|
.
Hoà
Thượng DUY LỰC Khai thị
CUỐI CÙNG
TẠI HOA KỲ
TT.
Thích Đồng Thường Biên Tập Thành Văn Tự
 |
 |
Hỏi:
Trong
giới luật từ Sa Di để thọ Tỳ Kheo, có quy định thời
gian chặt chẽ không?
Đáp:
Trong
giới luật không có quy định thời gian để thọ giới Tỳ
Kheo, lúc tôi thọ giới ở nước Mã Lai gặp Trúc Ma làm Giới
Thọ Sư cho một người vừa mới xuống tóc xuất gia thọ
giới Sa Di, Tỳ Kheo, Bồ Tát. Nhưng những vị này phải học
giới luật trong thời gian 53 ngày.
Trong
giới luật có quy định thời gian người nữ để thọ giới
Tỳ Kheo Ni là lý do để biết người nữ có thai hay không.
Mới xuất gia là Sa Di Ni, rồi phải qua 2 năm mới cho thọ
Thức Xoa Ma Na; nói 2 năm là sự thật có 12 tháng thêm một
ngày.
Tại
sao? Vì thời gian ấy thì đã biết người đó có thai hay không.
Tại họ có chồng xin đi xuất gia, nhưng không biết có thai
rồi có con thì bị người ta phê bình. Cho nên, Phật mới
chế thêm một cấp nữa là Thức Xoa Ma Ni, mới được thọ
giới Tỳ Kheo Ni.
Theo
giới luật thì Tỳ Kheo được xuất gia 7 lần, còn Tỳ Kheo
Ni chỉ được 1 lần xuất gia. Tỳ Kheo có 250 giới, có 4 giới
cực ác; Tỳ Kheo Ni có 348 giới, có 8 giới cực ác.
Hỏi:
Khi
người Tỳ Kheo hoàn tục, nếu xuất gia lại thì làm Tỳ Kheo
liền hay phải làm lại từ đầu?
Đáp:
Khi
Tỳ Kheo hoàn tục, nếu xuất gia lại thì phải làm lại từ
đầu là trước thọ giới Sa Di rồi mới thọ Tỳ Kheo. Giới
Thanh Văn gọi là tiệm giới, tức là từ cấp từ cấp lên.
Bát Quan Trai và giới Bồ Tát gọi là đốn giới, chưa có
quy y cũng có thể thọ giới Bồ Tát. Vì trước khi truyền
giới thì phải quy y.
Những
người thọ giới Tỳ Kheo mà hoàn tục, rồi xuất gia lại
làm Tỳ Kheo liền thì những người này gọi là “tặc trụ”,
nếu có Tăng đoàn sẽ đuổi ra không cho làm Tăng. Bởi vì
họ phạm tặc trụ, tức là ăn cắp Tỳ Kheo.
Hỏi:
Người
phạm giới luật thì người nào để chỉnh đốn việc này?
Đáp:
Ngày
xưa có Tăng đoàn thì mỗi nửa tháng có kiểm thảo. Một
người đại diện cho Tăng đoàn ra hỏi: “Nửa tháng nay trong
chúng Tăng có ai phạm giới không? Có thì ra tự bạch với
chúng rồi sám hối”. Nếu phạm giới mà tự mình dấu không
ra bạch trước chúng Tăng, mà người khác biết không cử
tội người đó, sau này có người phát giác thì 2 người
trước cùng một tội.
Giáo
hội bây giờ không phải Tăng đoàn ngày xưa. Tất cả chúng
Tăng ở trong Tăng đoàn đều phải y theo giới luật là khai,
giá, trì, phạm thì phải thông suốt mới phán đoán mọi người
đúng sai. Như có người trong chúng Tăng ra bạch với chúng
Tăng rằng: Bây giờ, có ai thấy tôi phạm giới không? Có
ai nghe tôi phạm giới? Có ai nghi tôi phạm giới không?
Nếu
cư sĩ thấy Tu Sĩ phạm giới thì được ra trước chúng Tăng
để chứng tỏ. Đáng lẽ cư sĩ không được nói tội của
Tu Sĩ, nhưng khi cư sĩ ra trước chúng Tăng để chứng tỏ
thì không bị tội. Vì làm như vậy là giúp cho Tỳ Kheo ấy
giữ giới có ích, chứ không có hại. Giới luật của Phật
rất chặt chẽ, nhưng vì người đời sau không y theo giới
luật thực hành.
Hỏi:
Có
phải tâm là bộ não không?
Đáp:
Phải
rồi, bộ não là ý thức (thức thứ 6), bây giờ nói tâm đều
là bộ não. Tâm này thì sanh diệt, khi chết đem đốt biến
thành tro, đem chôn biến thành đất. Người ta chỉ có tin
tâm sanh diệt, vì thường ngày họ sống với nó. Chơn tâm
là vô thỉ vô chung, khắp không gian không có khứ lai nên gọi
là Như Lai, khắp thời gian không sanh diệt nên gọi là Niết
Bàn.
-
Có phải Chơn tâm là không phải ở trong, không phải ở ngoài,
cũng không phải ở giữa không?
-
Phải rồi, vì Chơn tâm khắp không gian thì sao ở trong bộ
não được! Nếu ở trong bộ não là ở trong rồi, như vậy
thì không cùng khắp.
Hỏi:
Trong
thời gian đả thiền thất, Ngài Lai Quả nói: “Ai phạm quy
cũ thì bị đánh chết bỏ xuống dưới quãng đơn”. Như
vậy việc đó có không?
Đáp:
Trong
thời kỳ đả thiền thất không có ai phải bị đánh chết,
nhưng có bị đánh hương bảng. Quy định ngày thường người
tham thiền muốn ra ngoài thiền đường để đi tiểu tiện
thì phải bị đánh 6 cây hương bảng rồi mới cho ra cửa.
Còn giờ đả thiền thất, người tham thiền xin ra ngoài để
tiểu tiện hay có bệnh cũng không cho ra. Việc này để khích
lệ người tham thiền tinh tấn dụng công phu.
Hỏi:
Thế
nào là nghi tình?
Đáp:
Hỏi
câu thoại là kích thích niệm không biết, mục đích mình
muốn đến thoại đầu nên mới nói tham thoại đầu, nhưng
sự thật cách thoại đầu còn rất xa. Hỏi cảm thấy không
biết thì cái không biết đó cũng chưa phải là nghi tình.
Phải nhìn chỗ không biết, tuy nói chỗ không biết nhưng chỗ
không biết thì không có chỗ, không có chỗ thì không có mục
tiêu để nhìn, không có mục tiêu để nhìn thì nhìn mãi muốn
biết mà biết không nổi, vì không có mục tiêu.
Những
người muốn có mục tiêu để nhìn, mặc dầu tìm có mục
tiêu thì sai. Giữ chỗ muốn biết mà biết không nổi, nhưng
chỗ đó không có gì. Cho nên, Ngài Long Thọ nói là: “Tâm
như hư không vô sở hữu”, vì vô sở hữu là trống rỗng,
nếu mình nhìn thấy có cái gì là có sở hữu rồi, chứ không
phải vô sở hữu. Thật tế, vô sở hữu hiển bày cái dụng,
tức là tất cả cái gì cũng đều ở trong cái vô sở hữu
này. Nếu kiến lập sở hữu thì cái dụng bị chướng ngại.
Tâm
pháp là biết, chính cái biết là chướng ngại, nên 4 bài
kệ của Ngài Vĩnh gia dùng cái tay thí dụ cái biết chướng
ngại. Như dùng cái tri để biết tịch lặng (tịch lặng là
người có thiền định cao mới có sở tri tịch lặng), nhưng
lấy tịch lặng làm sở tri thì không phải cái tri của Bát
Nhã không có đối đãi, tức là không phải vô duyên tri.
Ví
dụ cái tay cho tâm của mình, nếu tay cầm cây như ý không
phải là tay không cầm cây như ý. Tay không cầm cây như ý
là hoạt bát vạn năng muốn lấy cái gì cũng được, còn
cái tay cầm cây như ý là có sở trụ thì bị mắc kẹt nên
không lấy được cái gì. Tham thiền dùng nghi tình là cây
chổi automatic quét cái biết của bộ não mới khôi phục cái
hoạt bát vạn năng của bản tâm.
Không
lấy cây như ý làm sở tri ở ngoài, mà tự mình biết mình
có cái tri (năng tri) không có sở tri để đối đãi, nhưng
chẳng phải là vô duyên tri. Như tay không cầm đồ vật, nhưng
lại tự làm nắm tay thì chẳng phải tay không làm nắm tay.
Vì đã kiến lập cái biết (tri) thì cái tri này làm chướng
ngại, nên dụng hoạt bát vạn năng tự tánh không hiện ra.
Không
biết tịch lặng và không tự có cái biết, chẳng phải không
biết, vì cái biết của tự tánh rõ ràng khắp không gian khắp
thời gian, Giáo môn gọi là chánh biến tri, nên không giống
như gỗ đá chẳng biết gì.
Như
tay không cầm như ý và không tự làm nắm tay, chẳng phải
không có tay, vì tay vẫn bình yên đâu mất! Chỉ là tay không
trụ vật ở ngoài và không tự trụ. Vậy đâu đồng như
sừng thỏ, vì sừng thỏ chỉ có tên, mà thỏ không có sừng.
