33/
Lầm Nhận “Ngồi Nhập Định Như Cây Khô” Thành Bệnh:
Nói
“nhập định” là pháp dụng công của người Tiểu thừa,
ngồi lâu như cây khô để đoạn dứt suy nghĩ của lục căn,
dụng công của Đại thừa chẳng trụ tâm, chẳng khán tịnh,
chẳng trầm không, chẳng nhập định. Nay thường có một
số người xuất gia hoặc tại gia, ngồi không như cây khô,
mười hôm, tám hôm chẳng ăn cơm, giống như ông Địa, gọi
là nhập định, cho dụng công như thế thì được thành Phật,
ấy là sai lầm lớn.
Xưa
kia Trí Hoàng thiền sư ngồi mãi trong am 20 năm, Huyền Sách
thiền sư đến am hỏi: Ông ở đây làm gì?
Hoàng
nói: Nhập định.
Sách
nói: Ông nói nhập định là có tâm nhập hay vô tâm nhập?
Nếu vô tâm nhập thì tất cả vô tình, cây cối, ngói đá
đều được đắc định; nếu có tâm nhập thì tất cả chúng
sanh hữu tình cũng phải đắc định.
Hoàng
nói: Khi tôi đang nhập định chẳng thấy có tâm hữu hay vô.
Sách
nói: Chẳng có tâm hữu hay vô tức là thường định, đâu
có xuất nhập? Nếu có xuất nhập thì chẳng phải đại định.
Hoàng
chẳng thể trả lời, giây lâu nói: Sư nối pháp ai?
Sách
nói: Thầy tôi là Tào Khê Lục Tổ đại sư.
Hoàng
hỏi: Lục Tổ lấy gì làm thiền định?
Sách
nói: Thầy tôi nói “Diệu trạm viên tịch, thể dụng như
như, ngũ uẩn vốn không, lục trần phi hữu, chẳng xuất chẳng
nhập, chẳng định chẳng loạn, tánh thiền vô trụ, lìa trụ
nơi thiền định, tánh thiền vô sanh, lìa sanh có thiền tưởng.
Tâm như hư không, cũng chẳng có số lượng của hư không”.
Bởi
sau khi kiến tánh, tự tánh như như bất động, đi, đứng,
nằm, ngồi, mặc áo, ăn cơm, tất cả đều ở trong định
mới là đại định.
Hoài
Nhượng thiền sư ghi trong Truyền Đăng Lục rằng:
Có
Sa môn Đạo Nhất ở viện Truyền Pháp suốt ngày tọa thiền,
Sư (Hoài Nhượng) đến hỏi: Đại đức tọa thiền muốn
làm gì?
Nhất
nói: Muốn làm Phật.
Sư
lấy cục gạch mài trước cửa am.
Nhất
hỏi: Mài gạch làm gì?
Sư
nói: Mài gạch làm gương.
Nhất
nói: Mài gạch đâu thể làm gương!
Sư
nói: Mài gạch chẳng thể làm gương thì tọa thiền đâu thể
thành Phật!
Nhất
nói: Vậy phải làm thế nào?
Sư
nói: Như bò kéo xe chẳng chịu đi, đánh xe phải hay đánh
bò phải?
Nhất
không đáp được.
Sư
nói: Ông học ngồi thiền hay học làm Phật? Nếu học ngồi
thiền thì thiền chẳng phải ngồi, nằm; nếu học làm Phật
thì Phật chẳng có tướng nhất định, nơi pháp vô trụ,
chẳng nên thủ xả. Ông nếu ngồi Phật tức là giết Phật,
nếu chấp tướng ngồi thì chẳng đạt lý đạo.
Nhất
nghe sư dạy bảo như uống nước đề hồ.
Ngài
Lâm Tế nói: “Ta nói bên ngoài chẳng có pháp, người học
chẳng hội, lại hiểu lầm cho là bên trong, liền hướng vách
ngồi không, lưỡi để hàm trên, trạm nhiên chẳng động,
cho đó là Phật pháp của chư Tổ, rất là sai lầm”.
