|
.
Hoà
Thượng DUY LỰC Khai thị
CUỐI CÙNG
TẠI HOA KỲ
TT.
Thích Đồng Thường Biên Tập Thành Văn Tự
 |
 |
Hỏi:
Ngày
xưa, Ngài Hám Sơn trong khi tu có Ngài Cao Phong Diệu giúp đỡ;
ngày nay, chúng con cần phải học hỏi tìm hiểu, vậy có thể
chứng ngộ không?
Đáp:
Ngày
nay người ta tôn trọng khoa học và triết học, nhưng khoa
học và triết học hiện tại thì phải cứu lý tìm hiểu.
Phật pháp phải ngược lại lìa lý lìa tìm hiểu, Tiểu thừa
chấm dứt lục căn, không cho lục căn tìm hiểu. Ngũ Đình
Tâm Quán của Tiểu thừa là ngưng hoạt động của tâm, Trung
thừa và Đại thừa cuối cùng cũng đình chỉ hoạt động
của tâm. Đình chỉ tâm là mục đích đến chỗ kiến tánh,
đến lúc kiến tánh thì không cần đình chỉ nữa. Vì bản
thể tự tánh luôn luôn khắp không gian, khắp thời gian, không
bao giờ ngưng.
Như
cảm giác lớp da khắp không gian và thời gian của cơ thể.
Hoạt động của nó không bao giờ ngưng, mình ngủ mê nó cũng
không ngưng. Người ta thường nói: “Tiếp xúc nó thì nó
mới làm việc, không tiếp xúc thì nó không làm việc”, nhưng
sự thật thì không phải vậy! Tiếp xúc thì nó biết có tiếp
xúc, không tiếp xúc thì nó biết không tiếp xúc. Tiếp xúc
đau thì nó biết đau, tiếp xúc không đau thì nó biết không
đau, không có tiếp xúc mà nó biết không có tiếp xúc,…
nó 24/24 giờ ngày đêm không ngưng làm việc.
Bây
giờ, khoa học gọi cảm giác của lớp da là xúc giác, nhưng
không phải xúc nó mới giác, không xúc nó cũng giác. Hiện
nay nó đang giác, khắp cơ thể đụng chỗ nào nó cũng biết,
không đụng chỗ nào nó cũng biết. Không phải đụng đầu
thì đầu biết, đụng chân thì chân biết! Đụng đầu, đầu
biết có đụng, tay chân không tiếp xúc thì biết không có
tiếp xúc.
Dụng
Bát Nhã của tự tánh cũng như vậy, mình làm phàm phu là tự
hạn chế cái dụng, nhưng cái dụng vẫn đang dùng, chẳng
qua cái dụng được có ít. Như thính giác, thị giác, xúc
giác,… đang dùng, không có ngưng. Đó gọi là nhất niệm
vô minh. Tham thiền đến thoại đầu (vô thỉ vô minh), vô
thỉ vô minh tan rã là kiến tánh thành Phật thì Bát Nhã khắp
không gian, khắp thời gian.
Bát
Nhã khắp không gian thì cái dụng không chỗ nào thiếu sót,
Bát Nhã khắp thời gian thì cái dụng không bao giờ ngưng dùng.
Bây giờ khoa học cũng biết tất cả vật chất là do nhiều
nguyên tử tổ chức thành. Mỗi hạt nguyên tử ở giữa có
một trung tử, chu vi có nhiều điện tử. Nó ngày đêm xoay
hoài không bao giờ ngưng, nếu đem cái bàn này chặt tan nát,
mà nó vẫn xoay. Cái dụng Bát Nhã Phật tánh của mình cũng
vậy, không bao giờ ngưng, lúc nào cũng cùng khắp không gian.
Hỏi:
Người
xưa đến sự kiến tánh thì dễ, còn người thời nay cần
phải tu tập chặt chẽ để đưa đến sự kiến tánh phải
không?
Đáp:
Về
việc này, Phật Thích Ca đã lo trong Tăng đoàn thật kỹ. Như
Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni không có cơ hội phạm giới được,
vì ở chung coi chừng với nhau, không cho sống riêng một mình.
Lại nửa tháng bố tát để kiểm thảo một lần, tức là
trước khi tụng giới để kiểm thảo. Làm pháp yết ma kiết
giới, cũng như phạm vi trong chùa thì tất cả chúng trong chùa
phải hợp lại. Nếu trong một phường thì chúng trong một
phường phải hợp lại, trong một huyện thì chúng trong một
huyện phải hợp lại, một tỉnh thì chúng trong một tỉnh
phải hợp lại, tùy theo giới hạn. Có chỗ không có giới
hành chánh thì phải cắm nêu, tức là ở trong phạm vi phải
đến.
Những
người bệnh nặng hoặc đi xa không thể đến, phải cử một
người báo cáo đại hội, nói có nguyên do gì không thể đến.
Người nói chuyện cà lăm không có tư cách để cho đại hội
ủy nhiệm. Một người chỉ có thay thế một người, chứ
không được thay thế cho nhiều người. Yết ma của đại
hội phải nhất trí 100% mới được, chứ thiếu 1% cũng không
được.
Trước
khi tụng giới phải kiểm thảo, vị chủ tịch hỏi “Tất
cả Tăng chúng nửa tháng nay có ai phạm giới không? Có thì
ra chúng sám hối”. Nếu tự mình biết thì nói ra, mình không
biết mà người ta thấy thì phải cử tội, hay là không thấy
mà có nghe, hay là không thấy không nghe mà có nghi, gọi là
kiến, văn, nghi.
Nếu
mình dấu tội mà người khác biết không ra cử tội, sau này
người ta phát giác ra thì người biết phải cùng tội người
phạm, tức là biết tội của bạn mình thì phải cử tội,
không được che dấu. Cho nên, người trong Tăng đoàn không
có cơ hội phạm giới. Tất cả đều phải y theo giới luật
quy cũ.
Bây
giờ, Tăng đoàn không có, có chỗ tự mình quyên tiền Phật
tử lập ra chùa để làm chủ. Nếu có phạm giới mà người
ta vẫn cúng dường, không có ai can thiệp. Thậm chí, những
người dùng đồ xa xí mà họ cũng đem đến cúng, hay những
người ăn mặn, họ cũng đem lại cúng. Tại bây giờ người
ta không theo yết ma của Phật để thực hiện. Giới luật
của Phật rất chặt chẽ, nên người ở trong Tăng đoàn khó
buông lung.
Ngài
Thái Hư đại sư định khôi phục lại Tăng đoàn, nhưng mà
việc làm không thành, vì các chùa đều có tài sản riêng,
nếu đem gom lại làm tài sản chung nên người ta không chịu.
Hỏi:
Thế
nào là thể, tướng, dụng?
Đáp:
Thể,
tướng, dụng, còn gọi là thể và dụng. Lục Tổ ví dụ
“thể là cây đèn, ánh sáng là dụng của cây đèn”. Thật
tế, thể với dụng là một. Ngài Nguyệt Khê nói: “Hiện
tượng với bản thể là một”. Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Sắc
tức thị không, không tức thị sắc; sắc bất dị không,
không bất dị sắc” là bản thể với hiện tượng chẳng
có khác. Hiện tượng là dụng, bản thể là thể.
Kỳ
thật, thể là không, không là dụng (dùng), tất cả hiện
tượng đều ở trong cái không này tức là dùng. Chỉ thấy
hiện tượng, không thấy được bản thể, vậy hiện tượng
là cái thể. Nếu không có hiện tượng thì không biết được
bản thể. Cho nên, hiện tượng tức là bản thể, bản thể
tức là hiện tượng. Nếu chia ra hiện tượng là dùng, bản
thể là không (hư không trống rỗng).
Nếu
không có hư không trống rỗng thì hiện tượng không thể
xảy ra, tất cả vũ trụ vạn hữu đều ở trong hư không
trống rỗng này. Cho nên, người kiến tánh thì tất cả hiện
tượng vẫn y như cũ, chỉ là không đem tư tưởng của cá
nhân xen vào. Vì vậy nói: “Núi sông vẫn là núi sông”,
ban đầu cho núi sông là thật, sau cho núi sông là không thật,
nhưng cuối cùng thật và không thật chỉ là của bộ óc phân
biệt. Vậy núi sông vẫn là núi sông, tất cả cái gì vẫn
y như cũ.
Kinh
Pháp Hoa nói: “Pháp nào trụ theo pháp đó, tướng thế gian
thường trụ”. Mình không đem ý của mình xen vào cho là đúng,
cho là sai. Có 2 chữ “cho là” không phải bản lai diện mục,
bản lai diện mục là bất nhị không có tương đối, nên
phải lìa lý. Vì có lý thì phải có bất hợp lý để làm
tương đối, đúng lý và không đúng lý làm tương đối. Biết
và không biết làm tương đối, nên phải lìa tương đối.
Nếu
lìa tương đối thì người thế gian không chịu, vì họ muốn
cầu biết. Nếu vậy không có cái biết để cầu, không có
cái lý để nghiên cứu, nên họ không chịu. Bây giờ khoa
học cũng phải nghiên cứu tìm hiểu cái mới để phát minh
cái mới, rồi không cho nghiên cứu tìm hiểu thì không được!
Hỏi:
Thế
nào là giữ giới?
