Hỏi:
Thiền
có lợi ích cho con người thế nào?
Đáp:
Có
đủ thứ thiền, nhưng tôi hoằng Tổ sư thiền là pháp thiền
trực tiếp do Phật Thích Ca đích thân truyền. Thiền này rất
lợi ích, như tham thiền được 5 phút thì 5 phút này không
có phiền não, tham được một ngày thì một ngày không có
phiền não, tham được một tháng thì một tháng này không
có phiền não, vừa làm là có lợi ích liền. Còn các thiền
kia là tọa thiền có rất nhiều nên tôi không thể nói ra
được, người tu Phật pháp phải tu đúng tông chỉ của tông
phái đó.
Như
tông Thiên thai có chỉ quán thiền, tông Duy thức có Duy thức
quán thiền, tông Hiền thủ có Pháp giới quán thiền, mỗi
tông phái đều có thiền riêng của tông phái đó. Tông Tịnh
độ cũng có 16 pháp thiền quán. Nếu tu không đúng theo tông
chỉ thì có hại.
Tông
chỉ của Tổ sư thiền là có chín chữ “vô sở đắc, vô
sở cầu, vô sở sợ”. Đúng tông chỉ thì không có thiền
bệnh, không bị tẩu hỏa nhập ma. Ma nhập được là do có
sở cầu, có sở đắc, có sở sợ; thực hành được chín
chữ này nên không thể nhập ma.
Hỏi:
Tánh
tình nóng nảy hay lo lắng mà học thiền có thể bớt không?
Đáp:
Những
người thích xem hát, tham Tổ sư thiền một thời gian không
thích đi xem hát nữa; có người ham mặc đồ đẹp, tham thiền
một thời gian không ham mặc đồ đẹp nữa; có người ưa
ăn uống, tham thiền một thời gian không ưa ăn uống nữa.
Tại sao? Vì nghi tình là không biết, cứ tối ngày giữ không
biết hoài thì sự ham thích tự nhiên không còn.
Cái
nóng nảy cũng vậy, nếu không biết làm sao biết nóng nảy!
Người ta chửi mắng, đánh đập mình, mình nhẫn nhục được
nhưng trong tâm thấy rất khó chịu. Tham Tổ sư thiền thì
người ta có chửi mắng mình cũng không biết, không thấy
khó chịu; ở trong tâm không có nhẫn nhục, đó mới là chân
thực nhẫn nhục.
Hỏi:
Con
nghe nói người hay lo lắng suy nghĩ nhiều mà tu thiền có thể
bị tẩu hỏa nhập ma phải không?
Đáp:
Chính
tẩu hỏa nhập ma là do lo lắng suy nghĩ, còn Tổ sư thiền
là không cho bộ óc suy nghĩ. Nếu có suy nghĩ không phải tham
thiền, không cho bộ óc lo lắng, lo lắng và suy nghĩ là biết.
Tham thiền không suy nghĩ, không cho tìm hiểu câu thoại đầu;
học thiền học đạo cũng không cho. Tại sao tham thiền mà
không cho học thiền học đạo? Vì tham thiền đã có thiền
có đạo rồi, nếu còn học thiền học đạo thì ở trong
Thiền tông gọi là đầu thượng an đầu (trên đầu mọc
thêm đầu).
Mình
đã có một cái đầu đủ dùng rồi, nếu mọc thêm một cái
đầu nữa làm cho cái đầu này khó chịu, phải mời bác sĩ
cắt bỏ mới được, không cắt bỏ thì rất cực khổ. Tìm
hiểu thiền tìm hiểu đạo còn không cho, huống là cái khác
mà lo lắng gì nữa!
Hỏi:
Chúng
con là kẻ sơ cơ tham câu thoại thấy nhạt nhẽo vô vị quá,
làm sao câu đó giúp con đạt đến kiến tánh được?
Đáp:
Tổ
thứ 18 của tông Lâm Tế là Thiền sư Trung Phong dạy mình
phải thống thiết sanh tử, hôm nay mình sống đây, không biết
ngày mai còn sống không! Như tôi năm nay 68 tuổi, rồi 10 năm
sau 78 tuổi, 10 năm sau nữa là 88 tuổi, 10 năm sau nữa 98 tuổi,
10 năm nữa 108 tuổi, cứ suy nghĩ hoài tới chừng đó làm
sao? Nếu trước khi chết, mình không giải quyết vấn đề
sanh tử, không biết chết rồi sẽ ra sao?
Trước
khi chết, phải giải quyết, phải thống thiết vấn đề sanh
tử của mình. Dẩu cho mình ở ngoài thế gian có sự nghiệp
bằng vua, thế lực cũng mạnh, tiền tài cũng nhiều hơn cả
nước; nhưng kết cuộc bi thảm là phải già phải bệnh phải
chết. Nếu giải quyết sanh tử không được thì cái khổ
vẫn tiếp tục mãi mãi.
Cho
nên, tham thiền không được nhờ hứng thú, nếu nhờ hứng
thú để tham thiền thì hết hứng thú lại bỏ tham. Ngài Hư
Vân nói “năm đầu là sơ tham, năm thứ nhì là lão tham, năm
thứ ba hết hứng thú thì hết tham”. Nếu sanh tử được
giải quyết thì sanh tử tự do, không tham nữa. Chưa giải
quyết sanh tử nên phải tiếp tục tham. Vì vậy, mình phải
thống thiết sanh tử, chứ đừng nhờ hứng thú để tham.
Hỏi:
Khi
ngồi thiền, tâm hay bị phân tán thì có cách gì tâm khỏi
bị phân tán?
Đáp:
Tâm
phân tán là có muốn đắc, có muốn cầu, có sở sợ. Nếu
thực hành được 9 chữ “vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở
sợ”, tự nhiên tâm không bị phân tán. Lại chính nghi tình
là không biết, không biết làm sao phân tán, biết mới phân
tán.
Nghi
tình là do Phật Thích Ca truyền rất hay, chỉ giữ một chữ
nghi thì được thành tựu tất cả. Khi đã không biết nên
tất cả đều được giải quyết. Giới định huệ, lục
độ vạn hạnh cho đến công thương kỹ nghệ ở xã hội,
niệm Phật, trì chú, sám hối cũng gồm trong đó, chứ không
có ở ngoài.
Hỏi:
Tối
thiểu ngồi thiền là bao nhiêu lâu?
Đáp:
Tham
thiền không phải ngồi thiền, ngồi thiền không phải tham
thiền; tham thiền không cần ngồi, Lục Tổ nói “Đạo do
tâm ngộ bất tại tọa”, ngộ là do tâm, chứ không phải
do thân. Thân này sau khi chết, đi thiêu thành tro, chôn thành
đất; còn tâm mình không thể biến thành tro, biến thành đất,
vĩnh viễn tồn tại, cho nên mới cần tu, tu cái tâm này; tâm
này ngộ thì tất cả khổ đều được giải thoát, tự do
tự tự tại, tự làm chủ tâm mình.
Bộ
óc làm chủ thì có ngã chấp, tranh giành trong xã hội, chửi
mắng, xung đột sanh ra đổ máu. Nếu phát hiện được Phật
tánh của mình thì Phật tánh làm chủ, bộ óc làm đầy tớ.
Phật tánh làm chủ thông qua bộ óc để dùng ra, nên ngã chấp
không còn. Vì vậy tất cả đều được giải quyết. Như
tất cả đèn đều chung một ánh sáng, tất cả chúng sanh
đều chung một hạnh phúc, không có ta với người làm tương
đối để tranh giành với nhau.
Hỏi:
Kính
xin Thầy giải thích phân biệt giữa nghi tình của một Thiền
sư và nghi tình của một nhà khoa học? Sự ngộ của một
Thiền sư và sự khám phá ra của nhà khoa học?
Đáp:
Trong
Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền, tôi đề ra ông
Newton thấy trái bôm trên cây rớt xuống, ông khởi lên nghi
tình “tại sao trái bôm rớt xuống đất, mà không rơi lên
trời?” Do nghi tình này, ông nghiên cứu tìm hiểu, phát minh
được định luật hấp dẫn lực vạn hữu, đó là hồ nghi,
nhà khoa học nghi việc thế gian chỉ phát minh những đồ vật
của thế gian, có giá trị thế gian; nhưng không phát minh được
chính mình, nên không làm chủ cho mình, không được giải
thoát khổ.
Nghi
của tham thiền là chánh nghi, không cho bộ óc suy nghĩ, tìm
hiểu, nghiên cứu; để cho tự ngộ, tức phát hiện chính
mình là Phật tánh. Biết được chính mình mới tự làm chủ,
tự do tự tại, giải thoát tất cả khổ.
Cho
nên, danh từ nghi thì giống, nhưng sự thực khác. Cái nghi
của nhà khoa học là hồ nghi, phải bộ óc suy nghĩ nghiên
cứu. Còn cái nghi của Thiền tông không cho bộ óc nghiên cứu,
tìm hiểu; chỉ là nuôi cái nghi cho thật mạnh, (giống như
bôm bong bóng đến bong bóng căng rồi sẽ nổ) đến lúc nghi
tình vỡ gọi là kiến tánh thành Phật.
