8-
GIA PHONG CỦA NĂM PHÁI THIỀN.
Dưới
cửa Lục Tổ có bốn ba người đắc pháp, mỗi mỗi hóa độ
một phương, đều là chánh thống, trong đó có Nam Nhạc Hoài
Nhượng, Thanh Nguyên Hành Tư và Hà Trạch Thần Hội nổi bậc
nhất. Phái Nam Nhạc sau này sanh ra Lâm Tế và Qui Ngưỡng hai
tông, phái Thanh Nguyên sau này sanh ra Vân Môn, Pháp Nhãn, Tào
Động ba tông. Mỗi tông đều có phương pháp riêng để tiếp
dẫn hậu học, gọi chung là Ngũ gia gia phong. Phái Hà Trạch
truyền đến Khuê Phong Tông Mật, vốn là người tông Hoa Nghiêm,
thuộc giáo môn, chưa thể gánh vác tông chỉ Tào khê mà mong
điều hòa Thiền tông với các tông Giáo môn, lọt vào ngôn
thuyết kiến giải, làm cho phái Hà Trạch Thần Hội tuyệt
truyền, chỉ còn phái Nam Nhạc Thanh Nguyên được người đời
sau công nhận là phái đích truyền của Tào Khê.
Nam
Nhạc có Mã Tổ cũng như Thanh Nguyên có Thạch Đầu, Mã Tổ
được sự thọ ký “Dưới chân chà đạp khắp người thiên
hạ”, còn Thạch Đầu thì có tiếng tăm “Thạch đầu đường
trơn”. Mã Tổ chủ hóa Giang Tây, Thạch Đầu chủ hóa Hồ
Nam, người tham học từ bốn phương đều tìm đến cửa hai
phái, rất là thịnh vượng. Dưới cửa Mã Tổ có đệ tử
một trăm ba mươi chín người ngộ đạo, trong đó có Bá Trượng
Hoài Hải nổi bật nhất, ngài Bá Trượng là người bắt
đầu sáng lập Thiền viện, soạn Thanh qui của Tòng lâm, đệ
tử bậc thượng là Huỳnh Bá Hy Vận, Qui Sơn Linh Hựu. Dưới
Huỳnh Bá có Lâm Tế Nghĩa Huyền, là Tổ của Lâm Tế tông.
Qui
Sơn là Tổ của Qui Ngưỡng tông, dưới Qui Ngưỡng có Ngưỡng
Sơn Huệ Tịch, do thầy trò Qui Sơn, Ngưỡng Sơn xướng họa
với nhau cùng phát dương mà thành gia phong của bản Tông.
Dưới
Thạch Đầu người đắc đạo cũng nhiều, trong đó Thiên
Hoàng Đạo Ngộ, Dược Sơn Duy Nghiễm hai nhánh là chủ lưu,
dưới Đạo Ngộ truyền qua Long Đàm Sùng Tín, Đức Sơn Tuyên
Giám, đến Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Thiền phong chấn hưng, tứ
chúng nhiễu quanh thường hơn một ngàn năm trăm người, đệ
tử tiếp nối có Vân Môn Văn Yểm, Huyền Sa Sư Bị tất cả
năm mươi sáu người, Văn Yểm là Tổ của Vân Môn tông.
Dưới
Huyền Sa truyền qua La Hán Quế Sâm, đến Pháp Nhãn Văn Ích
là Tổ của Pháp Nhãn tông.
Dưới
Dược Sơn Duy Nghiễm truyền qua Vân Nham Đàm Thạnh, đến
Động Sơn Lương Giới với đệ tử Tào Sơn Bổn Tịch cùng
nhau sáng lập Tào Động tông. Ấy là cội nguồn thành lập
của năm phái Thiền.
