|
.
HOÀ THƯỢNG
DUY LỰC
KHAI THỊ BAN
ĐẦU TẠI HOA KỲ
Xuất
Bản tại Saigon, Việt Nam 2004
 |
 |
01
-Lời
khai thị I
-Thoát
Thập Nhị Nhân Duyên
-Thân
xác bay trên đất
-Phiền
não tức Bồ đề
-Qua
3 quan ải
-Cách
thực hành tham thiền
-Thiền
thoại đầu có thời nào
-Tọa
thiền ngồi cách nào
-Thức
tỉnh mở mắt chiêm bao
-Không
biết có ích lợi gì
-Phương
pháp được tự tại
-Quán
nhất niệm hay vô niệm
-Nghe
nổ một tiếng “trắc
-Lòng
tin – Tánh không
-Ngồi
thiền và gặp thầy
-Cảnh
tương lai hiện giờ ở đâu
-Tham
thiền cần ăn chay không
-Qua
Mỹ khi Ngài hiểu thiền
-Thoại
đầu và Tịnh độ kết hợp
-Xuất
hồn bay trên đất
-Thầy
mở một đường đi
Lời
khai thị I:
Tôi
chuyên tu Tổ sư thiền và chuyên hoằng Tổ sư thiền. Hôm
nay, giảng về đề tài “Phương Pháp Tự Ngộ Của Thiền
Tông”. Thiền tông khác hơn các thiền khác, do đức Phật
Thích Ca đích thân truyền, là pháp thiền trực tiếp không
qua văn tự lời nói. Các thiền nói trong kinh điển đều qua
văn tự lời nói, gọi là pháp thiền gián tiếp.
Pháp
thiền trực tiếp do đức Phật Thích Ca đích thân truyền
cho Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Diếp truyền cho A Nan, A Nan truyền
cho Thương Na Hòa Tu, từ Tổ từ Tổ truyền xuống Bồ Đề
Đạt Ma là thứ 28. Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Quốc làm sơ
tổ, truyền cho nhị tổ Huệ Khả, Huệ Khả truyền cho tam
tổ Tăng Xán, Tăng Xán truyền cho tứ tổ Đạo Tín, Đạo
Tín truyền cho ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Hoằng Nhẫn truyền cho
lục tổ Huệ Năng.
Tổ
Huệ Năng danh tiếng truyền khắp Trung Quốc, tính từ Ấn
Độ đến Trung Quốc thì Huệ Năng là Tổ thứ 33. Trước
kia mỗi Tổ kiến tánh chỉ truyền năm bảy người, đến
Lục Tổ có 43 người kiến tánh, cháu của Lục Tổ là Mã
Tổ có 139 người kiến tánh. Cho nên, Thiền tông gọi là Tổ
sư thiền với 4 chữ “từ nghi đến ngộ”.
Nghi
là nhân, ngộ là quả; có nghi mới có ngộ, nên nói bất nghi
bất ngộ; nghi nhỏ ngộ nhỏ, nên nói tiểu nghi tiểu ngộ;
nghi lớn ngộ lớn, nên nói đại nghi đại ngộ. Muốn ngộ
phải có nghi, nếu không có nghi thì không được ngộ; không
những pháp xuất thế gian có nghi có ngộ, mà pháp thế gian
cũng vậy.
Như
nhà khoa học Newton thấy trái bôm từ trên cây rớt xuống
đất, ông nghi tại sao không rơi trên trời? Từ đó, ông nghiên
cứu phát minh được hấp dẫn lực của vạn hữu. Phát minh
của nhà khoa học cũng do nghi mới ngộ, nhưng cái nghi của
nhà khoa học gọi là hồ nghi. Cái nghi của Thiền tông gọi
là chánh nghi.
Tại
sao gọi là hồ nghi? Hồ nghi phải qua bộ óc nghiên cứu tìm
hiểu được ngộ. Còn chánh nghi không qua bộ óc nghiên cứu
tìm hiểu mà giữ nghi tình, cuối cùng nghi tình bùng vỡ thì
ngộ. Vì vậy, gọi là phương pháp tự ngộ.
Tại
sao nói là phương pháp tự ngộ? Tự ngộ giống như thức
tỉnh chiêm bao. Chiêm bao có hai thứ: mở mắt chiêm bao và
nhắm mắt chiêm bao. Nhắm mắt chiêm bao là một thức thứ
6 biến hiện (độc đầu ý thức biến hiện). Mở mắt chiêm
bao do hai thức đồng thời biến hiện. Nói chung là “nhất
thiết duy tâm tạo”.
Tại
sao gọi là nhắm mắt chiêm bao? Nhắm mắt chiêm bao mà quý
vị đều có kinh nghiệm, ban đêm ngủ trên giường, chiêm
bao thấy thân chiêm bao tiếp xúc thế giới chiêm bao. Như tiếp
xúc cái tách, cái bàn… đều có thật chất, tiếp xúc cái
gì đều có thật chất cái nấy, tiếp xúc nóng lạnh biết
nóng lạnh, thân chiêm bao bị đánh cũng biết đau.
Giả
sử trong chiêm bao có một vị thiện tri thức giải thích cái
tách, cái bàn… đều không thật, luôn cả thân chiêm bao của
ông cũng không thật. Người chiêm bao không thể tin. Tại sao?
Người chiêm bao nói “tôi tiếp xúc cái nào cũng thật chất,
nếu nói thân tôi không thật, vì sao người ta đánh tôi biết
đau?” Nhưng khi thức dậy, tự mình chứng tỏ, hồi nảy
những cái thật đó bây giờ ở đâu! Tìm không ra, luôn cả
thân chiêm bao cũng không tìm được.
Đang
chiêm bao, đồ vật trong phòng không thấy, lại thấy xa, thấy
bên Tây, Việt Nam… Vì 5 thức trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân) ngưng nghỉ hoạt động, 5 thức trước là đối với
tiền trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc). Ý căn (thức thứ
6) biết xa, biết quá khứ, biết vị lai; nên biến hiện nhắm
mắt chiêm bao.
Tôi
đang giảng, các vị đang nghe là ở trong mở mắt chiêm bao.
Mở mắt chiêm bao gọi là đồng thời ý thức biến hiện.
Tại sao gọi là đồng thời ý thức biến hiện? Vì 5 thức
trước đang hoạt động, như nhĩ thức nghe được tiếng,
nhưng không biết tiếng gì, tiếng người, tiếng chim, tiếng
đàn bà, tiếng đàn ông… đều không biết; phải có thức
thứ 6 đồng thời nổi lên, mới phân biệt được tiếng
đàn ông, tiếng đàn bà, tiếng chim…Nếu chỉ có thức thứ
6 thì không nghe được tiếng, lấy cái gì để phân biệt?
Cho nên phải có nhĩ thức nghe tiếng, rồi thức thứ 6 phân
biệt. Hai cái thức đồng thời nổi lên biến hiện mở mắt
chiêm bao.
Nhưng
nhắm mắt chiêm bao, mình ngủ đã rồi tự thức dậy; còn
mở mắt chiêm bao không bao giờ thức tỉnh, phải trải qua
tu đúng lời dạy của Phật Thích Ca (pháp thiền trực tiếp
là Tổ sư thiền), sau này tự thức tỉnh gọi là kiến tánh
thành Phật.
Chưa
thức tỉnh tiếp xúc cái gì cũng thấy thật chất, như nhắm
mắt chiêm bao vậy. Dẫu cho Phật Thích Ca giải thích cái này
cái kia đều không thật, chúng ta không thể tin. Như Phật
nói trong Bát Nhã Tâm Kinh “vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân,
ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”. Cái nào cũng không
có, nhưng tuyệt đối không phải không có. Chữ vô là không
thật, có mà không thật. Lục căn, lục trần, lục thức đều
chẳng thật; cho đến Tứ Diệu Đế (khổ, tập, diệt, đạo)
của Phật dạy chẳng thật, Thập Nhị Nhân Duyên (từ vô
minh đến lão tử) dùng chữ vô quét sạch là không thật,
trí huệ Bồ tát cũng vô (vô trí diệc vô đắc); tức theo
bộ óc nhận thức đều phải tẩy sạch.
Cái
biết chân thật của Phật tánh, gọi là chánh biến tri. Tại
sao gọi là chánh biến tri? Chánh là đúng với thực tế, biến
là phổ biến khắp không gian thời gian, tri là biết. Cái biết
của bộ não biết được chỗ này lại không biết chỗ kia,
nên không cùng khắp không gian thời gian. Biết cùng khắp không
gian không có khứ lai, gọi là Như lai; biết cùng khắp thời
gian không có gián đoạn, không có sanh diệt nên gọi là Niết
bàn.
Tại
sao Thiền tông phải tự ngộ? Phật Thích Ca đã ngộ nói cho
biết được thì mình khỏi tu. Vì cái này không thể nói,
tự mình phải tự ngộ. Như ở trong chiêm bao tự thức tỉnh,
tất cả khổ trong chiêm bao tự dứt, đạt đến tự do tự
tại.