Mặc
dù, cuối cùng ngộ, nhưng hai thứ ngộ có khác. Cái ngộ của
nhà khoa học là ngộ pháp thế gian, cái ngộ của Thiền tông
là ngộ tâm chính mình cùng khắp không gian thời gian, thần
thông trí huệ vô lượng vô biên bằng như Phật, cho nên được
tự do tự tại, dứt hết tất cả khổ vĩnh viễn, muôn ngàn
kiếp sau cái khổ không thể trở lại.
Hỏi:
Câu
kết của kinh Bát Nhã, đức Bồ tát có dạy “ga tê, ga tê,
ba ra ga tê, ba ra ga tê, bo di sa va ha”. Câu chú này có phải
là một công án không?
Đáp:
Thần
chú là muốn cho mình không biết, nhưng không có nghi tình,
vì không có dấu hỏi. Còn nghi tình của Thiền tông là không
biết nhưng có dấu hỏi, có hỏi thì phải có đáp, mình đáp
không ra thấy tức lắm thì phải tiếp tục hỏi nữa, hỏi
đến một ngày đáp ra được là kiến tánh. Thần chú không
có dấu hỏi, thành ra khác xa với tham công án hay tham thoại
đầu.
Công
án là một chuyện tích, như tham công án chữ vô của Triệu
Châu, chữ vô không có dấu hỏi, dưới đây là công án:
Tăng
hỏi Triệu Châu: con chó có Phật tánh không?
Triệu
Châu đáp: có.
Tăng
khác hỏi: con chó có Phật tánh không?
Triệu
Châu đáp: không.
Tại
sao một người trả lời có, một người trả lời không?
Thì đã có dấu hỏi rồi. Lại kinh Phật nói tất cả chúng
sanh đều có Phật tánh, tại sao Triệu Châu nói không? Vì
con chó cũng là chúng sanh vậy. Tại sao con chó không có Phật
tánh? Cũng là dấu hỏi. Tham công án thì cả chuyện tích,
chứ không phải khán chữ vô. Nếu chữ vô thì không có dấu
hỏi, làm sao gọi là nghi tình? Nghi tình phải có dấu hỏi.
Niệm
chú
chỉ là để cho mình không biết, nếu dịch ra thì thần chú
không còn nữa. Thần chú không thể dịch được. Thần chú
là thay mặt cho mệnh lệnh, thay mặt cho sự dụng của tâm;
cho nên kinh Lăng Nghiêm gọi là tâm chú, tôi dịch kinh Lăng
Nghiêm có lược giải tâm chú này.
Hỏi:
Con
có thể hiểu câu chú này như là “thả buông, thả buông,
con hãy thả buông, mau con hãy thả buông, bồ đề hiện nơi
con” không?
Đáp:
Nếu
dịch chú ra nghĩa thành kinh, không phải là chú; chú là không
cho mình hiểu nghĩa, mới có tác dụng cho mình không biết.
Cho nên chú không có dịch nghĩa, như trên đã dịch ra là phá
hoại tác dụng của chú.
Hỏi:
Tham
Tổ sư thiền chưa đắc thì đã chết, tâm và thân đời sau
sẽ ra sao? Nếu như không có duyên gặp lại Phật pháp để
tu theo pháp tham thiền Tổ sư rồi mình sẽ như thế nào? Còn
Tịnh độ tông ít ra mình cũng có một chỗ đỡ khổ để
tu tiếp, có phải dễ không?
Đáp:
Kinh
Pháp Hoa nói “như thị nhân như thị quả” (nhân nào quả
nấy), mình đã gieo chánh nhân thì được chánh quả. Tại
sao gọi là chánh nhân? Vì pháp Tổ sư thiền do Phật Thích
Ca thân truyền là chánh nhân. Ở Việt Nam có người hỏi “hôm
nay tôi tu Tổ sư thiền, rồi ngày mai chết sẽ ra sao?” Mặc
dù chỉ tu có một ngày, nhưng chánh nhân đã gieo thì chánh
qiả sẽ đến.
Ở
Việt Nam, tôi thường ví dụ Chợ Lớn đi Sài Gòn là 100 bước,
mục đích đến là Sài Gòn. Tuy kiếp này mình chỉ đi một
bước, nhưng kiếp sau mình tiếp tục đi 99 bước, khỏi cần
đi 100 bước. Mình đi 1 bước cũng không uổng công. Nếu mình
đi được 50 bước thì kiếp sau tiếp tục 50 bước nữa.
Nếu mình đi được 99 bước thì kiếp sau đi thêm 1 bước
là đến nơi. Đó là tùy theo sự đi của mình, đi nhanh hay
đi chậm, mình quyết tử tham thì mau đến.
Cho
nên, pháp môn này không kể sơ tham hay lão tham. Tại sao? Vì
sơ tham có thể đi 99 bước rồi, mặc dù kiếp này họ mới
tham, chỉ cần bước thêm 1 bước thì đến nơi. Người lão
tham kiếp trước chưa đi hay mới một hai bước thì kiếp
này phải đi chín mươi mấy bước nữa, nên phải chậm hơn.
Vì vậy, người nào đi nhanh thì tới trước.
Từ
Chợ Lớn đi Sài Gòn, mình cứ cuối đầu đi, chứ không phải
luôn nói “tôi đi Sài gòn”, mình cứ đi sẽ đến nơi; hay
giữa đường gặp rạp hát ghé lại để coi, hoặc gặp hồ
bơi vô coi người ta tắm… nếu vậy biết bao giờ mới đến
Sài gòn! Cho nên mình cứ đi thẳng sẽ đến nơi. Như tham
thiền mà còn tìm hiểu cái này cái kia, làm sao mau ngộ!
Nhưng
mình gieo chánh nhân thì chánh quả sẽ đến. Tôi hoằng Tổ
sư thiền ở Việt Nam, tôi không ngờ tôi đến Hoa Kỳ. Tại
sao? Tôi không có làm hồ sơ đến Hoa Kỳ, chỉ có cô Như
đến học thiền, ở thiền đường của tôi một tháng. Hôm
đó, cô Như đi gặp phái đoàn Mỹ, đến gặp tôi và nói
“Sư Phụ đi với con gặp phái đoàn Mỹ, có thể Sư Phụ
đi Mỹ”. Chỉ có lấy tên tôi ghi vào hồ sơ của cô
Như. Tôi đi với cô Như gặp phái đoàn Mỹ, cô Như vào trước,
người Mỹ chỉ tên tôi trong hồ sơ và hỏi cô Như: người
này là ai vậy?
Cô
Như đáp: cha nuôi tôi.
Người
Mỹ nói: ở đâu?
Cô
Như đáp: Ở bên ngoài.
Người
Mỹ nói: bảo ông ấy vô.
Rồi
cho tôi đi, bảo tôi khám sức khỏe và chích thuốc ngừa.
Chỉ có mấy tiếng mà đã đi được qua bên này, nên các
vị mới gặp tôi giảng Tổ sư thiền. Kiếp trước đã gieo
trồng chánh nhân, nên kiếp này nghe tôi giảng Tổ sư thiền.
Tôi tự mình không thể biết mình đến Hoa Kỳ.
Hỏi:
Đức
Phật bảo rằng “người nào tin tưởng thọ mạng của Như
lai là bất khả tư nghì, thì công đức vô lượng gấp trăm
ngàn lần, so với công đức của một hành giả tu năm ba la
mật: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định”.
Kính xin Thiền sư giảng giải?
Đáp:
Đường
Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền, sau cùng có 2 cơ bản: Tin
tự tâm và phát nghi tình.
Tin
tự tâm là thế nào? Thọ mạng của Phật không có cuối cùng,
vì cùng khắp thời gian, không có bắt đầu. Tuy mình chưa
kiến tánh, nhưng bản tâm của mình cùng khắp không gian thời
gian, không có khác với Phật tánh của Phật, như Phật đã
nói Phật tánh bình đẳng bất nhị.
Tôi
muốn chứng tỏ cùng khắp không gian thời gian cho các vị
dễ hiểu, vì không gian và thời gian mênh mông nên khó hiểu.
Tâm là thể tinh thần không có hình tướng, không có âm thanh
để mình nhận biết được thì lấy gì để chứng tỏ cùng
khắp không gian thời gian?
Những
người học khoa học biết ánh sáng cùng khắp không gian. Chỉ
nói ánh sáng khắp trung tâm này. Hiện có 1 cây đèn, 2 cây
đèn, 3 cây đèn… mỗi cây đèn có ánh sáng cùng khắp, cũng
như mình ngồi đây cả trăm người thì có cả 100 tâm cùng
khắp, mỗi tâm đều cùng khắp.
Nhưng
tâm mình cùng khắp mà không tin vì mình không thấy, còn ánh
sáng đèn thì mình thấy cùng khắp; đã cùng khắp nên sự
tương đối không còn, như diệu minh là không có sự tương
đối nên gọi là diệu minh.
Nếu
có năng minh và sở minh thì mất cái diệu, bản thể của
mình cũng vậy; nếu đã cùng khắp thì trở thành diệu, không
có năng sở. Nguồn gốc của sự tương đối là có và không
có, như có ta và không có ta, có ta là hữu ngã, không có ta
là vô ngã. Phật pháp là phải phá ngã chấp.
Tôi
sắp đèn này là số 1, đèn kia là số 2, số 3, số 4, số
5… bây giờ tôi thay mặt cho đèn số 1 là ta; có ta là có
ngã, nếu có ngã thì phải lập cái lý có ngã mới được.
