Hỏi:
Tại
sao kinh Pháp Hoa cho Niết bàn Tiểu thừa là hóa thành?
Đáp:
Thanh
văn chứng Niết bàn Tiểu thừa là hóa thành, chưa phải là
bảo sở; như cất nhà ở giữa đường, mà họ cho là an ổn.
Ở giữa đường đâu có thể cất nhà được! Cho nên, Phật
bảo họ phải bỏ rồi tiến lên bảo sở. Những định tánh
Thanh văn không nghe lời Phật, vì họ đang say Niết bàn của
họ; đến chừng hết say họ chịu nghe, mới bỏ Niết bàn
Tiểu thừa tiến lên Niết bàn Đại thừa.
Hỏi:
Chứng
quả A la hán là được Niết bàn tịch diệt thì như thế
nào?
Đáp:
Niết
bàn gọi là tịch diệt (không sanh không diệt); nhưng Đại
thừa không trụ nơi tịch diệt, tức vô sở trụ. Tiểu thừa
trụ nơi tịch diệt là còn có sở trụ, bản thể thì vô
sở trụ. Còn có sở trụ không phải bản thể (bổn lai diện
mục).
Hỏi:
Vị
Tăng sửa đường lộ là để kết duyên với những người
đi đường phải không?
Đáp:
Vị
Tăng sửa đường lộ không có ý để gieo duyên, nhưng hành
vi đó sẽ được gieo duyên. Như mình ăn ba bữa, mà không
nghĩ ăn ba bữa để làm gì. Ăn ba bữa là cuộc sống hàng
ngày phải vậy, nhưng trong đó đã có gieo duyên; mà mình không
có nổi ý gieo duyên, cứ tới giờ là ăn. Bực thánh chỉ
có thế lưu bố tưởng, không có trước tưởng. Muốn giải
thích cho quý vị biết thì nói là gieo duyên.
Hư
không vô sở hữu dung nạp tất cả, hư không chẳng nói là
“tôi dung nạp tất cả”; thật tế hư không dung nạp tất
cả và dùng tất cả, hư không chẳng nói “tôi dùng tất
cả”. Kỳ thật, không có dùng mà nó dùng, không có dung nạp
mà nó dung nạp; vô sở hữu mới dùng, vô sở hữu mới dung
nạp.
Nếu
mình suy lý thấy mâu thuẩn, vô sở hữu là không có cái gì
thì lấy cái gì để dung nạp, nhưng vô sở hữu mới dung
nạp; vô sở hữu là không có cái gì thì lấy cái gì để
dùng, mà dùng tất cả.
Ngài
Long Thọ giải thích ra rất có lý, cái lý đó là vô lý; mặc
dù trước mắt là vậy, nhưng người ta không tin. Đâu có
nghĩ là mình ăn cơm, uống nước, mặc áo, nói năng, tiếp
khách đều nhờ vô sở hữu này! Có tiền mua đồ ăn, mà
không có vô sở hữu này thì mình cũng không ăn được; tất
cả trong cuộc sống hàng ngày đều phải nhờ vô sở hữu
này.
Hỏi:
Thế
nào là đại khai viên giải?
Đáp:
Giải
này là giải ngộ, viên là tròn tức là đầy đủ, đầy đủ
là hiểu được pháp bất nhị, pháp bất nhị là nguồn gốc
Phật pháp. Cho nên, có tư cách giảng kinh thuyết pháp, tuy
chưa kiến tánh nhưng giải ngộ đầy đủ. Kỳ thật, tôi
chỉ là giải ngộ, chứ chưa có chứng ngộ, nên tôi giảng
kinh được.
Gần
đây có ngài Lai Quả, ngài Hư Vân, ngài Nguyệt Khê… đều
là những người đã chứng ngộ. Những người chứng ngộ
không cần ai biết, nên mình không biết được. Người chưa
chứng ngộ cần cho người ta biết, viết ra sách để hình
mình ra trước đầu sách, với các chức vụ làm thế này
thế kia là sợ người ta không biết.
Có
Tăng sửa đường lộ tỉnh Vân Nam, vì ngài biết không có
duyên, từ lúc hai mươi mấy tuổi kiến tánh sửa đường
lộ đến tám mươi mấy tuổi gặp ngài Hư vân. Ngài Hư Vân
nói ra mới biết Tăng đó kiến tánh, nếu không gặp ngài
Hư Vân thì không biết Tăng đó kiến tánh. Tình hình giống
như Tăng đó rất nhiều, nhưng mình làm sao biết được! Ngài
Hư Vân cố tình sống chung với Tăng đó được mười mấy
ngày mới biết được.
Hỏi:
“Y
liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa” trong pháp tứ y là như
thế nào?
Đáp:
Liễu
nghĩa là triệt để, bất liễu nghĩa là không có triệt để.
Nói cho dễ hiểu: liễu nghĩa là phá chấp thật, bất liễu
nghĩa là chấp thật. Liễu nghĩa là vô sở trụ, bất liễu
nghĩa là có sở trụ. Phật coi chúng sanh bình đẳng, nhưng
tùy căn cơ trình độ của chúng sanh mà thuyết pháp.
Những
người căn cơ trình độ thấp kém nghe kinh liễu nghĩa không
được, cho nên phải giảng kinh bất liễu nghĩa. Bất liễu
nghĩa không đúng theo Phật pháp, mà chỉ là phương tiện để
hướng dẫn vô cửa Phật. Đến chừng vô rồi từ từ dẫn
đến liễu nghĩa.
Người
có tư tưởng chấp thật nghe liễu nghĩa phá chấp thật mà
họ không chịu, rồi bỏ đi; cũng như trong hội Pháp Hoa có
năm ngàn người bỏ đi, vì kinh Pháp Hoa là liễu nghĩa, mà
nhưng người đó không chịu liễu nghĩa, tại họ không đủ
thính huệ để nghe (không đủ trí huệ để nghe). Vì vậy,
Phật bất đắc dĩ phải nói bất liễu nghĩa, thì năm ngàn
người cũng được độ, sau này họ chuyển sang liễu nghĩa.
Hỏi:
Thế
nào là “y pháp bất y nhân”?
Đáp:
Mặc
dù, người đó, Pháp sư đó, Thiền sư đó địa vị cao, danh
tiếng khắp thế giới; nhưng họ giảng pháp bất liễu nghĩa,
mình y pháp liễu nghĩa chứ không y pháp bất liễu nghĩa. Nếu
người đó không có địa vị trong xã hội, không có danh tiếng
và không có ai biết; nhưng người đó giảng đúng pháp liễu
nghĩa nên theo pháp đó; tức là theo pháp chứ không theo người.
Hiện tại phần nhiều người ta theo người có danh tiếng
khắp thế giới, có địa vị cao hoặc có tín đồ nhiều.
Đó là “y nhân bất y pháp”.
Hỏi:
Thế
nào là “y trí bất y thức”?
Đáp:
Trí
là không có phân biệt, thức thì có phân biệt; thức là trí
huệ của bộ óc, trí là trí huệ của Phật tánh. Cho nên,
kinh Pháp Bảo Đàn nói “chuyển thức thành trí”, chuyển
tám thức thành bốn trí. Phân biệt là nhị, phải có đối
đãi.
