến pháp tính, bất cứ lúc nào
cũng chẳng mất chánh niệm. Còn nơi văn tự ngộ được thì
sức dụng yếu kém vậy.
“Sự”
tức là “pháp”, pháp tức là sự, sự và pháp chẳng hai
chẳng khác, mặc cho ông nhảy nhót nhào lộn, đủ thứ tạo
tác đều chẳng ra ngoài phạm vi của pháp giới. Muốn đem
pháp giới dung nạp pháp giới ấy là ngu si, vì bất cứ làm
việc gì cũng chẳng thể ra ngoài pháp giới tâm được. Tại
sao? Vì tâm thể và sự vật tức là pháp giới, cũng gọi
là “hiện lượng” của tâm (hiện lượng tức là thật
tướng, chẳng phải hiển hiện số lượng vậy).
Hỏi:
Người
thế gian đủ thứ tu học, tại sao chẳng đắc đạo?
Đáp:
Vì
thấy có “ta” nên chẳng đắc đạo. Bậc Thánh gặp khổ
chẳng lo, gặp vui chẳng mừng, ấy là do chẳng thấy có “ta”
nên chẳng màng khổ vui. Do quên hẳn cái “ta” nên đến
được chỗ vô vi. “Ta” còn tự quên thì còn việc
gì mà chẳng quên ư!
Hỏi:
Pháp
tức là Không thì còn ai tu đạo ư?
Đáp:
Có
“ai” mới cần tu đạo, nếu chẳng có “ai” thì chẳng
cần tu đạo. Cái “ai” này tức là “ta”, nếu không chấp
ngã, gặp bất cứ sự vật gì cũng chẳng sanh tâm thị phi.
“Thị” do ta tự thị mà sự vật chẳng thị, “phi” cũng
do ta tự phi mà sự vật chẳng phi, nơi tâm vô tâm, ấy gọi
là thông đạt Phật đạo; đối cảnh chẳng khởi tri kiến
gọi là đạt đạo. Hễ gặp sự vật nào cũng liễu đạt
nguồn gốc của nó thì có thể khai mở huệ nhãn.
Người
trí tùy thuận sự vật chẳng tùy thuận bản ngã (ngã chấp
đã dứt sạch) nên không có thuận nghịch lấy bỏ; kẻ ngu
tùy thuận bản ngã (ngã chấp còn) mà chẳng tùy thuận sự
vật nên có thuận nghịch lấy bỏ.
Chẳng
thấy một vật gọi là kiến đạo (thấy vật chẳng chấp
thật, thấy đồng như chẳng thấy); chẳng hành một vật
gọi là hành đạo. Nơi tất cả xứ sở mà quên xứ sở (chẳng
chấp thật có xứ sở đồng như không có xứ sở). Đang lúc
tạo tác chẳng có năng tác, sở tác, tức là thấy Phật;
lúc thấy tất cả tướng tức là có cái kiến chấp để
chấp tướng, nên đọa địa ngục, do quán chiếu thấu triệt
Pháp tính nên được giải thoát. Hễ có ghi nhớ phân biệt
đều thuộc về chảo dầu sôi, lò lửa than, liền hiện tướng
sanh tử. Nếu thấy được Pháp giới tính (tính Niết Bàn)
tức là kiến tánh, chẳng ghi nhớ phân biệt tức là Pháp
tính vậy.
Do
tâm chẳng phải là sắc (vật chất) nên phi hữu, thường
dụng chẳng gián đoạn nên phi vô; dụng mà thường Không
nên phi hữu, không mà thường dụng nên phi vô (Tâm như hư
không vô sở hữu mà dung nạp vạn vật nên Không mà thường
dụng, dụng mà thường Không vậy).
Tại
người đó tư tưởng chấp thật thì mới sanh ra đủ thứ
phiền não mới có đủ thứ vấn đề.
Hỏi:
Muôn
niệm từ đâu khởi?
Đáp:
Từ
bộ não.
Hỏi:
Tâm
là cái gì?
Đáp:
Phật
cũng không biết nữa. Vì nó không phải là sở tri.
Hỏi:
Có
phải khi kiến tánh mới biết là cái gì khởi phải không?
Đáp:
Chưa
kiến tánh cũng biết vậy. Ban đêm khởi niệm gọi là nhắm
mắt chiêm bao, ban ngày khởi niệm gọi là mở mắt chiêm bao.
Niệm niệm không dứt, tại do vọng tâm hoạt động hoài.
Hỏi:
Ngài
Địa Tạng Bồ Tát có phải là Mục Kiền Liên Bồ Tát không?
Đáp:
Người
đó ngu mới hỏi như vậy.
Hỏi:
Có
người bạn con thầu bán căn tin ở một xí nghiệp do con định
bán cơm chay và nước, nhưng do yêu cầu công nhân ăn mặn,
nếu con bán thức ăn mặn thì có nhân quả không?
Đáp:
Nếu
lấy cái đó làm lời thì có nhân quả.
Hỏi:
Con
phát nguyện hiến thân cho ngành y để nghiên cứu sau khi con
chết, nhưng con của con không đồng ý giao cho y khoa thì con
của con có bị tội không?
Đáp:
Người
nào làm người nấy chịu, nhưng người nào ra lệnh thì người
đó phải chịu. Việc ấy không phải tội mà là nhân quả,
nhân quả thì do tâm tạo, khởi tâm động niệm đều có nhân
quả, mặc dầu chưa làm cũng có nhân quả.
Hỏi:
Pháp
Bảo Đàn Kinh nói: “Niệm trước chẳng sanh là tâm, niệm
sau không diệt là Phật”. Kính xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Như
người ta hỏi “tham thiền sắp kiến tánh, sắp kiến tánh
thì sắp biết phải không”? Tôi nói “không phải, không
thể nói là sắp biết, tại vì cái tâm mình đâu có ngưng
biết, nó ngưng rồi biết lại mới nói là sắp biết”. Nếu
tâm không có ngưng làm sao có tiền niệm hậu niệm? Cũng như
ánh sáng mặt trời đâu có tiền (trước) hậu (sau)? Nếu
hỏi ‘trời gần sáng thì mặt trời sắp chiếu có được
không’? Không được. Vì mặt trời đâu có ngưng chiếu mà
nói sắp chiếu? Rồi mặt trời làm sao có trước sau? Nó không
có ngưng chiếu thì không có trước sau.
Hỏi:
Quy
y Tam Bảo là gì?
Đáp:
Quy
là trở về, y là y nhờ, tức là trước kia không biết, bây
giờ biết thì trở về y nhờ Tam Bảo. Tam Bảo là Phật Bảo,
Pháp Bảo, Tăng Bảo.
Y
nhờ Tam Bảo để làm gì? Là được sự giáo hóa của Tam
Bảo theo đó tu hành được giải thoát tất cả khổ, đạt
đến tự do tự tại vĩnh viễn. Đó là mục đích quy y.
Chữ
“Phật” là tiếng Ấn Độ nghĩa là giác ngộ. Tại sao cần
phải giác ngộ? Vì nếu không giác ngộ thì phải ở trong
chiêm bao mãi, chịu cái khổ trong chiêm bao, cứ luân hồi lục
đạo trong chiêm bao chịu khổ hoài không được giải thoát
cái khổ sanh tử. Nên cần phải giác ngộ tức là ở trong
mở mắt chiêm bao thức tỉnh. Vì vậy mình phải theo sự giáo
hóa của Tam Bảo mà thực hành Pháp Bảo do Phật truyền dạy
thì mới được giác ngộ, nên mới nhờ Pháp Bảo.
Cũng
như quý vị học tham thiền, pháp môn tham thiền giúp quý vị
đến chỗ giác ngộ giải thoát tất cả khổ đạt đến tự
do tự tại vĩnh viễn, nên pháp này gọi là Pháp Bảo.
Nhưng
có Phật Bảo và Pháp Bảo rồi, phải có Tăng trực tiếp
giáo hóa chúng sanh. Nếu có Phật Bảo và Pháp Bảo mà không
có Tăng Bảo thì cũng như không có. Cho nên cần có Tăng Bảo
từ đời từ đời đem Pháp Bảo truyền dạy cho chúng
sanh, đúng theo đó tu hành được giải thoát.