Ánh sáng của 5 cái đèn đã cùng khắp, nếu nói có ngã phải
chỉ ra ánh sáng nào thuộc về cây đèn số 1 của ta? Nếu
chỉ ra được thì chứng tỏ là có ngã, có ánh sáng đèn
số 1 của ta. Nhưng tôi biết các vị chỉ không ra, vì nó
đã cùng khắp. Chỉ không ra nên cái lý có ngã, ánh sáng đèn
số 1 của ta không thể thành lập.
Nếu
nói không có ngã, vậy các vị chỉ chỗ nào không có ánh
sáng đèn số 1 của ta? Chỉ ra được là vô ngã thì lý vô
ngã mới thành lập được. Chỉ ra được không? Chỉ không
được. Cho nên, có ngã và vô ngã đều không thể thành lập.
Tại sao? Vì ánh sáng đã cùng khắp. Có 100 cây đèn thì ánh
sáng cũng cùng chung ánh sáng, chứ không thể phân biệt ánh
sáng nào cây đèn số 1, ánh sáng nào của cây đèn số 2…
Vì
vậy, khi kiến tánh phát hiện bản thể cùng khắp, không có
phân biệt ta với ngươi; không có phân biệt nên không có
giành giựt chửi mắng, tất cả mọi người cùng hưởng chung
một hạnh phúc. Đây là mục đích của Phật Thích Ca.
Cái
biết của bộ óc không cùng khắp không gian thời gian, cái
biết Phật tánh cùng khắp không gian thời gian. Cái biết Phật
tánh gọi là chánh biến tri nhưng lấy gì để chứng tỏ?
Vì cùng khắp không gian thời gian, cái biết cũng không có
hình tướng; không gian thời gian mênh mông.
Tôi
phải dùng cơ thể này để ví dụ cho quý vị được dễ
hiểu chứng tỏ cùng khắp: Cảm giác lớp da này phải cùng
khắp cơ thể này không? Cảm giác lớp da có phải gọi là
biết không? Vậy cái biết của lớp da này cùng khắp không
gian cơ thể. Nếu đã cùng khắp cơ thể thì không có chỗ
búng. Tại sao? Có chỗ búng thì búng tay tay biết, búng đầu
đầu biết, những chỗ không búng không biết. Những chỗ
không búng không biết, làm sao gọi là cùng khắp? Cho nên đã
cùng khắp thì không có chỗ búng. Đây là về không gian.
Còn
về thời gian thì không có lúc búng, nếu có lúc búng thì
lúc búng mới biết, lúc không búng nên không biết. Lúc không
búng, cảm giác lớp không mất mà nói không biết! Cảm giác
lớp da ngày đêm luôn luôn như vầy, đâu phải nhờ búng mới
biết, không búng lại mất! Rõ ràng cảm giác lớp da cùng
khắp không gian và thời gian của toàn cơ thể. Nhưng bộ óc
mình có thói quen đã nhận thức sai lầm cho là chỗ búng mới
biết, chỗ không búng thì không biết; lúc búng mới biết,
lúc không búng không biết.
Phật
muốn mình đừng cho bộ óc làm chủ, phải cho Phật tánh làm
chủ thì những tai họa không còn sanh nữa, mới được hưởng
hạnh phúc mà không có sự khổ đối đãi. Như tất cả bao
nhiêu đèn cùng chung một ánh sáng, tất cả bao nhiêu chúng
sanh cùng chung một hạnh phúc. Lúc đó hạnh phúc mới là chân
thật, Đại Thừa Tuyệt Đối Luận nói “nhập vào quốc
độ tuyệt đối”.
Hỏi:
Thầy
có nói “niệm Phật, trì chú là tạo cho nhân duyên mai sau,
tham thiền mới là tu thật sự”. Kính xin Thầy khai thị?
Đáp:
Vấn
đề này, ngài Lai Quả đã nói rõ trong Thiền Thất Khai Thị
Lục. Pháp thiền trực tiếp của Phật Thích Ca thân truyền,
muốn mọi chúng sanh tự ngộ; ngộ mới được giải thoát
tất cả khổ.
Muốn
ngộ phải có nhân làm cho ngộ, nhân làm cho ngộ là nghi. Cho
nên Phật Thích Ca truyền pháp môn này là từ nghi đến ngộ.
Còn trì chú, niệm Phật không có nghi, không có nghi thì không
có ngộ.
Nếu
tu đúng theo tông chỉ của tông phái đó, niệm Phật được
bất thối (không lui sụt), ở nơi Cực Lạc chuyển qua thiền
là từ nghi đến ngộ; Mật tông cũng vậy, phải có nghi
mới có ngộ. Bất cứ tông phái nào cuối cùng phải có nghi
rồi được ngộ.
Chỉ
có Thiền tông bắt đầu phát nghi trước, còn pháp môn khác
như tông Thiên thai đến Thể chơn chỉ rồi phát nghi. Cho nên,
các pháp môn khác (ngoài Tổ sư thiền) chỉ gieo cái nhân để
sau này được ngộ.
Hỏi:
Thiền
phải đến chỗ vắng vẻ, không cho mắt chạy theo cảnh, không
cho tai chạy theo tiếng, đó là phương pháp bớt thâu chủng
tử mới để có thì giờ loại những chủng tử cũ. Tại
sao Thiền tông nói là định ở trong động?
Đáp:
Thiền
tông có một câu là “bất phá trùng quan, bất bế quan”.
Người Việt gọi bế quan là nhập thất, tức là nhốt mình
ở trong phòng, không có tiếp xúc với ai. Đã ngộ (phá trùng
quan) mới cho bế quan, bế quan là để bảo nhậm dứt trừ
tập khí. Nếu chưa ngộ mà nhập thất rất có hại.
Có
một Thầy ở trên núi, nuôi một đứa bé một tuổi; ở trên
núi chỉ có hai thầy trò, nuôi đứa bé trai đến 20 tuổi
không có gặp người nào khác, chỉ thấy các con thú rừng.
Một
ngày, Thầy dẫn đứa bé xuống chợ chơi, đứa bé thấy mọi
thứ đều hỏi, Thầy đều trả lời.
Đứa
bé thấy con gái rồi hỏiThầy: đây là gì vậy?
Thầy
trả lời: đây là con cọp chợ, nếu mày gần nó có thể
bị hại hơn cọp trên núi.
Đi
chơi về, qua hai ngày sau, Thầy muốn thử đứa bé, hỏi: Trong
cuộc đi chơi, mày có thấy cái gì thích nhất không?
Đứa
bé đáp: Tất cả con không thích, nhưng chỉ thích con cọp
chợ.
Công
án này chứng tỏ mắt không tiếp xúc cảnh nên niệm thích
không nổi lên. Đứa bé từ hồi nhỏ đến lớn không tiếp
xúc với con gái, nhưng tập khí từ kiếp trước có sẵn,
khi tiếp xúc thì tâm nổi lên ham thích. Vậy làm sao nhập
thất cho là tu!
Theo
kinh nghiệm của tôi thấy những người chưa vô thất thì
tốt hơn, khi vô thất được một thời gian rồi ra thất càng
tệ hơn nhiều. Bởi vì tâm đè nén một thời gian, lúc gặp
cảnh bộc phát ra rất mạnh. Không được tránh cảnh mà tu,
nên Thiền tông có câu “bất phá trùng quan, bất bế quan”,
tức là chưa ngộ không cho nhập thất.
Hỏi:
Chúng
con được biết: “Tu mà không học là tu mù, học mà không
tu là đãy sách”. Vậy chúng con phải làm sao tu cho đúng?
Đáp:
Đó
là lời của Giáo môn, còn Thiền môn là muốn phát hiện cái
dụng của tự tánh. Tham thiền là tu cũng là học, như ngài
Lai Quả nói “tham thiền có đầy đủ giới định huệ”.
Bản tâm cùng khắp không gian thời gian, thần thông trí huệ
sẵn đầy đủ, không thiếu sót một thứ gì. Kinh Pháp Hoa
thí dụ hạt châu như ý là bản tâm có sẵn trong áo, tự
cho mình nghèo rồi đi ăn xin các nơi, gặp người trí cho biết
hạt châu thì không còn đi ăn xin.
Con
dơi không có con mắt mà có ra đa, nhà khoa học bắt chước
con dơi chế tạo ra đa; nhưng con dơi không có học, tự bản
năng có sẵn. Con ong làm tổ, các nhà kiến trúc phải học
cách làm tổ của con ong, kiến trúc mới được kiên cố;
con ong cũng không có học.
Kỳ
thật, trong Giáo môn có phân biệt hữu và vô học, hữu học
còn thấp, vô học mới cao. Tại sao còn nói phải học? Giáo
môn là vừa học vừa tu, biết được bao nhiêu thì tu bấy
nhiêu.
Thiền
môn không phải vậy, là giáo ngoại biệt truyền, chỉ cần
phát hiện cái của mình sẵn có. Cho nên tôi dạy phải tin
tự tâm đầy đủ tất cả thần thông trí huệ, năng lực
bằng Phật Thích Ca, không kém Phật Thích Ca một chút nào.
Nếu
đã tin như vậy thì không cần phải học, chính tôi mà người
ta cho rằng tôi học mới trả lời được. Nếu tôi học thì
có cái không thể trả lời được, vì đâu thể nhớ hết
và cũng không học hết.