Kiến
tánh chuyển thức thành trí, chưa kiến tánh vẫn là thức;
bất quá có kiến giải cao trong tương đối; giảng sư này
có kiến giải cao hơn giảng sư khác, nhưng so với người
trí thì còn xa lắm. Thức không thể giải thoát, trí mới
được giải thoát.
Trí
gọi là bất động trí, tức bát nhã ngày đêm không gián
đoạn; chứ không phải như thức lúc dùng mới có, lúc không
dùng thì không có. Còn trí luôn luôn dùng cùng khắp không
gian.
Hỏi:
Làm
sao biết các vị Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm và A la hán
tu dứt được phiền não nhiều hay ít?
Đáp:
Chỗ
đó chỉ có những người chứng quả Bồ tát hiện tướng
Thanh văn để thuyết pháp. Như chứng sơ quả là Tu đà hoàn
lìa được lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).
Nếu có Pháp sư nói chứng sơ quả mà còn dính mắc lục trần
thì không đúng. A la hán dứt hết tất cả phiền não; Tu đà
hoàn, Tư đà hàm, A Na hàm chưa dứt hết phiền não, chỉ dứt
đến mức nào, tức còn tư tưởng mê chấp (tư hoặc) trong
tam giới.
A
la hán hoàn toàn không có mê chấp tam giới, cho nên không sanh
tử luân hồi trong lục đạo, gọi là bất sanh. Tu đà hoàn
còn sanh Dục Giới 7 lần, Tư đà hàm còn sanh 1 lần Dục Giới,
A na hàm còn sanh trong Sắc Giới và Vô Sắc Giới.
Hỏi:
Thế
nào là nghĩa ba câu?
Đáp:
Nghĩa
ba câu nhiều nhất ở trong kinh Kim Cang: câu thứ nhất là chấp
thật, như Phật nói “thế giới”, chấp thế giới là thật;
câu thứ nhì là “tức phi thế giới”, chấp thế giới là
giả; câu thứ ba là “thị danh thế giới”, là câu thứ
nhất là thế giới giả danh, câu thứ nhì thế giới là giả
cũng là giả danh không phải thật giả, câu thứ ba giả danh
không phải là thật giả danh cũng là giả danh; tức là nghĩa
vô sở trụ, không trụ nơi câu thứ nhất, không trụ nơi
câu thứ nhì, cũng không trụ nơi câu thứ ba; thành ra mới
đúng với bản thể vô trụ.
Như
ban đầu chấp núi sông là thật, đến thứ nhì núi sông là
giả (không thật), tới thứ ba thì núi sông vẫn là núi sông.
Người ta không hiểu cho là câu thứ nhất và câu thứ ba giống
nhau, nhưng lại là khác. Vì câu thứ nhất có lấy ý của
mình xen vô cho núi sông là thật, còn câu thứ nhì cho núi
sông là giả, câu thứ ba là không đem ý mình xen vô cho là
thật hay là giả, núi sông vẫn là núi sông (chỉ có thế
lưu bố tưởng, chứ không có trước tưởng, còn câu thứ
nhất và câu thứ nhì có trước tưởng). Nghĩa ba câu là vô
sở trụ, là bổn thể của tâm.
Hỏi:
Người
đọc sách được có trí tuệ là như thế nào?
Đáp:
Đó
là trí của bộ óc của thế gian, còn y trí bất y thức tức
chuyển cái thức thành trí gọi là bát nhã (trí của Phật
tánh), chứ không phải cái trí của bộ óc. Thông thường
nói trí huệ là trí huệ của bộ óc, trí huệ của bộ óc
và trí huệ của Phật tánh khác nhau.
Vì
trí huệ của Phật tánh có khác nên người dịch không dịch
là trí huệ, nhưng cũng có nghĩa là trí huệ, nên dịch âm
là bát nhã. Trí huệ của bộ óc do mình tác ý mới dùng được,
bát nhã luôn luôn khắp không gian thời gian; không có ai tác
ý, tự động đang dùng; như cái dùng của hư không, ai cũng
nhờ hư không vậy.
Hỏi:
Những
người thích coi sách, đối với tham thiền như thế nào?
Đáp:
Tất
nhiên bị chướng ngại, nếu chưa tin tự tâm được 100% phải
nhờ đọc sách chánh pháp để tăng cường tin tự tâm 100%
là có ích. Nếu chấp thật lời Phật Thích Ca cho là chân
lý thì bị chướng ngại. Chính Phật Thích Ca nói “Ai nói
Phật có thuyết pháp là người ấy phỉ báng Phật”. Thật
tế không thể dùng lời để nói, và cũng không thể dùng
bộ óc để suy nghĩ đến. Kinh Lăng Nghiêm nói “thân tâm
bất năng cập” (thân tâm không có thể đến được), còn
trí huệ của bộ óc thì thân tâm có thể đến.
Hỏi:
Người
ghiền đọc sách, làm cách nào để trừ?
Đáp:
Muốn
trừ thì đừng có trừ, tham Tổ sư thiền là hỏi câu thoại
kích thích niệm không biết; rồi khán thoại đầu là nhìn
chỗ không biết, muốn xem chỗ không biết là cái gì; nhưng
chỗ không biết thì không có chỗ để xem, nên không có mục
tiêu để nhìn; thành ra người ta nói “tôi nhìn không được”,
nhưng đã nhìn được rồi; tại nhìn không thấy gì, có nhìn
mới biết là nhìn không được.
Mặc
dù, nhìn không thấy gì, nhưng cứ tiếp tục hỏi và nhìn.
Hỏi dùng tâm hỏi, nhìn cũng dùng tâm nhìn; cứ hỏi và nhìn
đi song song, không có trước sau; lâu ngày trở thành thói quen
rồi thành khối, bất cứ ham thích cái gì thì tự động không
còn ham thích.
Như
ở Việt Nam có Phật tử thích xem hát, tham thiền một thời
gian tự động không thích xem hát; ham mặc đồ đẹp, tham
thiền một thời gian tự động không ham mặc đồ đẹp; ưa
đi ăn nhà hàng, tham thiền một thời gian tự động không
ưa đi ăn nhà hàng.
Ghiền
coi sách cũng vậy, giữ được nghi tình có ghiền đọc sách
cũng tự mất. Nếu cố ý muốn bỏ thì bỏ không được,
vì cố ý muốn bỏ là dùng cái biết. Chính cái biết mà Thiền
môn gọi là cửa tai họa, tức tất cả tai họa từ chữ biết
sanh ra.
Cho
nên, giáo lý tam thừa đều ngưng cái biết (hoạt động của
tâm). Như thừa Thanh văn có 5 thứ thiền quán để ngưng hoạt
động của tâm, phần nhiều tu Sổ tức, có một số ít tu
quán Bất tịnh, còn 3 thứ kia (quán Từ bi, quán Nhân duyên,
quán Lục thức) ít có người tu.