Một
số người lầm nhận tham thiền phải lúc tĩnh tọa mới tham,
ấy là sai lầm. Tham thiền chẳng phân biệt đi, đứng, nằm,
ngồi. Mã Tổ nói: “Tham thiền chẳng chấp ngồi, chấp ngồi
tức bị dính mắc”. Kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Kẻ mê kẹt
nơi pháp tướng, chấp Nhất hạnh Tam muội, cứ nói thường
ngồi chẳng động, vọng tâm chẳng khởi tức là Nhất hạnh
Tam muội, hiểu như thế này tức đồng như vô tình, lại
thành nhân duyên chướng đạo”.
34/
Chấp “Bất Đảo Đơn” Thành Bệnh:
Trong
Tùng lâm có một số hành giả ngồi mãi chẳng nằm, gọi
là bất đảo đơn. Dù nói bất đảo đơn, lại ngồi có ngủ
gục, cho đó là công phu nổi bật, sai lầm biết bao!
Theo
giới luật của Phật, Tỳ kheo tu hành bốn việc đầy đủ
là: quần áo, ăn uống, ngọa cụ, y dược, vậy chứng tỏ
Phật chẳng dạy người bất đảo đơn. Nếu ngồi không ngủ
gục, sao chẳng nằm xuống ngủ một giấc ngon, cho tinh thần
đầy đủ rồi công phu lại! Có người chê cười kẻ bất
đảo đơn là nhập định bí đao, chưa nhập định đã biến
thành bí đao, dù thành Phật có ích lợi gì!
Ngài
Lâm Tế nói: “Dẫu cho ở cô độc trên đỉnh núi, ngày ăn
một bữa, ngồi mãi chẳng nằm, suốt ngày hành đạo, đều
là người tạo nghiệp, cho đến đem đầu, mắt, tủy, não,
gia tài, vợ con, voi, ngựa, thất bửu thảy đều bố thí,
có kiến giải như thế đều là tự làm khổ cho thân tâm,
lại tự chiêu cảm quả khổ, chẳng bằng người vô sự chẳng
làm việc gì, thuần nhất chẳng nhiễm, như Thập Địa Mãn
Tâm Bồ tát đều cầu đạo này, tìm dấu tích trọn bất
khả đắc, cho nên chư Thiên hoan hỷ, Địa Thần ôm chân,
mười phương chư Phật cùng nhau tán thán. Tại sao như thế?
Vì đạo nhơn này chỗ dùng chẳng dấu tích”.
Phật
Nhãn thiền sư nói: Gần đây có người chỉ ham ngồi, ban
sơ thì tĩnh bơ, ngồi lâu thì ngủ gục, mười người có
chín người ngồi ngủ gục, luôn luôn chẳng chịu hạ thủ
công phu tham cứu, đạo này đâu thể trong ngồi ngủ mà ngộ
được! Những người như thế làm sao hội được. Đơn Hà
dựng phất trần, Bàng cư sĩ giơ cây búa, Đơn Hà quăng phất
trần, cư sĩ buông cây búa xuống! Lại nói: “Công án hôm
qua như thế nào? Đơn Hà nằm xuống, cư sĩ liền ra đi, việc
này chẳng phải người tri âm chơn thật, đâu thể cho ông
chú giải bậy bạ được!”
Lại
ngài Nham Đầu nói: “Bậc Sa môn tất cả đều nên mỗi mỗi
từ trong lòng mình lưu xuất, che thiên ngập địa mới được,
đâu thể do tĩnh tọa suy nghĩ mà được đâu!” Tiên sư (Pháp
Diễn thiền sư) nói: “Lúc ngủ lúc ngủ tham cứu, lúc ăn
cơm lúc ăn cơm tham cứu”. Lại người xưa nói: “Lúc ngồi
có đạo lý lúc ngồi, lúc đứng có đạo lý lúc đứng”,
há chẳng thấy Đầu Tử hỏi Thúy Vi rằng: Mật chỉ từ
Ấn đến, có thể cho nghe chăng?
Thúy
vi đứng đó ngó nhìn, Đầu Tử nói: Đem mai nói nữa, xin
sư tái chỉ.