Nói
gia phong là tác phong riêng biệt của mỗi Tổ dùng để phát
dương Tông chỉ biệt truyền của Thiền tông. Chư Tổ minh
tâm kiến tánh dù đồng nhau, nhưng cá tánh mỗi mỗi chẳng
đồng, nên phương pháp tiếp dẫn hậu học mới có sự khoan
hồng, oai mãnh, ôn hòa, gấp bách mỗi mỗi khác nhau. Nói tóm
lại, gia phong của các phái trong Thiền tông đều lấy “Niêm
hoa thị chúng” của Phật Thích Ca làm mô phạm.
Phương
pháp phổ biến nhất của chư Tổ Trung Quốc là dùng gậy,
dùng hét để tiếp dẫn hậu học. “Gậy” bắt đầu Lục
Tổ đánh Thần Hội, “Hét” bắt đầu từ Mã Tổ tiếp
Bá Trượng, tác dụng với niêm hoa chẳng khác. Cho đến Ca
Diếp giơ tay, A Nan hiệp chưởng, nhị tổ Huệ Khả lễ bái
xong về đứng chỗ cũ, Mã Tổ dựng phất trần, quăng phất
trần, Bí Ma giơ chỉa, Hòa Sơn đánh trống, Thạch Cũng giương
cung, tuyết Phong đá cầu, Quốc Sư để chén nước, Qui Tông
kéo đá, La Hán vẽ chữ, Đại Tùy hầm khoai, Đức Sơn vào
cửa liền đập, Lâm Tế vào cửa liền hét, “Là cái gì?”
của Bá Trượng, “Chớ vọng tưởng” của Vô Nghiệp, Triệu
Châu uống trà, Vân Môn ăn bánh, tất cả đều chẳng khác
với sự niêm hoa thị chúng của Phật Thích Ca. Ấy đều là
chư Tổ tùy cơ phát huy dùng để tiếp dẫn hậu học, vốn
chẳng qui tắc nhất định. Như Lâm Tế Nghĩa Huyền thiết
lập các quan ải Tam Huyền Tam Yếu và Tứ Liệu giản để
khám xét đồ chúng, tiếp dẫn hậu học, con cháu truyền thừa
nhau tỏ ra thành gia phong.
٭
GIA PHONG LÂM TẾ TÔNG:
Truyện
Lâm Tế trong Truyền Đăng Lục rằng: Tăng hỏi thế nào là
câu thứ nhất?
Sư
nói: Ấn khai tam yếu điểm son hẹp, chưa cho suy nghĩ chủ
khách phân.
Hỏi
thế nào là câu thứ nhì?
Sư
nói: Diệu giải chẳng cho vô vấn trước (chấp trước), phương
tiện đâu phụ (cô phụ) triệt lưu cơ.
Hỏi
thế nào là câu thứ ba?
Sư
nói: Hãy xem trên đài hát múa rối, kéo dây đều do người
bên trong.
Lại
nói: Một cú ngữ phải đủ tam huyền môn, một huyền môn
phải đủ tam yếu, có quyền có thực, các ngươi làm sao lãnh
hội!
Thủ
Sơn Tĩnh Niệm thiền sư (đời thứ năm phái Lâm Tế) trong
Cổ Tôn Túc Ngữ Lục rằng: Ngộ được câu thứ nhất làm
thầy của Tổ và Phật, ngộ được câu thứ nhì làm thầy
của người và trời, ngộ được câu thứ ba tự cứu chẳng
xong!
Còn
Từ Minh Sở Viên thiền sư (đời thứ bảy phái Lâm Tế) vì
Tăng hỏi Tam huyền tam yếu mà thuyết tụng rằng:
Đệ
nhất huyền:
Tam
thế chư Phật tính nói chi?
Dạy
bảo trong mộng sanh khinh rẻ,
Ngồi
không lại thành đọa đoạn kiến.
Đệ
nhị huyền:
Lanh
lợi nạp Tăng mắt chưa sáng,
Lửa
đá điện chớp là chậm trể,
Nhướng
mày nháy mắt càng cách xa.
Đệ
tam huyền:
Vạn
tượng sum la vũ trụ rộng,
Mây
tan hang trống núi non lặng,
Nước
chảy đất bằng đầy sông ngòi.
