Thoại
đầu là trước khi chưa có lời nói, nghĩa là chưa khởi niệm
muốn nói gọi là thoại đầu, nếu khởi ý niệm lên là thoại
vỉ; tham là hỏi câu thoại để kích thích lên niệm không
hiểu không biết, khán là nhìn chỗ không biết, muốn biết
chỗ không biết đó là gì? Chỗ không biết đó thì không
có chỗ, không có chỗ nên không có mục tiêu để nhìn, nhìn
mãi không biết gì thì chỗ không biết đó là nghi tình.
Hành
giả tham thiền hỏi câu thoại và nhìn thoại đầu, 2 cái
đi song song để giữ nghi tình, nghi tình này sẽ đưa hành
giả đến thoại đầu, thoại đầu là vô thỉ vô minh, cũng
gọi là đầu sào trăm thước, cũng là nguồn gốc ý thức,
từ đầu sào trăm thước bước thêm một bước là sát na
lìa ý thức gọi là kiến tánh.
Hỏi:
Thế
nào là vạn pháp quy tâm?
Đáp:
Vạn
pháp quy tâm là người có tư tưởng chấp thật mới nói như
vậy. Vạn pháp là tâm, tâm là vạn pháp thì mới đúng, vạn
pháp với tâm không có hai. Nếu tâm là tâm, vạn pháp là vạn
pháp, tức có hai là tương đối.
Bản
lai diện mục của bản tâm không có tương đối, tức vạn
pháp là tâm, tâm là vạn pháp, chứ không phải hai cái.
Cho nên, tất cả đều do tâm tạo, năng lượng đều phát
từ tâm. Vật chất là do nhiều nguyên tử tổ chức thành,
như cái bàn này yên tịnh, nhà khoa học biết cái bàn có hai
thứ lay động:
1.
Lay động xoay theo quả đất, quả đất xoay xung quanh mặt
trời, vận tốc 180.000 km/giờ.
2.
Mỗi hạt nguyên tử ở giữa có một trung tử, chu vi có nhiều
điện tử cũng đang xoay, ngày đêm xoay hoài không bao giờ
ngưng; bây giờ đem cái bàn này chặt tan nát, nhưng mỗi hạt
nguyên tử vẫn còn xoay không bao giờ ngưng, vận tốc là ½
ánh sáng, vận tốc ánh sáng 300.000 km/giây. Chiếc xe hơi chạy
vận tốc 100 miles/giờ đã thấy nhanh quá rồi. Còn vận tốc
điện tử chớp mắt là 150.000 km/giây. Nhà khoa học mang kính
hiển vi thấy rõ ràng.
Sức
xoay phải có năng lượng, vậy năng lượng của nó từ đâu
mà có? Tốc độ nó xoay nhanh như vậy, có năng lượng cung
cấp nó xoay không? Theo mình thấy rõ ràng không có năng lượng.
Không có năng lượng tại sao có sức xoay vậy? Không có ai
giải đáp được.
Phật
đã nói: “Tất cả do tâm tạo”, tức năng lượng là tâm;
Lục Tổ nói rõ trong Pháp Bảo Đàn: “Chẳng phải gió động,
chẳng phải phướn động, mà tâm của các ông động”, tức
là năng lượng từ tâm, tâm động thì gió mới động, tâm
động thì phướn mới động. Nhưng người ta tin không nổi,
nên phải ngộ mới được.
Mình
ở trong mở mắt chiêm bao thức tỉnh có được tự chứng
phần thì tự mình mới chứng tỏ, còn bây giờ Phật nói
mình không tin, vì chưa được tự chứng phần nên tin không
nổi. Vậy, Phật muốn mình được tự chứng phần rồi tự
mình chứng tỏ. Phật nói: “49 năm thuyết pháp, tôi chưa
từng nói một chữ và ai nói Phật có thuyết pháp, người
ấy phỉ báng Phật”.
Sự
thật, mình đang dùng cái tâm này, tâm như hư không vô
sở hữu. Nếu không có hư không vô sở hữu thì mình không
thể thấy nhau, không thể nói chuyện với nhau được, hàng
ngày nói năng tiếp khách, ăn uống đều không được. Cho
nên, Phật pháp nói không là dụng của tâm, không cũng là
cái thể của tâm, vạn pháp cũng là thể của tâm, cũng là
dụng của tâm.
Vì
tâm khắp không gian khắp thời gian thì vạn pháp đều ở
trong tâm, không có cái nào ở ngoài tâm. Nên nói: “Ngoài
tâm không có pháp”, tại sao còn nói ‘vạn pháp quy tâm’?
Vậy những người nói ‘vạn pháp quy tâm’ là tư tưởng
chấp thật thì còn nằm trong tương đối.
Hỏi:
Có
phải trách nhiệm và vô trách nhiệm đều không có chăng?
Đáp:
Vì
chấp thật nên mới có trách nhiệm hay vô trách nhiệm, cái
đó là tương đối. Nếu hiện được bản lai diện mục của
tâm thì không còn tương đối, cái dụng đặt tên là bát
nhã luôn luôn khắp không gian khắp thời gian. Vậy đâu có
ngoài trách nhiệm? Khỏi cần dùng nhưng nó vẫn dùng.
Cảm
giác của lớp da gọi là xúc giác khắp không gian và khắp
thời gian của cơ thể, nếu tiếp xúc nó thì nó biết, nhưng
không có tiếp xúc nó, vậy nó có biết không? Nó cũng biết.
Vì cái dụng của nó sẵn sàng tự động, đánh mạnh nó cũng
biết đau, đánh nhẹ nó cũng biết không đau, ngứa nó
cũng biết, không ngứa nó cũng biết, nửa đêm mình ngủ bị
muỗi cắn thì tay tự động gãi chỗ đó; tức là 24/24 ngày
đêm cảm giác không gián đoạn, không phải qua bộ óc suy
nghĩ rồi mới dùng, dụng của nó tự động khắp không gian
khắp thời gian.
Bát
Nhã của tâm mình dùng luôn luôn khắp không gian khắp thời
gian, làm sao có trách nhiệm hay vô trách nhiệm? Như nói cảm
giác của lớp da là trách nhiệm hay vô trách nhiệm thì không
đúng. Vì nó luôn luôn dùng, mình có trách nhiệm nó cũng dùng,
không có trách nhiệm nó cũng dùng, nó đâu có liên quan đến
trách nhiệm hay vô trách nhiệm! Nó không khi nào bỏ trách
nhiệm, mà nó không khi nào nói là có trách nhiệm. Bản lai
diện mục cũng như vậy, kiến tánh là hiện bản lai diện
mục của tâm.
Chấp
thật mới có tương đối, tranh biện, thị phi, tốt xấu,
yêu ghét,… Có kiến lập lý hay không lý thì phải có sở
hữu nên bị hạn chế cái dụng. Bởi vì, hư không trống
rỗng thì không có nghĩa lý, rồi đem hư không hạn chế lại
đủ thứ nghĩa lý giảng ra cũng rất hay. Nếu mình tin được
tự tâm thì tất cả không có cái nào ở ngoài tâm.
Tâm
có tánh giác ngộ nên gọi là Phật tánh, tâm cùng khắp hư
không chẳng có khứ lai nên gọi là Như Lai, tâm khắp thời
gian không gián đoạn, không sanh diệt nên gọi là Niết Bàn;
cái dụng gọi là Bát Nhã, vì không cần tác ý, khỏi cần
dùng mà tự động dùng. Như cảm giác của lớp da không cần
dùng nó vẫn dùng.
Luân
hồi là do chấp tâm mới có, tức là tâm mình hoạt động,
như thân mình xoay mới thấy căn nhà xoay, nhưng căn nhà không
có xoay. Căn nhà xoay dụ cho sanh tử luân hồi, tại tâm mình
hoạt động nên mới thấy sanh tử luân hồi.
Tiểu
thừa tu khổ, tập, diệt, đạo (Tứ Diệu Đế), tức là pháp
thiền là Ngũ Đình Tâm Quán (5 thứ thiền quán) để đình
chỉ hoạt động cái tâm. Bây giờ phần nhiều người ta thực
hành Sổ Tức Quán là đếm hơi thở từ 1 đến 10, rồi ngược
lại từ 10 lui về 1, có một số ít tu Bất Tịnh Quán, còn
3 thứ quán kia (Lục Thức Quán, Nhân Duyên Quán, Từ Bi Quán)
ít thấy người ta tu. Đó là 5 thiền quán của thừa Thanh
Văn.
Mục
đích của thừa Thanh Văn là muốn dứt lục căn, vì họ chấp
thật lục căn thì phải đối với lục trần, cho nên
theo triết lý gọi là Chủ Quan Duy Vật Luận.
Trung
thừa là thừa Duyên Giác tu Thập Nhị Nhân Duyên (quán từ
vô minh đến lão tử, 12 nhân duyên tuần hoàn).
Mục
đích thừa Duyên Giác muốn dứt nhất niệm vô minh, tức là
cuộc sống hàng ngày mình đều dùng nhất niệm vô minh, từ
niệm này qua niệm khác liên tiếp không ngưng, so với Thanh
Văn thì tiến hơn một bước, nhưng vẫn còn nằm ở trong
tương đối. Thừa Thanh Văn chỉ phá nhân ngã chấp, tới Duyên
Giác thì phá luôn pháp chấp, nên gọi là Chủ Quan Duy Tâm
Luận.
Đại
thừa là Bồ Tát thừa tu 6 Ba La Mật (bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ), có 3 thứ thiền quán
ghi ở trong kinh Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác, mà người dịch
không dịch nghĩa, chỉ có dịch âm, gọi là: Sa Ma Tha, Tam Ma
Bát Đề, Thiền Na. Trong kinh Viên Giác đem 3 thứ thiền quán
này đảo đi đảo lại thành 25 thứ, ở kinh Lăng Nghiêm chỉ
nói 3 thứ này. Trong kinh Viên Giác diễn tả kỹ hơn. Đáng
lẽ, tâm pháp không thí dụ, nhưng Phật miễn cưỡng
ở trong kinh này mà thí dụ:
- Sa
Ma Tha như gương soi các tướng, là cực tịnh nhưng nó đang
dùng, như người nam đến hiện người nam, người nữ đến
hiện người nữ, bất cứ cái gì đến đều hiện.
