|
.
Hoà
Thượng DUY LỰC Khai thị
CUỐI CÙNG
TẠI HOA KỲ
TT.
Thích Đồng Thường Biên Tập Thành Văn Tự
 |
 |
Hỏi:
Sư
Phụ giảng lại tứ tướng?
Đáp:
-
Bạch Thế Tôn! Nếu giác tâm này bản tánh trong sạch, vì
sao bị ô nhiễm, khiến những chúng sanh mê muội chẳng thể
ngộ nhập? Xin Như Lai vì chúng con khai thị pháp tánh, để
làm đạo nhãn cho tương lai, khiến cho đại chúng trong hội
này và chúng sanh đời mạt pháp dễ được ngộ nhập.
Ngài
Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát nói xong, 5 vóc gieo sát đất,
đảnh lễ thưa thỉnh 3 lần như vậy.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tịnh Chư Nghiệp chướng Bồ Tát rằng:
-
Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ Tát
và chúng sanh thời mạt pháp, hỏi Như Lai về những phương
tiện như thế. Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà
thuyết.
Khi
ấy Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát và đại chúng hoan hỷ
vâng lời Phật dạy, im lặng nghe.
-
Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, vọng
chấp thật có 4 tướng: Ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng, nhận
lầm 4 tướng điên đảo là thật thể của mình, do đó liền
sanh 2 cảnh yêu ghét, vậy nơi thể hư vọng lại chấp thêm
một lớp hư vọng nữa. 2 thứ vọng nương nhau sanh ra vọng
nghiệp, vì có vọng nghiệp nên vọng thấy có luân hồi.
Kẻ
nhàm chán luân hồi lại liền thấy có Niết Bàn, do sự
chấp thật ngã tướng này nên chẳng thể ngộ nhập được
bản giác trong sạch. Chẳng phải bản giác chống cự với
những kẻ năng nhập, vì có kẻ năng nhập (ngã tướng) thì
chẳng phải bản giác vậy.
Cho
nên, động niệm và dứt niệm đều là mê muội. Tại sao?
Vì có bổn khởi vô minh đã làm chủ cho mình từ vô thỉ
rất khó đoạn trừ, phải có huệ nhãn mới trừ được.
Vì tất cả chúng sanh, sanh ra chẳng có huệ nhãn, hiện tiền
các tánh thân tâm đều là vô minh, vô minh chẳng thể tự
dứt vô minh, cũng như người có sinh mạng, sinh mạng chẳng
thể tự dứt sinh mạng vậy.
Vậy
ngươi nên biết, có người yêu ta tùy thuận với ta thì tâm
sanh hoan hỉ, người chẳng tùy thuận thì liền sanh oán ghét.
Có tâm yêu ghét để nuôi dưỡng vô minh, làm cho vô minh
tương tục mãi, nên cầu đạo chẳng thể thành tựu.
Thiện
nam tử! Thế nào là ngã tướng? Những chúng sanh tu hành, tâm
biết có sở chứng đều thuộc về ngã tướng.
Thiện
nam tử! Ví như có người cơ thể điều hòa thư thái, tay
chân thư giãn, bỗng quên mất thân ta, vì ăn uống thất thường
sanh bệnh hoạn, nhờ thầy thuốc châm cứu thấy đau mới
biết có ta còn đây, cho nên người chấp có sở chứng mới
hiện ra ngã tướng.
Thiện
nam tử! Nếu tâm liễu tri rốt ráo biết có sở chứng, dù
chứng đến thanh tịnh Niết Bàn của Như Lai đều thuộc về
ngã tướng.
Thiện
nam tử! Thế nào là nhơn tướng? Như những chúng sanh tâm
có sở chứng, cho kẻ năng chứng là ta, nay tiến thêm một
bậc, ngộ biết chứng chẳng phải là ta, ngộ này siêu việt
tất cả chứng, nhưng còn giữ tâm ngộ tức là nhơn tướng.
Thiện
nam tử! Những tâm biết có năng sở đều thuộc về ngã,
tâm dù chỉ còn chút năng ngộ để chứng lý cùng tột của
Niết Bàn đều gọi là nhơn tướng.
Thiện
nam tử! Thế nào là chúng sanh tướng? Chỗ này là những chúng
sanh có tâm biết năng chứng năng ngộ đều chẳng thể biết.
Thiện
nam tử! Ví như có người nói rằng: “Ta là chúng sanh”,
thì biết kẻ nói chúng sanh kia chẳng phải ta cũng chẳng phải
ngươi. Sao nói chẳng phải ta? Vì “ta là chúng sanh” thì
chẳng phải ta, sao nói chẳng phải ngươi? Vì nói “ta là
chúng sanh” thì chẳng phải ngươi cũng chẳng phải ta vậy.
Lược
giải:
Nói
“ta là chúng sanh” vì chúng sanh là nhiều người nhiều loài.
Nay nói “ta” chỉ có một mình ta, như thế thì chúng sanh
chẳng phải “ta”; nói ngươi cũng vậy, nghĩa là chỉ có
một mình ngươi chẳng phải nhiều chúng sanh, nên nói “ta
là chúng sanh” thì chẳng phải “ngươi” cũng chẳng phải
“ta” vậy. (lược giải hết).
Thiện
nam tử! Nếu những chúng sanh có tâm biết năng chứng năng
ngộ đều là Ngã tướng, Nhơn tướng. Nay tiến thêm một
bậc, liễu tri chỗ này là Ngã tướng, Nhơn tướng chẳng
thể đến, nhưng còn có sở liễu tri, biết có năng chứng
năng ngộ để lìa, nên gọi là Chúng sanh tướng.
Thiện
nam tử! Thế nào là Thọ mạng tướng? Những chúng sanh tiến
thêm một bậc nữa, tâm quán chiếu sáng tỏ chiếu soi tâm
liễu tri cũng bất khả đắc, chỉ còn một giác thể trong
sạch; giác thể này tất cả nghiệp trí trong luân hồi đều
chẳng thể tự thấy được, cũng như con mắt chẳng tự thấy
mắt, tất cả tịch diệt. Vì trụ nơi tịch diệt thì mạng
căn chưa dứt, nên gọi là Thọ mạng tướng.
Thiện
nam tử! Nếu tâm chiếu soi thấy tất cả người giác tri và
cấu bẩn của trần lao. Có năng giác sở giác là chẳng lìa
được trần lao. Ví như nước canh làm băng tan, nước canh
là năng tan, băng là sở tan; khi băng đã tan thì nước canh
và băng đều thành nước, năng tan (nước canh) sở tan (băng)
đều diệt, nếu còn có kẻ biết băng tan thì còn cái năng
biết, cái biết đó là ngã. Nói “còn Thọ mạng tướng”
thì nghĩa cũng như vậy.
Thiện
nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp chẳng rõ 4 tướng không
thật, dù trải qua nhiều kiếp siêng năng khổ hạnh tu hành,
chỉ gọi là pháp hữu vi, rốt cuộc chẳng thể thành tựu
tất cả Thánh quả (pháp vô vi), cho nên gọi là “chánh pháp
trong đời mạt pháp”. Tại sao? Vì lầm nhận tất cả ngã
tướng cho là tướng Niết Bàn; cho có chứng có ngộ mới
gọi là thành tựu.
Cũng
như có người nhận giặc làm con thì tài sản nhà họ chẳng
thể thành tựu. Tại sao? Như có người luyến ái ngã, cũng
luyến ái Niết Bàn, đè nén gốc luyến ái ngã trở thành
tướng Niết Bàn; có người chán ngã, cũng chán sanh tử, chẳng
biết gốc luyến ái ấy mới thật là chơn sanh tử vậy. Nay
có tâm nhàm chán sanh tử, nên gọi là chẳng giải thoát.
Tại
sao biết được pháp ấy chẳng giải thoát?
Thiện
nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp tu tập Bồ Đề, cho sự
chứng của mình tự trong sạch, chứng được chút ít cho là
đủ, chưa dứt sạch cội gốc của ngã tướng nên chẳng
giải thoát. Nếu có người tán thán pháp mình thì liền sanh
tâm hoan hỉ, muốn cứu độ họ; nếu phỉ báng pháp sở đắùc
của mình thì liền sanh tâm sân hận. Vậy thì biết cái tâm
chấp ngã tướng rất kiên cố, tiềm ẩn trong tạng thức,
gặp ngoại cảnh kích thích thì phát khởi hiện hành nơi các
căn, mãi chẳng gián đoạn.
Thiện
nam tử! Người tu hành vì chẳng dứt sạch ngã tướng nên
chẳng thể ngộ nhập bản giác trong sạch.
Thiện
nam tử! Nếu biết ngã tướng vốn không, chẳng có bản ngã
để cho họ tán thán và phỉ báng; nay thấy “có ta thuyết
pháp” thì ngã tướng chưa dứt, nhơn tướng, chúng sanh tướng,
thọ mạng tướng đều cũng như thế.