Cái
tay có hình tướng mà người ta dễ hiểu, nên Ngài Vĩnh Gia
dùng cái tay để thí dụ cái biết thức thứ 6 (tâm).
Hỏi:
Thầy
đã giải thích cái vô sở hữu rồi! Đây hỏi cách thức
để giác ngộ?
Đáp:
Tất
cả kiến lập thì không đúng, muốn giác ngộ thì phải hiểu
cái này. Cái nghi tình là tâm pháp, không có cái gì cho mình
làm mục tiêu để hiểu. Ngài Vĩnh Gia dùng phương tiện cái
tay để làm mục tiêu thí dụ, tức là dùng cái hình tướng
để thí dụ cái không hình tướng cho người ta dễ hiểu.
Cho nên, không kiến lập cái tri.
-
Hỏi câu thoại để trả lời câu ấy là như thế nào?
-
Hỏi câu thoại là khởi lên niệm không biết, rồi nhìn chỗ
không biết, nhưng chỗ không biết thì không có chỗ, không
có mục tiêu để nhìn, cho nên nhìn mãi vẫn còn không biết
thì vẫn còn không biết mới gọi là nghi tình, chứ mới hỏi
không biết chẳng phải nghi tình.
-
Chỗ không biết là do cái tri của mình không biết chứ?
-
Chỗ này là đường đi của ý thức (thức thứ 6), mặt biết
là lối tu của Như Lai thiền, mặt không biết là lối tu của
Tổ Sư thiền. Mặt biết và không biết đều là nhất niệm
vô minh, tất cả ở trong tương đối. Cho nên, cuối cùng phải
lìa mặt không biết mới được kiến tánh.
Dùng
mặt không biết để quét sạch mặt biết (tìm hiểu biết,
suy nghĩ biết, ghi nhớ biết), sau cùng còn nghi tình thắc mắc
hoài rồi đến thoại đầu (vô thỉ vô minh). Thoại đầu
là còn dính líu ý thức, tuy cảnh giới này thanh thanh tịnh
tịnh không có gì. Từ thoại đầu tiến thêm một bước thì
lìa ý thức, sát na lìa ý thức gọi là kiến tánh.
Nếu
chưa lìa ý thức mà giữ nghi tình cũng gọi là nhất niệm
vô minh. Đến thoại đầu cũng gọi là hang ổ của vô thỉ
vô minh. Muốn dùng phương tiện thì chỉ giải thích được
đến đây, mình phải có công phu kinh nghiệm mới được.
Hỏi:
Dùng
nghi tình để cho tâm vắng lặng, theo con nghĩ không phải Tổ
Sư thiền đâu? Có rất nhiều phương pháp để làm tâm vắng
lặng, chứ không phải dùng nghi tình để làm cho tâm vắng
lặng. Như vậy có đúng không?
Đáp:
Nghi
tình là tự động làm tâm vắng lặng, nhưng mục đích không
phải vậy!
Hỏi:
Phương
pháp của Tào Sơn như thế nào?
Đáp:
Tào
Sơn là đệ tử của Động Sơn, hai người hợp lại thành
tông Tào Động. Cơ xảo của Tào Động tông mà người ta
nói như người nông phu ôn hòa, tông Lâm Tế như tướng quân
đánh hét. Có người hỏi vị kiến tánh (không phải tông
phái Tào Động): Thế nào gia phong tông phái Tào Động?
Vị
kiến tánh trả lời: Thì phải hỏi con cháu Tào Động.
Hỏi:
Đạo
Nguyên nói với Thầy là Nghĩa Tịnh: “Con nay buông xả được
thân tâm”, hai thầy trò đối đáp nhau, cuối cùng Nghĩa Tịnh
ấn chứng cho Đạo Nguyên được kiến tánh. Vậy như thế
nào?
Đáp:
Đại
Huệ làm cho những người đó được kiến tánh triệt để,
nhưng trước chưa gặp Đại Huệ, chính những người đó
tự cho mình đã kiến tánh, rồi ra hoằng pháp cũng được
nhiều người ấn chứng. Ban đầu những người đó không
phục Đại Huệ, sau này mới phục nên được kiến tánh.
Đại
Huệ ngộ đến mấy lần, cách ngộ rất khó khăn. Viên Ngộ
ấn chứng cho Đại Huệ và nói: “Ông ngộ đến mức này
cũng hiếm có, nhưng chưa rốt ráo”. Ngài phải qua mấy lần
rồi mới ngộ triệt để. Khi chưa qua những giai đoạn đó,
cũng có nhiều Thiền sư ấn chứng Ngài đã kiến tánh, nhưng
Ngài cũng còn có cái nghi.
Ngài
nghĩ: “Nếu gặp Thiền sư Viên Ngộ ấn chứng mình kiến
tánh giống như các Thiền sư kia thì sẽ về viết bài: “Vô
Thiền Luận”.
Viên
Ngộ nói với Đại Huệ rằng: Ông nói cũng được, làm bài
tụng cũng được, nhưng ông còn thiếu một tiếng ồ!
Lúc
ấy, Đại Huệ mới theo Viên Ngộ, như ban đầu nghe: “Gió
mát từ phương nam” cho là ngộ, rồi gặp Viên Ngộ ấn chứng
Ngài được ngộ, nhưng chưa đến chỗ rốt ráo.
Ngài
phải qua mấy lần ngộ cực khổ, Viên Ngộ nói: Khi vô phòng
của tôi thì được, nhưng ra thì không được; lúc ông ngồi
giải đáp cho người ta được, nhưng đứng dậy thì không
được.
Tại
sao? Vì Ngài ngộ chưa triệt để. Lúc Ngài ngộ triệt để
rồi, Ngài nói: Nếu có thật ngộ cũng không được lấy sở
ngộ của mình để dạy người. Ngộ rồi phải rõ đại pháp
mới có sức đại cơ đại dụng để khiến cho người khác
ngộ, còn lấy sở ngộ của mình để dạy người là thiền
ngâm nước chết.
Hỏi:
Lấy
cảnh giới làm sở chứng cho Tổ Sư thiền có phải không?
Đáp:
Thấy
cảnh giới là vọng không phải Tổ Sư thiền. Vì cuối cùng
là vô tu vô chứng, nếu có sở đắc là không phải. Chứng
ngộ là bản tâm của mình hiện lên, không có sự bắt đầu,
nên gọi là vô thỉ cũng là nghĩa vô sanh. Nếu có bắt đầu
thì phải có cuối cùng, có sanh thì phải có diệt.
Dùng
sự hiểu biết của mình để nghiên cứu lý sanh khởi bất
cứ cái gì đều không được. Cho nên, Phật nói trắng ra
là: “Không có sự bắt đầu”, nếu có bắt đầu thì phải
có kiến lập. Nhà khoa học biết vật chất và năng lượng
bất diệt (không hết) thì tự nhiên không sanh, không có bắt
đầu.
Nhưng
nhà khoa học tìm sự bắt đầu vũ trụ và sanh mạng thì tự
nghịch lại với sự hiểu biết của mình. Vì vậy, họ có
ra sức tìm sự bắt đầu của vũ trụ và sanh mạng thì không
bao giờ được. Cho nên, người chứng quả là ngộ pháp vô
sanh hay là chứng vô sanh pháp nhẫn.
Hỏi:
Bây
giờ, khoa học phối thai vô tính làm ra con người hay con vật,
việc này như thế nào?
Đáp:
Nhân
đầu tiên cơ nhân là vô thỉ, họ không thể sáng tạo được.
Vì có cơ nhân nên họ theo cái này để sửa đổi. Họ chỉ
sửa được cái hiện tượng, hiện tượng thì không phải
bản thể. Bản thể là vô thỉ vô sanh thì không có ai tạo
ra được cả! Hiện tượng là sanh diệt, còn bản thể thì
không sanh diệt.
Nếu
hỏi Phật Thích Ca: Bản thể là cái gì? Phật Thích Ca cũng
không thể trả lời được. Khi kiến tánh thì tất cả kiến
thức của thế gian đều dẹp hết, cái biết Phật tánh hiện
lên, không phải là cái biết của bộ óc. Nếu dùng cái biết
bộ óc để nghiên cứu tìm hiểu là sản phẩm của bộ óc
thì cũng nằm trong tương đối.
Hỏi:
Khi
ngộ rồi, những tập khí làm sao sạch được hết?
Đáp:
Những
người ngộ rồi bảo nhậm dần dần dứt trừ tập khí, như
Lục Tổ đã kiến tánh triệt để, nhưng phải trải qua 15
năm để dứt trừ tập khí, rồi mới có tư cách để hoằng
pháp, chứ đâu phải ngộ rồi là xong! Nếu chưa ngộ thì
phải dùng nghi tình để chấm dứt tập khí. Tập khí là mình
ham thích cái này cái kia, vì nghi tình là không biết nên sự
ham thích tốt xấu cũng không biết. Vì vậy không nổi lên
niệm ham muốn.