Tăng
dịch âm tiếng Ấn Độ là Tăng Già nghĩa là hòa hợp chúng
tức là phải nhiều người hòa hợp, theo giới luật thì có
4 vị Tăng hòa hợp mới thành Tăng. Tăng là Tăng đoàn chứ
không phải một vị. Quy y Tam Bảo là không quy y một thầy
nào, cũng như tôi thay mặt cho Tam Bảo để chứng minh quý
vị đã quy y Tam Bảo đã là đệ tử của Tam Bảo nghe theo
lời dạy của Tam Bảo để tu hành đến chỗ giác ngộ.
Hỏi:
Ngũ
giới là gì?
Đáp:
Ngũ
giới là: Sát sanh – Trộm cắp – Tà dâm – Vọng ngữ –
Uống rượu.
1-Giới
sát sanh: Là không được giết hại chúng sanh. Bất cứ chúng
sanh loài hữu tình nhỏ như con kiến, con muỗi,… cho đến
lớn như con trâu, con bò,… và con người thì không được
giết hại.
2-Giới
trộm cắp: Là tất cả đồ vật của người chủ không đồng
ý mà mình lấy, gọi là trộm cắp. Nếu những đồ của cha,
mẹ, anh, em dùng qua dùng lại thì không gọi là trộm cắp.
Mặc dầu tiền của cha, mẹ, anh, em có giữ riêng, nếu chưa
có sự đồng ý mà lấy thì cũng thuộc trộm cắp.
3-Giới
tà dâm: Là ngoài vợ chồng mà quan hệ dâm thì cấm, còn vợ
chồng chánh thức thì không cấm dâm. Việc này ở ngoài đời
thì pháp luật cũng cấm. Đó là vai trò bổn phận làm chồng
hay làm vợ.
4-Giới
vọng ngữ: Gồm có 4 thứ: Vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu, lưỡng
thiệt.
-Vọng
ngôn: Là có nói không có, không có nói có, tức là nói gạt
nói láo.
-Ỷ
ngữ: Là nói lời thêu dệt nghĩa là nói chuyện quan hệ dâm
dục của nam nữ.
-Ác
khẩu: Là chửi mắng người ta.
-Lưỡng
thiệt: Là nói hai chiều, tức là người bên này nói xấu
người kia, người bên kia nói xấu người này, làm cho hai
bên gây lộn đánh lộn.
5-Giới
uống rượu: Đáng lẽ uống rượu không có hại đến ai.
Nếu uống rượu say thì có thể phạm đến 4 giới trước
(sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ), vì say nên tự mình
không kềm chế được. Cho nên, nhà Phật phải cấm uống
rượu.
Sát,
đạo (trộm), dâm, vọng gọi là tánh giới. Bốn giới này
là căn bản của nhà Phật. 5 giới của người Phật tử tại
gia, 10 giới Sa Di, Sa Di Ni, 250 giới Tỳ Kheo, 348 giới Tỳ Kheo
Ni, 10 giới trọng 48 giới khinh của Bồ Tát đều là lấy
4 giới này làm căn bản. 4 giới này thuộc về tánh giới.
Không những thọ giới rồi mà lại phá giới thì có tội,
không có thọ giới mà phạm thì cũng có tội nhân quả, tức
là phải chịu quả báo.
Nhưng
sám hối có thể sám diệt được tội phạm giới, còn tội
nhân quả không thể sám được. Nhân nào quả nấy thì phải
chịu quả báo. Không phải thuộc về tánh giới là giá giới
như giới uống rượu có thể khai tức là uống không có phạm.
Tại sao? Như có bệnh mà thầy thuốc bảo uống thuốc rượu
mới trị được bệnh thì mình có thể công khai uống rượu
để trị bệnh nên không phạm. Nếu mình uống lén thì phạm
hay uống lộn rượu cũng không phạm hoặc những thứ có tên
rượu mà uống không say, như cơm rượu, bỏ rượu vào đồ
ăn không thể say thì không phạm.
Nhưng
tánh giới không thể khai, nhưng có thể sám hối. Sám rồi
là hối cải không phạm nữa.
Hỏi:
Đi
trên đường lỡ đạp nhầm con trùng thì có bị tội không?
Đáp:
Mỗi
năm đến mùa kiết hạ, chư Tăng không ra ngoài đường là
tránh đạp nhầm côn trùng, vì mùa hạ ít lạnh côn trùng
ra ngoài đường nhiều. Theo Phật pháp là tất cả do tâm tạo,
nếu tâm không biết thì không có nhân, không có nhân thì không
có quả. Giữ được thiền giới (không biết) thì không có
phạm, lúc biết thì phạm. Nếu có phản ứng tự nhiên thì
cũng phải có quả tự nhiên.
-Như
vậy có tội rồi phải không?
-Việc
ấy không phải tội, mà là việc nhân quả. Tức là tạo nhân
nào thì chịu quả ấy. Mình cố ý phạm pháp luật ở ngoài
đời tức là có tội cấm nên bị người ta bắt, giết gà
vịt thì đối pháp luật ngoài đời không có tội, mà có
tội nhân quả. Phạm giới mới coi là tội, mà có thể sám
hối diệt tội phạm giới thì không còn tội. Như tội nặng
cách mấy nhưng sám hối thì được hết.
Như
tội ba la di là tội hạng nhất của người xuất gia, phải
bị 9 triệu năm địa ngục, nếu được sám hối thì hết
tội. Còn nhân quả thì khác, nhân nào quả nấy. Như bây giờ
mình vô ý có phản ứng tự nhiên đập chết con muỗi giống
như mình ra ngoài đường bị xe cán chết. Chiếc xe vô ý cán
chết người thì pháp luật cũng phạt người lái xe. Nên tâm
cố tình thì bị quả cố tình, tâm vô ý thì bị quả vô
ý.
Hỏi:
Người
chồng bán đồ mặn để nuôi vợ con, người vợ phát tâm
tu. Như vậy có lọt vào nhân quả không?
Đáp:
Người
nào có quyền mà chủ trương làm thì chịu nhân quả, còn
người cấp dưới không có quyền là chỉ nghe lệnh cấp trên
thì không bị nhân quả. Cũng có trường hợp cấp trên sai
cấp dưới đi giết hại thì cấp dưới cũng phải bị nhân
quả.
Hỏi:
Những
người ăn thịt không thấy con vật bị giết hay không thấy
con vật đau khổ la lên, vậy những người ăn thịt đó có
mắc tội nhân quả không?
Đáp:
Có
mắc tội nhân quả. Kinh Lăng Nghiêm và kinh Lăng Già nói: “Ăn
tam tịnh nhục, ngũ tịnh nhục đều cấm”. Không nghe, không
thấy, không vì mình mà giết gọi là tam tịnh nhục, rồi
thêm cầm thú ăn dư hay con vật tự chết, côïng chung là 5
thứ gọi là ngũ tịnh nhục. Mình dùng đồ có liên quan đến
thân thể của con vật thì cũng có dính líu nhân quả, như
dùng giày làm bằng da trâu bò, áo lông thú,…
Hỏi:
Có
người ăn thịt khỉ, đến khi bệnh thì có hành vi leo cây,
nhảy nhót như khỉ. Người vợ của người ăn thịt khỉ
thắc mắc sao nghiệp báo đến nhanh quá?
Đáp:
Nghiệp
nào nặng thì trả trước, như nghiệp thiện nhiều hơn nghiệp
ác thì phước báo đến trước, nghiệp ác nhiều hơn nghiệp
thiện thì việc xấu đến trước. Tức là nhân mạnh thì
quả mau đến, nhân yếu thì quả đến sau. Có một vị phát
minh thuốc phòng tê liệt để trị cho người khác thì được,
nhưng chính ông đó lại bị tê liệt mà dùng thuốc của ông
thì không chữa được, nên lúc ông gần chết rất khổ.
Tại
sao? Đó là quả báo của ông. Trong khi giúp người ta được
phải thí nghiệm biết bao nhiêu con thỏ con chuột chịu đau
khổ rồi mới chết. Cho nên trong khi sống ông bị quả báo
chứ không đợi đến kiếp sau mới có quả báo.
