|
.
Hoà
Thượng DUY LỰC Khai thị
CUỐI CÙNG
TẠI HOA KỲ
TT.
Thích Đồng Thường Biên Tập Thành Văn Tự
 |
 |
Hỏi:
Trong
kinh nói có 84.000 pháp môn để tu, sao Thầy chỉ dạy 1 pháp
môn?
Đáp:
Một
pháp môn cũng bao gồm tất cả các pháp môn, pháp môn nào
cũng đều muốn hiển bày cái Tâm. Tổ Sư thiền là pháp thiền
trực tiếp đi con đường thẳng, những pháp kia là đi con
đường gián tiếp. Nhưng cuối cùng cũng từ nghi đến ngộ.
Cho đến Tịnh Độ và các pháp thiền Đại thừa đều cũng
vậy, còn thiền Tiểu thừa chưa ngộ triệt để, vì họ ngộ
rồi còn chấp cái ngộ nên gọi là Niết Bàn Tiểu thừa.
Nói
84.000 pháp môn là ước số, chứ không phải thật nhất định
có 84.000 pháp môn. Ở Trung Quốc gồm có 5 phái (Thiền, Tịnh,
Giáo, Luật, Mật).
Tịnh
Độ phổ biến là Di Đà Tịnh Độ, nhưng có 2 thứ Tịnh
Độ khác là Dược Sư Tịnh Độ (thích hợp cho những người
cầu phước báo) và Đâu Suất Tịnh Độ, người ta còn hoằng
dương.
Quán
Sổ Tức mà người Tiểu thừa còn giữ theo đúng nguyên
thủy, còn người Đại thừa dạy Quán Sổ Tức thì không
phải, Quán Sổ Tức này không phải Đại thừa và cũng không
phải Tiểu thừa, tức là pháp thế gian thì không thể chứng
quả được. Vì lấy ý của mình thay cho ý của Phật để
dạy người, vậy làm sao cho đúng?
Pháp
của Nguyên Thủy thì đúng với thời Đức Phật, nhưng ăn
mặn lại không đúng. Aên mặn là pháp đi khất thực, người
ta cúng cái gì đều phải ăn hết.
Hỏi:
Như
Xã hội văn minh và xã hội kém văn minh thì pháp môn Tối
Thượng thừa thích hợp cho xã hội nào?
Đáp:
Phổ
biến là Tây phương tìm hiểu, nhưng Đông phương cũng tìm
hiểu. Không những nhà triết học, khoa hoa học tìm hiểu,
cho đến những người hoằng dương Tổ Sư thiền phần nhiều
dạy người ta tìm hiểu, cho nên tìm một người ngộ đạo
thật khó. Tuy thật khó có người ngộ đạo, nhưng đời nào
cũng có người ngộ đạo ở bên Thiền tông. Ở bên giáo
môn không thấy người ngộ đạo.
Giáo
Môn của Trung Quốc, Đại thừa có 4 tông: Thiên thai, Hiền
Thủ, Tam Luận, Duy Thức.
Thiên
Thai tông có Trí Giả đại sư ngộ, chính Trí Giả đại sư
nói: “Tôi chỉ ngộ được ngũ phẩm, nếu tôi không dẫn
chúng tu hành thì có thể ngộ cao hơn”. Từ Tổ thứ 3 Thiên
Thai tông là Trí Giả đại sư, sau này không thấy có ai ngộ.
Pháp sư tông Thiên Thai giảng kinh thuyết pháp bây giờ vẫn
còn, nhưng giảng giáo lý Thiên Thai, mà lại quy về Tịnh Độ.
Như Pháp sư Đế Nhàn giảng giáo lý Thiên Thai, nhưng thực
hành Tịnh Độ.
Bây
giờ ở Việt Nam cũng có Quán Tông Thiên Thai. Quán Tông Tự
của Ngài Đế Nhàn ở Tỉnh Chiết Giang Trung Quốc. Bên nay
cũng nói là Quán Tông Thiên Thai, nhưng giáo lý Thiên Thai còn
không biết.
Hiền
Thủ là Tổ thứ 3 của Hoa Nghiêm tông, vì đến Tổ thứ 3
mới hoàn thành tông Hoa Nghiêm, nên người ta gọi là Hiền
Thủ tông. Thiên Thai tông cũng vậy, do Trí Giả đại sư ở
núi Thiên Thai hoàn thành Pháp Hoa tông, nên người ta gọi là
Thiên Thai tông.
Duy
Thức là do Đường Tam Tạng (Huyền Trang) từ Ấn Độ truyền
qua, dịch kinh thì nhiều, nhưng không có nghe ai chứng quả.
Tổ
của Tam Luận tông là Ngài Long Thọ, sau này không nghe ai chứng
quả nữa.
Thiền
tông trong lịch sử Thiền tông Trung Hoa có 7.000 Tổ đều có
ghi tên họ và nói sự truyền thừa từ Tổ từ Tổ, làm sao
mà được ngộ? Như có người thấy con khỉ leo cây mà ngộ,
có người thấy hoa đào nở mà ngộ, có người đi bị vấp
té mà ngộ, có người bị bạt tai mà ngộ, có người nghe
hát mà ngộ,…
Như
Hòa Thượng Thủy Liêu là một cao Tăng đến yết kiến Mã
Tổ. Mã Tổ bảo đảnh lễ, Thủy Liêu vừa quỳ xuống thì
bị Mã Tổ đá nhào xuống đất liền ngộ.
Đệ
tử của Đạo Lam Thiền sư muốn từ giả đi chỗ khác, Đạo
Lam hỏi: Ông muốn đi chỗ nào?
Đệ
tử nói: Thầy không dạy Phật pháp, con xuất gia là muốn
giải thoát, mà không có Phật pháp làm sao giải thoát?
Thầy
nói: Nếu Phật pháp thì ở đây tôi cũng có chút đỉnh vậy.
Đệ
tử hỏi: Thế nào là Phật pháp của Hòa Thượng?
Đạo
Lam nhổ lông áo dài thổi trước mặt Thị Giả, Thị Giả
liền ngộ. Thị Giả tên là Hội Thông.
Công
án giống như vậy ở trong Thiền tông rất nhiều. Những người
thông giáo lý mà ngộ cũng có, như Nam Tuyền,… người không
biết giáo lý ngộ cũng có.
Tiểu
thừa cho là người nữ không thể ngộ được, nên các nước
Tiểu thừa không cho người nữ xuất gia. Còn trong Thiền tông
có nhiều người nữ ngộ đạo. Trong Đường Lối Thực Hành
Tham Thiền đề ra 3 đứa bé gái (8 tuổi, 13 tuổi, 15 tuổi)
ngộ đạo.
Phật
muốn mình ngộ, chứ không phải muốn mình hiểu. Nếu đuổi
theo cái hiểu đó thì không bao giờ ngộ được.
Cô
Trịnh 13, lúc 12 tuổi theo Sư Cô đi tham vấn Quy Sơn. Sư Cô
ấy đuổi theo lời nói, Trịnh 13 ngộ mà tự mình không biết.
Trưởng
lão Bảo Phước hỏi: Có phải Trịnh 13 gặp Quy Sơn không?
Trịnh
13 đáp: Phải.
Bảo
Phước hỏi: Quy Sơn đã tịch rồi sẽ đi về đâu?
Trịnh
13 không trả lời, đứng một bên thiền sàng.
Trưởng
lão khác hỏi: Ngày bình thường miệng nói như suối chảy,
nhưng hôm nay lại không nói?
Trịnh
13 nói: Nhúc nhích hai miếng da này làm được gì?
Trưởng
lão nói: Vậy không dùng hai miếng da thì làm được cái gì?
Trịnh
13 nói: Bịt miệng con chó lại.
Trịnh
13 theo đến Quy Sơn lễ bái rồi đứng dậy, Quy Sơn hỏi:
Sư Cô này ở đâu?
Sư
Cô nói: Ở bờ sông Nam Đài.
Quy
Sơn liền hét đuổi ra, rồi hỏi: Bà sau lưng Sư Cô ở đâu?
Trịnh
13 lại gần.
Quy
Sơn hỏi lại lần nữa.
Trịnh
13 nói: Đã trình cho Hòa Thượng rồi!
Quy
Sơn bảo Trịnh 13 và Sư Cô đi xuống Pháp Đường. Sư Cô
nói: Bình thường Trịnh 13 nói chuyện như kiếm bén, tại
sao Đại Sư hỏi không trả lời được?
Trịnh
13 nói: Khổ thay! Khổ thay! Uổng công lâu nay phải đi hành
cước, nên cởi áo xuất gia cho tôi mặc đi!
Sau
này đem chuyện kể cho La Sơn Thiền Sư (Thiền Sư đã ngộ
có danh tiếng): Tôi tham kiến Quy Sơn và trả lời như vậy
được không?
La
Sơn nói: Chẳng những không lỗi.
Sư
Cô nói: Lỗi ở chỗ nào?
La
Sơn nạt một tiếng.
Trịnh
13 nói: Cảnh thượng thiên hoa.
(Người
ngộ thì khác, nếu chưa ngộ hiểu theo bộ óc, như Sư Cô
đó).
Hỏi:
Thầy
đã nói trong sách lịch sử Thiền Tông Trung Hoa có 7.000 người
đã ngộ, khi một người được ghi là ngộ do chính người
đó nói là tôi ngộ hay do người khác xác nhận người đó
ngộ mới được ghi vào sử. Ví dụ nhớ lại Phật Thích
Ca thì Phật Thích Ca tự nói ta ngộ, chứ đâu có ai xác nhận
Phật đã ngộ?