-
Tam Ma Bát Đề còn gọi là Tam Ma Đề, như lúa mạ dần dần
tăng trưởng, vì cái này biến hóa. Biến hóa từng sát na
nhưng mình không thấy biến hóa, thực tế mình thấy lúa mạ
tăng trưởng. Đó gọi là thiền quán Tam Ma Bát Đề.
-
Thiền Na thí dụ âm thanh trong chuông trống, chuông trống có
âm thanh, nhưng mình không thấy nghe được, khi đánh thì âm
thanh ra, đánh mạnh thì tiếng lớn, đánh nhẹ thì tiếng nhỏ,
mà lại không bị chuông trống hạn chế, vượt ra ngoài xa
chuông trống.
Đại
thừa của Trung Quốc có 4 tông: Thiên Thai, Hiền Thủ, Tam Luận,
Duy Thức.
Tam
quán của tông Thiên Thai giống như 3 thiền quán kinh Lăng Nghiêm,
giống chứ không phải thay thế được. Sa Ma Tha giống như
Không Quán (quán không), Tam Ma Bát Đề giống như Giả Quán,
Thiền Na giống như Trung Quán. Vì thực tế không có danh từ
để dịch, nên người ta chỉ dịch âm. Sắc pháp thì có danh
từ mới có thể dịch, còn tâm pháp không hình tướng không
có số lượng nên rất khó dịch.
Từ
tiếng Phạn dịch sang qua tiếng Trung Hoa còn dễ, vì thời
xưa có Lão Tử, Trang Tử cũng có nhiều danh từ tâm pháp,
nếu bây giờ dịch sang tiếng Anh rất khó. Vì khoa học là
những thứ có hình tướng, về danh từ tâm pháp rất ít.
Vừa
rồi nói Tiểu thừa là Duy Vật, Trung thừa là Duy Tâm, Đại
thừa là Tâm và vật hợp một. Lục Tổ nói Thiền tông (Tối
Thượng thừa) là phi Tâm phi vật, tức là siêu việt tâm và
vật, cách tu là tham công án, tham thoại đầu.
Hỏi:
Tham
Tổ Sư thiền không còn đọc kinh phải không?
Đáp:
Kinh
là dạy tu phá chấp của tất cả chúng sanh, cho đến những
người chứng quả cũng phá luôn. Như Tâm Kinh của tôi lược
giải phá từ phàm phu, Tiểu thừa,… cho đến Nhất Phật
thừa, có tri giải đều phải phá. Phá hết tất cả không
còn cái gì nữa (trống rỗng) thì cái dụng cùng khắp không
gian và thời gian, tức là những cái đó là do ý thức kiến
lập. Nếu sát na lìa ý thức thì được kiến tánh. Bây giờ
mình theo ý thức từ niệm này qua niệm kia.
Tánh
con người nghe đến đâu thì chấp đến đó. Có Tăng hỏi
Nam Tuyền đáp, đáp cái nào thì Tăng chấp đến đó. Bất
cứ chấp vào cái gì đều không được. Vì tánh con người
hay muốn tri giải, nhưng cái đó là chướng ngại sự kiến
tánh, nên ngài Long Thọ thí dụ “Tâm như hư không vô sở
hữu”. Nếu tâm mình vô sở hữu thì cái dụng bằng Phật
khắp không gian khắp thời gian không có gì hạn chế.
Vô
sở hữu thì không có, hư không vô sở hữu thì không có hư
không, tâm vô sở hữu thì không có tâm. Không có tâm là lời
nói, chứ tâm thì không thể tiêu diệt được, cũng như hư
không thì không thể tiêu diệt, nhưng chẳng thể dính líu
có, không. Cho nên, kinh Phật hay ngữ lục của chư Tổ nói
đến ‘không’ là dụng, dụng thì phải ‘không’, ‘không’thì
phải trống rỗng, trống rỗng mới hiển bày được cái dụng.
Cuộc sống hàng ngày mình đang dùng cái tâm mình mà mình không
biết.
Hỏi:
Tại
sao Phật nói nhiều kinh?
Đáp:
Vì
muốn phá cái biết của bộ não, chư Tổ cũng vậy. Cái
biết của bản tâm luôn luôn dùng, nhưng không phải cái biết
và không biết của bộ óc (ý thức). Vì cái biết và không
biết của ý thức làm chướng ngại cái biết của bản tâm.
Cho nên, sát na lìa ý thức là bản tâm hiện ra.
Người
tham học mới vào cửa, Lâm Tế liền hét. Người tham học
mới vào cửa, Đức Sơn liền đánh. Những hành động của
Tổ là muốn chặn ngang đường suối ý thức. Nếu lúc đó
lìa được ý thức thì ngay đó kiến tánh. Còn lìa ý thức
chưa được thì phải phát nghi (không hiểu), như Lâm Tế bị
Hoàng Bá đánh 3 lần phát nghi nặng, rồi sau này ngộ triệt
để. Tất cả công án, thoại đầu của chư Phật chư Tổ
đều vậy. Ngộ là hiện lên bản tâm của mình, chứ không
phải ngộ đáp án của câu thoại hay công án.
Sự
hiểu biết của ý thức là biết những danh từ, như tâm mà
ai cũng nói được, nhưng tâm là cái gì không ai biết! Người
ta thường nói ‘trí Bát Nhã’, trí Bát Nhã là cái gì? Trí
Bát Nhã chỉ là danh từ, mà mình đang dùng cũng chẳng tự
biết. Trí Bát Nhã luôn luôn khắp thời gian, khắp thời gian
thì nó đang dùng, khắp không gian thì chỗ nào cũng hiện cái
dụng.
Như
cảm giác của lớp da của cơ thể không bao giờ ngưng, nếu
có ngủ mê cũng không ngưng cảm giác. Mình tiếp xúc thì nó
biết tiếp xúc, mình không tiếp xúc thì nó cũng biết không
tiếp xúc; nếu tiếp xúc đau thì nó cũng biết đau, đau nhiều
đau ít nó đều biết, ngứa nó biết ngứa, không ngứa nó
cũng biết không ngứa. Nhưng đụng đến tay không những tay
biết, mà những chỗ khác đều cũng biết. Vì nó khắp không
gian, không phải chỉ có một chỗ.
Cho
nên, đụng chỗ nào thì toàn thân đều biết, bất cứ thời
gian nào nó cũng đang dùng. Như ban đêm mình ngủ mê bị muỗi
cắn, tự động gãi chỗ đó. Không phải có tiếp xúc mới
hiện ra cái dụng, mà không tiếp xúc cũng hiện ra dụng. Nếu
không dùng thì sao biết không tiếp xúc? Nó làm sao biết không
đau không ngứa? Tiếp xúc lạnh nó biết lạnh, tiếp xúc không
lạnh nó biết không lạnh. Nóng nó biết nóng, không nóng nó
biết không nóng; nên cái dụng nó không bao giờ ngưng, mới
là khắp thời gian. Trí Bát Nhã của mình cũng vậy.
Bây
giờ, mình là phàm phu nhưng cũng có hiện ra cái dụng chút
ít, nếu mình quét sạch những chướng ngại được trống
nhiều thì có cái dụng lớn, trống rỗng không còn cái gì
nữa thì bằng cái dụng của Phật. Mục đích tất cả kinh
của Phật là quét sạch những chướng ngại mà thôi.
Hỏi:
Tại
sao các thừa lại có cao thấp?
Đáp:
Tiểu
thừa chưa đến cứu cánh, chỉ phá nhân ngã chấp được
ra khỏi phần đoạn sanh tử, tức là không đi đầu thai trong
lục đạo (trời, người, a tu la, súc sanh, ngạ quỷ, địa
ngục), nhưng họ còn biến dịch sanh tử chưa dứt, họ cần
phải tiến thêm nữa. Tức là họ cất nhà ở giữa đường
mà cho là đã đến nơi rồi, kinh Pháp Hoa nói: “Tiểu thừa
chưa đến bảo sở”. Nên bị Phật quở: “Không thể làm
hạt giống Phật”, như hạt lúa bị cháy không làm hạt giống
được.
Quả
A La Hán là cao nhất của thừa Thanh Văn, sự thấy họ chỉ
thấy được 1 tam thiên đại thiên thế giới, còn 1 tam thiên
đại thiên thế giới khác họ không biết. Về thời gian họ
chỉ biết 8 muôn kiếp trước và 8 muôn kiếp sau, rồi quá
8 muôn kiếp thì họ không biết, vì cái dụng của họ có
hạn chế.
Còn
cái dụng quả Phật không hạn chế, không bị cái gì làm
chướng ngại, A La Hán còn chướng ngại, vì có kiến lập
Niết Bàn của A La Hán, họ bỏ ngũ uẩn ngã nhưng còn ôm
Niết Bàn ngã cho là ta chứng, tức là cái ngã vi tế. Cho nên
bị Phật quở, phải bỏ A La Hán tiến lên Đại thừa.
Tiểu
thừa phá nhân ngã chấp, Trung thừa phá pháp ngã chấp, Đại
thừa phá hết nhân ngã chấp và phá luôn pháp ngã chấp, nhưng
lọt vào không chấp (chấp không). Nếu còn chấp cái gì đều
không được, tức là có sở trụ, còn có sở trụ thì còn
chướng ngại cái dụng của bản tâm. Cho nên, phải đến
cứu kính không còn một chút chướng ngại gì nữa, miễn
cưỡng gọi là vô sở hữu.