Dùng
nghi tình để chấm dứt tập khí dần dần, đó chỉ là tạm
dẹp; nếu bị kích thích thì cũng khởi niệm lên nữa. Cho
nên, đến thoại đầu tiến lên lìa khỏi ý thức thì được
kiến tánh.
Hỏi:
Ở
trong gia đình, con thấy tu rất khó. Sư Phụ có cách nào để
dễ tu không?
Đáp:
Khó
dễ là do tâm mình, nếu mình quyết tử giữ được nghi tình,
tức là không có sức mạnh nào mà chặn ngang nghi tình của
mình. Ví như tảng đá lớn từ trên núi cao lăn xuống không
cái gì mà ngăn cản nó được. Có vị Thiền Sư nói:
“Tham thiền có sức lực như thế! Nếu 7 ngày không ngộ
thì tôi sẽ bị địa ngục cắt lưỡi”.
Có
vị Phật Đăng Thuần quyết tử là 49 ngày sẽ kiến tánh,
ông không đứng không ngồi không nằm, mà cứ đi hoài trong
nhà, đi tới lúc 2 chân sưng, mệt quá mới dựa vách tường
ngủ hồi nào không hay, đến chừng thức dậy tự trách mình
và đánh mình, đem tất cả đồ ra ngoài nhà và đi không gần
vách tường, cuối cùng 49 ngày kiến tánh.
Bây
giờ, không có ai làm được như vậy! Nếu có thống thiết
sanh tử mới làm được, còn không làm được rồi cho là
khó thì tự nhiên phải khó.
Hỏi:
Thấy
những cảnh giới cho là đã chứng ngộ phải không?
Đáp:
Những
cảnh giới trong kinh Lăng Nghiêm nói còn cao hơn những cảnh
giới của các vị đã nói, những cảnh giới ấy là tà ma
ngoại đạo. Nếu tu Tổ Sư thiền thấy những cảnh giới
đều là vọng, còn người tu Tịnh Độ thấy những cảnh
giới lành cho là tốt.
Hỏi:
Thế
nào thực hành tham Tổ Sư thiền?
Đáp:
Tham
Tổ Sư thiền là tham công án hay tham thoại đầu. Tham là hỏi
câu thoại, vì mục đích muốn đến thoại đầu, sự thật
thì chưa đến. Thoại là lời nói, đầu là đầu tiên lời
nói, tức là chưa khởi niệm muốn nói lời nói này, mới
gọi là thoại đầu. Nếu khởi niệm muốn nói, tuy chưa nói
ra miệng cũng gọi là thoại vỉ (đuôi).
Nhưng
mình muốn nói hay muốn hỏi thì đã khởi niệm rồi, cho nên
không phải thoại đầu, nhưng mục đích muốn đến thoại
đầu, mới gọi là tham thoại đầu hay khán thoại đầu. Đến
thoại đầu thì 24/24 giờ ngày đêm không khởi niệm nào.
Giáo môn gọi thoại đầu là vô thỉ vô minh, căn bản vô
minh, chỗ đó không có gì hết vô tri vô giác. Nếu mình dùng
ý thức đi đến chỗ đó là đường đi cuối cùng.
Đường
đi ý thức có 2 mặt, dùng mặt biết để tu gọi là Như Lai
thiền hay là Giáo môn, dùng mặt không biết (nghi tình) để
tu gọi là Tổ Sư thiền hay là Tông môn. Giáo môn thì có giáo
lý tu từ cấp lên, còn Thiền tông không cần học giáo lý,
không có cấp bậc, từ địa vị phàm phu có thể ngộ đến
Đẳng Giác.
Dùng
cái biết để tu dễ bị ngoại cảnh lôi kéo, thấy cái nào
vừa ý thì thích, thấy cái nào không vừa ý thì chê. Dùng
nghi tình thì cảnh tốt cũng không biết, xấu cũng không biết,
tốt không biết thì không thích, xấu không biết thì không
chê. Cho nên, gọi là pháp thiền trực tiếp, mà lại đơn
giản, không học giáo lý. Tuy không học giáo lý nhưng không
trái giáo lý.
Cách
thực hành tham Tổ Sư thiền là hỏi và nhìn, hỏi tham thoại
đầu, nhìn là khán thoại đầu. Như hỏi câu thoại: “Khi
chưa có trời đất ta là cái gì?” Hỏi câu thoại là kích
thích niệm không hiểu không biết, rồi nhìn chỗ không biết,
muốn xem coi chỗ không biết là cái gì? Nhưng chỗ không biết
thì không có chỗ, không có chỗ thì không có mục tiêu để
nhìn. Cho nên, nhìn mãi không thấy gì vẫn còn không biết,
cái vẫn còn không biết đó Thiền tông gọi là nghi tình.
Mặc
dầu, nhìn không thấy gì nhưng vẫn nhìn, hỏi và nhìn đi
song song không có cái nào trước sau thì lâu ngày phương pháp
này sẽ đưa mình đến thoại đầu. Nhưng chỗ thoại đầu
là nguồn gốc của ý thức, chưa lìa được ý thức, Thiền
tông gọi là đầu sào 100 thước, từ đầu sào 100 thước
tiến lên một bước, tức là lìa khỏi ý thức. Sát na lià
ý thức là kiến tánh thành Phật. Trước kia những việc chưa
giải quyết, kiến tánh triệt để thì giải quyết hết tất
cả.
Bây
giờ là ở trong chiêm bao, ban đêm ngủ là nhắm mắt chiêm
bao, mình đang nói chuyện với nhau là mở mắt chiêm bao. Đến
chừng lìa ý thức là ra khỏi chiêm bao. Ở trong chiêm bao làm
thiện làm ác đều có nhân quả, lúc kiến tánh triệt để
là ra khỏi chiêm bao, mà không trở lại chiêm bao, nên những
nghiệp nhân nghiệp quả trong chiêm bao đều sạch hết.
Kiến
tánh có 3 loại (phá Sơ Quan, phá Trùng Quan, phá Mạt Hậu Lao
Quan), nhưng những người có căn cơ cao khỏi cần phải qua
Sơ Quan, Trùng Quan mà thẳng tới Mạt Hậu Lao Quan. Còn người
căn cơ kém thì phải phá từng Quan. Có người phá Sơ Quan
rồi sau phá Trùng Quan và phá luôn Mạt Hậu Lao Quan. Có người
phá Sơ Quan, Trùng Quan rồi sau mới phá Mạt Hậu Lao Quan.
Cho
nên, Sơ Quan, Trùng Quan, Mạt Hậu Lao Quan không phải là
giai cấp. Nếu là giai cấp thì phải từ cấp mà tiến lên
như giáo môn là 52 cấp (Thập Tín là 10 cấp, Thập trụ là
10 cấp, Thập Hạnh là 10 cấp, Thập Hồi Hướng là 10 cấp,
Thập Địa là 10 cấp và Đẳng giác, Diệu Giác, tổng cộng
là 52 cấp).
Người
tham Tổ Sư thiền nếu ngộ thì đến chỗ Đẳng Giác. Tất
cả pháp môn tu đến cuối cùng là gặp nhau ở Đẳng Giác,
từ Đẳng Giác tiến lên Diệu Giác là quả Phật.
Tham
Tổ Sư thiền rất giản dị, chỉ cần hỏi và nhìn; nhưng
không phải hỏi trước nhìn sau, hỏi và nhìn đi song song,
vì hai cái không gián đoạn, hỏi không gián đoạn và nhìn
cũng không gián đoạn.
Cũng
có người nói “tôi nhìn không được, vì nhìn không thấy
gì?”, nhìn không được tức là đã nhìn được rồi, tại
nhìn được mới không thấy gì, nếu có thấy gì thì không
đúng; vì chỗ không biết thì không thấy gì, chỗ đó gọi
là vô thỉ vô minh thì chẳng có cái gì cả! Chỉ lìa khỏi
ý thức là ngộ, cái biết lúc đó không phải cái biết của
bộ óc là cái biết của Phật tánh.
Giáo
môn gọi cái biết Phật tánh là chánh biến tri. Chánh là đúng
với thật tế, còn cái biết của bộ óc không đúng với
thật tế; biến là phổ biến khắp không gian, khắp thời
gian; tri là biết, tức là cái biết Phật tánh khắp không
gian khắp thời gian, nghĩa là không có chỗ nào không biết
và không có lúc nào không biết.
Như
cái biết của bộ óc nếu về thời gian, ngủ mê không biết,
chết giấc không biết, thật chết không biết, tức là có
lúc không biết. Còn cái biết của Phật tánh thì ngủ mê
vẫn biết, chết giấc vẫn biết, thật chết vẫn biết, tức
là lúc nào cũng biết. Cái biết của bộ óc có lúc biết
có lúc không biết, có chỗ biết có chỗ không biết. Còn
cái biết Phật tánh thì chỗ nào cũng biết.
Hỏi:
Thế
nào là chữ “KHÔNG” của nhà Phật?
Đáp:
Không
là trống rỗng, trống rỗng là không có gì hết; Tổ 14 Thiền
Tông là Long Thọ Bồ Tát làm bộ Đại Trí Độ Luận nói:
“Tâm như hư không vô sở hữu”, vì tánh con người thì
muốn có sở hữu, như tiền, nhà cửa, tài sản,… đều muốn
sở hữu của tôi. Luôn hư không cũng kiến lập hư không,
cho nên có người hỏi Ngài Long Thọ: Tại sao Ngài nói hư
không vô sở hữu dung nạp tất cả vật? Sao không nói hư
không quảng đại vô biên dung nạp tất cả vật?
