Hỏi:
Tham
Tổ sư thiền đời này chưa giải thoát, mất thân người
phải đọa thì làm sao?
Đáp:
Đối
với Phật pháp phải tin nhân quả, nhân nào quả nấy; như
kinh Pháp Hoa nói “như thị nhân như thị quả”. Tổ sư thiền
do Phật Thích Ca truyền là chánh nhân, chánh nhân đã gieo thì
chánh quả sẽ đến. Ở Việt Nam, có Phật tử cũng hỏi vậy
“ngày nay tôi tu thiền rồi ngày mai chết làm sao?” Tôi nói,
mặc dù chỉ tu một ngày, nhưng chánh nhân đã gieo thì chánh
quả sẽ đến, kiếp sau sẽ tiếp tục tu.
Thí
dụ mục đích kiến tánh là Sài Gòn, Chợ Lớn đi Sài Gòn
là 100 bước; tuy mình đi 1 bước thì kiếp sau đi thêm 99 bước,
chứ khỏi cần đi 100 bước. Nếu mình đi được 50 bước
thì kiếp sau đi thêm 50 bước, kiếp này đi 99 bước thì kiếp
sau đi 1 bước là đến nơi. Cho nên, tham thiền không nói sơ
tham hay lão tham, sơ tham có thể mau kiến tánh hơn lão tham.
Vì kiếp trước đã tu gần tới nơi thì kiếp này chỉ tu
thêm ít sẽ tới nơi.
Hỏi:
Tại
sao phương pháp thiền này không được thông dụng như trước
kia?
Đáp:
Phương
pháp thiền thực hành rất dễ, mà tin tự tâm rất khó. Pháp
môn này phải tin tự tâm, tức là phải tin tự tâm mình với
tâm của Phật Thích Ca bằng nhau (Phật Thích Ca nói Phật tánh
bình đẳng bất nhị). Nhưng người ta khó tin, nếu không tin
tự tâm thì không phát hiện tự tâm.
Tham
Tổ sư thiền là phát hiện tự tâm mình, gọi là kiến tánh
thành Phật. Bây giờ tất cả thần thông trí huệ của mình
bằng với Phật Thích Ca, cùng khắp không gian thời gian, siêu
việt số lượng; nhưng vì bị chôn vùi ở vô thỉ vô minh
lâu đời, không thể lấy ra dùng.
Như
kinh Pháp Hoa nói “mình có hạt châu như ý để trong chéo
áo, cho mình nghèo phải đi ăn xin; được người trí chỉ
ra thì được giàu sang”. Nhưng việc này rất khó tin, nên
người thực hành rất ít. Mặc dù, rất ít nhưng đời nào
cũng có người kiến tánh.
Trước
đời nhà Tống của Trung Quốc có người kiến tánh rất nhiều,
chùa phần nhiều thuộc về Thiền tông. Sau này Truyền Đăng
Lục ra đời, các cơ xảo của Tổ sư ghi trong đó, người
tham thiền biết nên cơ xảo của Tổ không dùng được. Bất
đắc dĩ dạy người ta tham công án tham thoại đầu, nên người
kiến tánh ít lại.
Tuy
ít người kiến tánh, nhưng đời nào cũng có người kiến
tánh. Như gần đây theo mình biết ngài Hư Vân, ngài Lai Quả,
ngài Nguyệt Khê đều kiến tánh. Ngài Nguyệt Khê tịch năm
1965 để lại nhục thân ở Cửu Long (Hồng Kông). Mặc dù
người ta tu ít, vì ít người hoằng dương; đó cũng là do
tánh của con người, như bây giờ tôi hoằng Tổ sư thiền
rất khó khăn.
Ở
Việt Nam hoằng Tổ sư thiền có nhiều người công kích, vì
tôi dạy tông chỉ Tổ sư thiền là phá ngã chấp (vô
sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ), còn các chùa cần phải
nuôi sống nên dạy người ta cầu.
Người
ta nói tôi làm như vậy phải bị nhịn đói, hoằng Tổ sư
thiền rất khó vì người tin rất ít; nhưng vì hoằng dương
chánh pháp, nên tôi phải vậy, nếu có nhịn đói cũng hoằng
dương. Tánh của con người rất khó làm theo vô sở đắc,
vô sở cầu, vô sở sợ. Vì vậy, người tu Tổ sư thiền
rất ít.
Hỏi:
Mười
mấy năm Thầy tu Tịnh độ có thành tựu được gì không?
Sau khi chuyển sang Thiền tông, Thầy bảo là thành tựu hơn.
Vậy thành tựu của Thầy là thế nào?
Đáp:
Thành
tựu của tôi vừa rồi tôi đã kể, tôi chỉ được giải
ngộ và tận sức hoằng đúng theo tông chỉ Tổ sư thiền.
Trước kia mười mấy năm tôi hoằng Tịnh độ, chính tôi
niệm Phật sáng đêm không ngủ, muốn ngưng câu niệm Phật
cũng không ngưng được. Ngài Lai Quả ban đầu cũng niệm Phật,
ngủ quên niệm lớn tiếng, rồi chuyển qua Tổ sư thiền lúc
28 tuổi kiến tánh.
Những
người theo tôi học thiền, trước kia đã tu Tịnh độ rồi
chuyển sang Tổ sư thiền. Nếu niệm Phật được vãng sanh
Tịnh độ cũng phải chuyển sang Tổ sư thiền mới kiến tánh
thành Phật. Mình đợi tới chết rồi chuyển, không bằng
mình còn sống chuyển sang thì tốt hơn.
Hỏi:
Tâm
hồn con đòi hỏi có một đời sống nội tâm an lành trong
sáng hữu ích và giải phóng, nhưng đời sống còn cạnh tranh,
tranh chấp, thấp hèn, tàn nhẫn. Con nghĩ rằng giằng co, rách
nát giữa tâm, trí tuệ và sự thật đời sống. Kính mong
Thầy giúp đỡ?
Đáp:
Cuộc
sống hàng ngày của mình do bộ óc làm chủ, bộ óc làm chủ
phải dựa theo ngã chấp. Vì bộ óc thì có tương đối, sống
trong thế giới tương đối, có lợi phải có hại. Khoa học
phát minh xe hơi để tiện lợi cho giao thông, nhưng xe hơi rất
nhiều nên giao thông dễ bị tắt nghẽn; có khi có chỗ xe
hơi đi còn chậm hơn đi bộ, mỗi ngày toàn nước Mỹ chết
vì xe hơi hơn 50 người; chưa kể người bị thương, số này
có thể tiếp tục tăng thêm.
Do
bộ óc làm chủ phải tranh giành với nhau, như con mắt muốn
sắc đẹp, lỗ tai thích nghe âm thanh khen ngợi hay âm nhạc,
cái lưỡi muốn ưa đồ ngon… Muốn thỏa mãn dục vọng của
mình phải tranh giành với người khác. Anh chị em ruột trong
gia đình cũng có tranh giành với nhau, gia đình này với gia
đình kia cũng tranh giành với nhau, đoàn thể này với đoàn
thể kia cũng tranh giành với nhau, chủng tộc này với chủng
tộc kia cũng tranh giành với nhau, quốc gia này với quốc gia
kia cũng tranh giành với nhau.
Cho
nên, từ chửi mắng, đánh lộn, xung đột đổ máu, chiến
tranh nhỏ đến chiến tranh lớn đều do ngã chấp (bộ óc
làm chủ). Phật Thích Ca dạy phát hiện Phật tánh của mình
để cho Phật tánh làm chủ, Phật tánh làm chủ chỉ làm lành
chứ không có làm ác, mà thông qua bộ óc để dùng, không
cho bộ óc làm chủ, bộ óc làm nô lệ cho Phật tánh. Bây
giờ Phật tánh bị bộ óc che khuất nên không được hiện
ra. Vì vậy, Phật Thích Ca nói trong Bát Nhã Tâm Kinh là phủ
định lục căn, lục trần, lục thức.
Hỏi:
Cách
nào để giữ nghi tình khỏi quên?
Đáp:
Ngài
Nhuyệt Khê nói “một niệm chưa sanh khởi gọi là vô thỉ
vô minh, đã sanh khởi một niệm rồi gọi là nhứt niệm vô
minh”, sanh khởi một niệm thì kế tiếp niệm thứ hai, thứ
ba tiếp tục hoài tới ngày sáng đêm, cũng trong phạm vi nhứt
niệm vô minh.
Tham
thiền là phá vô thỉ vô minh, vô minh là đen tối, tham thiền
là nhìn ngay chỗ mịt mù chỗ đen tối, không biết là cái
gì, tức là nhìn ngay vô thỉ vô minh, cũng gọi là thoại đầu.
Thoại
đầu là khi chưa nổi một niệm. Đã nổi niệm muốn nói
mặc dù chưa nói ra gọi là thoại vỉ, chứ không phải thoại
đầu. Tham thiền là nhìn ngay chỗ một niệm chưa sanh khởi,
tức là chỗ vô thỉ vô minh, nhìn ngay chỗ mịt mù không biết
là cái gì, mà vừa nhìn vừa đề câu hỏi “khi chưa có trời
đất ta là cái gì?” để tăng cường cái không biết (nghi
tình). Đó là thực hành Tổ sư thiền.