Đáp:
Giới
nhà Phật gồm có 3 cấp:
-
Giới phổ thông nửa tháng tụng giới để biết làm theo cho
đúng, gồm có giới của cư sĩ, Sa Di, Sa Di Ni, Tỳ Kheo,
Tỳ Kheo Ni. Như muốn nhớ giới phổ thông này để giữ thì
rất khó.
-
Thiền giới là có thiền định thời gian 24/24 giờ ngày đêm
thì không phạm giới, nếu có kẽ hở không thiền định,
kẽ hở đó có thể phạm giới. Đây còn gọi là định cộng
giới, tức có thiền định là giữ giới, khỏi cần biết
giới luật, khỏi cần thọ giới.
-
Lậu tận giới (chứng đạo) thì tự nhiên giữ giới được.
Hỏi:
Nếu
nói phạm tội của người bạn, có phải mình để ý đến
chuyện người khác không?
Đáp:
Vì
sống chung nếu ai làm chuyện gì thì mọi người đều thấy
biết. Cái dụng của Bát Nhã không bao giờ ngưng làm việc,
ví dụ như cảm giác của lớp da không bao giờ ngưng biết,
tất cả mọi việc nó đều tự động. Khi nào cái dụng Bát
Nhã muốn dùng thì tự động dùng, khi chưa dùng nó không nhớ.
Giống như cảm giác của lớp da thì đâu cần nhớ? Vì bản
tánh nó luôn luôn khắp không gian, khắp thời gian.
Dụng
Bát Nhã mình đang dùng, vì mình dùng ý thức để phân biệt
nên cái dụng phải bị hạn chế. Hư không là vô sở hữu
(tâm), do mình kiến lập sở hữu, cái sở hữu này thì phải
nhớ. Nếu không có sở hữu thì lấy cái gì để nhớ? Vì
có sở hữu thì phải có nhớ có quên. Còn bản thể không
có nhớ hay quên, không cần phải qua tác ý của bộ óc, nên
gọi là Bát Nhã.
Hỏi:
Từ
một ngày đến 7 ngày, niệm Phật được nhất tâm bất loạn,
tâm không điên đảo thì được vãng sanh; còn Thiền tông,
Ngài Cao Phong Diệu nói: “ Tham thiền nghi tình được miên
mật, nếu không ngộ thì chặt đầu của lão Tăng”. Như
vậy 2 ý trên như thế nào?
Đáp:
Đó
chỉ là lời nói, chưa phải thực hành. Nếu thực hành Thiền
tông dễ hơn tu Tịnh Độ. Thiền tông có vị Hải Minh quyết
tâm 7 ngày sẽ kiến tánh, nhưng chỉ có 5 ngày kiến tánh và
Phật Đăng Thuần tham thiền 49 ngày đêm đi liên tục, không
đứng không ngồi nên được kiến tánh. Bây giờ không có
ai làm nổi.
-
Niệm Phật có 3 thứ niệm: Mật niệm, niệm ra tiếng và kim
cang niệm (môi chỉ nhúc nhích), nhưng cái niệm không quan trọng,
mà quan trọng là cái nguyện và cái tin. Vì lòng tin vững chắc
thì cái nguyện mới chân thật.
Hỏi:
Thế
nào là Mật tông?
Đáp:
Mật
tông là tam nghiệp gia trì: Tay bắt ấn, miệng niệm chú, tâm
quán tưởng, 3 cái một lượt.
Hỏi:
Kính
xin Sư Phụ khai thị bài kệ:
Tội từ tâm khởi lấy tâm sám,
Tâm nếu diệt rồi tội liền tiêu.
Tội tiêu tâm diệt, cả hai đều không,
Aáy mới thật là chơn sám hối.
Đáp:
Đó
mới thật chơn sám hối, chứ không phải đến bàn thờ Phật
mà sám hối. Vì tội là do tâm tạo, nếu tâm diệt thì tội
cũng diệt luôn. Còn tâm không diệt, làm sao tội diệt được?
Hỏi:
Sự
đi khất thực của các thừa (Tiểu thừa, Trung thừa, Đại
thừa và Tối thượng thừa) có khác nhau không?
Đáp:
Ngày
xưa, Đức Phật Thích Ca cũng đi khất thực, như trong kinh
Kim Cang diễn tả “Đức Phật đi vào thành Xá Vệ khất thực,
rồi về Tinh Xá dùng cơm xong trải tòa thuyết pháp”. Chứ
không có phân biệt Tiểu thừa, Đại thừa gì cả!
Hỏi:
Cách
hành trì của Tiểu thừa, Trung thừa và Đại thừa như thế
nào?
Đáp:
Đại
thừa gồm Tối thượng thừa, Tiểu thừa gồm Trung thừa.
Có 5 thứ khác biệt:
1.
Điểm xuất phát chẳng đồng:
a.
Tiểu thừa: Bắt nguồn từ nhân sinh quan đắm khổ, nghiệp
cảm duyên khởi, nhàm chán phiền não mà cầu nơi thanh tịnh.
b.
Đại thừa: Từ nhân sinh quan từ bi, chân như tỏa ra, lấy
hóa tha tự tại làm chí nghiệp.
2.
Hành vi chẳng đồng:
a.
Tiểu thừa: Tự lợi tự độ, chỉ được giải thoát theo
tiêu cực, tức là lấy đoạn dứt phiền não làm Niết bàn
và mục tiêu cuối cùng.
b.
Đại thừa: Tự độ độ tha, lấy hoạt động tích cực làm
hành vi, đắc đại tự tại làm tư tưởng chung cuộc.
3.
Cảnh giới chẳng đồng:
a.
Tiểu thừa: Ngừng nơi hiện tượng giới.
b.
Đại thừa: Vào nơi thật tại giới.
4.
Phương pháp chẳng đồng:
a.
Tiểu thừa: Dứt lục căn, đoạn nhất niệm vô minh, vào nơi
đoạn diệt, chủ nghĩa cấm dục.
b.
Đại thừa: Phá vô thỉ vô minh, kiến Phật tánh, chủ nghĩa
tự tại, chủ nghĩa thật tại (Chân Như), sắc tâm và pháp
đều tồn tại vĩnh viễn.
5.
Lý luận chẳng đồng:
a.
Tiểu thừa: Tầm khảo sát ngưng nơi hiện tượng và cho rằng
chủ khách thực tế tồn tại, là nhị nguyên luận, ngoài
ra dùng chủ nghĩa cảm giác phủ định những thật tại ngoài
cảm giác.
b.
Đại thừa: Siêu việt phạm vi nhận thức của bộ não, sự
cùng tột của thật tại với hiện tượng giới chẳng khác,
chủ khách như một, chân vọng hiệp nhất, là nhất nguyên
luận, là thật tại luận siêu việt Hình Nhi Thượng.
Triết
học phương Tây chỉ có hai giai đoạn: Ngã chấp và pháp chấp
đều nằm trong phạm vi nhất niệm vô minh, tức là tư duy
và lý niệm. Nhưng tư duy và lý niệm đều là hóa thân của
nhất niệm vô minh, cũng là tác dụng của bộ não.
Mục
đích triết học phương Tây là nghiên cứu lý luận để tìm
hiểu nên chẳng chịu rời bỏ nhất niệm vô minh, bởi vì
nếu tiến vào phạm vi của vô thỉ vô minh thì cảm giác trống
rỗng chẳng có lý luận để truy cứu, cũng chẳng có gì để
tìm hiểu, hoàn toàn trái ngược với mục đích của họ.
Cho
nên, xưa nay các nhà triết học phương Tây chưa ai từng đi
vào cảnh giới vô thỉ vô minh, hễ chưa vào cảnh giới vô
thỉ vô minh thì chẳng thể đột phá cái chấp không, cũng
chẳng vào được tuyệt đối. Phá được cái chấp không
là kiến tánh, đạt đến tự do tự tại vĩnh viễn.
Mục
đích của nhà triết học phương Tây là truy lý cầu tri, còn
mục đích tu trì Phật pháp là liễu thoát sanh tử; triết
học phương Tây chú trọng lý luận, Phật pháp thì chú trọng
thực tiễn, tức là từ nhất niệm vô minh tiến thẳng vào
tuyệt đối vậy.
Hỏi:
Khai
ngộ và liễu ngộ khác nhau như thế nào?
Đáp:
Liễu
ngộ là ngộ triệt để (phá mạt hậu lao quan), còn khai ngộ
có thể là giải ngộ hay chứng ngộ (phá sơ quan, phá trùng
quan).
Ngộ
của giáo môn nhiều thứ bậc như:
-
Đại thừa gồm có 52 cấp: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh,
Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Đẳng Giác, Diệu Giác. Kinh
Lăng Nghiêm thêm 5 cấp, cộng chung là 57 cấp.
-
Tiểu thừa gồm có 4 cấp: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm,
A La Hán.
Tổ
Sư thiền không có cấp bậc, mặc dầu nói Sơ Quan, Trùng Quan,
Mạt Hậu Lao Quan, nhưng có người khỏi qua Sơ Quan, Trùng Quan,
từ địa vị phàm phu thẳng ngộ đến Đẳng Giác, tức là
không qua những cấp bậc. Tất cả có cấp bậc hay không cấp
bậc cuối cùng gặp nhau ở Đẳng Giác. Đẳng giác lên một
cấp nữa là Diệu giác (quả Phật).