Sơ
lược phương pháp tự ngộ, cơ bản có 2 yếu tố: tin tự
tâm và phát nghi tình.
Thế
nào là tin tự tâm? Mình phải tin tự tâm như lời Phật Thích
Ca nói “Phật tánh bình đẳng bất nhị”, Phật tánh của
mình và Phật tánh của Phật Thích Ca bằng nhau, không khác.
Cho nên, tất cả thần thông trí huệ của Phật tánh mình
bằng với Phật Thích Ca, không kém hơn một chút nào. Nếu
kém hơn một chút thì có cao thấp là không bình đẳng. Có
cao thấp là nhị, trái với lời Phật Thích Ca. Vì vậy, mình
phải tin tự tâm đầy đủ, mới phát huy hết tự tâm. Nếu
không tin làm sao phát huy hết tự tâm, phát hiện tự tâm gọi
là tự ngộ.
Muốn
phát hiện tự tâm phải làm sao? Yếu tố thứ nhì là khởi
nghi tình. Tại sao gọi là nghi tình? Nghi là không hiểu không
biết, một việc gì đã hiểu đã biết thì hết nghi, hết
nghi không phải tham thiền. Tham thiền rất chú trọng cái nghi,
Thiền tông gọi là nghi tình. Cho nên, tham là nghi, nói một
cách khác là dùng cái không biết của bộ óc, để chấm dứt
tất cả biết của bộ óc.
Muốn
phát khởi nghi tình, phải hỏi câu thoại đầu. Như “khi
chưa có trời đất ta là cái gì?” Bây giờ có trời đất
có ta ở đây, khi chưa có trời đất ta là cái gì? Không biết,
không biết là nghi tình. Thiền tông chỉ giữ cái không biết
của bộ óc để chấm dứt tất cả biết của bộ óc, đến
chừng cái biết của bộ óc chấm dứt hết, cuối cùng cái
không biết của bộ óc bùng vỡ thì cái không biết của bộ
óc cũng tan rã, biết và không biết đều sạch hết thì cái
biết Phật tánh hiện lên, gọi là kiến tánh thành Phật.
Cái
biết của bộ óc là tướng bệnh, nên không cùng khắp, biết
chỗ này không biết chỗ kia. Cái biết Phật tánh cùng khắp
không gian thời gian. Cái biết bộ óc ngủ mê không biết,
chết giấc không biết, chết rồi không biết. Cái biết Phật
tánh thì ngủ mê vẫn biết, chết giấc cũng biết, chết rồi
cũng biết.
Nếu
chết rồi không biết thì không cùng khắp thời gian, cùng
khắp thời gian nên lúc nào vẫn biết. Cùng khắp không gian
cũng vậy, như kinh Phật nói “ở ngoài hằng sa thế giới,
có một giọt mưa cũng biết; vô lượng chúng sanh có một
chúng sanh nổi lên một niệm cũng biết”. Nếu không biết
là thiếu sót, không phải cùng khắp không gian.
Phương
pháp tự ngộ Thiền tông rất giản dị, rất dễ. Trong lịch
sử Thiền tông có “con nít sáu bảy tuổi và bà già tám
chín chục tuổi đều tham thiền được”. Vì muốn biết
rất khó, còn không biết rất dễ, người nào cũng làm được;
chỉ giữ cái không biết là hỏi câu thoại đầu.
Nếu
giữ cái không biết được một phút thì một phút không phiền
não, giữ được một tiếng thì một tiếng không phiền não…
Tại sao? Vì Bộ óc không biết, làm sao có phiền não để
cho mình biết! không biết phiền não tự nhiên không có phiền
não.
Nhưng
lúc thực hành phải hỏi khít khít, vừa hỏi dứt hỏi nữa;
nếu hỏi rồi một hồi hỏi nữa thì có kẻ hở, phiền não
ở nơi kẻ hở nổi lên. Vọng tưởng nổi lên không được
thì tâm mình được thanh tịnh. Tâm thanh tịnh hiện ra cái
dụng, cái dụng là do cái tâm.
Người
đời coi “không môn” là tiêu cực, cho rằng tu sĩ chán đời
đi xuất gia. Sự thật, chữ không của Phật pháp rất tích
cực hiển bày cái dụng. Nếu không có không thì không có
dụng. Cho nên, ngài Long Thọ nói “vì có nghĩa không nên được
thành tựu tất cả pháp”.
Như
cái tách lấp bít, không có khoảng trống thì không để đựng
nước, sữa… vì có cái không mới dùng được. Cái bàn không
có cái không chẳng thể để đồ, cái ghế không có cái không
chẳng thể ngồi… Muốn dùng phải có cái không, không rộng
chừng nào thì cái dụng nhiều chừng nấy.
Tin
tự tâm cùng khắp không gian thời gian, không gian thời gian
mênh mông, làm sao chứng tỏ cùng khắp. Tâm mình không có
hình tướng, không có âm thanh, làm sao cho mình biết cùng khắp?
Tôi mượn ánh sáng đèn thí dụ cho quý vị hiểu được cùng
khắp không gian thời gian. Ánh sáng đèn ở đây có một hai,
ba, bốn… mỗi cây đèn có ánh sáng đều cùng khắp không
gian (người học khoa học cũng biết ánh sáng cùng khắp không
gian).
Bây
giờ, chỉ nói ánh sáng cùng khắp hội trường này. Nếu đã
cùng khắp thì sự tương đối không có (Đại Thừa Tuyệt
Đối Luận nói là tuyệt đối). Nguồn gốc của tương đối
là có và không có, tất cả phát sanh tai họa do có ngã chấp,
ta muốn hơn người, ta muốn hưởng nhiều hơn người, cái
gì cũng muốn hơn người, nên tranh giành với nhau, xẩy ra
xung đột đổ máu.
Phát
hiện được bản thể cùng khắp không gian thời gian thì sự
tương đối không còn. Như ánh sáng đèn nào cũng cùng khắp,
có ngã và vô ngã không thể thành lập. Tại sao? Thay cho đèn
số 1 là ta (ngã), nếu có ngã thì quý vị chỉ ra ánh sáng
nào thuộc về cây đèn số 1 của ta? Vì ánh sáng cùng khắp
nên chỉ không ra, vậy ngã không thể thành lập. Nói vô ngã
thì chỉ chỗ nào không có ánh sáng đèn số 1 của ta? Cũng
chỉ không ra, vì đã cùng khắp.
Hiện
nay, có một hai trăm người là một hai trăm Phật tánh, một
hai trăm cái đều cùng khắp như ánh sáng đèn vậy, khi cùng
khắp thì không có chỗ để chỉ. Cái biết của Phật tánh
là chánh biến tri cùng khắp không gian thời gian, không có
hình tướng để nhận biết. Cái biết của bộ óc không cùng
khắp không gian thời gian.
Tôi
lấy cơ thể này mà quý vị thấy trước mắt, có thể nhận
biết được. Cái biết của lớp da là cảm giác của lớp
da. Cảm giác lớp da của cơ thể có cùng khắp cơ thể không?
Cảm giác lớp da có phải là biết không? Nếu cảm giác lớp
da là biết cùng khắp cơ thể này thì không có chỗ búng.
Tại sao? Nếu có chỗ búng, vậy búng tay tay biết, búng đầu
đầu biết, những chỗ không búng không biết. Những chỗ
không búng mà không biết, làm sao gọi là cùng khắp! Đây
thuộc về không gian.
Cùng
khắp thời gian thì không có lúc búng. Nếu lúc búng mới biết,
không búng không biết không được gọi là cùng khắp thời
gian. Do nhận thức của bộ óc sai lầm cho là chỗ búng mới
có cảm giác, chỗ không búng thì không có cảm giác. Kỳ thật,
chỗ búng có cảm giác, chỗ không búng cũng có cảm giác;
luôn luôn ngày đêm có cảm giác, búng hay không búng cũng có
cảm giác khắp không gian của cơ thể.
Nhưng
bộ óc có thói quen cho là chỗ búng mới biết, chỗ không
búng không biết; lúc búng mới biết, lúc không búng không
biết. Đó là do bộ óc nhận thức sai lầm. Cái biết của
Phật tánh cũng vậy, luôn luôn cùng khắp, không có lúc nào
không biết, không có chỗ nào không biết.
Quý
vị muốn thực hành phương pháp tự ngộ của Thiền tông,
phải tin tự tâm cùng khắp không gian thời gian, tất cả thần
thông trí huệ năng lực sẵn sàng, không kém hơn Phật Thích
Ca một chút nào. Nhưng Phật Thích Ca dùng ra cùng tột khắp
không gian thời gian, vì không có cái gì làm chướng ngại.