Đình
tâm là đình chỉ cái hoạt động của tâm, cái hoạt của
tâm là ham biết; tức là muốn đình chỉ tánh ham biết đó
thì phải có thiền quán. Trung thừa và Đại thừa đều như
vậy, chỉ là pháp thiền khác; nhưng mục đích là đình chỉ
cái tâm. Tối thượng thừa dùng cái không biết để đình
chỉ.
Hỏi:
Tâm
có thể chuyển về một, nhưng không ngưng được phải không?
Đáp:
Tam
thừa chuyển về một, Tối thượng thừa không có chuyển
về một.
Hỏi:
Nghi
tình có tiến tới vô thủy vô minh không?
Đáp:
Nói
theo thế lưu bố tưởng là tiến tới, sự thật không có
tiến hay thối; tức là không có sự tương đối, tuy nói bất
nhị nhưng không phải một. Vì không có thể dùng thí dụ
để giải thích, giáo lý tam thừa có dùng thí dụ để giải
thích. Thiền quán của tam thừa là thực hành giáo lý tam thừa.
Như
pháp thiền thừa Thanh văn là thực hành giáo lý của thừa
Thanh văn, pháp thiền thừa Duyên giác là thực hành giáo của
thừa Duyên giác, pháp thiền Đại thừa là thực hành giáo
lý của Đại thừa. Tối thượng thừa không có giáo lý, gọi
là bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, chỉ có thực
hành. Tuy không có giáo lý, nhưng không nghịch với giáo lý;
cũng là đình chỉ tâm, nhưng có nuôi cái nhân nghi đưa đến
ngộ.
Hỏi:
Ngài
Lai Quả nói “từ đa tâm đến thiểu tâm, thiểu tâm đến
nhất tâm, nhất tâm đến vô tâm”. Vì tập khí mình nhiều
quá nên không thể bỏ một lần được, vậy thế nào?
Đáp:
Ngài
Lai Quả vì phương tiện để giảng cho người ta hiểu.
-Con
thấy đường đi cũng vậy phải không?
-Đường
đi không phải vậy, Giáo môn có 52 cấp, từ bực từ bực
mà tiến lên là vậy; Tối thượng thừa không có cấp bực,
từ địa vị phàm phu thẳng chứng Đẳng giác.
-Vì
có tạp niệm nhiều quá nên cần tu như vậy phải không?
-Cái
đó là của Giáo môn, Tối thượng thừa không có cái đó.
Hỏi:
Nghi
tình từ từ thành khối, chứ bây giờ làm sao được?
Đáp:
Nghi
tình thành khối là cái nghi tình, nói cấp bực lần lần tiến
lên thì không có cái đó. Như người mới nghe là ngộ liền,
hay bị đánh bạt tai là ngộ liền, hoặc bị đá nhào là
ngộ liền.
-Các
vị đó có sẵn công phu mới được như vậy mà?
-Có
sẵn công phu ở kiếp trước cũng có, nhưng kiếp này tất
cả vẫn bằng như mọi người, cho đến ngộ rồi nhưng không
biết mình đã ngộ. Như Thiền sư Diệu Tổng kiến tánh lúc
15 tuổi, nhưng tự mình không biết đã kiến tánh. Bây giờ
mình nói là tu từ từ, nhưng trong bản thể Phật tánh không
có từ từ; từ từ huân tập thì mới thành, còn cái này
đã thành sẵn không thể từ từ.
-Như
thân con có bệnh phải uống thuốc rồi từ từ sẽ hết,
như thế là sao?
-Đó
là pháp thế gian, pháp xuất thế gian nói được, còn của
Thiền môn không nói được. Chân như là như như bất động.
Bài giải thích hư không trong Đại Trí Độ luận, theo hiểu
biết của bộ óc thấy rất mâu thuẩn! Vô sở hữu là không
có, không có hư không nhưng dung nạp tất cả, dùng tất cả
là nhờ cái không có. Theo lý không đúng, vô sở hữu là không
có lấy gì để dung nạp! Nhưng thật tế lại dung nạp. Vô
sở hữu lấy cái gì để dùng! Nhưng cái nào cũng nhờ nó
để dùng. Đó là nghịch với lý của bộ óc, bộ óc kiến
lập lý đều là vọng.
Theo
sự hiểu biết của mình cũng dễ chứng tỏ: bây giờ, các
nhà triết học, nhà khoa học trên thế giới đều muốn kiến
lập, muốn kiến lập phải có sự bắt đầu thì có sự sanh
khởi. Họ đang nghiên cứu sự sanh khởi của vũ trụ, sanh
khởi của sanh mạng; nhưng thật tế, Phật đã nói là vô
thỉ (không có sự bắt đầu).
Giả
thiết có sự bắt đầu, không gian phải nói bắt đầu từ
chỗ nào? Nói bắt đầu từ chỗ này, nhưng chỗ này là một
chỗ trong không gian; rồi chỗ này bắt đầu từ chỗ nào?
Bắt đầu từ chỗ kia, cứ bắt đầu nhiều chỗ khác… cuối
cùng không có chỗ bắt đầu.
Về
thời gian, nói bắt đầu từ lúc nào? Bắt đầu từ một
triệu kiếp trước cho đến một trăm tỷ kiếp trước, con
số cứ tăng thêm không khi nào cùng tột. Nhà toán học nói
ra con số cao nhất được không? Không thể nói ra con số cao
nhất, làm sao tìm ra sự bắt đầu! Thời gian không có bắt
đầu, vì trước thời gian đó còn có thời gian nữa. Vậy,
lý do bắt đầu không thể thành lập.
Nhà
toán học nói bắt đầu thời gian xưa nhất cũng nói không
ra. Tại sao? Vì biên ra một con số, rồi thêm con số 0 phía
sau thì lớn hơn 10 lần, cứ thêm số 0 phía sau vô cùng tận,
bộ óc không thể biết. Cuốn sách nói về con sâu dép cỏ
rất nhỏ chỉ là một đơn tế bào, dùng kính hiển vi mới
thấy được. Một ngày đêm nó nứt thành 2 con đến ngày
90 thì nó thành một mét khối, đến ngày 130 thì thể tích
bằng quả đất, nếu thêm một ngày nữa là 2 quả đất…
Nếu
quả đất xẻ làm 2, rồi hai bên cũng xẻ làm 2, cứ xẻ tới
hoài tới 130 lần thì khôi phục lại con sâu dép cỏ. Nếu
tôi lấy toán học xẻ thêm 10 lần 130 lần hoặc trăm lần,
một ngàn lần, thì con số ấy vẫn còn biểu thị cơ thể
con sâu dép cỏ. Nhưng thật tế có cơ thể con sâu đó không?
Dẫu cho có, mà bộ óc không biết. Phân tích nhỏ lại, bộ
óc còn không biết, làm sao bộ óc truy cứu sự bắt đầu!
Hỏi:
Xin
Sư Phụ giảng chiêm bao theo Duy thức?