Sự
chứng ngộ mới giải quyết được sanh tử, còn giải ngộ
không thể giải quyết được sanh tử, vì giải ngộ là cái
ngộ của bộ óc.
Hỏi:
Ngài
Huệ Năng nghe kinh Kim Cang được khai ngộ, rồi học với Ngũ
Tổ một thời gian thì mới được liễu ngộ phải không?
Đáp:
Không
phải, Ngài Huệ Năng nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang đến câu:
“Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” là ngộ triệt để.
Cho nên, Ngũ Tổ truyền y bát cho Ngài và ngài kế thừa làm
Tổ thứ 6. Lúc Lục Tổ chưa đến gặp Ngũ Tổ, còn đi bán
củi gặp người ta tụng kinh Kim Cang được sơ ngộ, có thể
phá Sơ Quan.
Ngộ
rồi bảo nhậm, như Lục Tổ ngộ triệt để còn phải 15
năm bảo nhậm để dứt tập khí, không phải tu hay để học
nữa. Những học giả trí thức nghiên cứu Phật pháp đuổi
theo văn tự lời nói, nói ra cũng thấy có lý, như đối với
Phật pháp không thể dùng được. Thiền tông nói dễ nghe
là: “Nói giống thì giống, phải thì chẳng phải”, còn
nói khó nghe là: “Con chó đuổi theo cục xương” hoặc là:
“Aên cức của người ta, không phải là con chó tốt”.
Hiện
nay sách thiền rất nhiều mê hoặc người đọc không biết,
vì trong sách đó nói có lý rất hay. Nếu ghi nhớ những cái
ấy thành sở tri chướng, chướng ngại không có thể ngộ
được. Chư Tổ Thiền tông quét sạch các tri chướng,
không cho hiểu bất cứ lý gì. Như Tăng đọc ngữ lục của
Ngài Đại Huệ được giải ngộ, rồi đem trình cho Ngài Đại
Huệ xem coi đúng hay không?
Đại
Huệ nói: Không phải, đi đi.
Tăng
nói: Tôi chưa có trình mà!
Đại
Huệ nói: Không phải, đi đi.
Chưa
có trình mà Ngài đã biết, bởi vì người ngộ thì không
phải vậy, có muốn trình kiến giải thì chưa ngộ. Như công
án Quy Sơn: Người ta phát hiện núi Quy là chỗ tốt, sau này
sẽ có nhiều người kiến tánh. Rồi nói với Bá Trượng:
Cho người đến chỗ ấy sáng lập đạo tràng.
Bá
Trượng nói: Vậy người nào đi?
Thiền
Sư nói: Tụ họp chư Tăng để chọn người.
Rồi
chọn Quy Sơn, lúc ấy ông quản lý nhà bếp (Điển Tọa),
Thủ Tọa không vừa ý, nên nói: Tôi là Thủ Tọa còn chưa
được đi, sao Điển Tọa đi?
Bá
Trượng nói: Bây giờ thử coi người nào đi được? Không
cho gọi là bình nước thì gọi là cái gì?
Thủ
Tọa nói: Gọi là cái nút.
Bá
Trượng hỏi Quy Sơn: Không gọi bình nước thì gọi là cái
gì?
Quy
Sơn đá ngả rồi đi ra.
Bá
Trượng nói: Phải không, tôi bảo Quy Sơn đi đâu có sai!
Hỏi:
Lý
do gì ngộ của Thiền tông không cần kinh điển?
Đáp:
Kinh
chỉ là trợ duyên, công phu đến mức thì gặp cái gì cũng
ngộ, cũng như có người gặp con khỉ leo cây mà ngộ, có
người thấy hoa đào nở thì ngộ, có người đi bị vấp
té lại ngộ, có người bị bạt tai ngộ, có người nghe hát
ngộ, có người đi ngang chỗ bán thịt, nghe nói “bán cho
tôi một cân thịt nạt”, người bán chặt mạnh con dao xuống
bàn và nói lớn “chỗ nào không phải là thịt nạt?”, người
ấy liền ngộ. Đâu phải chỉ xem kinh mới ngộ? Có người
xem kinh cũng ngộ.
Như
có người tham kiến Mã Tổ, Mã tổ nói: Hãy đảnh lễ đi.
Người
đó mới lạy xuống thì Mã Tổ đá một cái ngã xuống đất
liền ngộ. Nghe kinh ngộ chỉ một phần ít, cái ngộ là do
cái nghi đến mức muốn bùng nổ thì không ngộ cũng không
được. Như chuyện Hội Thông làm thị giả cho Đạo Ngô:
Mấy
năm, Đạo Ngô chẳng dạy cho Hội Thông gì cả. Nghi tình của
Hội Thông muốn bùng nổ, vì cứ nghi “không dạy bảo gì
hết” qua nhiều năm. Một hôm, chịu không nổi Hội Thông
từ giả thầy, thầy hỏi: Đi đâu?
Hội
Thông đáp: Đi học Phật pháp.
Đạo
Ngô nói: Phật pháp ở đây tôi cũng có chút đỉnh vậy.
Hội
Thông hỏi: Thế nào Phật pháp của Hòa Thượng?
Đạo
Ngô mới nhổ sợi lông trên chiếc áo của mình, rồi thổi
một cái thì Hội Thông ngộ liền.
Chính
Phật Thích Ca đưa cành hoa lên, Ma Ha Ca Diếp ngộ đạo. Phật
không nói gì, đâu phải do kinh mà ngộ? Tức là công phu đến
mức rồi gặp bất cứ cái gì cũng đều ngộ. Tất cả gặp
cảnh được ngộ chỉ là trợ duyên, chứ không do cái đó
mà ngộ. Nếu không có công phu có đánh chết cũng không ngộ,
huống là chỉ bạt tai làm sao ngộ? Và Lâm Tế hỏi Phật
pháp 3 lần bị đánh 3 lần được ngộ, đâu phải do kinh
mà được ngộ?
Đương
thời Ngài Đại Huệ có nhiều người tu thiền bày đặt bậy
bạ và Ngài giải thích cho họ biết. Bây giờ những người
bày đặt bậy bạ nhiều hơn nữa.
Hỏi:
Các
sách về thiền không nói đến kinh nhiều, mà kể lại những
tình huống hay kể những câu chuyện giúp cho người tu Tổ
Sư thiền dễ có niềm tin hơn và gần gủi với thiền hơn,
hay là còn có cái gì khác nữa không?
Đáp:
Không
có mục đích gì hết, ngày xưa chư Tổ không cho ghi lời nói
của Tổ. Vì tánh con người ham hiểu biết nên có người
ghi lén, lâu ngày từ đời nhà Đường đến đời nhà Tống
làm ra cuốn Cảnh Đức Truyền Đăng Lục. Ngày xưa chư Tổ
dùng cơ xảo (thủ đoạn) khiến cho người tham thiền tự
động phát lên nghi tình mà tự mình không biết.
Như
Lâm Tế hỏi Phật pháp 3 lần bị đánh 3 lần mà phát nghi,
nhưng Ngài không biết tự mình đã tham thiền. Cũng như Hội
Thông phát nghi là “không dạy bảo gì?” là cơ xảo của
thầy, tự mình phát nghi không biết. Ngài Lai Quả gọi đó
là ‘vô tham tức chân tham’. Vô tham không phải là không
có tham, tham thiền mà mình không biết mình đang tham thiền.
Cho
nên, ngày xưa người ngộ rất nhiều, lại mau ngộ. Đến
sau này cuốn Cảnh Đức Truyền Đăng Lục ra đời thì người
ngộ mới ít, vì cơ xảo của chư Tổ dùng không được, nếu
đánh đập đến chết mà người ta không phát nghi được,
vì biết là cơ xảo của Tổ làm sao nghi được? Không có
cách nào để dạy, nên Tổ bất đắc dĩ dạy tham công án,
thoại đầu. Bây giờ muốn đạt đến chân tham, ít nhất
cũng phải từ tám mười năm.
Hỏi:
Thế
nào là khai, giá, trì, phạm?
Đáp:
Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo Ni phải biết khai, giá, trì, phạm, nhưng
có một số người lại không biết; nhất là Tỳ Kheo phải
thông suốt giới luật Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni.
Như
giới uống rượu không phải tánh giới là giá giới thì có
thể khai, tức là uống mà không phạm giới. Tại sao? Vì không
có ý uống, uống lộn xong mới biết là rượu và cơm rượu
có ăn bao nhiêu cũng không say. Làm đồ ăn bỏ vào đồ ăn
một chút rượu cho ngon cũng không phạm. Những cái đó đều
có thể khai. Còn nhiều cái không đủ nhân duyên thì được
khai hay khai nhẹ hơn.
Giá
giới là phân biệt với tánh giới. Tánh giới là sát, đạo,
dâm, vọng thì có tội nhân quả. Mặc dầu, không có thọ
giới nhưng phạm cũng phải chịu quả báo. Tánh giới ở trong
pháp luật của nhà nước cũng có cấm. Giá là che, Phật muốn
cho Phật pháp đến chỗ nào cũng được hoan nghinh, nên phải
theo phong tục tập quán của địa phương đó, Phật mới chế
ra giá giới để cho người ta khỏi phê bình.