Còn của mình mặc dù có sẵn đầy đủ, nhưng có cái không
thể dùng ra; vì bị tham sân si, phiền não nhét đầy; không
còn chỗ trống để hiện ra cái dụng.
Tham
Tổ sư thiền là hỏi câu thoại đầu khởi lên nghi tình (không
biết), là cây chổi tự động quét trống tất cả; mình khỏi
cần khởi niệm muốn quét. Quét trống bao nhiêu có sức dụng
hiện bấy nhiêu.
Như
Trương Quốc Anh là túc cầu viên làm thủ môn, lúc khởi nghi
tình thì bộ óc không biết, không thấy trái banh mà chụp
được trái banh, nên không có trái nào lọt vào cửa.
Cô
Hằng Thiền thợ may, vừa cắt vải vừa tham thiền khởi nghi
tình mà không cắt lộn; người em hỏi mấy phân mấy tấc,
cô trả lời không biết. Vô lý! Không biết làm sao cắt? Sự
thật, bộ óc không biết nhưng không cắt lộn.
Chứng
tỏ cái biết của Phật tánh hiện ra dùng, không qua bộ óc
mà hoàn thành công việc của bộ óc. Như Ở Việt Nam có Phật
tử đang tham thiền mà dạy anh văn, tự mình giảng bài không
biết giảng cái gì; nhưng học trò nghe giảng rất hay, không
có giảng lộn.
Vì
vậy, Phật Thích Ca đích thân truyền pháp môn này, gọi là
pháp thiền trực tiếp, rất giản dị, dễ thực hành, thấy
mau có kết quả, cuối cùng được tự do tự tại, giải thoát
tất cả khổ. Bây giờ, mình không được tự do tự tại,
vì không biết mình là gì? Tham thiền đến giác ngộ, biết
mình là gì thì làm chủ được mình, nên tự do tự tại.
Ông
Newton phát minh lực hấp dẫn, chỉ có giá trị ở thế gian;
nhưng không phát minh chính mình, nên không tự chủ được,
không giải thoát tất cả khổ. Thiền tông phát minh được
chính mình, làm chủ cho mình thì tự do tự tại, giải thoát
tất cả khổ.
Hỏi:
Làm
sao thoát khỏi Thập Nhị Nhân Duyên?
Đáp:
Thập
Nhị Nhân Duyên ở trong bốn thừa, thuộc Trung thừa, thừa
này còn ở trong giai đoạn không chấp. Nếu tham Tổ sư thiền
được một thời gian ngắn vượt qua Thập Nhị Nhân Duyên.
Thập Nhị Nhân Duyên gồm có 2 thứ: Độc giác và Duyên giác.
Độc
giác là ở trong thời kỳ không có Phật, tự mình quán hiện
tượng vũ trụ đều xoay chuyển trong 12 nhân duyên từ vô
minh đến lão tử. Phật nói trong Bát Nhã Tâm Kinh “vô vô
minh, diệc vô vô minh tận; vô lão tử, diệc vô lão tử tận”.
Vốn không có vô minh làm sao có vô minh hết! Có vô minh là
chúng sanh, vô minh hết là thành Phật. Phật nói rõ ràng không
có vô minh, cũng không có vô minh hết; không có lão tử, cũng
không có lão tử hết. Có lão tử là sanh tử luân hồi, hết
sanh tử luân hồi gọi là Niết bàn.
Nhưng
sự thật, vốn không có vô minh, không có lão tử thì lấy
cái gì để hết! Phương tiện của Phật đối với những
người không tin Đại thừa, nên bất đắc dĩ giảng Tứ Diệu
Đế và Thập Nhị Nhân Duyên. Nếu tham Tổ sư thiền là vượt
qua Thanh văn, Duyên giác, vì bước đầu tiên là nhìn chỗ
thoại đầu. Tại sao gọi là thoại đầu? Thoại là một lời
nói, đầu là trước khi chưa khởi niệm muốn nói câu thoại,
gọi là thoại đầu; tức là trước khi một niệm chưa sanh
là thoại đầu.
Khi
một niệm chưa sanh, ở trong Phật pháp gọi là vô thỉ vô
minh. Tham thiền là nhìn ngay vô thỉ vô minh, vô minh là không
sáng (đen tối), nhìn chỗ mịt mù đen tối, rồi đề lên
câu thoại đầu. Như hỏi “khi chưa có trời đất ta là cái
gì?” để kích thích niệm không hiểu không biết (nghi tình).
Hỏi:
Có
bao nhiêu loại thiền? Có người ngồi thiền, thân xác bay
bổng trên mặt đất, việc ấy ra sao? Làm sao để biết tu
có kết quả?
Đáp:
Tổ
sư thiền khác hơn tất cả thiền, gọi là pháp thiền trực
tiếp. Còn các thiền kia phải qua văn tự lời nói và thường
ngồi. Tổ sư thiền không qua văn tự lời nói, như Phật Thích
Ca truyền cho sơ tổ Ma Ha Ca Diếp, chỉ đưa lên một cành
hoa không nói, rồi Ma Ha Ca Diếp ngộ cũng không nói, chỉ mỉn
cười.
Pháp
thiền gián tiếp rất nhiều, người ta thường nói là ngồi
thiền; Tổ sư thiền không cần ngồi, đi đứng năm ngồi,
làm việc bằng tay chân hay làm việc bằng trí óc đều tham
thiền được, cho đến ăn cơm, đi cầu, ngủ mê vẫn tham.
Như
Trương Quốc Anh đang đá banh vẫn tham, cô thợ may đang cắt
vải cũng tham, bác sĩ Thuận đang lái xe vẫn tham, từ Rạch
Giá đến Sài Gòn, không để ý xe nhưng không bị đụng xe.
Tôi biết có 2 tài xế lái xe khách Sài Gòn - Chợ Lớn chở
mười mấy người, khởi lên nghi tình không để ý xe, nhưng
không bao giờ đụng xe. Trước kia chưa tham thiền thường
bị bị cảnh sát thổi phạt, sau này tham thiền không những
không đụng xe, mà không bị thổi phạt.
Hỏi:
Thế
nào phiền não tức Bồ đề?
Đáp:
Tự
tánh bình đẳng bất nhị, Phật tánh của mình cùng khắp
không gian thời gian; ngoài không gian không có không gian, ngoài
thời gian không có thời gian. Nói bất nhị không phải là
một, nếu có một thì phải có hai, có ba cho đến muôn
ngàn. Phiền não do bộ óc nhận thức rồi biết thành có phiền
não. Nếu tham thiền có nghi tình thì bộ óc không biết nên
không có phiền não, Bồ đề cũng không biết thì không có
Bồ đề. Vậy phiền não và Bồ đề không khác.
Do
bộ óc nhận biết phân biệt thành ra khác, giữ được nghi
tình thì phiền não tức Bồ đề, Bồ đề là phiền não.
Vì không biết nên không còn phân biệt, không có tương đối;
như ánh sáng của đèn vậy. Ánh sáng cùng khắp, không còn
tương đối; Bồ đề, sanh tử, Niết bàn, có và không… đều
là tương đối. Cho nên, nói phiền não tức Bồ đề.
Hỏi:
Trên
đường muốn chứng ngộ thiền, hành giả phải vựợt qua
3 trở ngại là 3 quan ải: Đối thiện quan, Sơn hải quan và
Nhạn môn quan. Xin Thiền sư cho biết có phải đúng như vậy
hay không? Nếu đúng, nói như thế có nghĩa gì? Về lý, tại
sao đặt ra những cái tên gọi như vậy? Về sự, khi vượt
chướng ngại thì món chứng cảnh là những món gì, mà cho
là ngộ thiền hay là chứng thiền?
Đáp:
Ba
danh từ đó là những người không biết Tổ sư thiền mà
nói, chứ không phải Tổ sư thiền. Ba cửa ải của Tổ sư
thiền là Sơ quan, Trùng quan, Mạt hậu lao quan. Trong Thiền
Thất Khai Thị Lục của ngài Lai Quả có nói 3 quan ải này.
Tham câu thoại đầu đến nghi tình bùng vỡ được phá Sơ
quan, cũng gọi là phá bổn tham; rồi tiến lên một bực nữa
là phá Trùng quan, tiến lên một bực nữa là phá Mạc hậu
lao quan.
Đó
là tùy theo mỗi người mỗi khác, có người ngộ một cái
là thấu 3 cửa; tức là thấu qua Mạc hậu lao quan. Có người
chia làm 3 lần, Sơ quan, Trùng quan rồi Mạc hậu lao quan. Có
người thấu trước 2 quan rồi thấu 1 cái, có người thấu
trước 1 cái rồi sau thấu thêm 2 cái, mỗi người mỗi khác.