Đáp:
Khi
ngủ mê thì 5 thức trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) ngưng
hoạt động, chỉ có thức thứ 6 hoạt động biến hiện (độc
đầu ý thức biến hiện) thân và thế giới chiêm bao; thân
chiêm bao tiếp xúc thế giới chiêm bao, tiếp xúc cái tách,
trái cam đều có thật chất, tiếp xúc nóng lạnh đều biết,
thân chiêm bao bị đánh biết đau.
Giả
sử trong chiêm bao có thiện tri thức thuyết pháp thật hay,
nói cái tách, trái cam, luôn cả thân ông đều không thật,
người chiêm bao không tin. Đến lúc ngủ đã thức dậy (Duy
thức gọi là tự chứng phần) tự mình chứng tỏ thân và
thế giới chiêm bao đều mất, chỉ còn thân nằm trên giường.
Nhưng
đang chiêm bao cho là thật, bởi đang chiêm bao khóc thức dậy
còn nước mắt. Thân chiêm bao thấy cảnh khủng bố sợ, thức
dậy nghe trái tim còn đập. Thật tế vốn không có, chỉ là
thức thứ 6 tạo ra, gọi là tâm tạo.
Mở
mắt chiêm bao, Duy thức gọi là đồng thời ý thức biến
hiện; vì 5 thức trước đang hoạt động, nên hai thức cùng
biến hiện. Như thấy sắc tướng thì nhãn thức và ý thức
cùng biến hiện, nghe âm thanh thì nhĩ thức và ý thức cùng
biến hiện.
Nhĩ
thức nghe âm thanh, nhưng không biết tiếng gì, phải có thức
thứ 6 cùng nổi lên mới biết tiếng người, tiếng chim, tiếng
chó… Nếu chỉ có thức thứ 6, không có nhĩ thức nên không
nghe được tiếng thì lấy gì để phân biệt. Cho nên, phải
hai thức cùng biến hiện thành mở mắt chiêm bao bây giờ.
Một
thức biến hiện cũng là tâm, hai thức biến hiện cũng là
tâm. Nhưng người ta chỉ cho nhắm mắt chiêm bao là chiêm bao,
mở mắt chiêm bao không phải chiêm bao. Thật tế nhắm mắt
chiêm bao là một thức biến hiện, mở mắt chiêm bao do hai
thức cùng biến hiện. Kinh nói “tất cả đều do tâm tạo”,
nếu tâm không biến hiện thì tâm không tạo; biến hiện thì
không phải thật, nên nói là chiêm bao.
Nhắm
mắt chiêm bao ngủ đã tự thức, khỏi cần tu; nhưng tối
ngủ có chiêm bao lại, cứ chiêm bao mãi. Mở mắt chiêm bao
không bao giờ tự mình thức tỉnh, phải tu đến kiến tánh
tức là mở mắt chiêm bao thức tỉnh; sau khi thức tỉnh không
bao giờ có chiêm bao lại. Cho nên, thành Phật không bao giờ
trở lại chúng sanh; nếu trở lại chúng sanh thì thành Phật
cũng vô dụng.
Hỏi:
Người
đã phá Sơ quan rồi chết, sau đó họ dùng tâm thức để
tu tiếp như thế nào?
Đáp:
Nếu
người ấy phá Sơ quan còn ôm cái pháp, như ngài Cao Phong còn
ôm cái ngộ; có sở hữu thì có thể đi đầu thai. Như Đại
Huệ đầu thai rồi có nhân duyên kiến tánh triệt để, vì
kiếp trước đã phá Sơ quan.
Trụ
trì mộng thấy thần Già lam báo “ngày mai có một Thiền
sư Dân Phong Duyệt đến chùa” (tên kiếp trước của Đại
Huệ), sáng ngày Đại Huệ (19 tuổi) đến. Trụ trì biết
nên tiếp đãi rất chu đáo và đem ngữ lục Dân Phong Duyệt
cho Đại Huệ coi xong liền thuộc lòng. Đại huệ ở nơi Viên
Ngộ nghe câu “gió nhẹ từ phương nam đến, nơi góc chánh
điện cảm thấy yên lành”. Liền ngộ triệt để.
Hòa
thượng Thủy Lưu đến thăm Mã Tổ, vừa đảnh lễ thì Mã
Tổ đá một cái nhào xuống, Thủy Lưu liền ngộ.
Hoằng
Bá đã ngộ đến một ngôi chùa xin làm công quả, ngài không
nói là ngài đã ngộ. Một hôm Thừa tướng Bùi Hưu đến
chùa tham quan thấy bức tranh trên tường, hỏi Trụ trì: hình
này là gì?
Trụ
trì nói: là Cao Tăng.
Bùi
Hưu hỏi: hình thì thấy rồi, còn Cao Tăng đâu?
Trụ
trì trả lời không được.
Bùi
Hưu hỏi: chỗ này có Thiền sư không?
Trụ
Trì đáp: mấy hôm trước có một vị giống như Thiền sư
đến ở đây.
Bùi
Hưu nói: xin mời ra để tôi hỏi.
Hoằng
Bá đi ra, Bùi Hưu nói: vừa rồi tôi hỏi Trụ trì nhưng không
đáp được. Bây giờ tôi xin hỏi Thượng tọa có được
không?
Hoằng
Bá đáp: được.
Bùi
Hưu hỏi: hình thì thấy rồi, còn Cao Tăng ở đâu?
Hoằng
Bá nói lớn: Bùi Hưu!
Bùi
Hưu đáp: dạ!
Hoằng
Bá nói lớn: ở đâu?
Bùi
Hưu nghe liền kiến tánh và tán thán hay quá, liền mời về
dinh Thừa tướng để cúng dường rồi hỏi pháp. Do đó mới
có Truyền Tâm Pháp Yếu.
Hỏi:
Lúc
đó Bùi Hưu ngộ cái gì?
Đáp:
Nếu
có cái gì thì không phải ngộ. “Bồ đề viên mãn quy vô
sở đắc”, nếu có đắc được thì không phải ngộ; sẵn
sàng của mình, người kiến tánh triệt để tự nhiên có
cái dùng đó.
Có
vị kiến tánh, ban đêm tự nhiên la lên “ta đại ngộ rồi!”
Sáng mai, Trụ Trì thượng đường hỏi: hồi hôm, ông nào
đại ngộ ra đây? Vị ấy ra. Trụ trì (đã kiến tánh) hỏi:
tại sao tự mình nói đại ngộ, thấy cái gì vậy?
Vị
ấy đáp: Sư cô vốn là người nữ làm.
Trụ
trì biết vị ấy đã kiến tánh.
Một
Thiền sư danh tiếng, căn cơ chưa đến mức chín mùi, cũng
không có cách nào làm cho ngộ. Như Tổn Khiêm theo Đại Huệ
hai chục năm, có công phu rất nhiều, nhưng chưa ngộ; Đại
huệ biết vị này căn cơ gần chín mùi, mới sai đem lá thư
cho cư sĩ Ngụy Công ở Kinh Thành, đang làm quan tương đương
Thừa tướng, là người đã kiến tánh. Tổn Khiêm bực mình
và nói “tôi đã dùng công phu hai chục năm mà chưa ngộ,
mà bây giờ sai tôi đem lá thư, đi bộ phải mất tháng mới
tới”.