Những
quyển sách của người Trung Hoa hay của người Nhật Bản
nói: Các đệ tử tham thoại đầu hay tham công án, rồi vô
gặp Thầy trình sở đắc của mình. Đầu tiên, Thầy nói
chưa ngộ gì hết. Lần thứ hai có thể gần, lần thứ ba
cũng chưa, lần thứ tư nói là ngộ. Vậy chuyện trong sách
do ông Thầy nói đã ngộ hay người đệ tử nói chính tôi
ngộ rồi?
Đáp:
Không
phải ai nói, trong Pháp Bảo Đàn, có người hỏi Lục Tổ:
Ngài ngộ chưa?
Lục
Tổ nói: Tôi chưa ngộ.
Trong
Nam Tuyền ngữ lục kể công án có Ông Quan hỏi Ngũ Tổ: Tại
sao 500 Tăng chỉ có Lục Tổ được truyền y bát, còn những
người kia không được truyền?
Ngũ
Tổ nói: 499 người kia đều biết Phật pháp, chỉ có Huệ
Năng là siêu việt nên mới được truyền.
Hỏi:
Sở
dĩ có câu hỏi là Thầy đã nói lịch sử Thiền tông có ghi
7.000 Tổ đã ngộ rồi. Vậy ai xác nhận những người ấy
đã ngộ?
Đáp:
Ai
xác nhận đâu! Ngày xưa, lời nói của chư Tổ không cho đệ
tử ghi, nhưng do tánh con người ham biết ghi lén, mới thành
Truyền Đăng Lục, lúc ấy vua niên hiệu là Cảnh Đức, còn
gọi là Cảnh Đức Truyền Đăng Lục. Trong này ghi 1700 công
án, những người ngộ này có thầy ấn chứng, nhưng sự ấn
chứng không nói ra. Như Quy Sơn và La Sơn ấn chứng Trịnh
13 đã ngộ, nhưng không có nói đã ngộ.
Có
chỗ ấn chứng là phần ít, còn phần nhiều không có ấn
chứng. Ngày xưa có người ra hoằng pháp không nói là được
truyền pháp của ai. Đến khi người ta mời trụ trì hoằng
pháp, đốt cây nhang đầu tiên mới nói “tôi được nhờ
thầy… mà được ngộ đạo”. Chính thầy ấy còn chưa biết,
khi gởi thư đến thầy nói rằng: “Con nối pháp của thầy”
thì thầy xem thư mới biết mình có đệ tử này sao! Vì lâu
quá nên quên. Có đệ tử gởi thư tới thì thầy đã tịch.
Hỏi:
Nếu
người đã kiến tánh mà không có thầy ấn chứng thì người
đó có thể tự biết không?
Đáp:
Thì
người đó tự biết, tức là cái biết đó không phải là
cái biết của bộ óc. Như Trịnh 13 đã ngộ thì tự biết,
còn Sư Cô chẳng biết gì. Vì hiểu biết thế gian cần có
cái để chứng minh, nhất là dùng logic để chứng minh. Logic
thì những việc tương đối mới chứng minh được. Kiến
tánh là phủ nhận tương đối, logic không thể chứng minh
được và người thường cũng không thể lấy cái gì để
chứng minh, tức là người ngộ với người ngộ tự biết.
Nhưng nói với người chưa ngộ thì không được.
Trong
lịch Thiền tông có Thị giả đã ngộ và có một Tăng đối
với Phật pháp cũng có giải ngộ cao, mà chưa kiến tánh,
nhưng ông cứ tưởng là mình đã ngộ. Hai vị cùng đi chung
nói chuyện với nhau, Thị giả biết ông đó chưa ngộ.
Đường
lên núi được nửa đường, Thị giả lượm một cục đá
để trên tảng đá, nói: Xin mời Sư huynh nói cho một chuyển
ngữ?
Tăng
ấy nhìn đi nhìn lại nói không được.
Nếu
người đã ngộ đâu cần phải nhìn đi nhìn lại! Như chuyện
Quy Sơn: Lúc ấy Quy Sơn đã ngộ làm Điển Tọa (coi nhà bếp)
trong thiền hội Bá Trượng.
Một
hôm, Bá Trượng đưa Quy Sơn trụ trì nơi núi Đại Quy, có
Thủ Tọa (chức dưới quyền trụ trì) không phục nói: Con
là Thủ Tọa không đi trụ trì, sao lại Quy Sơn được đi
trụ trì?
Bá
Trượng nói bây giờ thử: Không cho gọi là bình nước, vậy
gọi là cái gì?
Thủ
Tọa nói: Không được gọi là nút chai. (Tức là ông không
gọi bằng bình).
Rồi
hỏi Quy Sơn: Không được gọi bằng bình, vậy gọi cái gì?
Quy
Sơn đá ngả bình rồi đi ra.
Bá
Trượng nói: Phải không! Khác mà!
Người
chưa ngộ thì khác, lại đuổi theo lời nói, như không gọi
bằng bình thì gọi cái khác, còn Quy Sơn đá ngả bình đi
ra. Vừa rồi, Trịnh 13 đâu cần mở miệng! Trịnh 13 đã ngộ
được Quy Sơn ấn chứng, nhưng Sư cô cùng đi không biết
gì, còn trách Trịnh 13 bình thường nói chuyện hay mà nay không
trả lời được.
Bây
giờ, thiền Nhật Bản và thiền Đại Hàn, vì muốn chìu hàng
trí thức tìm hiểu, thành ra cho công án để tìm hiểu đáp
án. Công án là để cho ngộ là chấm dứt sự tìm hiểu, trái
lại tìm hiểu làm sao ngộ được? Mọi người đi học thiền
Nhật Bản, rồi về cũng dạy người ta đáp án! Cho nên, Tổ
Sư thiền hiện nay muốn chấm dứt.
Kim
Sơn và Cao Mân là 2 Thiền Đường nổi tiếng, ngày xưa Ngài
Lai Quả ở Thiền Đường Kim Sơn kiến tánh, bây giờ chỉ
còn một ông già ở đó tham thiền; Ngài Lai Quả ở Thiền
Đường Cao Mân không cho giảng công án. Lúc tôi ở Thiền
Đường Cao Mân một tháng, thấy đêm nào cũng có giảng công
án.
Hỏi:
Thưa
Thầy và quý vị, Tôi nghĩ như thế này, nếu sai xin quý vị
sửa giùm: Tôi nghĩ là Tổ Sư thiền có khung cảnh địa lý
mới, như một tôn giáo, một tư tưởng đổi chỗ sống lại.
Khi sinh hoạt cùng những người địa phương đây, tôi cảm
tưởng Tổ Sư thiền thích hợp với người Tây phương hơn
người Á Đông trong hoàn cảnh bây giờ.
Lý
do như thế này: Mấy hôm trước tôi có đi nghe thầy giảng
“những người đi chùa chỉ lạy Phật, ít có tin Phật”.
Tôi nghiệm lại rất đúng, vì tu Phật mà tin ở Phật là
mình có Phật tánh thì người ấy được tự tin. Nhưng phần
lớn những người tu Phật là khó chứng khó ngộ khó đắc,
nên không tự tin hẳn nơi chính họ. Người nào cũng mong đợi
người khác kéo họ lên thôi. Điều đó biểu lộ bên ngoài
nhiều lắm.
Xã
hội Á Đông chịu ảnh hưởng nhiều tư tưởng triết học
khác, thành ra một cá nhân đành phải chịu, như một cá nhân
mà mọi người biết đến như là một thành phần trong một
gia đình. Bên này, tôi quan sát một gia đình Việt Nam mới
qua, họ đối với con thì khác; gia đình ở bên này lâu, họ
đối với con lại khác.
Mỗi
con nít bên này ở lâu, được cư xử như một người lớn,
tức là cha mẹ tôn trọng nó, cha mẹ muốn làm điều gì có
liên quan đến nó, cũng phải hỏi nó. Điều đó tập con nít
có một sự tự tin rất cao. Như bằng tuổi của tôi hay nhỏ
hơn tôi ít tuổi thì từ nhỏ đã nghe lời cha mẹ rồi. Nếu
cha mẹ nói mà không nghe thì bị đánh liền tại chỗ, đi
đến trường mà cải lời thầy giáo thì cũng bị đánh liền
tại chỗ. Nên mất đi sự tự tin rất nhiều.
Mình
đi chùa nghe những người hay thầy nói: Đức Phật Thích Ca
nói “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Đâu
ai dám tin như vậy, nhiều người cho là Phật Thích Ca nói
cho mình đừng sợ, mình vui vậy thôi, làm sao mình có Phật
tánh được? Cả tỷ năm mới có ông Phật Thích Ca. Chính
mình không tự tin có thể dẫn đến nhiều điều nguy hiểm.
Thầy
đã nói hôm trước, phần lớn người đi chùa phỉ báng người
xuất gia, coi thường Phật Thích Ca, bên ngoài nói tin ông,
nhưng trong bụng thì không tin. Đúng là không dám tin, vì không
dám tin mình. Có thể quan niệm hơi sai lầm do một số kinh
sách hay một số người giảng dạy. Người nghe pháp cảm
tưởng sai lầm rằng: Phật Thích Ca nói “chúng sanh đều
có Phật tánh” thì người nào cũng nghĩ mình là OK, nghĩ
mình tu được giác ngộ như Phật Thích Ca vậy.