Vì
vậy, nhà khoa học Einstein ăn chay trường là ông sợ quả
báo.
Hỏi:
Con
đã ăn chay trường lâu rồi, nhưng người mẹ của con không
chịu ăn chay thì con phải làm cách nào để cho bà ăn chay?
Đáp:
Ở
Thượng Hải, có ông chủ ngân hàng ăn chay trường, nhưng
khuyên mẹ ăn chay lần nào cũng bị rầy. Ông không khuyên
nữa, bảo nhà bếp làm chay thật ngon nhưng không nói là đồ
chay. Bà mẹ ăn chay được 2 năm mà không biết mình ăn chay.
Đến lần sanh nhật của bà, ông chủ ngân hàng mới nói với
bà mẹ rằng: “Sanh nhật của mẹ, mời tất cả mọi người
đều dự tiệc chay và mẹ cũng ăn chay”.
Bà
nói: Aên không được mà cứ nói ăn chay hoài!
Ông
ấy nói: Mẹ đã ăn chay được hai năm rồi mà! Tại sao còn
nói không được?
Bà
nói: Sao nói tôi ăn chay 2 năm?
Ông
ấy nói: Mẹ cứ hỏi các vị nhà bếp?
Về
sau bà ấy không còn nói gì về việc ăn chay nữa.
-Mấy
đứa em của con nói con bất hiếu và nói sao không mua thịt
cho mẹ ăn? Rồi mấy đứa em chửi con hoài! Tại sao?
-Tại
vì cô không biết dùng phương tiện. Nếu hại cha mẹ chịu
quả báo mới là bất hiếu. Mấy đứa em có chửi cũng mặc
kệ. Như ông chủ ngân hàng cũng bị mẹ ông chửi vậy.
Hỏi:
Bát
quan trai là gì?
Đáp:
Bát
quan trai là phương tiện cho người tại gia tập tu một ngày
một đêm cuộc sống xuất gia, nên có qui định một ngày
một đêm. Theo giới luật của nhà Phật là khi thọ giới
thì được xả giới, còn bát quan trai khỏi cần xả, vì thọ
giới bát quan trai là quy định chỉ được một ngày một
đêm thì tới giờ tự xả. Như ngũ giới là cấm tà dâm,
nhưng thọ giới bát quan trai là giới xuất gia một ngày một
đêm thì tà dâm và chánh dâm đều cấm.
Bát
quan là 8 thứ quan ải (cấm), tức là 9 giới của10 giới Sa
Di, trừ ra giới cầm tiền bạc, vì người Phật tử không
có thể lìa tiền bạc được. Trai là ăn ngọ.
Giới
dâm là quan hệ sinh lý rất khó giữ. Các cầm thú như cọp,
beo, sư tử,… mình cho nó là ác thú. Nhưng nó dâm dục vì
sự truyền giống, ngoài sự truyền giống thì nó không dâm
dục, nó giết hại con khác vì sự đói của nó, còn nó no
thì không giết hại. Con người thì không phải vậy, không
phải vì để no mà giết hại, không phải vì truyền giống
mà dâm dục! Cho nên, nhà Phật phải cấm, mà lại rất là
khó cấm. Tu sĩ có thêm 5 giới để làm hàng rào giữ giới
dâm.
Bát
quan trai như cái cầu để cho người ta tu giải thoát. Thói
quen của con người rất khó sửa, nên phải tập sửa lần
lần. Theo qui định người thọ giới Bồ Tát mỗi tháng phải
thọ 6 ngày bát quan trai (2 ngày cuối tháng, mùng 1, rằm, mùng
8 và 23). Nếu đã tập quen thì ngày nào mình cũng có thể
thọ bát quan trai được. Tức là mình ở nhà tiếp tục tu
như mình đến chùa, gọi là thân tại gia nhưng tâm xuất gia.
Như Lục Tổ nói: “Thân tại gia mà tâm xuất gia, còn tốt
hơn thân xuất gia mà tâm tại gia”. Những người thân xuất
gia mà tâm tại gia là những người tạo tội địa ngục.
Hỏi:
Con
tham thoại đầu giữ nghi tình, con mắt con vẫn thấy cảnh
vật cũng như không thấy, nhưng vẫn đi đứng được và con
không biết trời biết đất biết ta gì nữa, rồi câu thoại
đầu cũng biến mất. Như vậy là thế nào?
Đáp:
Biết
câu thoại đầu biến mất thì không được rồi, đừng có
biết, cứ giữ cái không biết là đủ. Nếu nghi tình còn
thì không biết thì mấy cái kia khỏi cần nói.
-Làm
thế nào để tăng nghi tình lên?
-Như
vậy là muốn tìm hiểu cho biết làm chi nữa? Đã giữ không
biết là chấm dứt tìm hiểu.
-Đến
giai đoạn nào thì nghi tình thành khối?
-Vì
ông muốn tìm hiểu nghi tình là nghịch với tham thiền. Đã
biết tham thiền là “không biết” mà! Không biết là chấm
dứt tìm hiểu, bây giờ không chịu chấm dứt tìm hiểu mà
lại tìm hiểu nghi tình, tức là không có tham thiền.
Sơ
lược cách tham Tổ Sư thiền:
Cách
thực hành rất giản dị chỉ là hỏi và nhìn, hỏi là kích
thích niệm không biết, nhìn là nhìn chỗ không biết. Như
hỏi “khi chưa có trời đất ta là cái gì?” thì khởi lên
một niệm không biết, khán là nhìn chỗ không biết, chỗ
không biết thì không có chỗ, không có chỗ thì không có mục
tiêu để nhìn, nên nhìn mãi không thấy gì vẫn còn không
biết, chính vẫn còn không biết đó gọi là nghi tình. Cứ
hỏi và nhìn, hai cái một lượt đi song song để giữ nghi
tình, thì nghi tình này sẽ đưa hành giả đến thoại đầu,
rồi kiến tánh thành Phật.
Năm
năm trước, mỗi năm tôi đều có đi Canada một lần để
hoằng Tổ Sư thiền. Ở bên Mỹ có 10 Phật tử đi theo, trong
đó có 2 mẹ con, người mẹ là tên Nguyệt Anh có đứa con
mới 3 tuổi (4 tuổi ta) cùng đi theo. Đứa bé được mẹ nó
dạy tập tham thiền khoảng mấy tháng. Đến thành phố lớn
nhất của Canada là Toronto có quán khoa học, trong đó có máy
vi tính để mình thử hoạt động của bộ óc. Khi để tay
trên bộ phận máy vi tính thì đèn ở trên sáng lên. Những
người theo tôi đi Canada đều là hành giả tham thiền đều
thử qua máy này, lúc hỏi và nhìn thì đèn sáng lên từ trên
xuống cùng rồi đèn tắt.
Tôi
thường nói con nít 6, 7 tuổi và bà già 70, 80 tuổi đều biết
tham thiền. Nhưng đứa bé mới 3 tuổi, tôi chưa tin nó tham
thiền được, sẵn có máy để thử coi. Tôi ẳm nó trên đầu
gối tôi, tôi lấy tay nó đè trên máy thì đèn cũng sáng ở
trên, tôi bảo nó tham thiền đi, nó tham khi chưa có trời đất
ta là cái gì? Thì đèn ở trên sáng rồi xuống dưới cùng
tắt luôn.
Lúc
đó những người da trắng đứng kế bên nói: Các vị sao
hay quá! Người nào thử thì đèn đều xuống được,
luôn đứa bé thử, đèn cũng xuống được, tại sao chúng
tôi làm không được? Muốn đèn xuống một chút cũng không
được vậy?
-Nói
với họ: Bộ óc bớt suy nghĩ thì đèn mới xuống được.
-Họ
nói: Tôi không suy nghĩ sao đèn không xuống?
Họ
nói không suy nghĩ nhưng bộ óc họ không nghe lời theo. Như
những người bị mất ngủ, cứ suy nghĩ hoài, muốn ngưng
suy nghĩ cũng không được. Nếu ngưng suy nghĩ thì không bị
mất ngủ. Đứa bé khi thử thì đèn còn xuống nhanh hơn người
lớn.