Thúy
Vi nói: Còn muốn thêm gáo nước độc thứ hai chi nữa!
Đầu
Tử liền ngộ.
Thế
thì các ngươi chẳng được thọ dụng là tại ngày đêm ngồi
không, bỏ qua việc tốt biết bao!
35/
Tham Thiền Lầm Nhận “Chăn Trâu” Là Dụng Công:
“Chăn
trâu” là sau khi đã kiến tánh dùng để tẩy trừ tập khí,
điều chỉnh tánh tình, chẳng phải là tu hành. Bởi khi đã
kiến tánh, nhất ngộ vĩnh ngộ, chẳng cần tu nữa, nhưng
vẫn còn tập khí chưa dứt sạch, nên cần phải điều chỉnh
lại. Qui Sơn hòa thượng nói: “Các ngươi nếu đã hoát nhiên
thông suốt thì tu với chẳng tu là lời hai đầu, chỉ cần
trừ bỏ tập khí gọi là tu”.
Xưa
kia trong hội Qui Sơn có Đại An thiền sư nói: “Ta ở Qui
Sơn 30 năm, ăn cơm Qui Sơn, ỉa cứt Qui Sơn, mà chẳng học
thiền Qui Sơn, chỉ chăn một con trâu, nếu lạc đường vào
đám cỏ liền kéo ra, nếu phạm lúa mạ của người liền
lấy roi điều phục, như thế lâu ngày, nay biến thành con
lộ địa bạch ngưu (Chơn như Phật tánh), thường ở trước
mắt, suốt ngày luôn luôn hiển lộ rõ ràng (Phật tánh hiện
hành), đuổi cũng chẳng đi”. Phổ Minh Thiền Sư Mục Ngưu
Đồ, lấy vọng niệm dụ con trâu, Phật tánh dụ cho người
chăn trâu, vọng niệm khởi như con trâu chạy bậy, đem vọng
niệm sửa thành chánh niệm, như cỡi trâu về nhà, nói trở
về bản nguyên, ấy là sai lầm. Con trâu dụ cho vọng niệm
thì không sai, người chăn trâu dụ cho Phật tánh thì sai, người
chăn trâu nên dụ cho kiến, văn, giác, tri, chẳng phải Phật
tánh, Phật tánh chẳng khởi vọng niệm.
36/
Tham Thiền Lầm Nhận Tệ Đoan Của Thiền Là Dụng Công:
Cổ
Đức có luận về tệ đoan của thiền rằng: “Từ đời
Tống đến nay, tệ đoan của thiền đặc biệt nhiều, nay
thử đề ra có loại gọi là xướng họa tọa thiền, công
án tọa thiền, niệm Phật tọa thiền, ông địa tọa thiền,
điều phục tọa thiền…”
Nói
xướng họa tọa thiền là: người thầy lấy một câu thoại
đầu truyền thọ cho người học, người học vừa ngồi vừa
xướng, ví như truyền cho một chữ vô của Triệu Châu, thì
tất cả chúng người học cũng xướng lên “vô, vô, vô,
vô, vô…”, giống con tú hú kêu mưa vậy. Nếu truyền cho
núi tu di của Vân Môn, thì bọn chúng cùng nhau xướng lên
“núi tu di, núi tu di…”, giống như con ve kêu. Nếu như thế
được khai ngộ thì con tu hú với con ve cũng được khai ngộ.
Còn
công án tọa thiền thì người thầy truyền cho một công án,
bảo người học làm công phu, làm rồi lại đến trình thầy,
thuật lại cảnh giới của mình thấy, nếu hợp với ý thầy
thì được ấn khả chứng minh, rồi truyền cho một công án
khác. Từ công án này qua công án kia, gọi là “Thấu công
án”, ngoài ra còn bày đặt việc kỳ dị, dùng lời nói tỏ
vẻ quái lạ, như trong mộng nói mơ, chẳng biết hổ thẹn,
cũng như con khỉ vượn chụp trăng nước. Nếu làm như thế
mà đắc đạo thì con khỉ vượn cũng đắc đạo.