Bạn
đồng tham tên Quang cũng biết ý của Đại Huệ, biết vị
này sắp ngộ, nói: đi đường cũng dùng công phu được vậy,
tại sao không đi? Để tôi đi cùng sẽ giúp ông. Đi được
một khoảng đường, Quang nói: việc gì tôi cũng có thể giúp,
nhưng chỉ có 5 điều thì ông phải tự làm.
Tổn
Khiêm hỏi: 5 điều gì?
Quang
nói: đi tiêu, đi tiểu, mặc áo, ăn cơm, với kéo tử thi đi
trên đường.
Tổn
Khiêm nghe xong liền ngộ.
Quang
nói: bây giờ, ông đi một mình được rồi, còn tôi đi về.
Tổn
Khiêm đi đến Kinh Thành gặp Ngụy Công đưa thư, Ngụy Công
muốn nhờ Tổn Khiêm độ người mẹ, người mẹ này thường
ngày hay tụng kinh, Ngụy Công không có cách nào khuyên người
mẹ bỏ tụng kinh để tham thiền. Tổn Khiêm có nhân duyên
với người mẹ, một thời gian người mẹ bỏ tụng kinh,
rồi tham thiền được kiến tánh. Tổn Khiêm trờ về chùa,
ở đằng xa Đại huệ thấy liền biết Tổn Khiêm đã ngộ.
Hỏi:
Dụng
công phu đến mức gần kiến tánh, nếu không gặp thiện tri
thức có thể kiến tánh phải không?
Đáp:
Phải
rồi! Như ngài Lai Quả nói “công phu đến thoại đầu, không
muốn kiến tánh cũng không được”. Cho nên, chỉ sợ mình
không chịu đi, chứ có đi mà không đến! Có đi thì sẽ đến
nơi.
Hỏi:
Những
người sơ tham phải có có vị lão tham hướng dẫn là như
thế nào?
Đáp:
Sơ
tham tham không đúng thì phải có lão tham hướng dẫn tham cho
đúng. Đó là những người tự làm tài khôn, cũng có người
theo tôi mười mấy năm cứ chấp câu thoại đầu. Nói tham
thoại đầu nhưng chưa đến thoại đầu, muôn ngàn câu thoại
đầu là chỉ cái không biết.
“Niệm
Phật là ai?” Là kích thích cái không biết, “muôn pháp về
một, một về chỗ nào?” Cũng kích thích cái không biết,
“khi chưa có trời đất ta là cái gì?” Vẫn là kích thích
cái không biết. Khán thoại đầu là nhìn chỗ không biết,
đâu phải ý của mỗi câu thoại có khác biệt; tham câu này
được, mà tham câu kia không được!
Hỏi:
Tu
theo Thiền tông có thọ Bồ tát giới không?
Đáp:
Có
chứ! Tiểu thừa không thọ Bồ tát giới, chỉ thọ đến
Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni. Tối thượng thừa cũng như Đại thừa
có tam đàn đại giới là Sa di, Tỳ kheo, Bồ tát thọ cùng
một lượt. Như ở Trung Quốc thời hạn thọ giới là 53 ngày.
Hỏi:
Cư
sĩ có thọ Bồ tát giới không?
Đáp:
Cư
sĩ nào muốn thọ Bồ tát cũng được và không muốn thọ
Bồ tát giới cũng được. Tu sĩ Đại thừa phải thọ Bồ
tát giới, nếu không thọ Bồ tát giới thì không phải Đại
thừa, vì Đại thừa gọi là thừa Bồ tát. Thọ Bồ tát giới
là học hạnh Bồ tát, nếu không muốn học hạnh Bồ tát
là thừa Thanh văn, Duyên giác.
Hỏi:
Những
người tu Tịnh độ được vãng sanh Cực Lạc, nhờ Phật
A Di Đà dạy tham thiền rồi thành Phật, họ trở lại độ
các chủ nợ. Việc ấy như thế nào?
Đáp:
Việc
đó là tự nhiên như vậy, người nào kiến tánh thành Phật
được dụng của Bát nhã là automatic cùng khắp không gian
thời gian, không bao giờ gián đoạn, giống như cái dụng của
hư không.
Hỏi:
Làm
nhiều việc từ thiện có trở ngại trên đường tu tập không?
Đáp:
Làm
việc từ thiện cho xã hội là thực hiện hạnh Bồ tát. Giới
Bồ tát có hai phần: chỉ trì và tác trì. Chỉ trì là không
làm thì giữ giới; tác trì là phải làm mới giữ giới, không
làm là phạm.
Bồ
tát giới của cư sĩ có một điều: Cư sĩ thọ Bồ tát giới
mua vé xe muốn đi đến chỗ nào, nhưng giữa đường, xe ra
khỏi ngoại ô thấy bên đường có người bệnh hay người
bị tai nạn, mà không có ai cứu giúp. Người cư sĩ thọ giới
Bồ tát thấy việc ấy phải bỏ vé xe, rồi xuống xe đưa
người đó đến bệnh viện hoặc đưa đến nhà, trở lại
mua vé xe khác đi tiếp. Nếu không làm như vậy là phạm, gọi
là tác trì.
Hỏi:
Bồ
tát thừa phải thực hành lục độ ba la mật, nên bố thí
theo tam luân thể không. Vì vậy không có lòng mong cầu, không
biết có người được bố thí. Thỉnh Thầy khai thị?
Đáp:
Phải
rồi! Bố thí của Đại thừa là tam luân thể không là không
thấy có người bố thí, không thấy có người nhận bố thí,
không thấy có tài vật bố thí.
Hỏi:
Mục
sư hỏi ngài Nguyệt Khê “Tại sao Phật giáo ít làm việc
xã hội?” Ngài trả lời: Phật giáo không có chủ trương
như vậy. Nếu thực hành hạnh Bồ tát thì đã làm việc xã
hội nhiều. Tại sao?
Đáp:
Ngài
Nguyệt Khê phá chấp của Linh Mục, vì Linh Mục chấp theo
Tin lành. Bố thí của Phật giáo, như kinh Pháp Hoa nói “trước
là thỏa mãn dục vọng của người đó, để kéo người đó
vào trí huệ Phật”; tức là câu trước là thỏa mãn dục
vọng, nếu không có câu sau thì không được.
Giáo
lý của người ta là tin được sanh lên cõi trời, không tin
thì phạt xuống địa ngục. Người làm ác đọa xuống địa
ngục, Phật xuống kéo người ấy lên, Phật không phạt người
ta xuống địa ngục. Nếu người ấy không tin Phật hay phỉ
báng cũng muốn kéo họ lên.
Bố
thí của Phật là từ bi, bố thí của họ là bác ái. Từ
bi là phá ngã chấp, bác ái là tăng cường ngã chấp. Nhưng
người thường cho từ bi và bác ái giống nhau, sự thực thì
khác.
Vô
duyên từ là không có nhân duyên đối đãi, không có ta từ
bi và không có ngươi nhận từ bi của ta. Đồng thể bi là
ngươi vui thì ta mới vui, ngươi khổ là tôi khổ, vì cùng
một thân thể, không phải khác; tức là cùng một Phật tánh,
không có khác.