Tại
sao? Ở trong 10 người có cô Hành Thiền thợ may công phu được
tự động hóa rồi, cô đang cắt may khỏi cần qua óc, nhưng
cũng cắt xong bộ đồ. Tại sao cô biết khỏi cần qua óc?
Ban đầu cũng để ý ghi thước tấc vào trong sổ theo thước
tấc mà cắt, khi tham thiền nghi tình đến tự động
cuồng cuồng nổi lên, nhưng cô ấy vẫn còn cắt. Khi cắt
xong chợt nhớ lại “vừa rồi mình không biết, chắc cắt
lộn, nên phải thường cho người ta”, nhưng xét lại thì
không có lộn. Cái đó may xong mà người ta còn khen đẹp hơn
kỳ trước. Từ đó về sau cô ấy cắt cứ cắt, không biết
gì hết, rồi cũng cắt xong và cắt từ sáng đến chiều mà
không thấy mệt. Cô ấy chỉ cắt còn người khác thì may.
Sau
này cô Hành Thiền qua Mỹ vẫn cắt may; cô Duy Nghi tốt nghiệp
thiết kế, thiết kế một kiểu rất phức tạp, đem cho những
thợ may nghiên cứu để cắt mấy ngày làm không được, rồi
nhờ cô Hành Thiền cắt, cô ấy khỏi cần nghiên cứu vẫn
cắt được, vì khỏi cần qua bộ óc là do bộ óc không biết.
Lúc
ở Canada, cô Hằng Thiền đo máy vi tính thì đèn tắt chậm
hơn đèn của đứa bé đo máy vi tính. Vì cô Hành Thiền là
người lớn đã biết quá nhiều nên phải dùng công phu dẹp
cái biết, còn đứa bé thì chưa biết gì tức là không biết
sẵn nên tham thiền dễ tắt đèn nhanh hơn.
Như
vậy chỉ cần dùng cái không biết, nên đứa bé 3 tuổi vẫn
tham thiền được. Rồi về Mỹ nó dạy mấy đứa nhỏ tham
thiền, nhưng mấy đứa đó là 7, 8 tuổi hỏi nó “tại sao
mày không dạy mấy đứa bằng mày”? Nó trả lời “tụi
nó không biết”. Vì kiếp trước nó có thể đã tham thiền
rồi, nên bây giờ nó 3 tuổi tham thiền được. Vậy nó là
thành phần đặc biệt.
Hỏi:
Theo
Phật dạy là “nhân nào quả nấy”, con không hiểu tại
sao vào ngày rằm tháng giêng, trong hàng Phật tử đến chùa
cúng sao giải hạn, thậm chí cũng có quý thầy thúc giục
quở trách Phật tử nào không cúng sao một năm sẽ gặp rắc
rối về bổn mạng. Vậy điều này có hợp chánh pháp không?
Đáp:
Những
việc này là tà mạng thực nên Phật cấm, nhưng người ta
không chịu nghe lời Phật dạy. Nếu đã tin nhân quả thì
còn hỏi những việc đó làm chi! Vì người đó không tin nhân
quả nên mới hỏi.
Thượng
tọa Minh Hiền thay mặt đại chúng có lời cảm tạ:
Nam
mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
-Kính
bạch Hoà thượng phó chủ tịch hội đồng trị sự giáo
hội trung ương, kiêm Tổng thư ký giáo hội Phật giáo Việt
Nam và trụ trì chùa Hưng Phước.
-Kính
bạch Sư Phụ.
Chúng
con từ lâu khát ngưỡng tu tập Thiền tông, được sự hướng
dẫn của Hòa thượng Thích Duy Lực. Để đáp sự thỉnh cầu
của chúng con, Hòa thượng cho phép đả Thiền thất tại chùa
Hưng Phước trong suốt một tuần qua, công ơn của Hòa thượng
không biết gì hơn, toàn thể đại chúng vân tập đảnh lễ
cảm niệm Hòa thượng đã dành cho chúng con nhiều thuận duyên
tu tập, vậy toàn thể Tăng Ni Phật tử đảnh lễ Hòa thượng
và Sư Phụ chứng minh .
Nam
mô bổn sư Thích ca Mâu Ni Phật.
Lời
đáp từ của Hòa thượng Hiển Pháp viện chủ chùa Hưng Phước:
-Kính
bạch Hòa thượng Thiền sư.
-Kính
bạch chư đại đức Tăng Ni và thưa các vị Hành Giả đả
thiền thất.
Thật
ra, đối với Thiền sư Duy Lực thì chỉ biết và kết duyên.
Sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng, lúc bấy giờ giáo
hội phân công cho chúng tôi làm chủ nhiệm tổ hợp tác xã
sản xuất và mua bán, trong thời buổi kinh tế khó khăn, nên
chúng tôi nghĩ rằng chỉ có các chùa của người Hoa có tiền
dự trử, nên chúng tôi có nhờ Hòa thượng tổ chức một
cuộc họp các vị trụ trì người Hoa ở tại Chợ Lớn, được
Hòa thượng hứa khả, nhờ hỗ trợ một số vốn cho hợp
tác xã lúc thời bấy giờ.
Trong
lúc kinh tế thời bao cấp khó khăn, mà tín dụng ở bên ngoài,
các vị cũng biết họ cho vay tiền lãi 15% hay 20%. Chúng tôi
cũng được Hòa thượng được số tiền tương đối, cho
mượn mà không có lời, hứa một năm rồi trả, chúng tôi
cũng hoàn trả đủ hết theo uy tín của Phật giáo.
Từ
đó Hòa thượng có tổ chức những kỳ thiền thất, lúc đầu
ở tại Từ Aân, sau đó ở tại Pháp Thành, sau này cũng khó
khăn nên thiền thất chỗ này chỗ khác, từ nội bộ Từ
Aân như vậy, chúng tôi hết sức chua xót, là muốn tìm một
địa điểm để hỗ trợ trong việc hướng dẫn tu hành cho
Tăng Ni và Phật tử. Một năm về trước chúng tôi có thỉnh
Hòa thượng về đây một hai lần, rồi ở văn phòng 2 trung
ương giáo hội, chúng tôi tổ chức được một lần.
Lần
này chúng tôi bàn thầy Minh Hiền, vì địa điểm và hoàn
cảnh chật chội, có khó khăn, nên quý vị cũng hơi vất vả
trong việc tu học trong tuần lễ mỗi tháng, mong quý vị thông
cảm cho nhà chùa chúng tôi. Nếu có đủ duyên thì chúng tôi
tổ chức cho đàng hoàng hơn, cũng mong sao việc định cư của
Hòa thượng hoặc trở về Việt Nam tiếp tục hướng dẫn
các Phật tử tu học xuyên suốt. Điều này là sự mong muốn
của giáo hội cũng như chúng tôi, còn những duyên khúc khiểu
ở bên ngoài, chúng tôi nghĩ rằng mình sẽ khắc phục được.
Nhân
kỳ đả thiền thất năm Kỷ Mẹo này, nếu không có gì trở
ngại thì hằng tháng chúng ta sẽ tổ chức thiền thất. Trong
một tuần lễ tu học vừa qua chúng tôi ghi nhận công đức
của Hòa thượng Thiền sư, cũng mong Hòa thượng nhiều sức
khỏe và tiếp tục dìu dắt cho Tăng, Ni, Tín đồ. Và cũng
kính chúc cho Tăng, Ni, Phật tử được tinh tấn tu học, làm
sao đạt được mục đích Thiền tông theo sự hướng dẫn
của Hòa thượng.
Trước
hết cảm ơn Hòa thượng Thiền sư và xin cảm ơn tất cả
chư Tăng, Ni và quý Phật tử. Lần nữa cầu chúc chư vị
được tinh tấn.
Nam
mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát.
KHÓA
BỒI DƯỠNG THIỀN HỌC TẠI CHÙA LONG KHÁNH (BÌNH ĐỊNH)
13
– 4 – 1999
Tâm
là cái gì? Nguồn gốc Phật pháp là tâm, ai cũng nói được,
mà chẳng có ai biết, vì chân tâm vô hình vô tướng không
có số lượng, mọi người đều có. Chư Phật nói tâm như
hư không vô sở hữu; Ngài Long Thọ là Tổ thứ 14 Thiền tông
có giảng trong Trí Độ Luận; Ở trong Phật pháp với Thiền
tông, tôi có giải thích.