Còn
niệm Phật tọa thiền thì người thầy xưa nay thật chẳng
tham thiền, lại chưa hiểu Phật pháp, nhờ có phước si được
làm trụ trì; hoặc thầy có theo qui tắc ngồi thiền mà chưa
dạy bảo người học một việc gì, chỉ thỉnh Di Đà, Quan
Âm, Văn Thù, Di Lặc, chư Phật, chư Bồ tát để làm bản
tôn, ngồi im niệm danh hiệu hoặc niệm chú nói nhờ tha lực,
kiếp này ngộ đạo, kiếp sau sanh Tịnh độ, tự lầm và
dạy người, chùm đầu mà ngồi, giống như con sứa nhờ mắt
tôm để tìm món ăn. Nếu làm như thế mà được ngộ thì
người đá, người gỗ, ông Địa cũng phải đại ngộ.
Còn
nói điều phục tọa thiền, ví như ngựa rừng gắn yên; rắn
rừng vào ống tre, chỉ biết giữ theo lời dạy của thầy,
dùng công phu tọa thiền để hàng phục phiền não vọng tưởng.
Nếu làm như thế mà khai ngộ thì ngựa rừng, rắn rừng cũng
phải khai ngộ.
Những
tệ đoan của loại thiền này hiện nay vẫn còn giữ trong
tùng lâm, như niệm thoại đầu, đả ngạ thất (ngồi luôn
bày ngày đêm nhịn đói), bất đảo đơn… Thậm chí có người
đặt ra thần thoại, nói là mười ngày, tám ngày chẳng ăn,
thì được nhìn thấu qua vách tường mà thấy sự vật bên
ngoài thấy thần thấy ma… Sự bày đặt ma quái ngày càng
tăng thêm để làm hại cho người học.
37/
Lầm Nhận “Một Đường Hướng Thượng, Ngàn Thánh Chẳng
Truyền” Là Pháp Môn Để Dụng Công:
Người
xưa nói: “Một đường hướng thượng, ngàn Thánh chẳng
truyền”, ý là phàm nói được, truyền được thì chẳng
phải chơn như, chơn như Phật tánh phải tự chứng lấy, chẳng
thể nói cho người. Nay người ta hiểu lầm rằng pháp tham
thiền chẳng thể truyền thọ, chỉ có thể tự mình đi tìm
tòi, ấy là sai lầm lớn. Phật tánh dù chẳng thể ngôn truyền,
nhưng pháp dụng công tham thiền thì do ngàn Thánh sở truyền,
Phật Phật tự tay thân thọ nhau. Thế Tôn thuyết pháp 49 năm,
hoặc quyền hoặc thật, hoặc đốn hoặc tiệm, đời đời
kế thừa nhau, Thánh Thánh nối tiếp nhau, Tổ sư hét, gậy,
chửi mắng, dựng phất trần, giơ cây chỉa đều là thân
thiết bảo cho người, nhưng phải xem người ấy có thể thừa
đương hay không, chớ đâu phải chẳng truyền!
38/
Lầm Nhận “Dẫu Cho Biển Xanh Biến Thành Ruộng Dâu Cũng
Chẳng Vì Ông Nói Trắng Ra” Là Pháp Môn Dụng Công:
Người
xưa nói: “Dẫu cho biển xanh biến thành ruộng dâu cũng chẳng
vì ông nói trắng ra”, ý nói Phật tánh chơn như chỉ có
thể tự chứng ngộ, chẳng thể dùng ngôn ngữ nói cho người
biết.