Ngài
Long Thọ nói: Hư không vô sở hữu là không có hư không thì
lấy cái gì quảng đại vô biên? Nói quảng đại vô biên
là kiến lập hư không rồi! Nhưng thật tế hư không trống
rỗng mới dung nạp tất cả, như mặt trời, mặt trăng, đất
đai, nhà cửa, núi sông, bất cứ cái gì đều ở trong này.
Tất
cả dùng đều phải nhờ hư không vô sở hữu mới dùng được,
như tôi đang nói và các vị đang nghe, nếu không có cái hư
không vô sở hữu thì quý vị làm sao nghe được? Chúng ta
nhìn nhau được cũng phải nhờ hư không vô sở hữu. Nếu
không có hư không vô sở hữu thì tôi làm sao nhìn được?
Cuộc
sống hàng ngày của mình, như ăn cơm, mặc áo, nói năng, tiếp
khách,… đều phải nhờ hư không vô sở hữu mới làm được.
Mình ứng dụng hàng ngày mà chẳng tự biết! Lại đi đoán
mò nói không là cái gì… là Chơn không diệu hữu,… đó
là dùng ý thức để đoán mò, tức là muốn kiến lập cái
sở hữu. Nhưng sự thật nó là vô sở hữu, cái vô sở hữu
là cái tâm mình.
Ngài
Long Thọ lấy hư không vô sở hữu để dụ cho tâm mình. Cho
nên kinh thường nói là tâm như hư không dung nạp tất cả.
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tất cả duy tâm tạo” hay nói vạn pháp
duy tâm. Nhà khoa học cũng chứng tỏ năng lượng của tâm,
nhưng không tin cái tâm, họ lại nói là từ trường. Kỳ thật,
từ trường cũng là tâm tạo, vì cũng ở trong tâm.
Không
là trống rỗng là tâm của mọi người, còn thân xác này
theo kinh Lăng Nghiêm nói chỉ là một vật ở trong tâm này
thôi, bất cứ vật gì cũng chỉ là một vật ở trong tâm.
Nhưng ý thức có ngã chấp, chấp cái thân này cứ lo thân
này. Ngài Lai Quả làm bài cứu tâm rằng: “Vì lo cái thân
mà tạo nhiều tội lỗi, khi xác thân chết thì Diêm La Vương
buộc tội cái tâm, chứ không buộc tội cái thân, nhưng làm
tội thì cái thân làm”. Nên mình phải biết đừng có làm
oan cho tâm!
Hỏi:
Nếu
tin tâm mình thì không có nhân quả phải không?
Đáp:
Chơn
tâm không có tương đối, nhưng bây giờ mình dùng vọng tâm,
tức là dùng thức phân biệt thì có tương đối, nên có nhân
quả. Nhưng nhân quả đó đều ở trong chiêm bao, nếu mình
không chịu ra ngoài chiêm bao thì phải chịu nhân quả. Như
mình đã tạo nghiệp heo thì phải đầu thai heo, tạo nghiệp
bò thì phải đầu thai bò, làm sao không có nhân quả?
Khi
nào mình ra ngoài chiêm bao thì mới nói không nhân quả được!
Tức là không có nhân quả chiêm bao, vì lúc đó hoàn toàn
là Phật tánh không có tương đối, còn nhân quả thì tương
đối. Nếu mình dùng bộ óc làm sao không có nhân quả? Đã
nói chiêm bao thì cần làm cái gì nữa? Nhưng phải cần, vì
mình còn ở nhà chiêm bao, ăn cơm chiêm bao, mặc áo chiêm bao
phải chịu nhân quả chiêm bao. Nếu phá Sơ Quan, phá Trùng
Quan cũng còn ở trong chiêm bao, phá được Mạt Hậu Lao Quan
thì không còn chiêm bao.
Hỏi:
Từ
trước đến giờ, trừ Phật Thích Ca ra, có ai ra khỏi chiêm
bao chưa?
Đáp:
Có
rất nhiều.
-
Như Thầy nói người kiến tánh không cần ăn uống phải không?
-
Người kiến tánh đâu phải không cần ăn uống! Vì còn cái
thân này cũng phải ở nhà chiêm bao, mặc áo chiêm bao. Khi
nào bỏ cái thân mới khỏi ăn uống. Cái thân này gọi là
xác thân, chứ không phải pháp thân, pháp thân thì khỏi ăn
uống.
Khi
đã kiến tánh tuy xác thân có sanh tử, nhưng sanh tử
tự do là muốn đi thì đi, muốn ở thì ở. Có câu chuyện
sanh tử tự do:
Có
Thiền Sư một mình ở trên núi, tiếng tăm truyền tới kinh
thành, vua nghe sanh lòng hâm mộ, sai một đại thần lên núi,
mời Thiền Sư đến kinh thành hỏi đạo thì Ngài từ chối
không đi. Lần thứ nhì Ngài cũng từ chối, lần thứ ba vua
giận sai vị đại thần đi mời và nói: “Nếu kỳ này mời
Thiền Sư không đi thì lấy cái đầu đem về cho ta, còn không
thì cái đầu của ông thay thế”.
Đại
thần nói với Thiền Sư: Tôi không dám lấy đầu của Ngài,
nếu tôi không mời được Ngài, có về kinh thành thì cái
đầu của tôi cũng mất, vậy xin Ngài thương tôi mà đi kinh
thành một chuyến, vì vua mộ đạo mới mời mà!
Thiền
Sư nói: Đi thì đi, bây giờ ông đi trước còn tôi sau.
Đại
thần nói: Cùng đi một lượt, dọc đường tôi săn sóc.
Thiền
Sư nói: Được.
Nói
xong, Thiền Sư mới hỏi tất cả môn đồ: Bây giờ tôi muốn
đi, các vị có ai theo tôi đi không?
Có
một Tăng ra nói: Con muốn theo thầy đi.
Thiền
Sư hỏi: Một ngày đi bao nhiêu dặm?
Tăng
nói: 50 dặm.
Thiền
Sư nói: Không được.
Tăng
khác nói: Con muốn theo thầy đi.
Thiền
Sư hỏi: Một ngày đi bao nhiêu dặm?
Tăng
nói: 70 dặm.
Thiền
Sư nói: Không được.
Tăng
khác nói: Con muốn theo thầy đi.
Thiền
Sư hỏi: Một ngày đi bao nhiêu dặm?
Tăng
nói: 90 dặm.
Thiền
Sư nói: Không được.
Người
này hỏi không được, người kia hỏi cũng không được. Cuối
cùng thị giả hỏi: Con muốn theo thầy đi.
Thiền
Sư hỏi: Một ngày đi bao nhiêu dặm?
Thị
giả đáp: Không biết, Thầy đến đâu thì con đến đó.
Thiền
Sư nói: Được.
Lúc
đó Thiền Sư ngồi trên ghế thị tịch và thị giả đứng
bên cạnh cũng thị tịch (chết), ông đại thần thấy vậy
hoảng kinh, nói “oai quyền của vua dùng cho thường dân thì
được, còn đối với Thiền Sư thì không được”. Vì Thiền
Sư kiến tánh được sanh tử tự do.
- Có
vị Thiền Sư khác nói các đệ tử rằng: Tôi vô hòm, các
vị đậy nắp lại rồi đem đi thiêu.
Các
đệ tử thấy vậy không dám nghe theo, cái hòm để đó hai
ba ngày, các đệ tử giở nắp ra coi thì Thiền Sư ngồi dậy
nói: Các vị theo tôi lâu năm mà không tin tôi! Rồi Ngài làm
tiệc gọi là “tiệc trai ngu si”. Khi ăn xong, Ngài nói: “Tôi
vào hòm đậy nắp lại, cứ đem đi thiêu, nếu ai mở nắp
hòm ra không phải đệ tử của tôi”.
- Lục
Tổ nói với đồ chúng trong Pháp Bảo Đàn: “Tôi sẽ ra đi”
thì các đệ tử khóc ra nước mắt, chỉ có Thần Hội còn
nhỏ không khóc. Lục Tổ quở các đệ tử khóc: “Các vị
còn lo cho tôi cái gì nữa! Nếu tôi không biết chỗ đi, làm
sao tôi biết để báo cho các vị biết? Các vị khóc là không
phải đệ tử của tôi”.
Tất
cả các vị kiến tánh triệt để là sanh tử tự do, tại
thân này như kinh Lăng Nghiêm nói là một vật trong tâm và
các vật khác cũng vậy. Vì trọng cái thân này thì cái gì
cũng đều lo cho cái thân, kiến tánh là tâm hiện lên, chứ
không do cái thân. Cái thân này là một vật sanh diệt như
những vật khác thì đâu có tồn tại! Vì chấp cái thân này
nên Phật pháp mới phá ngã chấp.