Vì
con người muốn kiến lập sở hữu, luôn cả hư không cũng
muốn kiến lập, nên ngài Long Thọ nói: “Hư không vô sở
hữu dung nạp được tất cả vật”. Bây giờ con người
muốn lìa cái sở hữu không được, như cho tiền và nhà là
sở hữu của tôi,... có sở hữu mới được. Kinh Lăng Nghiêm
nói: “Tự tâm buộc tự tâm”.
Hỏi:
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Châu Lợi Bàn Đặc Ca bạch Phật rằng:
Con kém trí nhớ chẳng thể phụng trì, khi mới gặp Phật
phát tâm xuất gia, con cố nhớ một câu kệ của Như Lai trong
một trăm ngày mà chẳng thuộc lòng, hễ nhớ trước quên
sau, nhớ sau quên trước, Phật thương xót dạy con tu Sổ Tức
Quán, con quán hơi thở đến chỗ cùng tột, thấy các hành
tướng vi tế dời đổi từng sát na nơi sanh trụ dị diệt
tâm, con bỗng ngộ được đại vô ngại phiền não được
dứt sạch đắc quả A La Hán, trước mắt của Phật được
ấn chứng bậc vô học. Phật hỏi về viên thông, như chỗ
chứng của con là xoay về tánh Không là hơn cả.
Sư
Phụ nói Sổ Tức Quán là đếm từ 1 đến 10, rồi đếm ngược
từ 10 lại 1. Như trong đây nói là quán hơi thở thay đổi
từng sát na thì con thấy giống như Tiểu thừa của thầy
Minh Triệu dạy: “Khi thở vô biết thở vô, khi thở ra biết
thở ra, thở vô ngắn biết thở vô ngắn, thở ra ngắn biết
thở ra ngắn”. Sổ Tức Quán theo dõi từng sát na hơi thở,
như Sư Phụ nói đếm không cần theo dõi từng sát na của
hơi thở đó là ngắn, dài, ra, vào, chậm, nhanh. Như vậy như
thế nào?
Đáp:
Giống
thì giống nhưng chưa phải, như Châu Lợi Bàn Đặc Ca biết
từng sát na, còn cô nói là chưa đến từng sát na. Mỗi sát
na đều có sanh, trụ, dị, diệt, mà không phải chỉ sát na
thôi. Như nhà Phật đem 1 giây chia ra làm 60 sát na và chia thêm
là 1 sát na làm thành 60 A, 1 A thành 60 B, 1 B thành 60 C.
Theo
toán học biểu thị thời gian 1 C, nhưng tôi vừa nói
hiện tại mà chưa nói dứt thì đã qua biết bao nhiêu trăm
C rồi. Tôi chỉ mới chia 3 lần, nếu tôi chia thêm 30 lần,
300 lần vẫn còn con số, con số biểu thị thời gian đó,
thời gian đó vẫn còn sanh, trụ, dị, diệt. Nhưng ý thức
đã không biết (bộ óc không biết), còn cái kia dùng ý thức
để biết.
Đếm
từ 1 đến 10, rồi đếm ngược từ 10 lại 1, đây là tu bước
đầu tiên. Ban đầu từ thô vào tế, như bây giờ từ phút
đến giây, đến sát na, sát na đến A đến B đến C,… đó
là thiền của Tiểu thừa muốn đình chỉ cái tâm. Còn cô
nói là không đình chỉ được cái tâm, cái tâm còn hoạt
động rất nhiều, vì còn dùng nó để nhớ để biết, làm
sao đình chỉ tâm được?
Nói
tổng danh là Ngũ Đình Tâm Quán, đình là đình chỉ,
quán chiếu đó là đình chỉ cái tâm. Cách quán này vẫn còn
nhất niệm vô minh, chưa đến vô thỉ vô minh. Bởi họ cứ
giữ nhất niệm đó mãi. Còn Trung thừa phá được nhất niệm
vô minh, Tiểu thừa chỉ phá được lục căn. Cách tu cô nói
là chưa dứt được lục căn, mà cái đó vẫn còn thô chưa
đến tế nữa. Châu Lợi Bàn Đặc Ca quán hơi thở đến chỗ
tế rồi.
Quán
từ thô vào tế, đi sâu vô mãi, từ tế đến chỗ vi tế.
Như cô nói biết được những cái thô, biết dài biết ngắn,…
Quán là không cần phải biết những cái cô nói, quán chứ
không phải dùng cái biết!
Hỏi:
Chánh
biến tri và vô sư trí là như thế nào?
Đáp:
Chánh
biến tri là trí Bát Nhã, vô sư trí là trí không do ai dạy,
Phật Thích Ca nói là Pháp Bản Trụ, nó tự như vậy, không
phải do thầy truyền cho.
Hỏi:
Cần
phải nhớ hay không?
Đáp:
Không
phải nhớ hay quên, tức là chỉ cần giữ không biết (nghi
tình là không hiểu không biết), hỏi câu thoại là kích thích
niệm không biết, khán thoại đầu là nhìn chỗ không biết,
chỗ không biết thì không có chỗ, không có chỗ thì không
có mục tiêu để nhìn, không có mục tiêu để nhìn thì nhìn
mãi không thấy gì vẫn còn không biết, vẫn còn không biết
mới gọi là nghi tình. Không phải không biết của người
ngủ mê, chết giấc, bệnh tâm thần.
Nghi
tình là thắc mắc muốn biết nhưng không biết nổi, không
cho tìm hiểu, không cho suy nghĩ, không cho ghi nhớ. Tức là
tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết đều chấm dứt
(chấm dứt hoạt động của ý thức).
-
Vậy có giống như niệm không?
-
Niệm không có nghi tình, không có dấu hỏi, còn tham thiền
luôn luôn có dấu hỏi.
-
Khi mình khởi lên suy nghĩ thì đã có dấu hỏi phải không?
-
Không phải, vì không cho suy nghĩ mà lại có thắc mắc muốn
biết, nên mới khác hơn hồ nghi. Suy nghĩ của nhà khoa học
gọi là hồ nghi, còn tham thiền là chánh nghi. Chánh nghi mới
ngộ được tâm mình, còn hồ nghi là ngộ được cái ở ngoài.
Như nhà khoa học chỉ ngộ ở ngoài tâm, có giá trị ở thế
gian, không ngộ tâm mình nên không làm chủ chính mình. Tham
thiền là ngộ chính mình mới giải thoát được tự do tự
tại.
-
Nếu mình hỏi trở thành thói quen có phải giống như niệm
không?
-
Không cho trở thành niệm, luôn luôn phải giữ nghi tình, nên
mới nói là nghi tình, nghi tình là có dấu hỏi, còn niệm
là không có dấu hỏi.
-
Như mình đang làm việc, nhưng trong đầu khởi lên câu thoại
đầu, có phải lúc đó là niệm không?
-
Lúc đó là niệm, ban đầu tập tham khi làm việc thì ngưng
tham, còn tự động khởi lên thì mặc kệ nó.
Hỏi:
Kiến
là nhìn, văn là nghe, còn giác và tri như thế nào?
Đáp:
Khứu
giác, thiệt giác, xúc giác, 3 thứ này gọi là giác; tri là
ý thức (thức thứ 6). Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân là 5 thứ
này đối với cảnh trước mắt, còn ý căn đối với pháp
trần là quá khứ, vị lai, khỏi cần trước mắt, như mình
ngủ mê không thấy trong phòng, nhưng thấy được xa.
Phật
Thích Ca lúc ấy không nói Đại thừa hay Tiểu thừa, nếu
người nào không lãnh hội Đại thừa thì Phật mới thuyết
pháp Tiểu thừa, thuyết pháp Tiểu thừa nhưng không nói pháp
đó là pháp Tiểu thừa. Sau này người ta đem lời thuyết
pháp của Phật chia ra thành nhiều thời, ở Trung Quốc gọi
là phán giáo.
Hỏi:
Đọc
trong một quyển sách:
-
Có người hỏi Hòa Thượng Hư Vân: Phải chăng chùa này tu
thiền?
-
Đúng đấy, đây là một trung tâm Thiền tông Trung Hoa.
-
Như vậy, trong chùa có thờ Phật A Di Đà và có các thời
khóa tụng niệm không?
-
Hòa Thượng Hư Vân ngạc nhiên, nhưng vẫn trả lời: Tại
sao lại không? Chúng tôi cũng thờ Phật A Di Đà và hàng ngày
khuya sớm đều có các khóa lễ.
-
Nếu như thế nơi đây đâu phải chuyên về tu thiền?
-
Tại sao như vậy? Chùa nào chẳng thờ Phật và có các thời
khóa tụng kinh!
-
Nhưng tôi nghe nói Thiền tông chủ trương là giáo ngoại biệt
truyền bất lập văn tự kia mà?
-
Đến khi đó Hòa Thượng Hư Vân mới hiểu ra rồi bậc cười
ha hả!! Mấy trăm năm trước có một số tu viện có đường
lối chủ trương riêng, nhưng theo thời gian có sự thay đổi,
hiện nay không còn phân chia nữa, hiển nhiên là như thế rồi,
đường lối chủ trương đều là phương tiện hình thức
bên ngoài.
-
Phải chăng khi nói đến chữ ‘thiền’ là ám chỉ thiền
trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật?
-
Đúng vậy.
-
Dĩ nhiên Phật tánh thì ai cũng có, các hạng người căn cơ
khác nhau đâu có thể ai cũng ngộ được đỉnh cao để quán
triệt phương pháp cao siêu tối thượng? Chùa dạy các pháp
môn như Tịnh Độ niệm hồng danh Phật A Di Đà để cầu
vãng sanh, như vậy có mâu thuẩn không? Như trung tâm thiền
mà dạy về Tịnh Độ. Tôi chưa dứt lời thì Hòa Thượng
cười mãi không thôi.