Xưa
khi khi Hương Nghiêm chưa ngộ, cứ xin Qui Sơn nói trắng ra,
Qui Sơn nói: “Ta nói là của ta, chẳng dính dáng với ngươi”,
sau ở Nam Dương đang cuốc đất quăng miếng ngói trúng nhầm
cây tre phát ra tiếng, mới phát minh Tâm địa. Còn Phái Nguyên
Phù thượng tọa giảng kinh Niết Bàn, tỏ bày diệu lý của
Pháp thân, có thiền khách nghe xong nói: “Ông dù giảng hay,
nhưng thật thì chẳng biết”. Bèn ngưng giảng, tham cứu,
nửa đêm nghe tiếng trống mới ngộ Pháp thân. Người đời
nay hiểu lầm ý chỉ rằng “Dẫu cho biển xanh biến thành
ruộng dâu, cũng chẳng vì ông nói trắng ra” là sự bí mật
truyền thọ của tông môn, chẳng thể dạy người, ấy là
sai lầm lớn. Há chẳng nghe Lục Tổ nói: “Ngươi nếu phản
chiếu, mật ở bên ngươi” sao!
39/
Hiểu Lầm “Tâm Tịnh Thì Độ Tự Tịnh” Thành Bệnh:
“Tâm
tịnh thì độ tự tịnh” là nói sau khi minh tâm kiến tánh,
tất cả đều biến thành Phật tánh, trong Phật tánh chẳng
cấu chẳng tịnh, nên uế độ tức là Tịnh độ. Người
đời nay hiểu lầm ý này, nói đem ác niệm sửa lại thành
thiện niệm, đem nhiễm duyên biến thành tịnh duyên, trong
tâm trong sạch tự nhiên thế giới trong sạch gọi là tâm
tịnh thì độ tự tịnh, ấy là sai lầm lớn.
Tâm
niệm biến đổi vô thường, khởi diệt chẳng định, nếu
trong tâm trong sạch một hồi thì là Tịnh độ, vọng niệm
sanh khởi một hồi lại biến thành uế độ, như thế sáng
tịnh, chiều uế, ngày thiện đêm ác, thay phiên tuần hoàn
khi nào mới hết? Kỳ thật tâm tịnh tâm nhiễm là tác dụng
của bộ não, chẳng liên quan đến Tịnh độ, nếu là Tịnh
độ chơn chánh thì chẳng biến chẳng đổi, chẳng cấu chẳng
tịnh, tức Thường Tịch Quang Tịnh Độ, cũng là Pháp thân
của chư Phật. Nếu được đốn ngộ chơn như ngay đó liền
sanh Thường Tịch Quang Tịnh Độ, với chư Phật cùng một
Pháp thân thì vĩnh viễn siêu thoát sanh tử luân hồi, khi ấy
tìm tâm tìm độ bất khả đắc, còn gì để nói tịnh hay
uế ư!
40/
Lầm Nhận “Chẳng Sợ Vọng Khởi, Chỉ E Giác Chậm” Là
Pháp Dụng Công:
Có
người thường cho “Chẳng sợ vọng khởi, chỉ e giác chậm”
là phương pháp tu hành, ấy là sai lầm. Nếu khởi giác niệm
để phá vọng niệm thì giác đồng như vọng, cũng là nhất
niệm vô minh. Huỳnh Bá thiền sư nói: “Nay khi ngươi giác
biết vọng khởi, giác chính là Phật, nếu vốn chẳng vọng
niệm thì cũng chẳng có. Tại sao? Vì ngươi khởi tâm chấp
Phật mới nói có Phật tánh để thành, chấp chúng sanh mới
nói có chúng sanh để độ, phàm khởi tâm động niệm đều
là chỗ kiến chấp của ngươi, nếu không có tất cả kiến
chấp thì Phật đâu có xứ sở! Cũng như Văn Thù vừa khởi
kiến chấp có Phật liền bị đày nơi núi Nhị Thiết vi,
cho nên nói “Chẳng sợ vọng khởi, chỉ e giác chậm!” Bổn
lai chẳng vọng, nói chi là giác? Nếu lấy giác bỏ vọng,
giác cũng thành vọng.
Kinh
Viên Giác nói: “Tất cả thế giới, thủy, chung, sanh, diệt,
trước, sau, có, không, tụ, tán, khởi, dừng, niệm niệm tương
tục, tuần hoàn xoay chuyển, đủ thứ thủ xả đều là luân
hồi, nếu chưa ra khỏi luân hồi mà phân biệt Viên giác,
thì tánh Viên giác kia cũng đồng như luân hồi, vậy muốn
khỏi bị luân hồi thì chẳng có chỗ đúng”.