Ngài
Long Thọ nói: “Tâm như hư không vô sở hữu”. Vô sở hữu
là không có hư không, mà dung nạp và ứng dụng, ấy là cái
thực dụng. Như bây giờ nhà cửa đất đai, cây cối, núi
sông đều phải nhờ vô sở hữu này dung nạp và ứng dụng,
nhưng hiện nay, các vị ngồi đây cũng nhờ vô sở hữu
mới có chỗ ngồi.
Vô
sở hữu tức là trống rỗng, Phật pháp nói là Tánh Không,
vì trống rỗng mới hiện bày cái dụng. Tâm mình trống rỗng,
không bị thời gian không gian hạn chế, nên tất cả vũ trụ
vạn vật đều ở trong đó. Nhưng cái thông minh của bộ não
làm hạn chế lại, như cái tách bít lại là cái tách chết
không dùng được, cái bình nầy cũng vậy, nó có cái KHÔNG
mới đựng nước được. Tất cả các thứ muốn dùng đều
phải nhờ cái KHÔNG.
Ngài
Long Thọ nói: Trống rỗng mới dùng được, nếu không trống
rỗng thì không dung nạp và không dùng được. Như cái tách
bị bể thì không còn dùng được, còn hư không trống rỗng
thì không bị thời gian, không gian hạn chế. Cái tách bị
không gian thời gian hạn chế, nếu cái gì có thể tiêu mất
thì không chân thật.
Có
và không là phân biệt của bộ não, vì có và không là nhị
biên tương đối, Phật pháp không có tương đối. Trong Trung
Quán Luận phá tương đối. Có là pháp hữu vi, không là pháp
vô vi. Trong đó phẩm Quán Như Lai, Quán Niết Bàn đều phá
pháp vô vi. Quán Nhân Duyên, Quán Khứ Lai,… đều phá pháp
hữu vi.
Phàm
có tương đối đều phá. Vì sao lại phá? Vì nó không phải
thực tế, thực tế thì không có tương đối; nhưng cuộc
sống hằng ngày đều phải nhờ tương đối, cũng như mình
hiện giờ ở trong mở mắt chiêm bao.
Trong
biểu đồ Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21, có 2 bộ phận: Thật thể
và hư thể, ở chính giữa là Diệu giác. Diệu giác là cái
biết cao nhất. Vừa rồi tôi nói: Trống rỗng mới dung
nạp tức là tánh không, không này chẳng phải cái không chết,
không này có cái biết cao nhất của Diệu giác. Cái biết
này không phải cái biết của bộ não, cái biết bộ não gọi
là vọng tâm. Còn cái biết chuyển thành trí gọi là chân
tâm. Thức chưa chuyển thành tứ trí thì nó hợp tác với
hệ thống thần kinh bộ não, tức là lục căn gọi là vọng
tâm. Cuộc sống hằng ngày ở trong vọng tâm, vì mình ở trong
chiêm bao.
Triết
Học, Tự Nhiên Khoa Học, Y Học, Tâm Lý Học; 4 thứ hợp lại
giải quyết cơ thể của mình chưa đầy đủ. Tại sao? Vì
họ không phân biệt được lục căn, lục thức. Lục căn
đảm nhiệm chức vụ gì? Lục thức đảm nhiệm chức vụ
gì? Tất cả đều không rõ mà chỉ biết bộ não. Thức thứ
6 và thức thứ 7 thì hoàn toàn không biết, cho nên họ giải
thích không thông, như các giáo sư trường đại học, nghi
thiếu cái gì nhưng không biết.
Quyển
Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 giải thích rõ và đầy đủ hơn 4
đại học hợp lại. Duy thức nhà Phật diễn giải thông suốt
tất cả. Trong thật thể biểu đồ: Nhãn căn như cây đèn
đảm nhiệm sự chiếu soi, nhãn thức thì phân biệt. Tức
là nhờ nhãn căn chiếu soi thấy chậu bông thì nhãn thức
mới nhận ra màu trắng, đỏ, vàng, xanh; đồng thời có thức
thứ 6 để giúp. Nhãn căn chiếu soi hiện cái hình ra, còn
nhãn thức phân biệt cái hình gì, thức thứ 6 phân biệt đầy
đủ hơn; nhãn thức chỉ phân biệt cố định, thức
thứ 6 có tánh khả biến. Vì tánh khả biến bao gồm tam tánh:
Thiện, ác và vô ký.
Tam
tánh gồm có: Biến kế chấp, y tha khởi và viên thành thật.
Thiện ác thì người nào cũng biết, nhưng không có rõ, không
có tiêu chuẩn. Tôi muốn hoằng dương với người tây phương,
nên mới nói có tiêu chuẩn. Thế nào gọi là thiện? Thế
nào gọi là ác? Trong cuốn Vũ Trụ Quan có giải thích kỹ.
Đã
nói nhãn căn rồi, thì các căn kia cũng như vậy; chỉ có ý
căn nhiều người chưa hiểu; ý căn đảm nhiệm suy nghĩ, còn
ý thức theo đó phân biệt thiện, ác… ý căn và ý thức
khác nhau.
Thức
thứ 7 có 2 nhiệm vụ:
-Ngày
đêm chấp thức thứ 8 là TA (thức thứ 8 là bản thể của
vũ trụ, là bao gồm tất cả các chủng tử vũ trụ, cũng
là bản thể của tâm mình. Đầu thai đến trước và chết
đi sau cùng là do thức này).
-Truyền
tống thức: Đem chủng tử thiện nghiệp, ác nghiệp của thức
thứ 6 hay không thiện không ác truyền vô thức thứ 8 (còn
gọi là tạng thức hay kho tàng), khi nào chủng tử chín mùi,
thì nó truyền ra giao cho thức thứ 6 đi thi hành. Cái nào tâm
lực mạnh thì cái quả đến trước, cái nào tâm lực yếu
thì cái quả đến sau, có khi kiếp này tạo cái nhân, kiếp
sau mới nhận cái quả, hoặc là 10 kiếp, 100 kiếp mới nhận
cái quả.
Nếu
tu Tổ Sư Thiền, tăng cường sức mạnh của tâm, tức là
tạo nhân mạnh thì quả đến liền. Mặc dầu tạo nhân ác
nhiều kiếp trước, nhưng nó yếu hơn nên quả đến sau. Ví
dụ như tạo nhân là 1 độ, mà tham thiền 10 độ thì quả
tham thiền đến trước, đến hết rồi thì tới quả 9 độ,
8 độ, cuối cùng đến quả 1 độ.
Nếu
tham thiền được 10 độ, mà không ngưng tham lại tiến thêm
100 độ, 1000 độ, 1000000 độ cho đến thành Phật thì cái
nhân ác không có cơ hội đến được. Thành Phật rồi phải
độ chúng sanh nào có nhân duyên. Trong kinh Kim Cang nói: Tiền
thân Phật Thích Ca bị Ca Lợi Vương xẻ thân ra từng miếng,
mà Phật Thích Ca lại độ ông ấy trước. Ca Lợi Vương sau
này là tôn giả Kiều Trần Như.
Bất
cứ chủng tử thiện ác, một khi đã chín mùi thì cái quả
mới đến, nhân yếu dời lại sau, nhân mạnh thì đến trước.
Cho nên tự mình có thể sửa đổi nhân quả, nhưng người
khác không sửa được. Như ngài Mục Kiền Liên cứu
mẹ, ngài đã chứng quả A La Hán được đệ nhất thần thông,
nhưng không cứu được cái nghiệp mẹ ngài là bà Thanh Đề;
phải nhờ tâm lực của1250 vị Tỳ Kheo A La Hán hợp lại
mới chiêu cảm được tâm bà Thanh Đề, rồi tâm bà tự chuyển
ra khỏi cõi ngạ quỷ.
Nhân
quả là vậy! Ai ăn người nấy no, con cái có hiếu không ăn
no dùng cho cha mẹ, cha mẹ thương con cách mấy cũng không ăn
no giùm cho con.