Như
Bát Nhã Tâm Kinh phá ngũ uẩn, phá lục căn, phá lục trần,
phá lục thức. Tất cả Phật pháp là trị bệnh chấp của
chúng sanh, chứ không có pháp gì gọi là Phật pháp. Nếu giảng
theo ý của Phật thì người ta khó tin. Có bức thư của Thiền
Sư người Mỹ gởi cho tôi, trong đó nói: “Tôi hoằng dương
Tổ Sư thiền cho người Mỹ, nhưng họ không lãnh hội được,
lại cho Tôi là người khùng”.
Hỏi:
Khi
tham thiền làm sao mình biết tiến bộ đến đâu?
Đáp:
Tham
thiền có nghi tình ngày đêm 24/24 giờ thì đến thoại đầu,
đến thoại đầu là sắp kiến tánh. Bây giờ bắt đầu tham
Tổ Sư thiền, công phu đầu tiên của mình trong một ngày
đêm chỉ có 1 phút nghi tình, nếu mỗi ngày mình tiến thêm
1 phút nghi tình thì một tháng tiến được 30 phút nghi tình,
một năm tiến được 6 giờ nghi tình, 4 năm được đến thoại
đầu rồi sẽ kiến tánh.
Nếu
tham thiền có nghi tình một ngày tiến được ½ phút nghi tình
thì 8 năm đến thoại đầu sẽ kiến tánh. Nếu tham thiền
có nghi tình một ngày tiến được ¼ phút nghi tình thì 16
năm đến thoại đầu sẽ kiến tánh. Nghi tình tiến càng ít
thì thời gian đến thoại đầu càng lâu, nghi tình liên tiếp
thì không biết và biết hoàn toàn quét sạch.
Hỏi:
Trong
khi lúc ngồi thiền thấy một cảnh giới, thời gian sau thấy
cảnh giới hiện tại như cảnh giới lúc ngồi thiền. Vậy
hiện tượng đó là như thế nào?
Đáp:
Hiện
tượng đó trong kinh Lăng Nghiêm nói: “Không phải tà ma thì
cũng phải ngoại đạo”. Nếu chấp hiện tượng đó thì
lọt vào tà ma, nếu không chấp hiện tượng đó là cảnh
giới tốt.
Hỏi:
Thế
nào là chơn tâm và vọng tâm?
Đáp:
Vọng
tâm là ý thức của bộ óc, chơn tâm là bản thể Phật tánh,
cũng gọi là chơn như. Chơn tâm thì không có hình thể số
lượng, kiến tánh thì chơn tâm hiện lên, bây giờ thì bị
vọng tâm che khuất.
Thí
dụ vọng tâm là tướng bệnh của thân xanh, vàng, ốm, yếu.
Chơn tâm là tướng mạnh của thân hồng hào. Lúc hiện tướng
bệnh xanh, vàng, ốm, yếu thì tướng mạnh hồng hào không
hiện ra. Vì tướng bệnh xanh, vàng, ốm, yếu che khuất. Nhưng
cũng là thân này, không phải thân khác. Khi trị khỏi bệnh
thì xanh, vàng, ốm, yếu cũng hết, nên tướng mạnh hồng
hào thân này hiện lên, không phải thân khác.
Hỏi:
“Suy
nghĩ đến chỗ không thể suy nghĩ được, để tâm lắng vào
một chỗ, tất cả tư tưởng hay tiếng động đi qua không
đuổi theo nó”. Kính xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Không
có một chỗ nào cả! Nếu có một chỗ thì có sở trụ, tức
là có năng chiếu có sở chiếu. Tổ Sư thiền không có năng
sở, không có chỗ, không có mục tiêu để nhìn, vì những
người ấy không có thực hành.
-
Tại sao họ tu đều thấy cảnh giới?
-
Vì họ tu là có sở trụ nên họ hay thấy cảnh giới. Lục
Tổ lấy vô trụ làm gốc. Kinh Duy Ma Cật nói: “Từ gốc
vô trụ lập tất cả pháp”. Bây giờ có sở trụ cho là
thiền của Tào Động thì phỉ báng Tổ, phỉ báng pháp. Nên
Ngài Đại Huệ nói: “Ngàn Phật ra đời không cho sám hối”,
vì dạy như thế là hại nhiều người.
Hỏi:
Mặc
chiếu là nhìn lại tâm của mình, chứ không có chỗ để
chiếu. Vậy như thế nào?
Đáp:
Câu
thoại mà tôi đề ra là: “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật,
chẳng phải vật là cái gì?” Nếu chấp có cái tâm là trụ
nơi tâm. Lục Tổ nói: “Trụ tâm khán tịnh là không phải
thiền”, vì họ còn chấp thật. Tất cả đều không có tự
tánh, kinh Lăng Nghiêm nói: “Phàm có lời nói đều chẳng
nghĩa thật”. Nếu có pháp thật để thuyết thì sao kinh Kim
Cang nói: “Không có pháp để thuyết mới thật là thuyết
pháp”? Luôn cả Vô Thượng Bồ Đề cũng quét.
Bài
kệ chữ “tri” của Ngài Vĩnh Gia, lấy tịch lặng làm sở
tri, chỗ này theo người ta tu cho là cao còn không được. Biết
mình có năng tri mà không có sở tri vẫn không được. Chơn
tâm không hình tướng số lượng làm sao để cho người ta
hiểu, nên lấy cái tay để ví dụ. Như tay cầm như ý thì
mất hết tác dụng của tay, cái tay tự làm nắm tay cũng mất
hết tác dụng của tay.
Nếu
không biết tịch lặng và không biết mình có cái biết, không
phải không biết, vì cái biết rõ ràng, không đồng như gỗ
đá. Như tay không cầm đồ vật ở ngoài, cũng không tự làm
nắm tay, không phải là không tay, vì tay vẫn an nhiên, không
giống như sừng thỏ.
Hỏi:
Có
cái sở để nhìn lại cái biết, vậy việc ấy như thế nào?
Đáp:
“Tự
biết mình có cái biết” là không có tương đối còn không
được, huống là có cái sở để biết! Đã có tương đối
rõ ràng rồi. Như tay tự làm nắm tay thì mất tác dụng của
tay. Họ chưa đến “Tự biết mình có cái biết”, còn phải
nhờ phản chiếu mới biết cái tri (biết). Tự tri không nhờ
phản chiếu, đã cao hơn nhiều, nhưng lại bị chê.
Hỏi:
Tánh
là gì?
Đáp:
Tánh
là tâm mình, ai cũng biết là tâm nhưng mọi người đều không
biết tâm là cái gì? Tất cả Phật pháp là nói cái tâm, Tiểu
thừa, Trung thừa, Đại thừa, Tối thượng thừa đều hiển
bày cái tâm. Bây giờ biết nói tâm, nhưng tâm là cái gì thật
không biết. Đến chừng kiến tánh là bản tâm hiện lên khắp
không gian, khắp thời gian.
Chữ
“Phật” là nghĩa giác ngộ, không phải có một vị thần
linh. Giống như trong chiêm bao thức tỉnh thì thấy tất cả
trong chiêm bao không có cái gì thật. Như trong chiêm bao thấy
mình lượm nhiều tiền, nhưng thức tỉnh thấy không có tiền.
Mỗi
người đều có tiền ngũ thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ
thức, thiệt thức, thân thức). Nhãn thức biết về sắc tướng,
nhĩ thức biết về âm thanh, tỷ thức biết về thơm thúi,
thiệt thức biết về mùi vị ngọt đắng, thân thức biết
về nóng lạnh. Năm thức này cuộc sống hằng ngày mình đang
dùng. Ý thức là suy nghĩ biết buồn, vui, yêu, ghét,… tham
thiền cũng phải nhờ ý thức.
Tại
sao gọi là nhắm mắt chiêm bao? Duy Thức gọi là độc đầu
ý thức biến hiện, như ban đêm mình ngủ mê trên giường
thì 5 thức trước ngưng hoạt động, chỉ có một mình ý
thức hoạt động biến hiện thân chiêm bao, rồi biến hiện
thế giới chiêm bao; thân chiêm bao tiếp xúc cái tách này biết
thật chất cái tách, tiếp xúc cái bàn có thật chất cái
bàn, tiếp xúc nóng biết nóng, tiếp xúc lạnh biết lạnh,
thân chiêm bao cũng biết buồn, biết vui, bị người ta đánh
cũng biết đau.
Giả
sử, trong chiêm bao có thiện tri thức thuyết pháp rất hay,
nói với người chiêm bao rằng cái này không thật, luôn cả
cái thân ông cũng không thật, thân chiêm bao không tin nổi.
Ông nói thân tôi không thật mà tại sao tôi biết buồn biết
vui? Làm sao mà tin được! Vì lúc đó đang chiêm bao thấy cái
gì cũng thật, nhưng lúc thức tỉnh mới chứng tỏ những
việc trong chiêm bao không có.
Tại
sao gọi là mở mắt chiêm bao? Như bây giờ tôi đang nói và
các vị đang nghe là mở mắt chiêm bao. Duy thức gọi mở mắt
chiêm bao là đồng thời ý thức biến hiện, đồng thời là
2 cái thức đồng thời biến hiện, nhắm mắt chiêm bao chỉ
có một thức biến hiện.