Nói
đến chỗ này phải nói đại ngộ và tiểu ngộ. Ví dụ cây
viết, đầu trên cây viết là thoại đầu, đầu dưới cây
viết là thoại vỉ. Bắt đầu tham là rời thoại vỉ nhưng
chưa đến thoại đầu, ở giữa đường, đường này là đường
đi ý thức. Một ngày kia đến thoại đầu, câu thoại tự
mất, chỉ còn có nghi tình, đến chỗ này là đường đi ý
thức đã hết, ở trước thanh thanh tịnh tịnh, không còn
cái gì, chỗ này gọi là vô thỉ vô minh, cũng là nguồn gốc
của ý thức, Thiền tông gọi là đầu sào trăm thước.
Chỗ
này còn dính líu ý thức, nhưng ngộ thì lìa ý thức. Lúc
sát na lìa ý thức là kiến tánh, ngài Lai Quả nói “lìa ý
thức là lọt vào hư không té xuống cho chết, rồi sống lại”,
Thiền tông gọi là “tuyệt hậu tái tô”.
Chết
có 2 thứ: tiểu tử tiểu hoạt và đại tử đại hoạt.
Tại
sao gọi là tiểu tử tiểu hoạt? Tức là tiểu ngộ chỉ phá
Sơ quan hay Trùng quan, té mặc dù chết nhưng còn xác, rồi
sống gọi là tiểu tử tiểu hoạt. Đại tử đại hoạt là
té xuống chết, cái xác tan rã hết.
Cái
xác không phải cái xác thật là để thí dụ cảnh giới ngộ,
nhưng ngộ rồi còn ôm cảnh giới ngộ, nên chướng ngại
cái dụng, gọi là tiểu tử tiểu hoạt. Đại tử đại hoạt
là ngộ triệt để không còn cảnh giới ngộ. Cho nên, nói
ngộ rồi đồng như chưa ngộ.
Vì
có ngộ phải có mê, đã triệt ngộ là hết mê thì hết ngộ;
nếu còn ngộ tức còn mê, còn tương đối. Đại ngộ không
còn ngộ là không trụ nơi Niết bàn, vì có sanh tử nên có
Niết bàn.
Đến
chỗ cứu kính, Niết bàn cũng không còn. Trụ nơi Niết bàn,
kinh Kim Cang gọi là thọ giả tướng, kinh Viên Giác gọi là
thọ mạng tướng, trong Thiền tông gọi là mạng căn chưa
dứt (mạng căn còn ở trong thời gian). Người triệt ngộ
được vô sở trụ hiển bày cái dụng.
Cái
tay dụ cho Phật tánh của mình là hoạt bát vạn năng, muốn
lấy cái tách, mặt kiến… đều được. Nếu tay có sở trụ,
như trụ mặt kiến thì hoạt bát vạn năng bị mất, lấy
cái tách, cái bóp… đều không được. Tay buông mặt kiến
để khôi phục hoạt bát vạn năng lại, lấy cái gì cũng
được.
Cái
này là pháp có, nhưng lại trụ nơi không, trong tay không có
cái gì, cũng là đánh mất hoạt bát vạn năng của tay, nên
muốn lấy cái gì không được. Cho nên, cái không cũng phải
quét, mới khôi phục hoạt bát vạn năng trở lại.
Không
trụ chỗ nào thì dùng ra cái hoạt bát vạn năng của tự
tánh, nếu có sở trụ thì cái hoạt bát vạn năng tự tánh
bị mất. Vì vậy, Pháp Bảo Đàn nói “lấy vô trụ làm gốc”,
Vô trụ là bản thể của Phật tánh cùng khắp không gian thời
gian, dụng cũng cùng khắp không gian thời gian. Nếu có sở
trụ nên bị chướng ngại, ngộ rồi còn trụ nơi ngộ bị
cái ngộ làm chướng ngại, gọi là tiểu tử tiểu hoạt.
Hỏi:
Thiền
sư nói phương pháp tự ngộ của Thiền tông rất dễ thực
hành, xin Thiền sư cho biết muốn thực hành mỗi ngày phải
làm thế nào?
Đáp:
Cách
thực hành tham thiền rất giản dị, chỉ tối ngày sáng đêm
tự hỏi câu thoại đầu, hỏi chứ không phải niệm. Như
hỏi “khi chưa có trời đất ta là cái gì?” Cảm thấy không
biết, gọi là nghi tình. Không biết này khác hơn không biết
của người ngủ mê, người bệnh tâm thần, người chết
giấc.
Những
cái không biết kia không phải nghi tình. Không biết phối hợp
với tánh ham biết của mình, tánh con người tự nhiên ham
biết; hỏi câu thoại đầu cảm thấy không biết, mà không
biết đụng chạm với tánh ham biết thành nghi tình; cho nên
khác hơn không biết kia.
Không
biết của ngủ mê, chết giấc, bệnh tâm thần đều không
phải không biết của tham thiền. Đi cầu, tắm rửa, ăn cơm,
ngủ mê, làm công việc bằng tay chân hay trí óc đều hỏi
câu thoại. Rất khó là tính sổ, ở Việt Nam có một Phật
tử tính sổ vẫn tham được, không lộn số.
Tính
sổ không có nguy hiểm, lái xe nguy hiểm, bác sĩ Thuận lái
xe mà tham thiền không bao giờ đụng xe. Không phải mới tham
mà làm được, phải tập qua một thời gian đến chừng nghi
tình liên tục thật không biết, tự nhiên lái xe không đụng
xe.
Hỏi:
Thiền
thoại đầu do Trung Hoa sáng lập hay đã có từ thời đức
Phật ở Ấn Độ?
Đáp:
Phật
ở Ấn Độ truyền từ nghi đến ngộ, cái nghi đó không phải
tham thoại đầu mới có nghi. Trước đời nhà Tống ở Trung
Quốc không có tham công án, tham thoại đầu. Chư Tổ dùng
cơ xảo đặc biệt để cho người tham thiền phát khởi nghi
tình. Phật giáo Việt Nam đều là dòng Lâm Tế, tổ Lâm Tế
tên là Thiền sư Nghĩa Huyền.
Ban
đầu Ngài ở trong hội Hoàng Bá, Hoàng Bá là thầy truyền
pháp của Lâm Tế. Ở đó 3 năm chuyên tham thiền không hỏi
pháp, có một ngày Ngài gặp Thủ tọa Mộc Châu. Mộc Châu
biết Lâm Tế sau này là một pháp khí lớn, nên ngày thường
Mộc Châu đối với Lâm Tế rất tốt, Lâm Tế lấy làm cảm
kích.
Mộc
Châu hỏi: đến đây bao lâu rồi?
Lâm
Tế đáp: được 3 năm.
Mộc
Châu hỏi: có đi hỏi Phật pháp với Hòa thượng Hoàng Bá
không?
Lâm
Tế đáp: không có.
Mộc
Châu hỏi: tại sao không đi hỏi?
Lâm
Tế đáp: không biết hỏi gì.
Mộc
châu nói: hỏi “thế nào là đại ý của Phật pháp?”
Lâm
Tế nghe lời đi hỏi: thế nào là đại ý của Phật pháp?
Câu
hỏi vừa dứt, Hoàng Bá đánh đập đuổi ra.
Lúc
bị đánh đập đuổi ra là phát khởi nghi tình, nhưng tự
mình không biết. Trong tâm cứ nghi tại sao tôi hỏi Phật pháp
có lỗi gì, mà đánh đập đuổi ra?
Hôm
sau gặp Mộc Châu, Mộc Châu hỏi: có đi hỏi không?
Lâm
Tế đáp: có.
Mộc
Châu hỏi: tại sao vậy?
Lâm
Tế đáp: tôi vừa hỏi thì bị đánh đập đuổi ra, không
biết tại sao?
Mộc
Châu nói: nên đi hỏi lần nữa.
Lâm
Tế nói: bị đánh đập đuổi ra, còn đi hỏi gì nữa!
Mộc
Châu nói: kỳ này lại khác.
Lâm
Tế hỏi: thế nào là đại ý của Phật pháp?
Câu
hỏi vừa dứt thì Hoàng Bá đánh đập đuổi ra, nghi tình
tăng thêm nhưng tự mình không biết.
Hôm
sau nữa gặp Mộc Châu hỏi: có đi hỏi không?
Lâm
Tế đáp: có.
Mộc
Châu hỏi: thế nào?
Lâm
Tế đáp: kỳ này giống như kỳ trước là bị đánh đập
đuổi ra, cũng không biết tại sao?
Mộc
Châu nói: hãy hỏi lần nữa!
Lâm
Tế nói: thôi, còn hỏi gì nữa, đã hai lần bị đánh đập
đuổi ra.
Mộc
Châu nói: làm cái gì phải ba lần mới được, kỳ này chắc
là đặc biệt.
Lâm
Tế hỏi: thế nào là đại ý Phật pháp?
Câu
hỏi vừa dứt, Hoàng Bá giận dữ đánh mạnh đuổi ra.