Thiện
nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp vì chưa dứt ngã tướng,
cho sự thuyết pháp là “do ta thuyết”, nên pháp của họ
thuyết là cái bệnh của ngã tướng, chẳng phải thuyết cái
pháp của Niết Bàn vậy, cho nên gọi là kẻ đáng thương
xót! Dù siêng năng tinh tấn, chỉ tăng thêm các pháp bệnh,
nên chẳng thể ngộ nhập bản giác trong sạch.
Thiện
nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp vì chẳng thấu rõ 4 tướng
kể trên, chấp chỗ hành và kiến giải của Như Lai cho là
kiến giải của mình, vì chẳng phải do tự mình tu chứng,
nên rốt cuộc chẳng thể thành tựu. Hoặc có chúng sanh chưa
đắc nói đắc, chưa chứng nói chứng, thấy người hơn ta
thì sanh ganh tỵ, ấy là do chúng sanh chưa dứt ngã kiến, nên
chẳng thể ngộ nhập bản giác trong sạch.
Thiện
nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp muốn tu thành đạo, chớ
nên sanh tâm cầu ngộ; người sanh tâm cầu ngộ thì muốn
học rộng nghe nhiều để hiểu thêm giáo lý, vậy chỉ thêm
đa văn tăng trưởng ngã kiến, chẳng phải người chơn tu.
Người
chơn tu chỉ nên tinh tấn hàng phục phiền não, khởi tâm đại
dũng mãnh: Niết Bàn chưa đắc khiến cho đắc, phiền não
chưa dứt khiến cho dứt. Những tâm tham, sân, si, mạn, siểm
khúc, ganh tỵ đối cảnh chẳng sanh, ân ái giữa mình và người
tất cả đều tịch diệt, Phật nói người ấy sẽ dần dần
thành tựu Thánh quả. Nương theo nhân địa này tu hành để
cầu thiện trí thức thì chẳng đọa tà kiến, nếu có sở
cầu khác với nhân địa phát tâm kể trên, lại sanh lòng
yêu ghét thì chẳng thể ngộ nhập biển giác trong sạch.
Lúc
ấy Thế Tôn muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:
Tịnh
Nghiệp Chướng nên biết,
Tất
cả những chúng sanh,
Đều
do chấp ngã tướng,
Luân
hồi từ vô thỉ.
Chưa
dứt sạch bốn tướng,
Chẳng
được thành Bồ Đề.
Yêu
ghét sanh nơi tâm,
Siểm
khúc giữ trong niệm.
Cho
nên bị mê muội,
Chẳng
thể vào giác thành.
Nếu
muốn về cõi Phật,
Phải
bỏ tham sân si,
Tâm
chẳng luyến ái pháp
(pháp
Niết Bàn),
Dần
dần được thành tựu.
Thân
ta vốn chẳng có,
Yêu
ghét do đâu sanh?
Cầu
thầy bạn chánh tu,
Thì
chẳng đọa tà kiến.
Nếu
tâm cầu pháp khác,
Rốt
cuộc chẳng thành tựu.
“Ta
đã chứng Niết Bàn” thì Thiền tông gọi là mạng căn chưa
dứt, cũng còn ngã tướng. Trong kinh Viên Giác diễn tả: “Ngã,
Nhân, chúng sanh, thọ mạng”, còn kinh Kim Cang nói: “Ngã,
nhân, chúng sanh, thọ giả”. Vì nhận lầm 4 tướng này, nên
tu hành không dứt được ngã kiến.
Hỏi:
Bạn
bè biết con tu rồi đến hỏi con. Vậy con phải nói làm sao?
Đáp:
Người
ta hỏi cái gì, mình thật biết thì nói biết, còn không biết
thì nói không biết.
-
Nhưng cái biết của mình sai thì sao?
-
Nếu mình sợ sai thì mình nói là không biết.
-
Nhưng nhiều khi tưởng mình đúng thì sao?
-
Nếu có tưởng là không phải rồi, tại không có đúng sai.
Tương đối có đúng có sai là nhị. Nếu mình cho lời Phật
Thích Ca thuyết đúng hay không đúng đều sai. Tại sao? Vì
lời thuyết pháp của Phật Thích Ca muốn lìa tương đối,
tức là muốn lìa đúng với sai. Nếu nói Phật Thích Ca thuyết
pháp là phỉ báng Phật. Phật Thích Ca thuyết pháp không phải
đúng sai.
Hỏi:
Bây
giờ mình khởi niệm đều là tương đối có phải không?
Đáp:
Không
phải, nếu mình không có trước tưởng thì không lọt vào
tương đối, tức là chỉ có thế lưu bố tưởng mà không
có trước tưởng. Như bậc Thánh nói có hay nói không có cũng
được, vì không chấp có là thật có, không chấp không là
thật không, chỉ là tùy theo thế gian gọi là thế lưu bố
tưởng.
Cho
nên, chúng sanh nói con trâu thì bậc Thánh cũng nói con trâu,
chúng sanh nói con ngựa thì bậc Thánh cũng nói con ngựa (kinh
Đại Niết bàn).
-
Con vẫn hiểu điều đó, nhưng thực hành sao không được?
-
Tại còn có ngã chấp nên mới khó, chưa dứt sạch cội nguồn
của ngã. Nếu chưa ra khỏi luân hồi, còn dùng tri kiến luân
hồi muốn tìm Viên Giác thì tánh Viên Giác cũng bị luân hồi.
Hỏi:
Có
người giải thích “sắc bất dị không, không bất dị sắc”,
rằng: Sắc chẳng phải từ không mà có, phải từ duyên mà
ra gọi là “sắc bất dị không”; khi sắc hết duyên thì
trở lại cái không gọi là “không bất dị sắc”. Giải
thích như vậy thì như thế nào?
Đáp:
Họ
giải thích như vậy là cho nhân duyên thật. Bài kệ của ngài
Long Thọ nói:
Các pháp chẳng tự sanh,
Cũng chẳng từ tha sanh.
Chẳng cộng chẳng vô nhân,
Cho nên nói vô sanh.
Vì
nó không phải tự sanh, cũng không phải tha sanh, tại tha cũng
là tự, cũng không phải tha và tự cộng sanh, cũng không phải
không có nhân sanh (vô nhân sanh). Như cây đào sanh ra cây đào,
cây lý sanh ra cây lý, chứ không phải vô nhân mà sanh được!
Đủ thứ nghĩa sanh đều không được, nên mới gọi là vô
sanh.
Tại
sao nói là các pháp chẳng tự sanh? Vì phải có duyên mới
có sanh khởi. Còn nói chẳng từ tha sanh là mỗi cái duyên
chẳng có tự tánh. Chẳng cộng sanh thì tự với tha còn không
có thì lấy gì để mà cộng? Chẳng vô nhân là như bây giờ
muốn giác ngộ thì phải tu mới giác ngộ được, chứ đâu
phải mình không tu mà được giác ngộ!
Từ
ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), lục nhập (là lục
căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), thập nhị xứ là lục
căn đối lục trần (lục trần: Sắc, thinh, hương, vị, xúc,
pháp), thập bát giới là lục căn đối với lục trần sanh
ra lục thức (lục thức: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức,
thiệt thức, thân thức, ý thức), cho đến thất đại (địa,
thủy, hỏa, phong, không, kiến, thức) đều muốn giảng rõ
ý này.
Nếu
ngộ biết không có cái gì sanh khởi, gọi là vô sanh, người
chứng quả gọi là chứng vô sanh pháp nhẫn thì giống như
con mắt sáng tỏ không thấy hư không có hoa đốm. Nếu con
mắt bị bệnh thì thấy hư không có hoa đốm, như bây giờ
mình thấy cái này cái kia giống như mắt thấy hoa đốm trong
hư không.
Chân
thật hư không đâu có hoa đốm, tại con mắt bệnh rồi mới
thấy có hoa đốm, tức là bỏ cái thật mà lại thấy cái
vọng nên mới thấy hoa đốm. Tuy thấy có hoa đốm nhưng không
có bản thể của hoa đốm, chỉ là cái ảo tượng, nó không
phải từ chỗ nào đến! Vì con mắt bệnh mới thấy.
Nếu
con mắt hết bệnh thì không thấy hoa đốm trong hư không.
Con mắt hết bệnh thì hoa đốm tự mất, đâu cần phải bỏ
hoa đốm!
-
Như vậy hoa đốm này có phải là cái duyên không?
-
Cái duyên là con mắt bệnh mới thấy hoa đốm, nếu con mắt
không bệnh thì không thấy có hoa đốm. Nếu truy cứu hoa đốm
từ nhân duyên sanh thì không đúng! Vì nó vốn không có, chuyện
không có làm sao là nhân duyên sanh được? Nếu nói là tự
sanh cũng không được, tại do con mắt bệnh chứ đâu
phải tự nhiên sanh.
Bởi
vậy, không phải từ hư không ra và cũng không phải từ con
mắt ra. Đã rõ ràng không phải là nhân duyên sanh. Nhưng giảng
nhân duyên sanh là sai lầm.