-
Thí chủ khéo nói lắm, mâu thuẩn ư! Làm gì có chuyện mâu
thuẩn? Không bao giờ. Mặc dù, Phật Thích Ca đã dạy 84.000
pháp môn khác nhau, nhưng tất cả chỉ con đường duy nhất
là thoát khổ, tùy theo căn cơ của chúng sanh thích hợp theo
một phương pháp khác nhau.
-
Nhưng nếu đã gặp cõi Tây Phương Cực Lạc có đức Phật
A Di Đà và lời nguyện thuyết diễn của ngài thì tại sao
Hòa Thượng còn giảng dạy về thiền? Vì Tịnh Độ và Thiền
đâu có gì khác biệt?
-
Nhưng hai pháp môn đó hoàn toàn khác nhau, phải chăng Thí chủ
nói rằng Thiền chú trọng về tự lực, Tịnh Độ chú trọng
vào tha lực?
-
Vừa nghe đến đó, tôi ngắt lời ngay. Đúng vậy. Tự lực
và tha lực làm sao giống nhau được? Ngay lúc đó tôi cảm
thấy hình như các căn khó chịu vì cử chỉ bất kính của
tôi, một người lịch sự không bao giờ chất vấn và ngắt
lời người khác, hơn nữa trước mặt tôi không phải là
một Tu Sĩ bình thường! Mà là một vị Tổ đức cao đạo
trọng được tôn kính khắp nơi.
-
Tuy nhiên, Hòa Thượng Hư Vân thản nhiên không trách, vì thiếu
lễ độ của tôi. Ngài mỉm cười một cách thích thú và
nói: Này Thí chủ! Mắc công để ý sự khác biệt đó làm
chi? Khi còn phân biệt chấp trước, có phải, có trái, có
trước, có sau, có cái này, có cái kia. Nhưng khi đã vượt
ra đối đãi nhị nguyên thì tất cả chỉ có một kia mà!
Chắc
hẳn Thí chủ cũng biết tâm Phật và tâm chúng sanh vốn không
hai, Thí chủ có thể xem tâm như một cái gì ở bên trong hay
bên ngoài, nhưng trong hay ngoài thì đâu có nghĩa tuyệt đối,
mà chỉ là tương đối nhị nguyên mà thôi.
Từ
vô thỉ đến nay tâm vốn không sanh diệt, không hình tướng,
không thuộc có không, không hề cũ mới. Chỉ vì chúng sanh
sanh chỉ chấp hình tướng bên ngoài mà đi tìm Phật, nên
chư Phật và chúng sanh mới xa cách muôn trùng, ta và tha nhân
là hai chủ thể khác nhau.
Này
Thí chủ, Tổ Bồ Đề Đạt Ma suốt 9 năm ngồi quay vào vách
để suy nghĩ gì? Phải chăng ngài thấy tâm là Phật, Phật
tức là chúng sanh, khi mê có Phật có chúng sanh, khi ngộ thì
chúng sanh và chư Phật nào có khác! Chơn tâm này vốn không
sanh, không diệt, không dơ, không sạch. Khi làm chúng sanh, tâm
không tăng giảm, khi làm chư Phật, tâm cũng không thêm bớt.
Do đó, ngài vượt thoát ra ngoài sự khổ đau phiền não, vượt
ra ngoài bánh xe luân hồi đạt đến Niết Bàn giải thoát.
-
Nhưng Tổ Bồ Đề Đạt Ma đâu có đề cập Phật A Di Đà
hay cõi Cực Lạc?
-
Đúng thế, nhưng ngài không đề cập về vấn đề đó, như
Thí chủ hãy thử nghĩ coi! Khi những dân quê hiền lành chất
phát đến nghe ta thuyết pháp, phải chăng ta phải giảng cho
họ thực tại vô ngã, về tánh không hay con đường bất nhị.
Những điều này có ý nghĩa gì với họ, phải chăng chỉ
là những danh từ trừu tượng trống rỗng không thể hiểu
và không ích lợi gì!
-
Nhưng ta giảng về đức Phật A Di Đà, những hạnh nguyện
của ngài thì họ sẽ hiểu, sẽ tin và phát tâm sanh về cõi
đó. Nếu suốt ngày họ trì niệm đức A Di Đà và chú tâm
vào hồng danh. Lúc làm ruộng, lúc nghỉ ngơi, khi gặt lúa,
khi lùa trâu về chuồng, họ trì niệm đến nhất tâm bất
loạn thì ảo ảnh nhị nguyên vô minh, cái tâm phân biệt có
chúng sanh có chư Phật sẽ chấm dứt thì họ sẽ chứng ngộ
được thực tại mầu nhiệm ngay.
-
Dù người ta gọi đó là tha lực tiếp dẫn của Phật A Di
Đà hoặc là thiền hoặc là nhất tâm thì điều này có gì
khác biệt đâu? Cái khả năng giải thoát mà người ta rằng
vốn ở bên ngoài tha lực, thật ra ở bên trong tự lực lúc
nào cũng sẵn có kia mà! Aø, thì ra vậy! Điều Tổ Bồ Đề
Đạt Ma tìm ra trong lúc ngồi thiền, người dân quê chất
phát tìm ra được trong khi niệm hồng danh Phật A Di Đà đều
giống như nhau, cả hai đều tìm được nhất tâm.
Như
thế, tôi hiểu rồi. Bất chợt, Hòa thượng Hư Vân quát ngay:
Không tìm được điều gì cả, vì tâm thanh tịnh vốn sẵn
có kia mà! Làm gì phải đi tìm ở đâu? Nếu lấy tâm đi tìm
tâm thì làm sao thấy?
Câu
trả lời của ngài khiến tôi giật mình vì tôi được cải
chính, như tôi thấy ngài mỉm cười có vẻ đã hài lòng về
điều gì, phải chăng ngài đã biết tôi đã sử dụng những
gì một cách nhằm lẫn và thế tôi đã sử dụng cái gì bên
ngoài mà người ta đã tìm thấy được. Đáng lẽ ra tôi có
thể dùng danh từ khác như quán chiếu, thấy,… Tôi nói ngay:
Như thế là những danh từ thôi!
Đoạn
văn trên, theo Sư Phụ nghĩ sao?
Đáp:
Tâm
của mỗi người và tâm của chư Phật đều bằng nhau, nhưng
ý thức của mỗi người lại khác nhau. Nên Phật tùy theo
ý thức của chúng sanh mà thuyết ra có 84.000 pháp môn khác
nhau. Như ở Trung Quốc có 5 hệ: Thiền, Tịnh, Luật, Giáo,
Mật.
Mật
tông là giáo mật truyền thọ nên tôi không thể nói được,
Thiền là Tổ Sư thiền. Luật tông là trì giới luật, Tịnh
Độ là cầu vãng sanh, Giáo môn ở Trung Quốc có 4 tông (Thiên
Thai, Hiền Thủ, Tam Luận, Duy Thức).
Như
Thiên Thai tông có tam chỉ tam quán giống như kinh Phật. Tông
Hiền Thủ có Pháp Giới Quán Thiền lại khác, có 4 pháp giới
(lý pháp giới, sự pháp giới, lý sự vô ngại pháp giới,
sự sự vô ngại pháp giới). Duy thức có Duy thức Quán Thiền.
Tam Luận thì có Tánh Không Quán Thiền. Mỗi tông mỗi phái
đều có thiền quán riêng biệt của tông phái đó.
Mặc
dầu, Phật nói nhiều kinh, nhưng truyền dạy trực tiếp là
Tổ Sư thiền. Mấy pháp kia chỉ nói ở trong kinh mà không
có thân truyền.
Phật
giáo đồ tu Tịnh Độ là hết 80%, nhưng sự thật nhiều người
còn chưa biết Tịnh Độ, luôn cả ông này hỏi cũng không
biết và cũng không biết Thiền. Nói đến Thiền là Tổ Sư
thiền, không phải các Thiền kia, mà Tịnh Độ cũng có Thiền.
Cho nên, Ngài Hư Vân chỉ có thể cười ha hả thôi, biết
y là người Tây phương chỉ biết hiểu theo ý thức.
Theo
Giáo môn thì không chê bai quở trách người hỏi pháp, còn
Thiền tông thì lại khác, vào cửa liền đánh, vào cửa liền
hét cho đến bạt tai và đá nữa, đủ thứ cơ xảo khác nhau.
Nên gọi là pháp thiền trực tiếp để cắt ngang đường
suối ý thức ngay nơi đó mà được ngộ.
Phật
muốn cho người ta ngộ, không muốn cho người ta hiểu. Theo
bậc hữu học thấp hơn bậc vô học, như ông này hỏi cũng
lọt vào hữu học. Vô học còn ở trong phạm vi Tiểu thừa,
hữu học chưa có tư cách vào cửa Tiểu thừa. Tuy ngài Hư
Vân cười ha hả và cũng nói ít lời cho người hỏi được
thỏa mãn. Bây giờ, tất cả Phật tử đều như vậy.
Hỏi:
Ngài
Hư Vân nói chuyện nhị nguyên với người dân quê thì người
ta không hiểu, nên nói cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà. Như
Sư Phụ hoằng pháp ở Việt Nam, tất cả mọi tầng lớp giai
cấp làm sao tin một pháp môn mà tu?
Đáp:
Tôi
đến thuyết pháp các Trường Hạ và các Phật Học Viện,
người ta hỏi cái gì thì tôi giảng cái đó, không phải tôi
bảo ai cũng tu Tổ Sư thiền, tôi cũng biết người có căn
cơ Tổ Sư thiền rất ít. Người ta hỏi Tịnh Độ thì tôi
giải thích Tịnh Độ, tôi nghĩ sau này có thể làm ra Đường
Lối Thực Hành Tịnh Độ của Ngài Ấn Quang là Tổ 13 Tịnh
Độ, để người ta biết đường lối tu cho đúng.