Lâm
Tế không đợi gặp Mộc Châu, mà tự mình đến gặp Mộc
Châu để từ giả “tôi không muốn ở đây nữa”, lúc đó
nghi tình muốn bùng vỡ.
Mộc
Châu đã biết và nói: muốn đi cũng được, nhưng phải từ
giả Hòa thượng.
Lâm
Tế đến Hoàng Bá từ giả ra đi.
Hoàng
Bá nói: muốn đi đâu?
Lâm
Tế đáp: chưa biết.
Hoàng
Bá nói: khỏi cần đi chỗ khác, tôi chỉ cho: đến Cao An Thăng
là chỗ ở Thiền sư Đại Ngu sẽ có ích cho ông.
Lâm
Tế đến Đại Ngu. Đại Ngu hỏi: từ đâu đến?
Lâm
Tế đáp: từ Hoàng Bá.
Đại
Ngu hỏi: Hoàng Bá có dạy bảo gì chăng?
Lâm
Tế kể ba lần hỏi Phật pháp, ba lần bị đánh đập đuổi
ra, không biết lỗi ở chỗ nào?
Đại
Ngu nói: Hoàng Bá vì ngươi mà từ bi như thế, lại hỏi lỗi
chỗ nào!
Lâm
Tế nghe liền ngộ thấu qua ba cửa, tức là phá luôn Mạc
hậu lao quan.
Lâm
Tế lập tức trở về Hoàng Bá, Hoàng Bá nói: đi đâu về
mau vậy?
Lâm
Tế đáp: ở Đại Ngu.
Hoàng
Bá hỏi: Đại Ngu có nói gì không?
Lâm
Tế kể chuyện Đại Ngu, Hoàng Bá nói: Đại Ngu sao nhiều
chuyện quá! Sau này tôi gặp sẽ cho bạt tai.
Lâm
Tế nói: khỏi cần đợi sau này.
Lâm
Tế liền bạt tai Hoàng Bá, Hoàng Bá cười lên. Tại sao? Vì
được
một đệ tử để nối huệ mạng của Phật. Đó là cơ xảo
của Tổ sư, lúc đó không dạy tham thoại đầu. Đánh đập
mạnh làm cho người tham học phát nghi mà tự mình không biết,
gọi là vô tham hay chân tham. Ngài Lai Quả nói “vô tham tức
là chân tham”, vô tham không phải không tham, lúc tham thiền
mà không biết mình tham, gọi là chân tham. Mặc dù, không biết
các thứ khác, mà còn biết mình tham thiền, không phải chân
tham.
Bây
giờ, tham thiền đến chân tham trải qua nhiều năm là do tham
công án hay tham thoại đầu. Tham công án hay tham thoại đầu
có sau này, vì cuốn sách Cảnh Đức Truyền Đăng Lục phổ
biến; trong cuốn sách nói rõ các cơ xảo của các Tổ sư,
người tham thiền đọc hiểu; Chư Tổ dùng cơ xảo cho người
tham thiền không phát nghi được.
Thầy
của Sùng Tín là Đạo Ngộ, Sùng Tín làm thị giả cho thầy
đã mấy năm, thầy không có dạy bảo gì, ở trong tâm đã
khởi nghi tình nhưng tự mình không biết. Một ngày kia, nghi
tình nặng quá nên chịu không nổi, rồi từ giả thầy nói
“con muốn đi chỗ khác học đạo, đi xuất gia là để giải
thoát, mà ở đây mấy năm không thấy thầy dạy đạo, làm
sao con giải thoát?”
Đạo
Ngộ nói: tại sao nói tôi không khai thị? Ngày nào tôi cũng
khai thị, mà nói tôi không khai thị!
Sùng
Tín nói: Thầy khai thị gì đâu?
Đạo
Ngộ nói: ngươi bới cơm thì ta ăn, rót trà thì ta uống, đảnh
lễ thì ta gật đầu, chỗ nào mà chẳng khai thị!
Sùng
Tín nghe liền ngộ triệt để.
Không
khai thị cũng là một cơ xảo, chỉ cần người tham thiền
khởi lên nghi tình. Có nghi là được ngộ. Trước kia mình
tham nhưng không biết mình tham, nên mới mau ngộ; sau này những
chuyện này đã ghi trong Truyền Đăng Lục, người tham thiền
coi rồi, thầy có dùng cơ xảo cũng không có thể phát nghi
được. Vì vậy, bất đắc dĩ dạy tham công án, tham thoại
đầu. Bây giờ, người tham thiển đã biết mình tham phải
trải qua nhiều năm mới được ngộ.
Ngài
Lai Quả xuất gia 24 tuổi, 28 tuổi kiến tánh; còn ngài Hư
Vân phải trải qua mấy mươi năm mới được ngộ. Hiện nay,
mình tham thiền đã biết mình tham thiền nên khó ngộ, người
ngộ lại ít. Tuy ít người ngộ nhưng mỗi đời đều có
người ngộ, như gần đây có ngài Nguyệt Khê, ngài Lai Quả,
ngài Hư Vân; còn những người ngộ, mà không biết cũng nhiều.
Hỏi:
Tọa
thiền có bắt buộc phải ngồi kiết già không hay ngồi cách
nào cũng được?
Đáp:
Tổ
sư thiền không cần ngồi, ngồi thiền không phải tham thiền,
tham thiền không phải ngồi thiền. Tham thiền không cần ngồi,
ngồi cách nào cũng được. Khi đả thiền thất là nửa tiếng
ngồi nửa tiếng đi, hồi trước không có đồng hồ nên dùng
cây nhang đốt để ngồi, rồi hết cây nhang đốt cây nhang
khác để đi.
Lúc
ngồi gọi là tọa hương, lúc đi gọi là đi hương; mà khỏi
cần kiết già, muốn ngồi cách nào cũng được; tức là đi
mỗi chân rồi lại ngồi, ngồi tê chân rồi đi. Ngồi và
đi là điều thân, nên Lục Tổ trong Pháp Bảo Đàn nói “tâm
tọa chứ không phải thân tọa”. Vì thân sau khi chết biến
thành tro biến thành đất, ngộ là do tâm; tâm là không sanh
không diệt, cho nên khỏi cần ngồi.
Hỏi:
Làm
thế nào để thức tỉnh trong mở mắt chiêm bao?
Đáp:
Theo
Đường Lối Thực Tham tổ Sư Thiền, theo đúng tông chỉ của
Tổ sư truyền xuống, được thức tỉnh trong mở mắt chiêm
bao (kiến tánh thành Phật), làm chủ cho mình được tự do.
Có
hai công án sanh tử tự do:
-Có
một Thiền sư kiến tánh đem cái hòm sẵn, cùng đại chúng
dùng tiệc trai; ăn xong Ngài vô trong hòm nằm, bảo để tử
đậy nắp lại đóng đi đem đi thiêu; đệ tử thấy còn sống,
đâu dám đóng đinh đem đi thiêu! Để hai ba ngày sau, đệ
tử lén mở nắp hòm thấy Ngài ngồi dậy, mắng các đệ
tử: tại sao các người theo tôi nhiều năm mà không tin lời
tôi? Nếu tôi không được tự do sanh tử, làm sao tôi bảo
các người đậy nắp đóng đinh đem đi thiêu? Sao các người
ngu si vậy!
Rồi
đãi tiệc ngu si, ăn xong, Ngài nói “kỳ này tôi vô đậy
nắp lại, người nào mở nắp ra không phải đệ tử của
tôi”. Ngài vô hòm rồi đệ tử đậy nắp lại, đóng đinh
đem đi thiêu. Chứng tỏ Ngài được sanh tử tự do.
-Một
Thiền sư kiến tánh ở trên núi, danh tiếng vang tới kinh thành,
vua nghe được rồi sai một vị quan lớn, đến mời Thiền
sư về kinh thành để vua hỏi pháp; mời hai lần không đi,
vua nổi giận nói với quan lớn “lần này, mời Thiền sư
không đi thì đem cái đầu ông ấy về, còn không lấy cái
đầu của ông thay thế”.
Ông
quan lên núi găp Thiền sư năn nỉ “hai kỳ trước Thiền
sư không đi không có sao, lần này nếu Thiền sư không đi,
nhà vua bảo tôi đem cái đầu Ngài về; Tôi không dám lấy
đầu của Ngài, nên lần này ráng cố gắng đi”.
Thiền
sư hứa đi, hỏi các môn đồ: lần này tôi đi, có người
nào muốn đi theo tôi không?
Một
đệ tử nói: con muốn theo thầy đi.
Thiền
sư hỏi: một ngày, ngươi đi bao nhiêu dặm?
Đệ
tử đáp: được 50 dặm.
Thiền
sư nói: không được.
Đệ
tử khác nói: con theo thầy đi.
Thiền
sư hỏi: một ngày, ngươi đi bao nhiêu dặm?
Đệ
tử ấy đáp: được 70 dặm.
Thiền
sư nói: không được.