Hồi
xưa chưa tham thiền, tôi muốn coi hết đại tạng kinh, tục
tạng kinh. Tục tạng kinh có 150 cuốn, tôi coi suốt 1 năm được
7 cuốn, phải mất hơn 21 năm coi hết tục tạng; coi một lần
cũng không nhớ hết, dù có nhớ hết cũng không dùng được.
Cái
của mình sẵn có, khỏi cần học khỏi cần nhớ; muốn dùng
thì sẵn sàng dùng, có phải tốt hơn không! Bởi vì người
nào cũng bằng nhau, Phật Thích Ca nói “Phật tánh bình đẳng
bất nhị”. Do mình không tin, nếu mình tin chỉ cần phát
hiện; chứ đâu cần học!
Hỏi:
Có
người nói pháp môn này cao quá, xưa kia thời Phật Thích Ca
chỉ có ngài Ca Diếp ngộ được. Chúng con tự nhủ thế này
“bao giờ mới kiến tánh được, sợ chúng con đi lầm pháp
môn chăng! Vì căn cơ chúng con yếu kém lắm”. Kính xin Thầy
khai thị?
Đáp:
Ngày
xưa Phật Thích Ca đưa cành hoa trong hội hơn triệu người
chỉ có Ma Ha Ca Diếp ngộ. Đó là vị đầu tiên, ấy cũng
là nhân duyên. Sau này bên Trung Quốc, Lục Tổ có 43 người
kiến tánh, Mã Tổ có 139 người kiến tánh; không phải Lục
Tổ và Mã Tổ hay hơn Phật Thích Ca. Vì cơ duyên là người
ta chưa tin, sau này người ta tin nhiều nên nhiều người ngộ.
Nếu
tin pháp môn tham thiền 100 %, tôi nói chưa được. Tại sao?
Vì mới có phân nửa, còn chưa tin tự tâm. Nếu tin pháp môn
Tổ sư thiền 100 %, mà không tin tự tâm, dù có siêng năng
cách mấy cũng không thể kiến tánh.
Bởi
không tin tự tâm nên không thể phát hiện tự tâm. Cho nên
phải tin tự tâm 100 % nữa mới đúng. Vì vậy, không phải
người ngộ ít hay nhiều, mình phải gieo trồng thiện căn
thì được phước, được tin, được ngộ.
Hỏi:
Trong
phần nhân quả nghi ngộ của Đường Lối Tham Tổ Sư Thiền,
Thượng tọa có nói rằng “tham thiền lúc nghi tình nặng
thì ảnh hưởng đến nhức đầu, tức ngực, khó thở, đó
là đại nghi; nhức đầu nhiều chừng nào tốt chừng nấy,
đừng sợ”. Phật có dạy “tâm bệnh thì thân bệnh”,
ở đây nhức đầu, tức ngực, khó thở là thân bệnh. Khi
tham thiền có ảnh hưởng gì đến tâm hành giả không?
Đáp:
Do
nghi tình ảnh hưởng đến nhức đầu, tức ngực, khó thở
là do nghi tình nặng mới có; nếu bỏ nghi tình thì những
trạng thái vừa kể liền hết, bệnh của thân mà bỏ nghi
tình thì bệnh vẫn còn, cần phải đi bác sĩ trị.
Do
nghi tình làm cho đau đầu, tức ngực, khó thở… là do tâm
lý tiến bộ rất mau nên sinh lý theo không kịp làm cho đau
đầu, tức ngực, khó thở… qua năm bảy ngày tự hết, vì
sinh lý đã theo kịp.
Rồi
một thời gian sau, tinh tấn tham thiền, sinh lý theo không kịp
tâm lý cũng có những trường hợp như vậy nữa, qua năm bảy
ngày sẽ hết. Đó là quá trình tham thiền bình thường, cho
nên tôi nói cho biết đừng sợ.
Hỏi:
Phương
pháp Tổ sư thiền của Thượng tọa có cần học thêm giáo
lý của đức Phật để mở mang trí tuệ và học phương pháp
chuyển nội tâm về điều thiện hay là chỉ cần giữ nghi
tình mà thôi? Giữ nghi tình liên tục không cho tạp niệm hiện,
trong khi nội tâm vẫn còn hỗn độn chưa được thanh tịnh
sẽ có những phản ứng nguy hại không?
Đáp:
Tham
Tổ sư thiền là phát hiện năng lực thần thông của mình
sẵn có, đó không phải do học mà có. Trong Thiền tông có
công án:
Một
vị thợ đập đá cho nhà chùa, trụ trì là người kiến tánh,
thợ đập đá không biết chữ, nghe người ta nói “kinh Pháp
Hoa rất hay, nếu tụng có thể đạt đến thành Phật”, ông
nghe vậy tin liền, cố gắng hỏi người ta từng chữ một,
hỏi đến mấy năm thuộc hết bộ kinh Pháp Hoa. Lúc đập
đá, ông thường tụng kinh ra tiếng.
Một
hôm vị trụ trì thấy hỏi: miệng ông làm gì vậy?
Thợ
đá đáp: tụng kinh Pháp Hoa.
Trụ
trì hỏi: tụng để làm gì?
Thợ
đá đáp: để làm Phật.
Trụ
trì hỏi: tụng như vậy biết chừng nào thành Phật?
Thợ
đá nói: vậy mình sẽ làm sao?
Vị
trụ trì dạy tham thoại đầu.
Thợ
đá tốn bao nhiêu công sức để thuộc bộ kinh Pháp Hoa, nghe
vị trụ trì nói liền bỏ chuyển qua tham thiền, rồi một
thời gian sau ông được ngộ. Ông vừa đập đá vừa tham,
có lần cục đá cứng, ra sức đập mạnh làm tia lửa phát
lên, ông liền ngộ. Ngộ rồi ra hoằng pháp, nói “quý vị
đều hay hơn tôi, tôi là người dốt nát không biết chữ,
mà tôi cũng ngộ được vậy. Tại sao quý vị không tin tự
tâm mình?”
Có
công án khác:
Một
tu sĩ theo đại chúng tham thiền, nhưng không biết thiền là
gì; hỏi nhỏ người ngồi kế bên “thiền là gì?” Người
ngồi kế bên biết ông ấy khờ ngốc, nói giỡn chơi rằng
“thiền ở trên cây vào mùa hè đêm ngày kêu hoài đó!”
(chữ thiền và con ve, tiếng Hán đồng âm). Ông ấy nói: vậy
hả.
Ông
ấy tưởng phải như vậy, nhưng bao lâu được kiến tánh.
Kiến tánh rồi thì biết hết, không có gì thiếu sót. Chứng
tỏ không phải cần học, khờ ngốc cũng được kiến tánh.
Chuyện này ghi trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc.
Hỏi:
Xin
Thượng tọa dùng Duy thức học giải thích vai trò của các
thức trong việc giữ nghi tình liên tục ngày đêm?
Đáp:
Tham
thoại đầu, lấy cây viết ví dụ cho ý thức, đầu trên
cây viết là thoại đầu, đầu dưới cây viết là thoại
vỉ, từ thoại vỉ đến thoại đầu là đường đi ý thức.
Hỏi câu thoại để khởi lên niệm không hiểu không biết
và giữ niệm không biết (nhứt niệm vô minh), Thiền tông
gọi là nghi tình.
Khởi
lên niệm không biết là rời khỏi thoại vỉ tiến đến thoại
đầu, đang đi ở giữa đường của ý thức. Nhờ ý thức
tham thiền, đến đầu trên cây viết là thoại đầu (vô thỉ
vô minh), nhưng chưa lìa ý thức, còn dính líu ý thức. Sát
na lìa ý thức mới được kiến tánh, còn dính líu ý thức
thì chưa kiến tánh.
Cho
nên, ngài Lai Quả nói “từ đầu sào trăm thước tiến thêm
một bước là kiến tánh”, Thiền tông gọi nguồn gốc ý
thức là đầu sào trăm thước, đến đây đường đi ý thức
đã hết; chỗ này thanh thanh tịnh tịnh, không còn vọng tưởng;
ngoại đạo, Tiểu thừa cho chỗ này là Niết bàn.
Thiền
tông phải phá vô thỉ vô minh, nên từ đầu sào trăm thước
tiến thêm một bước lìa khỏi ý thức. Lúc giây phút lìa
khỏi ý thức thì được kiến tánh, ngài Lai Quả nói “cảnh
giới này lọt vào hư không té xuống cho chết, chết rồi
sống lại (tuyệt hậu tái tô)”. Cái chết có hai thứ: tiểu
tử tiểu hoạt và đại tử đại hoạt.
Hỏi:
Gần
đây, nhiều người học Phật chuộng tham thiền, có lẽ thiền
học hợp với căn cơ chúng sanh hiện tại. Chúng con đã được
nghe dạy nhiều phương pháp thiền. Tổ sư thiền do Thượng
tọa giảng dạy. Các vị đều cho pháp thiền của mình đúng
và cao nhất, xin thượng tọa cho biết ý kiến?
Đáp:
Tôi
giảng Tổ sư thiền này không thể nói là thiền của tôi,
đây là thiền của Phật Thích Ca đích thân truyền, còn gọi
là pháp thiền trực tiếp truyền cho sơ tổ Ma Ha Ca Diếp,
sơ tổ truyền cho nhị tổ là Tôn giả A Nan, A Nan truyền cho
tam tổ là Thương Na Hòa Tu, từ đời từ đời truyền xuống
đến tổ Bồ Đề Đạt Ma thứ 28.