Khi
hỏi phải hỏi liên tiếp, không có cho kẽ hở; tức là vừa
hỏi dứt phải hỏi nữa, nếu hỏi rồi cách một hồi hỏi
nữa thì có kẽ hở; có kẽ hở thì vọng tưởng phiền não
từ kẽ hở nổi lên. Nếu hỏi khít khít thì phiền não vọng
tưởng, không có kẽ hở để nổi lên. Phiền não không nổi
lên thì tâm mình được thanh tịnh.
Cho
nên, tham thiền được 5 phút thì 5 phút này hết phiền não,
tham thiền 1 tiếng thì 1 tiếng này hết phiền não, tham thiền
được 1 ngày thì 1 ngày không có phiền não. Tâm thanh tịnh
lâu ngày sẽ phát trí huệ. Như có nhiều Phật tử, trước
khi chưa tham thiền coi kinh không hiểu, tham thiền một thời
gian rồi coi kinh tự nhiên hiểu.
Ở
chùa Từ Ân đả thiền thất, thanh niên theo cha dự thiền
thất, người mẹ khuyên y ở nhà học bài để thi, nếu không
lên lớp phải đi lính. Nhưng y không chịu nghe, cứ đến dự
thiền thất. Qua thiền thất không có thời giờ học bài,
lúc làm bài mà y không biết (vì không có học làm sao biết),
rồi y tham thiền được 10 phút, tự nhiên làm được bài
và nộp lên trước.
Kỳ
thật, mình có công phu đến mức thì cái dụng của tự tánh
hiện ra. Như Trương Quốc Anh không thấy trái banh mà chụp
được trái banh, bác sĩ Thuận không thấy xe mà không đụng
xe, cô Hằng Thiền không cần qua bộ óc mà cắt được cái
áo.
Sự
thật chứng tỏ cái biết của tự tánh dùng ra hay hơn trí
huệ của bộ óc rất nhiều. Có hai tài xế lái xe khách Sài
gòn - Chợ Lớn, trước khi chưa tham thiền thường hay bị
cảnh sát thổi phạt, sau này tham thiền không đụng xe và
không bị cảnh sát thổi phạt.
Đang
lái xe mà tham thiền rất nguy hiểm, công phu của mình chưa
đến mức là còn sợ, còn biết thì làm không được, nên
phải đụng xe. Lúc nghi tình liên tục là lúc đó tự mình
không biết nên không biết sợ, tự nhiên không đụng xe, chứng
tỏ tự tánh được dùng ra.
Tự
tánh được dùng ra là nghĩa không của nhà Phật. Thường
thường người ta nói tu sĩ là chán đời mới vô cửa không
đi tu. Chữ không của Phật pháp rất tích cực, bởi vì có
nghĩa không mới hiển bày cái dụng.
Trung
Quán Luận nói “vì có nghĩa không nên tất cả pháp mới
được thành tựu”. Như cái tách lấp bít hết, không có
cái không (trống rỗng), không phải không có gì hết. Nếu
cái tách không có cái không thì không đựng sữa, nước, trà…
được, vì là cái tách chết. Cái tách có cái không nên hiển
bày cái dụng. Cái bàn có cái không nên để đồ được,
cái ghế có cái không nên ngồi được, cái nhà có cái không
nên ở được.
Cái
không rộng chừng nào thì dụng rộng chừng nấy. Tại sao
dụng của Phật Thích Ca có vô lượng vô biên? Vì Phật Thích
Ca đã không có cái không nào để không nữa, nên cái dụng
cùng khắp không gian thời gian. Còn cái không của mình nhét
đầy tham sân si… nên cái dụng không hiện ra.
Tham
câu thoại đầu khởi lên nghi tình tự động quét tất cả.
Quét không bao nhiêu thì cái dụng hiện ra bấy nhiêu. Có nghi
tình là bao gồm giới, định, huệ, lục độ vạn hạnh, cho
đến công thương kỹ nghệ thế gian, không có cái nào thiếu
sót.
Hỏi:
Khối
nghi tình đến lúc nào bùng vỡ?
Đáp:
Khối
nghi tình cuối cùng sẽ bùng vỡ tức là kiến tánh. Ví dụ
đầu trên cây viết là thoại đầu, đầu dưới cây viết
là thoại vỉ. Bắt đầu tham là từ thoại vỉ đến thoại
đầu, khởi lên nghi tình là rời khỏi thoại vỉ, nhưng chưa
đến thoại đầu, đang đi ở giữa đường.
Một
ngày kia đến thoại đầu (nguồn gốc của ý thức, Thiền
tông gọi là đầu sào trăm thước, cũng là vô thỉ vô minh)
thì đường đi ý thức đã hết, trước mắt không còn cái
gì, chỉ có thanh thanh tịnh tịnh; ngoại đạo đi tới chỗ
này cho là Niết bàn. Nhưng sự thật chưa phải, còn dính líu
với ý thức.
Cho
nên, Thiền tông từ đầu sào trăm thước tiến lên một bước
nữa mới rời khỏi ý thức. Rời khỏi ý thức, ngài Lai Quả
nói là lọt vào hư không té xuống, té phải cho chết; chết
rồi sống lại gọi là “tuyệt hậu tái tô”. Sống lại
có 2 thứ: tiểu tử tiểu hoạt và đại tử đại hoạt.
Té
xuống chết rồi sống lại nhưng còn cái xác, gọi là tiểu
tử tiểu hoạt. Đại tử đại hoạt thì luôn cái xác cũng
không còn, rồi sống lại gọi là đại tử đại hoạt.
Đây
là thí dụ, không phải xác thân này; tức là tiểu ngộ còn
ôm cảnh giới ngộ cho mình đã ngộ, không buông cảnh giới
ngộ. Do trụ cảnh giới ngộ nên bị chướng ngại, cái dụng
không được dùng ra.
Đại
tử đại hoạt là cảnh giới ngộ cũng tan rã, Thiền tông
gọi là ngộ rồi đồng như chưa ngộ. Vì có ngộ thì còn
mê, tại sao? Có mê nên mới có ngộ. Đã ngộ rồi hết mê,
hết mê phải hết ngộ.
Cái
tay ví dụ Phật tánh của mình hoạt bát vạn năng, muốn lấy
cây viết, cái máy, cái tách… đều được. Nếu trụ cây
bút thì hoạt bát vạn năng bị mất, muốn lấy cái gì không
được. Cho nên, tay trụ cây viết cần buông ra, khôi phục
hoạt bát vạn năng của tay, muốn lấy cái gì cũng được.
Đây là trụ nơi có làm chướng ngại cái dụng. Lại chấp
trụ nơi không, tức trong tay không có gì thành chướng ngại,
muốn lấy cái gì cũng không được. Vì vậy cái không phải
quét để khôi phục hoạt bát vạn năng của tay.
Cái
dụng của tự tánh cũng vậy, nên Pháp Bảo Đàn nói “lấy
vô trụ làm gốc”, kinh Duy Ma Cật nói “từ gốc vô trụ
lập tất cả pháp”. Nếu có sở trụ thì chướng ngại dụng
của tự tánh. Lục Tổ nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang “ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” liền ngộ đạo. Ưng vô sở
trụ là bản thể của tự tánh, sanh kỳ tâm là hiển bày
cái dụng. Nếu có sở trụ, mặc dù trụ nơi Niết bàn cũng
quét (xa lìa điên đảo cứu kính Niết bàn), nếu còn trụ
Niết bàn cũng là điên đảo mộng tưởng. Bản thể Phật
tánh là bất nhị, nghĩa bất nhị là vô trụ.
Tất
cả tên gọi của Phật đều do cái dụng mà lập danh, như
Phật tánh cùng khắp không gian không khứ lai, nên gọi là
Như lai; Phật tánh cùng khắp thời gian không gián đoạn (không
sanh diệt), nên gọi là Niết bàn. Vô trụ, Bát nhã, tánh không…
đều như vậy. Tuy nói danh từ muôn ngàn sai biệt nhưng nghĩa
không khác, chỉ muốn hiển bày cái dụng của Phật tánh.
Phật
Thích Ca muốn mỗi chúng sanh đều được tự ngộ, để hiển
bày cái dụng của mình sẵn có từ lâu đời. Nếu cứ chôn
vùi hoài rất uổng, Phật Thích Ca dạy thực hành Tổ sư thiền
cho mọi người hiển bày cái dụng của mình sẵn có bằng
như Phật. Cho nên, nói bình đẳng bất nhị là vậy.
Hỏi:
Câu
tuyên bố bất hủ của Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma “giáo ngoại
biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến
tánh thành Phật”. Xin Thượng tọa giảng cho về tâm và tánh
theo Phật giáo trong câu trên?
Đáp:
Bất
lập văn tự không phải phế bỏ văn tự, mà không qua văn
tự lời nói, gọi là pháp thiền trực tiếp; cho nên chỉ
cần cái nghi tình (không biết). Giáo ngoại biệt truyền là
ở ngoài Giáo môn, vì Giáo môn có giai cấp từ Thập tín,
Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa và Đẳng
giác, Diệu giác.
Pháp
thiền trực tiếp do Phật Thích Ca đích thân truyền không
có giai cấp, phàm phu ngộ và Thập địa Bồ tát ngộ bằng
nhau, chỉ là cái dụng không bằng (cái lý thì bằng, cái sự
không bằng). Cái dụng không bằng do phàm phu có tập khí thế
gian và xuất thế gian còn nguyên. Thập địa Bồ tát hết
tập khí thế gian, tập khí xuất thế gian còn ít, nên cái
dụng lớn hơn nhiều, chỉ không bằng Phật. Phàm phu bị tập
khí phiền não nhét đầy nên không hiển bày cái dụng. Phàm
phu kiến tánh, những tập khí dứt lần lần sẽ bằng dụng
của Phật.