Nếu
quả tự nhiên có, lúc thấy hoa đốm thì con mắt không có
bệnh mới phải! Nhưng tại do con mắt bệnh mới thấy hoa
đốm, con mắt không bệnh thấy hư không sáng tỏ không có
hoa đốm, nên không phải tự sanh.
Hoa
đốm không phải từ hư không ra và cũng không phải từ con
mắt ra thì không phải là nhân duyên, không phải tự sanh thì
không phải tự nhiên, nên Phật phủ nhận là không phải nhân
duyên và không phải tự nhiên, là sự thật chứng tỏ như
vậy.
Nếu
hoa đốm như vậy thì ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới
đều như thế.
Hỏi:
Sao
nói là nhận giặc làm con?
Đáp:
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Không phải con mắt thấy, chỉ là tác dụng
như cây đèn để chiếu soi, sự thấy là tánh thấy còn gọi
là kiến tinh”. Nhưng bây giờ ai cũng cho sự thấy là con
mắt, thành ra họ hiểu lầm mà tin theo con mắt.
Phật
muốn chứng tỏ sự thấy không phải là con mắt: Trong kinh
Lăng Nghiêm có A Nan là đại diện đương cơ trong đại chúng
để hỏi Phật, Phật nói với A Nan tức là nói với đại
chúng.
Phật
dùng cái tay để thí dụ: Ta có cánh tay mới làm nên nắm
tay, A Nan có con mắt mới thấy được Như Lai, hai việc này
có giống nhau không?
A
Nan đáp: Giống nhau.
Phật
nói: Không giống. Tại sao? Ta có cánh tay mới làm ra nắm tay
được. Nếu không có cánh tay thì nắm tay làm sao có? Người
không có con mắt vẫn còn thấy được.
A
Nan nói: Người không có con mắt làm sao thấy?
Phật
bảo: Ngươi đi hỏi người không có con mắt, trước mắt
có thấy gì không? Người ấy sẽ trả lời: Trước mắt sẽ
thấy đen tối.
A
Nan nói: Thấy trước mắt đen tối, sao gọi là thấy?
Phật
muốn giải thích “thấy đen tối vẫn là thấy” thì phải
thí dụ thêm. Một người không có con mắt ở trong phòng đen
tối không có ánh sáng gì cả, có phải thấy trước mắt
đen tối phải không?
A
Nan đáp: Phải, thấy đen tối.
Phật
nói: Vậy người có con mắt thấy trước mắt đen tối và
người không có con mắt thấy trước mắt đen tối, hai thứ
đen tối này có khác nhau không?
A
Nan đáp: Không khác.
Phật
hỏi tiếp: Vậy người không có con mắt, thình lình được
con mắt sáng thấy đồ vật sắc tướng trước mắt, phải
là con mắt thấy không?
A
Nan đáp: Phải, con mắt thấy.
Phật
hỏi tiếp: Người có con mắt ở trong phòng đen tối, thình
lình đốt đèn lên thấy rõ đồ vật sắc tướng trước
mắt, có phải đèn thấy không?
A
nan trả lời không được. Cây đèn là hiển hiện sắc tướng
để chiếu soi như lục căn vậy. Năm thức trước (nhãn, nhĩ,
tỷ, thiệt, thân) chỉ tác dụng như cây đèn, chứ không phải
kẻ thấy, kẻ thấy là tánh thấy. Thấy là nhãn thức mà
không phải nhãn căn, nhãn căn chỉ là chiếu soi như cây đèn.
Sáng
với tối là hai pháp sanh diệt, lúc sáng thì không thấy tối,
lúc tối thì không thấy sáng. Nếu thấy tối là không thấy
thì thấy sáng cũng là không thấy. Vì lúc sáng thì không thấy
tối cho là không thấy, lúc tối thì không thấy sáng cũng
cho là không thấy. Nói thấy thì hai cái đều thấy, thấy
sáng cũng là thấy, thấy tối cũng là thấy. Tại sao thấy
tối mà nói là không thấy? Còn thấy sáng cho là thấy! Đó
là mâu thuẩn.
Như
người có mắt mà không nhờ cây đèn để chiếu soi thì không
thấy. Như muốn thấy trái dưa phải nhờ nhãn căn chiếu soi,
rồi mới hiện ra hình tướng của trái dưa thì tánh thấy
mới thấy được. Nếu không chiếu soi thì chỉ thấy đen
tối, như người có con mắt ở trong phòng tối không có đèn
chiếu soi thì chỉ thấy đen tối, đâu phải không thấy!
Nhĩ
căn là chiếu soi âm thanh, rồi nhĩ thức mới phân biệt là
âm thanh gì, như nhĩ căn nghe âm thanh không biết tiếng gì?
Chỉ biết có tiếng, còn nhĩ thức phân biệt rõ ràng biết
là tiếng già, tiếng trẻ, tiếng đàn ông, tiếng đàn bà,…
lục căn đều vậy.
Ý
căn chỉ là suy nghĩ không phân biệt có tác dụng chiếu soi
pháp trần, còn ngũ căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) thì chiếu
soi tiền trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc), còn ý thức là
qua sự tư duy mới phân biệt được cái này chánh, cái kia
tà, cái này hợp lý, cái kia không hợp lý,…
Cho
nên, căn với thức khác nhau. Mình không biết tin theo lục
căn thì sai lầm, cho sự thấy là con mắt, cho sự nghe là lỗ
tai, cho sự hiểu biết là ý căn, nhưng sự thật là không
phải. Do đó mới nói “nhận giặc làm con” là vậy.
Bây
giờ khoa học chỉ biết hệ thống thần kinh, tại hệ thống
thần kinh là vật chất đều có thể dùng kính hiển vi thấy
được. Thức là thể tinh thần không phải vật chất thì
không thể thấy được, Phật pháp gọi là tâm pháp, còn vật
chất gọi là sắc pháp.
Nên
nhà khoa học nhờ cảm giác của lục căn để phán đoán hiện
tượng của vũ trụ, những cảm giác được thì họ nhìn
nhận là có, còn những cái họ cảm giác không được thì
phủ nhận là không có, nhưng thật tế thì không phải vậy.
Hỏi:
Chúng
con không đủ lòng tin tự tâm. Như vậy có thể dùng định
huệ song tu được không?
Đáp:
Định
huệ song tu là thiền quán chiếu của Đại thừa. Như tông
Thiên Thai Chỉ Quán thiền: Chỉ là định, quán là huệ; trong
định có huệ, trong huệ có định, định huệ không phải
hai. Tông Thiên Thai vì muốn giải thích nên mới nói là chỉ
với quán gồm có tam chỉ tam quán.
Quán
cũng giúp cho chỉ, chỉ cũng giúp cho quán, tam quán của tông
Thiên Thai là không, giả, trung. Như ban đầu quán tất cả
hiện tượng là giả, vì nó biến đổi hoài không cố định.
Nhưng quán mãi thấy giả là thật giả thì không thể sanh
lại nữa, cho nên thấy giả cũng không phải thật giả.
Rồi
lại quán không, quán mãi thì không cũng không phải thật không,
vì không với giả là tương đối, nếu thật không thì không
sanh ra hiện tượng giả, có hiện tượng giả thì không phải
thật không.
Vậy
giả cũng không phải thật, không cũng không phải thật thì
quán ở chính giữa gọi là quán trung. Nhưng không với giả
là hai đầu, không có hai đầu làm sao có chính giữa (trung),
thành ra phát ra nghi vấn tức là khởi lên nghi tình giống
như Thiền tông.
Thể
chơn chỉ là cao nhất của tam chỉ, thể là thể cứu cũng
như tham cứu, chơn là chơn tâm, chơn như Phật tánh. Ban đầu
của tam chỉ là hệ duyên chỉ, hệ là dây buột, thường
thường người ta quán buột ở dưới rún (đơn điền), có
người buột ở tâm,… tốt nhất buột ở rún.
Rồi
đến tùy duyên chỉ, đến thể chơn chỉ. Nhưng qua các thứ
quán đều không phải thì tự nhiên phát nghi là thể chơn
chỉ, tức là không phải không, không phải giả, không phải
trung. Vậy là cái gì? Thì giống như tham Tổ Sư thiền.
Chỉ
là định, quán là huệ thì đồng thời. Chữ “Thiền” dịch
là tịnh lự, tịnh tức là định, lự tức quán cũng là huệ.
Cho nên định và huệ hợp lại gọi là thiền (có người
giải thích như vậy).
Hỏi:
Có
phải định và huệ ví như ánh sáng với bóng tối, ánh sáng
đến đâu thì bóng tối tan rã đến đó, chúng nó không thể
là hai?