Một
số sách nói Phật là toàn trí, toàn bi, toàn năng. Toàn trí
là hiểu hết mọi chuyện, vậy khiến cho con người sợ hãi
hơn nữa. Họ nghĩ mình sao hiểu như Phật được? Làm sao
ví mình như Quán Thế Aâm Bồ Tát? Họ ngồi nghe tất cả
mọi chuyện trên đời, không ai dám cho mình bằng Phật Thích
Ca! Chính như vậy họ không dám tin vào họ.
Có
lẽ, một số sách đã viết nhầm làm cho người ta sợ nên
không tin. Tôi có người bạn nói như thế này nhưng có thể
sai, nếu sai nhờ thầy và các vị nói ra, tôi sẽ chỉ lại
người bạn. Người bạn nói “Phật Thích Ca là Phật Thích
Ca, Phật là Phật”. Nếu nghĩ lại có khi mình làm là một
thói quen thôi.
Như
đi chùa nếu mình quên thì không hiểu tại sao mình đi chùa?
Phải chi mình đi chùa đều ý thức được tại sao mình đến
đây, tại sao mình hành thiền? Tại sao mình nghe Thầy giảng?
Tại sao nói chuyện với bạn hữu? Nếu vậy có lợi
cho mình nhiều lắm.
Lúc
đó mình mới hiểu có một lý do khiến cho mình đi chùa, nhiều
khi biến việc mình thành thói quen, như bình thường đi ăn
hoặc chiều thứ sáu thay vì đi nhảy đầm mà đến
đây thiền thì cái việc ấy mất giá trị. Tôi nghĩ những
điều đó tu theo đạo Phật, nhất là tu Tổ Sư thiền, mình
làm theo thói quen thì mình giết chết đạo Phật.
Những
người bạn Mỹ đây, họ nắm cốt lõi tư tưởng đạo Phật
rất nhanh, họ cũng nghĩ như mình, họ cũng có tự tin. Tôi
nghĩ mình so với Phật Thích Ca còn rất dở. Phật Thích Ca
đã tìm ra con đường, phát giác ra những kỹ thuật, để
chỉ cho mình. Trước Phật Thích Ca chưa ai thấy phương pháp
nào hết, mà ông đã ngồi tìm ra cái đó để ông giác ngộ.
Bây
giờ, mình không cần đi tìm, vì ông đã tìm sẵn cho mình
rồi, mình không dám đi theo thì đúng là quá dở thật! Tôi
nghĩ những người Hoa Kỳ với bản chất họ dám làm ẩu,
dám làm mà họ không bị lệ thuộc bởi các việc chung quanh.
Trong xã hội Hoa Kỳ, mỗi cá nhân đều xác nhận như là một
cá nhân: Tôi đúng tôi sai cũng là tôi.
Người
Á Đông trọng lễ, sống khuôn khổ quá! Ví dụ gia đình tôi
chẳng hạn: Cha mẹ tôi đi chùa theo Tiểu thừa, Đại thừa,
cúng cầu an, cầu siêu. Nếu tôi không đi cầu an, cầu siêu
thì cha mẹ tôi chửi tôi. Nể cha mẹ, tôi không dám tu theo
Tổ Sư thiền. Vậy quá nhiều cái ràng buộc.
Vừa
rồi, Thầy nói “Tổ Sư thiền có thể chấm dứt dần”.
Tôi nghĩ ở phương Đông nó ngủ đi một thời gian, nhưng
có thể nó chuyển qua phương Tây. Cho đến khi nào người
phương Đông họ lấy lại tự tin chính mình. Tôi nghĩ nó
sẽ trở lại, như trước Phật Thích Ca đâu có ai biết Tổ
Sư thiền? Rồi Phật Thích Ca cũng phát giác ra Tổ Sư thiền
vậy! Thành ra tôi không có bi quan gì cả.
Đáp:
Lời
ông nói không phải trung tâm tư tưởng của Phật Thích Ca.
Trong Đại Thừa Tuyệt Đối Luận đều phủ nhận những điều
ông nói, vì những điều này còn ở trong tương đối. Phải
phủ định hết tương đối thì tuyệt đối mới tự hiện.
Bây giờ tạm đặt tên là tuyệt đối, nhưng không phải đối
với tương đối mà nói tuyệt đối, vì không có danh từ
để đặt và không có chuyện để thực hành.
Nói
Phật Thích Ca tìm ra đường lối thực hành, sự thật thì
không có. Có chỉ phủ định tương đối đến cùng không
còn cái gì để phủ định thì cái tuyệt đối mới tự hiện.
Nếu có đường lối để thực hành là do có bệnh chấp.
Chính Phật Thích Ca nói trong kinh Lăng Nghiêm: “Phàm có lời
nói đều chẳng nghĩa thật”. Kinh Kim Cang nói: “Ai nói Phật
có thuyết pháp là phỉ báng Phật” và “không có pháp nào
là vô thượng Bồ Đề, vì không chứng đắc nên Phật Nhiên
Đăng thọ ký cho tôi sau này thành Phật hiệu Thích Ca Mâu
Ni”.
Vừa
rồi tôi giảng những công án để cho người ta rõ được
tất cả những hiểu biết đều không liên quan đến sự chứng
ngộ. Những người viết sách và những cảm nghĩ của ông
vừa trình bày đều là sự hiểu biết của ý thức.
Nếu
theo Bát Nhã Tâm Kinh thì không có toàn năng, không có toàn
trí,… và dùng 17 chữ “vô” để quét sạch, và thêm 2 chữ
“viễn ly” quét sạch tất cả không còn dấu tích, tức
là quét luôn cứu kính Niết Bàn.
Mỗi
người đều sẵn có vô sở hữu, tất cả tương đối đều
là sản phẩm của bộ óc. Nếu dùng sản phẩm của bộ óc
thì không thể đến chỗ tuyệt đối. Cho nên, Bát Nhã Tâm
Kinh nói: “Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý”, tức là không
có lục căn, không có lục trần, không có lục thức.
Thuyết
pháp vốn là không có pháp để thuyết, vì có bệnh giả của
chúng sanh nên Phật lập ra thuốc giả để trị. Đáng lẽ,
tâm pháp không có tướng gì, nhưng phải dùng tướng để
hình dung cái tâm (ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng,
thọ giả tướng). Trong kinh Kim Cang, kinh Lăng Già, kinh Viên
Giác đều có tứ tướng.
Tứ
tướng có 2 thứ:
-
Mê thức tứ tướng của phàm phu: Ý thức của bộ não.
-
Mê trí tứ tướng của bậc Thánh: Bậc Thánh đã chứng quả,
nhưng còn chấp quả cho là ta chứng. Tuy chứng đến Niết
Bàn mà trụ nơi cảnh giới này thì vẫn còn mê trí, tức
là bỏ ngũ uẩn ngã (thân này) lại ôm Niết Bàn (Niết Bàn
của ta chứng) thì còn ngã tướng vi tế.
Tất
cả Phật pháp đều hiển bày cái Tâm, mà cuối cùng cái Tâm
cũng phủ định. Ngài Nam Tuyền và Mã Tổ đều nói: “Tâm
như người múa rối”. Nếu Tâm còn phủ định thì lấy gì
để nói! Nên Ngài Nam Tuyền nói: “Tâm chẳng phải Phật,
Trí chẳng phải Đạo”.
Hỏi:
Thế
nào là vô tu vô chứng?
Đáp:
Ngộ
triệt để thì mới biết là vô tu vô chứng. Nói tu là dứt
tập khí thế gian đến chứng quả thì bớt tập khí xuất
thế gian, tất cả tập khí hết thì mới ngộ cuối cùng,
mới biết nó vốn sẵn vậy: “Không phải tu mới thành, không
phải tu mới đắc”, cho nên mới nói là vô tu vô chứng.
Vô
tu là không phải tu mới thành Phật, người ta tưởng là kiến
tánh thành Phật, đến chừng ngộ mới biết là không có Phật
để thành. Phật nói trong kinh Viên Giác: “Tất cả chúng
sanh đều đã thành Phật”. Không những người thường không
tin, mà Khuê Phong Tông Mật cũng không tin và cho là người
dịch lộn chữ “đủ” thành chữ “đã”, nên ông dịch
là: “Tất cả chúng sanh đầy đủ tánh Phật”.
Phật
trong kinh Viên Giác dùng quặng vàng để giải thích thêm: Vàng
thật trong quặng thì đã thành sẵn, vì lộn với đất cát
tạp chất nên không thấy vàng thật. Nhưng luyện bỏ đất
cát tạp chất thì vàng thật mới hiện ra. Nếu trong quặn
không có vàng thật thì luyện cách mấy cũng không có vàng
thật hiện ra.
Luyện
gọi là tu, nhưng sự thật là không do tu, tại nó đã thành
sẵn, không phải tu mới thành. Cho nên mới nói là vô tu vô
chứng. Phật không phải tu mới có, tức là đã có sẵn từ
hồi nào đến giờ nên gọi là vô sanh. Người chứng quả
gọi là ngộ pháp vô sanh. Bây giờ mình nói tu là chấp có
sanh mới có chữ “tu”.
Nếu
pháp vô thỉ vô sanh lấy cái gì để tu? Nếu dùng lời nói
thì không phải rồi. Bản tâm không lấy cái gì để thí dụ
được. Như tôi đang nói và các vị đang nghe mà không có
vô sở hữu này thì nói chuyện với nhau không được, nhìn
với nhau cũng không được. Nó thực dụng nhưng người ta
không chịu, lại kiến lập cái khác như nói “hư không quảng
đại”. Không có hư không, vậy lấy cái gì để quảng đại?