Như
Tu sĩ ở Ấn Độ không được đi làm công việc sản xuất
trồng trọt, nếu làm là phạm giới nên Phật phải chế ra
giá giới. Tu sĩ ở Trung Quốc trồng trọt là trì giới
thì người ta khen ngợi. Giá giới là phần nhiều giới oai
nghi, tức là phạm không có tội nhân quả, chỉ là che chỗ
địa phương đó đừng có phê bình để dễ hoằng pháp.
Trì
có 2 thứ: Chỉ trì và tác trì.
-
Như 5 giới của cư sĩ, 10 giới của Sa Di, Sa Di Ni, 250 giới
của Tỳ Kheo, 348 giới của Tỳ Kheo Ni đều là chỉ trì.
-
Giới Bồ Tát có chỉ trì và tác trì, tức là tác (làm) là
trì, không làm là phạm; chỉ trì là làm mới phạm, không
làm là không phạm. Như giới trộm cắp, nếu không thọ giới
Bồ Tát có ý ăn cắp cái tách này, mà tay đụng đến tách
thì chưa phạm, khi nào dời cái tách khỏi chỗ khác thì mới
phạm. Người thọ giới Bồ Tát có nổi ý ăn cắp là phạm
giới, chứ khỏi cần đụng đến đồ vật.
Giới
Bồ Tát của cư sĩ cũng có điều thấy người gặp tai nạn
nguy hiểm không có ai cứu, nên phải đi cứu. Như mình đi
mua vé xe để đi đến ngoại ô thấy ở bên đường có người
bị bệnh nặng mà không có ai giúp đỡ, nhưng mình đã thọ
giới Bồ Tát phải bỏ vé xe ngừng xuống cứu giúp người
đó, hoặc chở đi bệnh viện hay chở về nhà, rồi đoán
xe khác đi tiếp. Nếu không làm là phạm, gọi là tác trì.
-
Thọ giới Bồ Tát có ăn chay không?
-
Tự nhiên phải ăn chay, vì muốn giúp chúng sanh mà còn ăn
thịt chúng sanh làm sao được!
Hỏi:
Phật
tử đã thọ tam quy ngũ giới nên ăn chay trường. Vì trong
ngũ giới có giới sát sanh, vậy có phải không?
Đáp:
Phải
rồi, cho nên sát sanh thuộc về tánh giới. 5 giới cư sĩ,
10 giới của Sa Di và Sa Di Ni, 250 giới của Tỳ Kheo, 348 giới
của Tỳ Kheo Ni đều lấy 4 giới (sát, đạo, dâm, vọng)
là tánh giới làm căn bản.
Hỏi:
Phật
tử tại gia giữ 5 giới, khi khởi niệm có phải phạm giới
không?
Đáp:
Phật
tử tại gia giữ 5 giới, khi khởi niệm thì không phạm, vì
không thọ giới Bồ Tát, tức là chỉ có thân trì, khi nào
thân làm mới phạm, thân không làm thì không phạm. Giới Bồ
Tát có tâm trì.
Hỏi:
Các
giới luật có ảnh hưởng đến tu Tổ Sư thiền không?
Đáp:
Tổ
Sư thiền cũng phải giữ giới vậy! A Nan hỏi Phật sau khi
Phật nhập Niết Bàn thì chúng con lấy ai làm thầy?
Phật
nói: Lấy giới luật làm thầy.
-
Có phải Thiền tông không tin vào kinh điển không?
-
Sao nói là Thiền tông không tin vào kinh điển! Thiền tông
tự nhiên ăn khớp với kinh điển, chứ không phải không tin
kinh điển, chỉ là không chấp kinh điển.
-
Xin Thầy nói rõ: Không tin và không chấp?
-
Nếu giải thích triệt để thì Phật nói: “Phàm có lời
nói đều chẳng có nghĩa thật”. Bây giờ nói không chấp
là đã chấp rồi, tại có chấp nên mới nói không chấp,
vì còn trong tương đối. Nếu chấp vào một bên (tương đối)
thì lọt vào trong 5 thứ ác kiến (thân kiến, biên kiến, tà
kiến, kiến thủ, giới cấm thủ).
Chấp
nhất định có Phật cũng lọt vào biên kiến, chấp nhất
định không có Phật cũng lọt vào biên kiến. Cho nên nói:
“Lấy vô Trụ làm gốc”, tức là không trụ bên nào, có
trụ là không được.
Hỏi:
Nếu
nghĩ tới nghĩ lui thì cái nào cũng là biên kiến, như nói
“vô trụ” có phải là biên kiến không?
Đáp:
Đó
cũng là lời nói, Ngài Ca Diếp hỏi Phật trong kinh Đại Niết
Bàn vấn đề này:
Ngài
Ca Diếp hỏi: Tại sao phàm phu có điên đảo tưởng và có
phiền não, bậc Thánh cũng có điên đảo tưởng mà không
có phiền não?
Phật
nói: Tại sao ngươi nói bậc Thánh có điên đảo tưởng?
Ngài
Ca Diếp đáp: Phàm phu gọi con trâu là con trâu, con ngựa là
con ngựa, nam là nam, nữ là nữ thì bậc Thánh cũng gọi như
vậy, không phải là điên đảo tưởng sao?
Phật
nói: Tưởng có 2 thứ (thế lưu bố tưởng và trước tưởng).
Phàm phu ở nơi thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng,
nên gọi là điên đảo tưởng. Còn bậc Thánh vì thuyết pháp
cho phàm phu nghe, chỉ có thế bố tưởng mà không trước tưởng,
nên không có điên đảo tưởng. Không có điên đảo tưởng
thì không có phiền não.
Chấp
trước là chấp thật, chấp có là thật hoặc chấp không
có là thật, tức là lọt vào biên kiến. Nếu bậc Thánh không
gọi con trâu là con trâu, con ngựa là con ngựa, làm sao thuyết
pháp cho phàm phu nghe được? Vì thế gian đã lưu hành thì
bậc Thánh cũng y theo vậy mà gọi, nhưng không sanh ra trước
tưởng thì không có sở trụ.
-
Nói như vậy được, nhưng sao đi tới?
-
Muốn đến vô sở trụ phải tham thoại đầu và khán thoại
đầu, nếu không muốn tham thiền miễn cưỡng làm theo cũng
khó, có thực hành thì tự nhiên sẽ đưa mình đến. Cho nên,
chư Phật chư Tổ là muốn mình thực hành. Người thế gian
là muốn tìm hiểu lý, như học thức tìm hiểu nhiều thì
cao chừng nấy, còn Phật pháp chỉ muốn ngộ, tức là ngược
lại lìa lý, lìa hiểu biết. Nếu tìm lý và hiểu biết
là sở tri chướng, rồi theo sự hiểu biết đi làm gọi là
sự chướng (phiền não chướng).
Hỏi:
Khi
có nghi tình thì vọng tưởng lặng mất giống như trạng thái
nhất tâm bất loạn, vậy phải không?
Đáp:
Không
biết là nhất tâm bất loạn, nếu dùng cái biết để đi
đến nhất tâm bất loạn thì khó. Tại sao? Vì do cái biết
dễ bị ngoại cảnh lôi kéo, như ngoại cảnh vui lôi kéo hay
ngoại cảnh xấu, khủng bố mà biết cũng bị lôi kéo. Nghi
tình thì không biết, vui không biết, xấu cũng không biết
thì không bị ngoại cảnh lôi kéo, dễ đạt đến nhất tâm
bất loạn. Nhưng cả nhất tâm cũng phải bỏ, vì nhất tâm
là nhất niệm vô minh, phải đến vô thỉ vô minh, rồi đập
tan vô thỉ vô minh mới được kiến tánh.
Hỏi:
Nghi
tình thì không có gì cả, không phải là nhất tâm, vậy có
đúng không?
Đáp:
Không
phải, nghi tình cũng là nhất tâm nhưng là mặt không biết,
chứ không phải dùng mặt biết. Nhất tâm của các pháp khác
là dùng mặt biết, còn nhất tâm tham Tổ Sư thiền là mặt
không biết, cũng gọi là nhất niệm vô minh. Niệm biết thì
không đến chỗ thoại đầu, niệm không biết tự động đến
thoại đầu.
-
Khi có nghi tình thì đâu có biết là nhất tâm?
-
Đúng vậy, nên dễ đến thoại đầu, còn dùng cái biết thì
không có thể đến thoại đầu được.
Hỏi:
Nghi
tình khởi lên mà không biết nghi tình, có phải là trạng
thái vô niệm không?
Đáp:
Trạng
thái vô niệm của nghi tình 24/24 giờ ngày đêm là đến thoại
đầu (vô thỉ vô minh), tức là niệm biết và niệm không
biết đều sạch. Như tham thiền một lúc biết một lúc không
biết chưa được kéo dài nghi tình 24/24 giờ ngày đêm thì
chưa phải đến thoại đầu.
Hỏi:
Khi
ngồi thiền trong 40 phút, nhưng chỉ khoảng 30 phút là có nghi
tình, như vậy có thể gọi là trạng thái vô niệm không?
Đáp:
Nếu
còn nghi tình thì chưa phải là vô niệm, vì thoại đầu là
không có niệm nào. Dùng nghi tình để quét các niệm khác
thì cũng còn nhất niệm, nhất niệm này là nhất niệm không
biết, chứ không phải nhất niệm biết của các thiền khác.
Đến thoại đầu thì muốn niệm nổi lên cũng không được.
Có khi đến thoại đầu là kiến tánh liền, nhưng thường
ở trong một tháng mới kiến tánh.