41/
Lầm Nhận “Gót Chân Chấm Đất” Là Pháp Dụng Công:
“Gót
chân chấm đất” là lời nói sau khi đã ngộ, người đã
minh tâm kiến tánh, siêu xuất sanh tử luân hồi, đạt đến
bản thể tuyệt đối thì việc lớn đã xong, gọi là gót
chân chấm đất. Nay có người hiểu lầm ý này, cho là làm
một ông Tăng chơn thật, siêng năng tu hành, bước chân vững
vàng tức gót chân chấm đất ấy là sai.
42/
Dụng Công Lầm Nhận “Vô Tâm Là Đạo”:
Huỳnh
Bá thiền sư nói: “Tức tâm là Phật, vô tâm là đạo”,
Tổ sư nói: “Phật thuyết tất cả pháp, vì trừ tất cả
tâm, ta chẳng tất cả tâm, đâu cần tất cả pháp”, đây
là lời sau khi đã ngộ, ý nói Phật phương tiện thuyết pháp
độ người tam thừa, người thượng thượng căn tự minh
tâm địa, tự thấy bản tánh thì đâu cần tất cả pháp.
Ý chỉ đồng với kinh Kim Cang nói: “Biết ta thuyết pháp
ví như chiếc bè qua sông, đến bờ thì phải bỏ bè, vậy
pháp còn phải bỏ, huống là phi pháp!” với kinh Viên Giác
nói: “Tất cả chúng sanh tu tập tâm này nếu được thành
tựu, mới biết ngay đó chẳng tu cũng chẳng thành tựu”.
“Ngay nơi chứng ngộ chẳng năng chẳng sở, rốt cuộc chẳng
chứng, cũng chẳng kẻ chứng” chính là đồng nhau. Mà người
đời sau hiểu lầm ý này, cho là đem vọng tâm dừng nghĩ
tư tưởng dứt sạch tức là vô tâm, tức là ngộ đạo, ấy
là sai lầm lớn. Vọng tâm là nhất niệm vô minh, nhất niệm
vô minh dừng nghỉ tức là cảnh giới đen tối của vô thỉ
vô minh, cảnh giới này chưa phá tan thì chưa thể thấy Phật
tánh, chẳng phải ngộ đạo. Nên người xưa nói: “Chớ cho
vô tâm tức là đạo, vô tâm còn cách núi muôn trùng”, chính
là chỉ ngay thứ hiểu lầm này.
43/
Dụng Công Lầm Nhận “Bình Thường Tâm Là Đạo”:
Triệu
Châu hỏi Nam Tuyền: Thế nào là đạo?
Tuyền
nói: Bình thường tâm là đạo.
Châu
nói: Có xu hướng chăng?
Tuyền
nói: Tính hướng thì sai.
Châu
nói: Chẳng tính sao biết là đạo?
Tuyền
nói: Đạo chẳng thuộc biết, chẳng thuộc không biết; biết
là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu chơn đạt đến
cái đạo “chẳng tính” thì giống như không, mênh mông trống
rỗng, đâu có thể cưỡng cho là đúng sai ư!
Châu
ngay đó đại ngộ.
Lời
“Bình thường tâm là đạo” của Nam Tuyền, ý nói sau khi
kiến tánh, khởi niệm động niệm đều là Phật tánh, đứng,
nằm, ngồi, mặc áo, ăn cơm, cuộc sống hằng ngày đều là
chơn như, ấy là cảnh giới sau khi chứng ngộ. Nay người
ta hiểu lầm câu “Bình thường tâm là đạo” tức là bình
bình thường thường để qua ngày, bình bình thường thường
làm một người tốt, chẳng làm thiện, chẳng tạo tác, mặc
kệ tùy duyên uổng qua một đời tức là ngộ đạo, như vậy
khác chi người lời biếng, ăn no suốt ngày chẳng làm việc
gì! Thật đáng thương xót!