Cứ
như thế các đệ tử lần lượt hỏi đi đều không được,
nhưng cuối cùng có thị giả nói: con muốn theo thầy đi.
Thiền
sư hỏi: một ngày ngươi đi bao nhiêu dặm?
Thị
giả đáp: không biết bao nhiêu dặm, thầy đến đâu thì con
đến đó.
Thiền
sư nói: được.
Rồi
Thiền sư ngồi trên ghế tịch và thị giả đứng một bên
cũng tịch theo. Tịch trước mặt quan làm cho ông ta kính sợ.
Oai quyền của vua chỉ dùng cho người thường, đối với
Thiền sư không thể dùng được; vì Thiền sư sanh tử tự
do. Mình chưa kiến tánh nghe nói chết rất sợ, đến chừng
kiến tánh thấy việc sanh tử không còn sợ, tự do đi lại.
Hỏi:
Nếu
đạt đến trình độ như cầu thủ Trương Quốc Anh, mà bộ
óc không biết, sống như vậy có phải như người nằm chiêm
bao sao? Nếu làm được như vậy có ích lợi gì?
Đáp:
Cuộc
sống hàng ngày bây giờ do bộ óc làm chủ, là xuất phát
từ ngã chấp thì có tương đối; có lợi phải có hại, thường
thường cái hại nhiều hơn cái lợi. Mặc dù, khoa học tiến
bộ nhưng không giải quyết được, không làm cho người hạnh
phúc nhiều hơn. Như Khoa học phát minh xe hơi để giúp cho
phương tiện giao thông được dễ dàng. Bây giờ, xe hơi nhiều
quá làm cho giao thông thường bị tắt nghẽn, lại tai nạn
mỗi ngày tăng thêm. Nước Mỹ thống kê mỗi ngày chết vì
tai nạn xe hơi trên 50 người, bị thương chưa tính.
Có
lợi phải có hại, vì có ngã chấp nên tranh giành với nhau,
tôi muốn hưởng nhiều hơn, tôi muốn có tiền nhiều hơn;
từ anh chị em trong gia đình tranh giành, cho đến gia đình
này với gia đình kia, đoàn thể này với đoàn thể kia, chủng
tộc này với chủng tộc kia, nước này với nước kia. Từ
chửi mắng, xung đột, chiến tranh nhỏ, chiến tranh lớn, xung
đột đổ máu đều tạo ra tai họa, làm cho con người không
được an cư lạc nghiệp. Đó là do bộ óc làm chủ.
Phật
muốn sửa lại đem Phật tánh làm chủ mà thông qua bộ óc
dùng ra, bộ óc làm nô lệ cho Phật tánh thì không có tương
đối, không xẩy ra tai họa; cái dụng lớn hơn trăm triệu
ngàn lần, chứ không phải người khờ ngốc không biết gì.
Như tài xế đang tham thiền bộ óc không biết, ở giữa đường
có cục đá hay có một cái lỗ, tự động tránh tuy không
thấy. Đó là tác dụng của Phật tánh.
Hỏi:
Xin
Thiền sư chỉ cho phương pháp làm thế nào được tự tại?
Đáp:
Phật
tánh của mình là bình đẳng bất nhị, vốn là tự tại;
không phải do ai tạo ra cho mình, vốn sẵn có từ lâu đời;
không có sự bắt đầu, nên Phật nói là vô thỉ. Vô thỉ
là vô sanh, một việc gì đã sanh thì có sự bắt đầu. Vô
sanh là cái nghĩa Niết bàn (không sanh không diệt). Cho nên,
người chứng quả là ngộ pháp vô sanh, như Tịnh độ nói
là “hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh”.
Tham
thiền đến kiến tánh phát hiện bản thể cùng khắp không
gian thời gian là được tự do tự tại. Nếu dùng bộ óc
luyện cũng có thần thông, thần thông này còn bị thời gian
không gian hạn chế, không được tự do tự tại.
Trong
kinh Lăng Nghiêm nói 50 thứ ma ngũ ấm có thần thông, như bên
này bay về Việt Nam 5 phút. Tuy bay có 5 phút, nhưng 5 là số
lượng, phút là thời gian, từ đây đến Việt Nam là không
gian, cũng còn bị thời gian không gian hạn chế. Thần thông
của Phật tánh khỏi cần bay, được tự do tự tại; không
bị không gian thời gian hạn chế.
Hỏi:
Khi
tham thiền nên quán nhất niệm hay vô niệm? Và thế nào là
tịch chiếu? Trong khi hành thiền có dấu hiệu nào mình chứng
ngộ được tịch và chiếu?
Đáp:
Nếu
khởi lên một niệm gọi là nhất niệm vô minh, một niệm
chưa khởi lên gọi là vô thỉ vô minh. Mục đích tham thiền
phá tan vô thỉ vô minh thì được tự do tự tại. Cho nên,
không phải quán một niệm hay vô niệm. Hỏi câu thoại đầu
kích thích lên niệm không biết, không biết là vô tướng,
không có sự đối đãi; không phải nhất niệm cũng không
phải vô niệm, chỉ có nghi tình là không biết. Cuối cùng
nghi tình bùng vỡ thì vô thỉ vô minh bị phá tan, tức trong
sát na đó kiến tánh thành Phật.
Hỏi:
Mỗi
lần ngồi thiền khoảng 2 tiếng đồng hồ, con nghe nổ một
tiếng “trắc” mà người ngoài cũng có thể nghe được.
Xin Thiền sư chỉ dạy?
Đáp:
Ngồi
thiền đến chừng vọng tưởng bớt, có nhiều thứ cảm giác,
thấy cảnh giới này thấy cảnh giới kia, cho đến thấy Phật
Thích Ca đến rờ đầu an ủi thọ ký cho mình thành Phật,
đều phải quét sạch. Vì ma có thể hiện Phật để làm việc.
Thường thường có cảm giác như kiến bò, điện chạy hay
cảm giác thấy thân cứng, cả thân mềm, cả thân lạnh, cả
thân nóng…Đó là do ảo tượng, do vọng tưởng sanh ra.
Tham
thiền có những cảnh giới ấy không cần biết tới. Ngồi
thiền để ý cảnh giới ấy thì sau này bị tẩu hỏa nhập
ma. Để ý hơi thở, dùng câu chú đè nén vọng tưởng, dùng
câu A Di Đà Phật để đè nén vọng tưởng, đến mức độ
cao thì có thể xẩy ra 3 kết quả không tốt. Ở Việt Nam,
tôi đã gặp nhiều người như vậy. Bởi vì, người ta không
biết đường lối thực hành do Tổ sư từ đời từ đời
truyền xuống. Các môn các phái đều có thiền đặc biệt
của môn phái đó.
Tôi
bây giờ hoằng pháp môn Tổ sư thiền của Phật Thích Ca thân
truyền, còn tông Thiên thai có Chỉ quán thiền, tông Hiền
thủ có Pháp giới quán thiền, tông Duy thức có Duy thức quán
thiền, tông Tam luận có Tánh không quán thiền, mỗi tông mỗi
phái đều có thiền riêng của tông phái đó. Mình muốn thực
hành phải đúng theo tông chỉ của tông phái đó, không xẩy
ra sự nguy hiểm.
Mình
coi sách rồi tự đặt ra đường lối tu, có người dùng niệm
Phật để đè nén vọng tưởng, có người dùng niệm chú
để đè nén vọng tưởng; ban đầu thấy trong người nhẹ
nhàng sung sướng, hay trong cơ thể có bệnh gì cũng hết, rất
mừng.
Nhưng
đến mức độ cao, có người phát lên thần thông; theo vật
lý đè nhiều chừng nào thì phản lực mạnh chừng nấy, vì
chỉ đè nén mà không phá ngã chấp. Cho nên, tham sân si còn
nguyên, lại đè lâu ngày có phản lực mạnh, đến khi phát
lên không khống chế được, thường xẩy ra 3 kết quả: ói
máu, phát điên, phá giới.
Hỏi:
Tôn
giáo dựa nơi lòng tin, Thiền học dựa trên nghi tình để
đến thoại đầu. Xin Thiền sư khai thị?
Đáp:
Vừa
rồi tôi đã nói 2 cơ bản tham thiền, tại sao nói không có
tin! Chữ tin là mẹ tất cả công đức, tham thiền cũng vậy,
phải tin tự tâm mới phát hiện được tự tâm. Còn nghi tình
chỉ là phương pháp tạm thời, nhờ nghi tình để đưa mình
đến chỗ giác ngộ. Như chiếc bè qua sông, đến bờ phải
bỏ bè; nếu đến bờ còn vác chiếc bè đi chơi thì không
thể được.
Hỏi:
Thế
nào gọi là tánh không?