Bây
giờ Phật giáo đồ có 80% tu Tịnh Độ, như phần nhiều không
biết Tịnh Độ, mà lại chỉ trích Thiền. Có số người
đem ý của mình thay cho ý Phật để dạy người, làm cho người
ta bị hiểu lầm ý của Phật.
Có
người đến nhà giúp đỡ người ta cho là hạnh Bồ Tát,
nhưng không phải, vì họ làm việc phát xuất từ cái ngã,
tức là có tôi đi giúp. Đúng hạnh Bồ Tát là phá ngã chấp,
như ông ăn cơm vì chúng sanh mà ăn cơm, mặc áo vì chúng sanh
mà mặc áo, bất cứ làm cái gì cũng vì chúng sanh, không phải
vì ta.
Nếu
thực hành như vậy thì lâu ngày sẽ phá được ngã chấp.
Tức là không nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ đến chúng sanh,
nghĩa là nuôi thân này rồi để giúp đỡ người ta. Tuy chưa
làm, nhưng có tư tưởng như vậy cũng là tốt.
Hỏi:
Đối
với việc làm đó không thấy cái lợi cho người phải không?
Đáp:
Sao
không có lợi cho người! Mình gặp việc gì cũng đều giúp,
chứ không phải không giúp. Như ăn cơm cũng là giúp,
mặc áo cũng là giúp, không nghĩ ăn cơm vì mình, mặc áo vì
mình. Tức là luyện tư tưởng không nghĩ đến mình, vì người
ta lâu đời thường nghĩ đến mình trước, rồi nghĩ đến
người khác. Bây giờ, mình tập nghĩ đến người khác, chứ
không nghĩ đến mình thì lâu ngày cũng thành thói quen. Tôi
nói cái này là giáo môn.
Theo
Tổ Sư thiền thì khác, chỉ cần hỏi câu thoại và nhìn thoại
đầu. Vì những cái kia còn đối đãi, như vô ngã thì đối
với ngã. Thực tế ngã không thành lập thì vô ngã cũng không
thành lập, tại kiến lập cái ngã, rồi phá cái ngã mới
nói vô ngã. Kỳ thật, có ngã nên mới có vô ngã thì còn
nằm trong tương đối. Tổ Sư thiền thì tất cả tương
đối đều quét sạch.
Hỏi:
Tự
lực và tha lực của Ngài Hư Vân nói ở đoạn văn trên, theo
Sư Phụ nghĩ sao?
Đáp:
Tự
lực và tha lực ở trong Hư Vân Niên Phổ không nói giống
như vậy. Bởi vì cái nào cũng phải nhờ tự lực là chính,
chứ không phải nhờ tha lực là chính. Nếu mình nhờ tha lực
được thì tự mình khỏi tu, không có cái nào nhờ tha lực
được đều phải nhờ tự lực, mà cũng nhờ tha lực nữa.
Tổ Sư thiền và Tịnh Độ đều nhờ tự lực và tha lực,
đâu phải chỉ nhờ tha lực không?
Tổ
Sư thiền nhờ tự lực, rồi cũng nhờ tha lực, như bạn đồng
tham, thầy dạy, thầy y chỉ,… đến lúc được cơ duyên
ngộ cũng là nhờ tha lực. Không có pháp môn nào mà chỉ nhờ
tự lực mà không nhờ tha lực, cũng không có pháp môn nào
chỉ nhờ tha lực mà không nhờ tự lực. Pháp môn nào đều
cũng nhờ tha lực và tự lực.
Không
những như vậy, mà tất cả vạn vật đều có nhân duyên
với nhau, chứ không có pháp nào mà độc lập được! Tất
cả đều làm nhân quả với nhau. Vì người này có tâm chấp,
nên nói ra đều là theo ý của mình để thêm vô, không phải
hoàn toàn ý của Ngài Hư Vân.
Hỏi:
Trong
phẩm Quán Chúng Sanh: Văn Thù hỏi Duy Ma Cật rằng: Bồ Tát
quán chúng sanh như thế nào? Duy Ma Cật đáp: Ví như nhà huyễn
thuật thấy người huyễn của mình hóa ra, Bồ Tát nên quán
chúng sanh như thế!
Văn
Thù nói: Bồ Tát quán như thế làm sao hành việc từ?…Tại
sao quán chúng sanh như nhà ảo thuật thấy người huyễn hóa
do mình làm ra?
Đáp:
Vì
không chấp chúng sanh. Chúng sanh tức phi chúng sanh, thị danh
chúng sanh. Nếu thật có chúng sanh thì không đúng, tại thực
tế không có chúng sanh. Phật nói 2 chữ “vô thỉ” tức
là không có bắt đầu, cũng là nghĩa vô sanh (không có sự
sanh khởi). Vì có sanh nên có sự bắt đầu, không có sanh
làm sao có chúng sanh? Cho nên, người chứng quả ngộ pháp
vô sanh. Nếu chấp có chúng sanh là sở trụ, không phải vô
trụ.
Hỏi:
Khi
kiết tập kinh điển có phân ra kinh Đại thừa và kinh Tiểu
thừa không?
Đáp:
Lúc
kiết tập thì không có phân ra kinh Đại thừa và kinh Tiểu
thừa. Ban đầu kiết tập kinh Tiểu thừa, mà Tiểu thừa hồi
đó có 2 bộ phái (Đại chúng và Thượng tọa), một bộ chia
ra 11 phái và còn một bộ chia ra 19 phái, cộng chung là 20 bộ
phái. Sau này, tuy là kinh của Phật nhưng mỗi bộ phái cũng
có hơi khác, gọi là đại đồng tiểu dị (tổng quát thì
giống nhau, có một chút lại khác).
Như
Phật đản cũng có mấy chục thứ, sau này hội nghị quốc
tế ở Nam Vang mới thống nhất ngày Phật đản là ngày 15
tháng 4 âm lịch, trước đó là ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch.
Nay Phật lịch 2540, nhưng Tổ bên Thiền tông tính đến bây
giờ đã hơn 3.000 năm rồi. Thành ra thấy chênh lệch nhau gần
500 năm.
-
Có người hỏi tôi: Trong kinh Pháp Hoa, Phật sanh ra vô số
trần kiếp và bây giờ Phật sanh cách nay là 2540 năm.
Vậy Phật sanh ra năm nào đúng?
-
Tôi nói: Đúng thì cái nào cũng đúng, còn sai thì cái nào
cũng sai. Vì Phật đã nói là “vô thỉ”, vô thỉ thì không
có đúng sai. Nếu trước vô thỉ làm sao có trước? Và nói
từ vô thỉ (sau vô thỉ), vô thỉ không có sau. Trước và
sau không được, phải hữu thỉ rồi mới có trước sau. Bởi
vì lời nói ra đều là bệnh (ngữ bệnh).
-
Đức Phật từ cung trời Đâu Suất xuống cõi Ta Bà có 8 tướng
thị hiện. Chính Phật Thích Ca nói: “Hiện nay, ta ở cõi
Ta Bà giảng kinh Pháp Hoa, mà đồng thời ta hóa thân giảng
kinh Pháp Hoa ở thế giới khác, nhưng tuổi tác và hiệu Phật
không đồng nhau, rất nhiều không thể tính được”. Như
Phật nói là thiên bá ức hóa thân, bây giờ nói Phật nào
thật và không phải thật? Phật nào không phải hóa thân?
Ở chỗ nào cũng thật và ở chỗ nào cũng hóa thân.
Hỏi:
Tại
sao trong kinh nói: “Cúng dường vô số chư Phật không bằng
thực hành tứ cú kệ”?
Đáp:
Cúng
dường chư Phật là chỉ được phước đức thì hưởng lâu
ngày cũng phải hết, vì phước đức này còn ở trong số
lượng. Nếu thực hành tứ cú kệ, tức là tu được chánh
nhân thì sau này sẽ được thành Phật có công đức của
tự tánh, nên hưởng không bao giờ hết, vì công đức này
vượt ra ngoài số lượng.
Tứ
cú kệ không phải 4 câu của kinh Kim Cang và kinh Pháp Hoa, mà
là tứ cú. Nguồn gốc đều thuộc về tứ cú là hữu và
vô. Tại sao nói 62 kiến chấp? Vì: Tứ cú X ngũ uẩn = 20 X
tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai) = 60 + nguồn gốc (hữu
và vô) = 62. Bất cứ cái gì đều ở trong 62 kiến chấp này.
Hỏi:
Tâm
không định làm sao tham thiền được?
Đáp:
Đừng
để ý tâm định hay không định, nên phải tập tham, nếu
tham thiền mỗi ngày tăng được 1 phút thì 1 tháng tăng được
30 phút, 1 năm được 6 giờ, 4 năm tham được 24 giờ trong
1 ngày đêm thì đến thoại đầu. Đến thoại đầu trong thời
gian ngắn sẽ được kiến tánh. Nếu 1 ngày tăng được nửa
phút thì 8 năm đến thoại đầu, 1 ngày tăng được ¼ phút
thì 16 năm đến thoại đầu.
Tại
sao dùng cái không biết để chấm dứt tất cả biết (tìm
hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết)? Vì cái biết đó
là ý thức hoạt động. Ngũ Đình Tâm Quán của Tiểu thừa
mục đích đình chỉ hoạt động của tâm, hiện nay có người
đang tu Sổ Tức Quán, nhưng họ tu còn rất thô nên không được
chứng quả.
Không
biết là phiền não chướng, biết là sở tri chướng. Những
người tu Sổ Tức Quán còn dùng cái biết thô, chưa đến
chỗ vi tế. Vi tế sở tri ngu, còn tiến thêm là cực vi tế
sở tri ngu. Vừa rồi nói sở tri chướng là ngu, nhưng người
ta chưa tu đến mức đó.
Hỏi:
Nếu
người có công phu đến tận cùng cái biết thì tự nhiên
họ sẽ đến chỗ không biết (nghi tình) phải không?