Quảng đại thì kiến lập hư không, nên mới nói là hư không
quảng đại.
Người
ta cho tâm năng kiến để kiến tự tánh, tự tánh không phải
sở kiến, tự tánh bất nhị không có năng sở. Như nói từ
vô thỉ đến nay, vô thỉ làm sao đến nay được?
Chư
Phật chư Tổ dùng lời nói là bất đắc dĩ, vì theo thế
lưu bố tưởng, mà không có trước tưởng. Như chúng sanh
gọi trâu ngựa, nhà cửa, thế giới,… đều là thế lưu
bố tưởng sanh ra trước tưởng. Bậc Thánh cũng nói như vậy,
mà không có tâm chấp trước. Bậc Thánh và phàm phu chỉ khác
vậy thôi.
Hỏi:
Bậc
Thánh và phàm phu có phải hai thứ chăng?
Đáp:
Vốn
không có hai, tại sanh bệnh giả nên mới có hai, chứ không
phải bệnh thật, nếu bệnh thật thì trị không được.
Bây
giờ không có cái gì để xả, không cái gì để tu. Như nói
tâm như hư không, vậy hư không làm sao tu? Do mình có tâm chấp
nên không ứng dụng được bản tâm. Nếu mình không còn có
cái gì để chấp thì bản tâm tự hiện.
Computer
dùng năng lượng của tâm làm ra rất hay, nhưng người ta không
nhìn nhận là của tâm. Tâm vốn trống rỗng, nhưng phải nhờ
cái trống rỗng để dùng. Mình ăn cơm mặc áo đều phải
nhờ cái này, nhìn nhau nói chuyện với nhau đều phải nhờ
cái trống rỗng này. Cái trống rỗng này là thực tế mình
đang dùng, nhưng tại mình không chịu nhìn nhận, lại muốn
tìm lý lẽ cao siêu.
Hiểu
biết của bộ óc muốn tìm sự bắt đầu. Giả sử có bắt
đầu thì bắt đầu phải có chỗ là không gian, có lúc là
thời gian. Vậy trước thời gian có bắt đầu hay không? Không
thể nói trước bắt đầu không có thời gian. Nếu nói trước
bắt đầu còn có thời gian thì không phải bắt đầu. Do mình
chấp thật nên mới mê.
Theo
sự hiểu biết của mình để truy cứu cũng không thể có
nghĩa lý bắt đầu. Như con người không có bắt đầu tức
là không có đời thứ nhất thì không có đời thứ nhì và
không có đời thứ ba,… cho đến muôn tỷ đời mình, vậy
từ đâu mà có vậy? Tại tâm chấp của mình mới thành lập
cái ta này, mới dùng cái ta này để hiểu biết cái này cái
kia.
Nhưng
cái này cái kia đều không có sự bắt đầu, tức là lấy
cái gì để hiểu? Cái năng hiểu là ta cũng không có sở hữu,
vạn vật cũng không có sở hữu. Vì không có bắt đầu thì
vạn vật cũng không có.
-
Cuối đời nhà Minh có vua Vạn Lịch người đẹp trai,
thông minh; năm 19 tuổi, ông đến Phật Hưng Tự thọ giáo
với Sư Đại Trì, rồi Sư đặt cho ông pháp danh Hải Minh.
Một
hôm, Hải Minh nghe giảng kinh Lăng Nghiêm đến câu: “Tất
cả chúng sanh chẳng biết chân tâm thường trụ, bản tánh
thanh tịnh sáng tỏ. Vì dùng vọng tưởng nên mới thấy tất
cả có luân hồi”. Ông nghe rồi cứ phát nghi hoài, không
thể hiểu được, nên mới đi hỏi các vị tôn túc, mà các
vị cũng không giải quyết cái nghi ấy.
Ông
quyết tâm trong 7 ngày phải ngộ mới được, đến ngày thứ
5, ông ngồi tham thiền chỗ cao trên núi, phía dưới vực thẳm;
vào lúc 2 giờ, ông đến giai đoạn người với cảnh đều
quên, trước mắt chỉ thấy thế giới bằng phẳng, ông lại
rơi xuống vực thẳm, chân trái bị thương thì cái nghi trước
kia tan rã. Ông lớn tiếng nói: “Oan uổng! Oan uổng!”, tức
là đã ngộ rồi, mà ông hạn chế 7 ngày, nhưng chưa đến
7 ngày thì đến ngày thứ 5 được ngộ.
-
Phật Đăng Thuần phát nguyện không ngồi, không đứng chỉ
đi đến khi nào ngộ mới thôi. Đi đến lúc rất mỏi mệt,
dựa vào vách tường không biết. Khi thức dậy tự mình trách
mình và đánh mình, ông đi không gần vách tường cho đến
chân sưng, được 49 ngày thình lình ngộ.
Hỏi:
Thế
nào là tháo đinh gỡ chốt?
Đáp:
Tháo
đinh gỡ chốt, tức là người tham học chấp cái gì thì Tổ
phá cái đó. Như người ta chấp Phật thì Tổ dạy chém Phật,
người ta chấp ma thì Tổ dạy chém ma. Có người hỏi: Làm
sao chém Phật được? Kỳ thật là chỉ chém tâm chấp Phật,
Phật chỉ là một danh từ, vậy làm sao chém!
Hỏi:
Tại
sao Tổ không có phương pháp nào khác để dạy người, mà
chỉ dạy tham câu thoại đầu?
Đáp:
Đó
cũng là tháo chốt, nếu không tham thoại đầu thì ý thức
hoạt động không bao giờ ngưng, mà cơ xảo của Tổ làm cho
ý thức thình lình ngưng thì sát na đó sẽ được kiến tánh,
vì lìa được ý thức. Cơ xảo của Tổ là đánh, hét, mắng,…
làm cho người tham học phát nghi. Nhưng sau Truyền Đăng Lục
ra đời thì những cơ xảo của Tổ lại ghi trong ấy, làm
cho người tham học biết, nên không phát nghi được. Sau này
bất đắc dĩ Chư Tổ mới dạy tham thoại đầu, công án.
Hỏi:
Con
có những thắc mắc khác, mà con muốn đeo đuổi theo tìm hiểu
thì có nên không?
Đáp:
Tìm
hiểu là sai lầm, tham thiền là không cho tìm hiểu. Tác dụng
nghi tình là ngăn tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết.
Vì mình từ xưa đến giờ hay dùng bộ óc để tìm hiểu,
hoặc là trước kia hiểu rồi quên, phải ghi nhớ lại, nhớ
lại là muốn biết.
-
Mục đích chúng con đến đây là tìm hiểu thì như thế nào?
-
Các vị đến đây tìm hiểu là lòng tin tự tâm của các vị
chưa đầy đủ, cho nên có thắc mắc để hỏi. Tôi giải
thích là để tăng cường lòng tin tự tâm cho các vị, chứ
không phải tôi nói giáo lý cao siêu để các vị hiểu. Không
có cái gì để hiểu được, chỉ là người nào chấp Phật
thì phá chấp Phật, chấp Bồ Tát thì phá chấp Bồ Tát, tức
là chấp cái gì thì phá cái đó.
Hỏi:
Có
phải thân trung ấm là phải chết 7 lần giống nhau, ví dụ
như đụng xe 7 lần?
Đáp:
Không
phải, thân trung ấm có 7 ngày một lần sanh tử, chứ không
phải chết đi sống lại 7 lần. Trung ấm: Ấm là ngũ ấm
(sắc, thọ, tưởng, hành, thức) này chết, thân ngũ ấm sau
chưa sanh, ở giữa trước ngũ ấm và sau ngũ ấm gọi là trung
ấm. Nói đến trung ấm thì không có ấm (không có thân chỉ
là cái bóng), cái bóng mà người không biết Phật pháp gọi
là linh hồn, người biết Phật pháp gọi là thần thức (ý
thức).
Thân
trung ấm có 7 ngày sanh tử một lần, người nào chết không
phải đều có thân trung ấm. Không có thân trung ấm thường
là người chết đi đầu thai liền, tức là giờ phút chết
cũng là giờ phút đi đầu thai. Rất ít có thân trung ấm.
Làm thiện nhiều hơn làm ác thì sanh nơi 3 đường thiện,
làm ác nhiều hơn làm thiện thì sanh nơi 3 đường ác. Nghiệp
thiện và nghiệp ác bằng nhau không phân biệt sanh đường
thiện hay đường ác, nên mới có thân trung ấm.
Thân
trung ấm có 7 ngày sanh tử một lần, nếu thân trung ấm đó
hướng về thiện một chút thì sanh nơi 3 đường thiện, nếu
thân trung ấm hướng về ác một chút thì sanh nơi 3 đường
ác. Nếu chưa quyết định được thì thân trung ấm thêm 7
ngày nữa (có thể thêm 7 lần) thì mới đi đầu thai. Cho nên,
người ta làm tuần thất là muốn hy vọng thân trung ấm đi
lên. Vì người ta không biết cúng gà, vịt,… làm cho thân
trung ấm chịu liên lụy phải đi xuống đầu thai vào 3 đường
ác. Đốt vàng mã là muốn vong linh người đó ở dưới 3
đường ác mà dùng, còn 3 đường thiện không có những thứ
ấy.