Đáp:
Cái
đó là quán, như bộ óc mình ham tìm hiểu, giống như con khỉ
nhảy qua nhảy lại, không bao giờ ngưng, nên ban đầu cần
buột nó lại một chỗ gọi là chỉ (định), nhưng biết không
có chỗ để cho mình tham luyến thì nó mới ngưng được nên
cần phải quán, quán đến chỗ thực tế là không có
cái gì để cho mình nắm bắt.
Có
người tâm hoạt động thì không được tịnh, nếu tịnh
thì tâm không hoạt động. Nhưng cái này thì tịnh và lự
một lượt, nên mới gọi là thiền, rồi người ta gọi là
định huệ song tu.
Hỏi:
Có
phải quán là đã khởi niệm?
Đáp:
Quán
là khởi niệm, nhưng quán thì giúp cho tịnh, như chỉ quán
thiền của tông Thiên Thai, tịnh cũng giúp cho quán, hai cái
giúp đỡ nhau nhưng hai cái đồng thời, không phải có trước
sau, nên gọi là thiền giáo môn.
Hỏi:
Kinh
nghiệm mình hiểu và mình tìm hiểu có khác nhau không?
Đáp:
Tìm
hiểu là tìm hoài, càng tìm càng xa. Công án Pháp Nhãn: Thiền
tông có 5 phái (Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, Quy
Ngưỡng). Tổ đầu tiên của tông Pháp Nhãn là Văn Ích Thiền
Sư được ngộ đạo cao nhất trong các huynh đệ, nên ông
dẫn đầu đi tham học.
Ngày xưa người kiến tánh rồi vẫn còn đi tham học thì mới
đủ cái dụng. Ông đi ngang Thiền Sư Quế Thanh, gặp tuyết
rơi nhiều, nên ghé lại nơi này để tránh tuyết. Khi vào
thiền hội cùng đàm chuyện với Thiền sư Quế Thanh, nói
đến “trời đất với ta cùng một nguồn gốc” của Triệu
Luận.
-
Quế Thanh hỏi: Trời đất với Thượng tọa đồng hay khác?
-
Văn Ích đáp: Đồng.
-
Quế Thanh không nói mà chỉ đưa 2 ngón tay (nhị).
-
Các người đi cùng Văn Ích trả lời: Khác.
-
Quế Thanh cũng không nói mà chỉ đưa 2 ngón tay.
Bây
giờ người ta tưởng đồng là một, phải hai cái trở lên
mới gọi là đồng, như trái này đồng với trái kia, nên
đồng cũng là nhị, khác cũng là nhị. Quế Thanh biết những
người này chưa kiến tánh, nhưng cũng có công phu nhiều, như
trái cây gần chín mùi.
Khi
tuyết hết rơi, Văn Ích và những người đi cùng từ giả
đi tiếp, đi ra ngoài cửa gặp một tảng đá.
-
Quế Thanh hỏi: Bình thường Thượng tọa cho là vạn pháp
duy tâm. Vậy tảng đá này ở trong tâm hay ở ngoài tâm?
-
Văn Ích đáp: Ở trong tâm.
-
Quế thanh cười và nói: Sao Thượng tọa đi hành cước lại
để tảng đá trong tâm vậy?
-
Văn Ích mắc cở không đi hành cước, trở vô xin ở lại.
Mỗi ngày trình kiến giải đều bị Quế Thanh lắc đầu.
Trải qua một tháng, Văn Ích nói: Không còn lý gì để trình
(lúc đó công phu đã chín mùi).
-
Quế Thanh nói: Nếu nói Phật pháp thì sẵn sàng.
-
Văn Ích liền ngộ triệt để, rồi nối pháp của Quế Thanh
thành tông sư của một tông Pháp Nhãn.
Hỏi:
Bây
giờ, người ta tu rồi được cái gì?
Đáp:
Bây
giờ, người ta tu là để tìm hiểu, nên càng tìm càng xa,
lại giải thích từng chữ danh từ; giải thích chừng nào
thì nghĩa kinh càng xa, họ xem Phật pháp như văn học.
-
Căn cơ người tu học còn thấp thì sao khỏi giải thích?
-
Không phải, họ giải thích cái ý chứ không phải cái chữ!
Kinh Lăng Già nói: “Pháp lìa văn tự”, kinh Lăng Nghiêm nói:
“Phàm có lời nói đều chẳng có nghĩa thật”. Cho nên,
phải phù hợp với ý của Phật, nếu y văn giải nghĩa tam
thế Phật oan, vì ý của Phật thì không phải vậy.
Như
Phật nói có thì ý của Phật không phải có, tại có là công
cụ để phá chấp không; lúc Phật nói không thì ý của Phật
không nói không là dùng công cụ không để phá chấp có.
Những
người y văn giải nghĩa nghe Phật nói có cho là chân lý, nghe
Phật nói không cho không là chân lý thì nghịch ý Phật. Như
giải thích thế nào là chơn không? Thế nào là diệu hữu?
Tự cho là lý giải cao, nhưng giải thích rõ chừng nào thì
xa với ý Phật chừng nấy.
Hỏi:
Lục
Tổ khi ngộ đạo rồi ẩn trong đám thợ săn 15 năm để dứt
trừ tập khí, sao không thấy Lục Tổ tu pháp môn nào?
Đáp:
Ngài
Lai Quả nói trong Tham Thiền Phổ Thuyết: “Dứt trừ tập
khí (bảo nhậm) là tự động lìa tập khí, chứ không phải
cần dùng công phu”.
Tập
khí là do cảm giác của bộ não, tôi nói vắn tắt “cho là”
thì tập khí con người khi gặp cảnh tự nhiên “cho là”,
như cho là cái này tốt, cho là cái này xấu,… mà lấy ý
mình để xen vào, tức là ở trong thế lưu bố tưởng sanh
ra trước tưởng.
Người
dứt tập khí thì đối cảnh không khởi ý cho là phải hay
không phải, như thị phi, tốt xấu,… đều không khởi ý
niệm. Ban đầu có muốn khởi, nhưng không cần đè nén, chỉ
cần bảo nhậm được cái ngộ là hư không trống rỗng thì
gặp cái nào cũng tan rã.
Trong
kinh Viên giác nói: “Băng gặp nước canh nóng thì băng sẽ
tan”, canh là năng tan, băng là sở tan, nếu băng tan rồi tất
cả đều thành nước, đó không phải băng và cũng không phải
canh, tức là năng sở đều mất hết. Còn biết canh là năng,
băng là sở thì cũng bị dính mắc.
Vậy,
kiến lập tri kiến đúng sai là căn bản của vô minh, mặc
dầu có tri kiến nhưng không thấy có tri kiến; thấy giống
mù, nghe như điếc nên không bị dính mắc, gọi là bảo nhậm
thì tập khí tự động dứt.
Có
người hỏi Thiền Sư: Thế nào con mắt ứng dụng mà không
thiếu gì?
Thiền
Sư trả lời: Giống như một người mù.
Thấy
của người mù cũng như không thấy thì sự thấy được cùng
khắp. Nếu nổi lên một niệm bị niệm đó làm chướng ngại,
nên cái biết không cùng khắp, không có niệm ngại thì cái
biết mới cùng khắp.
Hỏi:
Ngoài
pháp môn Tổ Sư thiền còn có pháp môn nào để giúp người
ta bỏ cái ngã không?
Đáp:
Nếu
có bỏ thì đã chấp thật có rồi, chỉ cần ngộ là hư không
trống rỗng, không có cái gì để bỏ và không có cái gì
để lấy, không có người lấy cũng không có người bỏ.
-
Có phải thực tế đều do cái ngã không?
-
Phải rồi, tất cả đều do cái ngã, thành ra chấp ngã nặng
chừng nào thì chướng ngại nhiều chừng nấy, nên Phật pháp
chỉ là phá cái chấp thôi.
Hỏi:
Vì
tập khí nhiều nên họ không tin tự tâm, không thể tham Tổ
Sư thiền đúng, có cách nào giúp cho họ bỏ được cái ngã?
Đáp:
Nếu
như vậy thì không được, đã không tin tự tâm làm sao tập
khí dứt được? Có người cho là chuyển thức thành trí,
mà thức thì dùng năng lượng vật chất, còn trí là dùng
năng lượng phi vật chất. Aáy là phương tiện.
Nếu
thật chuyển thức thành trí tức là ngộ triệt để rồi,
đã ngộ rồi thì ai chuyển ai? Có cái gì để chuyển? Hư
không vô sở hữu làm sao có chuyển? Vì có cái ta nên mới
có sự chuyển. Cái chuyển chỉ là danh ngôn, nếu không bị
chuyển dính mắc mới gọi là đại định.
Hỏi:
Vừa
rồi thầy có nói “vô kiến”, vậy có đồng với “vô
niệm” hay đồng “Bát Nhã tam muội” của Lục Tổ không?
Đáp:
Vô
Tướng Tụng của Lục Tổ nói: “Vô niệm niệm là chánh,
hữu niệm niệm là tà”, nhưng chánh với tà còn tương đối,
nên tiếp theo: “Hữu vô đều quét sạch” thì phá được
tương đối, vì có tương đối thì còn nhị.