Hỏi:
Nếu
bất lập văn tự, sao Thầy thông thuộc kinh điển? Tại sao
Tổ sư thiền trái lại đã viết rất nhiều sách vở nhất
so với các tông phái khác?
Đáp:
Trong
Tục tạng kinh có tác phẩm của Tổ sư thiền rất nhiều.
Bất lập văn tự chứ không phế bỏ văn tự, chỉ là không
qua văn tự, trực tiếp ngộ. Trực chỉ nhân tâm là phải
tin tự tâm là Phật, ngoài tâm không có Phật. Mặc dù nói
kiến tánh thành Phật, nhưng chưa phải quả vị Phật. Phàm
phu và Bồ tát Thập địa đều ngộ tới Đẳng giác bằng
nhau, cái dụng cách nhau rất xa.
Cái
dụng quả Phật vô lượng vô biên, vì tất cả tập khí phiền
não không còn. Có người kiến tánh chưa có thần thông, nhưng
thần thông bản thể của mình sẵn có bằng với Phật Thích
Ca; chỉ là chưa hiển bày để dùng, khi nào tập khí mình
quét sạch bao nhiêu hiện ra cái dụng bấy nhiêu.
Hỏi:
Mười
sáu năm nay, con tụng kinh niệm Phật vừa thiền và quán. Con
được biết các chư Tổ nói “gặp Phật giết Phật, gặp
ma giết ma”, nghĩa là không trụ các cảnh giới để tu lên,
nhưng con không gặp cảnh giới đó, mà con chỉ điều tâm
vào chỗ không để được an lạc. Vậy con có thể giữ mãi
trạng thái đó hay là phải bỏ để đi lên, nếu bỏ thì
làm sao?
Đáp:
Theo
chánh pháp, nếu tu pháp môn nào phải đúng tông chỉ của
pháp môn đó. Phật nói trong kinh Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác
có 3 thứ thiền quán: Sa ma tha, Tam ma bát đề, Thiền na. Giáo
môn của Trung Quốc có: tông Thiên thai có Chỉ quán thiền,
tông Hiền thủ có Pháp giới quán thiền, tông Duy thức
có Duy thức quán thiền…
Nếu
tự mình coi sách mà tu rất nguy hiểm. Ở Việt Nam, tôi gặp
những người tự coi sách để tu xẩy ra rất nguy hiểm, có
sự thật chứng tỏ. Nhiều khổ công tu phát được thần
thông, đến mức độ cao xẩy ra nguy hiểm là: ói máu, phát
điên, phá giới.
Có
một tu sĩ ở Rạch Giá phá giới. Tại sao? Người ấy không
tu đúng theo chánh pháp, tức là không phá ngã chấp, nên tham
sân si chỉ là đè nén, do dùng lục tự Di Đà để đè nén,
niệm chú để đè nén hoặc dùng quán tưởng đề đè nén
vọng tưởng. Theo vật lý, nếu đè nén mạnh chừng nào thì
phản lực mạnh chừng nấy. Đè nén lâu ngày đến mức độ
cao bộc phát lên không thể kiềm chế được, xẩy ra 3 kết
quả trên.
Hỏi:
Thế
nào là sở tri chướng và phiền não chướng?
Đáp:
Tất
cả do bộ óc nhận thức được gọi là sở tri chướng, cho
nên Bát Nhã Tâm Kinh nói “vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân,
ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn thức giới
cho đến ý thức giới, cho đến vô khổ, tập, diệt, đạo
(Tứ Diệu Đế của thừa Thanh văn); cho đến vô vô minh tới
lão tử (Thập Nhị Nhân Duyên của thừa Duyên giác); cho đến
trí huệ của Bồ tát; cho đến cứu kính Niết bàn, tất cả
đều quét”.
Vì
do cái biết của bộ óc là sở tri chướng làm chướng ngại,
nên tự tánh không được hiện ra. Cứ cho bộ óc làm chủ
thì ở trong tương đối, có lợi phải có hại; thường hại
nhiều hơn lợi. Cho nên, Phật dạy mình phải quét sạch sở
tri chướng thì chánh biến tri của Phật mới hiện ra.
Phiền
não chướng là tất cả tham sân si, mình ham thích cái gì đều
là phiền não chướng; ham thích ăn ngon, mặc đồ đẹp, muốn
thỏa mãn dục vọng của mình đều là phiền não chướng.
Hỏi:
Xin
Thầy giải thích sự lợi ích giữa công đức và phước đức?
Đáp:
Phước
đức có thể hưởng hết, như trong kinh cuối cùng đều có
thí dụ: lấy tiền tài thất bảo chất đầy tam thiên đại
thiên để bố thí, chỉ được phước đức chứ không phải
công đức; cho đến vô biên thế giới thất bảo để bố
thí được phước đức, nhưng phước đức có thể hưởng
hết. Còn công đức của tự tánh sẵn có, chỉ cần mình
phát hiện; tự tánh không sanh không diệt nên công đức hưởng
không bao giờ hết.
Lương
Võ Đế hỏi tổ Đạt Ma: Tôi cất chùa, bố thí, cúng ường
chư Tăng rất nhiều, vậy có công đức không?
Đạt
Ma đáp: không có công đức, chỉ là phước đức của trời
người.
Nhưng
phước báo đó hưởng lâu ngày cũng phải hết, còn công đức
hưởng không thể hết. Vì công đức là tự tánh không sanh
diệt, không diệt làm sao hết! Cho nên, công đức và phước
đức khác nhau.
Tham
thiền là muốn phát hiện công đức của mình, không muốn
phước đức. Muốn cứu kính vĩnh viễn, tức là giải thoát
tất cả khổ, cái khổ không thể trở lại; không phải kiếp
này hay kiếp sau, muôn triệu ngàn kiếp cũng không cần. Tại
sao? Nếu muôn triệu ngàn kiếp, khổ còn trở lại thì không
được gọi là chân thật bất hư.
Hỏi:
Trong
các sách có nói Tổ sư trong Thiền môn truyền tâm ấn, vậy
tâm ấn là cái gì? Và truyền tâm ấn là thế nào?
Đáp:
Bổn
tâm không có hình thể, không có âm thanh; dùng bộ óc không
thể tiếp xúc, văn tự lời nói cũng không diễn tả được.
Vậy làm sao lấy cái gì để truyền! Thiền tông nói truyền
tâm ấn là dùng tâm ngộ của thầy ấn chứng tâm của trò
đã ngộ, chứ không phải có tâm ấn để cho người này cho
người kia. Tâm vô hình vô thanh cùng khắp không gian thời
gian, như ánh sáng đèn cùng khắp không gian thời gian làm sao
truyền! Nếu có truyền được là không cùng khắp.
Hỏi:
Lục
Tổ nói “bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai”, thế
thì tu để làm gì? Thành Phật để làm chi?
Đáp:
Bài
kệ của Lục Tổ là để phá chấp bài kệ của Thần Tú,
lời nói của chư Phật chư Tổ là công cụ phá chấp; chứ
không phải chân lý.
Như
chúng sanh chấp cái có là thật có thì Phật nói không, dùng
cái không để phá cái có; nếu chúng sanh chấp cái không là
thật không thì Phật phải nói có, dùng cái có để phá chấp
không. Nếu chúng sanh thấy Phật phá có phá không, tưởng
là chẳng có chẳng không thì chấp vào chẳng có chẳng không,
nên Phật dùng cũng có cũng không để phá chấp chẳng có
chẳng không. Cuối cùng chúng sanh cho cũng có cũng không là
chân lý, còn chấp cũng có cũng không thì Phật thấy bệnh
chấp vẫn còn, phải dùng chẳng có chẳng không để phá cũng
có cũng không.
Tứ
cú đều phá, có cũng phá, không cũng phá, chẳng có chẳng
không cũng phá, cũng có cũng không cũng phá, gọi là lìa tứ
cú (vô sở trụ), không phải có câu nào là chân lý. Phật
nói có, không phải có là chân lý; Phật nói không, không phải
không là chân lý, chỉ là tạm mượn để phá chấp.
Lục
Tổ cũng vậy, vì Thần Tú chấp thật có cái tâm để dính
bụi nên cần phải quét sạch. Tâm vô hình tướng, tức là
không có chỗ đề dính bụi và vốn không có bụi để dính
cái tâm. Do bộ óc chấp thật có cái tâm để dính bụi, có
cái bụi để dính trong tâm. Đó là nghịch ý Phật và Tổ,
tức là nghịch với bản thể Phật tánh. Cho nên Lục Tổ
phải phá chấp đó.
Nếu
là bổn lai vô nhất vật (không có cái gì) thì muốn thành
Phật để làm gì? Kỳ thật, muốn hiển bày cái dụng vô
lượng vô biên, chứ không phải tiêu cực, nói là cửa không,
không có cái gì! Bởi vì có dụng là tích tực, nhà khoa học,
triết học có dụng tích cực không bằng cái dụng tích cực
của Phật, do tích cực của Phật không có cuối cùng.
