Hỏi:
Lục
Tổ được truyền y bát, rồi sau 15 năm bảo nhậm là chứng
đạo chưa?
Đáp:
Bảo
nhậm là dứt tập khí, cái ngộ của Lục Tổ bằng Phật;
nhưng cái dụng không bằng, còn cách nhau xa lắm. Sau khi Lục
Tổ bảo nhậm 15 năm thì cái dụng và ngộ đều bằng Phật.
Có lần một người đến ám sát thì Lục Tổ đưa đầu cho
chém, nhưng không chém được. Đó là hiển bày ra cái dụng.
Mà người chém té ra chết giấc, Lục Tổ nói “ta chỉ thiếu
ngươi vàng, chứ không thiếu thân mạng”. Rồi đưa vàng
cho người ấy, bảo phải đi mau và sau này trở lại.
Hỏi:
Tập
khí xuất thế gian là gì?
Đáp:
Tập
khí xuất thế gian là chấp cái quả của mình chứng. Kinh
Kim Cang nói “ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ
giả tướng”. Bốn tướng này của phàm phu là tập khi thế
gian, bực thánh có bốn tướng này là tập khí xuất thế
gian, tức chấp sở chứng, sở ngộ, cho đến chứng Niết
bàn cũng còn chấp là ta chứng thì cũng còn ngã chấp, nên
gọi là thọ giả tướng.
Hỏi:
Thế
nào là bất lạc nhân quả và bất muội nhân quả?
Đáp:
Tăng
hỏi ông già: người đại tu hành còn lọt vào nhân quả không?
Ông
già đáp: bất lạc (lọt) nhân quả.
Cho
nên, Ông già bị đọa năm trăm kiếp chồn. Ông già này trước
kia làm trụ trì ở núi Bá Trượng. Ông già gần mãn kiếp
chồn rồi biến thành người đến đạo tràng của ngài Bá
Trượng nghe pháp. Một hôm, ông già nói với ngài Bá trượng:
tôi là thân con chồn, xin ngài khai thị cho tôi được thoát
thân chồn?
Bá
Trượng nói: Ông cứ hỏi.
Ông
già hỏi: người đại tu hành còn lọt vào nhân quả hay không?
Bá
Trượng đáp: bất muội nhân quả (nhân quả rõ ràng).
Ông
già nghe liền ngộ, thoát được thân chồn.
Hỏi:
Tại
sao đức Phật Thích Ca cũng bị nhân quả?
Đáp:
Vì
hoằng pháp cho người còn ở trong chiêm bao thì phải nói nhân
quả, nếu người đã thức tỉnh trong chiêm bao, thì không
có dính dáng đến nhân quả trong chiêm bao. Vì Phật Thích
Ca vô trong chiêm bao để độ chúng sanh, nên nói còn phải
chịu nhân quả.
Hỏi:
Tiền
kiếp của Phật Thích Ca gõ đầu con cá ba cái, sau bị nhân
quả đau đầu ba ngày. Việc ấy như thế nào?
Đáp:
Chỗ
này, Phật Thích Ca nói “tôi bị đau đầu ba ngày”, ở kinh
khác, lại nói “tôi không bị đau đầu”. Nói đau đầu
chỉ là phương tiện. Như Phật thị hiện bệnh, sai A Nan đi
xin sữa, gặp Duy Ma Cập quở.
A
Nan nói: Chính tôi nghe Phật nói mà!
Duy
Ma Cật bảo: A Nan nên về đi, Phật làm sao có bệnh?
Vì
trình độ của A Nan có khác, Duy Ma Cật biết Phật không có
bệnh.
Hỏi:
Chúng
con ở trong chiêm bao, muốn thức tỉnh phải dùng biện pháp
trong chiêm bao để đến chỗ thức tỉnh, vậy được không?
Đáp:
Làm
sao được! Nhắm mắt chiêm bao thì ông cũng có kinh nghiệm.
Lúc thức tỉnh thì không có dính dáng đến chiêm bao nữa.
Nhắm mắt chiêm bao thì ngủ đã tự thức, nhưng thức rồi
sẽ chiêm bao lại; còn mở mắt chiêm bao không bao giờ tự
thức, chỉ có tham thiền mới thức tỉnh, nhưng khi thức tỉnh
thì không bao giờ bị chiêm bao lại nữa.
Hỏi:
Sau
đời nhà Tống ở Trung Quốc mới có công án và thoại đầu
để tu, vì thích hợp nền nông nghiệp lúc đó; nhưng bây
giờ thời đại khoa học máy móc phức tạp, có phương pháp
nào khác để tu cho thích hợp không?
Đáp:
Công
án không bị không gian thời gian hạn chế, khác hơn khoa học;
khoa học thì dần dần tiến bộ. Công án là để phát hiện
Tâm linh, nói dễ hiểu là Phật tánh; Phật tánh không thể
tiến bộ, nếu Phật tánh có tiến bộ thì Phật tánh cũng
bị sanh diệt.
Phương
tiện là tùy căn cơ, chứ không phải có nhất định. Ngày
xưa cũng tùy căn cơ mà thay đổi phương tiện.
Như
công án “vô” (không) của Triệu Châu:
Tăng
hỏi: con chó có Phật tánh không?
Triệu
Châu đáp: Không.
Tăng
khác hỏi: con chó có Phật tánh không?
Triệu
Châu đáp: có.
Rõ
ràng như thế đã khác, đâu có cố định!
●
Công
án “uống trà” của Triệu Châu:
Triệu
Châu hỏi Tăng: trước kia có đến đây chưa?
Tăng
đáp: chưa.
Triệu
Châu nói: uống trà đi.
Triệu
châu hỏi Tăng khác: trước kia có đến đây chưa?
Tăng
đáp: đến rồi.
Triệu
Châu nói: uống trà đi.
Có
người thắc mắc, sao Triệu Châu trả lời cho hai vị Tăng
đã đến rồi và chưa đến đều là “uống trà đi”?
Triệu
Châu gọi: Viện chủ!
Viện
chủ: dạ.
Triệu
Châu nói: uống trà đi.
Có
chỗ Triệu Châu trả lời cho ba người đều “uống trà”,
có chỗ trả lời cho hai người, người trả lời có, người
trả lời không. Đó là tùy căn cơ, chứ không phải thời
xưa khoa học kém, bây giờ khoa học tiến bộ mà sửa lại.
Nếu
bây giờ có người kiến tánh cũng tùy căn cơ vậy. Tùy căn
cơ đó theo Giáo môn gọi là trên thì hợp ý Phật, dưới
khế hợp người hỏi pháp. Phù hợp Phật ý không có tiến
bộ, khế hợp đương cơ cũng không có tiến bộ; ngày xưa
và bây giờ cũng vậy.
Hỏi:
Có
câu “tùy duyên bất biến” là Phật pháp bất biến, nhưng
tùy theo hoàn cảnh bây giờ có khác. Vậy thế nào?
Đáp:
Tùy
duyên không phải bây giờ mới khác, hồi xưa cũng khác! Tôi
mới vừa nói là người này nói là có, người kia nói là
không thì mỗi người nhân duyên có khác.
Hỏi:
Kính
xin Thầy khai thị “chỗ nào có Phật thì tránh, chỗ nào
không có Phật thì tới”?
Đáp:
Đó
là muốn mình phát nghi. Tất cả lời của chư Phật chư Tổ
để cho mình ngộ, ngộ không được thì nghi; có người nghe
thì ngộ liền, có người không được thì không hiểu, không
hiểu tức phải phát nghi là tại sao vậy? Rồi giữ cái nghi
đó, sau này sẽ được ngộ.
Hỏi:
Theo
các Tôn giáo thì trong người mình có cấm địa phải không?