Vừa
rồi tôi giảng, Pháp Nhãn Thiền Sư lúc chưa kiến tánh, ông
tưởng mình đã kiến tánh, nên có nói ra là nhị, như muốn
trình kiến giải. Cũng có người muốn trình kiến giải cho
tôi, tôi cũng tận sức giúp đỡ người đó, vì cứu người
đó cũng là cứu Phật giáo.
Nếu
người đó có bị phát điên ói máu thì người ta nói
“vì người đó học Tổ Sư thiền nên mới bị như vậy”
thì Tổ Sư thiền đâu còn gì nữa? Tôi nói với người đó
“hãy xem 50 thứ ma ngũ ấm, mỗi ngày phải xem 20 lần, nếu
không, ông tu đến bậc cao, nó sẽ phát điên ói máu”. Vì
người đó cũng có khổ công thích tu. Nếu người không có
khổ công thích tu thì không thể phát điên ói máu.
Hỏi:
Trường
hợp như người đó thì chướng ngại cái gì?
Đáp:
Chướng
ngại của người đó là cái ta, vì có cái ta thuyết pháp
mới nói “tôi thuyết pháp thì người ta dễ hiểu, còn người
khác thuyết pháp mà người ta không hiểu”. Người đó gởi
thư cho tôi nói: “Khổ công tu 8 năm, lúc ngồi tu được quên
thân”.
Khi
ấy tôi chưa gặp mặt, tôi gởi thư trả lời: “Dặn y hãy
coi 50 thứ ma ngũ ấm trong kinh Lăng nghiêm”, sau này gặp y,
tôi cũng bảo y coi cái đó. Lần sau nữa, tôi khuyên y coi 50
thứ ma ngũ ấm phải 100 lần chứ 99 lần cũng chưa được,
rồi không biết y có coi hay không! Nhưng cứ chấp cái ngã
lớn quá mới có tham sân si.
Hỏi:
Tác
dụng đọc 50 thứ ma ngũ ấm để là gì?
Đáp:
Đọc
50 thứ ma ngũ ấm là để ý mình có lọt vào những cảnh
giới đó không? Nếu thấy mình có chứng có đắc thì rất
nguy hiểm. Phật dạên A Nan luôn nhắc nhở người đời sau:
“Tu hành không được để lọt vào 50 thứ ma ngũ ấm”.
Hỏi:
Thế
nào là niệm Phật mới đúng theo bản ý của Lục Tổ Huệ
Năng?
Đáp:
Phật
Thích Ca dạy 84.000 pháp môn mà pháp môn nào đều cũng có
thiền để tu. Không có thiền thì không có tu, nên 3 cấp tu
của Tịnh Độ là thiền. Nhưng người tu theo Tịnh Độ không
biết, nếu có biết cũng không chịu nhìn nhận.
*
Ba cách tu của Tịnh Độ:
1-
Thật tướng niệm Phật gần giống như Tổ Sư thiền, tức
là khỏi cần vãng sanh, nghĩa là Tâm tịnh thì Phật độ tịnh.
2-
Quán Vô Lượng Thọ: Có 16 pháp thiền quán là thiền của
Tịnh Độ. Người tu Tịnh Độ không theo kinh Tịnh Độ và
cũng không theo Tổ Tịnh Độ dạy, cứ tự mình bày đặt
bậy bạ!
3-
Trì danh niệm Phật: Mục đích đến nhất tâm bất loạn,
nhất tâm bất loạn là thiền định.
Ba
cách tu đều là thiền, nhưng lại họ không nhìn nhận là
thiền, rồi lại bài xích thiền. Pháp môn của mình tu là
thiền, trong kinh của Tịnh Độ cũng có dạy. Kinh Đại A Di
Đà nói: “Khi vãng sanh cực lạc rồi Phật A Di Đà dạy tham
thiền” giống như Tổ Sư thiền là từ nghi đến ngộ. Không
có nghi thì không có ngộ, nghi là nhân, ngộ là quả. Pháp
thế gian và pháp xuất thế gian đều như vậy.
Tổ
Ấn Quang là Tổ thứ 13 của tông Tịnh Độ giải thích “tín,
nguyện, hạnh” của tông chỉ Tịnh Độ rất kỹ, có
đường lối thực hành rõ ràng. Có số người tự cho mình
tu Tịnh Độ mà không biết tông chỉ Tịnh Độ, thế nào
là tín, nguyện, hạnh? Họ cứ nói bậy bạ!
Họ
không theo lời Tổ dạy mà bày đặt tụng kinh gõ mõ cho là
tu Tịnh Độ. Họ niệm Phật đâu phải suốt ngày niệm, lúc
nhiễu Phật thì họ mới niệm! Dẫu cho suốt ngày niệm Phật
chưa phải là Tịnh Độ, vì chưa thực hành tín, nguyện, hạnh.
Hỏi:
Thế
nào là Tịnh Độ?
Đáp:
Tịnh
là trong sạch, Quốc Độ trong sạch gọi là Tịnh Độ, còn
gọi là cực lạc nghĩa là vui không có khổ, nếu người sanh
cõi Tịnh Độ thì có vui mà không có khổ. Như tiểu kinh A
Di Đà nói: “Ở trên Tịnh Độ có gió thổi chim kêu giống
như âm nhạc làm cho mình thích tu”, như ở cõi Ta Bà mình
ham tiền vậy, cuối cùng rồi cũng thành Phật.
Hỏi:
Nếu
định nghĩa như vậy, có phải còn chấp thật không?
Đáp:
Tịnh
Độ còn chấp thật, nên mới độ người hạ căn, rồi qua
Tịnh Độ nhờ Phật A Di Đà dạy phá chấp thật, chứ bây
giờ họ không tin được.
Hỏi:
Cái
gì khiến cho không có lòng tin?
Đáp:
Không
có lòng tin là phát xuất từ có cái ngã. Cho có chứng
đắc mới thành tựu, tức là có sở đắc đều là cái ngã.
Nếu cho ta thuyết pháp là thuyết cái ngã, không phải thuyết
pháp Niết Bàn. Cho nên, có siêng năng tu tập chẳng có ích
lợi gì! Nếu không phá cái ngã thì tu thành tà ma ngoại đạo.
Hỏi:
Ngũ
gia tông phái còn truyền thừa không?
Đáp:
Lâm
Tế, Tào Động ở Trung Quốc vẫn còn, Pháp Nhãn ở Đại
Hàn cũng còn. Pháp Nhãn, Vân Môn, Quy Ngưỡng ở Trung Quốc
đều tuyệt truyền. Lâm Tế, Tào Động ở Nhật là giải
công án, không phải tham công án, tức là họ không bao giờ
ngộ được. Giải thích công án là đóng bít cửa ngộ, vì
không còn nghi nữa.
Họ
dùng bộ não đi tìm hiểu đáp án của công án để giải
thích, họ không biết tác dụng công án là để cho người
ta ngộ, chứ không phải để cho người ta hiểu! Tại họ
làm cho người trí thức được thỏa mãn sự tìm hiểu, người
trí thức tưởng là mình không giải thích được, còn Thiền
Sư giải thích thì hay hơn mình.
Hỏi:
Tham
Tổ Sư thiền mà không khởi được cái nghi thì làm sao?
Đáp:
Họ
phải giữ cái “không biết”, vì họ ngược lại. Theo Tổ
Sư thiền là dùng cái không biết của bộ não để chấm dứt
các biết của bộ não (tìm hiểu biết, suy nghĩ, ghi nhớ biết),
3 cái biết này chấm dứt thì đến thoại đầu. Họ không
những không chịu chấm dứt, lại tìm hiểu nghi tình, cho có
nghi tình đắc được, nghi tình lớn, nghi tình nhỏ,… đó
là dùng cái biết, chứ không phải dùng cái không biết để
chấm dứt, tức là che khuất thêm, đâu có dẹp che khuất!
Mục
đích của câu thoại đầu là kích thích lên niệm không biết,
chứ không phải để cho người tham thiền tìm hiểu đáp án
của câu thoại đầu. Bây giờ nhiều người muốn tìm hiểu
đáp án của câu thoại đầu, thành ra giống như thiền của
Nhật Bản, thiền của Đại Hàn là tìm đáp án của công
án.
Muôn
ngàn câu thoại và công án là chỉ có mục đích kích thích
lên niệm không biết, khán là nhìn chỗ không hiểu không biết,
chỗ không hiểu không biết thì không có chỗ, không có chỗ
thì không có mục tiêu để nhìn, nên nhìn mãi cũng không thấy
gì vẫn còn không biết, hỏi và nhìn đi song song để giữ
cái không biết đó gọi là nghi tình. Biết mình nghi tức là
không có nghi, không biết mới là nghi tình.
Hỏi:
Cư
sĩ phạm giới tà dâm, tức là tự động phạm những giới
còn lại có phải vậy không?