Hỏi:
Những
người tinh tấn tu thiền thất, phiền não chưa dứt, vậy
cuối cùng cuộc đời người ấy có được giải thoát không?
Đáp:
Vừa
rồi nói là tùy theo sức lực của mình tạo nhân, như kiếp
trước mình tạo nhân ác, làm cho người ta bị chết đói,
nếu kiếp này tâm lực chỉ 1 độ, cũng phải chịu quả chết
đói. Bây giờ tham thiền từ 1 độ lên đến 2 độ, 3 độ
cho đến 10 độ và mình chỉ làm việc lành, không làm việc
ác thì phước báo đến trước, quả chết đói dời lại
sau. Nếu tham thiền được 10 độ mà không tu nữa thì quả
10 độ hết, rồi đến quả 9 độ, 8 độ, cứ dần dần đến
1 độ thì quả chết đói cũng phải tới.
Tham
thiền được 10 độ không ngưng tham, lại tiến thêm
100 độ, 1000 độ, 1000000 độ, cho đến thành Phật thì quả
chết đói không đến được, nhưng nhân đó không có tiêu
mất, nên thành Phật còn phải độ chúng sanh, người mình
làm cho chết đói, được ưu tiên độ họ trước thì nhân
chết đói mới tiêu mất, vì thế mình không bị chết đói.
Hỏi:
Theo
Đại Thừa Khởi Tín Luận nói: Giải ngộ rồi tu chơn như
tam muội thì mới ngộ nhập được, còn tu thoại đầu công
án chưa giải ngộ, có phải tu giống như ngoại đạo không?
Đáp:
Ấy
là người đó không có rõ, cuộc sống hằng ngày đều phải
dùng ý thức (bộ não). Bộ não gồm có 2 mặt: Biết và không
biết. Người ta dùng mặt biết để tu gọi là Như Lai thiền,
như Tịnh Độ tông, Thiên Thai tông, Hiền Thủ tông, Duy Thức
tông,… theo phổ thông giáo môn có 52 cấp: Thập Tín, Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác,
Diệu Giác.
Dùng
không biết để tu là Tổ Sư thiền không có cấp bậc, tức
từ địa vị phàm phu tu chứng lên Đẳng Giác. Từ Đẳng
Giác tiến thêm một cấp nữa gọi là Diệu Giác tức là quả
Phật. Vì người hỏi không hiểu, cho nên câu hỏi không đúng.
Hỏi:
Tông
chỉ Thiền tông là bất lập văn tự, tại sao những bản
văn bất hũ, những án văn tuyệt tác, mà lại do các Thiền
sư để lại?
Đáp:
Lục
Tổ nói trong Pháp Bảo Đàn: Chính 2 chữ “bất lập” cũng
là văn tự vậy! Kinh Lăng Già cũng nói: “Văn tự tánh lìa”.
Nếu không dùng văn tự thì Phật pháp bây giờ không còn,
Thiền tông cũng vậy. Có văn tự nhưng không chấp vào văn
tự, tất cả cũng đều không chấp. Phật pháp là phá chấp
trước của chúng sanh, nếu không chấp trước thì tất cả
các pháp đều là Phật pháp, tức là theo thế lưu bố tưởng
không sanh ra trước tưởng (kinh Đại Niết Bàn) .
Hỏi:
Thế
gian Thánh Phàm khác biệt, phàm phu ngoài tâm chấp pháp, vọng
lập kiến văn; bậc Thánh đã ngộ nhất tâm, tại còn có
tri kiến như phàm phu?
Đáp:
Bậc
Thánh dù có tri kiến, nhưng thấu rõ vật như huyễn, chẳng
sanh chấp trước. Kinh Đại Niết Bàn nói:
Bồ
Tát Ca Diếp bạch Phật: Thế Tôn! Nếu như phiền não sanh
bởi điên đảo tưởng, thì tại sao bậc Thánh thật có điên
đảo mà không có phiền não?
Phật
hỏi: Sao nói bậc Thánh có điên đảo tưởng?
Bồ
Tát Ca Diếp đáp: Bạch Thế Tôn! Tất cả Bồ Tát gọi con
trâu là con trâu, con ngựa là ngựa, gọi nam, nữ lớn nhỏ,
nhà cửa, xe cộ,… ấy là điên đảo tưởng.
Phật
nói: Tất cả phàm phu có 2 thứ tưởng: thế lưu bố tưởng
(thế gian đã lưu hành) và trước tưởng (chấp trước).
Bậc
Thánh chỉ có thế lưu bố tưởng chẳng có trước tưởng,
phàm phu chấp trước nên ở thế lưu bố tưởng sanh ra trước
tưởng. Bậc Thánh khéo giác quán, nên ở nơi thế lưu bố
tưởng không sanh ra trước tưởng. Cho nên phàm phu gọi là
điên đảo tưởng.
Bậc
Thánh dù tri, nhưng chẳng gọi là điên đảo tưởng; lại
do cảnh vốn tự không, đâu cần hoại tướng; do linh tâm
tự chiếu, đâu nhờ cảnh sanh, nên chẳng như phàm phu chấp
trước năng sở tri kiến như vậy.
Triệu
Luận nói: Hễ có sở tri thì có sở bất tri. Do Thánh tâm
vô tri nên vô sở bất tri, cái tri của vô tri gọi là nhất
thiết tri. Nên Kinh nói: “Thánh tâm vô tri mà vô sở bất
tri”, thật đáng tin vậy! Cho nên bậc Thánh trống rỗng nơi
tâm, mà thật tế chiếu soi, suốt ngày tri nhưng chưa từng
tri, như lắng nước soi bóng, há đâu có lập tâm năng sở.
Cảnh trí đều không đâu có cảnh giác tri ư! Theo sự trình
bày trên đây và kinh Đại Niết Bàn, thì biết ở nơi pháp
thế gian không sanh trước tưởng tức là pháp xuất thế gian,
cũng là Phật pháp. Chứ không phải ngoài pháp thế gian mà
có pháp xuất thế gian đặc biệt gọi là Phật pháp vậy.
Nói
tóm lại, cuộc sống hằng ngày đói thì ăn, khát thì uống,
lạnh thì mặc thêm áo, nóng thì cởi bớt ra, cho đến nói
năng tiếp khách làm việc… ở nơi các pháp thế gian , chẳng
sanh trước tưởng, tức là Phật pháp vậy. Chẳng đem chủ
quan của mình xen vào sự vật, tức là chẳng sanh trước tưởng,
cũng là chẳng có “cho là” thì không lọt vào nhị biên
đối đãi vậy.
Phật
nói: Dùng văn tự nhưng không biết văn tự, vì chỉ là phương
tiện. Chấp phương tiện chân thật là si mê; phương tiện
là tạm thời, đâu phải chân thật. Tất cả lời nói văn
tự đều là văn tự, chớ nên chấp thật.
Cuộc
sống hằng ngày, ăn cơm thì cứ ăn cơm, mặc áo thì cứ mặc
áo, chứ không cho áo này đẹp, áo kia xấu, sanh tâm chấp
trước thì phiền não mới đến, cũng như muốn may mà không
có tiền may cũng phiền não. Theo câu hỏi trên, người hỏi
có chấp trước văn tự.
Hỏi:
Minh
tâm kiến tánh thì lấy cái gì để minh, lấy cái gì để
kiến?
Đáp:
Tâm
như hư không vô sở hữu, làm sao lấy cái gì để minh để
kiến? Vì tất cả lời nói đều có ngữ bệnh, như trong kinh
nói: “Từ vô thỉ đến nay”. Từ vô thỉ sao có đến nay
được! Phải có hữu thỉ mới có đến nay. Rồi nói: “Kiến
tánh thành Phật”, tánh làm sao kiến? Nếu tự tánh thành
sở kiến thì có năng sở, đâu phải bất nhị! Nếu có năng
kiến và sở kiến là nhị rồi. Cho nên, tất cả văn tự
và lời nói chỉ là phương tiện; nếu chấp phương tiện
cho là thật thì học cũng uổng công.