Bác
ái là tất cả cái này là của tôi, tôi ái người này thì
tôi cho người này, ái người kia thì tôi cho người kia, ái
rất nhiều nên gọi bác; còn những người mà tôi không ái
thì tôi không cho, từ bi nếu có ái hay không ái đều cũng
cho.
Hỏi:
Người
Khất sĩ đi khất thực thì tâm họ quán như thế nào, để
cho Phật tử cúng dường cầu phước?
Đáp:
Tiểu
thừa có Ngũ Đình Tâm quán, không phải họ đi khất thực
mới quán! Lúc nào cũng quán, khất thực có pháp khất thực
phải đúng; tức là đi thì mắt chỉ được nhìn phía trước
3 thước, mắt không được ngó qua ngó lại, không được
nói chuyện; người đến cúng dường bỏ đồ vật vào bát
cũng không được nhìn vào mặt người ấy, nên vị Khất
sĩ không biết người cúng dường. Đi khất thực mang theo
tích trượng có chuông, khi đến trước cửa nhà người ta
biết.
Các
nước Tiểu thừa, Phật tử để vật cúng dường sẵn cho
các vị Khất sĩ đi đến; các nước Đại thừa không có
làm sẵn. Người Khất sĩ đi khất thực chỉ đứng trước
nhà này một chút, rồi đến nhà khác một chút; theo pháp
khất thực nếu qua 7 nhà mà không ai cúng dường cũng phải
về, nhưng bây giờ không ai làm đúng như vậy.
Có
người vô chợ khất thực, có người đến chỗ bán cá; người
bán cá cúng dường cá sống, người khất thực bảo người
ấy đập cá cho chết mới lấy. Ở Vũng Tàu, có người giả
Khất sĩ đi khất thực, Chánh đại diện nơi đó mời hỏi,
biết người này đi khất thực mướn.
Hỏi:
Tham
thoại đầu chỉ cần nghi tình, mà không cần đáp án. Kính
xin Sư phụ khai thị?
Đáp:
Không
những không cần đáp án, nếu muốn tìm ra đáp án là chướng
ngại sự kiến tánh, chướng ngại sự tham thiền. Nghi tình
là không hiểu không biết, tất cả câu thoại đầu chỉ là
kích thích niệm không biết, gọi là tham thoại đầu.
Khán
thoại đầu là nhìn chỗ không hiểu không biết, muốn xem
chỗ không biết đó là cái gì, xem không thấy gì vẫn còn
không biết, rồi hỏi mãi khán mãi đến một ngày tới thoại
đầu (đầu sào trăm thước) tiến lên một bước là kiến
tánh.
Trước
kia tất cả đều không biết, tới chừng kiến tánh triệt
để thì tất cả đều biết; không có một cái nào không
biết, không có lúc nào mà không biết; cho nên gốc nghi chấm
dứt, vì không có cái gì để nghi nữa, gọi là đốn
đoạn nghi căn.
Hỏi:
Tham
thoại đầu và khán thoại đầu cách nhau bao xa?
Đáp:
Nếu
có xa gần thì không phải, vì khắp không gian làm sao có xa
gần. Khán thoại đầu và tham thoại đầu không có trước
sau.
Hỏi:
An
lạc trong hiện tại và nhìn vào một niệm vô sanh thì như
thế nào?
Đáp:
An
lạc trong hiện tại là pháp thế gian, tam thừa gồm Tiểu
thừa, Trung thừa và Đại thừa có giáo lý nói về xuất thế
gian và có pháp thiền để thực hành.
Tiểu
thừa có 5 pháp thiền quán (Ngũ đình tâm quán) để thực
hành giáo lý Tiểu thừa. Trung thừa là thừa Duyên giác có
thiền quán Thập nhị nhân duyên để thực hành giáo lý Trung
thừa. Đại thừa có 3 thứ thiền quán: Sa ma tha, Tam ma bát
đề, Thiền na để thực hành giáo lý Đại thừa.
Tối
thượng thừa (tham Tổ sư thiền) không có giáo lý, chỉ có
thực hành, nên gọi là giáo ngoại biệt truyền bất lập
văn tự, nhưng không trái ngược giáo lý, còn gọi là pháp
thiền trực tiếp.
An
lạc trong hiện tại là pháp thế gian, không phải tu giải
thoát, giống như đi xem hát, lúc xem hát thì quên phiền não,
tuồng kịch hát xong thì phiền não trở lại hay đi xem đá
banh hoặc xem cái gì đó. Tất cả kinh Phật không có nói mấy
thứ đó, kinh Phật chỉ nói Tiểu thừa, Trung thừa, Đại
thừa.
Pháp
thế gian thì người ta dễ tiếp thu, vì tư tưởng của người
thế gian cũng vậy, nên nói người ta nghe thực hành được
liền. Như người ta ham thích đi xem hát, đá banh… là người
ta có ham thích sẵn. Còn pháp xuất thế gian nghịch với thế
gian, nghịch với người ta ham thích; thành ra người ta không
thích.
Tứ
Niệm Xứ là ở trong 37 phẩm trợ đạo giúp tu thiền Tiểu
thừa để giải thoát là xuất thế gian, còn an lạc là ở
trong thế gian, như hiện tại được vui giống như xem hát
xem đá banh, lúc vui thì quên phiền não, vui hết thì phiền
não trở lại.
37
phẩm trợ đạo là trợ giúp cho người tu Tiểu thừa, đầu
tiên là Tứ Niệm Xứ gồm có Quán thân bất tịnh là quán
thân này dơ quá, không sạch; Quán thọ là khổ tức bất cứ
thứ gì lãnh thọ đều khổ, còn cái kia vui là nghịch với
khổ; vui thì người ta thích, còn khổ làm sao người ta thích!
Vì
cũng có tên là Tứ Niệm Xứ, nhưng nghịch với Tứ Niệm
Xứ của Phật, để cho người không biết Phật pháp hiểu
lầm là Tứ Niệm Xứ của Phật. Nếu theo giới luật của
nhà Phật thì có tội địc ngục.
Quán
tâm vô thường, Quán pháp vô ngã; còn cái kia là tăng thêm
cái ngã, đã hại biết bao nhiêu người, mà người bị hại
không hay biết, tưởng là của Phật pháp. 5 thứ chánh là
Ngũ Đình Tâm quán để đình chỉ hoạt động của tâm. Trung
thừa, Đại thừa cũng đình chỉ hoạt động của tâm, bất
quá là thực hành khác và tạo cái nhân khác.
Hỏi:
Mỗi
hành động hàng ngày của Tu sĩ đều niệm chú, vậy việc
ấy như thế nào?
Đáp:
Việc
ấy tôi không biết ai đặt ra, bởi vì theo thần chú là Mật
tông. Bây giờ khóa sáng chiều của Giáo môn là tổng hợp
đủ thứ, tụng kinh, niệm chú, thí thực, kiết thủ ấn…đều
có. Có người không hiểu ý kinh của Phật, rồi tự lấy
ý mình thay cho ý của Phật. Đốt vàng mã là lừa người
gạt quỷ.