Đáp:
Cư
sĩ thì khác với người xuất gia, Sa Di và Tỳ Kheo cũng khác,
như Tỳ Kheo phạm giới dâm thì bị tử hình (ba la di), Sa Di
thì bị đột kiết la (tội cấp thứ 5), nhưng tội cấp thứ
5 cũng bị hai, ba trăm ngàn năm địa ngục, còn phạm ba la
di phải bị 9 triệu năm địa ngục, kiếp này bị tử hình,
tức là bị mất Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni, muốn được Tỳ Kheo
và Tỳ Kheo Ni thì phải kiếp sau.
Tội
ba la di cũng có thể sám hối diệt tội, nhưng tội chết không
thể sám hối được, chỉ là giữ được Sa Di, tức là Tỳ
Kheo không còn. Sau khi phạm nửa tiếng liền báo với Tăng
đoàn xin sám hối. Rồi Tăng đoàn mới cử 20 vị để làm
pháp yết ma sám hối, người xin sám hối phải săn sóc 20
vị này nửa tháng, như giặt đồ, quét nhà, nấu cơm,… qua
nửa tháng thì 20 vị đồng ý cho sám hối mới được sám
hối.
Nếu
một người trong 20 vị không đồng ý cho sám hối thì
yết ma không được thành tựu, vì yết ma của nhà Phật thì
phải có sự đồng ý 100%.
-
Cư sĩ phạm giới tà dâm, rồi 4 giới kia phạm luôn là không
đúng, vì cư sĩ thì khác. Cư sĩ phạm giới tà dâm cũng không
bị tội địa ngục. Cư sĩ phạm ngũ giới thì sám hối với
người có thọ ngũ giới, tự nói là: “Tôi phạm như vậy…
xin ông (bà) chứng minh cho, sau này tôi không dám phạm nữa”
thì diệt được tội phá giới.
Tỳ
Kheo và Tỳ Kheo Ni cũng khác, Tỳ Kheo có 4 tội ba la di phải
bị tử hình, còn Tỳ Kheo Ni có 8 tội ba la di phải bị tử
hình, Tỳ Kheo có 250 giới, Tỳ Kheo Ni có 348 giới.
Hỏi:
Người
cư sĩ phạm giới tà dâm thì phải làm sao?
Đáp:
Phải
sám hối mới diệt được tội phá giới.
-
Sám hối với Phật phải không?
-
Sám hối trước bàn thờ Phật không có kết quả. Tại sao?
Vì đâu có ai thấy để chứng minh! Đối với nhà Phật thì
phải sám hối với người, có người đó chứng minh, sau đó
không dám phạm nữa, tại sợ người đó biết.
Như
Sa Di phạm giới phải sám hối với người có thọ giới Sa
Di, những tội nhẹ của Tỳ Kheo cũng vậy, nhưng các tội
khác của Tỳ Kheo muốn sám hối lại khó hơn. Tội của người
xuất gia muốn sám hối phải qua sự yết ma, yết ma lớn nhất
là 20 người, thấp là 10 người, 4 người, tùy theo trường
hợp. Yết ma sám hối của nhà Phật có khoảng 2 trăm thứ.
Hỏi:
Các
vị Tu Sĩ tông Tịnh Độ gặp nhau chào là: “A Di Đà Phật”
thì các vị Thiền tông gặp nhau làm sao?
Đáp:
Đó
không phải vậy! Gặp nhau vấn tín (xá) tức là chào nhau,
như người tại gia muốn đảnh lễ người xuất gia,
nhưng người xuất gia đang ăn cơm hay đang làm việc gì thì
không đảnh lễ được, nên phải vấn tín.
Hỏi:
Vấn
tín có phải tùy theo mỗi địa phương của mỗi nước khác
nhau không?
Đáp:
Thuộc
về giá giới mới khác được, tánh giới (sát, đạo, dâm,
vọng) thì không thể khác. Như phong tục tập quán ở Ấn
Độ, Tu Sĩ không được làm ruộng, mà đi khất thực; còn
phong tục tập quán ở Trung Quốc, Tu Sĩ đi khất thực thì
người ta coi như con sâu ăn gạo, không có ích lợi cho xã
hội, nên Tu Sĩ phải trồng trọt để ăn thì người ta mới
khen. Cho nên, Tu Sĩ ở Trung Quốc trồng trọt là giữ giới,
ở Ấn Độ trồng trọt là phạm giới. Đó là tùy theo phong
tục tập quán của mỗi địa phương.
Tại
sao Phật lại chế ra như vậy? Phật muốn bất cứ nước
nào, địa phương nào đều hoan nghinh Tu Sĩ Phật giáo, như
vậy mới hoằng pháp khắp thế giới được, nên những giá
giới tùy theo truyền thống phong tục địa phương mà thay
đổi.
Hỏi:
Thế
nào là khai, giá, trì, phạm?
Đáp:
Khai
là những giới mình làm có phạm, nhưng vì trị bệnh hay có
hoàn cảnh khác, mình công khai trước mọi người làm việc
đó thì không phạm.
Giá
là che, tức là che miệng của thế gian đừng phê bình công
kích Tu Sĩ Phật giáo. Nếu người thế gian công kích phê bình
Tu Sĩ Phật giáo, làm sao Tu Sĩ hoằng pháp? Cho nên, Phật mới
chế giá giới tùy theo tập quán phong tục của mỗi địa
phương. Trì là giữ giới, phạm là phạm giới.
Hỏi:
Như
vậy có phải mỗi giới riêng biệt nhau không?
Đáp:
Tánh
giới (sát, đạo, dâm, vọng) thì Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni bằng
nhau. Đại vọng ngữ khác với tiểu vọng ngữ, đại vọng
ngữ là chưa chứng mà nói đã chứng, chưa đắc quả mà nói
đã đắc quả, đó là tội ba la di. Tiểu vọng ngữ là như
nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung
ác.
Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo Ni phạm tánh giới là tử hình (mất Tỳ Kheo,
Tỳ Kheo Ni) tức là bằng tử hình của người thế gian, muốn
có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni thì phải kiếp sau thọ lại, chứ kiếp
này không được.
Hỏi:
Sư
Phụ nói đại vọng ngữ là chưa chứng mà nói đã chứng,
có hai loại: Loại thứ nhất là họ gạt người ta, tự mình
biết chưa chứng mà nói đã chứng; còn loại thứ hai là họ
tu chưa chứng mà tưởng mình đã chứng. Như vậy loại thứ
hai có coi là đại vọng ngữ không?
Đáp:
Trong
giới luật nhà Phật phạm đại vọng cũng là vọng ngữ.
Những người nhập ma phát điên vì họ có ý đó mới phát
điên nói ra vậy, nếu họ không có ý đó thì không thể nói
ra vậy. Cho nên theo giới luật nhà Phật những việc đó đều
là tội ba la di.
-
Có phải tu sai là phát điên không?
-
Phải, nếu không phá ngã chấp mà tu đến mức cao rồi sẽ
phát điên. Nên Phật thường nhắc nhở trong 50 thứ ma ngũ
ấm và cũng dặn A Nan nên nhắc nhở chúng sanh đời sau.
Vì
không phá ngã chấp nên tu sẽ thành tà ma ngoại đạo. Vì
vậy chánh pháp là phải phá ngã chấp. Kinh Viên Giác nói:
“Cho mình có thuyết pháp, có chứng có ngộ đều là cái
ngã”.
Hỏi:
Vọng
tưởng hết có phải vào định chưa?
Đáp:
Đó
là tà định, không phải chánh định; chánh định còn gọi
là tam muội, không có tương đối.
-
Làm sao để cho người ta hiểu?
-
Phật đã nói rất kỹ, nhưng người đó không hiểu là do
người đó, chứ không phải do Phật!
Hỏi:
Thế
nào là chánh định?
Đáp:
Lục
Tổ nói: “Hữu niệm niệm là tà, vô niệm niệm là chánh”,
nhưng chánh tà còn tương đối, nên câu tiếp theo: “Chánh
tà đều quét sạch, mới trong sạch đến cùng tột”, tức
là chánh và tà không còn.
-
Có phải kiến tánh rồi mới được chánh định không?
-
Mục đích là đến chỗ đó.
-
Trước đó còn tịnh là còn trong tương đối phải không?
-
Phải rồi, tức là còn cái ngã.
Hỏi:
Sư
Phụ có dạy: “Hỏi và nhìn, 2 cái song song tiến hành”,
nhưng Sư Phụ không có nói cách ngồi hay tư thế; như các
trường phái thiền khác có dạy: “Nếu ngồi đúng thì giúp
cho mình tịnh”. Như vậy như thế nào?
Đáp:
Lục
Tổ nói trong Pháp Bảo Đàn: “Tọa là tâm tọa, chứ không
phải thân tọa”, vì người ta chấp cái thân. Lục Tổ nói:
Ngồi lâu trói thân có ích lợi gì!