Đáp:
Các
Tôn giáo có tư tưởng chấp thật, còn Phật giáo là phá chấp
thật. Vậy không thể dùng Tôn giáo để thí dụ. Tối thượng
thừa của Phật pháp cũng không thí dụ được, vì không có
lý nên không thể logic, thí dụ được là Đại thừa, Trung
thừa, Tiểu thừa. Chư Phật chư Tổ là muốn mình ngộ, vô
lý mới chấm dứt suy nghĩ của mình. Nếu có lý thì cứ đuổi
theo cái lý, nên Thiền tông mắng là “con chó đuổi theo cục
xương”.
Hỏi:
Những
người phát minh hơi nước và các phương tiện tối tân để
giúp mọi người dùng, vậy có coi là Bồ tát không?
Đáp:
Bồ
tát là giúp người ta đạt đến chỗ tự do tự tại vĩnh
viễn, không còn một chỗ nào khổ. Còn người phát minh hơi
nước làm năng lượng để cho tàu chạy, xe chạy thì không
thể giải thoát cho người ta. Trái lại, toàn nước Mỹ mỗi
ngày vì tai nạn xe hơi khoảng 57 người chết, chưa kể người
bị thương. Hiện thực không có lợi ích giải thoát cái khổ,
mà sanh ra tai hại, làm sao gọi là Bồ tát được!
Bây
giờ, phát minh cái máy và làm cái xưởng sản xuất đồ cho
mọi người, ông nói là Bồ tát cũng được; nhưng các phế
thải của xưởng làm cho không khí ô nhiễm, bỏ xuống biển
là cho nước biển ô nhiễm, làm cho người và vật thiếu
nước uống. Nhà khoa học hiện nay đang lo sự ô nhiễm này,
không biết làm sao!
Các
nước tân tiến biết nguyên nhân của sự ô nhiễm, nhưng
muốn kiếm tiền, nên đem các xưởng đến các nước lạc
hậu, mang danh là giúp đở. Sự thật là muốn nước mình
khỏi bị ô nhiễm. Như vậy là hại người, chứ đâu phải
giúp cho người mà gọi là Bồ tát!
Hỏi:
Một
người làm chính trị cho một quốc gia họ, nếu như vì cá
nhân của họ thì việc đó không tốt; còn làm để cho quốc
gia của họ được nâng cao đời sống, thì có thể coi là
Bồ tát không?
Đáp:
Lương
Võ Đế bố thí, cúng dường các chùa và trai tăng hỏi Đạt
Ma: Tôi làm vậy có công đức không?
Đạt
Ma đáp: không có công đức.
Lương
võ Đế nghe rồi không vừa ý, Đạt Ma đi khỏi. Sau này, nghe
Tế Công nói muốn thỉnh về nhưng không được.
Mục
đích của Đạt Ma muốn người ta giải thoát vĩnh viễn tất
cả khổ, còn Lương Võ Đế là tư tưởng thế gian chỉ giúp
đở người ta, nhưng người ta không thể giải thoát được.
Ông chỉ được phước đức, chứ không phải công đức;
công đức như tổ Đạt Ma nói ở tự tánh Phật đầy đủ.
Hỏi:
Ai
làm ra luật nhân quả?
Đáp:
Luật
vũ trụ không ai làm ra được, tất cả đều tự như vậy.
Vô sanh là không có sự sanh khởi, vô thỉ là không có sự
bắt đầu. Phật đã nói trắng cho mình hiểu vậy, chứ không
phải như các nhà Triết học tây phương cho là phải có cái
nhân gì lập ra! Không thể được. Nếu có thể lập ra thì
có thành phải có hoại, có sanh phải có diệt, có bắt đầu
phải có cuối cùng, đều nằm ở trong tương đối.
Hỏi:
Con
gà có trước hay trứng gà có trước?
Đáp:
Con
gà không thể có trước, trứng gà cũng không thể bắt đầu.
Không những con và trứng gà, mà tất cả vũ trụ vạn vật
đều cũng như vậy. Như trái cam có trước hay cây cam có trước?
Không được, cũng như trứng gà và con gà vậy. Nếu muốn
thành lập cái gì thì cũng không thành lập được.
Hỏi:
Thế
nào là kiếp không?
Đáp:
Kiếp
không là chưa có cái gì hết, vũ trụ chưa có cũng gọi là
kiếp không. Đó là một khái niệm chưa có trời đất vũ
trụ.
Hỏi:
Tham
thiền và theo dõi hơi thở ra hay vào, vậy như thế nào?
Đáp:
Đó
là không phải tham thiền, điếm hơi thở là thiền Tiểu thừa
gọi là Sổ tức quán. Thiền quán của Tiểu thừa có 5 thứ:
Sổ tức quán, Bất tịnh quán, Nhân duyên quán, Lục thức
quán, Từ bi quán. 5 thứ thiền quán gọi chung là Ngũ đình
tâm quán. Nhưng phần nhiều tu Sổ tức quán, cũng có một
số ít tu Bất tịnh quán, còn các thứ quán kia ít người
ta tu.
Tham
thiền là thuộc về Tối thượng thừa, không thuộc về tam
thừa; khác hơn tất cả thiền, gọi là “giáo ngoại biệt
truyền, bất lập văn tự”.
Hỏi:
Ngồi
thiền là nghĩ đến công án phải không?
Đáp:
Không
cho nghĩ, chỉ là hỏi và nhìn, không cho suy nghĩ, tìm hiểu,
giải thích; chỉ là giữ cái không hiểu, muốn hiểu mà hiểu
không nổi, gọi là nghi tình; ngoài nghi tình không biết cái
khác. Đi, đứng, nằm, ngồi đều tham thiền được. Các thiền
khác thì họ chủ trương ngồi, còn tham thiền không nhất
định phải ngồi.
Giữ
nghi tình là ngưng suy nghĩ, tức ngưng tất cả hoạt động
của bộ óc, là chỉ giữ cái không biết của bộ óc. Đến
giờ phút cuối cùng ngộ thì cái không biết của bộ óc cũng
tan rã. Lúc đó, biết và không biết của bộ óc sạch hết
thì cái biết Phật tánh toàn diện hiện lên khắp không gian
thời gian, chỗ nào cũng biết.
Hỏi:
Lục
Tổ dạy đồ chúng như thế nào?
Đáp:
Căn
bản của Lục Tổ dạy là đừng thêm vô Tâm linh và đừng
bớt ra Tâm linh, thì chỉ y như vậy. Như giới, định, huệ
của Lục Tổ nói “Tâm địa chẳng quấy, tự tánh giới.
Tâm địa chẳng loạn, tự tánh định. Tâm địa chẳng si,
tự tánh huệ”. Đó là nói về giới, định, huệ. Nếu nói
tất cả đều được hết, như Bát Nhã Tâm Kinh nói “chẳng
dơ, chẳng sạch, chẳng thêm, chẳng bớt”.
Rất
là đơn giản, mà người ta muốn giải đủ thứ lý; nhưng
không có lý gì, chỉ là chẳng nổi cái tâm xen vô, Lục Tổ
gọi là vô niệm; vô niệm không phải là không có cái tâm,
cái tâm vẫn y như cũ. Cho nên, tất cả đều chẳng… là
được, chứ không phải chỉ nói giới, định, huệ thôi!
Cái khác cũng vậy, chẳng tốt, chẳng xấu, chẳng trước,
chẳng sau… là nghĩa của tâm là như như bất động.
Hỏi:
Tối
thượng thừa thiền và Tổ sư thiền khác nhau như thế nào?
Đáp:
Tối
thượng thừa thiền tức là Tổ sư thiền, tam thừa có giáo
lý, rồi theo giáo lý để tu, có pháp thiền mà mỗi mỗi khác.
Tối thượng thừa không có giáo lý, nhưng thực hành không
trái với giáo lý; tức là ở ngoài tam thừa, gọi là giáo
ngoại, đặc biệt truyền pháp môn này; mà pháp môn này không
nhờ văn tự lời nói, nên gọi là bất lập văn tự. Vì khác
hơn tam thừa nên nói là Tối thượng thừa.