Lục
Tổ nói “vô niệm, niệm là chánh; hữu niệm, niệm là tà”.
Kinh Địa Tạng là bất liễu nghĩa nói “khởi tâm động
niệm đều là tạo nghiệp”. Nhưng người ta không chịu để
ý, cứ theo sự ham thích của mình.
Nếu
nuôi sự ham thích của mình, làm sao giải thoát? Phật dạy
là nghịch lại cái ham thích của mình. Kinh Lăng Nghiêm nói
“vi kỳ hiện nghiệp” (trái lại nghiệp hiện tại của
mình). Mình ham thích cái này thì mình không ham thích, ghét
cái này thì ngược lại không ghét. Cho nên mới được giải
thoát.
Nếu
thuận theo sự ham thích thì bị cảnh lôi kéo, đối với Phật
pháp không có tác dụng. Phật pháp là muốn người ta giải
thoát, lìa khổ vĩnh viễn; nhưng mãi tạo nhân khổ, làm sao
lìa được! Mình phải hiểu ý của Phật dạy.
Tiểu
thừa cũng phải lìa dục, nên được ra khỏi luân hồi. Việt
Nam và Trung Quốc là nước Đại thừa, có người tu theo Đại
thừa lại chê Tiểu thừa, nhưng làm không bằng Tiểu thừa.
Tiểu thừa còn phá nhân ngã chấp ra khỏi luân hồi, mà có
người tu theo Đại thừa không phá ngã chấp, lại thêm chấp
pháp nữa, miệng thuyết pháp chê Tiểu thừa. Người đi thọ
giới cũng phải qua giới Tiểu thừa vậy. Giới Sa di, Tỳ
kheo… đều là giới của Tiểu thừa.
Có
người chỉ cần hiểu qua giáo lý, không cần giữ giới. Như
Tu sĩ ở Nhật Bản có vợ và ăn mặn, gọi là Tân Tăng (Tăng
mới), họ cho là tiến bộ. Nếu không có giữ giới thì đâu
khác với người thế gian! Làm sao gọi là người xuất gia
được? Bị ngũ dục lôi kéo thì không thể giải thoát. Đức
Phật dạy giải thoát, thuận theo ý mình, rồi cho theo giới
luật của Phật dạy là xưa, bây giờ phải học cái mới.
Theo
tôi biết không có người nào thực hành, như uống nước
tụng chú, ăn cơm tụng chú… vì như vậy phiền phức quá.
Người tu Tịnh độ chỉ cần niệm một câu A Di Đà Phật
là đủ, nếu niệm thành khối thì được tịnh tâm, nên ăn
cơm cũng tịnh được tâm, đâu cần nhớ thần chú để tụng!
Tham
thiền là hỏi câu thoại và nhìn thoại đầu, thì không cần
nhớ thần chú để tụng. Thiền quán Giáo môn như: Sổ tức
chỉ cần đếm hơi thở từ 1 đến 10, rồi 10 ngược lại
1, cũng không cần nhớ thần chú để tụng. Rất là đơn giản
và có kết quả, những pháp của Phật dạy mình không chịu
thực hành, mà thực hành những cái của người đời sau bày
đặt ra làm chi!
Hỏi:
Chùa
Cao Mân có nghi thức quả đường không?
Đáp:
Quả
đường cũng có, đó là của Giáo môn chứ không phải là
Thiền môn. Hòa thượng Đức Lâm học tông Thiên thai, ngài
nói với tôi “lịch sử Thiền tông Trung Hoa, tôi chưa coi
cuốn nào”, tất cả Truyền Đăng Lục, tôi đều xem qua hết.
Như thầy bổn sư của tôi là ở Phước Kiến, Phước Châu
có chùa Dũng Tuyền ở trên núi Cổ Sơn của Tào Động tông,
được nhiều người kiến tánh. Thầy tôi có ở đó 2 năm,
lúc ấy có 200 Tỳ kheo ở trong Thiền đường; nhưng chỗ ấy
Giáo môn cũng có, niệm Phật cũng có.
Có
3 nhánh: nhánh chánh là Thiền đường có 200 Tỳ kheo ở đó
tham Tổ sư thiền, có nhánh Đại bi lầu chuyên trì chú đại
bi có mười mấy Tỳ kheo, có niệm Phật đường có hai mươi
mấy vị chuyên niệm Phật. Lầu Đại bi và niệm Phật đường
từ bắt đầu vô cho đến cuối cùng, tất cả đều phải
tụng kinh sáng chiều và phải ăn quả đường.
Chỉ
có Thiền chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn thứ nhất phải
làm hết là ăn quả đường và tụng kinh sáng chiều; giai
đoạn thứ nhì là chọn những người tinh tấn vô Thiền đường
nhỏ chuyên tham thiền, trong đó có mấy chục vị tọa hương
đi hương, tới bữa ăn dọn sẵn đến ăn, chứ không có tụng
kinh hay ăn quả đường; giai đoạn thứ ba là những vị trong
Thiền đường nhỏ xin ra ở một mình trong Cốc, cách chùa
hơi xa, mỗi cái Cốc chỉ ở một người, cách xa xa có một
cái Cốc, hai Cốc nhìn thấy nhau nhưng không nói chuyện với
nhau được.
Chùa
không phát lương thực cho những cái Cốc, nhưng phát một
bao cơm cháy; mỗi nửa tháng về chùa lãnh một bao cơm cháy,
ăn hết nửa tháng sau lãnh tiếp; có người nấu lại ăn hoặc
có người chỉ ngâm nước lạnh cho mềm để ăn, năm này
qua năm khác không có bệnh, không thiếu dinh dưỡng. Phần
nhiều những người ở Cốc đều có thần thông, là những
người đều tu đến bực cao. Cho nên, họ không cần phải
đi lãnh, mà tâm tâm đi lấy; vì người phát cơm cháy biết
những phần cơm cháy của họ biến mất.
Hỏi:
Ngài
Hư Vân làm chùa rất nhiều, vậy những chùa đó thuộc của
ai?
Đáp:
Những
chùa đó đều là của mười phương, không có của ai hết.
Chùa của ngài Hư Vân sáng lập ra làm trụ trì, mà ngài muốn
đãi khách cá nhân, đến khố phòng của chùa mua dầu, thiếu
đồng xu cũng không được; công và tư rõ ràng. Tất cả của
chùa là của thường trụ, không phải thuộc về ai. Người
ta đến ở một ngày là làm chủ một ngày, ở một năm là
làm chủ một năm; chừng nào đi thì hết, nên gọi là thường
trụ.
Chùa
có quy củ thì ai cũng phải tuân theo, do vậy Tòng Lâm lớn
3.000 người đều có trật tự. Tòng Lâm có Khách đường,
nếu có ai tranh chấp thì đưa đến xử, giống như Tòa án
của thế gian. Vì đông người nên có tổ chức chặt chẽ
đàng hoàng, phạm quy củ thì phải đánh hương bản, nếu
việc nào cần đuổi thì đuổi.