Và
nói:
Lúc
sống ngồi chẳng nằm,
Khi
chết nằm chẳng ngồi.
Vốn
là đống xương thúi,
Đâu
thể lập công phu?
Vì
thân sau này biến thành tro biến thành đất, còn tu là tu cái
tâm tồn tại vĩnh viễn không có liên quan với cái thân ngồi,
cho nên ngồi là cái tâm, chứ không phải là cái thân.
Hỏi:
Những
người sơ cơ mới tu thì thân tâm của họ còn xáo động,
nếu ngồi thì có thể giúp cho họ được tịnh bước đầu.
Vậy có nên tập như vậy không?
Đáp:
Như
vậy không nên. Tại sao? Vì tánh con người lúc tịnh dễ nhập,
động khó nhập. Như tịnh thì 3 tháng vô cửa, còn động
3 năm mới vô cửa; như vậy động nhập được phải khó
hơn tịnh 10 lần. Nhưng tịnh 3 tháng vô cửa mà 300 năm không
thể kiến tánh, còn động 3 năm vô cửa thì 4 năm có thể
kiến tánh, như thế lại nhanh hơn.
Tại
sao? Vì chấp tịnh lúc ngồi mới có, khi đứng dậy thì hết.
Đâu có thể mình không ăn cơm và không làm việc sao? Ngài
Lai Quả nói: “Động cũng không động đến tôi, tịnh cũng
không tịnh đến tôi”, do tâm định nên động tịnh không
bị ảnh hưởng, nên mau kiến tánh.
Cho
nên, tịnh dễ nhập nhưng lâu kiến tánh, còn động khó nhập
nhưng mau kiến tánh là vậy.
Hỏi:
Hỏi
và nhìn, con thấy không có chỗ nào để tập trung. Như vậy
có đúng không?
Đáp:
Không
có chỗ để tập trung mới đúng. Vì tâm như hư không vô
sở hữu thì không có chỗ, nếu có chỗ thì không cùng khắp
không gian tức là không phải trống rỗng. Nên gọi là tánh
không cũng là giải thoát. Tại không có chỗ để trói buộc
thì sẵn giải thoát, chứ không bị trói rồi mở trói mới
giải thoát.
Hỏi:
Các
pháp môn khác càng tập thì đầu óc càng tập trung, còn tham
Tổ Sư thiền càng tham thì đầu óc không thấy tập trung phải
không?
Đáp:
Phải
rồi, vì ít phí sức chừng nào tốt chừng nấy, Tổ Sư thiền
là như vậy, không cho tập trung, không cho cố gắng.
-
Có phải trong khi như vậy có một khoảng trống?
-
Phải rồi, có cái trống rỗng không thấy gì, không hiểu
gì là đúng. Vì trống rỗng nên gọi là vô sở trụ, nếu
có sở trụ làm mất hoạt bát vạn năng tự tánh.
-
Như vậy lâu ngày mình có mất hết khả năng tập trung không?
-
Tập trung làm gì? Tập trung là chướng ngại sự tham thiền.
-
Như mình làm việc gì hay học hỏi cần phải tập trung thì
sao?
-
Cái tập trung đó là thói quen của bộ não, khi mình đến
mức độ đó rồi khỏi cần tập trung, mình cũng làm việc
được vậy! Mà làm việc còn nhanh hơn gấp bội. Như cô thợ
may, lúc chưa tham thiền phải tập trung, một ngày may được
một bộ, sau này đang tham thiền không có tập trung mà may
được hai bộ, đường chỉ ngay thẳng hơn. Nhưng không biết
tại sao?
Có
cuốn sách viết, họ cũng biết có lực trường khắp không
gian và có nhà chuyên môn để thí nghiệm.
Như
hư không vô sở hữu thì không có, nhưng cái dụng rõ ràng.
Bất cứ cái gì, mặt trời, mặt trăng, đất đai, nhà cửa,
cây cối,… đều cũng nhờ vô sở hữu này dung nạp và ứng
dụng. Mình đang nói chuyện cũng phải nhờ không gian vô sở
hữu mới nói chuyện được. Mình thấy nhau cũng phải nhờ
không gian vô sở hữu này mới nhìn thấy nhau được.
Vậy
cái dụng rõ ràng là do vô sở hữu nên mới dùng, vô sở
hữu nên mới dung nạp. Vô sở hữu thì không có cái gì để
cho mình thấy nghe được. Bản thể tìm không ra, nhưng cái
dụng thì trước mắt. Nên người Tây phương do cái dụng
đó, họ dần dần sẽ phát hiện được những phát minh mới.
Trong
Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21, tôi gọi là từ trường, người ta
gọi là lực trường. Lực là cái sức cũng gọi là năng lượng.
Có
nhiều người chưa tham Tổ Sư thiền, tại kiếp trước họ
cũng có năng lượng đó, lúc bộ não ngưng hoạt động thì
họ làm việc sáng suốt hơn. Các nhà khoa học tạo ra những
cái máy tân tiến cũng có thể làm cho người ta tin cái
năng lực đó.
Hỏi:
Trước
khi làm lễ xuất gia thầy có giảng “xuất gia là giải thoát
sanh tử, chứ không phải làm những công việc của thế gian”.
Lễ xuất gia ở chỗ khác, họ có làm như vậy không?
Đáp:
Năm
giới người cư sĩ, 4 giới (sát, đạo, dâm, vọng) là căn
bản. Nếu họ giữ được hoàn toàn thì liễu thoát sanh tử.
5 giới của cư sĩ, 10 giới của Sa Di, Sa Di Ni, 250 giới của
Tỳ Kheo, 348 giới của Tỳ Kheo Ni đều 4 giới này làm căn
bản.
Nhưng
người cư sĩ phải ứng phó cuộc sống thì có chướng ngại
nhiều, nên Phật lập phương tiện làm hạnh xuất gia một
ngày một đêm tu Bát Quan Trai, Bát Quan Trai chỉ có 9 giới
trong 10 giới của Sa Di (trừ giới không cầm tiền bạc).
Những
người thọ giới Bồ Tát, Phật còn bắt buộc phải một
tháng có 6 ngày đêm Bát Quan Trai để tập dần dần cho quen.
Hỏi:
Người
Bồ Tát tại gia có bao nhiêu giới?
Đáp:
Người
cư sĩ thọ Bồ Tát tại gia gồm có 6 giới trọng và 28 giới
khinh. Bồ Tát xuất gia có 10 giới trọng và 48 giới khinh.
Bao nhiêu tuổi đều cũng được thọ Bồ Tát giới.
Hỏi:
Xuất
gia là trên cầu Phật đạo, dưới là độ thoát chúng sanh.
Vậy như thế nào?
Đáp:
Như
vậy là lẽ tự nhiên, vì liễu thoát sanh tử thì đâu có
sanh tử để liễu thoát? Là ngộ vốn không có sanh tử, tức
là ngộ pháp vô sanh. Thành Phật thì tự nhiên sẽ độ chúng
sanh, nhưng không có năng độ và sở độ (không còn có ta).
Bây
giờ, ở nơi nhân địa thì còn chấp sanh tử, nên vì có sanh
tử để liễu thoát; khi đã ngộ thì biết không có sanh tử,
nên gọi là liễu thoát sanh tử. Cho nên Tịnh Độ cũng nói:
“Hoa khai kiến Phật, ngộ vô sanh”.
Hỏi:
Chân
lý của vũ trụ này là chỉ có một, nhưng tâm hiểu chân
lý và tâm ngộ chân lý. Vậy hai cái khác nhau như thế nào?
Đáp:
Phật giáo không kiến lập chân lý, Phật giáo khác hơn các
tôn giáo khác, vì tất cả tôn giáo khác đều có kiến lập
chân lý. Tại sao? Không phải Phật giáo không có chân lý,
tại chân lý đã sẵn có tức là chân tâm. Nếu kiến lập
chân lý thì giống như trên đầu mọc thêm cái đầu. Nhưng
cái đầu này đủ dùng, nếu thêm một cái đầu nữa thì
làm chướng ngại cái đầu có sẵn, phải mời bác sĩ cắt
bỏ mới được.
Tâm
hiểu biết là hoạt động của bộ não che khuất cái biết
của chơn tâm; cái biết của bộ não là cái biết tương đối,
cái biết chơn tâm là bất nhị không có tương đối. Có người
hỏi: Tham Tổ Sư thiền là dùng cái không biết để tu,
tu đến thoại đầu thì sắp kiến tánh, sắp kiến tánh thì
sắp biết phải không?
Tôi
nói: Không phải, không được nói là sắp biết.
Người
ấy hỏi: Không được sắp biết thì giống như gỗ đá không
biết gì sao?
Tôi
nói: Không phải vậy, cái biết chơn tâm không bao giờ ngưng,
nếu ngưng rồi biết lại thì nói là sắp biết được. Nhưng
người ấy cũng chưa hiểu, tôi thay đổi câu hỏi là: “Trời
gần sáng rồi, mặt trời sắp chiếu, vậy có được không?”