Hỏi:
Thiền
là một pháp môn tương đối khó thực hiện trong hiện tại,
vậy cúi mong Hòa thượng dạy cho phương pháp dễ thực hiện
nhất, mà vẫn đạt như sở nguyện?
Đáp:
Phương
pháp Tổ Sư thiền rất dễ tu, chỉ hỏi câu thọai và nhìn
thọai đầu. Tham là hỏi câu thoại, để kích thích lên một
niệm không biết; khán là nhìn, nhìn chỗ không biết, nhưng
chỗ không biết thì không có chỗ, không có chỗ thì không
có mục tiêu để nhìn, không có mục tiêu để nhìn, thì nhìn
mãi không thấy gì vẫn còn không biết; chính vẫn còn không
biết đó, Thiền tông rất chú trọng gọi là nghi tình, tức
là cái không biết; hỏi và nhìn, hai cái song song đi một lượt,
vừa nhìn để giữ cái không hiểu không biết, tức là nghi
tình để đưa hành giả đến thoại đầu, rồi kiến tánh
thành Phật.
Ví
dụ chỗ trên cây viết là thoại đầu, ở dưới là thoại
vỉ. Bắt đầu hỏi và nhìn là rời khỏi thoại vỉ, chưa
đến thoại đầu là đang đi ở giữa đường. Vì mục đích
của mình là muốn đến thoại đầu, cho nên gọi là tham thoại
đầu hay khán thoại đầu.
Phật
Thích Ca dạy dùng không biết của bộ não, để chấm dứt
cái biết của bộ não. Tất cả biết bộ não chia ra làm 3
bộ phận: Tìm hiểu biết, ghi nhớ biết và suy nghĩ biết.
3 cái biết này hết thì sẽ đến thoại đầu, Thiền tông
gọi là đầu sào trăm thước, có người dịch là đầu sào
trăm trượng, chỗ này cũng gọi là nguồn gốc của ý thức,
ngài Nguyệt Khê nói là vô thỉ vô minh, tức là căn bản vô
minh.
Tại
sao còn có vô minh? Vì còn không biết của bộ não, nên sát
na cuối cùng của đầu sào trăm thước tiến lên một bước
lìa khỏi ý thức, thì biết và không biết của bộ não đều
sạch, cái biết Phật tánh hiện ra khắp không gian và thời
gian.
Khắp
không gian tức là trống rỗng nên gọi là tánh không, khắp
không gian không có khứ lai nên gọi là Như Lai. Khắp thời
gian không có gián đoạn, chẳng có sanh diệt nên gọi là Niết
Bàn. Vì không sanh không diệt nên trống rỗng, không có chỗ
trụ gọi là vô sở trụ. Lục Tổ nghe Ngũ Tổ giảng Kinh
Kim Cang đến câu: “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm”
rồi ngộ triệt để.
Cái
tay nắm mở, muốn lấy gì cũng được gọi là hoạt bát vạn
năng, vì nó không có trụ, tức không nắm hẳn một nắm tay
cố định. Nếu nắm hẳn lại thì cái hoạt bát vạn năng
bị mất, không thể cầm lấy cái gì nữa.
Cái
không biết của nghi tình là cái chổi tự động quét tất
cả biết và không biết của bộ não, khôi phục hoạt bát
vạn năng của bản tánh, nên sử dụng việc gì cũng thông.
Như cái tay tự làm nắm tay, thì trụ nơi nắm tay cũng không
lấy cái gì được, nên không trụ nơi nắm tay, mới có được
hoạt bát vạn năng, muốn lấy gì cũng được.
“Ưng
vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm”, ưng là nên, vô sở trụ là
không có chỗ trụ. Sanh kỳ tâm là cái dụng, tức muốn dùng
phải vô sở trụ, nếu có trụ thì không dùng được; mặc
dù trụ nơi có, trụ nơi không, hay bất cứ trụ nơi nào đều
không được; như trụ nơi Phật, trụ nơi Bồ Tát đều bị
chướng ngại, không được hiện ra cái dụng hoàn toàn.
Hỏi:
Tu
thiền dễ đưa đến thanh tịnh giải thoát, tại sao có vài
vị tu thiền một thời gian lại bị điên?
Đáp:
Tham
thiền không phải muốn thanh tịnh, cũng không mở trói để
giải thoát. Tại sao? Vì tâm như hư không trống rỗng, tại
có cái TA, muốn có sở đắc, có sở cầu, có sở sợ nên
ma mới nhập được. Còn không có cái TA thì ma nhập ở đâu!
Những người hỏi vì bệnh chấp thật quá nặng nên không
hiểu, mới có câu hỏi này.
Hỏi:
Đạo
Phật không thừa nhận định mệnh, vì làm mê hoặc con người,
nhưng có người nói Phật Thích Ca thọ ký cho Phật Di Lặc
một kiếp nữa sẽ thành Phật. Vậy vấn đề này có phải
như định mệnh không?
Đáp:
Định
mệnh gọi là nghiệp nhân nghiệp quả, nếu ở trong chiêm
bao thì còn nhân quả trong chiêm bao, nhưng nhân quả của mình
tự mình sửa mới được, chứ người khác không sửa giùm
được. Tâm lực yếu thì theo nhân quả lúc trước, còn tâm
lực mạnh thì nó sẽ sửa khác, đâu phải cái nghiệp có
nhất định, tu là chuyển nghiệp.
(Kể
lại chuyện Huỳnh Đình Kiên). Trang 96.
Hỏi
:
Phật
nói trong phẩm Phổ Môn: Nước Quỷ La Sát, vậy Quỷ La Sát
có ở cõi Nam Diêm Phù Đề này không?
Đáp:
Phật
nói: “Vạn pháp duy tâm tạo”, tâm mình chấp thì có, không
chấp thì không có. Đại Trí Độ Luận nói : Tại chấp Phật
thì có Phật, chấp Bồ Tát thì có Bồ Tát, chấp Đại thừa
thì có Đại thừa,… nếu tất cả tánh không thì tất cả
trống rỗng. Tất cả vì do chấp nên mới có, có và không
là tương đối, thuộc sản phẩm của bộ não. Còn thực tế
thì không dính dáng đến có và không. Nếu ta chấp có và
không thì lọt vào biên kiến trong 5 thứ ác kiến.
Năm
thứ ác kiến là: Thân kiến, biên kiến, kiến thủ, tà kiến,
giới cấm thủ. Nhiều người lọt vào biên kiến mà không
tự biết. Như chấp có Phật hay chấp không Phật đều là
biên kiến. Tôi có giải thích trong Trung Quán Luận.
Hỏi:
Ngài
Quán Thế Aâm được cúng dường xâu chuổi ngọc vô giá,
tại sao Ngài không nhận?
Đáp:
Chư
Phật chư Bồ Tát muốn chúng ta được ngộ, nếu chúng ta
chấp thật thì không bao giờ ngộ được. Cái vô giá là cái
tâm của chúng ta vậy, ngộ được cái tâm mới thật là vô
giá; còn không ngộ, nếu có được vô giá, mà sau khi chết
thì chẳng được gì?
Bây
giờ có thế lực cao, có sự nghiệp lớn, thành công to, tiền
của nhiều, có đầy châu báu vô giá,… đâu làm chủ những
cái ấy được! Không muốn lìa mà nó vẫn lìa, thân này không
muốn bệnh mà nó cũng bệnh, không muốn chết nhưng nó cũng
chết, tự mình làm chủ không được, mà có vô giá thì được
ích lợi gì!
Hỏi:
Tu
Thiền phải có người hướng dẫn, nếu không có người hướng
dẫn sẽ bị lạc. Vậy muốn tu không có thầy hướng dẫn,
thì phải tu như thế nào?
Đáp:
“Vô
sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”. Nếu thực hành được
9 chữ này thì bảo đảm không có bị lạc, vì chánh pháp
phải cần phá ngã chấp. Nếu không phá ngã chấp thì không
giải thoát mà thành tà ma ngoại đạo. Tà ma ngoại đạo cũng
có thiền định rất cao, nhưng họ không có phá ngã chấp.
Hỏi:
Quán
thoại đầu “Ta là ai?”, có chứng đắc gì mà không biết,
thấy mặt ngơ ngáo, thân mình dơ dấy thường ngồi một mình.