Bồ
Đề Đạt Ma truyền sang Trung Quốc làm sơ tổ, Đạt Ma truyền
cho người Trung Quốc là Huệ Khả. Huệ Khả truyền cho Tăng
Xán, Tăng xán truyền cho Đạo Tín, Đạo Tín truyền cho Hoằng
Nhẫn, Hoằng Nhẫn truyền cho Huệ Năng (lục tổ).
Trước
kia, mỗi Tổ có vài người kiến tánh, đến Lục Tổ có 43
người kiến tánh, Thiền tông được mở rộng ra, Lục Tổ
là người không biết chữ, ngộ triệt để hơn những người
biết chữ, thông suốt giáo lý.
Trong
Pháp Bảo Đàn có Ni sư Vô Tận Tạng đọc kinh Niết Bàn không
hiểu, rồi hỏi Lục Tổ: chữ này là chữ gì vậy?
Lục
Tổ nói: chữ thì không biết, nghĩa cứ hỏi.
Vô
Tận Tạng nói: chữ còn không biết, làm sao biết nghĩa?
Lục
Tổ nói: Diệu lý của chư Phật không dính dáng với văn tự.
Tổ
sư thiền là phát hiện bản năng của mình sẵn có, tất cả
năng lực thần thông, trí huệ bằng với chư Phật, không
kém hơn Phật một chút nào.
Hỏi:
Trong
kinh nào phẩm nào, đức Phật nói về nhân nghi quả ngộ;
trong các Tổ từ đức Phật Thích Ca cho đến Lục tổ Huệ
Năng, có Tổ nào tham thoại đầu tham mà chứng ngộ không?
Nếu có, các Tổ tham câu gì? Nghi gì?
Ngài
Ca Diếp mỉn cười khi thấy Phật đưa cành hoa lên, lúc ấy
Ngài đã chứng ngộ. Trong kinh Phật không nói rõ cách tu hành
của ngài Ca Diếp. Phật truyền tâm ấn cho ngài Ca Diếp, không
thể vậy mà bảo Phật Thích Ca đích thân truyền pháp môn
Tổ sư thiền?
Đáp:
Tâm
là Phật tánh vô hình vô thanh, lấy gì để truyền! Chỉ là
dùng tâm ngộ của thầy để ấn chứng tâm của trò đã ngộ,
gọi là truyền tâm ấn. Ấn là ấn chứng, không phải có
một cái tâm đưa cho người này người kia. Còn nói tôi tự
khoe pháp môn Tổ sư thiền là của tôi, không phải vậy, pháp
môn này là do Phật Thích Ca truyền.
Trước
đời nhà Tống (Trung Quốc) không có tham công án hay tham thoại
đầu, chư Tổ dùng cơ xảo, như niêm hoa thị chúng của Phật
Thích Ca.
Công
án hạt châu ma ni tùy sắc (hạt châu trên đời rất quý,
không có màu sắc; nhưng tùy người xem mặc đồ màu gì thì
hiện màu nấy, nên gọi là hạt châu ma ni tùy sắc):
Phật
cầm hạt châu ma ni tùy sắc hỏi Ngũ Phương Thiên Vương:
hạt châu này màu gì?
Ngũ
Phương Thiên vương mà mỗi vị đều nói khác, người nói
trắng, người nói đỏ, người nói vàng…
Phật
đem hạt châu cất đi, rồi đưa hai tay không, hỏi: hạt châu
này màu gì?
Ngũ
Phương Thiên Vương nói: trong tay Phật không có hạt châu sao
lại hỏi màu gì!
Phật
nói: sao các ngươi điên đảo quá vậy! Tôi đem hạt châu
thế gian hỏi thì nói màu này màu kia, tôi thị hiện hạt
châu chân thật mà các vị đều không biết. Điên đảo quá!
Ngũ
Phương Thiên Vương đều ngộ hết.
Đó
là cũng là pháp thiền trực tiếp của Phật Thích Ca, hồi
nảy tôi nói là cơ xảo.
Hỏi:
Nghiệp
chướng phiền não là trong mở mắt chiêm bao mà có, khi thức
tỉnh (chứng ngộ) mở mắt chiêm bao không còn, nghiệp chướng
phiền não cũng không thật có. Sao Hòa thượng nói sau khi chứng
ngộ rồi cần phải tu để dứt trừ tập khí nghiệp chướng
thì cái dụng mới hiện ra?
Đáp:
Tập
khí là thói quen, chứ không phải có hiện tượng gì để
cho mình thấy. Vừa rồi tôi nói “bất phá trùng quan bất
bế quan”, bế quan là bảo nhậm dứt trừ tập khí; người
kiến tánh tự nhiên tập khí dứt lần lần, như tham thoại
đầu khởi lên nghi tình, nghi tình là cây chổi automatic tự
quét sạch, quét không bao nhiêu thì được cái dụng bấy nhiêu.
Tập
khí dứt được bao nhiêu thì cái dụng hiện ra bấy nhiêu,
dứt hết tập khí thế gian, rồi dứt hết luôn tập khí xuất
thế gian. Nếu tập khí xuất thế gian còn vẫn còn biến dịch
sanh tử. Đến Đẳng giác dứt hết tập khí xuất thế gian
thì cái dụng mới bằng Phật.
Trong
Lịch sử Thiền tông có những người kiến tánh, tập khí
vẫn còn nguyên, chưa có thần thông; đến khi dứt bớt tập
khí thì thần thông của Phật tánh được hiện ra. Trong kinh
Lăng Nghiêm nói “lý dù đốn ngộ, nhưng sự phải tiệm tu”,
chứ đâu phải ngộ rồi tập khí hết luôn! Như nhắm mắt
chiêm bao, lúc trong chiêm bao khóc chảy nước mắt; khi tỉnh
dậy nước mắt vẫn còn, phải lấy khăn lau mới hết nước
mắt; đâu phải thức tỉnh rồi nước mắt hết!
Hỏi:
Huệ
Năng nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang đến câu “ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm”, tâm liền sáng tỏ. Vậy Huệ Năng
tu pháp môn gì? Có nhân nghi quả ngộ không? Nếu có nghi gì?
Nếu không thì không thể nói đức Phật Thích Ca đích thân
truyền từ đời từ đời truyền xuống. Xin Hòa thượng giải
nghi giùm cho chúng con?
Đáp:
Ngày
xưa, chư Tổ không khai thị không dạy bảo cũng là pháp Tổ
sư thiền, đâu phải cần nói ra! Cơ xảo của Tổ mà người
thường không thể tưởng tượng được, đánh đập chửi
mắng cũng là pháp thiền trực tiếp của Phật Thích Ca, không
có cái nào là phương pháp nhất định.
Cho
nên, kinh Kim Cang nói “không có pháp nhất định để cho Như
lai thuyết, nếu ai nói Phật có thuyết pháp thì phỉ báng
Phật”. Chính người hỏi trong kinh Kim Cang, không hiểu kinh
Kim Cang, không tin lời trong kinh.
Ưng
vô sở trụ là bản thể Phật tánh. Ví dụ cái tay là bản
thể Phật tánh hoạt bát vạn năng có dụng vô lượng vô
biên, lấy cái máy, cái tách, cây viết… đều được. Nếu
cái tay trụ nơi cây bút (hoạt bát vạn năng của Phật tánh
bị mất) thì lấy cái gì cũng không được (tham thiền khởi
lên nghi tình là cây chổi automatic quét ra, khôi phục hoạt
bát vạn năng Phật tánh), nên cần phải buông ra thì lấy
thứ gì cũng được.
Nhưng
cái bút này là pháp có, lại trong tay trụ nơi không (tự làm
nắm tay) thì cái hoạt bát vạn năng bị mất, muốn lấy cái
gì cũng không được. Vì vậy cái không phải quét, mới khôi
phục lại hoạt bát vạn năng.
Có
hoạt bát vạn năng là vô trụ, cho nên “ưng vô sở trụ”
là không có chỗ trụ, “nhi sanh kỳ tâm” là cái dụng được
dùng ra. Bản thể Phật tánh là như thế, Lục Tổ nghe Ngũ
Tổ giảng đến chỗ này liền phát hiện Phật tánh gọi là
ngộ, vậy đâu có gì lạ! Lục Tổ chưa ngộ đã có nghi rồi,
Ngũ Tổ làm cho Lục Tổ nghi thì mình làm sao biết? Có người
kiếp trước đã có nghi, chứ không chỉ có kiếp này.
Như
con nít từ nhỏ cũng có thể có nghi, nó hỏi cha mẹ nó “tại
sao lại có thân con? Tại sao con là con trai? Tại sao con là
con gái?” Nhiều người kiếp trước đã có nghi, như tôi
có nói “kiếp trước đi được 99 bước, kiếp này chỉ
đi 1 bước là đến nơi”. Người biết Phật pháp cũng biết
có ba đời nhân quả là có quá khứ, hiện tại, vị lai; đâu
phải chỉ có kiếp này thôi!
Hỏi:
Để
trợ niệm người sắp chết, giúp người mới chết, trợ
duyên người đã chết lâu rồi; người tham Tổ sư thiền
có nên niệm Phật A Di Đà và cầu tha lực hoặc trì chú để
giúp cho người đó không?