Không được. Mặt trời không thể nói là sắp chiếu. Tại
sao? Mặt trời đâu có ngưng chiếu! Mặt trời ngưng chiếu
thì nói sắp chiếu được, mặt trời không phải đến sáng
rồi mới chiếu.
Chơn
tâm của mình cũng vậy, nó đâu có ngưng biết hồi nào? Mà
nói sắp biết! Bây giờ cái biết chơn tâm không hiện ra là
bị che khuất, cũng như không thấy mặt trời là bị mây đen
che khuất. Cho nên, Phật dạy thiền là để dẹp các thứ
che khuất (biết và không biết của bộ não), nhưng những
thiền ấy dẹp các che khuất có sâu cạn khác nhau.
Như
thiền của Tiểu thừa là Ngũ Đình Tâm quán (5 thứ thiền
quán) đình chỉ hoạt động của tâm (bộ não). Bây giờ phần
nhiều người ta tu Sổ Tức quán và Bất Tịnh quán, còn 3
thứ quán kia (Nhân Duyên quán, Từ Bi quán, Lục Thức quán)
không thấy ai tu. Năm thứ thiền này là muốn tiêu diệt lục
căn, vì lục căn tiếp xúc lục trần sanh ra phiền não.
Nhưng
lục căn đối với lục trần là vật chất, ngài Nguyệt Khê
nói theo triết học là Duy Vật luận; tiến thêm 1 bước là
Trung thừa biết đoạn dứt lục căn không được, vì lục
căn hoạt động là do nhất niệm vô minh, niệm đây cứ khởi
hoài từ niệm này qua niệm kia, chứ không phải có quan hệ
với lục trần, nên nói là Duy Tâm luận. Tức là Trung thừa
phải đoạn dứt niệm vô minh.
Đến
Đại thừa biết hai thừa trên chưa đúng hoàn toàn, tức là
Tiểu thừa là phá ngã chấp, Trung thừa là phá pháp chấp,
Đại thừa là phá ngã chấp pháp chấp thì chấp vào không
gọi là không chấp, cho tất cả đều không, nên Đại thừa
thì tâm với vật hợp một.
Tổ
Sư thiền còn gọi là Tối Thượng thừa không phải tâm với
một hợp một, mà là phi tâm phi vật.
-
Vô thừa là sao?
-
Vô thừa là không có thừa nào khác, không phải Trung thừa,
Đại thừa, cho nên Tối thượng thừa cũng gọi là Phi thừa.
Vì thừa này không có thuộc về tam thừa.
Hỏi:
Sư
Phụ thường dạy không được cầu ở nơi Phật Thánh, còn
các chỗ khác thì dạy hãy cầu nơi Phật Thánh. Tu Tổ Sư
thiền thì không có cầu, mà chỉ hỏi và nhìn. Như vậy như
thế nào?
Đáp:
Cầu
cho nhanh ngộ cũng không được, tu là muốn giác ngộ đúng
như nghĩa chữ “Phật”. Tu mục đích muốn ngộ, tại sao
không được cầu ngộ? Người tu liễu thoát sanh tử thì đâu
có thể nào đi cầu cho Bồ Tát phù hộ? Đó là cái ngã vì
cá nhân. Nếu có cầu ngộ để độ chúng sanh cũng không được.
Hỏi:
Khi
tham thiền gặp cảnh ngoài còn thấy sợ, muốn cầu Quán Thế
Aâm phù hộ. Vậy có được không?
Đáp:
Như
vậy tin tự tâm chưa đầy đủ, nên mới có sự cầu. Trong
Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền có điều thứ nhất
là: “Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”. Có cầu mà
tu đến cao nên ma của 50 thứ ma ngũ ấm mới nhập được.
Như mình muốn cầu Bồ Tát và Phật thì ma hiện ra Bồ Tát
và Phật.
Hỏi:
Khi
mình gặp chuyện gì nhưng không cầu mà ở trước bàn thờ
Phật lễ Phật, tụng kinh để cho tâm nghĩ đến Phật và
biết mình có chơn tâm bằng Phật làm cho mình đầy đủ niềm
tin thêm. Vậy có được không?
Đáp:
Không
phải là phải lễ Phật hay bắt buộc lễ Phật, trong Thiền
tông có công án: Một Sa Di gặp Hoàng Bá (kiến tánh triệt
để) lễ Phật, Sa Di nói: Đó là tượng đất tượng gỗ
mà lạy làm chi?
Hoàng
Bá muốn phá chấp Sa Di, nói: Vì tôi kính Phật nên phải lễ.
Sa
Di nói: Tượng Phật tượng gỗ mà!
Hoàng
Bá liền bạt tai Sa Di và nói: Tôi phải lạy như vậy mới
phải.
Sa
Di đó sau này làm vua, ông không vì bạt tai mà trả thù, lại
còn phong Hoàng Bá là “Đoạn Tế Thiền Sư”.
Đệ
tử của Hoàng Bá là Lâm tế, Viện chủ hỏi: Lễ Phật trước
hay lễ Tổ trước?
Lâm
Tế biết Viện chủ chấp nên nói: Phật và Tổ cũng
không lễ.
Nhưng
thực tế không phải là lễ hay không lễ, tức là tùy bệnh
cho thuốc. Cho nên, lời của chư Phật chư Tổ là để phá
chấp của chúng sanh, vì phá chấp mới ngộ đạo được,
đến khi ngộ cũng không được chấp cái ngộ.
Hỏi:
Nếu
tham Tổ Sư thiền mà chấp vào chỗ không cầu thì sao?
Đáp:
Nếu
không cầu thì cũng còn chấp vì lọt vào một bên, chấp cầu
và không cầu là tương đối.
Hoàng
Bá và Lâm Tế là hai thầy trò, bây giờ tất cả con cháu
của Tổ Sư thiền phần nhiều do Lâm Tế truyền xuống. Nhưng
một người thì lễ Phật, còn một người thì không lễ Phật,
đâu phải là nghịch nhau! Hai vị đều cùng một mục
đích.
Nếu
tham thiền đúng thì không có dính líu đến với vô sở cầu,
khi tâm mình có sở cầu thì đó là cái ngã. Cho nên kinh
Viên Giác là phá sạch cái ngã đó. Nhiều người đã đọc
kinh Viên Giác, nhưng họ không để ý, cứ theo thói quen thành
kiến đã sẵn.
Hỏi:
Tin
tự tâm chỉ có công phu mới có, chứ đâu khao khát mới có
được phải không?
Đáp:
Tôi
hỏi Cư sĩ: Ông có tin ông có Phật tánh không?
Cư
Sĩ đáp: Tin.
Tôi
hỏi: Phật tánh có giảm bớt được không?
Cư
Sĩ đáp: Không.
Tôi
hỏi: Phật tánh có gián đoạn được không?
Cư
Sĩ đáp: Không.
Tôi
nói Phật tánh của ông không có giảm bớt thì Phật tánh
của ông và Phật tánh của Phật Thích Ca bằng nhau, Phật
Thích Ca có thần thông, trí huệ bao nhiêu thì ông cũng có
bao nhiêu đó, không có kém hơn của Phật Thích Ca một chút
nào cả. Nếu kém hơn Phật Thích Ca một chút thì có thể
giảm bớt. Cư sĩ đó cũng biết rồi, nhưng lại không tin
tự tâm.
Phật
tánh không thể gián đoạn thì ông cũng là Phật, nếu không
phải tức là gián đoạn. Nhiều người biết mình có Phật
tánh nhưng không tin, nếu tin theo cái biết của mình thì đã
đầy đủ.
-
Làm sao mình từ cái biết không tin đi đến cái tin?
-
Tại tin theo bộ não thành thói quen, tức là cha mẹ sanh ra
mình đã dạy tin theo bộ não, vô trường thầy cô giáo cũng
dạy mình như vậy, cho đến ra xã hội cũng dạy mình vậy,
nhà khoa học, triết học đều dạy mình vậy.
Nhà
khoa học ở Luân Đôn danh tiếng khắp thế giới, hiện nay
là giáo sư dạy toán mà lại nghịch lý với toán; định lý
của toán là không có con số cực nhỏ tức là không có con
số bắt đầu, mà ông còn lại tìm sự bắt đầu của vũ
trụ và sanh mạng, rõ ràng là nghịch với định lý của toán!
Vì tin bộ não quá rồi quên định lý toán. Cho nên, Phật
nói là tập khí dã từ lâu đời, bây giờ gọi là cơ nhân.
Ông
người Mỹ hỏi: Mình dạy bắt đầu từ nhỏ có được không?
Tôi
nói: Được, nhưng cũng chưa chắc được. Tại sao? Vì cái
cơ nhân truyền từ cha mẹ, cái cơ nhân đó đã sẵn có. Nên
Lục Tổ đã kiến tánh triệt để mà còn trải qua 15 năm
để dứt tập khí. Vậy tập khí không dễ gì mà dứt.
|