Vừa
rồi tôi nói “hiển bày cái dụng muôn triệu ngàn kiếp cũng
không cần, là muốn hiển bày cái dụng vĩnh viễn”. Vậy
làm sao nói tất cả không có! Tại giải thích trên mặt chữ
cho là không có thì không đúng.
Hỏi:
Sau
đời Lục Tổ, các Tổ dùng phương tiện đánh hét, xô đẩy…
Vậy Thầy có chủ trương như vậy hay không? Và Thầy cũng
thuộc dòng Lâm Tế chăng?
Đáp:
Chủ
trương nói không được, chủ trương là do bộ óc. Pháp môn
là do Phật Thích Ca truyền cho ngài Ca Diếp chỉ đưa cành
hoa, không qua lời nói, mà ngài Ca Diếp ngộ chỉ mỉn cười
cũng không nói; nên nói pháp thiền trực tiếp bất lập văn
tự, nếu bất lập văn tự thì có chủ trương gì! Có chủ
trương là có sở trụ. Phật nói “không pháp để thuyết
mới là thuyết pháp, ai có nói Phật thuyết pháp thì người
ấy phỉ báng Phật”.
Tham
Tổ sư thiền là phát hiện cái dụng của mình từ lâu nay
sẵn có để dùng ra, chứ không để chôn vùi mãi mãi.
Hỏi:
Thầy
có đủ sáu thần thông chưa?
Đáp:
Có
người đã kiến tánh cũng chưa có thần thông, hết tập khí
hiện ra cái dụng, người ta không biết cho là thần thông.
Thần thông do bộ óc luyện ra không phải thần thông của
Phật tánh, thần thông của Phật tánh cùng khắp không gian
thời gian. Luyện thần thông từ Mỹ bay qua Việt Nam 5 phút,
chưa phải thần thông của Phật tánh. Thần thông của Phật
tánh không cần bay, vì cần bay không cùng khắp không gian.
Hỏi:
Căn
cơ chúng sanh ở đất Mỹ mà đời sống rất phức tạp, xin
Thầy chỉ dạy phương pháp tu công hiệu nhất?
Đáp:
Cách
tu công hiệu nhất là hỏi câu thoại đầu khởi lên nghi tình.
Đây là một công án để cho quý vị hiểu: Có một ni cô
tham câu thoại đầu “chẳng phải tâm, chẳng phải Phật,
chẳng phải vật là cái gì?” Tham nhiều năm không thấy gì,
thường hỏi thầy “có phương pháp nào để cho con kiến
tánh mau không?” Thầy lắc đầu không trả lời. Đến một
ngày, ni cô ấy cũng hỏi như vậy, thầy biết công phu của
ni cô ấy gần chín mùi, rồi nói: có.
Ni
cô nói: sao không nói cho con biết! Xin thầy nói cho biết.
Thầy
nói: chú ý nghe! Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng
phải vật là cái gì?
Ni
cô nghe liền kiến tánh, chính câu thoại đầu của ni cô tham;
nhưng cứ cho có pháp đặc biệt để cho mình kiến tánh, thành
ra tư tưởng đó làm chướng ngại nên không được kiến
tánh. Vì vậy, thầy lắc đầu không trả lời là tăng cường
nghi tình. Nghi tình đến gần bùng vỡ, thầy nói ra được
ngộ mới biết không có cách khác. Nói cách gì cũng là câu
thoại đầu, Phật Thích Ca truyền từ nghi đến ngộ, đến
trước đến sau là tùy theo mình, đi nhanh đến trước, đi
chậm đến sau.
Lời
khai thị II:
Phương
pháp tự ngộ của Thiền tông là pháp thiền trực tiếp, do
Phật Thích Ca đích thân truyền đến ngày nay. Phật tánh của
mình đầy đủ năng lực thần thông trí huệ bằng Phật Thích
Ca, không kém hơn một chút nào. Phật Thích Ca nói “Phật
tánh bình đẳng bất nhị”, nếu chúng sanh kém hơn Phật
một chút thì có cao có thấp là không bình đẳng, cao với
thấp là nhị.
Cho
nên, mình muốn tham Tổ sư thiền phải tin Phật tánh là tự
tâm của mình bằng như Phật. Nếu lòng tin đầy đủ mới
phát hiện được Phật tánh của mình, tức là cái dụng vô
lượng vô biên đã có từ vô thỉ.
Pháp
thiền tự ngộ, vì tổ Đạt Ma truyền sang Trung Quốc, người
ta gọi là Đạt Ma thiền; từ Tổ từ Tổ truyền xuống gọi
là Tổ sư thiền. Tất cả thiền nói trong kinh điển đều
gọi là pháp thiền gián tiếp, khó tu khó chứng; còn pháp
thiền trực tiếp dễ tu dễ chứng hơn. Như các phái Giáo
môn như: tông Pháp hoa, tông Hoa nghiêm, tông Duy thức,
tông Tam luận… đều có thiền riêng.
Tông Pháp hoa còn gọi là tông Thiên thai, vì Đại sư Trí Giả
ở núi Thiên thai, nên gọi là tông Thiên thai; vì căn
cứ theo kinh Pháp hoa, nên người ta gọi là tông Pháp hoa. Tông
Pháp hoa có chỉ quán thiền, bây giờ người tông Thiên thai
chỉ học giáo lý của tông Thiên thai, mà không tu chỉ
quán thiền của tông Thiên thai; bởi vì phức tạp nên khó
tu, nếu tu cuối cùng cũng phải khởi lên nghi tình giống như
Tổ sư thiền.
Chỉ
quán thiền của tông này có tam chỉ tam quán. Tam chỉ là:
Hệ duyên chỉ, Tùy duyên chỉ, Thể chơn chỉ. Tam quán là:
Giả quán, Không quán, Trung quán. Ban đầu quán các pháp đều
giả, không có cái nào thật, quán riết thì giả cũng không
phải thật giả, rồi quán không, nhưng quán riết không chẳng
phải thật không, đến quán trung tức là chẳng phải giả,
chẳng phải không; trung cũng không có cái trung để trụ, lúc
đó tự nhiên phát khởi nghi tình “chẳng phải giả, chẳng
phải không, chẳng phải trung, vậy là cái gì?” do cái nghi
này mới đạt đến ngộ.
Như
thế đã trải qua bao nhiêu tinh thần khổ công phát nghi, còn
Tổ sư thiền là bắt đầu đã phát nghi; chỉ nhờ câu thoại
đầu, như hỏi “khi chưa có trời đất ta là cái gì?” Không
biết. Cho nên giản dị mau hơn, các thiền khác cuối cùng
cũng phải phát nghi rồi được ngộ, vì nghi là nhân, ngộ
là quả. Tổ sư thiền do Phật Thích Ca dạy là từ nghi đến
ngộ.
Người
tu Tịnh độ đã vãng sanh Cực lạc, cũng phải chuyển qua
Tổ sư thiền là phát nghi được ngộ. Nghĩa chữ Phật là
tiếng Ấn Độ gọi Phật Đà, dịch ra tiếng mình là giác
ngộ; người nào giác ngộ thì người ấy là Phật. Có người
hỏi Phật “Ngài là người gì?” Phật trả lời “tôi là
người giác ngộ”. Đáng lẽ gọi Phật là người giác ngộ,
nhưng không gọi mhư vậy mà gọi là Phật.
Nhiều
người cho Phật là một thần linh, mình nói tu kiến tánh thành
Phật nhưng người ta không tin “tại sao ông dám nói kiến
tánh thành Phật!” Kỳ thật, đó là mục đích của Phật
độ chúng sanh, Phật muốn mọi chúng sanh đều kiến tánh
thành Phật; kiến tánh thành Phật được dứt tất cả khổ.
Nếu không kiến tánh thì vĩnh viễn không giải thoát tất
cả khổ. Bây giờ không tự do tự tại là không biết mình
là cái gì? Nên không làm chủ chính mình.
Hiện
nay mình đầu thai làm người, nhưng mình vốn không phải người;
người ở trong lục đạo (trời, người, a tu la, súc sanh,
ngạ quỷ, địa ngục). Nếu mình sanh tử tự do thì làm cõi
nào cũng được, mình không được sanh tử tự do nên theo
nghiệp mình tạo mà đầu thai; như tạo nghiệp trời thì sanh
cõi trời, tạo nghiệp người thì sanh cõi người… tùy theo
nghiệp mà xoay chuyển nên không được tự do.
Phật
muốn mọi chúng sanh đều được giác ngộ. Có hai thứ
chiêm bao: nhắm mắt chiêm bao và mở mắt chiêm bao. Ban đêm
ngủ chiêm bao thấy có thân chiêm bao tiếp xúc thế giới chiêm
bao, như tiếp xúc cái tách, cái máy, cái bàn… đều có thật
chất; tiếp xúc nóng lạnh biết lạnh nóng, luôn cả thân
chiêm bao mà người ta đánh thấy đau; giả sử trong chiêm
bao có một thiện tri thức giải thích: cái tách, cái bàn,
cái máy… đều không thật; luôn cả thân của ông không thật,
người chiêm bao không thể tin.
Tại
sao? Vì tiếp xúc cái nào cũng có thật chất rõ ràng. Nói
tôi không thật, sao người ta đánh tôi biết đau? Nhưng thức
tỉnh tự mình chứng tỏ hồi nảy những cái thật tìm không
ra. Thức tỉnh thì những cái trong chiêm bao tự dứt, như trong
chiêm bao bị phạm pháp luật phải ở tù, đánh đập… Thức
tỉnh rồi thân chiêm bao không còn, chính phủ chiêm bao cũng
mất.