Chuyện
có thật ở Đài Loan: Lúc giải phóng nước Trung Quốc, Ung
Bá Huy được 40 tuổi, từ Trung Quốc sang qua Đài Loan quy y
Pháp sư Nam Đình. Pháp sư Nam Đình thuyết pháp muốn chứng
tỏ có sự nhân quả luân hồi, nên nói: “Tôi có một đệ
tử biết được 3 kiếp, kiếp đầu tiên làm Giáo Viên dạy
học ở thôn quê, kiếp sau đầu thai thành con heo, rồi kiếp
sau nữa mới đầu thai người (có một tay giò heo). Tôi không
tiện nói ra, các vị ra vô chùa cũng có thể biết”.
Có
một người ngồi chung với Ung Bá Huy ăn cơm, người đó thấy
có một cái tay của Ung Bá Huy bao lại bằng cái túi, khi bới
cơm thấy khó khăn, nên người đó muốn bới cơm giùm, hai
người giành qua giành lại làm cho cái túi của tay sút ra thấy
bàn tay giò heo, còn lại là tay người. Ung Bá Huy nói: “Đừng
nói”, rồi ông lấy túi bao tay lại.
Lúc
còn hai người, người đó hỏi: Ông phải đệ tử của Ngài
Nam Đình không? Trước kia ông có đầu thai thành con heo phải
không?
-
Ban đầu Ung Bá Huy không chịu nói.
-
Người đó lại nói: Tôi đã thấy rồi, nếu ông không nói
thì tôi cũng biết vậy!
-
Ung Bá Huy nói: Kiếp đầu tiên tôi dạy học ở thôn quê,
lúc chết nhưng không biết mình chết, cứ đi lang thang ngoài
đường mà không biết đói. Có một ngày gió bấc thổi rất
lạnh, tôi đi ngang một cái nhà lớn cửa mở sẵn, vô trong
nhà để tránh gió. Trong nhà không có ai, căn nhà trống rỗng
có mười mấy cái áo treo ở vách tường. Trời lạnh nên
không chịu nổi mới lấy một cái áo mặc vào thấy ấm,
ngủ hồi nào không hay.
Khi
thức dậy thấy mình nằm với những con heo nhỏ, cùng với
con heo mẹ thì biết mình đã đầu thai thành con heo. Nhưng
biết rõ ràng không quên gì cả, nghĩ rằng nếu người ta
nuôi lớn sẽ làm thịt thì khổ lắm! Vậy phải làm sao? Quyết
định không ăn uống để tự tử.
Người
chủ heo tưởng heo bệnh, mới lấy thuốc cho uống, nhưng heo
không chịu uống. Rồi qua 7 ngày thì heo chết, cũng khôi phục
thân trung ấm lại, đi lang thang ngoài đường gặp gió bấc,
đi ngang nhà lớn, rồi vào nhà thấy treo những cái áo trên
vách tường. Lúc lạnh, muốn lấy áo để mặc, khi tay vừa
đụng cái áo thì nhớ “kỳ trước ăn cắp áo phải thành
con heo, bây giờ muốn thành heo nữa sao”? Nên tay rút lại.
Lạnh quá chịu không nổi bị chết giấc, khi thức tỉnh,
nghe người ta nói sanh con trai, thấy người mẹ nằm kề bên
đứa bé tay giò heo (Ung Bá Huy).
Nếu
không ăn cắp là thiện, còn ăn cắp là ác. Cho nên, ăn cắp
áo phải đầu thai thành heo, không ăn cắp áo chịu lạnh chết
nên đầu thai thành người. Nhưng có ý muốn ăn cắp áo, tay
giống như giò heo. Ung Bá Huy được 62 tuổi bệnh rồi chết
ở bệnh viện Diêm Vương. Sau khi ông chết có đăng báo Nguyệt
San Phật Giáo Đài Loan.
Thường
thường người ta nói chết là thành quỷ, nhưng không phải.
Mình tạo nghiệp quỷ mới đầu thai thành quỷ, nếu làm quan
ở đạo quỷ thì cũng thuộc quỷ, chẳng qua họ có phước
nên mới làm quan ở đạo quỷ thôi. Làm quan ở cõi người
mà không còn làm quan nữa thì đâu khác gì người thường!
Hỏi:
Nếu
đến 7 lần sanh tử mà thân trung ấm không đầu thai thì sẽ
ra sao?
Đáp:
Thường
thường đến 7 lần sanh tử thì nghiệp của thân trung ấm
đã nghiêng về một bên. Như con cháu làm những việc ác đem
cúng cho thân trung ấm thì đã nghiêng về bên đường ác.
Hiểu
biết của ý thức, nếu giải thích bất cứ cái gì thì không
có lý. Vì có thân nên xúc giác biết nóng lạnh, có thể
lúc nằm chiêm bao cảm thấy nóng, nhưng thời tiết hiện tại
thì lạnh, như vậy là chuyện thường. Cho nên lấy ý thức
để so sánh không được.
Hỏi:
Trong
49 ngày mà con cháu hướng về Phật pháp thì người chết
có bớt tội không?
Đáp:
Trong
49 ngày của người chết, mà con cháu cúng chay không tạo tội
thì thân trung ấm người chết ảnh hưởng một chút sẽ sanh
nơi đường thiện. Thân trung ấm không biết cũng không ảnh
hưởng, nhưng thường thường nhà có cúng thì nó lại thấy
ham thích những điều không tốt, nên nghiệp ác thêm vào thân
trung ấm.
-
Thay vì cúng chay, mà dùng số tiền ấy làm việc bố thí,
phóng sanh thì như thế nào?
-
Làm như vậy có ích hơn. Vì làm việc bố thí, phóng sanh thì
trung ấm thấy mừng, tuy không có thân trung ấm đã đi đầu
thai, nhưng mà cũng có ích lợi. Nếu do vì ngày giỗ mà
con cháu bố thí, cúng dường hồi hướng cho người chết.
Mặc dầu, người chết đi đầu thai, nhưng cũng gieo hạt giống
tốt đến người chết thì người chết cũng được lợi
ích.
Nhưng
không biết đói vì nó không có thân, thành ra khó giải thích.
Cũng như trong chiêm bao trải qua thời gian lâu không ăn, vậy
tại sao nó không biết đói? Như người ta cúng giỗ một năm
chỉ có một lần hay cúng những thứ khác, ví dụ một năm
có thể là 10 lần. Như vậy, một năm nó chỉ ăn 10 lần sao?
Huệ
Trì nhập định hơn 700 trăm năm không thấy đói, khi xuất
định ông thấy có một chút thời gian. Theo bác sĩ nghiên
cứu người nhập định không chết, thấy như vậy vô lý;
vì khi người nhập định thì các đường máu không còn chạy,
tim ngừng đập. Nếu tim ngưng đập thì bác sĩ cho là người
đó chết. Tim ngưng đập, máu ngưng chảy trải qua hơn 700
năm mà người đó không chết! Theo sinh lý học thì giải thích
không được.
Ngài
Hư Vân ở Thái Lan nhập định 9 ngày, ở núi Chung Nam nhập
định 15 ngày và trong khi nhập định Ngài bị đánh, trải
qua 11 ngày, người ta tưởng Ngài đã chết.
-
Hòa thượng Quãng Khâm ở Phúc Kiến nhập định, các chăn
trâu thấy Ngài ngày nào cũng ngồi đó, tưởng Ngài đã chết.
Nhưng đến rờ thân Ngài còn nóng, nhờ Thiền sư làm cho Ngài
xuất định, hỏi ra thì biết nhập định 4 tháng.
-
Đời nhà Đường nước Trung Quốc, có Huỳnh Đình Kiên 26
tuổi thi đậu tiến sĩ làm quan. Ngày sanh nhật của ông tổ
chức tại Dinh Huyện. Lúc ngủ trưa, ông thấy chiêm bao, một
mình đi ra cửa sau theo con đường thôn quê, mà không có vệ
binh đi theo, gặp một ngôi nhà có một bà già mời vô ăn
cơm, ăn xong rồi trở về thì thức dậy nghĩ lại giống như
thật vậy. Như mùi đồ ăn trên miệng còn lại giống như
mới ăn xong.
Ở
trong lòng nghi chuyện vừa rồi có phải như vậy không? Nên
một mình không cho ai biết, không có vệ binh đi theo, đi theo
con đường thấy trong chiêm bao. Thật cũng có con đường đó
và cũng gặp bà già đó, mới hỏi bà già: Hôm nay nhà bà
có làm gì không?
-
Bà già nói: Có.
-
Huỳnh Đình Kiên hỏi: Làm việc gì vậy?
-
Bà già nói: Đám giỗ con gái, con gái tôi đã chết được
26 năm. Lúc con gái tôi còn sống không có lấy chồng, tu ở
nhà; trước khi lâm chung, có cái rương tự nó khóa lại, ở
trong đó để thứ gì cũng không biết, rồi nói với tôi kiếp
sau sẽ lại mở cái rương này.
Huỳnh
Đình Kiên nghe đến chỗ này thì nhớ lại kiếp trước của
mình là con gái của bà già này.
Huỳnh
Đình Kiên hỏi bà già: Chìa khóa bà có biết để đâu không?
Bà
già nói: Không biết.
Huỳnh
Đình Kiên nói: Tôi biết, rồi tự ông đi lấy chìa khóa mở
cái rương ra thì ở trong đó đều là văn chương, văn bằng
tú tài, văn bằng cử nhân, văn bằng tiến sĩ giống như văn
bằng của ông. Bà già chỉ có một mình nên Huỳnh Đình Kiên
đem bà già về nhà của ông nuôi.
Huỳnh
Đình Kiên làm chức Thượng thư bằng chức Bộ trưởng bây
giờ. Ở trong từ điển Từ Nguyên có ghi.