44/
Dụng Công Lầm Nhận “Trực Tâm Là Đạo Tràng”:
Kinh
Duy Ma cật nói: “Trực tâm là đạo tràng”, ý nói sau khi
kiến tánh, khởi tâm động niệm đều là Phật tánh hiện
hành, chỉ một tâm ngay thẳng chẳng biến đổi. Kinh Pháp
Bảo Đàn nói: “Nếu trong tất cả nơi, đi, đứng, nằm,
ngồi, chỉ một tâm ngay thẳng, là đạo tràng chẳng động,
là Tịnh độ chơn thật, gọi là Nhất hạnh tam muội”. Người
đời sau hiểu lầm cho con người chỉ cần ngay thẳng tức
là ngộ đạo, ấy là sai lầm.
45/
Dụng Công Lầm Nhận “Đầu Sào Trăm Thước”:
Trường
Sa Sầm thiền sư dẫn dụ lời Cổ Đức rằng: “Người trụ
nơi đầu sao trăm thước, mặc dù đắc nhập chưa phải chơn,
đầu sào trăm thước cần tiến tới, mười phương thế giới
hiện toàn thân”. Đây là lời khẩn yếu của sự dụng công
để khuyên bảo người hậu học, đầu sào trăm thước là
dụ cho quá trình dụng công của người tu hành, được leo
tới đầu sao trăm thước công phu đã khá rồi, hễ lên nữa
tức là hư không, là việc rất khó tiến lên, nếu được
tiến thêm một bước thì ngay đó kiến tánh thành Phật mà
chứng đắc Pháp thân, nên nói “Đầu sào trăm thước cần
tiến tới, mười phương thế giới hiện toàn thân”.
Chỗ
đầu sào này dụ cho cảnh giới vô thỉ vô minh, người dụng
công đến nơi cảnh giới trống rỗng đen tối chẳng có gì
cả, tức là đầu sào trăm thước, cũng là vô thỉ vô minh,
chớ nên lầm nhận cho cảnh giới này là Chơn như Phật tánh,
đến đây cần phải tiến lên để phá tan vô thỉ vô minh
mới được kiến tánh thành Phật. Nay có người hiểu lầm
cho dứt trừ vọng niệm là đến đầu sào trăm thước, rồi
luôn cả cái niệm dứt trừ cũng tiêu sạch tức là “Đầu
sào trăm thước cần tiến tới” ấy là sai.
46/
Hiểu Lầm “Bất Nhị Pháp Môn” Thành Bệnh:
“Pháp
môn bất nhị” là nói Phật tánh tuyệt đối, chẳng có năng
sở đối đãi là bất nhị, xưa kia trong hội Tỳ Da, Văn Thù
Bồ tát để ý chỉ bất nhị, khi ấy sở thuyết của ba mươi
hai vị Hiền triết đều sai, chỉ có Duy Ma Cật im lặng chẳng
nói, Văn Thù Bồ tát khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Đến
chỗ chẳng có văn tự lời nói mới thật là nhập pháp môn
bất nhị”. Nên biết tuyệt đối của Phật tánh chẳng phải
văn tự lời nói có thể đến, nên nói ngôn ngữ đạo đoạn,
tâm hành xứ diệt. Hiện nay các chùa chiền, trên cửa thường
để bốn chữ “Bất Nhị Pháp Môn”, bắt chước nhau từ
lâu, Kinh nói: “Vô môn là pháp môn”, thì cửa chùa làm sao
so bằng được!
47/
Lầm Nhận “Tọa Vong” (Ngồi Quên) Trong Đại Tông Sư Thiên
Của Trang Tử Là Phật Pháp:
Nhan
Hồi nói: Hồi được ích rồi!
Khổng
Tử hỏi: Là thế nào?
Hồi
nói: Hồi đã quên nhân nghĩa rồi.
Khổng
Tử nói: Được, nhưng còn chưa.
Hôm
khác Hồi lại trình: Hồi được ích rồi.
Khổng
Tử nói: Là thế nào?
Hồi
nói: Đã quên lễ nhạc rồi.
Khổng
Tử nói: , Được rồi, nhưng còn chưa.