Như
nhãn thức phân biệt sắc tướng, tức là thấy được vật
đó, nhưng phải có ý thức đồng thời nổi lên; nhĩ thức
nghe tiếng cũng phải có ý thức đồng thời nổi lên. Tại
sao? Nếu có nhĩ thức chỉ nghe được âm thanh, nhưng không
biết tiếng gì? Nhưng phải có ý thức nổi lên mới biết
tiếng già tiếng trẻ tiếng đàn ông tiếng đàn bà,… mới
phân biệt rõ ràng. Nếu chỉ có ý thức mà không có nhĩù
thức thì không nghe được tiếng, làm sao phân biệt? Cho nên,
phải 2 thức đồng thời nổi lên mới phân biệt rõ ràng.
Mỗi
người chỉ có một cái tâm, nhưng có 8 thức không phải 8
người. Một cái thức cũng là tâm tạo, hai cái thức cùng
biến hiện cũng là tâm tạo. Cho nên, Phật nói: “Nhất thiết
duy tâm tạo”, tức là tất cả đều do tâm biến hiện ra.
Nếu do tâm tạo thì không phải thật, sự thật thì tâm không
thể tạo được, bổn lai là vậy.
Phật
dạy tham thiền là hiện bổn lai, chứ không phải dùng cái
tâm tạo, bây giờ cuộc sống hàng ngày đều do tâm tạo là
do ý thức phân biẹât sai lầm mình cho là thật, nhưng sự
thật không phải thật. Cái thật là bổn lai như vậy, tức
là không có ai tạo. Tâm tạo thì không phải thật nên gọi
là chiêm bao. Tham thiền là muốn mở mắt chiêm bao thức tỉnh,
gọi là kiến tánh thành Phật.
Hỏi:
Tại
sao tham thiền hay chán không muốn tham?
Đáp:
Những
người tham thiền thấy chán là căn cơ người ấy thấp kém,
họ không phải vì giải quyết sanh tử, họ chỉ vì hứng
thú mà tham thiền. Nếu vì giải quyết sanh tử, sanh tử chưa
giải quyết thì phải tiếp tục tham. Những người chán là
không có ý giải quyết sanh tử. Cho nên, họ chán thì phải
ngưng nghĩ tham thiền.
Hỏi:
Bộ
não đã quen tìm hiểu, tham thiền không cho tìm hiểu, chỉ
cho thắc mắc, như vậy không tập trung tham được có đúng
không?
Đáp:
Tham
thiền không cần tập trung, khỏi cần cố gắng, chỉ là miên
mật kéo dài nghi tình ngày đêm 24/24 giờ là đến thoại đầu.
Nếu giữ nghi tình tăng thêm mỗi ngày 1 phút thì 4 năm được
kiến tánh. Đây chỉ mượn không biết để tu là tham Tổ
Sư thiền.
Tham
thiền khởi nghi tình là đường đi của ý thức đến thoại
đầu, đến thoại đầu là cùng đường đi ý thức, nhưng
còn dính líu với ý thức, chỗ này còn gọi là đầu sào
100 thước, tiến thêm một bước thì sát na lìa ý thức
được kiến tánh.
Nghi
tình (không biết) chấm dứt tìm hiểu biết, chấm dứt suy
nghĩ biết, chấm dứt ghi nhớ biết thì đến thoại đầu
sẽ được kiến tánh, tức là bản tâm hiện lên. Nếu hiểu
biết là sản phẩm của bộ óc, hằng ngày mình theo thói quen
dùng bộ não tìm hiểu, suy nghĩ, ghi nhớ.
Như
thân mạnh khỏe thì hồng hào, thân đau bệnh thì xanh vàng
ốm yếu. Nếu thân bệnh xanh vàng ốm yếu thì tìm tướng
mạnh hồng hào không ra, khi trị khỏi thân bệnh xanh vàng
ốm yếu thì tướng mạnh hồng hào hiện ra. Tại sao? Vì 2
tướng ấy cùng chung một thân. Ví dụ tướng bệnh là cái
biết và không biết của bộ não, tướng mạnh là bản tâm
hay Phật tánh.
Hỏi:
Trong
khi con ngồi thiền thì vọng tưởng hết, nhưng khi đứng dậy
thì vọng tưởng trở lại. Vậy phải làm như thế nào công
phu được đúng?
Đáp:
Cách
tu của cô thì không phải Tổ Sư thiền, Tổ Sư thiền không
cho suy nghĩ, không được cái gì cả! Cách tu của cô là lúc
ngồi thiền mới có công phu, hết ngồi thiền thì cũng theo
đó mà hết công phu. Tham Tổ Sư thiền đến lúc ngộ thì
vĩnh viễn không bao giờ trở lại cái khổ sanh tử. Tại sao?
Nếu muôn ngàn kiếp sau mà khổ còn trở lại thì ngộ chẳng
có giá trị gì!
Tham
Tổ Sư thiền không cần phải nhất định phải ngồi, đi
đứng nằm ngồi đều tham thiền được. Như Lục Tổ dạy:
“Đạo do tâm ngộ, chẳng phải do ngồi” và Ngài nói tiếp:
“Ngồi lâu trói thân, có ích lợi gì!”.
Hỏi:
Ngồi
hay đi thì vọng tưởng làm sao bỏ?
Đáp:
Không
được có ý bỏ, nếu giữ nghi tình thì vọng tưởng tự
động hết. Khởi tâm niệm muốn bỏ là tâm vọng, tức là
2 lớp vọng. Dùng nghi tình (không biết) thì không biết vọng
đâu phải vọng! Tại biết nên mới biết đó là vọng, không
biết làm sao vọng được?
Dùng
cái biết để tu thì bị ngoại cảnh lôi kéo là do cái biết,
vì biết cái đó tốt thì ham thích, biết cái đó xấu thì
chê ghét. Còn dùng cái không biết thì tốt cũng không biết,
xấu cũng không biết; không biết tốt thì không ham thích,
không biết xấu thì không chê ghét. Cho nên tâm mới yên tịnh.
Hỏi:
Bát
Nhã Tâm Kinh có đoạn: “Vô trí diệc vô đắc dĩ vô sở
đắc” và “tam thế chư Phật y bát nhã ba la mật đa, cố
đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề”. Vậy 2 đoạn đó
như thế nào?
Đáp:
“Viễn
ly điên đảo mộng tưởng cứu kính Niết Bàn” của Bát
Nhã Tâm Kinh. Theo tôi giảng cứu kính Niết Bàn cũng phải
xa lìa, nếu chấp cứu kính Niết Bàn thì điên đảo mộng
tưởng. Luôn cứu kính Niết Bàn đã xa lìa mới có tư cách
đắc vô thượng Bồ Đề.
Vô
sở đắc gọi là đắc, vì có đắc thì đối với thất (mất),
không có đắc thì không có thất. Tại không có tương đối,
nhưng muốn thuyết cho phàm phu hiểu, nên phải dùng thế lưu
bố tưởng để nói. Nếu không nói thì sao phàm phu hiểu được?
Cho nên phải nói đắc, đắc nơi vô đắc.
Hỏi:
Tại
sao nổi lên một niệm lại đày lên núi Thiết vi?
Đáp:
Đó
là thí dụ nổi lên một niệm thì bị đày lên núi thiết
vi, còn không nổi một niệm nào là thoại đầu. Bậc Thánh
nổi niệm lên chỉ thế lưu bố tưởng, chứ không có trước
tưởng. Tham thiền là không dùng 2 chữ “cho là” hay “cho
rằng”, có cho là, cho rằng là cái biết của bộ óc, tức
là đã có cái lý cho là vậy mới đúng hay không đúng.
Đó
là tương đối, tương đối thì lọt vào biên kiến, biên
kiến là lọt vào một trong năm thứ ác kiến. Nhưng người
ta lọt vào biên kiến không hay, những Pháp Sư thuyết pháp
lọt vào biên kiến không biết, họ nghĩ là giải theo kinh.
Nếu
giải theo kinh là làm oan 3 đời chư Phật, tức ý của Phật
không phải vậy mà tự mình cho là vậy, nghĩa là đem ý mình
thay thế cho ý của Phật. Ý của Phật không có ý gì hết!
Mới gọi là vô trụ, nên Lục Tổ nói “vô trụ làm gốc”,
kinh Duy Ma Cật nói “từ gốc vô trụ lập tất cả pháp”,
lập tất cả pháp là cái dụng của tâm, vô trụ mới có
cái dụng, còn có sở trụ thì không có dụng.
Bây
giờ, ở ngoài dạy đủ thứ thiền, ngoại đạo thiền, tà
ma thiền, trong kinh Lăng Nghiêm nói 50 thứ ma ngũ ấm đều
là thiền, mà hiện thần thông rất là quái lạ. Những người
tu có thần thông chút đỉnh, nếu so với tà ma thì còn thua
kém rất nhiều, họ không đủ tư cách làm tà ma, nhưng họ
lại ham thần thông.
Hỏi:
Tại
sao con trâu qua song cửa sổ, đầu mình qua và bốn chân qua
được, còn cái đuôi qua không được?