Đáp:
Tánh
không là biệt danh của tự tánh, thường thường người đời
hiểu lầm 2 chữ “tánh không”; cho rằng tiêu diệt cái có
mới thành không, sự thật không phải như vậy. Nếu trụ
nơi có chẳng được gọi tánh không, tức là không chấp thật
có là tánh không, không chấp thật không là tánh không, không
chấp thật chơn là tánh không, không chấp thật giả là tánh
không.
Như
thế lìa tứ cú, không trụ nơi tứ cú, gọi là tánh không.
Tứ cú không phải có đối với không, như nói đối với
nín: nói là cú thứ nhất, nín là cú thứ nhì, chẳng nói
chẳng nín là cú thứ ba, cũng nói cũng nín là cú thứ tư.
Không lọt vào cú nào gọi là tánh không.
Hỏi:
Tu
Tổ sư thiền cần mỗi ngày ngồi thiền bao nhiêu phút và
mỗi năm phải gặp thầy bao nhiêu lần?
Đáp:
Tổ
sư thiền rất thích hợp cho người tại gia để tu, vì rất
tự do; một ngày 24 tiếng đều tu được, bất cứ nơi nào
cũng tham thiền. Cho nên, không cần ngồi, đang làm việc, đang
đi xe, đang đi bộ, đang giặt đồ, đang nấu cơm, bất cứ
làm việc gì đều tham thiền được, hỏi thầm trong bụng.
Tin tự tâm đầy đủ 100 % là đã thực hành được “vô
sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”, nên ở nhà cũng tu được,
khỏi cần gặp tôi.
Nếu
chưa tin tự tâm đầy đủ, có thắc mắc hỏi, tôi giải đáp
để tăng lòng tin tự tâm, hay coi những cuốn sách của tôi
sáng tác và dịch, cũng để tăng cường lòng tin tự tâm;
chứ không có giáo lý cao siêu.
Như
kinh Đại thừa liễu nghĩa của Phật cũng để tăng cường
lòng tin tự tâm cho chúng sanh, không có giáo lý cao siêu. Nếu
có giáo lý cao siêu thì Phật không nói “49 năm thuyết pháp,
tôi chưa từng nói một chữ”. Phật đã tự phủ định,
chỉ là phương tiện tạm thời, rồi phát hiện tự tâm của
mình để làm chủ, giải thoát tất cả khổ.
Hỏi:
Nếu
trong vô thức chiêm bao đôi khi nhìn được cảnh quá khứ
hay tương lai thì cảnh tương lai hiện giờ đang ở đâu?
Đáp:
Nếu
đã cùng khắp không gian thì không có chỗ, cùng khắp thời
gian thì không có lúc. Có người hỏi: kiến tánh rồi đi về
đâu? Nếu có chỗ trở về thì chưa kiến tánh, vì kiến tánh
rồi cùng khắp không gian thời gian, nên không cần đi. Ở
đây bay về Việt Nam 5 phút, không phải thần thông của Phật
tánh; thần thông của Phật tánh không cần bay. Ngoài không
gian không có không gian.
Hỏi:
Tham
thiền có cần ăn chay không?
Đáp:
Ăn
chay thuộc về nhân quả, giết một mạng phải trả một mạng,
ăn cục thịt phải trả cục thịt. Tôi không có khuyên người
ta ăn chay, tôi nói “nếu quý vị chịu cho người ta ăn thì
cứ ăn người ta, sợ người ta ăn mình thì đừng ăn người
ta”. Trong kinh Lăng Nghiêm nói “kiếp này mình ăn thịt dê,
con dê kiếp sau thành con người; mình thành con dê thì nó ăn
trở lại”, ăn đi ăn lại là ăn thịt mình chứ đâu phải
người khác!
Hỏi:
Tại
sao Thiền sư qua Mỹ khi Ngài đã am hiểu về thiền?
Đáp:
Tôi
chưa kiến tánh, đáng lẽ chưa ra hoằng Tổ sư thiền, chỉ
được giải ngộ, may mắn được truyền phương pháp tự
của Thiền tông. Ngài Lai Quả đã kiến tánh, nhưng thầy của
ngài Lai Quả chưa kiến tánh; ngài Hư Vân kiến tánh, thầy
của ngài Hư Vân không kiến tánh. Mặc dù, thầy chưa kiến
tánh, nhưng trò kiến tánh trước. Bởi vì đi đúng đường
lối của Tổ truyền xuống, nếu quyết tâm tu sẽ được
kiến tánh. Thầy bận việc dạy đồ chúng nên chậm trể
kiến tánh.
Tại
sao tôi ra hoằng dương Tổ sư thiền thiền? Ngày mùng 1 tháng
4 năm 1977, tôi ở chùa Từ Ân được người ta mời thọ trai,
lúc đó không có ở chùa. Khi cúng ngọ, thầy tôi tuyên bố
với Phật tử là ngày mai có sư Duy Lực ra dạy Tổ sư thiền,
mời tất cả Phật tử đến chùa nghe giảng thiền. Thầy
của tôi không nói cho tôi biết trước, đến sáng mùng 2 tháng
4, thầy tôi mới nói cho tôi biết. Trong lúc đó Phật tử
đã đến chùa, bảo tôi ra dạy thiền. Tôi có muốn từ chối
cũng không thể nào được, nếu từ chối làm mất mặt thầy
của tôi. Bất đắc dĩ tôi phải ra hoằng Tổ sư thiền.
Trước
kia, tối ngày tôi ở trong phòng, không ai biết; ngày mùng 2
tháng 4 năm 1977. Ban đầu, tôi giảng bằng tiếng Quảng, chỉ
có người Hoa đến học hơn ba mươi người, giảng một tuần
lễ, tôi hỏi người nào thích thiền? Chỉ có một người,
sau này từ từ tăng thêm, người Hoa tăng lên hai ba trăm người;
đến khi tôi mở thiền thất, người Việt ban đầu đến
coi rồi xin dự; sau ngày càng đông, yêu cầu tôi giảng tiếng
Việt; người Việt theo học thiền ba bốn ngàn. Ra hoằng Tổ
sư thiền không thể nghĩ được nên phải tiếp tục; tuy hoằng
pháp rất khó khăn.
Hỏi:
Sự
khác biệt giữa pháp môn tham thoại đầu và Tịnh độ? Và
có thể kết hợp hai pháp môn này để tu được không?
Đáp:
Pháp
thực hành của tham thoại đầu phải nghi, còn pháp Tịnh độ
cần phải tin; hai cái nghịch với nhau. Nghi có dấu hỏi, nghi
là nhân, ngộ là quả. Đường lối thực hành Tịnh độ không
có nghi, chỉ thực hành đến chỗ bất thối (không lui sụt);
nhưng phải thực hành đúng theo tông chỉ của Tịnh độ mới
được. Trước kia, tôi hoằng dương Tịnh độ được mười
mấy năm, nhưng chưa gặp một người nào tu đúng theo tông
chỉ Tịnh độ.
Tông
chỉ của Tịnh độ là gì? Là tín, nguyện, hành. Tín có thứ
3 tin, có 2 thứ nguyện (đại nguyện và tiểu nguyện), 2 thứ
hành (nhứt tâm niệm Phật và tán tâm niệm Phật). Tôi giảng
đường lối thực hành của Tịnh độ rất kỹ, rõ ràng.
Sao gọi là 3 thứ tin? Sao gọi là 3 thứ nguyện? Sao gọi là
2 thứ hành? Thực hành thế nào đến chỗ nhứt tâm bất loạn,
đến chỗ không niệm mà niệm, niệm mà chẳng niệm, từ
bước từ bước.
Tôi
hỏi những người dạy Tịnh độ và người tu Tịnh độ:
ba tông chỉ của Tịnh độ là gì? Nhiều người không trả
lời được. Đó cũng không lạ gì! Tại sao? Như Thiền tông
truyền đến Việt Nam có tổ Liễu Quán, tổ Vô Ngôn Thông
từ Trung Quốc truyền qua Việt Nam. Tịnh độ có Tổ nào truyền
từ Trung Quốc qua Việt Nam không? Những người tu Tịnh độ
đều không biết.
Sơ
tổ của Tịnh độ là người Trung Quốc đời nhà Tấn ở
Trung Quốc sáng lập tông Tịnh độ. Không có Tổ nào từ
Trung Quốc truyền qua Việt Nam, vậy có Tổ nào ở Việt Nam
sáng lập tông Tịnh độ không? Hỏi người nào cũng không
biết, nên mỗi người coi sách tu theo ý của mình cho ăn chay,
tụng kinh là Tịnh độ; chứ không biết đường lối thực
hành tông chỉ của Tịnh độ, thành ra không có một người
nào được thành tựu vãng sanh.
Nhiều
người nói biết ngày giờ chết là vãng sanh, nhưng sự thật
nhiều người không có niệm Phật cũng biết ngày giờ chết.
Người được sanh cõi người có thể biết ngày giờ chết,
người sanh cõi trời cũng có thể biết ngày giờ chết; nhưng
không phải vãng sanh Cực Lạc. Nếu lấy cái đó để làm
bằng chứng không đúng.