Vậy có phải tu không đúng chánh pháp không? Và sửa chữa
bằng cách nào?
Đáp:
Vì
họ không tu đúng chánh pháp, tại dùng cái biết để suy nghĩ
ta là ai? Ta là đàn ông, ta là đàn bà,… có đủ thứ ta mà
sao nói không biết! Họ đã tự dối mình. Họ hỏi câu thoại
thiếu một đoạn đầu.
Câu
thoại đầu đầy đủ là: “Khi chưa có trời đất, ta là
cái gì?”, họ cứ dùng cái biết để suy nghĩ thì không phát
khùng cũng phát điên. Dùng cái không hiểu không biết để
chấm dứt tìm hiểu biết, chấm dứt ghi nhớ biết và chấm
dứt suy nghĩ biết của bộ não.
Hỏi:
Tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh đầy đủ, vì bất giác
vô minh khởi niệm mà luôn sanh tử như vậy. Từ nhất niệm
vô minh chuyển sang vô thỉ vô minh, chưa phải là bản tánh
thanh tịnh. Từ đó dụng tâm nhìn thẳng vào hầm sâu vô minh
đến 90 thì ồ lên một tiếng phá bức màn vô minh, Phật
tánh hiển lộ. Vậy vô minh không thấy không nghe, không tướng,
làm sao biết mà nhìn?
Đáp:
Người
hỏi có đọc Bát Nhã Tâm Kinh không? Chắc là có. Chùa
nào, sớm chiều thời kinh nào cũng có tụng: “Vô vô minh
diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử
tận”. Không có vô minh, làm sao hỏi vô minh, mà lại chấp
vô minh là thật! Chỉ cần ngộ không có vô minh, không có
già chết thì giải thoát.
Như
Tôi bây giờ đã già, sau nầy cũng phải chết. Tại sao trong
kinh nói không già không chết? Trong lúc tụng kinh mình phải
tự hỏi, còn miệng cứ tụng mà kinh nói gì không biết!
Hỏi:
Trong
kinh sách chư Tổ thường đả phá tất cả. Như “gặp Phật
giết Phật, gặp Tổ giết Tổ”. Nếu ngày nay, mọi người
thấy vậy, có ảnh hưởng đến đạo pháp không?
Đáp:
Gặp
Phật giết Phật là giết cái tâm chấp Phật, chứ đâu phải
giết Phật Thích Ca; chấp ma là giết tâm chấp ma, chứ đâu
phải giết ma. Tức là chấp cái gì là giết cái đó.
Hỏi:
Lục
căn tiếp xúc lục trần, làm sao lục thức không bị đắm
nhiễm?
Đáp:
Tông Tịnh Độ lấy Ngài Đại Thế Chí trong kinh Lăng
Nghiêm làm gương mẫu, có nói “thâu nhiếp lục căn, tịnh
niệm tương tục”. Nếu nhiếp được nhãn căn không phân
biệt tốt xấu, vì thấy tốt ham thích, thấy xấu chê bai;
nhiếp được nhĩ căn thì không phân biệt tiếng hay dở, khen
không mừng, chê cũng không tức giận.
Nhiếp
được lục căn thì tịnh niệm mới được tương tục. Tức
là niệm trong sạch không có niệm nào khác. Nếu nhiếp không
được thì có tương đối, có lúc thương ghét, ham thích,
khen chê. Vậy làm sao có niệm trong sạch được! Tất cả
các pháp môn tu đều như vậy.
Tham
thiền giữ cái không hiểu không biết thì đã nhiếp được
lục căn. Không biết tốt thì không ham thích, không biết xấu
thì không chê. Nếu dùng cái biết để tu thì khó hơn, dùng
cái không biết để tu thì dễ hơn. Cái không hiểu không biết
gọi là pháp Thiền trực tiếp.
Có
người hỏi tôi: Nếu dùng cái không biết để tu tới thoại
đầu thì sắp kiến tánh, có phải sắp biết không?
Tôi
nói: không phải, không được nói là sắp biết.
Người
ấy hỏi: Nếu không được nói là sắp biết, như vậy có
giống như gỗ đá không?
Tôi
nói: Cũng không phải, vì cái biết chơn tâm không bao giờ
ngưng, nếu có ngưng rồi trở lại biết thì nói là sắp biết
được. Nó không bao giờ ngưng, làm sao nói là sắp biết!
Người đó không hiểu, vì cứ dùng bộ não, làm sao biết
được chơn tâm?
Tôi
đổi lại câu hỏi: Trời gần sáng thì mặt trời sắp chiếu,
vậy có được không? Không được, không được nói
mặt trời sắp chiếu! Tại sao? Vì mặt trời có ngưng chiếu
hồi nào, mà nói mặt trời sắp chiếu! Trời sáng, mặt trời
đâu có bắt đầu chiếu. Bây giờ nó cũng đang chiếu, vì
không thấy mặt trời là do bị trái đất hay mây đen che khuất,
đâu phải nó bị ngưng chiếu!
Cái
biết chân tâm của mình cũng vậy, nó không có ngưng biết,
vì bị che khuất bởi biết và không biết của bộ não. Cho
nên, Phật dùng phương tiện không biết của bộ não, để
dẹp cái biết che khuất của bộ não thì mới đến thoại
đầu. Chứ không phải cái biết của chân tâm bị ngưng, nếu
cái biết chơn tâm bị ngưng thì bị sanh diệt luân hồi, kiến
tánh thành Phật đâu có ích lợi gì!
Bản
tâm của mình không có sanh diệt, nên Phật gọi là vô thỉ
(không có bắt đầu) cũng là nghĩa vô sanh (không có sự sanh
khởi). Nếu có sự sanh khởi là có sự bắt đầu. Vậy, người
chứng quả là ngộ pháp vô sanh hay chứng vô sanh pháp nhẫn.
Theo lý toán học không có con số nhỏ nhất và cũng không
có con số lớn nhất, các nhà giỏi toán cũng biết không có
con số nhỏ nhất, vì đem chia mãi không có hết.
Trong
quyển toán học của Hồng Kông nói: Con sâu dép cỏ nhỏ bằng
một đơn tế bào, cách ngày đêm nó sanh ra làm hai; như ngày
nay 1 con, ngày mai thì 2 con, ngày mốt thì 4 con… cứ như thế
trải qua 90 ngày đêm thì thể tích bằng một mét khối, cho
đến 130 ngày đêm thì thể tích bằng quả địa cầu, nếu
một ngày nữa thì 2 quả địa cầu.
Ngược
lại, đem quả địa cầu xẻ ra, xẻ đến 130 ngày đêm thì
khôi phục con sâu dép cỏ. Nếu lấy toán học đem con sâu
xẻ thêm 130 lần nữa, thì thịt con sâu mình có thể biết
không? Cứ theo toán học như vậy mà đến trăm lần 130, ngàn
lần 130, nhưng vẫn thấy con số để biểu thị thịt con sâu
dép cỏ. Nhưng thực tế còn có thịt con sâu dép cỏ đó không?
Có chia nữa thì con số vẫn còn mãi.
Nếu
đem con sâu đó làm đơn vị 1, thêm trước số 1 là số “0.”
thì nó nhỏ 10 lần, rồi thêm số 0 sau “0.” thì nhỏ thêm
10 lần nữa, cứ thêm như thế, dài bằng một quả đất,
hai quả đất… con số cứ nhỏ nhưng không có hết.
Cái
gì nhỏ nhất có thể dùng kính hiển vi mới thấy được.
Giả thiết khoa học cải tiến kính hiển vi, còn nhanh hơn
mình thêm con số 0 thì cũng có thể nhìn thấy thịt con sâu
đó. Nhưng thịt con sâu đó chưa phải thực tế. Tại sao?
Vì còn phân chia được nữa.
Vậy,
biết định lý toán học không thể tìm sự bắt đầu. Nên
Phật nói: “Vô thỉ, bất khả đắc” gọi là vô sanh. Nhà
khoa học dùng toán tìm sự bắt đầu của sanh mạng và vũ
trụ, có phải si mê không? Nói nhà khoa học si mê thì không
có được. Vì khoa học tạo hạnh phúc cho con người.