Đáp:
Đây
là công án để tham, tự mình hỏi: “Tại sao con trâu qua
song cửa, đầu mình và bốn chân qua được, còn đuôi qua
không được?” thì không hiểu nên phải phát nghi, giữ nghi
này kéo dài sau này mới được ngộ. Nghi là nhân, ngộ là
quả, không nghi thì không ngộ, tiểu nghi thì tiểu ngộ, đại
nghi thì đại ngộ.
Cái
tại sao là để cho mình phát nghi, vừa hỏi vừa nhìn chỗ
không biết tại sao, tức hỏi và nhìn song song. Khi nào ngộ
mới biết tại sao, bây giờ thì không biết được.
Hỏi:
Có
84.000 pháp môn, nhưng sao Thầy chỉ có dạy 2 pháp môn là Như
Lai thiền và Tổ Sư thiền?
Đáp:
Như
Lai thiền gồm có Tiểu thừa thiền, Trung thừa thiền, Đại
thừa thiền. Đại thừa thiền của Trung Quốc có 4 phái: Tông
Thiên Thai có Chỉ Quán thiền, tông Hiền Thủ có Pháp Giới
Quán thiền, tông Duy Thức có Duy Thức Quán thiền, tông Tam
Luận có Tánh Không Quán thiền. Mỗi tông phái đều có thiền
riêng biệt của tông phái đó, nhưng không gọi là Thiền tông,
chỉ có Tổ Sư thiền mới gọi là Thiền tông.
Vì
mấy thiền kia còn có giáo lý để học, theo hiểu biết giáo
lý để tu từ cấp mà tiến lên. Tổ Sư thiền chỉ chuyên
thực hành, không có giáo lý, không có giai cấp, từ địa
vị phàm phu ngộ tới Đẳng Giác. Ngoài Tổ Sư thiền và Như
Lai thiền ra, còn có các thiền khác rất nhiều. Cho nên gọi
là 84.000 pháp môn.
Tỳ
Kheo Bàn Đặc Ca không có trí nhớ hay quên, nên Phật mới
hỏi Bàn Đặc Ca: Bình thường ông làm gì?
Bàn
Đặc Ca đáp: Quét nhà.
Phật
hỏi: Quét nhà thì biết cây chổi không?
Bàn
Đặc Ca đáp: Biết.
Phật
bảo: Vậy cứ niệm cây chổi đi!
Rồi
ông niệm cây chổi cũng được chứng quả, nên gọi ông là
Tỳ Kheo cây chổi.
Trong
Yếu Chỉ Pháp Hoa tôi quy nạp 84.000 pháp môn lại có 4 loại:
Tham thiền là Tổ Sư thiền, niệm Phật là Tịnh Độ, trì
chú là Mật tông, Giáo môn là Như Lai thiền.
Hỏi:
Pháp
thiền rất nhiều, nên mình biết thế nào là tà thiền và
chánh thiền?
Đáp:
Cái
nào chấp thật là không phải chánh pháp, phá chấp thật mới
là chánh pháp. Chấp thật là tà, chấp ngã là tà, phá chấp
ngã là chánh. Tiểu thừa có phá ngã chấp mới chứng quả
được và Đại thừa cũng vậy.
Như
các vị có danh tiếng, nhưng cuộc sống của họ có ngã chấp
rất nặng, họ thuyết pháp đều chấp thật thì các vị này
là tà. Vì họ không hiểu được kinh điển Đại thừa liễu
nghĩa, kinh Đại thừa liễu nghĩa đều phá chấp thật, nên
rất dễ phân biệt.
Không
phá ngã chấp thì không ra khỏi sanh tử luân hồi, ngoại đạo
không phá ngã chấp nên họ tu đến mức cao thì cũng thành
ngoại đạo.
Hỏi:
Giả
sử mình bệnh, nếu tâm mình không chấp thật, tức là cho
các bệnh là giả không chữa bệnh thì có được không?
Đáp:
Nếu
mình cho là giả thì cũng chấp thật giả. Lòng tin của mình
mạnh có sức đề kháng của cơ thể thì tự động nó trị
bệnh. Việc này tôi có sự thật là ở Việt Nam tại Cần
Thơ, một ông phát minh vẽ cảnh in trên vải, chỉ duy nhất
ông làm được, vì vậy ông được làm giàu. Thời gian sau
ông lại phát bệnh lao, thân người ốm không còn trí nhớ.
Chính không còn trí nhớ, ông lại hết bệnh lao và thân hình
mập.
Mình
có trí nhớ, nhưng dùng nghi tình để chấm dứt tìm hiểu
biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết. Kháng thể của thân mình
có thể tự trị được, nhưng y học truyền thống phá hư
sức đề kháng, làm cho sức đề kháng tiêu mòn không đủ
sức đề kháng nên bệnh mới xâm nhập. Người ta gọi bệnh
này là bệnh văn minh.
Hỏi:
Quy
y Phật, Pháp, Tăng là như thế nào?
Đáp:
Quy
y Phật là quy y tự tánh Tam bảo, tức là trong tâm sẵn có.
Cho nên, kinh nói tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng,
chứ không phải quy y Phật ngoài, Pháp ngoài. Pháp Bảo Đàn
có giải thích, cái nào cũng thật tế không có đoán mò.
Quy
y Phật mà còn quy y tà ma ngoại đạo thì phá quy y Phật, tức
là không giữ giới quy y Phật. Quy y Pháp mà còn xem kinh điển
ngoại đạo có những tư tưởng ngoại đạo thì phá quy y
Pháp, quy y Tăng cũng vậy, Tăng là hòa hợp chúng. Cho nên,
kinh nói là tự quy y, chứ không phải quy y bên ngoài.
Hỏi:
Nếu
quy y Tam Bảo và thọ ngũ giới mà không giữ được thì sao?
Đáp:
Nếu
quy y Tam Bảo và thọ ngũ giới mà giữ không được thì phạm
giới, nên phải xả giới. Người cư sĩ thọ ngũ giới muốn
xả giới chỉ nói với một người ngũ giới là: “Bây giờ
tôi không giữ được ngũ giới, chứng minh cho tôi để xả
giới”, nói như vậy là được. Sám hối cũng nói với người
đồng giới hay cao hơn rằng: “Tôi đã phạm giới, nay chứng
minh cho tôi được sám hối”. Đó là sám diệt tội phá giới,
qua sự sám hối thì tội phá giới hết.
Hỏi:
Có
người truyền tam quy ngũ giới cho người, rồi cho người
đó thuộc đệ tử của mình, vậy có đúng không?
Đáp:
Việc
đó là tăng cường ngã chấp, người thầy đó là đại diện
cho Tam Bảo để truyền tam quy ngũ giới cho người ấy, chứ
đâu phải là đệ tử riêng của ai! Bây giờ quy y là quy y
thường trụ Tam Bảo, vì thường trụ Tam Bảo thấy được,
tức là dùng tượng Phật để tiêu biểu cho Phật bảo, dùng
kinh Phật để tiểu cho Pháp bảo, hiện tiền Tăng Ni tiêu
biểu cho Tăng bảo.
Tại
sao muốn quy y Tam Bảo? Là muốn đạt đến giác ngộ giải
thoát tất cả khổ. Nhưng muốn giác ngộ được giải thoát
thì phải nhờ Phật bảo, vì chữ “Phật” là giác ngộ.
Đến chỗ giác ngộ thì phải có phương pháp, phương pháp
đó gọi là Pháp bảo, cũng như tu Tổ Sư thiền là một phương
pháp của Pháp bảo do Phật dạy. Có Phật bảo, có Pháp bảo,
vậy có ai trực tiếp dạy chúng sanh? Tăng Ni thay mặt cho Phật
bảo và Pháp bảo trực tiếp dạy chúng sanh.
Nhờ
Tăng bảo thường trụ dạy cách thực hành rồi mới ngộ
được tự tánh Tam Bảo, tức là tự tâm mình đầy đủ Tam
bảo.
Hỏi:
Chúng
con tham thiền, nếu có người đồng tham lâm chung thì chúng
con phải làm sao?
Đáp:
Nếu
vậy thì tụ lại tham thiền, tùy duyên đừng làm chướng
ngại sự tu là được.
Hỏi:
Nếu
những vùng không có Ni để xuống tóc cho người nữ muốn
xuất gia, mà chỉ có Tăng thì việc ấy làm thế nào?
Đáp:
Mình
phải biết tại sao Phật Thích Ca nói như thế này? Tánh giới
thì không được vi phạm, còn giá giới là tùy theo phong tục
địa phương đó có thể sửa đổi, chứ không phải giới
luật chết. Như Tu Sĩ ở Ấn Độ làm ruộng thì phạm giới,
Tu Sĩ ở Trung Quốc làm ruộng thì giữ giới. Vì ở Ấn Độ,
Tu Sĩ đã quen đi khất thực, nếu làm ruộng thì Phật tử
không chịu, còn Tu Sĩ ở Trung Quốc đi khất thực thì Phật
tử chê là con sâu ăn gạo, trái lại Tu Sĩ trồng trọt để
ăn thì người ta khen ngợi.
Tánh
giới cũng có giới khai giá trì phạm, cũng tùy theo trường
hợp, không phải như những giới điều chết của các tôn
giáo khác, còn giới của nhà Phật thì có linh động. Nếu
giữ y giới luật gọi là chấp thì không nên mặc áo ăn cơm.