Đáp:
Tất
cả pháp môn của Phật dạy là Chư Tổ đều muốn mình nhất
môn thâm nhập, tức là chuyên tu một phương pháp. Chuyên tu
một pháp còn khó thành tựu, huống là đồng thời tu nhiều
môn. Như pháp thế gian, học đến đại học rồi chọn chuyên
môn; như máy bay cũng phải chia bộ phận để cho mỗi người
chọn bộ phận riêng của mình mà học.
Tham
Tổ sư thiền cũng vậy, chỉ chuyên đề câu thoại đầu phát
khởi nghi tình đến khi kiến tánh. Muốn ảnh hưởng đến
người chết cũng đề câu thoại đầu, tâm lực mạnh mới
ảnh hưởng đến người chết. Trước quan tài, người tham
thiền đi hương và tọa hương.
Ngài
Lai Quả nói: Có một người bán đậu hủ đem 100 miếng đậu
cúng dường thiền đường, trong thiền đường có mấy trăm
Tỳ kheo tọa hương đi hương; người bán đậu cũng theo chúng
đi hương và tọa hương. Đến lúc người bán đậu chết,
Diêm La Vương nói: ông ăn thịt chó mấy chục lần, bây giờ
phải đầu thai con chó.
Thư
ký của Diêm La Vương nói: người này có dự tọa hương đi
hương ở thiền đường.
Diêm
La Vương nghe vậy cho ông bán đậu đầu thai con chó trắng
hai ngày và cho ông sống lại được 30 năm nữa.
Hỏi:
Thiền
thế nào trong lúc lái xe và đi bộ?
Đáp:
Mình
mới tập tham thiền, lúc lái xe phải nghĩ tham. Đến mức
độ tham thuần thục, lúc lái xe tự nổi lên nghi tình mình
không biết, lúc đó tự nhiên không biết mình đang lái xe,
không thấy xe cộ thì không bị đụng xe. Nếu mình còn biết,
mà ráng làm thì có thể đụng xe. Việc này bác sĩ Thuận
có làm qua.
Hỏi:
Nghiệp
di chuyển bằng cách nào, xin Thầy chứng minh?
Đáp:
Kiếp
trước mình làm cái nhân chết đói, tâm lực chỉ có 1 độ;
kiếp này mình không có tu thì tâm lực cũng 1 độ, nên kiếp
này phải chịu quả chết đói. Phật nói “nhứt thiết duy
tâm tạo”, tâm lực mạnh thì quả đến trước, tâm lực
yếu nên quả dời lại sau. Các vị tham thiền, tâm lực từ
1 độ lên đến 10 độ, tuy tâm lực 10 độ mới làm nhưng
quả phải đến trước. Tâm lực 1 độ mặc dù kiếp trước
đã làm, nhưng nhân yếu nên quả dời lại sau.
Nếu
tham thiền đến 10 độ, mà không tham thiền nữa thì cái quả
10 độ đến hết rồi xuống quả 9 độ, cứ thế xuống 1
độ thì cái quả phải trả. Từ 10 độ tiếp tục tham thiền
đến 1 triệu độ thành Phật thì nhân 1 độ không có cơ
hội trả quả, nhưng nhân 1 độ này chưa thể tiêu. Thành
Phật có duyên độ chúng sanh, nhưng người mình làm họ chết
đói được ưu tiên độ trước ra khỏi sanh tử luân hồi
thì nhân đó mới tiêu. Như thế đó là sửa lại nhân quả,
không phải khi không mà sửa được.
Hỏi:
Thiền
sư nói rằng “có các vị kiến tánh như Trương Quốc Anh
chụp banh rất giỏi và một người khác đổ mực vào ruột
viết trong một ngày được 80 cái”. Trong sách sử kiến tánh,
như ngài Hám Sơn lại mô tả khác rằng “thấy tâm mình lúc
đó an lạc phi thường, thấy các sự vật yên chìm quang minh
chan hòa và thấy thời gian trôi lẹ như khảy móng tay”. Vậy
xin Thiền sư minh định cho việc này?
Đáp:
Tôi
kể Trương Quốc Anh, bác sĩ Thuận, người thanh niên bôm mực
đều là mới tập thiền, chứ không phải kiến tánh. Tôi
nói nghi tình là cây chổi automatic hiển bày nghĩa không, bởi
vì quét không bao nhiêu thì hiển bày cái dụng được bấy
nhiêu.
Ví
dụ cái tách có cái không thì mới đựng nước được, cái
không rộng chừng nào thì cái dụng nhiều chừng nấy. Phật
pháp nói đến chữ không là hiển bày cái dụng, chính nghi
tình này là quét cho nó không (trống rỗng).
Hỏi:
Nhiều
vị Tổ thiền Tây Trúc như ngài Mã Minh, lúc sắp nhập diệt
thường hay thị hiện thần thông bay cao lên hư không chừng
7 cây đa la, hiện thân chói sáng như mặt trời, nửa phun lửa,
nửa phun nước, bay một hồi lâu rồi đáp xuống đất thị
tịch. Tại sao Tổ thiền Đông Độ lại không thi tiển thần
thông như vậy trong lúc thị tịch?
Đáp:
Tại
sao không có! Hôm trước tôi đã kể 2 chuyện rồi. Tôi sẽ
kể thêm một chuyện nữa: Thiền sư Đặng Ẩn Phong là đệ
tử của Mã Tổ, lúc thấy lính phản loạn đánh với lính
của vua; hai bên đánh nhau chết rất nhiều. Ngài đi ngang đó
thấy vậy liệng cây gậy trên không biến thành một cái cầu
ở chính giữa hai bên quân lính đánh nhau, Ngài đi trên cái
cầu đó, hai bên lính đều thấy nên không còn đánh nhau nữa.
Thiền
tông không cho hiện ra thần thông cho người ta biết, vì sợ
người ta mê thần thông. Cho nên Ngài hiện ra thần thông rồi
liền tịch (chết). Trước khi chết, Ngài hỏi người ta: Các
vị có nghe người ta chết ngồi không?
Người
ta nói: có.
Ngài
hỏi: có người đang đi chết không?
Người
ta nói: có.
Ngài
hỏi: có người chết trồng chuối không?
Người
ta nói: không.
Ngài
liền chết theo kiểu trồng chuối (đầu chóng xuống đất,
hai chân dựng lên trên trời), nhưng quần áo vẫn xuôi theo
thân mình, không tuột xuống.
Hỏi:
Thiền
đốn ngộ và pháp môn kiến tánh là một pháp môn thượng
thừa, người thời nay đời mạt pháp thường chỉ là hạ
căn hoặc trung căn, liệu có thể theo pháp môn thượng thừa
này được không?
Đáp:
Lục
Tổ và ngài Nguyệt Khê nói “Pháp vốn không có 4 thừa, tại
chúng sanh chấp trước nên Phật chia làm 4 thừa”. Ngài Bác
Sơn là Tổ của tông Tào Động nói “hạ căn chuyển thành
thượng căn, mạt pháp chuyển thành chánh pháp”.
Thượng
căn, hạ căn, mạt pháp, chánh pháp cũng là do chấp của chúng
sanh mới có, chứ trong Phật tánh vốn không có những thứ
đó. Phật tánh bất nhị, hai còn không có làm sao lại có
4 thừa!
Cho
nên, nói mạt pháp chuyển thành chánh pháp thì tôi chưa chứng
tỏ, nhưng hạ căn chuyển thành thượng căn, ở Việt Nam có
các Phật tử, tôi có chứng tỏ. Tại sao? Như những người
ngu si dốt nát tham thiền một thời gian phát ra trí huệ, tức
là vốn từ hạ căn chuyển thành thượng căn; trước kia họ
coi kinh không hiều, tham thiền một thời gian rồi coi kinh hiểu
hết.
Năm
1980, tôi dẫn một số Phật tử tham thiền đến thăm Phật
học viện, các Phật tử tham thiền nói chuyện Phật pháp
với các học Tăng thì kiến giải cao hơn. Chứng tỏ hạ căn
chuyển thành thượng căn, chứ không phải có nhất định.
Như thợ đá và ông khờ ngốc không biết thiền là cái gì
đều những người hạ căn, nhưng chuyển thành thượng căn
mau kiến tánh.
Tổ
sư thiền không phải cao, cũng không phải thấp. Con nít 6,
7 tuổi, bà già 8, 9 chục tuổi cũng tham thiền được; người
thông suốt giáo lý hay người khờ ngốc ngu si dốt nát đều
tham thiền được. Nếu cho Tổ sư thiền cao thì con nít 6,
7 tuổi và người dốt nát ngu si làm sao tham thiền được?
Vì tự tánh là bất nhị, không có cao thấp.
Hỏi:
Trong
kinh Lăng Nghiêm có nói đến 4 tội địa ngục, trong đó cuồng
vọng thuyết pháp là 1 trong 4 tội ấy. Xin Thầy cho biết thế
nào là cuồng vọng thuyết pháp?
Đáp:
Thuyết
pháp không đúng với ý Phật, cho ý mình là ý Phật gọi là
cuồng vọng thuyết pháp. Tất cả kinh Đại thừa liễu nghĩa
của Phật đều dùng phá chấp của chúng sanh, chứ không phải
là chân lý tuyệt đối, cũng không phải là pháp nhất định.