Bởi
vì không tu đúng theo tông chỉ Tịnh độ, nên khó thành tựu.
Theo kinh nghiệm của tôi hoằng dương Tịnh độ mười mấy
năm biết là Tịnh độ khó hơn Tổ sư thiền cả trăm ngàn
lần. Cái khó là tại chỗ nào? Khó là chỗ phát đại nguyện
mà không thực hành đại nguyện của mình phát.
Sơ
lược 2 thứ nguyện: tiểu nguyện và đại nguyện.
Phát
tiểu
nguyện chỉ cho mình được vãng sanh thì không hợp với nhân
quả. Thiện quả được phước báo, sanh cõi người được
giàu sang phú quý. Tự mình hỏi mình từ nhỏ đến lớn có
giết chết một con kiến không? Có giết chết một con muỗi
không? Có ăn thịt gà thịt heo không? Nếu có phải đầu thai
trả lại. Vậy làm sao được vãng sanh? Vì vãng sanh không
có chết nữa, là không hợp với nhân quả. Cho nên, tiểu
nguyện không được vãng sanh.
Phải
phát đại nguyện, đại nguyện không phải một mình được
vãng sanh. Làm tất cả phước thiện đều hồi hướng cho
tất cả chúng sanh được vãng sanh. Hai chữ hồi hướng mà
người ta cũng hiểu lầm. Hồi hướng là phá ngã chấp, trong
Giáo môn hết Thập hồi hướng thì lên bực Bồ tát.
Bây
giờ, người ta dùng hồi hướng tăng thêm ngã chấp, tức
tất cả là công đức của tôi; tôi thương người này hồi
hướng cho người này, tôi thương người kia hồi hướng cho
người kia là theo ngã chấp; không phải tất cả công đức
của tôi hồi hướng cho tất cả chúng sanh, tôi chỉ là một
trong chúng sanh.
Đó
mới là đại nguyện, tức tất cả chúng sanh bình đẳng;
tôi được vãng sanh thì tất cả chúng sanh đều được vãng
sanh. Những người nợ thịt nợ mạng mà tôi ăn lúc trước
đều cùng tôi được vãng sanh. Nếu những người ấy không
được vãng sanh thì tôi thành Phật trở lại độ họ. Nhưng
đối với tất cả chúng sanh phải bình đẳng mới là thực
hành đại nguyện của mình phát. Nếu chỉ miệng nói tâm
nghĩ gọi là nguyện suông nguyện giả, vậy làm sao được
vãng sanh?
Muốn
thực hành đại nguyện của mình phát không phải dễ! Đừng
nói mình đối với người bình đẳng, mình đối với súc
sanh, đối với con chó, con chuột, con mèo… mình có coi là
bình đẳng hay không? Đây thực hành rất khó. Nếu không thực
hành đại nguyện của mình phát là nguyện suông nguyện giả
không được vãng sanh.
Như
mình không có tiền để trả nợ, nhưng trương mục ngân hàng
của mình không có tiền, mình ký ngân phiếu là ba bốn năm
sau trả; mỗi ngày mình phải nạp vô ngân hàng, người ta
sau này mới nhận được. Nếu mình chỉ nói suông, ký ngân
phiếu cho người là gạt người phải bị ở tù.
Người
ta không hiều chỗ khó của Tịnh độ, cho niệm Phật là nhờ
tha lực mà được vãng sanh. Tất cả pháp môn nào đều phải
nhờ tự lực và tha lực; Thiền tông cũng nhờ tha lực và
tự lực, chứ không không phải chỉ nhờ tự lực mà được.
Phật
nói nhân duyên, tự lực là nhân, tha lực là duyên. Như hạt
lúa là nhân, sanh ra cây lúa là quả. Nếu để hạt lúa trong
vựa một trăm năm vẫn là hạt lúa, không thể sanh ra cây
lúa; phải có người lấy ra ngoài bỏ trên đất tưới nước
rồi mọc lên cây lúa.
Nhân
công và đất đều là trợ duyên, nên nói là nhân duyên hòa
hợp được thành tựu. Không có nhân mà có duyên, như không
có hạt lúa làm sao sanh ra cây lúa! Phải có hạt lúa, nhân
công, đất, nước mới sanh ra cây lúa.
Pháp
môn nào cũng vậy, trong Phật pháp gọi là nhân duyên; có nhân
phải có duyên, có duyên phải có nhân; nhân duyên hòa hợp
được sanh khởi. Thường thường người tu Tịnh độ nói
nhờ tha lực được vãng sanh, chỉ biết như vậy, thành ra
khó thành tựu.
Hỏi:
Người
có tu thiền và người không tu thiền đều cảm thấy xuất
hồn bay bổng trên mặt đất. Trạng thái đó là gì?
Đáp:
Năm
mươi thứ ma ngũ ấm trong kinh Lăng Nghiêm có thần thông cao
hơn cái này nhiều lắm, như ở đây về Việt Nam lấy một
món đồ chỉ có 5 phút, tà ma ngoại đạo đều làm được
thần thông này.
Những
người không tọa thiền vì kiếp trước họ tu cũng có thần
thông. Súc sanh cũng có thần thông, như con kiến, con chuột
biết trước trời bão, ngập nước, rồi nó dời chỗ khác.
Bản năng của con thú vật không phải do tập luyện và học,
mà tự có.
Nhà
khoa học phát minh ra đa là học theo con dơi, con dơi không có
con mắt, không học, không nghiên cứu, nhưng có bản năng ra
đa, nó bay khắp nơi không đụng mọi vật. Nhà kiến trúc
giỏi học kiến trúc con ong, con ong không học, không nghiên
cứu mà làm tổ rất kiên cố.
Bản
năng đó ở nơi Phật tánh mình sẵn có, tất cả chúng sanh
đều bằng nhau; kiếp này không tu, kiếp trước có tu vẫn
hiện ra được. Kiếp này mình không tu nhưng sẵn có bằng
như Phật, không phải bị mất.
Cho
nên, tham thiền lần lần phát hiện ra cái dụng, như vừa
nói: túc cầu viên, cô thợ may, tài xế… hiện ra cái dùng
một phần nào của mình, cho đến hiện ra vô lượng vô biên
bằng như chư Phật.
Hỏi:
Đệ
tử cảm thấy hình như thế hệ sắp tới không thấy Thầy
cho mở một đường đi. Cái gương của người Tàu, người
Nhật, người Cao Ly… sau hai mươi năm Phật giáo đi vào con
đường diệt vong. Bây giờ, nếu chúng ta không vạch ra lối
đi thích hợp thì e rằng hết đời chúng con thì Phật giáo
cũng đi vào con đường của những người đi trước. Xin cảm
tạ Thầy?
Đáp:
Đường
lối thực hành Tổ sư thiền do Phật Thích Ca thân truyền
duy nhất. Phật nói những pháp ở trong kinh chỉ qua văn tự
lời nói, không phải đích thân truyền. Những lời nói văn
tự trong gọi là pháp thiền gián tiếp, Tổ sư thiền là pháp
thiền trực tiếp.
Pháp
này thích hợp với mọi người, nên con nít sáu bảy tuổi
cũng tham được, bà già tám chín chục vẫn thực hành được.
Đường lối này thực hành rất giản dị, chỉ là nhờ câu
thoại đầu hỏi thầm trong bụng để khởi lên thắc mắc
gọi là nghi tình. Giữ được nghi tình là thực hành rồi,
Thiền tông chỉ chú trọng nghi tình.
Hôm
qua, tôi coi đài số 50, các nhà khoa học thí nghiệm: lúc không
biết của bộ óc hiện lên, ngồi hay đi trên bàn đinh không
bị đâm và không bị đau, khi mình biết thì bị đinh đâm
vô. Chứng tỏ cái không biết của Phật dạy rất đúng với
khoa học hiện nay.
Đi,
đứng, nằm, ngồi, ăn, cơm, mặc áo, đi cầu…người nào
cũng thực hành được. Các thiền khác phải ngồi yên một
chỗ, Tổ sư thiền bất cứ ở chỗ nào, ở chỗ náo động
đều tham được; đang làm việc tay chân hay trí óc cũng tham
được.
Như
cô Trì Hằng Thiền đang cắt may mà tham thiền, không cần
qua bộ óc vẫn làm được. Bất cứ kiểu áo mới nào, cô
không cần suy nghĩ nhưng cắt được. Có người ở đây chứng
tỏ đàng hoàng, chứ không phải tôi nói suông. Có người
ở Pháp và ở Việt Nam cũng có sức dụng như vậy.
Xem
Thêm:
Duy
Lực Ngữ Lục Quyển Thượng
Duy
Lực Ngữ Lục Quyển Hạ
Khai
Thị Thiền Thất Tại Chùa Tam Bảo, HT. Duy Lực
Giảng
Kinh Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
|