Hỏi:
Ai
là người đầu tiên khởi xướng Tổ Sư thiền?
Đáp:
Hiện
kiếp là do Phật Thích Ca khởi xướng, nhưng vô lượng Phật
đã khởi xướng trước. Nói khởi xướng thì cũng không phải.
Tại sao? Vì là vô thỉ, nên không có cái nào khởi xướng
được. Không những Tổ Sư thiền không có khởi xướng, mà
tất cả vũ trụ vạn vật đều không có khởi xướng, chúng
sanh không thể khởi xướng, thế giới không thể khởi xướng,
không có cái gì khởi xướng. Cho nên, mới gọi là vô thỉ,
vô sanh.
-
Pháp thoại đầu có Tổ Sư nào sáng lập ra phải không?
-
Thoại đầu còn gọi là vô thỉ vô minh, vô thỉ là không
có bắt đầu sao còn nói bắt đầu được? Cho nên, Phật
mới nói trắng ra là vô thỉ, vô sanh. Người chứng quả là
ngộ pháp vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn. Tất cả đều
ở chính giữa, mà không có bắt đầu và không có cuối cùng.
Pháp
thoại đầu cũng có thể bắt đầu từ Lục Tổ, Lục Tổ
hỏi Hoài Nhượng: Vật gì đến như thế?
Hoài
Nhượng sau 8 năm mới ngộ và trả lời với Lục Tổ rằng:
Nói là một vật thì chẳng đúng.
Thời
gian 8 năm Hoài Nhượng đã tham “vật gì đến như thế?”
Mặc dầu, cơ xảo cũng là thoại đầu, công án của Phật
Thích Ca cũng là thoại đầu.
Hỏi:
Có
phải tham thiền khi đi dễ hơn ngồi, nếu vậy chỉ có lúc
đi mới tham được thì lúc ngồi làm thế nào?
Đáp:
Ngài
Lai Quả nói: “Động thì không động đến công phu của mình,
tịnh cũng không tịnh tới công phu của mình”, tức là không
bị động tịnh chi phối làm ảnh hưởng đến công phu. Bất
cứ động tịnh đều phải có công phu, cũng có nhiều người
lúc tịnh tham không được, lúc chạy xe máy lại tham được,
nhưng phần nhiều thích tịnh hơn động. Thích tịnh không
được, thích động cũng không được. Cho nên, động tịnh
đều không bị ảnh hưởng mới được, việc đó tập lâu
sẽ thành thói quen.
Nếu
buồn ngủ thì mở mắt to, mở mắt mà còn buồn ngủ thì
đi rửa mặt hay đi kinh hành, tìm việc làm.
-
Theo con thấy tham thiền là sự hoạt động chứ không phải
tịnh phải không?
-
Phải rồi, Lục Tổ nói: “Tất cả chẳng có tịnh”, bây
giờ cơ thể mình đang động, cái bàn cũng đang động, trái
bôm này cũng đang động, không có vật nào mà tịnh cả! Mà
động thì phải biến đổi, nên mặt mũi mình biến đổi
lúc nào mình cũng chẳng biết; tưởng là nó như vậy, nhưng
sự thật nó biến đổi từng sát na. Chỉ có Phật tánh không
động không biến, nên mới tồn tại vĩnh viễn.
Hỏi:
Con
không giữ được nghi tình nên đổi câu thoại khác được
không?
Đáp:
Không
được, không giữ được nghi tình thì tạm niệm câu thoại
cũng được. Bởi vì, cái không biết của câu thoại là nghi
tình, chứ không phải ngoài không biết có nghi tình. Nghi tình
là không biết, tức là không biết của ý thức. Tại thói
quen hàng ngày của mình dùng cái biết để đối phó, như
chư Tổ nói cái biết của ý thức như con khỉ nhảy qua nhảy
lại trên cây, nên phải dùng nghi tình buộc nó.
Hỏi:
Trước
khi khởi nghi tình thì mình phải có cái tịnh phải không?
Đáp:
Không
phải, Lục Tổ đã nói không có tịnh. Mặc kệ cho đầu óc
tán loạn, mình cứ giữ nghi tình. Lúc đang giữ nghi tình thì
đầu óc cũng hoạt động vậy! Tức là có một niệm không
biết. Nếu dùng một niệm biết thì dễ bị ngoại cảnh lôi
kéo.
Như
thấy đẹp thì thích, thấy xấu lại chê. Còn dùng niệm không
biết nên thấy đẹp không biết làm sao thích? Dùng niệm không
biết, thấy xấu không biết làm sao chê? Cho nên, gọi là pháp
thiền trực tiếp, dễ tu hơn các pháp thiền khác, nhưng lại
khó tin.
Hỏi:
Tập
tu có nghi tình thì khó, nhưng nghi tình được rồi làm sao
bỏ nghi tình?
Đáp:
Cần
giữ nghi tình, không thể bỏ được, khỏi cần bỏ, đến
lúc kiến tánh là nghi tình bị phá, tức là chỉ phá một
cái thì tất cả đều phá, tất cả vũ trụ vạn vật cái
nào cũng đều biết rõ. Nếu có một chút không biết là còn
nghi. Nghi tình bị phá gọi là đốn đoạn nghi căn, nghĩa là
gốc nghi được chấm dứt.
Bây
giờ bộ óc nhận biết được đều không đúng thật tế,
nên Phật Thích Ca dạy chấm dứt tìm hiểu, suy nghĩ, ghi nhớ
của bộ óc để cho Phật tánh hiện lên. Nhưng thói quen của
mình lâu đời khó chấm dứt được, vì thế phải có phương
tiện đó, gọi là tham thọai đầu hay tham công án.
Phật
nói: “Tất cả đều do tâm tạo”, mà khoa học hiện nay
chứng tỏ được. Như có cuốn phim dùng để chụp hình toàn
diện, chụp rồi không thấy hình gì hết, cũng như chụp bình
hoa nhưng không thấy bình hoa, khi qua quang tuyến thì hiện lên
bình hoa, cái ấy không kỳ lạ. Tấm phim này cắt thành 2 tấm
có 2 bình hoa, cắt thành 4 tấm có 4 bình hoa, cắt làm 8 tấm
có 8 bình hoa, tức là mỗi miếng đều có bình hoa.
Vì
khắp không gian nên không có vị trí, bản thể tâm khắp không
gian thì tất cả do tâm tạo cũng khắp không gian. Máy computer
sử dụng mau lẹ trên khắp thế giới là do bản tâm mình
đã vậy. Cho nên, chứng tỏ vạn pháp duy tâm rõ ràng.
Hỏi:
Khi
tập tham thiền mà đầu óc tán loạn thì nghi tình nổi lên,
không biết mình thật sự có nghi tình không?
Đáp:
Mới
đang tập thì vọng tưởng và nghi tình xen lộn với nhau, nhưng
vọng tưởng mạnh hơn nghi tình, khi đang tập tham không thấy
nghi tình mà thấy vọng tưởng; đến một lúc sau vọng tưởng
bớt thì có hôn trầm, qua khỏi giai đoạn hôn trầm lúc đó
mới thấy nghi tình (không biết). Tuy là không biết nhưng tự
động làm việc được.
Hỏi:
Có
phải tham thiền giống như niệm Phật rõ ràng không?
Đáp:
Tham
thiền khác hơn niệm Phật rõ ràng, cái này là không biết,
mà Thiền tông hình dung như thùng sơn đen, đen tối không cần
rõ ràng, chỉ cần miên mật, tức là nghi tình được kéo
dài.
Rõ
ràng tức là biết, cái này không biết, thành ra không có rõ
ràng. Nếu câu hỏi nhanh thì cái nhìn cũng nhanh, nhìn với
hỏi phải đi song song không có trước sau. Những hiện tượng
cảm thấy nhanh cũng không cần biết tới, chỉ cần giữ nghi
tình, một thời gian quen thì những cảm giác lặng xuống.
Hỏi:
Mình
có thể đổi câu thoại đầu được không?
Đáp:
Có
thể đổi câu thoại đầu được, nhưng cứ đổi luôn làm
cho câu thoại đầu không được quen thuộc, nên không thể
tự động khởi lên, quen rồi mới tự động.
Như
tập xe máy, ban đầu 2 tay vịn cũng ngã, tập một thời gian
thì 2 tay vịn không ngã, tập một thời gian nữa thì buông
tay không ngã, tập một thời gian nữa thì quẹo cũng không
cần tay. Nếu người ta tập thêm nữa, một bánh cũng chạy
được. Khi quen thuộc thì nó tự động dần dần, còn thay
đổi hoài thì khó tự động.
Hỏi:
Vậy
lúc câu thoại đầu quen thuộc mình còn hỏi câu thoại đầu
nữa không?
Đáp:
Lúc
câu thoại đầu quen thuộc mà không hỏi câu thoại thì không
được, hỏi câu thoại chừng nào đến thoại đầu thì câu
thoại tự mất. Bây giờ chưa đến thoại đầu nên cứ hỏi
và nhìn liên tục. Khi đến thoại đầu, có muốn nổi vọng
tưởng lên cũng không nổi lên được, tức là sắp kiến
tánh. Chưa đến thoại đầu thì câu thoại không được
bỏ.
|