Mở
mắt chiêm bao cũng vậy, như tôi giảng và các vị đang nghe
là trong mở mắt chiêm bao. Bây giờ tiếp xúc cái nào cũng
thật, mặc dù Phật Thích Ca giảng là không thật; như Bát
Nhã Tâm Kinh nói “vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý và vô
sắc thinh, hương, vị, xúc, pháp”. Nhưng mình khó tin, nếu
tham thiền được tự ngộ thì chứng tỏ, gọi là chứng ngộ,
giống như nhắm mắt chiêm bao thức tỉnh. Nếu còn ở trong
chiêm bao thì thấy tất cả các cảnh đều thật.
Theo
Duy thức gọi nhắm mắt chiêm bao là độc đầu Duy thức biến
hiện. Tại sao? Một mình thức thứ 6 biến hiện ra cảnh giới
nhắm mắt chiêm bao. Lúc ngủ thì tiền ngũ thức (nhãn, nhĩ,
tỷ, thiệt, thân) ngưng hoạt động, chỉ còn thức thứ 6
hoạt động hiện ra cảnh giới nhắm mắt chiêm bao; những
cảnh trong phòng không thấy, nhưng lại thấy các việc ở
xa, như ở bên Tây, Việt Nam… Do thức thứ 6 không cần nhờ
5 thức trước (tiền ngũ thức), biết được quá khứ và
vị lai trong chiêm bao; nó hoạt động ngày đêm không ngừng,
nên một mình biến hiện cảnh giới nhắm mắt chiêm bao.
Mở
mắt chiêm bao là 5 thức trước không ngưng nghỉ thì có hai
thức cùng biến hiện, gọi là đồng thời ý thức biến hiện
mở mắt chiêm bao. Tại sao? Như nhĩ thức nghe được tiếng,
nhưng không biết tiếng gì, tiếng đàn ông, tiếng đàn bà,
tiếng con nít… phải nhờ thức thứ 6 để phân biệt biết
tiếng này là tiếng người đàn ông, đàn bà, con nít… Nếu
chỉ có ý thức thì không nghe được tiếng nên lấy cái gì
để phân biệt là tiếng gì. Nếu chỉ có nhĩ thức thì chỉ
nghe được tiếng nhưng không biết tiếng gì. Cho nên phải
hai thức cùng nổi lên, gọi là đồng thời ý thức biến
hiện mới thấy rõ ràng.
Nhắm
mắt chiêm bao do một thức biến hiện, mở mắt chiêm bao do
hai thức đồng thời biến hiện; một thức cũng là tâm, hai
thức cũng là tâm. Nên kinh Hoa Nghiêm nói “nhứt thiết duy
tâm tạo”. Tham Tổ sư thiền là muốn tự ngộ cái tâm này
là cùng khắp không gian thời gian, mà cái dụng cũng cùng khắp
không gian thời gian.
Phật
Thích Ca có thần thông trí huệ vô lượng vô biên là do Phật
Thích Ca quét sạch, không còn cái gì để quét nữa, cái không
rộng cùng khắp không gian thời gian, nên cái dụng cùng khắp
không gian thời gian. Còn chúng ta có tham sân si rất nhiều
nhét đầy thành ra không hiển bày cái dụng.
Tham
thiền là nhờ câu thoại đầu khởi lên nghi tình là không
biết của bộ óc quét không bao nhiêu thì hiển bày cái dụng
được bấy nhiêu. Vì vậy, hôm nay tham thiền thì hôm nay được
cái dụng, tham được một ngày thì cái dụng được một
ngày, tham được một tháng thì cái dụng được một tháng,
quét trống nhiều thì cái dụng nhiều.
Hỏi
“khi chưa có trời đất ta là cái gì?” Không biết, trả
lời không ra thì hỏi nữa, hỏi đến thình lình trả lời
ra là được kiến tánh. Nhưng trả lời ra không phải đáp
án câu thoại đầu, mà phát hiện bản tâm mình.
Nếu
hỏi câu thoại cách một hồi hỏi nữa thì có kẽ hở, phiền
não từ kẽ hở nổi lên; hỏi khít khít không có kẽ hở
thì không có phiền não nổi lên, nên tâm mình được thanh
tịnh. Tham được 5 phút thì 5 phút này không có phiền não,
tham được 1 tiếng thì 1 tiếng này không có phiền não…
chưa kiến tánh hiển bày cái dụng phần nào. Lúc tham là giữ
được không biết nên không biết có phiền não. Vì vậy,
chữ nghi có sức mạnh rất lớn, nhà khoa học cũng phải nhờ
chữ nghi mới ngộ.
Nhưng
cái nghi của nhà khoa học gọi là hồ nghi là qua bộ óc suy
nghĩ tìm hiểu, chỉ phát minh các việc thế gian có giá trị
của thế gian, không biết được chính mình. Tham thiền là
chánh nghi không qua bộ óc suy nghĩ tìm hiểu, phát hiện chính
mình làm chủ cho mình nên được tự do tự tại.
Bây
giờ không biết mình là cái gì nên không làm chủ cho mình,
mình không muốn già cũng phải già, không muốn bệnh cũng
phải bệnh, không muốn chết cũng phải chết… Nếu kiến
tánh triệt để là sanh tử tự do, muốn sống thì sống, muốn
chết thì chết, muốn lên thiên đường, muốn xuống địa
ngục…
Hỏi:
Ngài
Diên Thọ nói “không tu thiền mà tu Tịnh độ, một vạn
người thì một vạn người về Tây phương thấy đức Phật
A Di Đà được khai ngộ”. Xin Thầy giảng giải?
Đáp:
Có
bài kệ nói:
Muôn
người tuTịnh độ,
Thì
muôn người thành tựu.
Tu
thiền không Tịnh độ,
Mười
người, chín người sai.
Tu
thiền tu Tịnh độ,
Như
con cọp thêm sừng.
Không
thiền không Tịnh độ,
Phải
chìm đắm muôn người.
Người
tu Tịnh độ thường lấy bài kệ này cho là của ngài Vĩnh
Minh để dẫn chứng. Sự thật, ngài Vĩnh Minh là tổ thứ
3 tông Pháp Nhãn của Thiền tông, đệ tử của ngài Vĩnh
Minh có truyền đến Đại Hàn, bây giờ vẫn còn. Ở Trung
Quốc, hiện nay chỉ còn tông Lâm Tế và tông Tào động;
tông Pháp Nhãn đã thất truyền.
Ngài
Hư Vân là người kiến tánh gần đây, ngài nói “tìm hết
tất cả tác phẩm của ngài Vĩnh Minh không thấy bài kệ này”.
Bài kệ này tự mâu thuẩn, Tại sao? Tu thiền mười người,
chín người sai, mà tu Tịnh độ muôn người muôn người được.
Muôn người muôn người được là tốt nhất, không sánh bằng.
Tại sao còn đem thiền vô làm mất chín ngàn, chỉ còn lại
một ngàn. Vậy, phải mâu thuẩn không? Chính bài kệ đã tự
mâu thuần.
Sự
thật, ngài Vĩnh Minh không có làm bài kệ này, vì ngài đã
kiến tánh không thể làm bài kệ mâu thuẩn. Đó là người
đời sau làm ra bài kệ này làm oan cho ngài Vĩnh Minh.
Tông Tịnh độ sáng lập từ Trung Quốc, sơ tổ là Huệ Viễn
đời nhà Tấn truyền đến Trung Hoa Dân Quốc, mấy chục năm
trước tổ thứ 13 là Ấn Quang, ngài có tác phẩm Ấn Quang
Văn Sao có dạy đường lối thực hành rõ ràng, nhưng những
người dạy và tu Tịnh độ không biết.
Trong
đó có ba thứ tin, hai thứ nguyện và hai thứ hành. Mình pháp
môn nào phải đúng tông chỉ của pháp môn đó mới được
thành tựu, nếu tu không đúng làm sao thành tựu? Cho nên, ngài
Ấn Quang không cho người tu Tịnh độ coi các kinh khác, chỉ
được coi 3 thứ kinh của Tịnh độ (kinh Vô Lượng Thọ,
Quán Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà). Kinh A Di Đà phổ biến,
nhiều chùa thường tụng; kinh Quán Vô Lượng Thọ và Vô Lượng
Thọ ít người biết, mà lại coi những sách thiền.
Tôi
dạy Tổ sư thiền cho người ta hỏi tự do, nên tất cả tôi
phải biết; nếu tôi không biết thì người ta khó tin. Tất
cả ở trong bản tâm đều đầy đủ, không có cái nào thiếu
sót. Những cái không có ở trong kinh, mặc dù tôi không có
coi kinh nhiều, chỉ hoằng Thiền tông nhưng các tông phái khác,
mà các vị hỏi tôi đều trả lời được; ngoài ra Mật tông
tôi không thể nói, vì Mật tông là bí mật truyền thọ.
Như
quý vị dùng cái tách này nhờ tôi giảng thiền thì tôi giảng
thiền, nhờ tôi giảng Thiên thai thì tôi giảng Thiên thai,
nhờ tôi giảng Hiền thủ thì tôi giảng Hiền thủ, nhờ tôi
giảng Duy thức thì tôi giảng Duy thức, nhờ tôi giảng cái
nào thì tôi giảng được. Vì ở nơi tự tánh mình sẵn có,
không phải do học mới có, tất cả đều đầy đủ. Do tâm
mình chấp thật (có sở trụ) nên không hiện ra cái dụng.