Đệ
nhất yếu:
Thánh
phàm nói chi diệu,
Suy
nghĩ đường càng xa,
Mở
mắt điên đảo nhiều.
Đệ
nhị yếu:
Đánh
kiểng gọi đỉnh núi,
Thần
thông đến tự tại,
Đa
văn kêu ngoài cửa.
Đệ
tam yếu:
Ngồi
nằm khiến người chê,
Bàn
tay nắm thiên địa,
Chiếu
soi đủ ngàn sai.
Về
Tứ Liệu Giản, trong Lâm Tế Lục ghi rằng: Như kiến giải
Thiền tông, tử hoạt dĩ nhiên, người tham học cần nên chú
ý, cũng như chủ khách gặp nhau thì có ngôn luận qua lại,
hoặc tùy vật hiện hình, hoặc toàn thể tác dụng, hoặc
nắm cơ tùy phương tiện mà vui giận, hoặc hiện bán thân,
hoặc cỡi sư tử, hoặc cỡi tượng vương. Như tiếng hét
của người học chơn chánh là đưa ra cái thau bằng keo, Thiện
tri thức chẳng biết là cảnh, bèn dính mắc cảnh họ làm
dáng làm điệu, liền bị người học hét thêm tiếng nữa,
Thiện tri thức chẳng chịu buông xuống, ấy là bệnh tuyệt
vọng chẳng thể trị, gọi là “khách nhìn chủ”.
Hoặc
là Thiện tri thức chẳng đưa ra vật gì, tùy chỗ hỏi của
người học liền đoạt, người học bị đoạt thà chết
chẳng chịu buông, ấy gọi là “chủ nhìn khách”.
Hoặc
có người học tỏ một cái trong sạch ra trước mắt Thiện
tri thức, Thiện tri thức biết là cảnh, liền quăng vào hầm
sâu, người học nói: “Tốt lắm Thiện tri thức”. Thiện
tri thức liền nói: “Ngốc thay chẳng biết tốt xấu”. Người
học liền lễ bái, đây gọi là “Chủ nhìn chủ”.
Hoặc
có người học còng tay còng cổ ra trước mắt Thiện tri thức,
Thiện tri thức lại cho còng thêm một lớp, người học hoan
hỉ, hai bên đều chẳng biết, ấy gọi là “Khách nhìn khách”.
Các
Đại đức! Sơn Tăng kể chuyện như thế đều là phân biệt
ma quái để biết rõ chánh tà vậy.
Lại
nói:
“Có
khi đoạt nhơn chẳng đoạt cảnh,
Có
khi đoạt cảnh chẳng đoạt nhơn,
Có
khi nhơn cảnh đều đoạt,
Có
khi nhơn cảnh đều chẳng đoạt”.
Tăng
hỏi thế nào là đoạt nhơn chẳng đoạt cảnh?
Sư
đáp: Mặt trời phát sinh lụa trải khắp, hài nhi tóc dài
trắng như tơ.
Hỏi
thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt nhơn?
Sư
đáp: Lệnh vua đã ban khắp thiên hạ, tướng quân biên thùy
chẳng thấy nghe.
Hỏi
thế nào là cảnh nhơn đều đoạt?
Sư
đáp: Biên giới cách tuyệt tin tức, tự cô độc ở một
nơi.
Hỏi
thế nào là nhơn cảnh đều chẳng đoạt?
Sư
đáp: Vua lên ngôi bửu điện, lão ẩn dật ca ngợi.
Lại
nói:
“Người
học từ bốn phương đến, Sơn Tăng ở đây phân ra làm ba
thứ căn cơ: Như người trung hạ căn đến thì ta đoạt cảnh
họ mà chẳng trừ pháp họ; như người trung thượng căn đến
thì ta cảnh pháp đều đoạt; như người thượng thượng
căn đến thì ta cảnh pháp, nhơn đều chẳng đoạt; như có
kẻ kiến giải xuất cách (siêu việt ba thứ căn cơ) đến
thì Sơn Tăng ở đây bèn toàn thể tác dụng, chẳng tùy căn
cơ”.