Người
có tu mới có cảm ứng như vậy, còn người không tu thì đâu
biết. Nhưng ông Huỳnh Đình Kiên cũng có nhân duyên gặp Thiền
sư Huỳnh Long được kiến tánh.
Thân
nhân cảm ứng, tôi có gặp hai chuyện:
-
Lúc ấy, tôi làm nhà báo Viễn Đông, ông chủ nhiệm có đứa
con mười mấy tuổi đi tắm sông bị chết chìm, người ta
đi tìm không được xác. Ba ngày sau xác đứa bé nổi lên,
người ta buộc dây tạm thời vào bờ sông, rồi cho cha mẹ
y biết.
Khi
cha mẹ đến cái xác thấy con mắt, lỗ tai, lỗ mũi đều
chảy máu. Nếu đã chết qua ba ngày thì máu đông lại, vậy
làm sao chảy máu ra được? Người khác đến thì không chảy
máu, mà cha mẹ lại thì chảy máu.
-
Ông đánh xe ngựa bị Tây bắn chết rồi bỏ xuống sông,
mất tích mấy ngày mà vợ con không biết. Mấy ngày sau cái
xác nổi lên trên sông, người ta đem lên trên cầu và nhiều
người đến xem. Khi người vợ đi ra vừa thấy mặt thì các
lỗ mũi, lỗ tai, lỗ miệng đều chảy máu.
Nếu
theo nghĩa lý thì làm sao giải thích được? Máu đã đông
rồi, vậy làm sao chảy được?
Hỏi:
Người
tu Tịnh Độ thì cầu về Tây Phương, còn người tu Tổ Sư
thiền thì như thế nào?
Đáp:
Người
tu Tổ Sư thiền thì tin Phật tánh khắp không gian không có
khứ lai, nên gọi là Như Lai đúng như bản lai. Như vậy đâu
cần phải đi đâu! Nếu có đi đâu thì không phải bản lai.
Còn
khắp thời gian thì không có thỉ chung (không có bắt đầu
và cuối cùng), nên gọi là Niết Bàn (không sanh diệt). Nếu
có sanh phải có bắt đầu, có bắt đầu phải có cuối cùng.
Vì bản thể không có bắt đầu và không có cuối cùng.
Người
tu Tịnh Độ không tin tự tâm mình có năng lực như vậy,
họ chỉ chấp thân này, cho mình có linh hồn để cầu vãng
sanh. Người tin tự tâm thì bắt đầu tham thiền, còn người
tu Tịnh Độ đến khi vãng sanh nhờ Phật A Di Đà dạy tham
thiền là từ nghi đến ngộ (kinh Đại A Di Đà). Bất cứ
pháp môn nào cuối cùng cũng phát nghi rồi đến ngộ.
Hỏi:
Mình
tu đến mức độ nào được giải ngộ rồi kiến tánh?
Đáp:
Giải
ngộ là cái hiểu của bộ óc, không hiểu của bộ óc gọi
là phiền não chướng, hiểu cũa bộ óc là sở tri chướng.
Phiền não chướng là sự chướng, sở tri chướng gọi là
lý chướng. Tuy giáo lý cao nhất cũng là chướng, có chướng
nên không được kiến tánh thành Phật.
Hỏi:
Tu
Tịnh Độ khi chết được vãng sanh, còn tham thiền chưa kiến
tánh khi chết sẽ như thế nào?
Đáp:
Nếu
mình tham thiền chỉ một ngày, mà ngày mai chết. Nhưng tham
thiền là chánh nhân, chánh nhân đã gieo thì chánh quả sẽ
đến, vì nhân quả không bao giờ xê xích. Người tu Tịnh
độ tuy được vãng sanh, nhưng còn phải học tham Tổ Sư thiền
nữa. Như vậy người tu Tịnh Độ mới bắt đầu tham thiền,
mà người tham thiền trên thì đã tham được một ngày.
Như
người hạ phẩm hạ sanh phải trãi qua 12 đại kiếp mới
được từ hoa sen sanh ra. 12 đại kiếp biết bao lâu? 1 đại
kiếp = 4 trung kiếp, 1 trung kiếp = 20 tiểu kiếp, 1 tiểu kiếp
= 16 triệu năm (16 x 20 x 4). 1 ngày ở cõi Cực Lạc bằng
400 ngày ở cõi Ta Bà. Người tham thiền chỉ có một ngày
thì đã hơn nhiều người được hạ phẩm hạ sanh. Vì chánh
nhân đã gieo thì chánh quả sẽ đến, kiếp sau mình thì sẽ
đi tiếp.
Hỏi:
Người
tham thiền chỉ một ngày chết phải đi đầu thai, còn người
tu Tịnh Độ sau khi chết có vị nào đó đến hướng dẫn
thần thức đi đầu thai đến chỗ tốt. Như vậy là thế
nào?
Đáp:
Diệu
Cao Thiền Sư tham thiền rất dũng mãnh, nhưng ngồi tham thiền
lại buồn ngủ. Ông lên ngồi trên tảng đá, phía dưới đó
là vực thẳm, lúc ngồi tham thiền cũng buồn ngủ rồi té
xuống vực thẳm, nhưng lại có người đỡ. Ông hỏi: Ai cứu
tôi vậy?
-
Đáp: Hộ Pháp Vi Đà.
Thấy
có người cứu nên có ý kiêu căng làm lấy vui và nghĩ: Khắp
thiên hạ có ai bằng như tôi!
-
Hộ Pháp Vi Đà nói: Ông nổi miệm kiêu căng, nên 20 năm tôi
không hộ pháp cho ông nữa.
-
Diệu Cao nghĩ “lần này có té xuống không có ai
cứu thì phải chết, nhưng chẳng thà chết cũng ngồi nữa”.
Ông đã tự sám hối, rồi ngồi tham thiền. Lúc ngồi tham
thiền lại buồn ngủ té xuống vực thẳm, rớt chưa tới
đất đã có người đỡ lên.
Ông
hỏi: Ai cứu tôi vậy?
-
Đáp: Hộ Pháp Vi Đà.
-
Ông nói: Vừa rồi ông nói 20 năm không hộ tôi, mà tại sao
bây giờ lại hộ?
-
Hộ Pháp Vi Đà nói: Ông khởi lên một niệm sám hối thì
đã hơn 20 năm.
Một
niệm sám hối đã hơn 20 năm, vì thời gian tánh không.
Hỏi:
Thế
nào là lìa ý thức?
Đáp:
Phải
đến thoại đầu mới lìa được ý thức. Lìa ý thức là
nguồn gốc ý thức (vô thỉ vô minh). Ý thức của mình gọi
là nhất niệm vô minh, sanh khởi từ vô thỉ vô minh, vô thỉ
vô minh là hang ổ của ý thúc. Bây giờ, cuộc sống hằng
ngày của mình từ niệm này qua niệm kia là nhất niệm vô
minh của ý thức.
-
Bất cứ làm việc gì đều trong ý thức phải không?
-
Phải rồi, tất cả mọi việc trong cuộc sống đều dùng
ý thức, gọi là nhất niệm vô minh, cho đến tham thiền (nghi
tình) cũng là ý thức, nhưng đó là mặt không biết của ý
thức. Khi đến thoại đầu là vô thỉ vô minh (nguồn gốc
của ý thức). Sát na lìa ý thức là lìa nguồn gốc ý thức
thì được ngộ (kiến tánh thành Phật).
Bây
giờ, mình không lìa được ý thức là bị chướng ngại,
khó nhất là bị sở tri chướng, lý chướng. Cái gì mình
cũng cho hợp lý và không hợp lý, nên gọi là lý chướng.
Vì đúng lý thì phải có hai (tương đối), đúng lý với không
đúng lý là tương đối, hợp lý và không hợp lý là tương
đối. Đó là sản phẩm của bộ óc cũng thuộc về ý thức.
Đại
Thừa Tuyệt Đối Luận nói: “Vô thỉ vô minh là màn đen
che ở chính giữa tương đối và tuyệt đối”. Trong tương
đối là mừng giận, buồn vui, yêu ghét,… giống như vở
kịch đang diễn. Nếu mình đi đến thoại đầu lìa được
ý thức thì màng đen kéo ra thì tương đối ngưng liền, như
tất cả mừng giận, buồn vui, yêu ghét,… của vở kịch
bị chấm dứt.
-
Chỗ vô thỉ vô minh có ngã chấp không?
-
Chỗ vô thỉ vô minh chưa có ngã chấp, có ngã chấp là vô
thỉ vô minh sanh nhất niệm vô minh. Chỗ vô thỉ vô minh là
chỗ vô ngã, nhất niệm vô minh thì có ngã. Có ngã và vô
ngã là tương đối, cuối cùng phải lìa vô ngã (nguồn gốc)
rồi kiến tánh thành Phật.
-
Muốn lìa ý thức thì phải tham câu thoại đầu đúng
không?
-
Hỏi câu thoại là kích thích cái không biết, rồi khán thoại
đầu là nhìn chỗ không biết, nhìn chỗ không biết thì không
có chỗ, không có chỗ thì không có mục tiêu để nhìn. Nên
người ta nói là nhìn không được, nói nhìn không được
tức là đã nhìn được rồi. Tại sao? Vì không thấy gì,
không thấy có mục tiêu để nhìn.
-
Có phải là một khoảng trống không chăng?
-
Không thể lấy khoảng trống không để làm mục tiêu, cứ
nhìn không thấy cái gì thì nhìn mãi chỗ đó, mới đến chỗ
thoại đầu.