Bây
giờ, mình tập tham thiền là giữ nghi tình được kéo dài
24/24 giờ ngày đêm là đến thoại đầu. Thí dụ bắt đầu
từ 1 phút, nếu mỗi ngày tăng nghi tình được 1 phút thì
1 năm được 6 tiếng nghi tình, 4 năm được đến thoại đầu.
Còn mỗi ngày tăng ½ phút nghi tình thì 8 năm được đến
thoại đầu. Nếu mỗi ngày tăng ¼ phút nghi tình thì 16 năm
được đến thoại đầu.
-
Nếu chỉ ngồi tham thiền để đến thoại đầu thì không
được, vì đứng dậy là hết tham. Như Ngài Lai Quả nói:
“Đi cũng tham, ngồi cũng tham, làm công việc cũng tham, tức
là tịnh không bị tịnh ảnh hưởng, động không bị động
ảnh hưởng”. Cũng có người ở trong động dễ tham hơn
trong tịnh, như có người chạy xe máy tham được, mà ngồi
yên tham không được.
Hỏi:
Nếu
có tâm lo mất thì tâm loạn chứ đâu tịnh phải không?
Đáp:
Phải
rồi, nếu có tâm lo thì không phải công phu. Ngài Đại Huệ
nói: “Có sở trọng là không được”, bất cứ trọng cái
gì hay trọng Phật cũng không được. Cho nên bất cứ ở chỗ
nào mà có mùi vị thì không được.
Hỏi:
Thầy
đã giải thích cho mọi người thì kiến thức của thầy đã
cản trở hay giúp thầy trên đường tu tập?
Đáp:
Cản
trở trên đường tu tập, tôi là người đầu tiên hoằng
dương Tổ Sư thiền ở Việt Nam, cũng là người đầu tiên
đả thiền thất ở Việt Nam. Những người quen về giáo môn
và Tịnh Độ, đối với Tổ Sư thiền thì người ta lại
khó tin, người ta không biết nên tôi phải biết, như thế
họ mới tin tôi, rồi từ từ người tham Tổ Sư thiền ngày
ngày càng đông. Nếu hỏi tôi không trả lời được thì có
ai chịu lại học Tổ Sư thiền!
Hỏi:
Nếu
cho mình kiến thức thì khó khăn tu tập, muốn giúp người
khác thì mình lại cần có kiến thức phải không?
Đáp:
Phải
rồi, như khoa học gọi là ác tánh tuần hoàn. Trí Giả Đại
sư lúc gần lâm chung nói: “Tôi chỉ chứng được ngũ phẩm,
nếu tôi không lãnh chúng thì có thể chứng cao hơn”. Nên
lãnh đạo cho người ta tu cũng phải bị chướng ngại sự
tu của mình.
Hỏi:
Tham
thiền không được thì tham sân si thường nổi lên. Vậy Thầy
có phương pháp nào để cho chúng con tham thiền dễ dàng?
Đáp:
Mình
suy nghĩ sanh tử làm sao giải quyết? Như thấy người ta chết
thì trong tâm mình phải nóng. Tại sao? Vì sẽ đến phiên mình
cũng phải chết. Vậy trước khi chết mình phải giải quyết
cho xong thì mới có tâm thống thiết sanh tử, bị vọng tưởng
là do mình có cái ta.
Nói
theo người thế gian là cho thân này chết còn có linh hồn,
linh hồn thì không chết. Sự thật, Phật pháp không nhìn nhận
linh hồn, nhưng bây giờ tạm mượn linh hồn để cho người
ta dễ hiểu. Linh hồn là cái ta có bắt đầu không? Thì không
có lý nào bắt đầu được. Vì bắt đầu ở không gian từ
chỗ nào? Bắt đầu ở thời gian từ lúc nào?
Nếu
chỗ bắt đầu ở không gian thì phải có bắt đầu nữa!
Còn chỗ thời gian cũng vậy, chỗ thời gian đó có chỗ bắt
đầu nữa không? Nếu thời gian không thể bắt đầu thì linh
hồn mình làm sao bắt đầu? Cho là bắt đầu được đi, vậy
có thỉ thì có chung; có sanh phải có diệt, tức là không
phải bất sanh bất diệt.
Cái
bất sanh bất diệt đã là không có bắt đầu, cũng là nghĩa
vô sanh, nên chứng quả là ngộ pháp vô sanh hay chứng vô sanh
pháp nhẫn. Vậy không có lý do thành lập cái ta này, tại
sao mình lại thương tiếc chấp chặt vào nó?
Hỏi:
Làm
thế nào cho tham, sân, si giảm bớt?
Đáp:
Tham,
sân, si có là do có cái ta. Muốn thành lập cái ta còn không
được thì tham, sân, si làm sao thành lập? Vì không có thân
này tức là không có lục căn, làm sao có tham, sân, si? Cho
nên, Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô lục căn, vô lục trần, vô
lục thức”.
-
Nói thì nói như vậy, nhưng đói còn biết ăn mà?
-
Phải rồi, vì tâm chấp có cái ta này, nhưng từ căn bản
không thành lập cái ta; rất khó không thành lập cái ta. Cho
nên, Bát Nhã Tâm Kinh mới dùng 17 chữ “vô” để quét sạch,
mà còn thêm 2 chữ “viễn ly” quét sạch tất cả dấu tích.
Các chùa ít nhất mỗi ngày cũng tụng mấy lần, có tụng
nhưng không chịu thực hành.
Hỏi:
Mở
miệng nói đến tâm thì có cái ta rồi phải không?
Đáp:
Phải
rồi, như người làm nghe điện thoại, nói trong điện thoại
thì chữ “tôi” là nhiều nhất. Muốn phá cái tôi thì có
một cách làm hạnh Bồ Tát là: Vì chúng sanh nên tôi ăn cơm,
vì chúng sanh nên tôi uống nước, vì chúng sanh nên tôi mặc
áo,… tập cho ý thức của mình ngày đêm đều vì chúng sanh,
không vì cái ta.
Bây
giờ, mình không phải vậy! Mỗi người có hoàn cảnh riêng,
như gia đình con cái đều phải lo cũng là mình (ta). Đem cái
vì mình thay cho chúng sanh, vì có thân mình nên mới phục vụ
cho chúng sanh, mình vừa phục vụ mà suy nghĩ không có vì mình,
tất cả vì cho chúng sanh thì lâu ngày sẽ quên mình, lâu ngày
cũng thành thói quen.
Sau
đó thì ngã thô hết nhưng ngã vi tế vẫn còn, nên cái này
bất đắc dĩ vì muốn nói phương tiện của Giáo môn, chứ
Thiền môn là không được. Thiền môn là chỉ giữ cái nghi
tình.
Hỏi:
Nếu
cái nghiệp tham nổi lên thì mình quán tất cả đều là vô
thường có được không?
Đáp:
Đó
là quán tưởng nhưng quán không được, mình phải tin tự
tâm đầy đủ, cái gì cũng đã sẵn, tức là khỏi cần cái
gì ở ngoài nữa. Cho nên, phải vô sở đắc, vô sở cầu,
vô sở sợ. Vì muốn đắc thì cũng muốn đắc ở ngoài, có
muốn cầu thì cũng cầu ở ngoài. Tâm mình đã cùng khắp
hư không thì đâu cần đắc cần cầu nữa! Không đắc không
cầu thì không có sợ.
-
Khi cơn giận nổi lên đùng đùng làm sao cho nó xuống được?
-
Tập khí rất khó sửa, nên phải sửa dần dần; sau khi ngộ
rồi còn phải dứt tập khí, như Lục Tổ đã ngộ triệt
để rồi còn phải bảo nhậm dứt tập khí 15 năm.
Hỏi:
-
Lúc mình chưa nóng thì phải tập tâm đừng nóng, như nghĩ
nóng là xấu. Nếu mình tin cái nóng là nhân cách hay giá trị
của mình thì không thể bỏ nóng được.
-
Ngồi nghĩ lại những lúc mình nổi nóng là lý do gì mình
lại nổi nóng? Cứ nghĩ như vậy nhiều lần thì thế nào
cũng tìm ra khuyết điểm nổi nóng. Mình tìm phương tiện
nhỏ của Giáo môn để giúp cho mình tu, nếu nổi nóng hoài
thì không tu được pháp môn nào cả.
Qua
sự hiểu của con, xin Thầy khai thị?
Đáp:
Phật
pháp gồm có 4 thừa: Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, Tối
thượng thừa.
Tiểu
thừa nói những thứ đó là do lục căn, nên cuối cùng họ
dứt lục căn.
Trung
thừa cho là dứt lục căn chưa được, cũng còn nhất niệm
vô minh, nên phải dứt nhất niệm vô minh. Vì lục căn thì
đối với cảnh, gọi là duy vật. Nhất niệm thuộc về tâm
gọi là duy tâm.
Đại
thừa thì tâm và vật hợp một là không dứt lục căn và
không dứt nhất niệm vô minh, mà lại lợi dụng lục căn
và nhất niệm vô minh để phá vô thỉ vô minh.
Ngài
Hư Vân nói: “Nước trong mà bỏ đất cát vào thì thành nước
đục, nước không lay động thì thành nước trong; phương
tiện trên là nước trong nhưng chưa triệt để, vì lay động
thì trở thành nước đục. Muốn nước trong triệt để thì
lấy đất cát bỏ ra, dù có lay động cách mấy cũng là nước
trong”.