Ngài
Lâm Tế ứng cơ thường hay dùng hét, người ta gọi là “vào
cửa liền hét”. Bởi trong một tiếng hét sẵn đủ tam huyền
tam yếu và tác dụng chủ khách. Sư từng nói: “Có một tiếng
hét như bửu kiếm Kim Cang Vương, có khi một tiếng hét như
Kim Mao sư tử cự địa (thế sắp chụp người), có khi một
tiếng hét như cây trúc dọ thám hình bóng trong đám cỏ, có
khi một tiếng hét chẳng cho là tác dụng một tiếng hét,
các người làm sao lãnh hội!”
Lúc
bấy giờ, môn đồ tham học trong hội cũng bắt chước Sư
hét, Sư nói: “Các ngươi cứ bắt chước Ta hét, nay Ta hỏi
các ngươi: có một người từ bên Đông ra, một người từ
bên Tây ra, hai người cùng hét một lượt, ở đây phân được
chủ khách chăng? Mà các người làm sao phân? Nếu phân chẳng
được, về sau chẳng nên bắt chước lão Tăng hét”.
Đối
với gia phong Lâm Tế, Thủ Sơn Tĩnh Niệm thiền sư từng nói:
“Các Thượng tọa! Chẳng nên hét mù hét bậy, ở đây bình
thường nói với các ông, khách thì rốt cuộc là khách, chủ
thì rốt cuộc là chủ; khách chẳng hai khách, chủ chẳng hai
chủ. Nếu có hai khách, hai chủ tức là hai thằng mù, cho nên
nếu ta đứng thì ngươi phải ngồi, nếu ta ngồi thì ngươi
phải đứng. Ngồi thì cùng ngươi ngồi, đứng thì cùng ngươi
đứng, mặc dù như thế, đến đây con mắt phải nhìn nhanh
cho rõ mới được, nếu con mắt do dự thì cách xa muôn ngàn
dậm. Tại sao như thế? Giống như cách cửa sổ xem cỡi ngựa,
suy nghĩ tức chẳng dính dáng. Các Thượng tọa đã lưu tâm
việc này, cần phải chú ý, tốt nhất đừng bám vào chỗ
giả dối, hôm nọ ngày sau ngươi sẽ bị gạt”.
Đây
là gia phong đại khái của Lâm Tế tông.
٭
GIA PHONG QUI NGƯỠNG TÔNG:
Qui
Ngưỡng tông cho chín mươi sáu tướng tròn, gia phong tương
đối ôn hòa, chẳng giống sự mãnh liệt của Lâm Tế tông.
Trong Nhơn Thiên Nhãn Mục nói về gia phong Qui Ngưỡng tông
là “Cha từ con hiếu, lệnh trên thì dưới tùng, ngươi
muốn ăn cơm thì ta liền bưng canh; ngươi muốn qua sông ta
liền chèo thuyền, cách núi thấy khói liền biết là lửa;
cách tường thấy sừng liền biết là trâu”.
Còn
Pháp Nhãn Thiền sư Thập Qui Luận rằng: “Qui Ngưỡng thì
vuông tròn mặc khế, như tiếng dội trong hang, như phù hợp
luật lệ thông qua quan ải”.
Truyền
Đăng Lục Qui Sơn truyện rằng:
Phổ
thỉnh hái trà, Sư (Qui Sơn) nói với Ngưỡng Sơn rằng: Suốt
ngày hái trà, chỉ nghe tiếng ngươi, chẳng thấy hình người,
xin hiện bổn hình ra xem!
Ngưỡng
Sơn lắc cây trà.
Sư
nói: Ngươi chỉ được cái dụng, chẳng được cái thể.
Ngưỡng
Sơn nói: Chưa rõ Hòa thượng thế nào?
Sư
giây lâu.
Ngưỡng
Sơn nói: Hòa thượng chỉ được cái thể, chẳng được cái
dụng.
Sư
nói: Cho ngươi hai mươi gậy.
Ngưỡng
Sơn nói: Gậy Hòa thượng con ăn, gậy con bảo ai ăn?