Đáp:
Tận
cùng cái biết là dùng hết sức ý thức, nhưng làm sao biết
là tận cùng? Bình thường 1 phút là 17 hơi thở, người có
tu cũng có thể 1 phút 10 hơi thởø (hơi thở dài). 1 hơi
thở được 6 giây, 1 giây nhà Phật chia ra 60 sát na. 6 giây
= 360 sát na. Nếu ở trong hơi thở cứ quán hơi thở dài ngắn
thì ý thức dễ biết, nên không đến chỗ vi tế được.
Như
đem 1 sát na chia làm 60 A, 1 A chia làm 60 B, 1 B làm 60 C; đến
C là vi tế nhưng chưa thật vi tế. Chia lại là: 1 sát na =
60 A 1, 1 A 1 = 60 A 2, 1 A 2 = 60 A 3, 1 A 3 = 60 A 4, rồi chia đến
A 10 thì rất vi tế. Rồi đem 1 A 10 chia = 60 B 1, 1 B 1 = 60 B
2, 1 B 2 = 60 B 3, rồi chia đến B 10. B 10 chia = 60 C 1,… nhưng
mỗi thời gian đều có sanh, trụ, dị, diệt. Nếu đến C
9 không có sanh, trụ, dị, diệt thì không đến C 10. Thời
gian thật nhanh nhưng vẫn có sanh, trụ, dị, diệt.
Bây
giờ mình nói ra một tiếng thì trải qua biết bao nhiêu C 9
biết không? Cả tỷ C 9 rồi. Nhưng mỗi C đều có sanh, trụ,
dị, diệt. Cứ chia mãi thì có con số biểu thị sanh, trụ,
dị, diệt. Trong lúc đó ý thức đã kiệt sức, đến chỗ
vi tế thì đã mơ hồ, tức là không thể dùng ý thức được
nữa, nhưng còn biết mơ hồ thì thấy mênh mông, như nhìn
ra biển không thấy bờ bến, nên có thể lọt vào vô ký không
hoặc là lọt vào không chấp.
Như
Đại thừa lọt vào không chấp, vì mênh mông không thấy gì,
còn không lọt vào không chấp thì lọt vào vô ký không.
Các
pháp môn khác tu đến cuối cùng đều phải phát nghi, còn
Thiền tông bước đầu tiên là phát nghi. Pháp môn Tịnh Độ
đến Tây Phương Cực Lạc nhờ Phật A Di Đà dạy tham thiền
rồi mới phát nghi.
Pháp
tu Tiểu thừa là cuối cùng dứt được lục căn, nhưng bây
giờ chưa thấy ai tu chứng quả. Theo cách tu người dạy hiện
nay chứng sơ quả còn thấy khó!
Hỏi:
Giác
là xúc giác, kiến là thị giác, văn là thính giác, đã là
giác sao còn chia ra là kiến, văn, giác, tri?
Đáp:
Kiến
là thấy thuộc về nhãn thức, văn là nghe thuộc về nhĩ thức,
tỷ là khứu giác, thân là xúc giác, thiệt là vị giác. Nếu
gọi chung là giác tri, nhưng chia có 4 loại (kiến, văn,
giác, tri), như kinh Lăng Nghiêm nói là ‘tri giác nãi chúng
sanh’.
Vì
chia như vậy là do thị giác, thính giác thì cần có không
gian, mà 3 giác kia không cần có không gian.
Hỏi:
Có
phải Tam Ma Địa là đại định không?
Đáp:
Đại
định là Na Già định (Pháp Bảo Đàn Kinh), Tam Ma Đề là
thiền giả quán (biến hóa), nguyên 4 âm là Tam Ma Bát Đề,
Tam Ma Địa và Tam Ma Đề theo chữ Hán là một âm, nên người
ta dịch là Tam Ma Địa hay là Tam Ma Đề.
-
Trong này nhắc đi nhắc lại các vị chứng Tam Ma Địa thì
được vào đại định, vậy nghĩa như thế nào?
-
Theo tông Thiên Thai dùng giả quán là thiền có biến hóa dời
đổi sanh, trụ, dị, diệt từng sát na mà mình không hay. Trong
kinh Viên Giác nói: “Như lúa mạ dần dần tăng trưởng”,
mình biết dần dần tăng trưởng đang biến hóa, nhưng nhìn
không thấy nó biến hóa. Như cơ thể mình đang biến hóa mà
mình không thấy được. Thiền quán đó gọi là Tam Ma Đề.
Hỏi:
Ngũ
thời, bát giáo là gì?
Đáp:
Ngũ
giáo ở Trung Quốc có 5 hệ phái (Tổ Sư thiền, Giáo môn,
Tịnh Độ, Mật tông, Luật tông).
Phật
thuyết pháp chia ra làm 3 giáo thời:
-
Giáo thời thứ nhất: Khi Phật mới thành đạo, vì muốm phá
chấp trước của phàm phu và ngoại đạo nên nói các pháp
tứ đại ngũ uẩn để sáng tỏ không thật là những bộ
kinh Tứ A Hàm, Tăng Nhất A Hàm, Trường A Hàm, Trung A Hàm và
Tạp A Hàm (Tiểu thừa).
-
Giáo thời thứ hai: Phật vì phá chấp pháp của Tiểu thừa
nên thuyết pháp tất cả pháp đều không thật là những bộ
kinh Bát Nhã.
-
Giáo thời thứ ba: Phật vì phá sự chấp có của Tiểu thừa
và phá chấp không của Đại thừa nên thuyết pháp chẳng
có chẳng không để sáng tỏ nghĩa bất nhị của trung đạo,
như những bộ kinh thâm mật Pháp Hoa,…
Đây
là theo thời gian mà chia ra làm 3 thời.
Còn
3 loại khác biệt:
-
Giải thích các pháp có là đệ nhất thời.
-
Giải thích các pháp không là đệ nhị thời.
-
Giải thích giáo pháp trung đạo bất nhị là đệ tam thời.
Ba
thời này không phải y theo thời gian, chẳng kể thời gian
trước hay sau, mà chỉ phân theo nghĩa loại. Đây gọi là 3
thời giáo.
Không
có bát giáo, bát khổ thì có, từ tam khổ cho đến vô lượng
khổ.
Hỏi:
Thế
nào là không tịch?
Đáp:
Không
tịch như tịch lặng là hình dung bản thể của tâm, vô sở
hữu là không tịch, như hư không này mình thấy là không tịch.
Tịch là không động, không là trống rỗng. Nên Ngài Long Thọ
đem hư không trống rỗng để hình dung cho tâm mình, thì tâm
mình cũng là vô sở hữu.
Hỏi:
Phiền
não có 2:
-
Nhuận nghiệp vô minh, nhuận là thắm nhuần phiền não quá
khứ.
-
Nhuận sanh vô minh là đi đầu thai nơi tình thức sanh khởi
yêu ghét đối với cha mẹ.
Hai
phiền não này vốn không có tự tánh, nếu ngộ được tự
tánh thì chẳng có việc gì, tức là ngay đó không tịch thì
ai còn có phiền não?
Đáp:
Không
phải chỉ có hai pháp này không có tự tánh, mà tất cả đều
không có tự tánh, chúng sanh và Phật cũng không có tự tánh.
Tức là không có pháp nào mà có tự tánh! Vì tự tánh vô
sở hữu, tất cả pháp đều là tâm, tâm đã vô sở hữu
thì các pháp đều vô sở hữu.
-
Thiền Sư Bổn Tịnh là họ Trương, quê Hán Châu, xuất gia
lúc còn nhỏ, nơi Tào Khê được Lục Tổ ấn chứng, ẩn
núi Tư Phong. Sau này, được nhà vua mời vào hoàng cung đàm
luận với các vị cao Tăng.
-
Thiền Sư Viễn hỏi: Ý của Thiền Sư cho thế nào là đạo?
Sư
nói: Vô tâm là đạo.
Viễn
nói: Đạo vì tâm mới có, đâu thể nói vô tâm là đạo?
Sư
nói: Đạo vốn vô sanh, bởi tâm mới gọi là đạo. Tâm chỉ
tên gọi, nếu mà thật có thì đạo cũng thật có. Tâm đã
không tìm ra thì đạo do đâu mà lập? Cả hai đều hư vọng,
thảy là giả danh.
Viễn
nói: Thiền Sư thấy có thân tâm là đạo hay không?
Sư
nói: Thân tâm của sơn Tăng vốn là đạo.
Viễn
nói: Vừa mới nói vô tâm là đạo, nay lại nói thân tâm vốn
là đạo, há chẳng phải ngược nhau ư!
Sư
nói: Vô tâm là đạo, tâm diệt, đạo vô; tâm và đạo nhất
như. Như nói vô tâm là đạo, thân tâm vốn là đạo, đạo
cũng vốn là thân tâm; thân tâm vốn là không thì tìm cội
nguồn của đạo cũng chẳng có.
Viễn
nói: Thấy hình tướng Thiền Sư rất nhỏ mà lại hiểu lý
này.
Sư
nói: Đại Đức chỉ thấy tướng của sơn Tăng, chẳng thấy
vô tướng của sơn Tăng, kẻ thấy tướng là Đại Đức cảm
thấy. Kinh nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”,
nếu thấy tướng phi tướng tức là thấy đạo, nếu cho tướng
là thật thì cũng chẳng thể thấy đạo.
Viễn
nói: Nay Thiền Sư ở nơi tướng mà thuyết nơi vô tướng!
Sư
nói: Kinh Duy Ma Cật nói: “Tứ đại vô chủ, thân cũng vô
ngã thì sở thấy cùng đạo tương ưng. Đại đức! Nếu cho
tứ đại có chủ là ngã, nếu có ngã kiến thì suốt kiếp
chẳng ngộ đạo vậy.
Viễn
nghe xong tâm không còn thắc mắc. Sư có kệ rằng:
Tứ
đại vô chủ, lại như thủy,
Gặp
cong gặp thẳng chẳng bỉ thử.