Chúng sanh chấp có là thật có nên Phật phải nói không, dùng
cái không để phá chấp có. Nếu chúng sanh chấp không là
thật không thì Phật dùng cái có để phá chấp không.
Khi
Phật nói có, ý của Phật không phải ở nơi có, không phải
cái có là chân lý; lúc Phật nói không, ý của Phật không
phải là không, không phải cái không là chân lý. Chỉ là tạm
thời để phá chấp đương cơ đó thôi, nếu người không
hiểu nghe Phật nói có, cho có là chân lý; nghe Phật nói không,
cho không là chân lý. Đó là cuồng vọng thuyết pháp.
Lời
khai thị III:
Kinh
Đại thừa liễu nghĩa cho đến kinh bất liễu nghĩa, đều
là giải phẩu Tâm linh. Bây giờ, người ta học Phật chỉ
biết danh từ Tâm linh, nhưng Tâm linh như thế nào lại không
biết cái thực thể? Tâm linh cùng khắp không gian thời gian.
Tại sao không biết Tâm linh? Vì dùng ngũ giác quan nên không
cảm nhận được.
Dùng
ngũ giác quan cảm nhận được thì nhà khoa học mới thừa
nhận, sau đó có tồn tại khách quan; nếu không có qua tai
mắt, họ không nhìn nhận. Nay phát minh những máy móc tối
tân là chỉ giúp cho tai mắt thấy rõ hơn, thấy xa hơn, nghe
rõ hơn và nghe xa hơn. Còn Tâm linh của mỗi người sẵn có
trí huệ, thần thông, năng lực đầy đủ; nhưng họ không
phát hiện được và cũng không tin.
Tôi
tham khảo từ ngữ lục của chư Tổ, kinh Đại thừa liễu
nghĩa và các tác phẩm nhà khí công đặc dị công Trung Quốc,
cùng những triết học đông phương, triết học tây phương,
rồi soạn ra cuốn sách này. Tôi tặng cuốn này cho một người
ở Los, họ đọc một hơi thấy hay, rồi hỏi tôi “muốn
copy cho một người bạn?” Tôi nói “được”, vì muốn
phổ biến chứ không giữ bản quyền. Bác sĩ Cữu coi rồi
cũng thấy hay, rồi nói “ngày xưa đến nay không biết”.
Quyển
này chia làm hai bộ phận:
a-
Vật lý sinh mạng công trình học.
b-
Triết lý mạng công trình học.
Vật
lý là hiển tánh, triết lý là ẩn tánh. Ẩn tánh nghĩa là
không thể dùng ngũ giác quan (tai, mắt...) để cảm nhận,
nhưng có tồn tại sự khách quan của nó. Phật nói “mình
ứng dụng hàng ngày mà chẳng tự biết”, như nhà khoa học
không biết và không tin.
Mình
soi gương thấy mặt của mình, nhưng hình chỉ là bề mặt.
Nhà khoa học giải phẩu sinh mạng, tuy nói giải phẩu sinh
mạng, kỳ thật chỉ là giải phẩu thể xác. Thể xác là
xe chở sinh mạng, chứ không phải chủ sinh mạng; chủ sinh
mạng là Tâm linh, thể xác sau này hư hoại, đem thiêu thành
tro, chôn thành đất.
Chủ
sinh mạng không thể dùng ngũ giác quan để cảm nhận, nhà
khoa học căn cứ hiện tượng vật chất để lập ra hệ thống
khoa học, cho tất cả năng lượng là từ vật chất sinh ra.
Nhưng theo Phật pháp thì ở sau lưng còn có Tâm linh điều
khiển nó, tức “tất cả đều do tâm tạo” là năng lượng
ở nơi tâm, chứ không phải ở nơi vật.
Ngày
xưa cũng có người ta chứng tỏ, nhưng ít; ngày nay có mở
nhiều lớp khí công theo sự luyện tập cũng hiển bày sức
của tâm, mà không thể dùng khoa học để giải thích được.
Như ánh sáng chiếu trên không gian thì chứng tỏ tồn tại
của không gian (không gian là trống rỗng, như mình để đồ…
tất cả đều phải nhờ không gian). Nhưng ánh sáng chiếu
trên thời gian, không có thể chứng tỏ sự tồn tại của
thời gian. Tại sao? Vì ngũ giác quan không thể phát hiện nó.
Nhà
khoa học cũng biết năng lượng là bất diệt, từ xưa đến
nay chỉ là chuyển hóa và vật chất cũng vậy, nên cũng đúng
với Phật pháp. Phật pháp nói là “tất cả đều vô thỉ
vô sanh”, vô thỉ nghĩa là không có sự bắt đầu, cũng là
nghĩa vô sanh; không sanh thì không diệt, được gắn tên là
Niết bàn.
Tất
cả danh từ Phật pháp đều hiển bày cái dụng của Tâm linh,
như: Tại sao là Phật tánh? Phật tánh là danh từ, vì có tánh
giác ngộ, nên gọi là Phật tánh. Nghĩa chữ Phật là giác
ngộ. Tại sao gọi là Như lai? Tại Tâm linh khắp không gian,
không có khứ lai nên gọi là Như lai, đúng như bản lai.
Các
nhà triết học đông phương, tây phương đang dùng, nhưng họ
không nhìn nhận vì tai mắt không thể tiếp xúc được. Các
nhà khoa học dùng máy móc tối tân cũng không truy cứu ra được
những người khí công có công năng đặc dị. Nhà khoa học
biết được các việc là vật chất hiển tánh.
Như
âm thanh nói vô máy điện thoại, âm thanh đó truyền đến
điện thoại kia, dầu xa, ở đây với Việt Nam, khi nói xong
có tiếng liền, tức nó qua làn sóng điện làn sóng âm thanh
thì cái máy của nhà khoa học qua lại hành lang không gian,
ở trong máy vi tính, họ thấy rõ ràng, như máy bay đến chỗ
nào đều thấy rõ khi nào gặp tai nạn thì họ đều biết.
Nhà
khoa học dùng máy để thử nhà khí công Trương Bảo Thắng,
nhưng máy phát ra chỉ có làn sóng hoài. Trương Bảo Thắng
dùng sức của tâm dời cái máy từ nhà bên này sang bên kia,
khoảng từ bên này qua bên kia thì làn sóng điện bị mất;
tức là nhà khoa học dùng máy móc tối tân không phát hiện
ra được.
Nhà
khoa học muốn truyền đạt việc gì, dùng máy truyền tin tức
khắp toàn cầu và cũng phát hiện được, nhưng về tâm linh
thì máy đó không thể phát hiện.
Vật
chất nhỏ chừng nào thì tốc độ nhanh chừng nấy. Nguyên
tử, điện tử và quang tử thì quang tử nhỏ nhất tức là
ánh sáng, thuộc vật lý hiển tánh ở trong phạm vi ba chiều
(dài, rộng, cao). Nói về vật lý ẩn tánh thì tốc độ ánh
sáng là thấp nhất.
Sức
của tâm là thêm chiều thời gian (gồm không gian ba chiều),
gọi là bốn chiều. Nhưng nhà khoa học bị nhốt trong không
gian ba chiều, không có phát triển bốn chiều, nhìn nhận thời
gian, mà không thể phát hiện thời gian, cho nên nói đến thời
gian rất ít.
Tâm
linh thì không có thời gian, như tốc độ máy bay bằng ánh
sáng, theo nhà thiên văn tính khoảng cách, vì xa quá nên không
dùng số dặm để tính, mà tính bằng quang niên (ánh sáng
đi một năm). Ví như máy bay ở trên địa cầu bay qua hành
tinh khác có thể mấy trăm quang niên mới tới, còn dùng tâm
niệm thì chỉ một niệm đến.
Tâm
niệm không có chiếm không gian (vật chất ẩn tánh không có
chiếm không gian). Vật chất hiển tánh có chiếm không gian,
mà không có số lượng thời gian. Vì vậy, tốc độ ánh sáng
là thấp nhất. Nhưng chuyện này, mà bộ óc không thể tưởng
tượng được, nên nhà khoa học không tin nổi.
Bây
giờ, nhà khoa học thí nghiệm các nhà khí công Trung Quốc
có chứng tỏ được. Mỗi người đều có năng lực của
Tâm linh, nên các nhà khí công hợp lại thì tâm lực càng
mạnh thêm, vì vậy trị bệnh rất hay.
Ở
Việt Nam, tại chùa Từ Ân có 6 lần đả Thiền thất, mỗi
lần mấy trăm người, tôi cũng dùng hương công để thử
cho những người dự Thiền thất đều tập mỗi ngày 2 lần
sáng chiều, cùng một lượt đông người thì có sức mạnh
hơn ở nhà tập riêng một mình.
Cho
nên, có người bị bứu cổ cũng được hết, có người bị
bệnh đi bác sĩ lâu không hết, mà tập hương công lại hết,
họ nói “hết bệnh, lý do như thế nào không biết”. Theo
tôi tự tập thì không thấy gì, nhưng thấy trong người được
khỏe hơn.
Tham
Tổ sư thiền thì không cần khí công, vì công phu của mọi
người, lòng tin tự tâm không đầy đủ, thành ra dụng công
cũng yếu, nên kết hợp tập hương công giúp cho công phu được
mạnh thêm, vì thế tôi mới dạy môn hương công.