Hỏi:
Như
lai thiền và Tổ sư thiền khác nhau như thế nào?
Đáp:
Thực
hành theo giáo lý Đại thừa là dùng cái biết, gọi là Như
lai thiền; dùng cái không biết để tu gọi là Tổ sư thiền,
do từ Tổ từ Tổ truyền xuống.
Hỏi:
Hư
không vô sở hữu phải là Như lai thiền không?
Đáp:
Hư
không vô sở hữu thì Như lai thiền và Tổ sư thiền đều
không có. Vô sở hữu thì không có hư không, nhưng tất cả
đều ở trong hư không, tất cả nhờ hư không hiển bày cái
dụng. Tổ sư thiền cũng vậy, mục đích của Tổ sư thiền
là muốn đạt đến vô sở hữu, chỗ dùng không có gì hạn
chế; tức là không có chỗ để đứng chân, nhưng con người
chấp có cái ta để đứng chân.
Đối
với Tổ sư thiền muốn lập có ta (hữu ngã) hay không có
ta (vô ngã) đều không được. Vì hữu và vô là tương đối,
mà Tổ sư thiền là không có tương đối (nghĩa vô trụ),
không trụ nơi có và không trụ nơi không có, không trụ nơi
chẳng có chẳng không có, không trụ nơi cũng có cũng không
có; gọi là lìa tứ cú, tuyệt bách phi. Cho nên, chỗ nào cũng
không trụ thì không bị dính mắc. Dù ở bất cứ nơi nào
cũng định, gọi là Na già định.
Hỏi:
“Sắc
chẳng khác không, không chẳng khác sắc”. Xin Thầy khai thị?
Đáp:
Đó
là lời nói, kinh Lăng Nghiêm nói “phàm có lời nói đều
chẳng nghĩa thật”. Tất cả kinh điển đều dùng lời nói,
danh tự. Thiền tông là bất lập văn tự, không có thể
dùng lời nói. Nếu dùng lời nói thì không đúng thật tế.
Như kinh có thí dụ: người mù bổn sanh không thấy mặt trời,
hỏi mặt trời thế nào? Người mắt sáng trả lời là tròn
với nóng, người mắt sáng diễn tả đúng; nhưng người mù
cho tròn với nóng là mặt trời thì sai.
Tôi
biết
mặt mũi ông Trương, có người hỏi tôi “mặt mũi ông Trương
như thế nào?” Tôi diễn tả thật kỹ cho người ấy nghe,
nhưng người ấy gặp ông Trương ở ngoài đường vẫn không
biết. Tôi giới thiệu trước mặt ông Trương, lần sau người
ấy gặp ông Trương ở đâu cũng biết. Tại sao? Không phải
lời nói của tôi không đúng! Nhưng lời nói là lời nói,
thật tế là thật tế. Thật tế không phải dùng lời nói
để thay thế được. Cho nên, Phật nói “phàm có lời nói
đều chẳng có nghĩa thật”.
Nghĩa
thật là phải tự ngộ mới được, Phật muốn trị bệnh
mù của chúng sanh; hết bệnh mù thì tự thấy, khỏi cần
nhờ người mắt sáng. Người mắt sáng không muốn lừa gạt,
vì không hiểu nên bị lừa gạt; tức chấp lời của người
mắt sáng là bị lừa gạt, chính Phật Thích Ca rất sợ người
ta chấp lời của Phật.
Cho
nên, kinh Kim Cang nói “ai nói Phật có thuyết pháp là người
ấy phỉ báng Phật”. Vì vậy, chỗ này rất là mâu thuẩn.
Chính kinh Kim Cang của Phật thuyết, mà Phật lại nói “ai
nói Phật có thuyết pháp là người ấy phỉ báng Phật”.
Thật tế là vậy.
Thật
tế nhờ vô sở hữu là hư không này, ứng dụng hàng ngày
mà không biết. Bây giờ tôi nói cho biết, rồi cũng không
nhìn nhận; cũng muốn sở hữu cho nhiều, chứ không chịu
vô sở hữu. Chỉ Thiền tông có Bàng Uẩn là tỷ phú đem
tất cả gia tài bỏ xuống biển, rồi hàng ngày làm giỏ tre
sai con gái ra chợ bán để đổi gạo ăn.
Có
người hỏi: tại sao không đem tiền cứu giúp người nghèo
để có phước đức?
Bàng
Uẩn trả lời: tôi đã bị hại nhiều rồi, sao lại đem hại
người khác!
Người
ấy nói: sao không để lại một ít tiền để ăn mà tu?
Bàng
Uẩn nói: tôi đã biết bị hại, sao tôi tiếp tục bị hại
nữa!
Cho
nên, cả gia đình gồm có 4 người đều được kiến tánh.
Nói
thì dễ, nhưng làm rất khó. Vì vậy, Phật dạy có 84.000 pháp
môn để tu từ từ.
Hỏi:
Thế
nào là Kiến tánh rồi khởi tu theo thập mục ngưu đồ?
Đáp:
Ở
Việt Nam có người đem thập mục ngưu đồ để tu, ngài Nguyệt
Khê nói tu theo thập mục ngưu đồ là sai lầm. Mục ngưu là
bảo nhậm sau khi ngộ, trong Thiền tông thì “bất phá trùng
quan bất bế quan” là sau khi ngộ, rồi bảo nhậm dứt trừ
tập khí. Như Lục Tổ sau khi ngộ còn phải trải qua 15 năm
ở chung với thợ săn để bảo nhậm.
Nghĩa
chữ Phật là ngộ, ngộ là thình lình; chứ không phải ngộ
lần lần. Học giáo lý thì có giai cấp: Thập tín, Thập trụ,
Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và
Diệu giác. Tổng cộng gồm có 52 cấp. Tổ sư thiền ngộ
không có cấp bực nào, là từ địa vị phàm phu ngộ thẳng
Đẳng giác.
Bất
cứ môn phái nào tu cuối cùng gặp nhau ở Đẳng giác, rồi
Đẳng giác tiến lên Diệu giác. Tổ sư thiền là pháp đốn
giáo, đốn là thình lình, ngộ là đốn ngộ. Bây giờ mình
chưa đốn ngộ, nhưng giữ tiệm tu, mà không có cấp bực;
không phải như thập mục ngưu đồ có 10 cấp bực.
Hỏi:
Kinh
điển nói kiến tánh thành Phật, còn Thiền tông nói kiến
tánh chưa thành Phật, vậy có đúng không?
Đáp:
Kiến
tánh là không phải có tự tánh để cho mình thấy, tự tánh
không phải là sở thấy, kiến không phải là năng thấy; có
năng có sở thì không phải là kiến tánh, kiến tánh là tự
tánh tự hiện.
Kinh
Lăng Nghiêm nói “kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến.
Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập”. Kiến kiến là kiến
tánh là bản kiến tự hiện, chứ không phải có năng kiến.
Nhiều người giảng kinh Lăng nghiêm cho là có năng kiến để
kiến cái sở kiến. Kiến tánh là không có năng kiến để
kiến sở kiến.
Duy
thức có thêm chứng tự chứng phần. Kiến phần để thấy
tướng phần, nếu có kiến phần và tướng phần là phàm
phu, chưa phải kiến tánh; phải đến tự chứng phần là tự
mình chứng tỏ, chứ không phải có kiến phần tướng phần.
Khi
thân mình nằm trên giường nhắm mắt ngủ, thấy thân chiêm
bao tiếp xúc thế giới chiêm bao. Thân chiêm bao là kiến phần,
thế giới chiêm bao là tướng phần, thấy tất cả đều như
thật. Giả tỷ có thiện tri thức nói cái tách không thật,
đồ này không thật, luôn cả thân của ông không thật, người
chiêm bao không tin.