Bản tâm mình là vô sở trụ, có hoạt bát vạn năng.
Như
cái tay dụ cho tự tánh hoạt bát vạn năng lấy cái máy, cái
tách, cái dĩa… đều được. Nếu có sở trụ, như cái tay
trụ cái tách thì dụng bị đánh mất, không còn hoạt bát
vạn năng, nên lấy cái gì cũng không được. Tay cần buông
cái tách thì khôi phục hoạt bát vạn năng, nên lấy cái nào
cũng được.
Cái
tách này là pháp có, nhưng tay tự làm nắm tay, trong tay không
có thứ gì; nhưng cái dụng cũng bị mất, nên lấy cái gì
cũng không được. Cho nên cái không này cũng phải quét thì
tay được hoạt bát vạn năng. Được hoạt bát vạn năng
là do vô sở trụ, khi Lục Tổ nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang
“ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” liền ngộ triệt để.
Ưng vô sở trụ là bản thể, sanh kỳ tâm là cái dụng; bản
thể không có sở trụ nên dụng hoạt bát vạn năng, nếu
có sở trụ thì bị mắc kẹt. Mặc dù trụ có cũng bị mắc
kẹt, trụ không cũng bị mắc kẹt; bất cứ trụ Bồ tát
hay trụ Phật cũng đều bị mắc kẹt. Vì vậy, Pháp Bảo
Đàn nói “lấy vô trụ làm gốc”, kinh Duy Cật nói “từ
gốc vô trụ lập tất cả pháp”. Chư Phật chư Tổ đều
phá chấp thật của mình, vì chấp thật là có sở trụ làm
mất cái dụng.
Bát
Nhã Tâm Kinh nói “vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý” là
quét lục căn; “vô sắc, thinh, vị, xúc, pháp” là quét lục
trần; “vô nhãn thức cho đến ý thức giới” là quét lục
thức; “vô khổ, tập, diệt, đạo” là Tứ Diệu Đế; “vô
vô minh diệc vô vô minh tận, cho đến vô lão tử diệc vô
lão tử tận” là quét Thập Nhị Nhân Duyên; “vô trí diệc
vô đắc” là quét trí huệ của Bồ tát; “xa lìa điên đảo
cứu kính Niết bàn” là quét luôn cứu kính Niết bàn.
Tất
cả quét sạch mới được thành tựu Bồ đề (thành Phật),
có cái dụng vô lượng vô biên. Mình theo đó thực hành, quét
từ tri kiến phàm phu, tri kiến Tiểu thừa, tri kiến Đại
thừa và tri kiến Phật thì chính thức thành Phật.
Hỏi:
Đức
Phật A Di Đà nói “nhược hữu chúng sanh dục sanh ngã quốc,
chí tâm tín nhạo nãi chí thập niệm, nhược bất sanh giả
bất thủ chánh giác”. Xin Thầy giải thích?
Đáp:
Lúc
gần lâm chung có mười câu niệm Phật được vãng sanh Tây
phương, nhưng phải tu đúng tông chỉ Tịnh độ; tức
là phải phát đại nguyện, thực hành đại nguyện của mình
phát. Nếu theo đúng tông chỉ, khỏi cần mười niệm mà chỉ
một niệm cũng được vãng sanh.
Trái
lại, không đúng tông chỉ, dù có một trăm ngàn niệm
cũng không được vãng sanh. Cho nên cần nhất là thực hành
đại nguyện. Kinh Di Đà nói “đã phát nguyện thì đã vãng
sanh, đương phát nguyện thì đương vãng sanh, sau này phát
nguyện thì sau này vãng sanh” là chú trọng cái nguyện. Quyết
định được vãng sanh là do cái nguyện.
Nguyện
gồm có hai thứ: tiểu nguyện và đại nguyện.
Nếu
phát tiểu nguyện là chỉ cầu cho một mình được vãng sanh
thì trái với nhân quả, nên không được vãng sanh. Tại sao?
Vì vãng sanh là không thể chết nữa, tiếp tục tu đến thành
Phật. Bởi vãng sanh ở cõi Cực Lạc nghe gió thổi chim kêu
đều làm cho mình thích tu, như mình ở đây ham tiền vậy,
tự nhiên rồi sẽ thành Phật. Vãng sanh là không chết, làm
sao đi đầu thai để trả nợ?
Từ
nhỏ đến lớn, tự xét mình có giết một con kiến không?
Có ăn cá ăn tôm không? Có ăn thịt heo thịt gà không? Nếu
có phải đầu thai để trả nợ trước, chứ đâu được
vãng sanh. Bởi vì theo nhân quả thì nhân nào quả nấy, như
kinh Pháp Hoa nói “như thị nhân như thị quả”. Nếu chỉ
cầu cho mình vãng sanh là không trả nợ sao? Phải đầu thai
để trả nợ trước chứ! Như vậy tiểu nguyện không thể
vãng sanh, phải phát đại nguyện.
Đại
nguyện là hồi hướng, mà bây giờ nhiều người hiểu lầm
hai chữ hồi hướng; hai chữ hồi hướng theo Giáo môn là
phá ngã chấp. Giáo môn có Thập hồi hướng, qua Thập hồi
hướng lên Sơ địa (phá hết ngã chấp lên Bồ tát Sơ địa).
Người
ta lấy hồi hướng để tăng cường ngã chấp. Tại sao? Vì
nói là cái này công đức của tôi, tôi thương người này,
tôi hồi hướng cho người này; tôi thương người kia, tôi
hồi hướng cho người kia; lấy tôi làm chủ muốn cho người
nào cũng được. Đó là ngã.
Hồi
hướng là tất cả công đức của tôi, làm tất cả phước
thiện, cúng dường Tam bảo đều hồi hướng cho tất cả
chúng sanh, tôi chỉ là một trong chúng sanh. Cho nên, phát đại
nguyện không phải một mình tôi được vãng sanh, mà tất
cả chúng sanh đều được vãng sanh; tất cả chủ nợ mạng,
chủ nợ thịt đều cùng với tôi được vãng sanh, không sót
một chúng sanh nào mới là đại nguyện.
Phát
đại nguyện thì đối với chúng sanh bình đẳng, nếu mình
đã vãng sanh rồi tu thành Phật trở lại độ những người
chưa vãng sanh. Phát đại nguyện phải thực hành đại nguyện
của mình phát.
Tôi
đã hoằng Tịnh độ mười mấy năm, gặp nhiều người tu
Tịnh độ không coi chúng sanh bình đẳng. Đừng nói đối
với thú vật, mà đối với con người cũng không bình đẳng.
Vậy đối với con chó, con mèo, con chuột, con kiến, con muỗi…
làm sao bình đẳng? Vì muỗi chích tôi nên tôi phải đập
nó, con chó dơ dấy gần tôi nên tôi phải đá cho nó đi. Nếu
đối với chúng sanh không bình đẳng thì nghịch với đại
nguyện mình phát. Như vậy là nguyện suông nguyện giả, làm
sao vãng sanh? Cho nên chỗ này rất khó.
Trương
mục trong ngân hàng của mình không có tiền, nhưng mình thiếu
nợ người ta; mình ký biên nhận cho người ta là năm mười
sau mới trả, mỗi ngày có bao tiền nạp vô ngân hàng. Người
ta đem biên nhận đến ngân hàng mới lãnh được tiền. Trong
ngân hàng không có tiền, sau này người ta đến ngân hàng
lấy tiền không có thì mình phải bị bắt ở tù.
Mình
không thực hành đại nguyện của mình phát là có tội, không
có đức làm sao được vãng sanh! Cho nên phát đại nguyện
và thực hành đại nguyện của mình phát (mỗi ngày nạp tiền
vô ngân hàng, mình ký biên nhận mới có giá trị). Người
ta cho ăn chay, niệm Phật, tụng kinh gõ mõ là Tịnh độ. Kỳ
thật không phải Tịnh độ, phải đúng theo tông chỉ Tịnh
độ là Tín, Nguyện, Hành.
Hỏi:
Khi
còn ở Việt Nam, con tha thiết cầu nguyện Phật cho các con
và con đi ra nước ngoài sinh sống. Đã đến lúc con không
còn tin gì nữa, bổng một đêm trong giấc ngủ có một tiếng
nói văng vẳng, nói với con rằng “con sẽ được ý nguyện”.
Cho dù đã mười năm qua, con thắc mắc nguyện vọng của con
đã được chư Bồ tát nghe đến hoặc chỉ là tưởng tượng?
Đáp:
Tất
cả nguyện thiện hay nguyện ác đều được thỏa mãn. Trong
kinh Phật nói, hồi trước Phật Thích Ca theo ngoại đạo 6
năm tu chứng quả ngoại đạo, biết là sai liền bỏ. Uất
Đầu Lam Phất chứng quả cõi trời cao nhất là phi tưởng
phi phi tưởng, thọ mạng được 8 muôn đại kiếp (1 đại
kiếp = 4 trung kiếp, 1 trung kiếp = 20 tiểu kiếp, 1 tiểu kiếp
= 16 triệu năm). Phật Thích Ca thành Phật muốn đi đến người
đó liền, nhưng trể một ngày, vì người đó đã sanh vào
phi tưởng phi phi tưởng.