Hai chỗ tịnh uế chẳng sanh tâm,
Thông nhãn đâu từng có ý khác.
Gặp cảnh chỉ như thủy vô tâm,
Tung hoành trên đời có việc gì?
- Trí
Minh Thiền Sư hỏi: Nếu vô tâm là đạo thì ngói đá vô tâm
cũng là đạo, lại nói thân tâm vốn là đạo, tứ sanh thập
loại có thân tâm cũng là đạo?
Sư
nói: Nếu hiểu theo kiến, văn, giác, tri thì càng xa với đạo,
tức là kẻ cầu kiến, văn, giác, tri, chứ không phải kẻ
cầu đạo. Kinh nói: “Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý”,
lục căn còn không có thì kiến, văn, giác, tri do đâu mà kiến
lập? Tìm nguồn đã chẳng có thì chỗ nào còn tâm? Đâu thể
đồng với cây cỏ ngói đá!
Trí
Minh bịt miệng,
Sư
có kệ rằng:
Kiến,
văn, giác, tri vô chướng ngại,
Thanh,
hương, vị, xúc thường tam muội.
Như
ở nơi ‘không’ đều sanh ra,
Chẳng
lấy chẳng xả chẳng yêu ghét.
Nếu
nơi tiếp xúc vốn vô tâm,
Mới
được gọi là Quán Tự Tại.
- Chân
Thiền Sư hỏi: Đạo đã vô tâm, vậy Phật có tâm chăng?
Phật với đạo là một hay là hai?
Sư
đáp: Chẳng một cũng chẳng hai.
Hỏi:
Phật độ chúng sanh là có tâm, đạo chẳng độ người là
vô tâm; một độ một chẳng độ thì đâu thể chẳng hai?
Sư
đáp: Nếu nói Phật độ chúng sanh, đạo thì chẳng độ,
ấy là Đại Đức sanh vọng sanh nhị kiến, còn sơn Tăng không
phải vậy! Phật là hư danh, đạo cũng vọng lập, cả hai
đều chẳng thật, thảy đều là vọng sanh. Trong một cái
giả làm sao phân ra làm hai?
Hỏi:
Phật với đạo tuy là giả danh thì giả danh này ai lập? Nếu
có kẻ lập thì đâu thể nói không?
Sư
đáp: Phật với đạo bởi tâm mà lập, tuy lập nhưng tâm
vẫn là không, tâm đã là không liền ngộ cả hai đều chẳng
thật, biết như mộng huyễn thì ngộ vốn không, cưỡng lập
hai tên thật với giả, ấy là kiến giải của Nhị thừa.
Do
đó, Sư thuyết kệ vô tu vô tác rằng:
Thấy
đạo mới tu đạo,
Chẳng
thấy là sao tu?
Tánh
đạo như hư không,
Hư
không lấy gì tu?
Quán
khắp người tu đạo,
Vạch
lửa tìm bọt nước.
Thấy
xem hát múa rối,
Dây
đứt hết cả thôi.
-
Pháp Không Thiền Sư hỏi: Phật với đạo đều là giả danh,
vậy 12 phần giáo cũng không phải thật. Tại sao các tôn túc
xưa kia đều nói tu đạo?
Sư
đáp: Đại Đức hiểu lầm ý người xưa rồi, đạo vốn
vô tu, mà Đại Đức cưỡng tu! Đạo vốn vô tác, mà Đại
Đức cưỡng tác! Đạo vốn vô sự, mà lại cưỡng sanh nhiều
sự, đạo vốn vô tri, mà cưỡng sanh nhiều tri. Kiến giải
như thế là trái ngược với đạo. Các tôn túc xưa chẳng
nên như thế, chỉ vì Đại đức chẳng hiểu thôi, suy nghĩ
kỹ xem!
Sư
có kệ rằng:
Đạo
thể vốn vô tu,
Vô
tu tự hợp đạo.
Nếu
khởi tâm tu đạo,
Người
ấy chẳng hiểu đạo.
Bỏ
mất tánh nhất chân,
Lại
vào chỗ náo nhiệt.
Bổng
gặp người tu đạo,
Tốt
nhất chớ hướng đạo.
- Am
Thiền Sư hỏi: Đạo đã giả danh, Phật cũng vọng lập, 12
phần giáo dùng để thuyết Phật độ sanh, tất cả đều
vọng thì lấy gì độ sanh?
Sư
đáp: Vì có vọng nên mới lập chân để đối trị cái vọng,
nay truy tìm tánh vọng vốn không thì chân cũng đâu có. Nên
biết chân vọng đều là giả danh, hai việc đối trị với
nhau nên chẳng thật thể. Suy tìm cội gốc thì tất cả đều
không.
Hỏi:
Đã nói tất cả đều vọng, vọng cũng đồng chân, chân vọng
chẳng khác, vậy là vật gì?
Sư
đáp: Nếu nói vật gì thì vật gì cũng vọng, khi nói không
tương tự chẳng so sánh, đường ngôn ngữ dứt, như chim bay
trên hư không thì chẳng có dấu vết.
Am
cảm thấy hổ thẹn kính phục. Sư có kệ rằng:
Suy
chân chân vô tướng,
Tìm
vọng vọng giả danh.
Ngộ
đạo cũng như thế,
Rốt
cuộc chỉ là vậy.
- Đại
Tánh Thiền Sư hỏi: Lời Thiền Sư rất vi diệu, chân vọng
đều diệt, Phật đạo đồng quy, tu hành tánh không, nên tướng
chẳng thật, thế giới như huyễn, tất cả giả danh, lúc
hiểu theo như thế, chẳng phải đoạn dứt hai gốc thiện
ác của chúng sanh ư?
Sư
đáp: Hai gốc thiện ác bởi tâm mới có, tìm tâm có thì gốc
mới có, suy tâm đã không thì gốc do đâu mà lập? Kinh nói:
“Pháp thiện và pháp bất thiện từ nơi tâm hóa sanh, thiện
ác nghiệp duyên vốn chẳng có thật.
Sư
có kệ rằng:
Thiện
cũng từ tâm sanh,
Ác
cũng chẳng lìa tâm.
Thiện
ác là ngoại duyên,
Nơi
tâm thật chẳng có.
Bỏ
ác về chỗ nào?
Lấy
kiến để ai giữ?
Than
ôi! Người giữ kiến!
Phan
duyên chạy hai đầu,
Nếu
ngộ tâm vốn không,
Mới
biết trước lỗi lầm.
- Có
Đại Thần hỏi: Thân này từ đâu đến, trăm năm sau đi về
đâu?
Sư
đáp: Như người lúc mơ từ đâu đến, lúc thức tỉnh đi
về đâu?
Hỏi:
Lúc mơ chẳng thể nói không, lúc thức tỉnh chẳng thể nói
có. Dù có nhưng vô vãng lai, mà chẳng xứ sở.
Sư
đáp: Thân của sơn Tăng này cũng giống như mộng. Khai thị
kệ rằng:
Nhân
sanh như trong mộng,
Trong
mộng thật náo nhiệt.
Bỗng
giác vạn sự như,
Đồng
như người mới thức,
Người
trí ngộ việc mộng.
Kẻ
mê tin mộng thật,
Tỉnh
mộng như là hai.
Khế
ngộ thì chẳng khác,
Phú
quí với bần tiện,
Chẳng
có đường phân biệt.
Năm
thứ 2 niên hiệu Thượng Nguyên nhà Đường. Sư viên tịch,
vua ban hiệu Đại Hiểu Thiền Sư.
Hỏi:
-
Ngươi dạy người tu Tam Ma Địa thì phải dứt tâm trộm cắp,
ấy là lời dạy rõ ràng trong sạch, gọi là nghĩa quyết định
thứ 3 của chư Phật.
-
A Nan! Không dứt tâm trộm cắp mà tu thiền định, như người
lấy nước rót vào bình chảy, mong cho đầy bình, dù trải
qua bao số kiếp, cũng không thể đầy.
-
Nếu hàng Tỳ Kheo ngoài y bát ra, mảy may không tích trữ, xin
ăn có dư bố thí cho kẻ đói, giữa nơi nhóm họp, chấp tay
lễ chúng, có người đánh mắng, đồng như khen ngợi, quyết
định xả bỏ thân tâm, với tất cả chúng sanh cộng chung
một da thịt xương máu. Chẳng lấy thuyết bất liễu nghĩa
của Như Lai làm chỗ hiểu của mình, rồi dạy lầm mà hại
cho kẻ sơ học thì Phật ấn chứng người ấy được chơn
tam muội.
Kính
xin Sư Phụ khai thị: “Chẳng lấy bất liễu nghĩa của Như
Lai làm chỗ hiểu của mình”?
Đáp:
Pháp
của Tiểu thừa là pháp bất liễu nghĩa, vì pháp này không
đến chỗ cứu kính. Nhưng pháp nào cho là thật đều bất
liễu nghĩa, như các kinh Địa Tạng, kinh dược Sư, kinh A Di
Đà,… đều là kinh bất liễu nghĩa. Kinh Lăng Nghiêm, kinh
Lăng Già, kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm,… đều là kinh liễu
nghĩa.
Thiền
tông là ở ngoài giáo điển, tức là bất lập văn tự thì
liễu nghĩa và bất liễu nghĩa đều quét sạch. Vì liễu nghĩa
đối với bất liễu nghĩa còn ở trong tương đối.
Nếu
giảng kinh bất liễu nghĩa cho người nghe thì phải nói trước
để cho người ta biết là kinh bất liễu nghĩa. Tuy là kinh
này để độ những người hạ căn, nhưng phải chừa con đường
đi thông vào liễu nghĩa.
Hỏi:
Nếu
người ta chỉ dạy người khác tin cõi Phật A Di Đà và khuyến
khích niệm danh hiệu Phật A Di Đà, không còn pháp nào khác
nữa. Vậy thì như thế nào?