Người
chiêm bao nói “tất cả không thật, sao tôi đụng nóng lạnh
đều biết? Thân tôi không thật sao tôi biết buồn vui? Vậy
ai tin được!” Nhưng ngủ đã thức dậy, những cái thật
chất đó không có, luôn cả thân chiêm bao không tìm ra; chỉ
còn cái thân nằm trên giường. Lúc ấy tự mình chứng tỏ
(tự chứng phần), tất cả trong chiêm bao đều không thật.
Lúc chưa thức tỉnh, chưa được tự chứng phần; người
ta giải thích có lý cũng không tin.
Đang
mở mắt chiêm bao, Phật giải thích rất kỹ, mình cũng không
tin nổi. Nhắm mắt chiêm bao, khi thức tỉnh được tự chứng
phần; mở mắt chiêm bao không bao giờ tự thức tỉnh, phải
tham thiền đến kiến tánh mới thức tỉnh. Chưa kiến tánh
là còn đang chiêm bao.
Phật
giải thích thật kỹ, mình tin không nổi là chưa được tự
chứng phần, khi nào kiến tánh là được tự chứng phần.
Có người giải ngộ cho là tự chứng phần, tức hiểu theo
bộ óc chứ không phải chứng ngộ. Duy thức thêm chứng tự
chứng phần, tức Thầy ấn chứng cái tự chứng là đúng.
Duy thức có bốn phần: tướng phần, kiến phần, tự chứng
phần, chứng tự chứng phần.
Mình
hiểu theo bộ óc hoàn toàn không đúng sự thật, mà giải
ngộ cũng là hiểu theo bộ óc, nên chưa thật tế giải thoát
cái khổ sanh tử luân hồi, phải chứng ngộ mới được tự
chứng phần.
Hỏi:
Người
đã kiến tánh mà chưa có ấn chứng, làm sao để bảo nhậm?
Đáp:
Khi
nào kiến tánh rồi tự nhiên dứt tập khí, thời gian đó
gọi là bảo nhậm. Những người giải ngộ, họ cho là chứng
ngộ thì không có thể bảo nhậm.
Hỏi:
Lục
Tổ ngộ nơi Huỳnh Mai mà chưa bảo nhậm, ngài có thể bị
tái sanh không?
Đáp:
Không
có. Ngài không có phát huy được cái dụng của tự tánh.
Phật nói trong kinh Lăng Nghiêm “khi cây đã đốt thành tro
thì tro không thể thành cây được”, như quặng vàng đã
luyện ra vàng thật thì vàng không thể trở thành quặng.
Hỏi:
Cây
đã đốt thành tro thì tro không thể trở lại thành cây, có
giống như những người chấp lấy Niết bàn Tiểu thừa không
có ích lợi gì phải không?
Đáp:
Không
phải! Phật thí dụ việc đó là để không có sự trở lại.
Thí dụ không phải thật tế, là phương tiện để phá chấp.
Vì vậy, Phật rất sợ người ta chấp lời, nên Phật nói
“phàm có lời nói đều chẳng có nghĩa thật” hay “ai nói
Phật có thuyết pháp là người ấy phỉ báng Phật”. Thật
tế không thể nói, phải tự ngộ; còn nói được không phải
thật tế, dùng lời nói của Phật để truy cứu thì không
thể được.
Như
Viên Ngộ lúc chưa kiến tánh triệt để thì ngài cách xa Thầy
không có ấn chứng. Sau đó ngài bị bệnh nặng rồi được
khỏi, gặp lại thầy là Pháp Diễn trong vòng một tháng được
ngộ triệt để.
Phần
nhiều không ngộ được là ôm cái lý. Hứa cư sĩ tự ngộ
gởi thư cho Nhị Tổ để trình bày, vì không có lý, mà tự
lập ra cái lý mới có sự tranh luận với nhau. Nếu vốn không
có lý thì lấy cái gì để tranh luận! Tất cả kinh điển
là theo cái lý, nhưng cái lý là công cụ để phá chấp. Cho
nên, thí dụ như chiếc bè qua sông, đến bờ phải bỏ bè;
như thuốc giả để trị bệnh giả, bệnh giả hết thì thuốc
giả cũng bỏ.
Giáo
môn thường chấp trong kinh điển có chân lý, nếu chấp có
chân lý thì giống như ngoại đạo. Giáo chủ ngoại đạo
ngộ được chân lý, rồi tự mình làm giáo chủ để hoằng
dương chân lý của họ ngộ. Phật Thích Ca ngộ là vô sở
hữu (không có gì hết).
Hỏi:
Không
và không đại khác nhau như thế nào?
Đáp:
Không
đại là tên gọi giống như tứ đại, là có cái gì rồi!
Còn cái nghĩa không là không có cái gì, như hư không vô sở
hữu, cho nên không nói là quảng đại vô biên; nếu là quảng
đại vô biên thành không đại, thành có cái không đó mới
nói là quảng đại vô biên. Cái không đó vốn là không có
thì lấy cái gì nói là quảng đại vô biên!
Cái
không thì không có cái gì hạn chế, gọi là tánh không. Thông
minh của con người đem cái không đó hạn chế thành cái không
của tách, dĩa, nhà… muôn ngàn thứ nghĩa không, giải thích
ra rất hay, thật có lý. Nhưng nguồn gốc của không chẳng
có nghĩa lý. Chưa dựng lên nhà thì cái không đã sẵn, chưa
có tách thì cái không đã sẵn. Mặc dù, giải thích muôn ngàn
nghĩa không khác biệt, nhưng cái không sẵn không có khác biệt.
Con
người lập ra là không đại, còn cái không sẵn sàng không
phải là không đại. Tạm lập ra cái tên gọi là Tánh không,
nhưng vốn không có cái đó. Cho nên, ngài Long Thọ nói là
vô sở hữu. Vốn không có mà lập thành có, có mới nói là
quảng đại vô biên. Nếu không có thì lấy gì nói là quảng
đại vô biên! Chỗ này ngài Long Thọ muốn diễn tả cái ý
như vậy.
Thật
tế không có mà dùng tất cả, dung nạp tất cả; mình cũng
đang dùng, nhưng mình bỏ quên cái đó; cứ ham cái sở hữu,
không chịu dùng sức vô sở hữu. Sức vô sở hữu không có
gì hạn chế, lại muốn dùng cái có sở hữu là hạn chế
thành cái tách, dĩa, nhà…
Pháp
châm cứu của tôi phổ biến vì muốn dùng cái sức không
hạn chế. Khoa học giải thích là từ trường, tất cả lớn
như hành tinh, nhỏ như nguyên tử đều có từ trường. Nhưng
nhà khoa học chỉ nhìn nhận từ trường hiển tánh. Từ trường
hiển tánh, tốc độ cao nhất của ánh sáng 1 giây đi 300.000
cây số.
Từ
trường ẩn tánh thì tốc độ ánh sáng là thấp nhất, nhưng
nhà khoa học chưa có nhìn nhận cái đó; mà Einten phát hiện
cái đó, nên ông nói tốc độ gần như ánh sáng thì nó sẽ
rút nhỏ lại. Theo lý luận của Einten nếu mà tốc độ siêu
ánh sáng thì thành hư thể, tôi đặt tên là vật lý ẩn tánh.
Kinh
huyệt là vật lý ẩn tánh, cảm thấy thần kinh vận động
là vật lý hiển tánh. Châm cứu kích thích kinh huyệt ẩn
tánh, vì ẩn tánh không chiếm không gian, nên nhà khoa học
giải phẩu không thấy. Nhưng thật tế khi châm cứu kích thích
thông qua hệ thống thần kinh hiển tánh thì có cảm giác,
nên nó mới điều khiển từ trường của cơ thể để thích
ứng với từ trường của trái đất thì được hết bệnh.
Sách
châm cứu truyền ngày xưa, họ giải thích theo âm dương ngũ
hành cũng có lý, nhưng phức tạp nên người ta khó hiểu.
Cho nên, tôi muốn phổ biến nói theo khoa học hiện đại và
thêm phần vật lý ẩn tánh, thì người ta dễ hiểu hơn.