Hỏi:
Cuộc
sống hằng ngày đều trong nhất niệm vô minh, làm sao đến
chỗ vô niệm?
Đáp:
Một
ngày mình làm việc có 8 giờ hay nhiều nữa là 10 giờ, một
ngày có 24 giờ, như vậy còn dư 14 giờ. Tập tham thiền trong
14 giờ quen thuộc thì những giờ còn lại tự động nghi tình
nổi lên, công việc do cái dụng Phật tánh thay thế bộ óc
làm. Tuy bộ óc không biết, nhưng vẫn làm xong công việc của
bộ óc. Chuyện đó nhiều người cũng làm được.
Hỏi:
Kính
xin Sư Phụ khai thị 2 đoạn văn của Ngài Trung Phong dạy đồ
chúng:
-
Trong suốt ngày đêm chỉ muốn niệm niệm chẳng quên, lúc
đi thì niệm, lúc ngồi thì ngồi niệm, lúc cử động, nói
nín, nằm xuống, đứng dậy, đều niệm, lúc làm việc, tiếp
vật cho đến khốn khổ hoạn nạn hiểm nguy cũng đều niệm.
Thân như cây khô, như tảng đá, như thây chết, như tượng
đất, chỉ tâm tâm ở tại đạo; ứng đáp với người như
si , như say; nghe tiếng, thấy sắc như điếc như đui. Vì thế
dụ như mèo rình bắt chuột, tâm và mắt chăm chú nhìn vào
một chỗ, lơ đãng một chút ắt chuột chạy mất. Như gà
ấp trứng, hơi ấm cần phải liên tục, gián đoạn một chút
là không thể thành gà con được. Vì thế niệm này là một
điều khó.
-
Tham thiền chẳng linh nghiệm, thường chỉ là tâm trộm cắp
chưa chết. Vì thế năm tháng trôi suông, chứ không có bệnh
nào khác. Nếu tâm trộm cắp nay chết ở ngày hôm nay thì
ngày hôm nay liền tương ứng, chết ở ngày mai thì ngày mai
bèn tương ứng.
Cái
gì là tâm trộm cắp?
Hễ
lià câu thoại đầu sở tham ra, riêng thấy có tự kỷ là
tâm trộm cắp. Ở ngoài cái tự kỷ bị thấy ra, riêng thấy
có nhân, có ngã là tâm trộm cắp. Lúc tham được thuần thục
biết thuần thục, ấy là tâm trộm cắp. Lúc tham thiền chẳng
thuần thục biết chẳng thuần thục, ấy là tâm trộm cắp.
Lúc trước mắt có hôn trầm, tán loạn, chỉ có câu thoại
đầu sở tham cùng nghi tình giao kết chẳng gián đoạn, ấy
là tâm trộm cắp. Hễ ở chỗ khán thoại đầu chợt sanh
một niệm, bất luận là phàm, là Thánh, là chân, là ngụy,
nói chung đều là tâm trộm cắp.
Bỗng
có người linh lợi hướng vào chỗ tôi nói đều chẳng dính
dáng, riêng giúp cho một con đường là đạo, là lý, là kiến,
là văn, đây gọi là tâm trộm cắp trong tâm trộm cắp. Phật
chẳng thể cứu chữa, chỉ cần hết những tâm trộm cắp,
chỉ thế ấy y bổn phận nắm chắc câu thoại đầu sở tham
như tượng gỗ, tượng đất, như người chết có hơi thở,
ngoài chẳng thấy có đại chúng, trong chẳng thấy có tự
kỷ, lạnh băng băng, tuyệt kiến văn, như vậy giữ đi, lâu
ngày sẽ được tâm không thi đậu về.
Đáp:
Nói
tóm lại 2 đoạn trên: Tánh của người thì muốn cứu lý
với cầu hiểu biết, nhất là người Tây phương. Nhưng bây
giờ người Đông phương cũng vậy. Tổ Sư thiền thì phải
lìa lý, lìa hiểu biết, phải ngược lại. Khoa học phải
nghiên cứu lý để tìm hiểu cho hiểu biết. Phàm có biết
một chút gì đều gọi là sở tri ngu, hiểu biết rất vi tế
cũng gọi là cực vi tế sở tri ngu. Đó gọi là tâm trộm
cắp.
Nếu
có lý cao siêu lời Phật cũng là tâm trộm cắp, nhưng Pháp
Sư giảng kinh có lý rất hay cũng lọt vào tâm trộm cắp.
Muốn lìa lý lìa hiểu biết thì rất khó, vì cuộc sống hằng
ngày người ta cần hiểu biết, nếu không hiểu biết
thành khờ ngốc sao?
Thấy
cái gì cũng như mù, nghe cái gì cũng như điếc thì không bị
ngoại cảnh lôi kéo được. Nếu muốn đến chỗ vắng lặng
để tu hay nhập thất, việc ấy rất là có hại, vì không
thấy cảnh làm sao khởi tâm động niệm. Nhưng nhập thất
một thời gian rồi ra thì thấy tâm còn động thêm nhiều.
Theo Thiền Tông khi ngộ rồi mới nhập thất.
Hỏi:
Kính
xin Sư Phụ khai thị thêm đoạn văn của Ngài Trung Phong dạy
đồ chúng dưới đây:
-
Người học đạo có linh nghiệm là tâm trộm cắp chết hết.
Tâm trộm cắp còn một mảy lông chết chẳng hết thì muôn
kiếp không có lý tự thành. Nói thẳng ra, chết được một
phần tâm trộm cắp thì học được một phần đạo. Chết
được tâm trộm cắp được năm phần thì học được năm
phần đạo. Tâm trộm cắp hoàn toàn không thì toàn thể là
đạo. Bởi vì sự chướng đạo của tâm trộm cắp giống
như bụi bặm che mất ánh sáng của gương.
Người
thời nay chỉ biết có đạo để thành mà chẳng biết có
tâm trộm cắp nên hết. Hoặc tâm trộm cắp chưa hết mà
muốn đạo được thành, khác gì ngồi ở trong nước mà muốn
đừng ướt, xưa nay trong thiên hạ không có lẽ đó.
Thuở
xưa, Hòa Thượng Vĩnh Minh thống thiết nói: “Tình sanh trí
cách, tưởng biến thể thù”, nghĩa là: Tình nổi dậy thì
trí huệ bị che lấp, tư tưởng biến đổi thì thân thể
cũng theo đó mà biến dạng, khiến công án sẵn sàng, của
báu gia truyền chẳng được thọ dụng. Tình sanh tưởng biến
là biệt danh của tâm trộm cắp mà tôi vừa nói.
Muốn
bất cứ lúc nào tình chẳng sanh, bất cứ chỗ nào tưởng
chẳng biến thì cần phải thật đem việc lớn sanh tử để
ở trong lòng lấp bít ý căn, tình vừa muốn sanh thì bị nó
ngăn, tưởng toan muốn biến liền bị nó đoạt. Ông nếu
chẳng vì việc lớn sanh tử, ở trong lòng khán câu thoại
đầu quyết cầu ngộ chứng mà chỉ là một bề đè nén cho
tình tưởng kia chẳng sanh chẳng biến, khác chi người đã
chết mà muốn thở ra hít vô để làm gì?
Người
xưa có nói: “Tham thiền không bí quyết, chỉ cần sanh tử
thiết”. Lời này thật thông suốt cả ba đời, là cội gốc
lớn của sự học đạo. Ví như chẳng lấy sanh tử vô thường
làm trách nhiệm nặng nề của mình, nằng nặc muốn hiểu
thiền hiểu đạo mà tham cứu việc này, thì giống như bảo
người tịch cốc (những người suốt đời không biết đói,
không cầu ăn) đi cấy trồng mà chẳng biết đó chẳng phải
là việc của họ (vì họ không cần ăn thì cấy cày để
làm gì?).
Đáp:
Nếu
mình lấy ý thức để tìm hiểu giáo lý cao siêu của Phật
Thích Ca cũng là tâm trộm cắp, còn gọi là sở tri ngu.
Hỏi:
Kính
xin Sư Phụ khai thị đoạn văn kế tiếp của Ngài Trung Phong
dạy đồ chúng:
-
Bậc tiền bối ba mươi năm, năm mươi năm chí càng bền, niệm
càng thiết, hạnh càng siêng và chẳng chịu có chút gián đoạn,
chẳng phải do thầy bạn cảnh sách, tòng lâm khuyến khích,
ngôn thuyết chỉ bày, phương tiện khuyến tấn mà được
như vậy. Mà bởi cội gốc của các Ngài chỉ là một cái
nguyện thống niệm sanh tử chưa giải quyết xong. Giả sử
đời này chẳng xong thì đời nào mới xong? Niệm tấn đạo
nếu tự chẳng chân thật thiết tha, dẫu Phật Tổ có thân
dị đổi phàm thành Thánh, khiến A La Hán khởi tham sân si,
tuy cố làm đó, quyết chẳng thể lâu được.
Có
người vì muốn hiểu đạo mà học đạo, mà không chiếu
phá được cảnh phù huyễn nổi trước mắt, lại bị cảnh
duyên đó làm cho vọng niệm khởi lên chẳng dừng. Vọng niệm
đã khởi thì dầu sức học đạo như núi gò, sẽ thấy có
ngày bị vọng niệm làm hại. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Cuồng
tâm chưa ngưng nghĩ, ngưng nghĩ tức Bồ Đề”. Cái gì là
cuồng tâm? Hễ ngoài việc thống niệm sanh tử, đề câu thoại
đầu sở tham ra, dù có làm trăm ngàn điều siêu việt thế
gian, đều chẳng khỏi chê là cuồng tâm.