Hôm
khác lại trình rằng: Hồi được ích rồi.
Khổng
Tử hỏi: Là thế nào?
Hồi
nói: Hồi tọa vong rồi.
Khổng
Tử hỏi: Thế nào là tọa vong?
Hồi
nói: Đọa cơ thể, bặt thông minh, lìa hình bỏ trí, dụng
nơi đại đạo gọi là tọa vong.
Khổng
Tử nói: Đồng thì chẳng hai, hóa thì vô thường, Hồi quả
thật là bậc Hiền, ta xin theo sau.
Như
thế lý đạo của tọa vong tức là cảnh giới vô thỉ vô
minh của nhà Phật vậy.
48/
Dụng Công Lầm Nhận “Đại Thủ ấn”:
Đại
thủ ấn tức là thể tánh của bản tâm của tất cả chúng
sanh với chư Phật bình đẳng chẳng khác, bản tâm bình đẳng
vốn trong sạch thường trụ, dù bị vô minh che khuất, nhưng
thể tánh chơn tâm vẫn tự sáng tỏ trong sạch, dẫu ở nơi
lục đạo luân hồi vẫn chẳng thêm chẳng bớt. Cái bản
thể vi diệu này, có khi gọi là Bản giác Như lai, Phổ Hiền
Như lai, Bổn kiến thanh tịnh… tên khác thể đồng, tức
một tâm này là căn bản của Đại Thủ Ấn.
Phái
cũ của Mật tông có nói: Phổ Hiền Như Lai này là Phật nguyên
thỉ, chẳng cần dùng sức tẩy trừ nghiệp chướng, ví như
nước biển bị gió khơi động mà sanh khởi làn sóng, nếu
còn khuấy động (dùng sức tẩy trừ) thì làn sóng không khi
nào được dừng lại mà thành trong lặng. Cũng như mây mù
trôi nổi trên không, khi mây mù tan rã thì trong sạch của
hư không tự hiện; lúc mây mù che khuất hư không, tánh không
vẫn là tánh không, chưa hề giảm bớt chút nào. Nếu tâm
của con người vốn chẳng có thể tánh sáng tỏ trong sạch
thì bất cứ dùng phương tiện nào cũng chẳng thể tẩy sạch,
vì bản tâm vốn sẵn trong sạch diệu minh mới có thể dùng
phương tiện tẩy trừ vọng niệm cho đến thành Phật”.
“Bản
tâm vốn trong sạch” là Phật tánh, Phật tánh chẳng thể
sanh khởi vô minh, sanh khởi vô minh là do linh tánh của kiến,
văn, giác, tri; linh tánh chẳng phải Phật tánh, như nước
biển kia vì bị gió khơi động mà sanh làn sóng, nước biển
là dụ cho linh tánh của kiến, văn, giác, tri, nếu lầm nhận
cho là Phật tánh thì tu cũng vô ích.
49/
Dụng Công Lầm Nhận “Minh Đế” Của Bà La Môn:
Các
nhà Phật học Trung Quốc xưa nay rất nhiều Đại đức cao
Tăng lầm nhận “Minh Đế” cho là Phật tánh, Minh đề phi
không phi hữu, là bản tánh của thế gian, vì Minh Đế khởi
một niệm sanh giác, do giác sanh hai mươi lăm đế, từ hai
mươi lăm đế trở về bản thể Minh Đế, tức là vô thỉ
vô minh, cũng là chỗ lầm nhận của một số cao Tăng Trung
Quốc nói từ Phật tánh sanh khởi vô minh, đoạn dứt vô minh
trở về Phật tánh, ấy là sai lầm từ căn bản, tu hành vô
ích.
Kỳ
thật Minh Đế của Bà La Môn tức là vô thỉ vô minh, sanh
giác tức là kiến, văn, giác, tri sanh khởi một niệm, do một
niệm này sanh ra tám mươi bốn ngàn niệm, cũng gọi là tám
mươi bốn trần lao phiền não vậy.
Xem
Tiếp: Chương
III: Thỉnh Ích (Hỏi Đạo)