Hỏi:
Làm
thế nào để tham cho đúng phương pháp Tổ sư thiền?
Đáp:
Tham
Tổ sư thiền rất giản dị, nói tham là tham thoại đầu,
hỏi câu thoại. Thoại đầu, thoại là lời nói, đầu là
đầu tiên lời nói; tức là chưa có nổi niệm muốn nói câu
thoại mới gọi là thoại đầu. Nếu khởi niệm muốn nói,
nhưng chưa nói ra miệng gọi là thoại vỉ. Vậy thoại đầu
là chưa có nổi niệm.
Tham
thoại đầu là hỏi câu thoại mục đích muốn đến thoại
đầu, gọi là tham thoại đầu, mà chưa đến thoại đầu.
Hỏi câu thoại là để kích thích niệm không biết, tất cả
muôn ngàn câu thoại cũng là kích thích niệm không biết.
Như
hỏi “chưa có trời đất ta là cái gì?” Không biết, rồi
nhìn chỗ không biết đó gọi là khán thoại đầu; muốn xem
chỗ không biết là cái gì, nhưng chỗ không biết thì không
có chỗ; nên không có mục tiêu để nhìn. Không có mục tiêu
để nhìn thì nhiều người nói là tôi nhìn không được,
vậy đã nhìn được rồi. Tại sao? Do có nhìn được mới
biết là nhìn không được. Vì nhìn không thấy gì, cho nên
nói nhìn không được.
Hỏi
câu thoại để kích thích niệm không biết gọi là tham thoại
đầu, rồi nhìn chỗ không biết là khán thoại đầu. Nói
tham thoại đầu là mục đích muốn đến thoại đầu, nhưng
chưa đến; cứ hỏi và nhìn liên tục, một ngày kia sẽ đến
thoại đầu. Khi đến thoại đầu thì không có niệm nào nổi
lên, cho nên ngày đêm 24 tiếng thắc mắc muốn biết mà biết
không nổi (nghi tình), câu thoại tự mất. Đến thoại đầu
là sắp kiến tánh, có thể vài phút sau hay vài ngày sau kiến
tánh.
Mặc
dù nói là hỏi, nhưng không dùng miệng hỏi, mà tâm hỏi;
nói khán, không phải dùng mắt nhìn, mà dùng tâm nhìn; tức
là hỏi thầm trong bụng, nhìn thầm trong bụng. Như muốn nhìn,
nhắm mắt cũng nhìn được. Nhắm mắt thấy đen tối không
thấy gì, dùng cái đen tối để thí dụ không thấy gì. Cho
nên, nói là tham công án hay tham thoại đầu.
Bất
cứ hỏi câu nào: Muôn pháp về một, một về chỗ nào? Khi
cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bổn lai của ta ra sao? Chẳng phải
tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật là cái gì?... Tất
cả câu thoại đầu đều là kích thích niệm không biết.
Tuy
câu thoại đầu muôn ngàn sai biệt, nhưng ý chỉ là một cảm
thấy không biết và nhìn chỗ không biết. Hỏi là kích thích
niệm không biết, nhìn là kéo dài niệm không biết. Nhìn mãi
không thấy gì vẫn không biết, một ngày kia đến thoại đầu,
thình lình biết được là kiến tánh thì tất cả khắp không
gian thời gian đều biết.
Như
bộ óc ngủ mê không biết, chết giấc không biết, chết rồi
không biết; còn đến chừng ngộ là cái biết của Phật tánh
thì ngủ mê cũng biết, chết giấc cũng biết, chết rồi cũng
biết. Nếu chết rồi không biết thì cái biết có gián đoạn.
Hỏi và nhìn đi song song, không có trước sau; không phải hỏi
trước nhìn sau, không phải hỏi sau nhìn trước.
Hỏi:
Có
hai vấn đề khó khăn cho người tham thoại đầu: Thứ nhất
là tham thoại đầu có một lúc không có nghi tình, không có
nghi tình thì vọng tưởng sẽ xen vô. Trường hợp thứ hai,
nếu mình tham thiền đến lúc miên mật thì có tình trạng
xẩy ra đưa đến nhức đầu. Vậy cách nào để đối trị
hai bệnh đó?
Đáp:
Trường
hợp thứ nhất là mình tập tham thì tự nhiên xen lộn với
vọng tưởng, tâm niệm của mình thay đổi từng sát na; mình
vừa tham là cái niệm khởi, rồi vọng tưởng cũng khởi,
cứ xen lộn hoài thấy có vọng tưởng nhiều, không thấy
có nghi tình. Nhưng sự thật vừa có nghi tình vừa có vọng
tưởng. Rồi lần lần nghi tình và vọng tưởng tranh nhau,
đến lúc nghi tình thắng, vọng tưởng bớt lại.
Vọng
tưởng bớt thì nghi tình lên, nghi tình lên một phút thì vọng
tưởng bớt một phút; nghi tình lên một tiếng thì vọng tưởng
bớt một tiếng. Như ngày đêm là 24 tiếng, nếu giữ nghi
tình được 1 tiếng thì vọng tưởng 23 tiếng, nghi tình được
2 tiếng thì vọng còn 22 tiếng. Nghi tình càng ngày càng tăng
lên thì vọng tưởng càng ngày càng bớt.
Khi
vọng tưởng bớt rồi hôn trầm, sẽ qua giai đoạn buồn ngủ.
Nếu vậy cũng không sao, buồn ngủ cũng cứ hỏi và nhìn.
Lúc thấy buồn ngủ thì lấy nước rửa mặt, lúc ngồi thấy
buồn ngủ thì mở mắt lớn, mở mắt thấy còn buồn ngủ
thì đi kinh hành hay kiếm công việc làm. Nếu tán loạn tức
là vọng tưởng nhiều thì cứ đề liên tiếp, để không
có kẻ hở thì vọng tưởng không chen vào được.
Trường
hợp thứ hai là do tập trung tinh thần, cố gắng. Tổ sư dạy
đừng có tập trung tinh thần, đừng có cố gắng, ít phí
sức chừng nào tốt chừng nấy, là chỉ cần miên mật, ra
sức nhẹ nhẹ, đừng cố gắng thì không bị nhức đầu.
Các
môn khác là tập trung tinh thần, còn tham thiền khỏi, chỉ
cái thắc mắc không có kẻ hở. Như hỏi rồi một lúc sau
hỏi lại tiếp thì có kẻ hở, nên vọng tưởng ở nơi kẻ
hở nổi lên. Hỏi rồi hỏi nữa, khít khít không có kẻ hở
thì vọng tưởng không có chỗ nổi lên, gọi là miên mật.
Chỉ cần miên mật chứ không cần cố gắng.
Hỏi:
Ngài
Vân Môn nói “cái áo, cây gậy”: thì đối với Tiểu
thừa là vô ngã, đối với Trung thừa là do duyên hợp mới
có, đối với Đại thừa thì nói cái áo là không, đối với
Thiền sư của Tối thượng thừa nói cái áo là cái áo, cây
gậy là cây gậy. Như vậy là như thế nào?
Đáp:
Thí
dụ như vậy người ta khó hiểu. Sanh tử thì Tiểu thừa chấp
có sanh diệt, Trung thừa không thấy sanh mà thấy diệt, Đại
thừa thấy sanh và diệt như hoa đốm trên không, Tối thượng
thừa không có giáo lý chỉ là trực tiếp thực hành, nhưng
không nghịch với giáo lý. Tam thừa có giáo lý (Tiểu thừa,
Trung thừa, Đại thừa). Mỗi mỗi có pháp thiền đều có
giáo lý.
Như
Tiểu thừa có pháp thiền là Ngũ đình tâm quán (5 thứ thiền
quán để đình chỉ tâm), Trung thừa là 12 nhân duyên, Đại
thừa có 3 thứ thiền quán là Sa ma tha, Tam ma bát đề và Thiền
na; giống như Pháp hoa tông là Giả quán, Không quán, Trung quán;
giống chứ không có khác. Tất cả Đại thừa đều có 3 thiền
quán này.