Hỏi:
Đường
lối Tổ sư thiền là nghĩ đến câu thoại đầu phải không?
Đáp:
Không
phải nghĩ! Mà hỏi và nhìn. Đến thoại đầu, theo người
ta cho là điên khùng, nhưng chỗ đó là sắp kiến tánh. Bây
giờ, mình bắt đầu tham là mục đích đến thoại đầu,
chưa đến thoại đầu là tham thoại đầu và khán thoại đầu.
Chỉ giữ nghi tình mà không có niệm muốn đến thoại đầu
thì mới đến thoại đầu.
Hỏi:
Phương
pháp tham Tổ sư thiền miên mật không có kẻ hở, nếu có
kẻ hở thì vọng tưởng xen vào. Vậy những người tham thiền
ở công sở phải suy nghĩ thì có thích hợp với họ không?
Đáp:
Thích
hợp, ngày đêm là 24 tiếng, nếu có 10 tiếng làm việc thì
cứ làm việc, đừng tập tham thiền; còn lại 14 tiếng thì
tập tham thiền. Khi nào 14 tiếng này tập tham thiền thành
quen thuộc tự động.
Như
tập xe đạp, ban đầu hai tay vịn nó cũng ngã lên ngã xuống,
sau này hai tay vịn nó không ngã, sau này buông tay cũng không
ngã, sau này quẹo khỏi cần tay cũng quẹo được. Cần tập
cho quen được tự động, lúc đang làm việc tự động thì
mình không biết; lúc ấy bộ óc không biết, nhưng cái biết
của Phật tánh thay thế. Cho nên làm đúng hơn, nhanh và tỉ
mỉ hơn.
Hỏi:
Trong
kinh Lăng Nghiêm, đức Phật có giảng thời mạt pháp, các
chúng sanh tham thiền mà mong tránh được ma cảnh, điều đó
là không thể có. Đức Phật dạy trì chú Lăng Nghiêm, vậy
tham Tổ sư thiền kèm theo trì chú Lăng Nghiêm thì như thế
nào?
Đáp:
Kinh
Lăng Nghiêm không phải dạy tham Tổ sư thiền, kinh Lăng Nghiêm
là dạy thiền của Giáo môn, 3 thứ thiền quán: Sa ma tha, Tam
ma bát đề và Thiền na. Thiền quán đó đối với người
thượng căn thì không cần đoạn sau, tức là không cần theo
3 tiệm thứ; đó là đối với trung hạ căn.
Trì
chú là nói về Mật tông chứ không phải của hiển giáo,
không phải là tu thiền của Giáo môn; tức là trì chú là
thiền của Mật tông có khác. Vì kinh Lăng Nghiêm gọi là viên
đốn (bao gồm tất cả), cho nên có pháp môn trì chú ở trong
đó, có pháp môn niệm Phật ở trong đó (của Đại Thế Chí).
Đủ thứ pháp môn đều có trong kinh Lăng Nghiêm.
Phàm
phu thiền, Ngoại đạo thiền; tất cả thiền đều có trong
kinh Lăng Nghiêm, đừng đem thiền này lộn với thiền kia.
Nửa quyển trên kinh Lăng Nghiêm là tiếp người thượng căn,
nửa quyển sau là tiếp người trung hạ căn. Trung hạ căn
mà Phật có bày ra 3 tiệm thứ (tiệm là dần dần, thứ là
thứ lớp). Vừa rồi tôi nói “vi kỳ hiện nghiệp” cũng
trong ba thứ đó, tức là lớp thứ ba phải trái với hiện
nghiệp, chứ không phải trì chú.
Tôi
hoằng Tổ sư thiền thì nói Tổ sư thiền, có hỏi thiền
Tiểu thừa thì giải thích thiền Tiểu thừa, hỏi thiền Trung
thừa thì giải thích thiền Trung thừa, hỏi thiền Đại thừa
thì giải thích thiền Đại thừa. Đừng hỏi lộn xộn, vì
Phật chia làm nhiều thứ thiền là muốn thích ứng căn cơ
trình độ của người đó.
Căn
cơ trình độ mà Phật có chia làm 5 thứ chủng tánh, ở trong
kinh Lăng Già nói rõ: Thanh văn chủng tánh thích hợp tu thừa
Thanh văn, Duyên giác chủng tánh thích hợp thừa Duyên giác,
Bồ tát chủng tánh thích hợp thừa Bồ tát (Đại thừa),
ngoại đạo chủng tánh chấp ngã nên thành Ngoại đạo tu
giải thoát không được, Bất định chủng tánh là không nhất
định, gặp thầy Thanh văn thì họ tu Thanh văn, gặp thầy
Duyên giác thì họ tu Duyên giác, gặp thầy Bồ tát thì họ
tu Bồ tát.
Pháp
môn Mật tông vốn là ngoại đạo, sau Phật nhập diệt 500
năm, ngài Long Thọ là tổ 14 của Thiền tông khuyên những
người tu Mật tông ngoại đạo trở về chánh pháp. Sau này
trong Phật pháp mới có giáo phái Mật tông, nhưng Mật tông
ở Tây Tạng và Nhật Bản có rất nhiều giáo phái; có người
mặc áo đỏ, áo vàng… như Phật Sống có hai phái (phái Đạt
Lai Đạt Ma và phái Ban Thiền).
Bây
giờ, phái Ban Thiền cũng còn ở Trung Quốc, chính phủ còn
có liên hệ; phái Đạt Lai Đạt Ma ở nước ngoài nghịch
với Trung Quốc, phái này nói là Phật sống chuyển thế. Phái
Ban Thiền và phái Đạt Lai Đạt Ma có khi cũng xung đột với
nhau.
Hỏi:
Phật
pháp là pháp bất định và tất cả đều do tâm tạo thì
các pháp vô thường; Tu đà hoàn tái sanh 7 lần, có vị nào
tu tinh tấn được đốn ngộ hơn, hoặc có vị nào làm việc
ác có thể dời lại mấy chục đời, tại sao phải nhất
định tái sanh 7 lần?
Đáp:
Các
vị đã chứng quả Tu đà hoàn là lìa được lục trần, tức
là theo chủng tánh Thanh văn đầu thai ở Dục giới thêm 7
lần, đó chỉ là ước số. Như pháp thế gian: Tiểu học,
Trung học, Đại học là phổ thông dạy người thường; còn
những người có năng khiếu đặc biệt, có thể khỏi cần
qua Tiểu học, Trung học mà học Đại học vậy! Trên là nói
theo phổ thông, đối với những người đặc biệt không được.
Hỏi:
Coi
bói toán và tử vi đối với Phật pháp thì như thế nào?
Đáp:
Linh
Mục người Mỹ cũng biết việc đó là Phật cấm, mà Tu sĩ
Phật giáo làm việc đó, Phật cho là tà mạng thực.
Hỏi:
Xin
Sư Phụ khai thị quan trọng của Tổ sư thiền là tin tự tâm
hơn cả đường lối tham thiền?
Đáp:
Đường
Lối Thực Hành là muốn phát hiện tự tâm, nếu không tin
tự tâm làm sao phát hiện!