Như
dùng thiền quán, dùng niệm Phật hay dùng niệm chú,… để
cho vọng tưởng lặng xuống, nhưng chưa chấm dứt triệt để.
Hỏi:
Có
phải ngày xưa mình làm người ta chướng ngại, nên bây giờ
người ta làm cho mình chướng ngại phải không?
Đáp:
Phải
rồi, tại mình làm cho người ta chướng ngại, nên bây giờ
người ta làm cho mình chướng ngại.
-
Mình đến bàn thờ Phật để lạy thì tánh nóng của mình
cũng có thể hạ xuống, vậy có được không?
-
Đó cũng là một phương tiện ở trong tất cả phương tiện,
tức là mỗi người đều có phương tiện riêng cho mình. Như
có người lấy khổ hạnh làm phương tiện.
Hỏi:
Có
phương pháp nào áp dụng cho cuộc sống hằng ngày được
thoải mái hơn?
Đáp:
Phương
pháp triệt để nhất là nghi tình, nếu nghi tình luôn luôn
miên mật thì mọi cảnh không thể xâm nhập được. Như thiền
giới là khi giữ được nghi tình thì không thể nào phạm
giới được.
Hỏi:
Ngài
Nam Tuyền chém mèo có coi là lậu tận giới không?
Đáp:
Người
ta cứ dùng tập khí bộ óc lâu đời để suy nghĩ như vậy.
Như Phật nói trong kinh Kim Cang: “Chúng sanh, tức phi chúng
sanh, thị danh chúng sanh”, chúng sanh là giả danh, như Bát
Nhã Tâm Kinh nói: “Vô lão tử diệc vô lão tử tận”, nếu
không có sanh tử làm sao có việc chém chết?
Thiền
Sư đưa cây phất trần lên hỏi: Cây phất trần với việc
Nam Tuyền chém mèo có khác hay không khác? Rồi tự mình làm
bài kệ, câu thứ 4 là: “Phất trần với chém mèo đâu
có khác!”. Vì mình đuổi theo cảnh hay lời nói thì bị cảnh
lôi kéo.
-
Có người nói: Lục Tổ ăn rau bên cạnh thịt thì tôi cũng
ăn thịt được, vậy đâu cần phải ăn chay?
-
Người ngộ đạo ở trong thế lưu bố tưởng nhưng không
sanh ra trước tưởng thì không có nhân quả, vì tâm không
có tạo. Người ngộ đã nhảy ra ngoài chiêm bao, không dính
líu chiêm bao. Tổ nói: “Tình sanh trí cách”, có người chưa
kiến tánh nói “tôi không có nổi tình cảm gì hết, không
có dính dáng đến tình cảm”, nhưng rồi cũng bị người
kiến tánh chê.
“Không dính dáng đến tình cảm” thì vẫn còn ở trong nghĩa
3 câu của Bá Trượng nói, tức là còn có tri giải. Các vị
tin pháp môn Tổ Sư thiền và tin tự tâm được 100%, tức
là Phật tánh của mình và Phật tánh của Phật Thích Ca không
có khác biệt chút nào cả. Như vậy thực hành rất dễ, rất
đơn giản là giữ nghi tình thì tất cả tự động sẽ giải
quyết xong.
Nhưng
bây giờ các nhà sách bán nhiều sách thiền, cũng nói Tổ
Sư thiền và giải thích nghĩa lý Tổ Sư thiền, giải thích
công án thì lọt vào ý thức phân biệt, nên không bao giờ
ngộ. Mục đích Tổ Sư thiền là muốn chấm dứt ý thức
phân biệt, nên sát na lìa ý thức liền kiến tánh. Còn bây
giờ không lìa ý thức, mà lại dùng ý thức để giải thích
phân biệt để tìm hiểu đáp án. Cho nên, giải công án là
sai lầm và nghịch với Tổ Sư thiền, vì vậy chư Tổ nói
là phỉ báng Tổ, cũng là phỉ báng pháp.
Hỏi:
Theo
con thấy người Mỹ tu rất chính chắn hơn chúng con, qua thời
gian họ làm ra tiền, họ không có trói buộc như người Việt
Nam, nhưng không biết họ có phải tu theo Tổ Sư thiền không?
Đáp:
Họ
tu theo cách tìm hiểu, tức là dùng bộ óc đi tìm hiểu chân
lý. Họ dám hy sinh để tu, nhưng họ kiến lập năng biết
thì phải có sở biết. Như 4 bài kệ của Ngài Vĩnh Gia nói:
“Biết tịch lặng còn không được và không có sở biết
mà chỉ có năng biết cũng còn chưa phải”, còn cái biết
của chân như không có kiến lập năng sở, vì nó vốn là
vậy. Nếu có kiến lập thì không phải cái biết chân như.
Hỏi:
Có
người tham gia khóa thiền ở Tây Tạng, tu chỉ quán ở đó
được 2 ngày rất gắt gao, người đó thấy điều gì đó
mới ở thêm suốt tuần tu rất khắc khổ chặt chẽ. Như
vậy không biết họ tu như thế nào?
Đáp:
Những
người đó tu có thể phát thần thông, nhưng cuối cùng họ
thành ngoại đạo. Vì Phật pháp không có kiến lập chân lý,
còn những người đó thì muốn tìm hiểu chân lý để kiến
lập, lấy chân lý để làm đối tượng.
Phật
là giác ngộ, vì do có mê nên có ngộ; nếu đã ngộ rồi
thì không có mê, không có mê thì không ngộ, như kinh Kim Cang
nói: “Chiếc bè là để chở mình qua sông, đến bờ thì
chiếc bè vô dụng”.
Hỏi:
Những
người tu vì thần thông thì họ thành ngoại đạo phải không?
Đáp:
Phải
rồi, vì họ tu không đúng theo đạo Phật; ngoài đạo Phật
gọi là ngoại đạo, như người ngoại quốc không phải người
trong nước. Họ tu được có thần thông và có tuổi thọ
sống lâu có thể được mấy ngàn năm, nhưng không có thể
giải thoát khổ sanh tử luân hồi. Vì họ dùng bộ óc để
quán tưởng, mà không phá ngã chấp.
Tổ
Sư thiền là ngưng hoạt động của bộ óc (tìm hiểu biết,
suy nghĩ biết, ghi nhớ biết), tất cả 3 cái biết đều dứt
sạch rồi, cũng còn cái không biết (nghi tình), nghi tình cũng
là nhất niệm vô minh. Đến giờ phút cuối cùng nghi tình
tan rã thì những sản phẩm của bộ óc đều sạch, cho nên
Phật tánh tự hiện lên khắp không gian khắp thời gian, lúc
đó là cái biết Phật tánh, không phải cái biết bộ óc.
Còn họ tu là được cái biết bộ óc.
Hỏi:
Vì
ban đầu dùng câu thoại đầu như dùng cây gậy đi đường
phải không?
Đáp:
Phải
rồi, vì nghi tình cũng là nhất niệm vô minh, rồi đến thoại
đầu là vô thỉ vô minh, cũng là đầu sào trăm thước, còn
gọi là nguồn gốc của ý thức, sát na lìa nguồn gốc ý
thức thì được kiến tánh.
Những
pháp môn khác pháp Tham Tổ Sư thiền là cao nhất chỉ đến
vô thỉ vô minh, chứ không thể lìa ý thức được. Vì không
có ý để lìa ý thức, mà cho vô thỉ vô minh là Niết Bàn.
Hỏi:
Tại
sao pháp Tham Tổ Sư thiền dễ tu mà người ta không chịu tu?
Đáp:
Vì
người ta khó tin, lại cứu lý tìm hiểu; Tổ Sư thiền là
không cho cứu lý, không cho tìm hiểu. Nếu tin được thì dễ
hơn các pháp môn khác. Nhưng nghịch với tư tưởng người
ta, tức là không tin được tự tâm. Họ tưởng là biết nhiều
chừng nào tốt chừng nấy, nhưng sự thật hiểu biết đó
là chướng ngại, Phật pháp gọi là sở tri chướng.
Dẫu
cho, hiểu biết của thế gian đã sạch, còn hiểu biết của
xuất thế gian cũng là cực vi tế sở tri chướng. Bộ óc
không hiểu gọi là phiền não chướng, hiểu rồi gọi là
sở tri chướng. Cho nên, người ta khó lãnh hội được chỗ
này. Vì cuộc sống hàng ngày đều phải dùng đến bộ óc,
bây giờ bỏ hoạt động của bộ óc thì người ta không chịu.
Hỏi:
Xã
hội ngày nay khoa học tiến bộ, con người không được rảnh
rang như người xưa, nên không để ý sự tu, nhất là tu Tổ
Sư thiền rất khó, vậy có phải không?
Đáp:
Vì
hiểu theo người thế gian, như nhà triết học, nhà khoa học,…
thì sự tu của họ lại khó. Vì cuộc sống hằng ngày đều
phải dùng bộ óc để nghiên cứu triết học hay nghiên cứu
khoa học, bất cứ nghiên cứu cái gì đều cũng nhờ bộ óc.
Nếu bây giờ chấm dứt hoạt động của bộ óc thì người
ta phản đối, họ cho “đồ khùng”. Phải rồi, vì theo tư
tưởng thế gian là vậy.