Tam
thừa có xen lộn cái lý trong đó, Tối thượng thừa không
có lý, tất cả đều y như cũ, không có đem cái lý để cho
là phải hay không phải, cho là đúng hay là không đúng, cho
là hợp lý hay không hợp lý.
Kinh
Đại Niết Bàn có ngài Ca Diếp thay mặt cho đại chúng hỏi
Phật: tại sao phàm phu có điên đảo tưởng mà có phiền
não, còn bực thánh cũng điên đảo tưởng mà không có phiền
não?
Phật
nói: tại sao bực thánh có điên đảo tưởng?
Ca
Diếp nói: phàm phu gọi con trâu là con trâu, con ngựa là con
ngựa thì bực thánh gọi con trâu là con trâu, con ngựa là
con ngựa, không phải là điên đảo sao?
Phật
giải thích tưởng có hai thứ:
Một
thứ là thế lưu bố tưởng (thế là thế gian, lưu là lưu
hành, bố là phổ biến) và trước tưởng. Phàm phu ở nơi
thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng, tức là gặp cái
nào cũng chấp thật, nói con trâu chấp con trâu là thật, nói
con ngựa chấp con ngựa là thật, nhà cửa cây cối đều vậy.
Bực
thánh vì hoằng pháp muốn cho phàm phu nghe cũng phải nói theo
lời của phàm phu, gọi con trâu là con trâu, con ngựa là con
ngựa; nhưng không có chấp thật (trước tưởng), trước tưởng
gọi là điên đảo tưởng. Không có trước tưởng thì con
trâu vẫn là con trâu, con ngựa vẫn là con ngựa, chỉ là lời
nói, chứ không có chấp thật; tức không có đem ý mình cho
con trâu là thật hay giả.
Như
Đại thừa nói không quán, giả quán; Tối thượng thừa không
có cái đó, tức không có sự đối đãi; cái nào vẫn y như
cũ, không đem ý mình xen vô.
Thiền
tông có công án: Trung Quốc có Tòng Lâm ở trên núi là của
mười phương, không thuộc về ai, Tỉnh trưởng biết ai kiến
tánh rồi mời làm trụ trì, người nhận chức trụ trì thì
Tỉnh trưởng không can thiệp nội bộ Tòng Lâm. Nhưng Tỉnh
trưởng có quyền mời làm trụ trì và có quyền thôi trụ
trì.
Ở
giữa đường lên núi có một cái Đàm Không Đình (đàm là
đàm luận, không là nghĩa không). Có một hôm, Tỉnh trưởng
gặp Vị trụ trì kiến tánh.
Tỉnh
trưởng hỏi: Thế nào là Đàm Không Đình?
Vị
trụ trì đáp: Đàm Không Đình là Đàm Không Đình.
Nhưng
Tỉnh trưởng nghe bất mãn, rồi đi hỏi một vị chưa kiến
tánh: Thế nào là Đàm Không Đình?
Người
ấy đáp: Chỉ đem Đình thuyết pháp, đâu cần miệng đàm
không!
Tỉnh
trưởng nghe thấy hay quá, rồi thôi Vị Trụ trì kiến tánh,
mời người chưa kiến tánh làm trụ trì. Vì người chưa kiến
tánh đem ý của mình xen vô thì tỉnh trưởng nghe thấy có
lý, còn vị kiến tánh thì cái gì vẫn y nguyên vậy, chứ
không có ý của mình xen vô.
Không
có ý của mình xen vô thì người ta không chịu, tại tánh
con người ham nghĩa lý. Cho nên, Tăng Ni sinh của Phật Học
Viện khắp thế giới rất đông, những người học thiền
rất ít, vì không có lý để học.
Hỏi:
Tánh
không có phải là Tối thượng thừa không?
Đáp:
Là
Tối thượng thừa, như đang dùng vô sở hữu nhưng mình không
tin. Ngài Long Thọ thì nói thật tế, Tam thừa chỉ nói cái
lý chứ không phải thật tế. Tối thượng thừa là thật
tế hàng ngày, không có lìa một chút, ứng dụng hàng ngày.
Tâm mình cùng khắp hư không, do chấp nên tâm chỉ ở thân
này, ngoài không có tâm mình.
Kinh
Lăng Nghiêm thí dụ: đem cái bình đựng đầy hư không rồi
nhét miệng bình (đem bản tâm nhiếp thành thức, thức là
dụng của tâm cũng khắp hư không) đem đi chỗ này chỗ kia.
Chỉ chấp cái không ở trong bình là của ta, còn cái không
ở ngoài không phải.
Sự
thật, cái không ở trong bình và cái không ở ngoài bình không
khác. Tâm đều là tâm của ta, thức đều là thức của ta.
Phân biệt lại chấp thân này, nên dùng cái bình dụ cho nhục
thân, đựng hư không đi luân hồi trong lục đạo.
Các
nhà khí công có công năng đặc dị chứng tỏ: vận tốc nhanh
nhất là ánh sáng đi 1 giây được 300.000 cây số. Nhà thiên
văn muốn hình dung cự ly dùng ánh sáng để đếm, nếu dùng
cây số dặm thì đếm không hết; ánh sáng đi một năm gọi
là một quang niên, ánh sáng vòng quanh trái đất 7 vòng là
1 giây. Đối với vật chất thì ánh sáng đi nhanh nhất.
Giả
tỷ máy bay có tốc độ bằng ánh sáng, muốn bay đến hành
tinh kia phải 300 năm mới đến; còn tâm của mình là một
niệm đến. Tốc độ máy bay 1.000 năm đến, mà tâm của mình
chỉ có một niệm đến. Tại sao? Vì tâm cùng khắp hư không,
đâu có cái nào ở ngoài hư không! Cho nên, tâm của mình muốn
hiện chỗ nào thì hiện, chứ không cần bay; nhưng người
ta không tin.
Bây
giờ nhà khoa học biết tất cả vật chất đều có từ trường,
như từ trường quả đất, cơ thể mình, tế bào cũng có
từ trường, mình thở oxy hay hít vô, mỗi hạt nguyên tử
đều có từ trường. Mỗi hạt nguyên tử, ở giữa có hột,
chu vi có nhiều điện tử xoay cái hột đó, tốc độ là 1/3
cho đến ½ của ánh sáng. Nếu tốc độ 1/3 thì được 100.000
cây số/giây, nếu ½ thì 150.000 cây số/giây. Mình mang kính
hiển vi thấy điện tử của vật chất đang xoay ngày đêm
không ngừng.
Nhà
khoa học cho là mỗi vật chất đều có từ trường tự động
xoay, không tin thuyết của tâm; còn Phật nói tất cả do tâm
tạo, là năng lượng của tâm. Như Lục Tổ nói “chẳng phải
gió động, chẳng phải phướn động, mà tâm của ông động”;
tâm động nên gió mới động, tâm động nên phướn mới
động.
Nguồn
gốc năng lượng là do tâm, tâm không có hình tướng số lượng;
thành ra người ta khó tin, vì dùng tai mắt không thể thấy
được. Tất cả máy móc tối tân là giúp cho tai mắt để
thấy, như con mắt thấy không được, nhưng mang kính hiển
vi thấy được. Không qua tai mắt thì nhà khoa học cho là không
có, sự thật có tồn tại chân thật.
Nhà
khoa học giải phẩu cơ thể này chỉ là thấy hệ thống thần
kinh: thần kinh cảm giác, thần kinh vận động; nhưng không
thấy kinh lạc, kinh huyệt ở trong cơ thể; rồi phủ nhận
không có kinh lạc, kinh huyệt.
Người
ta dùng kinh huyệt để trị bệnh thấy công hiệu rõ ràng.