“Không”
là trống rỗng là bản thể của Tâm linh, có dụng vô lượng
vô biên, không bị không gian thời gian hạn chế. Tất cả
vũ trụ vạn vật, mặt trời, mặt trăng, cây cối… bất
cứ cái gì đều phải nhờ cái “không” này mới hiển bày
được dụng. Nếu không có cái “không” sẵn sàng thì không
thể hiển bày được dụng.
Như
cái tách bị lấp bít hết thì không có cái “không” là
tách chết, nên không thể dùng được; vì có cái “không”
mới được đựng sữa, nước, cà phê… Cái dĩa không có
cái “không” thì không đựng trái cây hay đồ vật khác.
Cái bình không có cái “không” thì cũng không cấm hoa vô
được. Cái nhà không có cái “không” thì chúng ta làm sao
ngồi đây? Tất cả dùng đều phải nhờ cái không, không
có cái nào để hiển bày mà không dùng đến cái không!
Cho
nên, Trung Quán luận nói “vì có nghĩa không, nên các pháp
được thành tựu”. Như ông đang hỏi tôi, nếu không có
cái không thì không thể hỏi được, tôi cũng không thể giải
đáp cho ông. Tất cả đều nhờ cái không, nhưng mình ứng
dụng hàng ngày mà chẳng tự biết.
Tất
cả dùng đều phải nhờ cái “không”, mà không dính líu
đến cái “không”. Tại sao? Như tách, dĩa bể, nhà hư sụp,
nhưng đối với cái “không” chẳng có ảnh hưởng, vẫn
y như cũ. Bom nguyên tử làm quả đất tan nát, nhưng cái “không”
vẫn y như cũ, không có tổn giảm chút nào.
Cái
không sẵn sàng khắp không gian thời gian, nhưng thông minh của
con người đem cái không sẵn sàng, hạn chế thành cái không
của tách, bình, nhà; rồi giải thích nghĩa không của tách
khác hơn nghĩa không của bình, khác hơn nghĩa không của nhà,
muôn ngàn nghĩa không khác biệt, giải thích rất có lý. Nhưng
cái không bổn lai sẵn sàng chẳng có nghĩa lý gì, mà lại
tất cả đều nhờ nó.
Nếu
không có cái không sẵn sàng thì cái nhà không dựng lên được
và cũng không có cái tách. Cái không sẵn sàng là gì? Là Tâm
linh của mọi người. Chỗ này người ta không tin, tôi giải
phẩu Tâm linh, dùng những cái được phát hiện để chứng
tỏ cho người ta sanh lòng tin.
Tâm
của mình có tánh giác ngộ gọi là Phật tánh, khắp không
gian gọi là Như lai, khắp thời gian gọi là Niết bàn, trống
rỗng gọi là Tánh không. Cho nên, Tánh không, Như lai, Niết
bàn đều là biệt danh của Tâm linh. Nhiều người học Phật
mà không biết, chỉ biết những danh từ và nhất là đối
với Tánh không càng không biết.
Mình
ứng dụng hàng ngày, không có một phút giây nào rời khỏi
Tánh không, vì Tâm linh của mình là Tánh không; Phật tánh,
Niết bàn, Như lai đều chính là mình, nhưng người ta không
tin, cho đến Phật tử, Pháp sư cũng không tin.
Hỏi:
Hương
công có phải là Thái cực quyền không?
Đáp:
Hương
công là một môn của Khí công, hiện nay Khí công của Trung
Quốc có mấy trăm môn phái, nhiều lắm, có cái thật có cái
giả; nhưng cũng là hiện ra cái dụng của Tâm linh thôi.
Thái
cực quyển là chú trọng cái tâm, đi quyền rất chậm, không
dùng sức tức là buông (thư giản); động tác đi tới đâu
thì Tâm linh theo tới đó, làm động tác gì đều phải dùng
cái tâm. Khi tập luyện mức cao chỉ cần đẩy nhẹ là người
ta ngã, không những ngã mà có thể làm cho bị thương.
Sức
mạnh nhất là tâm, tất cả mọi vật chất vận động, nguồn
gốc là tâm, nhưng nhà khoa học không tin. Mỗi vật chất đều
có từ trường. Như trái chuối có bao nhiêu nguyên tử, điện
tử đang xoay xung quanh hột nguyên tử; cái bàn hay vật chất
nào đều cũng vậy. Nhà khoa học cho là nhiều nguyên tử tổ
chức thành vật chất, hiện đang vận động; mình thấy nó
yên tịnh, không có vận động.
Nhưng
sự thật có hai thứ động:
Một
thứ là quả đất xoay xung quanh mặt trời, hiện giờ mình
ngồi đây thấy yên tịnh, như ngồi trên chiếc phi thuyền
đang bay với vận tốc 180.000 km/giờ, mà mình không biết.
Chiếc xe hơi chạy vận tốc 80 mile, thấy đã nhanh quá rồi.
Một
thứ nữa là điện tử xoay xung quanh cái nhân của nguyên tử,
tốc độ lại nhanh nhiều hơn từ 1/3 (100.000 cây số/giây)
đến ½ (150.000 cây số/giây) tốc độ ánh sáng. Tốc độ
ánh sáng là 1 giây = 300.000 cây số.
Vậy
sức năng lượng từ đâu lại? Như chiếc xe chạy được
phải có xăng đốt ra năng lượng. Cái nguyên tử, điện tử
đang xoay ngày đêm, không có bắt đầu và cuối cùng, ai mang
kính hiển vi đều thấy rõ. Vậy năng lượng từ đâu mà
ra? Nhà khoa học cho là mỗi vật chất có từ trường do vật
chất sanh ra, Phật nói từ cái tâm sanh ra.
Kinh
Hoa Nghiêm nói “nhất thiết duy tâm tạo”, chỉ là nói tổng
quát. Pháp Bảo Đàn nói rõ hơn “chẳng phải gió động,
chẳng phải phướn động là tâm của ông động; tại tâm
của ông động nên gió mới động, tâm của ông động nên
phướn mới động”. Mình thấy gió động, phướn động
là do tâm động, các vị đọc Pháp Bảo Đàn mà không biết!
Hỏi:
Trong
cuốn sách này, Thầy có viết đến bộ lạc Nam Mỹ. Vậy
như thế nào?
Đáp:
Bộ
lạc này thực hành theo giới luật của Phật 99%, hội nghị
của họ là 100%, giống như yết ma của Phật; khi 7 tuổi rời
cha mẹ (làm Sa di), 21 tuổi theo các Trưởng lão học tập (làm
Tỳ kheo), họ chỉ khác với Tăng đoàn là có lập gia đình,
nhưng gia đình của họ khác hơn gia đình ở đời thường,
gia đình của họ giống như không có gia đình, chỉ là một
đoàn viên của một đoàn thể.
Hỏi:
Bộ
lạc này sống chỉ 100 năm, so với Thần tiên có thể sống
trên 1.000 năm. Vậy việc ấy như thế nào?
Đáp:
Họ
sống khoảng 100 năm, vì mục đích họ không phải để sống
lâu! Tại cuộc sống của họ tự nhiên sống lâu như vậy.
Những người kiến tánh cũng tùy theo nhân quả nhân duyên.
Như
tổ Bá Trượng sống 120 năm, ngài Hư Vân sống 120 năm; nhưng
tổ Bạch Vân sống 48 năm, là một tổ danh tiếng của phái
Lâm Tế. Vì không theo tư tưởng người thường, sự thật
sanh tử vốn không có. Như Bát nhã Tâm kinh nói “vô lão tử,
diệc vô lão tử tận”.
Hỏi:
Có
phải tu Tiên đạt đến trường sanh bất lão không?
Đáp:
Tu
tiên có tưởng chấp thật, nên họ không được giải thoát
mà chỉ được sống lâu. Còn dân tộc Cogy không có luyện
tâm, sống một cách tự nhiên, không có pháp luật, không có
ai quản lý ai, họ sống theo hội nghị, giống như pháp yết
ma của nhà Phật.
Hỏi:
Thế
nào tìm chân lý Phật giáo là chỗ không Phật giáo?
Đáp:
Kỳ
thật, Phật giáo vốn không phải tôn giáo, Phật giáo là giải
phẩu Tâm linh; tất cả chúng sanh đều có Tâm linh, chứ không
phải chỉ loài người mới có. Mà mọi chúng sanh đều bằng
nhau, như con dơi có ra đa, nhà khoa học nghiên cứu con dơi
rồi bắt chước chế tạo máy ra đa.
Mình
cũng có ra đa vậy, nhưng theo nghiệp mình không hiện ra đa
mà hiện cấu tạo tinh vi bộ óc. Nhà khoa học học theo bộ
óc làm ra máy vi tính, phần nhiều cấu tạo sự ghi nhớ để
dùng; nhiều bộ phận khác họ còn chưa biết, mặc dù máy
tính có nhiều chức năng; những cái nào phát minh thì làm
được, cái nào chưa phát minh nên làm không được.
Tham
Tổ sư thiền là cuối cùng phát hiện ra hết, làm ra ra hết,
tất cả năng lực đều đầy đủ, không thiếu sót. Cho nên,
tất cả bao xa thành lập tin tức trong một niệm, mới nói
tốc độ ánh sáng thấp nhất.