Cho
nên, thiền giải đáp công án ở Nhật Bản dễ truyền khắp
thế giới. Hiẹân nay người Trung Quốc cũng đi học thiền
giải công án, rồi về dạy cho người Hoa. Chùa Cao Mân là
Tổ đình của Thiền Tông nhưng cũng lọt vào kiến giải.
Ngày xưa Ngài Lai Quả không cho người ta giảng công án, khi
tôi ở đó thấy đêm nào có vị Trưởng lão đều giảng
công án.
Hỏi:
Những
pháp thiền của các tôn giáo khác là để ngưng hoạt động
của bộ óc hay để im lặng, vậy có khác với cách tu của
Tổ Sư thiền không?
Đáp:
Các
thiền của tôn giáo khác là mục đích bỏ nhiễm duyên lấy
cái tịnh duyên cho là ngộ. Tịnh duyên đối với nhiễm duyên
thì tốt, còn đối với bản thể Phật tánh là chướng ngại.
Bởi vì đối với nhiễm nên mới nói tịnh thì còn nằm
trong tương đối, tức là những thứ ấy có thể dùng bộ
óc để giải thích được.
Tổ
Sư thiền không thể giải thích, tại bộ óc không thể tiếp
xúc được, phải ngộ mới biết. Ngộ biết không phải cái
biết của bộ óc là cái biết của Phật tánh, gọi là Bát
Nhã. Ngộ là Phật tánh hiện lên, chứ không phải có năng
ngộ sở ngộ. Nếu có năng ngộ sở ngộ thì không được,
vì còn có 4 tướng (ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng,
thọ giả tướng).
Hỏi:
Thế
nào là tứ cú và có từ đâu?
Đáp:
Tứ
cú ở trong kinh Lăng Già. Nếu bộ óc hiểu biết đều nằm
trong tương đối, tương đối thì có tứ cú. Nguồn gốc của
tứ cú là hữu và vô. Hữu (có) là cú thứ nhất, vô (không)
là cú thứ nhì, chẳng có chẳng không là cú thứ ba, cũng
có cũng không là cú thứ tư. Khi nói ra đều là tứ cú, nín
cũng lọt vào tứ cú. Tại sao? Nói là cú thứ nhất, nín là
cú thứ nhì, chẳng nói chẳng nín là cú thứ ba, cũng nói
cũng nín là cú thứ tư.
Thoại
đầu không lọt vào tứ cú. Tại sao? Vì Thoại đầu không
có năng sở là do không biết, lọt vào tứ cú là do cái biết;
biết có thì trụ nơi có, biết không thì trụ nơi không. Tổ
Sư thiền là giữ nghi tình (không biết), không biết có làm
sao trụ nơi có? Không biết không làm sao trụ nơi không? Cho
nên, không lọt vào tứ cú, không có năng sở.
Dùng
cái biết tu là Như Lai thiền dễ bị ngoại cảnh lôi kéo
là do cái biết. Thấy cảnh tốt đẹp thì ham, thấy cảnh
xấu thì chê. Tổ Sư thiền dùng cái không biết, nên tốt
không biết tốt làm sao để ham thích? Xấu cũng không biết
xấu làm sao chê? Thì mới lìa được tứ cú, nhưng không có
ý lìa, nếu có lìa thì có tương đối. Nhưng vẫn có phương
tiện là còn một niệm không biết.
Cho
nên, giờ phút cuối cùng một niệm không biết tan rã thì
kiến tánh. Nếu cứ giữ một niệm không biết không bao giờ
kiến tánh, tại đó cũng là nhất niệm vô minh. Phải đến
vô thỉ vô minh rồi đập tan vô thỉ vô minh rồi mới được
kiến tánh.
Mục
đích muốn đến thoại đầu nên nói là tham thoại đầu hay
khán thoại đầu, nhưng sự thật thì chưa đến. Có người
tham suốt đời cũng chưa đến thoại đầu, tới chừng đến
thoại đầu là hy vọng kiến tánh, vừa đến là kiến tánh,
có khi đến rồi cả tháng sau mới kiến tánh. Đến thoại
đầu mới được kiến tánh, còn không đến thoại đầu thì
không bao giờ được kiến tánh. Cho nên, từ đầu sào 100
thước bước thêm một bước, tức là lìa khỏi ý thức thì
được kiến tánh.
Hỏi:
Có
nhiều câu thoại đầu, vậy ý có khác nhau không?
Đáp:
Tuy
nhiều câu thoại đầu nhưng mục đích chỉ là kích thích
một niệm không hiểu không biết của bộ óc, khán là nhìn
chỗ không biết muốn xem chỗ không biết là cái gì? Vì chỗ
không biết mà bộ óc tiếp xúc không được. Cho nên, dùng
phương tiện hỏi và khán để giữ nghi tình chấm dứt tìm
hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết, 3 cái biết này hết
thì đến thoại đầu. Đến thoại đầu mới hy vọng kiến
tánh, có người vừa đến thoại đầu thì kiến tánh
liền.
Ngày
xưa, nhiều người bị đánh bạt tai kiến tánh, bị vấp té
cũng kiến tánh, thấy con khỉ leo cây cũng kiến tánh, nghe
người ta hát cũng kiến tánh. Vì cơ xảo của chư Tổ làm
cho người tham học thình lình cắt ngang đường suối ý thức,
sát na lìa được ý thức thì kiến tánh. Nếu lìa không được
ý thức thì phát nghi, giữ cái nghi đó sau này sẽ được
kiến tánh.
Hỏi:
Sau
khi kiến tánh thì bộ óc còn hoạt động không?
Đáp:
Sau
khi kiến tánh thì bộ óc vẫn hoạt động bình thường. Chưa
kiến tánh thì bộ óc làm chủ hay làm bậy, kiến tánh thì
Phật tánh làm chủ, mà bộ óc làm nô lệ cho Phật tánh để
làm việc và nó không còn làm bậy nữa.
Tánh
thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh xúc, tánh nếm, tánh biết
đều tồn tại vĩnh viễn. Trong kinh Lăng Nghiêm mà Phật dùng
chuyện trước mắt chứng tỏ những thứ ấy không mất, chứ
không phải người chết rồi mất. Tại sao? Vì nó không có
hình tướng số lượng nên không lay động. Cái nào có lay
động thì biến đổi nên phải mất. Cái nào không lay động
thì không biến đổi nên tồn tại vĩnh viễn.
Hỏi:
Có
phải mình thấy được là nhờ bộ óc không?
Đáp:
Thấy
được là nhờ bộ óc, Duy Thức gọi là đồng thời ý thức
biến hiện mở mắt chiêm bao. Như con mắt thấy được, nhưng
thấy được hiện tượng, không phân biệt được là hiện
tượng gì? Phải có ý thức đồng thời nổi lên mới phân
biệt.
Nhĩ
thức nghe được âm thanh biết có tiếng, nhưng không biết
tiếng gì? Tiếng chim, tiếng chó,… đều không biết,
phải có ý thức đồng thời nổi lên mới biết tiếng này
là tiếng chim, tiếng chó,… phân biệt rõ ràng. Nếu có ý
thức mà không có nhĩ thức thì không nghe được tiếng, nên
không lấy gì để phân biệt. Cho nên, phải 2 thức đồng
thời gọi đồng thời ý thức.
Ban
đêm ngủ mê thấy chiêm bao là chỉ có một ý thức, gọi
là độc đầu ý thức biến hiện nhắm mắt chiêm bao. Vì
lúc ngủ mê thì nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức,
thân thức đều ngưng hoạt động. Ý thức không bao giờ ngưng
hoạt động, người chết cũng không ngưng hoạt động.
Cho
nên, ban đêm ý thức hoạt động biến hiện ra nhắm mắt
chiêm bao, ban ngày ý thức hoạt động biến hiện ra mở mắt
chiêm bao.
Hỏi:
Nếu
bộ óc chết rồi không nghe tiếng thì như thế nào?
Đáp:
Bộ
óc chết rồi thì thân này không nghe, nếu thân này chưa đi
đầu thai phải có thân trung ấm nghe, như có người chết
đã ra khỏi xác, nhưng thấy cái xác của mình.
Hỏi:
Thầy
nói những thức nào khi thân chết vẫn còn vĩnh viễn?
Đáp:
Nhãn
thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức
đều tồn tại vĩnh viễn, không phải các căn, tức là Tánh
thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh xúc, tánh nếm, tánh biết
tồn tại vĩnh viễn không mất, cùng khắp không gian và thời
gian, nên không có đi và ở. Nếu có đi đâu thì không phải
cùng khắp, vì cùng khắp không gian nên gọi là Như Lai, tức
không có khứ lai là đúng như bản lai. Phật ở trong kinh Lăng
Nghiêm chứng tỏ và giải thích rõ.
-
Thần thức đi đầu thai là sao?
-
Thần thức đi đầu thai là chưa nhảy ra ngoài chiêm bao, từ
chiêm bao này qua chiêm bao khác chưa thức tỉnh, phải kiến
tánh rồi mới thức tỉnh. Còn chưa kiến tánh, tức thức
thứ 7 cứ ôm cái A lại da thức cho là ta thì có chỗ ta rồi
làm sao cùng khắp được? Nhưng bản thể cùng khắp, nên năng
lượng của Phật tánh cùng khắp. Bây giờ máy vi tính có
thể chứng tỏ cùng khắp, nhưng nhà khoa học không chịu tin.