Mặc dù họ không thấy, nhưng vì trị bệnh được, nên đại
học ở Mỹ cũng phải nhìn nhận có khoa châm cứu, bác sĩ
châm cứu, tốt nghiệp cũng có bằng cấp để chứng minh.
Có
kinh huyệt, nhưng không có hình tướng, thuộc vật chất ẩn
tánh. Từ trường của vật chất ẩn tánh mạnh hơn nhiều
từ trường của vật chất hiển tánh. Khi châm cứu kích thích
từ trường ẩn tánh thông qua hiển tánh, điều khiển từ
trường của cơ thể để thích ứng từ trường của quả
đất thì được hết bệnh.
Hỏi:
Thế
nào là tông chỉ Tịnh độ?
Đáp:
Tông
chỉ Tịnh độ là: tín, nguyện, hạnh.
-Tín
là tin, có 3 thứ tin:
1-Tin
lời của Phật Thích Ca không có nói dối.
2-Tin
kiếp này mình sẽ được vãng sanh, chứ khỏi cần đợi kiếp
sau.
3-Tin
có cõi Cực Lạc, như kinh Di Đà nói “gió thổi chim kêu như
âm nhạc làm cho mình nghe thấy ham tu”, tin cõi Cực Lạc có
vui mà không có khổ. Được sanh cõi Cực Lạc, rồi nhờ Phật
A Di Đà dạy tham thiền, phát khởi nghi tình được kiến tánh
thành Phật.
-Có
2 thứ nguyện: tiểu nguyện và đại nguyện.
Tiểu
nguyện là nguyện cầu cho mình được vãng sanh thì không được
vãng sanh. Tại sao? Vì không hợp với nhân quả. Như giết
một mạng phải trả một mạng, ăn một cục thịt phải trả
một cục thịt, mới đúng nhân quả. Từ hồi nhỏ đến bây
giờ ăn bao nhiêu, giết hại bao nhiêu, giết một con kiến
cũng là sinh mạng, đập chết một con muỗi cũng là sinh mạng
phải trả quả.
Nếu
cầu cho mình được vảng sanh thì không được, vì vãng sanh
là không chết rồi sẽ thành Phật, thành Phật sao còn đi
đầu thai để trả nợ! Vậy là không có nhân quả. Cho nên,
phải phát đại nguyện mới hợp nhân quả.
Đại
nguyện là không cầu một mình vãng sanh. Thành Phật trở lại
độ chúng sanh nào, mà mình thiếu nợ mạng, nợ thịt thì
mới đúng nhân quả. Phát đại nguyện là coi tất cả chúng
sanh bình đẳng. Nếu không thực hành đại nguyện vẫn còn
ăn cá thịt. Nghịch lại đại nguyện của mình là nguyện
giả nguyện suông làm sao được vãng sanh!
Như
thiếu nợ của người ta, mà trương mục trong ngân hàng của
mình không đủ tiền trả; Mình ký ngân phiếu hẹn 5 hay 10
năm trả, người ta đem ngân phiếu lại ngân hàng để lảnh.
Nhưng mình mỗi ngày phải nạp tiền vô ngân hàng. Nếu mình
nói suông, không có tiền vô ngân hàng; người ta đem ngân
phiếu đến lảnh tiền không được, phát hiện là ngân phiếu
giả; phải bị pháp luật truy tố mình.
Cho
nên, phát đại nguyện phải thực hành đại nguyện của mình
phát. Như mỗi ngày mình phải làm những việc thiện, bố
thí… Đại nguyện là không phải chỉ miệng nói tâm
nghĩ là được, mà phải thực hành. Nếu chỉ miệng nói tâm
nghĩ là nguyện suông, nguyện giả không được vãng sanh.
-Hạnh
là thực hành niệm Phật.
Còn
hai thứ là: Quán tưởng niệm Phật là thiền và Thật tướng
niệm Phật cũng là thiền. Phần nhiều người ta không tu thiền
của Tịnh độ. Một số người tu Tịnh độ cho mình không
phải thiền, mà lại phỉ báng thiền. Bất cứ pháp môn nào
cũng có thiền.
Quán
tưởng niệm Phật có kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật dạy
16 thứ pháp thiền quán. Nhưng người tu Tịnh độ và dạy
Tịnh độ không để ý, cho là Thiền Tịnh song tu. Chính Tịnh
độ đã có thiền, đâu cần phải Thiền Tịnh song tu!
Tổ
13 của tông Tịnh độ là Pháp sư Ấn Quang dạy cách
thực hành niệm Phật có 2 thứ: Nhiếp tâm niệm Phật và
Tán tâm niệm Phật.
Thế
nào tán tâm niệm Phật? Là miệng niệm Phật, nhưng suy nghĩ
cái này cái kia, không có chú tâm. Tán tâm niệm Phật dù có
niệm một ngàn câu không bằng nhiếp tâm niệm Phật một
câu, hay là mười ngàn câu, trăm ngàn câu, tán tâm niệm Phật
cũng không bằng một câu nhiếp tâm niệm Phật.
Thế
nào nhiếp tâm niệm Phật? Pháp sư Ấn quang dạy là ghi nhớ
niệm Phật, như niệm A Di Phật thì nhớ một, niệm A Di Phật
thì nhớ hai, niệm A Di Đà Phật thì nhớ ba; là nhớ chứ
không phải niệm A Đà Phật một, A Di Đà Phật hai, A Di Đà
Phật ba. Phải niệm bốn chữ rồi nhớ một số, nên gọi
là ghi nhớ niệm Phật.
Ngài
dạy niệm A Di Đà Phật, không cần phải niệm Nam Mô A Di
Đà Phật, chỉ cần bốn chữ đơn giản hơn. Nếu sáu chữ
thì ba năm được thành tựu, mà bốn chữ thì hai năm thành
tựu; vì bốn chữ dễ nhớ hơn, tức là từ một nhớ đến
mười; khi nhớ thường thường hay quên, niệm thì không quên;
như nhớ năm, sáu thì hay quên hoặc ba, bốn cũng quên thì
phải bắt đầu lại A Di Đà Phật thì nhớ một, A Di Đà
Phật thì nhớ hai…
Nếu
quên hay lộn xộn phải chia làm hai đoạn, là từ một nhớ
tới năm, từ sáu nhớ tới mười. Nếu hai đoạn còn lộn
xộn hay quên thì chia làm ba đoạn, từ một tới ba, từ bốn
tới sáu, từ bảy tới mười. Đã ngắn không còn quên hay
lộn nữa. Ba đoạn thuần thục rồi tiến lên hai đoạn, hai
đoạn thuần thục thì từ một tới mười.
Ngược
lại từ mười tới một, tức là A Di Đà Phật thì nhớ mười,
A Di Đà Phật thì nhớ chín, A Di Đà Phật thì nhớ tám…
Khi xuôi ngược đều quen thuộc khỏi cần nhớ, cứ niệm.
Niệm được như vậy thì bốn chữ A Di Đà Phật ở trong
tâm, có niệm hay không niệm đều ở trong tâm, tức “niệm
mà bất niệm, bất niệm mà niệm”. Đến chỗ này gọi là
nhứt tâm bất loạn.
Nhứt
tâm bất loạn không phải quyết định được vãng sanh, chỉ
sanh phẩm vị cao. Nếu không phát đại nguyện và không thực
hành đại nguyện của mình phát, dẫu cho đến nhứt tâm bất
loạn cũng không được vãng sanh; quyết định được vãng
sanh là do cái nguyện.
Còn
nói khi lâm chung niệm mười niệm được đới nghiệp vãng
sanh! Nếu không đúng tông chỉ, khi lâm chung niệm một tỷ
niệm cũng không được vãng sanh. Đúng tông chỉ thì khỏi
cần mười niệm, mà chỉ cần một niệm cũng được vãng
sanh.