Đáp:
Phật
có quy định cho người thuyết pháp là đại khai duyên giải,
tức là giải ngộ tất cả các pháp đều không có khác, nếu
không thì lọt vào một bên, lọt vào một bên gọi là biên
kiến ở trong 5 năm thứ ác kiến. Nhiều người lọt vào biên
kiến mà tự mình không biết. Nên Ngài Bá Trượng nói: “Nếu
Pháp Sư thuyết pháp chỉ giảng được một câu hay hai câu
là nằm trong tương đối thì Pháp Sư đó bị tội địa ngục,
nếu giảng thấu 3 câu, mà người nghe hiểu lầm là lỗi của
người nghe, không dính dáng với Pháp Sư”.
Phật
trong kinh Pháp Hoa quy định tư cách Pháp Sư giảng kinh. Nếu
Pháp Sư không biết mà giảng bậy bạ, gọi là cuồng vọng
thuyết pháp bị tội địa ngục. Như Pháp Sư thuyết pháp
không người nào tin thì Pháp Sư đó không có tội, vì không
hại đến ai. Ngược lại, người tin nhiều thì Pháp Sư bị
tội lớn, người tin nhiều chừng nào thì tội lớn chừng
nấy.
Hỏi:
Thế
nào ấn chứng chơn tam muội?
Đáp:
Ngộ
triệt để thì mới ấn chứng được, chữ “ấn” là con
dấu để cho người ta tin. Bây giờ các cơ quan đều phải
dùng con dấu để cho người ta dễ tin.
Tam
muội là chánh định, tà ma ngoại đạo đều có định, nhưng
cái định đó không phải là chơn tam muội, vì họ còn ở
trong luân hồi. Nếu được chơn tam muội thì được giải
thoát các khổ của luân hồi.
Hỏi:
Có
phải nhập định thì không thể thấy mình định phải không?
Đáp:
Người
định thì không biết mình định, như Hòa thượng Hư Vân
ở núi Chung Nam thời tiết rất lạnh, trong khi nấu khoai, Ngài
ngồi nhập định không biết, lúc đó gần tết nhập định
qua tết. Các người ở gần không thấy Ngài đi ra, bèn đến
thăm thấy Ngài đang nhập định, rồi mới làm cho Ngài xuất
định.
Hỏi
Ngài nhập định được bao lâu? Ngài Hư Vân nói: “Vừa rồi
tôi nấu khoai chắc là khoai chín rồi!” Người ta đến nồi
khoai, mở nắp ra thấy mốc lên cao, người ta tính ra đã qua
nửa tháng. Nên người nhập định không biết, tưởng là
chỉ có một chút thời gian.
Hỏi:
Có
chỗ nói bát giáo là: Tạng Giáo, Thông Giáo, Liệt Giáo, Tiên
Giáo, Thần Giáo, Tiệm Giáo, Phật Giáo, Bất Định Giáo. Vậy
những thứ này như thế nào?
Đáp:
Những
thứ này là do tông đó chia ra như vậy, chứ Phật Giáo không
chia. Như trong kinh Lăng Già có chia theo căn tánh của chúng
sanh, gồm có: Thanh Văn chủng tánh, Duyên Giác chủng tánh,
Bồ Tát chủng tánh, Bất định chủng tánh, Ngoại đạo chủng
tánh.
Vừa
rồi nói giáo pháp tam thời là có nghĩa khác biệt mới chia
làm tam thời. Theo thời gian chia ra làm tam thời, đó là người
đời sau chia ra tổng quát, để các tông phái nào cũng đều
thích hợp.
“Đốn,
tiệm, thiên, viên”, những thứ này có thể còn có nghĩa.
Kỳ thật không có nghĩa để kiến lập. Kinh liễu nghĩa đều
bao gồm“Đốn, tiệm, thiên, viên”, như 5 quyển trước kinh
Lăng Nghiêm tiếp người thượng căn, gần như pháp đốn;
còn 5 quyển sau tiếp người trung, hạ căn. Mà bao gồm hết
gọi là viên, nghiêng về mê gọi là thiên, tiệm tu và đốn
ngộ gọi là đốn tiệm. Trong quyển kinh liễu nghĩa nào cũng
bao gồm đầy đủ.
Tạng
pali của Tiểu thừa không có Đại thừa, mà lại không nhìn
nhận có Đại thừa.
Kinh
Hoa Nghiêm bao gồm lục tướng (đồng, dị, tổng, biệt, thành,
hoại). Ở trong lục tướng chia ra làm 2: Sai biệt và bình
đẳng. Tướng thành, tướng đồng và tổng tướng là thuộc
về bình đẳng; còn tướng biệt, tướng dị và tướng hoại
là thuộc về sai biệt.
Hỏi:
Khác
biệt giữa Tiểu thừa và Đại thừa là như thế nào?
Đáp:
1.
Tiểu thừa ở trong giai đoạn ngã chấp, theo triết lý là
Chủ Quan Duy Vật Luận. Phật nói tâm mà tại sao Tiểu thừa
gọi là Duy Vật? Vì Tiểu thừa cho lục căn là thật, muốn
dứt lục căn. Lục căn đối với lục trần, mà lục trần
là vật. Như nhãn căn đối với sắc trần, sắc trần có
hình tướng vật chất; nhĩ căn đối với thanh trần bên ngoài,
hương, vị, xúc đều là vật, nên nói là vật. Ở trong phạm
vi tương đối, tu Tứ Diệu Đế, mà cuộc sống hàng ngày
đều ở trong nhất niệm vô minh, tức là từ niệm này qua
niệm kia. Thừa này gọi là thừa Thanh Văn, mục đích cuối
cùng là dứt lục căn.
2.
Trung thừa là giai đoạn pháp chấp, theo triết học là Chủ
Quan Duy Tâm Luận. Nhưng vẫn còn ở trong phạm vi tương đối,
cách tu là Thập Nhị Nhân Duyên, cũng ở trong nhất niệm vô
minh. Thừa này gọi là thừa Duyên Giác, mục đích là dứt
nhất niệm vô minh.
3.
Đại thừa là ở trong giai đoạn không chấp (chấp không),
phá được ngã chấp, phá được pháp chấp lọt vào không
chấp. Đến Đại thừa là Tâm Và Vật Hợp Một, khác hơn
Nhị thừa. Cũng còn ở trong phạm vi tương đối, cách tu là
6 Ba La Mật (bố thí, trì giới, tinh tấn, thiền định, trí
huệ). Đến đây là vô thỉ vô minh, tức là thoại đầu.
Thừa này gọi là Bồ Tát thừa. Mục đích thừa này phá vô
thỉ vô minh là kiến tánh.
4.
Tổ Sư thiền gọi là Tối Thượng thừa ở giai đoạn thật
tướng. Thừa này là đến Phi Tâm Phi Vật (chẳng phải tâm
cũng chẳng phải vật), muốn vào phạm vi tuyệt đối, cách
tu tham thoại đầu, công án. Mục đích là hiện Chơn Như Phật
Tánh, gọi là Phật thừa. Khi kiến tánh rồi gọi là
vạn đức viên mãn, vô tu vô chứng.
Vì
kiến tánh rồi mới biết không có cái gì để dứt để phá!
Chỉ là y như cũ, không phải tu mới thành, chứng mới đắc.
Bởi Phật đã thành sẵn, đã đắc sẵn, chỉ bị biết và
không biết của bộ não che khuất, nên không được hiện
ra.
Hỏi:
Tiểu
thừa chưa dứt nhất niệm vô minh, vậy làm sao thoát được
vòng sanh tử?
Đáp:
Tiểu
thừa chỉ thoát được phần đoạn sanh tử, mà chưa dứt
được biến dịch sanh tử. Ở trong Phật pháp có hai thứ
sanh tử: Phần đoạn sanh tử và Biến dịch sanh tử.
Hỏi:
“Tiểu
thừa, Trung thừa, Đại thừa, Tối Thượng thừa”, lối chia
này của người Tối Thượng thừa. Như vậy người Tiểu
thừa có công nhận lối chia này không?
Đáp:
Lối
chia này không phải Phật Thích Ca chia, mà người đời sau
chia. Phật Thích Ca ban đầu thuyết liễu nghĩa, nhưng người
nghe không chấp nhận được, nên phải thuyết bất liễu nghĩa,
rồi mới thuyết liễu nghĩa.
Tam
thừa giáo là đối tượng khác nhau, ban đầu phá chấp phàm
phu với ngoại đạo, thời thứ nhì là phá chấp của Tiểu
thừa, giáo thời thứ ba là phá chấp Đại thừa.
Phật
thuyết pháp là để khế hợp với căn cơ, chứ không phải
có chia. Những việc này là những giai đoạn, Đại thừa không
phải thật, vì Phật cũng phủ định. Nên Phật nói: “49
năm thuyết pháp, tôi chưa từng nói một chữ”.
Tất
cả lời của Phật nói, Phật đều phủ định hết, như các
người dịch kinh chấp có pháp thật, tại họ không hiểu
căn bản Phật pháp, cũng có ý của mình xen vào.
Như
tông Thiên Thai, đến Tổ thứ 3 là Trí Giả đại sư mới
được hoàn thành đầy đủ giáo lý của tông Thiên Thai. Trí
Giả đại sư ở trên núi Thiên Thai, nên người ta gọi là
tông Thiên Thai. Tông Hoa Nghiêm cũng vậy, Hiền Thủ đại sư
mới hoàn thành giáo lý của tông Hoa Nghiêm, vì Tổ thứ 3
tông Hoa Nghiêm là Hiền Thủ, nên người ta gọi là tông Hiền
Thủ.
Tông
Thiên Thai căn cứ kinh Pháp Hoa tu, cũng gọi là Pháp Hoa Tông.
Tông Hiền Thủ căn cứ