Tất cả chủng tử thiện, ác, vô ký đều ở trong A lại
da thức mang theo.
Hỏi:
Người
tu ban đầu cũng phải giữ oai nghi từ cấp mà lên, rồi mới
được tham thoại đầu, vậy có phải không?
Đáp:
Tu
từng cấp mà tiến lên là tiệm giáo, còn tham thoại đầu
là đốn giáo. Ngài Nguyệt Khê nói: “Tiệm giáo như thang
lầu từng bước mà lên, đốn giáo như đi thang máy”.
-
Có phải đi thang máy nguy hiểm không?
-
Sao có nguy hiểm! Nếu người đi thang lầu cũng có thể trật
chân mà té rồi chết vậy. Còn đi thang máy nếu thình lình
điện cúp thì cũng đâu có sao! Hay là hư thì tuột xuống
cũng không làm chết người.
Hỏi:
Chứng
quả Đẳng Giác có khi nào trở lại làm chúng sanh không?
Đáp:
Chứng
Đẳng Giác thì không còn trở lại làm chúng sanh nữa. Chứng
Sơ Địa cũng còn hơn quả A La Hán, quả A La Hán cũng không
trở lại làm chúng sanh. Nếu đến chỗ vô thỉ vô minh mà
không được cảnh giới này thì có thể kích thích nổi lên
nhất niệm vô minh, rồi tuột xuống những cấp dưới.
Hỏi:
Dù
có tu theo tiệm giáo đều phải phá ngã chấp đúng không?
Đáp:
Bất
cứ tu pháp môn nào của chánh pháp Phật giáo đều phải phá
ngã chấp, không phá ngã chấp thì không ra khỏi sanh tử luân
hồi.
Vì
có tâm chấp nên mới có sanh tử, tức là ở trong thế lưu
bố tưởng sanh trước tưởng thì gọi là điên đảo tưởng.
Bậc Thánh chỉ có thế lưu bố tưởng chẳng có trước tưởng
thì không có điên đảo tưởng, không có điên đảo tưởng
thì không có phiền não. Như phàm phu nói con trâu thì bậc
Thánh cũng gọi là con trâu, mà không có trước tưởng (chấp
thật).
Nghĩa
3 câu của kinh Kim Cang: Câu thứ nhất là chúng sanh thì chấp
chúng sanh có thật, câu thứ nhì là phá câu thứ nhất là
phi chúng sanh, câu thứ 3 là thị danh (giả danh), tức là câu
thứ nhất là giả danh, câu thứ nhì là phi chúng sanh cũng
giả danh, câu thứ 3 là thị danh cũng giả danh, 3 câu đều
phá.
Giống
như lìa tứ cú và “sắc bất dị không, không bất dị sắc”
của Tâm Kinh đều là một nghĩa. Tôi lần đầu tiên là ngộ
nghĩa này. Tất cả kinh Đại thừa liễu nghĩa đều có ý
nghĩa không khác.
Hỏi:
Nói
lìa tứ cú hay lìa 3 câu, như vậy là có ý niệm lìa rồi
phải không?
Đáp:
Nói
lìa là không chấp thật thì mới lìa, nếu chỉ nói lìa thì
lìa không được. Vì chấp thật có cái để lìa, còn không
chấp thật thì không có cái gì để lìa! Cũng như trống rỗng
làm sao lìa? Không có cái để lìa, tại chấp có vô minh
mới lìa vô minh. Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Không có vô minh,
cũng không có hết vô minh” và nói lìa sanh tử, nhưng vốn
không có sanh tử, vì chấp thật nên mới có.
Tôi
bây giờ cũng già, rồi sau này cũng chết. Phật đã nói: “Không
có già chết”, vì mình chấp thật nên thấy có già chết.
Vậy tất cả đều do bệnh chấp của mình mới có mà
thôi. Còn nói là: “Tôi không chấp” thì đã chấp rồi,
do có chấp nên mới nói không chấp. Nếu không chấp làm sao
có không chấp!
Hỏi:
Có
không chấp là do có cái chấp, như vậy làm sao hết cái chấp?
Đáp:
Tham
thiền là giữ nghi tình (không biết) sẽ đến thoại đầu
thì chấp và không chấp là tương đối lọt vào tứ cú đều
bị quét sạch. Thoại đầu là không khởi một ý niệm nào,
nếu chấp và không chấp thì khởi ý niệm, đều nghịch với
tham thiền.
Hỏi:
Cuộc
sống này đều có hai mặt phải và trái có đúng không?
Đáp:
Cuộc
sống này đều có hai mặt phải và trái. Ngài Nguyệt Khê
nói: “Tất cả đều có tương đối, đến chừng nhập vào
tuyệt đối thì tất cả biến thành tuyệt đối”.
Hỏi:
Thế
nào là ăn ngũ tịnh nhục?
Đáp:
Phật
nói “tịnh nhục” là không thấy, không nghe, tức là không
có nổi ý. Nhưng sự thật họ đã nổi ý muốn ăn, với hoàn
cảnh ở Tây Tạng có nhiều sa mạc không trồng trọt được,
tất cả dân lấy lương thực ăn hàng ngày là thịt bò và
dê để sống. Tu sĩ phải nhờ cư sĩ cúng dường thì cũng
cúng thịt đâu có thứ nào khác. Còn mình ở trong hoàn
cảnh này có nhiều rau cải, gạo thóc thiếu gì! Làm sao cho
là ăn tịnh nhục được?
Hỏi:
Người
Phật tử tại gia giữ 5 giới có quyền nuôi mèo không?
Đáp:
Năm
giới của Thanh Văn không cấm nuôi mèo, Bồ Tát tại gia thì
cấm nuôi mèo. Nếu có nuôi mèo thì tập nó ăn chay, không
bắt chuột.
-
Nếu thọ giới Bồ Tát không ăn chay nữa thì sao?
-
Theo nhân quả ăn một cục thịt phải trả một cục thịt,
giết một mạng phải đền một mạng. Ví dụ bệnh si đa
mà ai cũng sợ, nhưng nếu chết chỉ chết một lần. Nếu
mình một bửa cơm ăn vài chục con cá nhỏ, theo nhân quả
mình phải đầu thai vài chục kiếp cá để cho người ta ăn
lại. Người bệnh si đa chết, chỉ chết một lần thì nhẹ
hơn người ăn vài chục con cá, phải đầu thai nhiều
lần.
Hỏi:
Những
cảm giác vui, buồn, giận, ghét,… nguyên nhân từ đâu mà
ra?
Đáp:
Tất
cả nhân duyên đều từ cái ngã, cũng là do sanh tử. Cho nên,
cũng nói sanh tử là việc lớn. Tại sao nói sanh tử là việc
lớn? Vì bất cứ việc gì đều do sanh tử mới có việc đó,
nếu không có sanh tử thì tất cả việc đều không có. Vậy
Phật pháp là liễu thoát sanh tử, tức là ra khỏi sanh tử
luân hồi mới là triệt để.
Để
đối trị tham, sân, si, nên Ngài Lai Quả nói: “Giữ được
nghi tình thì đối trị được tham, sân, si rồi”. Giữ được
nghi tình thì giới, định, huệ đầy đủ, vì có huệ nên
si không còn. Tại sao? Vì giữ được nghi tình thì không phạm
giới, gọi là thiền giới. Giữ được nghi tình thì tâm không
tán loạn nên được định. Giữ nghi tình được kéo dài
thì trí Bát Nhã (trí huệ) thay thế bộ óc làm việc.
Giới,
định huệ là để đối trị tham, sân, si; thật ra không phải
chỉ là giới, định, huệ thôi, mà tất cả đều bao gồm
hết. Cho nên, giữ được nghi tình là giải quyết được
tất cả.
Hỏi:
Thọ
ngũ giới rồi còn đi bắt cá có phạm giới không?
Đáp:
Thì
tự nhiên là phạm giới rồi, tại sao nói không phạm? Như
gia đình cá đang bơi lội chơi vui vẽ, thình lình bắt hết
giết chết làm thịt ăn; việc đó rất tàn nhẫn sao nói là
giữ giới? Không có thể nói là không phạm giới!
Theo
giới Bồ Tát khi nổi niệm đi bắt là đã phạm giới rồi.
giết người là tội ba la di (cực ác), còn giết loài súc
sanh thì bị tội cấp thứ tư, đều thuộc về tánh giới.
Nếu không thọ giới mà phạm giới thì cũng bị tội nhân
quả, còn thọ giới mà phạm giới thì phạm phá giới và
tội nhân quả.
Hỏi:
An
thịt mà không nghe không thấy con vật bị giết thì có tội
không?
Đáp:
Nếu
họ ăn thịt mà không biết con vật bị giết, họ có thọ
giới thì cũng bị tội nhân quả. Bởi vì, 4 thứ tánh giới
đều có nhân quả, còn giá giới thì có tội phạm giới,
không có tội nhân quả. Người có thọ giới mà phạm tánh
giới thì phải bị 2 thứ tội phá giới và tội nhân quả,
người không thọ giới thì phạm tội nhân quả.
Giới
sát chúng sanh của cư sĩ đứng đầu trong 5 giới (sát, đạo,
dâm, vọng, tửu). Tu sĩ là giới dâm đứng đầu, vì giới
dâm khó giữ hơn giới sát.
|