Uất
Đầu Lam Phất tu ở gần sông, cá lội làm cho ông phát giận,
ở trong rừng chim kêu làm cho nổi sân; lúc đang giận, ông
chỉ nổi lên một niệm “sau này tôi sẽ làm chồn bay vô
rừng ăn chim, vào nước ăn cá”. Qua một niệm ấy thì ông
quên. Hết 8 muôn đại kiếp của cõi trời phi tưởng phi phi
tưởng, ông phải đầu thai làm con chồn bay để thỏa mãn
cái nguyện đó. Đó là ác nguyện cũng được thỏa mãn.
Phật
nói trong kinh Hoa Nghiêm “tất cả do tâm tạo”, tâm mình
tạo là nhân, có nhân phải có quả. Mình khởi tâm động
niệm, mặc dù chưa đi làm nhưng đã có nhân rồi.
Những
người có tiền mới đi vượt biên được, nhưng người có
tiền không sợ chết đói. Vì kiếp trước đã tạo nhân chết
đói, kiếp này mặc dù có tiền nhưng cũng phải bị chết
đói, Bởi nhân quả không thể trừ với nhau, tạo nhân thiện
được quả phước, tạo nhân ác phải chịu quả khổ. Họ
tạo nhân ác làm cho người chết đói, kiếp này có tiền
vượt biên ở ngoài biển hết lương thực phải chịu chết
đói.
Theo
nhân quả có thể sửa lại, vì tất cả do tâm tạo. Như thiếu
nợ, người chủ nợ có thế lực mạnh phải trả trước,
chủ nợ yếu rồi trả sau. Nhân quả cũng vậy, nhân mạnh
thì quả đến trước, nhân yếu thì quả đến sau.
Thí
dụ người không có tu là tâm lực một độ, người tu thành
Phật là tâm lực một triệu độ (sự thật vô lượng vô
biên, không phải một triệu độ). Mình đã cho người ta bị
chết đói là tâm lực một độ, kiếp này cũng là một độ
thì phải chịu cái quả chết đói. Nếu mình có tham thiền
thì tâm lực từ một độ lên đến mười độ tuy mới tạo
nhân, nhưng quả phải đến trước, vì nhân mạnh hơn. Nhân
một độ làm cho người ta chết đói thì yếu, nên cái quả
chậm lại sau.
Nếu
tham thiền được mười độ, rồi không tham thiền nữa, quả
của mười độ đến hết rồi tới chín độ, chín độ hết
thì tới quả tám độ…rồi một độ cũng phải đến. Được
mười độ, không ngưng tham thiền, tham tới một triệu độ
thành Phật. Nhưng nhân một độ làm cho người ta chết đói
chưa tiêu được, nên phải trở lại độ người đó. Những
người mình đã tạo chết đói thì được ưu tiên độ trước,
đó là tự nhiên như vậy. Độ họ hết khổ được tự do
thì nhân làm cho chết đói mới được tiêu.
Hỏi:
Con
thường nghe nói bây giờ là thời mạt pháp, chỉ có Tịnh
độ là thích hợp với căn cơ mọi người; vì Tịnh độ
vừa tự lực vừa tha lực. Người tu pháp môn này, ngoài vấn
đề niệm Phật cầu vãng sanh còn phải tu thập thiện, giữ
thân khẩu ý cho trong sạch, có hiếu với cha mẹ như Phật
nói trong kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Như
vậy, khi quá vãng mới sanh về Cực Lạc, do đó con nhận định
rằng vẫn không ra ngoài nhân quả. Nhưng có một điều con
còn thắc mắc có một cõi Cực Lạc nào đó không hay chỉ
là phương tiện, do đức Phật chỉ dạy chúng sanh như trong
kinh Pháp Hoa, phẩm Hóa Thành Dụ chỉ là hóa thành?
Đáp:
“Tất
cả do tâm tạo” thì tất cả đều là hóa thành, cho đến
Cực Lạc cũng vậy, chỉ là tâm tạo thôi. Cõi Cực Lạc do
tất cả người tu Tịnh độ vọng tạo. Bây giờ, mình được
thân này giàu sang hay nghèo khổ là biệt nghiệp của mình
tự tạo, tất cả đều không ngoài tâm. Kinh Lăng Nghiêm nói
“nhiếp cả lục căn, tịnh niệm tương tục”, câu này bao
gồm hết thảy.
Làm
sao nhiếp cả lục căn? Con mắt không phân biệt xấu đẹp
thì nhiếp được nhãn căn, lỗ tai không phân biệt khen chê
thì nhiếp được nhĩ căn, cái lưỡi không phân biệt vị
ngon hay dỡ thì nhiếp được thiệt căn… tất cả lục căn
đều không phân biệt, đúng lời Phật nói là “vô nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý” ở trong kinh Bát Nhã Tâm Kinh vậy.
Nhưng
bây giờ người tu Tịnh độ có được nhiếp lục căn không?
Tôi hoằng Tịnh độ mười mấy năm, chưa có gặp một người
nào thực hành được. Nhiếp được lục căn rồi thì niệm
mới trong sạch (tịnh niệm), mà tịnh niệm liên tiếp khắp
thời gian không có gián đoạn, gọi là tịnh niệm tương tục
thì mới được vãng sanh; chứ đâu phải dễ!
Vì
không hiểu nghĩa trong kinh nói, cứ nói nhờ tự lực nhờ
tha lực. Nhưng phải làm sao đúng lời dạy trong kinh Phật
mới được. Mình phân biệt xấu đẹp rõ ràng, người ta
chê thì mình đã giận, người ta khen ngợi thì mình mừng,
vậy đâu có nhiếp được! Nếu không nhiếp được, làm sao
đi đúng lời kinh để được vãng sanh!
Hỏi:
Thầy
đã giảng kỳ trước, niệm Phật hay trì chú chỉ có tác
dụng đè nén vọng tưởng; nhưng con nghĩ mục đích niệm
Phật để một lòng không tán loạn, đạt được nhứt tâm
bất loạn, con nghĩ đó là tâm bất nhị của Phật tánh. Sự
nhận xét của con có đúng không? Xin Thầy phân biệt rõ tác
dụng đè nén vọng tưởng của niệm Phật và không đè nén
vọng tưởng của tham thoại đầu?
Đáp:
Ai
cũng biết do vô minh mới thành chúng sanh. Tại sao gọi là
vô minh? Vô minh có hai thứ:
Vô
thỉ vô minh (căn bản vô minh) là không có sự bắt đầu.
Vô thỉ vô minh đó cảnh giới thế nào? Là một niệm chưa
sanh cũng là thoại đầu của người tham thiền. Tham thiền
là muốn phá vô thỉ vô minh mới được kiến tánh, cho nên
đến thoại đầu phải tiến thêm một bước nữa, tan rã
vô thỉ vô minh thì giây phút đó được kiến tánh.
Còn
nổi lên một niệm rồi gọi là nhứt niệm vô minh, cuộc
sống hàng ngày như: mừng, giận, buồn, vui… đều là hóa
thân nhứt niệm vô minh. Trong Đại Thừa Tuyệt Đối Luận,
ngài Nguyệt Khê giảng rất rõ về nhứt niệm vô minh. Mình
gặp chuyện vui mà cho vui là nhứt niệm vô minh, gặp chuyện
buồn cho buồn là nhứt niệm vô minh, gặp chuyện giận cho
giận là nhứt niệm vô minh; tức là tâm trạng mình biến
đổi mức nào cũng là ở trong nhứt niệm vô minh, đã nổi
một niệm thì niệm thứ hai thứ ba cứ tiếp tục hoài, nên
gọi là nhứt niệm vô minh.
Vô
minh là không sáng, tức tự mình không làm chủ được, mà
theo dục vọng mình để thỏa mãn tạo ra đủ thứ nghiệp,
phải chịu nghiệp thọ ác báo. Theo nhân quả, tạo nhân lành
được phước báo, tạo nhân ác phải chịu khổ báo.
Kinh
Hoa Nghiêm nói “tâm mình như một họa sĩ rất hay”, họa
thiên đường thì mình thấy vui, họa địa ngục thì mình
thấy sợ; nếu mình không họa thì bình an vô sự. Vì do tâm
mình muốn họa cái này cái kia là nhứt niệm vô minh, có muốn
ngưng cũng không ngưng được.
Nói
dùng niệm Phật để ngưng, nhưng niệm Phật cũng là nhứt
niệm vô minh. Niệm đến nhứt tâm bất loạn là trở về
vô thỉ vô minh thì cũng còn ở trong vô minh, chưa phá được
vô minh thì không giải thoát. Uất Đầu Lam Phất sanh cõi trời
Phi tưởng phi phi tưởng, sắc thân không có, tất cả tập
khí phiền não không có, ông nhập định 8 muôn đại kiếp,
không có một chút vọng tưởng, mà người niệm Phật không
có được vậy! Nhưng rồi ông mãn hết 8 muôn đại kiếp
cũng đầu thai con chồn bay, không được giải thoát.
Niệm
Phật không đúng tông chỉ Tịnh độ, làm thập thiện sanh
cõi người hưởng vinh hoa phú quý hay sanh cõi trời hưởng
thú vui; nhưng hưởng hết rồi cũng phải đọa xuống chịu
khổ báo, vì không đúng tông chỉ Tịnh độ thì không
vãng sanh cõi Cực Lạc. Bởi làm phước hưởng phước, làm
ác cũng phải chịu quả ác vậy!