Ngài
Ấn Quang giải thích tín, nguyện, hạnh rất kỹ, có đường
lối cho mình y theo đó thực hành. Nhưng bây giờ nhiều người
dạy Tịnh độ mà không có đường lối để cho người ta
thực hành, người học không biết, chỉ biết tụng kinh gõ
mõ là Tịnh độ. Tụng kinh gõ mõ là Giáo môn, không phải
Tịnh độ, tụng kinh tới đâu thì quán tưởng tới đó.
Di
Đà Tịnh độ là Thật tướng niệm Phật, Quán tưởng niệm
Phật, Trì danh niệm Phật. Người ta bây giờ chỉ biết Trì
danh niệm Phật. Quán tưởng niệm Phật cũng có nhưng rất
ít.
Ở
Việt Nam, tôi chưa thấy ai thực hành Quán tưởng niệm Phật,
mà lại phủ nhận thiền, cho là Tịnh độ không có thiền.
Tịnh độ là thiền, không có pháp môn nào mà không có thiền!
Thiền là để thực hành, nếu không có thiền thì không có
tu.
Như
niệm đến nhứt tâm bất loạn là thiền. Cho đến tà ma ngoại
đạo cũng có thiền. Tôi không biết sao người tu Tịnh độ
chỉ chấp niệm Phật mà không biết thiền của Tịnh độ!
Đã không biết mình có thiền, lại đi bài xích thiền của
người khác.
Thật
tướng niệm Phật giống như Tổ sư thiền, sanh thì sanh nhưng
không có vãng sanh, ở đâu cũng là Tịnh độ. Tâm tịnh là
Phật độ tịnh, tức Tịnh độ trong tâm mình chứ không phải
ở ngoài tâm. Vì tâm là thật tướng, gọi là Thật tướng
niệm Phật.
Quán
tưởng niệm Phật ghi trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, như quán
mặt trời khi thành, nửa đêm mở mắt thấy có mặt trời
sáng như ban ngày; quán Phật A Di Đà thành tựu, lúc khởi
quán có Phật A Di Đà trước mắt. Đâu có cần lâm chung thấy
Phật đến rước mình! Muốn thấy lúc nào cũng được.
Đó
là tôi giảng sơ về pháp môn Tịnh độ, đây không phải
là của tôi, tôi coi sách Tinh Hoa Lục của Pháp sư Ấn Quang.
Những người hoằng dương Tịnh độ hay tu Tịnh độ cũng
có coi, nhưng không biết.
Hỏi:
Nói
bình đẳng mà còn ăn thịt chúng sanh thì như thế nào?
Đáp:
Đã
phát nguyện độ chúng sanh lại còn ăn thịt chúng sanh làm
sao được! Không coi chúng sanh bình đẳng. Như con chó đến
gần mình thấy dơ dấy rồi đuổi đi, đâu coi nó với mình
bình đẳng! Bình đẳng mới phá được ngã chấp, nếu không
phá ngã chấp, tu thành cũng là tà ma ngoại đạo thì không
thể giải thoát. Những người nói mình tu Tịnh độ nhưng
ăn chay không được, nếu vậy làm sao vãng sanh? Bởi vì, phát
nguyện chỉ là nguyện suông, nguyện giả.
Theo
kinh nghiệm của tôi, tham Tổ sư thiền dễ hơn nhiều, dễ
hơn trăm ngàn lần. Như tôi kể đứa bé ba tuổi cũng tham
thiền được, còn Tịnh độ đâu có được! Pháp Tổ sư
thiền rất đơn giản, tại người ta có thành kiến sẵn;
nói là tham Tổ sư thiền thì khó, tu Tịnh độ thì dễ. Tổ
sư thiền nhờ tự lực, Tịnh độ nhờ tha lực. Nếu Tịnh
độ nhờ tha lực thì mình khỏi cần tu! Nhưng cũng phải cần
tự lực để tu.
Tổ
sư thiền cũng nhờ tha lực, như Thầy chỉ dẫn, nhờ bạn
đồng tham khích lệ với nhau và nhờ người ta nuôi ăn, nhà
ở, đồ mặc… không phải hoàn toàn chỉ nhờ tự lực. Pháp
môn nào cũng có tha lực có tự lực, nên Phật pháp gọi là
nhân duyên; tự lực là nhân, tha lực là trợ duyên. Nhân duyên
hòa hợp mới thành tựu.
Hỏi:
Tham
Tổ sư thiền rất giản dị làm sao thành Phật được?
Đáp:
Khi
kiến tánh thành Phật thì mới bíết không có Phật để thành,
Phật đã thành sẵn từ hồi nào. Họ không tin mình có thể
thành Phật.
Hỏi:
Quan
niệm Tiểu thừa và Đại thừa khác nhau như thế nào?
Đáp:
Tiểu
thừa không có phát nguyện độ chúng sanh, tức là tự mình
tu cho mình giải thoát, giống như chiếc xe chỉ chở một mình.
Đại thừa như chiếc xe lớn chở mình và luôn cả người
khác. Tiểu thừa có gieo duyên, không phải phát nguyện; gieo
duyên là đi trước rồi sau này mới độ họ.
Đại
thừa có kinh Pháp Hoa nói “trước là thỏa mãn điều nguyện,
sau đưa họ vào trí huệ Phật”, nghĩa là người ta muốn
gì thì cho cái nấy để thỏa mãn dục vọng, nếu họ không
có cảm tình mà thuyết pháp thì họ không nghe; bố thí nhiều
lần, họ coi mình là người tốt nên họ chịu nghe pháp, độ
họ vào trí huệ Phật.
Tiểu
thừa đi khất thực cho người ta gieo phước, không phải muốn
cho người ta giải thoát; như người ta gieo phước lành được
phước báo, vì tâm niệm hẹp nên gọi là tiểu.
Hỏi:
Thế
nào là thuận theo chúng sanh?
Đáp:
Thuận
theo chúng sanh là thuận theo căn cơ trình độ: trình độ của
họ là tiểu học thì dạy tiểu học, trình độ của họ
là trung học phải dạy trung học, trình độ của họ là đại
học nên dạy đại học. Nếu họ chỉ có trình độ tiểu
học mà dạy bài đại học thì họ không hiểu, người có
trình độ đại học mà dạy bài tiểu học làm sao họ chịu
học! Đó là tùy thuận căn cơ trình độ của chúng sanh, không
phải tùy thuận tâm của chúng sanh muốn làm việc gì cũng
được.
Hỏi:
Trong
một hơi thở có thể trút hết một đại tạng kinh, là nghĩa
như thế nào?
Đáp:
Khỏi
cần một hơi thở cũng được. Khi ngộ rồi, không những
đại tạng, mà tất cả vũ trụ vạn vật, công thương, kỹ
nghệ đều thấu suốt; không phải chỉ có đại tạng kinh
điển, Giáo môn gọi là chánh biến tri (chánh là biết thực
tế, biến là phổ biến không gian thời gian), phổ biến không
gian thời gian thì không có số lượng, nên không có gì hạn
chế, tất cả trong không gian thời gian đều biết hết. Ở
trong một sát na cũng biết, một hơi thở có thể mấy trăm
sát na. Lục Tổ nói “mê trải qua nhiều kiếp, ngộ chỉ
là sát na”.
Hỏi:
Tại
sao gọi Đại thừa là nhập thế?
Đáp:
Vì
Đại thừa phát nguyện độ chúng sanh, muốn độ chúng sanh
thì phải nhập thế. Còn Tiểu thừa không phát nguyện độ
chúng sanh chỉ là xuất thế.
Hỏi:
Có
phải Đại thừa tu thành Phật rồi nhập thế mới độ chúng
sanh?
Đáp:
Không
phải! Chưa thành Phật, vừa tu vừa độ chúng sanh.
Hỏi:
Sao
nói “không có ai độ ai được”?
Đáp:
Sự
thật, nói độ là dạy cho người ta tự độ, chứ không độ
giùm cho người ta được. Lục Tổ nói “Tự tánh tự độ”,
nhưng không có Phật dạy thì không biết cách tự độ.