Tổ
Thiếu Lâm nói: “Ngoài dứt các duyên, trong không nghĩ tưởng,
tâm như tường vách, có thể vào đạo”. Nhưng vào đạo
gác lại chẳng hỏi. Tâm này có từng như tường vách hay
chưa? Nếu chưa mà muốn mong nhập đạo, đó là điều chẳng
tự xét.
Tham
thiền cả một đời chẳng ngộ, học đạo cả một đời
chẳng rõ, chỉ cần chẳng dể dàng buông bỏ cái chánh niệm
này, để tham để học thì chắc chắn có ngày đến chỗ
cùng tột. Nếu bỏ chánh niệm này, vọng đem thức tình xuyên
tạc, lấy lời người khác làm kiến giải của mình, dẫu
hiểu hết cổ kim, tọa đoạn (quét sạch) Phật Tổ cũng đều
là đối trình cuồng kiến, tự mang tội lỗi, chẳng phải
là điều của người chân thật học đạo làm.
Đáp:
Nói
nhiều cũng giống như ý trên, người ta chỉ biết có chánh
niệm, rồi bỏ tà niệm giữ chánh niệm! Ngài Trung Phong nói:
“Tà niệm là nhiễm, chánh niệm là tịnh, mà nổi lên cái
nhiễm là tâm trộm cắp, nổi lên niệm tịnh cũng là tâm
trộm cắp”. Người ta bỏ tà niệm còn khó huống là bỏ
chánh niệm! Cho nên, khỏi cần bỏ.
Cô
Tâm có căn cơ tham thiền, mà anh của cô bảo cô bỏ tà niệm.
Tôi nói: Khỏi cần bỏ, vì không có cái gì để bỏ mà bỏ
cái gì? Chỉ cần có lòng tin tự tâm, nhưng Ngài Long Thọ
nói: “Tâm như hư không vô sở hữu”, chỉ cần tin vô sở
hữu mà mình đang dùng. Tất cả đều ở trong vô sở hữu
này, như mặt trời, mặt trăng, núi sông, đất đai,… đều
ở trong vô sở hữu này.
Muốn
hiển bày cái dụng đều phải nhờ cái vô sở hữu này, cho
đến mình ăn cơm, mặc áo,.. bất cứ làm việc gì đều phải
nhờ cái vô sở hữu này. Cái vô sở hữu này là cái tâm
của mình. Ngài Long Thọ dùng hư không để thí dụ tức là
Phật tánh của mình đang dùng. Như bây giờ tôi đang nói
và các vị đang nghe, nếu không có vô sở hữu này thì tôi
không thể nói được và các vị không nghe được. Nhìn với
nhau cũng phải nhờ cái vô sở hữu này, chúng ta mới nhìn
với nhau được.
Kỳ
thật, mình không có giây phút nào lìa cái vô sở hữu này
mà được hiển bày cái dụng, bất cứ đi chỗ nào cũng vậy.
Vì Phật tánh của mình khắp không gian khắp thời gian. Khắp
không gian nên không có khứ lai gọi là Như Lai, khắp thời
gian không gián đoạn sanh diệt gọi là Niết Bàn. Bây giờ
mình đang dùng mà chẳng biết, mà lại mà đoán mò những
cái khác.
Cho
nên, Phật nói những cái hiểu biết trước mắt của mình
đều là sai lầm, không đúng với thật tế. Vì vậy mới
gọi là tâm trộm cắp, làm chướng ngại cái thật tế, thật
tế là bản thể của Phật tánh. Tất cả lý cao siêu của
tâm trộm cắp bị dẹp hết thì bản thể Phật tánh tự động
hiện lên. Tuy Bản thể Phật tánh chưa hiện lên, nhưng mình
cũng đang dùng.
Bản
thể Phật tánh vốn là vô sở hữu, vì mình kiến lập nhà
cửa, xe cộ, đất đai, tiền bạc,… cho là sở hữu của
tôi, nên làm chướng ngại cái dụng Phật tánh. Nếu thật
vô sở hữu không có chướng ngại thì cái dụng bằng Phật.
Theo người thế gian có trí huệ, có năng lựïc để làm cái
này cái kia thành sự nghiệp. Còn cái này khỏi làm cái gì
hết, mà lại ngưng làm. Thành ra tất cả đều là nghịch
pháp thế gian, nên gọi là pháp xuất thế gian. Nhưng sau kiến
tánh thì tất cả pháp thế gian đều là Phật tánh.
Hỏi:
Tại
sao Phật Thích Ca nhập Niết Bàn sớm vậy?
Đáp:
Vì
Phật Thích Ca nhập Niết Bàn sớm là để cảnh cáo chúng
sanh. Có thí dụ: Người cha có 3 đứa con, người cha là thầy
thuốc giỏi, muốn truyền nghề cho 3 đứa con, 3 đứa con đều
có bệnh. Người cha cho toa thuốc cả 3 người con, người
con lớn và người con giữa theo toa thuốc mà trị khỏi bệnh.
Người con nhỏ tin cha mình là thầy thuốc giỏi, nhưng lại
chưa chịu uống thuốc. Người cha thấy vậy bỏ đi xa, rồi
nhắn về nhà là cha đã chết. Trong lúc này người con nhỏ
mới vội vàng uống thuốc.
Qua
câu chuyện trên giống như Phật nhập Niết Bàn để cho chúng
sanh khỏi ỷ lại Phật mà lo tu đến giác ngộ.
Hỏi:
Thế
nào là du hý thần thông?
Đáp:
Phật
tánh của mình đã sẵn, muốn hiện cái gì cũng được thì
cũng như đi chơi mà khỏi cần tác ý, nên gọi là du hý thần
thông.
Đặt
ra tên chỉ là tên gọi, không phải là thật tế. Như Bồ
Đề, Niết Bàn, giải thoát,… chỉ là những danh từ. Lục
Tổ nói với Ấn Tông Pháp sư: “Thiền định giải thoát
chẳng phải Phật pháp, Phật pháp là pháp bất nhị”. Ấn
Tông Pháp sư giảng kinh Niết Bàn đã trên 20 lần, nhưng Ngài
đối với kinh Niết Bàn chưa còn hiểu thấu. Ngài hỏi Lục
Tổ: Thế nào là pháp bất nhị?
Theo
Ấn Tông và người thường cho thiền định là giải thoát,
thắc mắc Lục Tổ nói “thiền định giải thoát chẳng phải
Phật pháp”? Vì có định nên mới có loạn làm tương đối,
có giải thoát mới có trói buộc làm tương đối. Phật tánh
bất nhị thì không có tương đối, nên Lục Tổ giải thích
kinh Niết Bàn cho Ấn Tông Pháp sư hiểu. Ấn Tông Pháp sư
chuyên giảng kinh Niết Bàn, mà Lục Tổ chỉ nghe người ta
tụng một lần.
Cao
Quý Đức Vương Bồ Tát hỏi Phật: Người phạm tội ngũ
nghịch và không tin Phật pháp có đoạn dứt thiện căn Phật
tánh không?
Phật
nói: Thiện căn có 2: Thiện và bất thiện, Phật tánh chẳng
phải thiện và bất thiện. Nói khắp thời gian là thường,
mà Phật tánh chẳng phải thường và chẳng phải phi thường.
Vì thường và phi thường là nhị, tức là Phật tánh không
có tương đối. Thiền định đối với tán loạn, giải thoát
đối với trói buộc đều là tương đối. Cho nên, nói “thiền
định, giải thoát chẳng Phật pháp”.
Phàm
có thể nói được là tương đối, Phật tánh không có bản
thể, không có số lượng, suy nghĩ không đến, nên văn tự
lời nói không thể diễn tả, chỉ có ngộ thì Phật tánh
tự hiện mới tự biết. Nhưng tự biết là Phật tánh tự
biết, không phải bộ óc tự biết. Lúc ngộ gọi là trí Bát
Nhã.
Hỏi:
Tại
sao ngày xưa các vị chứng quả nhiều, còn ngày nay ít có
người chứng quả?
Đáp:
Ngày
nay ít có người chứng quả là do khoa học tiến bộ, vì khoa
học là cứu lý, tìm hiểu. Tiểu thừa hay Đại thừa Phật
pháp là ngược lại lìa lý lìa hiểu biết. Khoa học càng
tiến bộ thì cuộc sống trong xã hội ngày càng phức
tạp. Ngày xưa, trời mọc người ta đi làm việc, trời lặng
người ta về nghĩ, rất là đơn giản. Bây giờ không phải
vậy, cuộc sống càng phức tạp thì người chứng quả lại
ít, vì dùng bộ óc để đối phó với cuộc sống, nên tu
hành phải bỏ quên.
Hỏi:
Ngày
xưa các ngài khó hiểu biết, vì không có phương tiện nghe
nhìn; còn ngày nay phương tiện nghe nhìn có nhiều, nên người
tham học khỏi đi hành cước. Đáng lẽ, người nay phải ngộ
nhiều hơn người xưa, tại sao ngược lại?
Đáp:
Nghe
hiểu nhiều chừng nào thì sự chứng quả ít chừng nấy.
Cứu lý để tìm hiểu là chuyện thế gian, muốn tu pháp xuất
thế gian thì phải lìa lý lìa hiểu. Cho nên, hiểu nhiều thì
phải xa sự chứng ngộ.
|