Làm
phước được phát tài mới có tiền đi vượt biên, nhưng
làm ác cho người ta chết đói cũng phải chịu quả chết
đói; chứ không có thiện và ác trừ với nhau được, vì
không ra ngoài chiêm bao; chưa phá được vô thỉ vô minh, phá
vô thỉ vô minh là ra ngoài chiêm bao, không bị chiêm bao trói
buộc.
Câu
hỏi vừa rồi từ nhứt niệm vô minh đến vô thỉ vô minh,
vô thỉ vô minh bị kích thích thì sanh nhứt niệm vô minh,
đó là còn trong luân hồi.
Hỏi:
Trong
Thiền Thất Khai Thị Lục, ngài Lai Quả nói rằng “suốt
ngày nổi vọng tưởng bên này, rồi nổi vọng tưởng bên
kia, vui vẻ, giận hờn, tất cả phiền não vô minh, gieo những
thứ nhân như vậy thì sanh tử có lúc nào dứt không? Niệm
Phật có thể dứt được không?” Ngài trả lời: Ta nói có
thể được, nhưng niệm Phật chỉ có thể thu tất cả niệm,
câu thoại đầu có thể rời tất cả niệm. Kính xin Thiền
sư giảng rõ sự khác biệt giữa niệm Phật và câu thoại
đầu, thế nào là thu tất cả niệm và thế nào rời tất
cả niệm?
Đáp:
Niệm
Phật đến nhứt tâm bất loạn là thu tất cả niệm thành
một niệm, thành một niệm là nhứt niệm vô minh, chưa tới
vô thỉ vô minh; dù đến vô thỉ vô minh, như Uất Đầu Lam
Phất cũng còn đọa xuống làm con chồn bay.
Hỏi
câu thoại đầu khởi lên nghi tình, nghi tình là cây chổi
automatic thì niệm gì cũng quét, cái quét này tự động chứ
không có nổi niệm muốn quét. Tại sao? Vì nghi tình là không
biết, không biết thì nhứt niệm cũng không biết, nhứt niệm
không biết thì đâu có còn niệm gì nữa; tức là quét sạch
cái niệm rồi, luôn cả vô minh không biết thì quét luôn cả
vô minh. Nhưng cuối cùng cũng phải tới vô thỉ vô minh (thoại
đầu), từ thoại đầu (đầu sào trăm thước) tiến lên một
bước là kiến tánh.
Niệm
Phật gom tất niệm thành một niệm, còn tham thiền bất cứ
niệm gì cũng quét, vì nghĩa là vô sở trụ, niệm không cũng
quét, niệm có cũng quét, chẳng có chẳng không cũng quét,
cũng có cũng không cũng quét. Tại không biết làm sao có biết
niệm nào! Có biết là có niệm rồi, không biết thì không
có niệm nào hết; không có năng niệm, không có sở niệm,
không có tất cả đối đãi thì lìa tất cả niệm. Kỳ thật,
niệm Phật và tham câu thoại đầu nghịch với nhau.
Hỏi:
Cầu
siêu cho người chết, nếu người tụng kinh A Di Đà với tấm
lòng thành thì tâm lực mạnh mẽ chuyển tâm thức người
chết được chư Phật tiếp dẫn về cõi Tịnh độ hoặc
đi đầu thai đến cảnh giới an lành. Nếu người chết đã
đi đầu thai ở các cõi khác, nhờ cầu siêu mà hưởng được
nhiều phước báo ở cõi ấy. Như vậy việc cầu siêu, cầu
an, cầu phước có phù hợp với chánh pháp không?
Đáp:
Chuyện
cầu siêu phải nói thân trung ấm, tôi kể thân trung ấm phát
sanh ở Đài Loan: Thường người ta quan niệm người chết
biến thành quỷ, nhưng sự thật không phải vậy.
Chết
rồi tùy theo nghiệp mà đi đầu thai, nếu tạo nghiệp trời
nhiều sanh cõi trời, tạo nghiệp người sanh cõi người, tạo
nghiệp súc sanh sanh cõi súc sanh, tạo nghiệp quỷ sanh cõi
ngạ quỷ, tạo nghiệp địa ngục đọa xuống địa ngục.
Thường thường giờ phút chết là giờ phút sanh, ít có thân
trung ấm; nếu người đó làm thiện và làm ác bằng nhau thì
không sanh thiện đạo hay ác đạo mới có thân trung ấm.
Tại
sao gọi là thân trung ấm? Ấm là ngũ uẩn (thân này), thân
ngũ ấm trước đã chết rồi, thân sau chưa sanh, ở trước
và sau có chính giữa gọi là thân trung ấm, tức là cái trước
đã mất, cái sau chưa sanh, ở giữa trước và sau gọi là
trung, có thân trung ấm. Thân trung ấm bảy ngày thay đổi một
lần, nếu lúc đó tâm của người đó nghiên về thiện một
chút thì sanh về tam thiện đạo, nghiên về ác một chút thì
sanh tam ác đạo.
Có
Ung Bá Huy từ đại lục Trung Quốc sang Đài Loan, lúc đó ông
được 40 tuổi. Đến Đài Loan quy y Pháp sư Nam Đình. Vì muốn
người ta tin luân hồi, nên nói người nghe pháp: Tôi có một
đệ tử biết kiếp trước đầu thai một con heo, bây giờ
ra vô trong chùa mà các vị cũng có thể gặp, nhưng tôi không
thể nói ra tên ông đó.
Những
người nghe pháp không biết ai đầu thai con heo! Có một hôm
trong chùa ăn cơm, có một tay dùng túi bao lại của một ông,
một tay bới cơm khó khăn, người bên cạnh thấy vậy muốn
bới giùm, mà ông không chịu, hai người giựt qua lại làm
túi sút ra, người bên cạnh thấy giò heo, khúc trên là tay
người, khúc dưới là chân trước con heo. Ông ấy nhanh tay
bao túi lại và nói với người bên cạnh không được nói.
Đến
chừng người ta đi hết, đến một chỗ vắng, người bên
cạnh hỏi: Có phải Pháp sư Nam Đình nói người đầu thai
con heo là ông phải không?
Ung
Bá Huy không chịu nói.
Người
ấy nói: nếu ông không nói mà tôi cũng biết vậy! Nói cho
tôi biết thì không nói với người khác.
Ung
Bá Huy kể:
“Tôi
biết hai kiếp trước, kiếp đầu tiên tôi dạy học ở thôn
quê, lúc tôi chết nhưng không biết chết, đi lang thang ngoài
đường thấy trong thân nhẹ nhàng (lúc đó là thân trung ấm,
nhưng ông không biết). Một ngày đó đi ngang nhà lớn gặp
gió bấc thổi lạnh quá, chịu không nổi thấy trong nhà mở
cửa mà không có ai, nên tôi vô trong nhà để tránh gió bấc.
Nhưng ở trong nhà cũng còn lạnh, thấy trên vách tường treo
mười mấy áo lớn, lạnh quá chịu không nổi nên phải lấy
một cái áo mặt vô thấy ấm, ngủ hồi nào không hay, khi
thức dậy thấy bên cạnh mình có con heo mẹ và các con heo
nhỏ. Lúc ấy biết mình đã thành con heo nhỏ, nghĩ trong bụng
nếu heo lớn lên thì người ta làm thịt, bây giờ phải làm
sao? Tính tự tử nên không ăn. Người chủ tưởng là bệnh,
rồi đem thuốc trộn với sữa cho ăn nhưng heo không chịu.
Qua
7 ngày heo chết thì khôi phục thân trung ấm, thân trung ấm
cũng đi lang thang ngoài đường, gặp gió bấc lạnh, đi ngang
nhà đó và vô trong nhà cũng thấy mười mấy cái áo lớn,
tay muốn lấy một cái áo để mặc, tay vừa đụng áo thì
rút tay lại và nói “kỳ trước lấy áo đã đầu thai thành
con heo, sao bây giờ còn lấy! Chẳng thà bị lạnh chết”,
lạnh đến chịu không nổi rồi bị chết giấc. Đến chừng
tỉnh lại nghe người ta nói là sanh con trai (Ung Bá Huy). Cái
tay đụng vô cái áo thành chân heo. Mẹ tôi may túi vải bao
tay lại lúc tôi còn nhỏ để không cho người ta biết”.
Ung
Bá Huy sống được 62 tuổi, bệnh rồi chết tại bệnh viện
Diêm Vương, Đài Bắc. Sau khi ông chết, người hỏi ông mới
viết sự thật ra đăng lên Phật San, tôi coi mới biết. Ăn
cắp là ác nên phải đầu thai con heo, không ăn cắp là thiện
nên sanh con người. Tùy theo tạo nghiệp gì thì sanh cõi đó.
Cầu
siêu phải làm ảnh hưởng người chết, để tâm lực người
đó sửa lại mới được. Cho nên, người chết, cha mẹ hay
anh em người đó sát sanh để cúng làm ảnh hưởng người
chết nổi lên ác niệm, nên người chết có hại chứ không
có lợi ích. Nếu có người chết thì cả gia đình ăn chay,
biết tham thiền nên trước linh cửu tham thiền, biết niệm
Phật thì trước linh cửu niệm Phật, người chết được
ảnh hưởng tốt sanh vào ba đường thiện.