Sư
nói: Cho ngươi ba mươi gậy.
Ngữ
Lục của Chơn Tịnh thiền sư khi trụ trì Đông Sơn có ghi:
“Thượng đường kể: Thuở xưa Diêm Quan thường dạy Tăng
về pháp môn kiến tánh, nghe nói Qui Sơn cũng vậy, liền sai
hai vị Tăng đi dọ thám, đến nơi tọa hạ, nghe trăm điều
đề xướng đều chẳng hiểu, lại sanh tâm khinh mạn. Một
hôm gặp Tiểu Thích Ca (Ngưỡng Sơn) nói: “Ngươi chớ tâm
thô”. Tiểu Thích Ca bèn làm một tướng tròn, hai tay đưa
ra, hai Tăng cũng chẳng hiểu, Tiểu Thích Ca nói: “Ngươi chớ
tâm thô” liền bỏ đi.
Sư
Chơn Tịnh nói: “Tiểu Thích Ca tam muội, hai vị Tăng chẳng
biết, dưới cửa Động Sơn có kẻ nào biết chăng? Là tam
muội gì?” Giây lâu, Ngài nói tiếp: “Làm mì cần xứ trồng
lúa mạch, ca nhạc nên tôn Đế Hương” (Nhạc thần của
Đế Thích).
٭GIA
PHONG VÂN MÔN TÔNG:
Vân
Môn tông người sáng lập là tổ Văn Yểm, ban sơ tham vấn
ngài Mục Châu phát minh tâm địa sau tham ngài Tuyết Phong,
thấu được áo chỉ Gia phong của Tuyết Phong, bèn nối pháp
Tuyết Phong thì ôn hòa, huyền ảo. Văn Yểm kế thừa sở
trường của hai nhà, phát huy Tông chỉ vi diệu đặc biệt,
trụ núi Vân Môn Thiều Châu, đồ chúng thường hơn ngàn người,
kẻ nối pháp sáu mươi mốt người.
Gia
phong của Vân Môn thẳng tắt, thường dùng ba chữ Cố (nhìn),
Giám (xem), Ỷ (chê) để khám xét xét người học; còn có
Vân Môn Bát Yếu: một Huyền, hai Tùng, ba Chơn Yếu, bốn Đoạt,
năm Hoặc, sáu Quá, bảy Tán, tám Xuất. Pháp Nhãn Thiền Sư
Thập Qui Luận xưng ngài Vân Môn là “Hàm cái triệt lưu”,
nói gia phong nhà họ giống như nước sông đang chảy gấp
mà đột nhiên dừng lại.
Văn
Yểm có tự làm bài kệ rằng:
Vân
Môn chót vót trên đám mây,
Cá
chẳng dám trụ, nước chẳng bay,
Vào
cửa đã biết ôm kiến giải,
Đâu
phiền kể lại sình bánh xe.
Đệ
tử ngài Vân Môn là Viên Minh thiền sư có bài kệ tụng ba
câu của Vân Môn rằng:
1/
Hàm cái càn khôn:
Càn
khôn và vạn tượng,
Địa
ngục với thiên đường.
Vật
vật đều trực hiện,
Mỗi
mỗi chẳng đúng sai.
2/
Triệt đoạn chúng lưu:
Đầy
núi đầy biển lại,
Mỗi
mỗi đều trần ai.
Lại
muốn lập huyền diệu,
Ngói
bể băng tiêu ngay.
3/
Tùy ba trục lãng:
Cách
hỏi dù biện tài,
Cao
thấp đáp chẳng sai.
Cũng
như thuốc đúng bệnh,
Chẩn
trị lúc lâm thời.
- Riêng
hỏi ngoài ba câu:
Đương
nhơn nếu đề xướng,
Ba
câu đâu thể gồm.
Có
hỏi việc thế nào,
Nam
Nhạc và Thiên Thai.
Ngài
Trí Môn làm bài tụng “Rút chữ Cố” rằng:
Vân
Môn rút cố cười hi hi,
Suy
nghĩ bị nó cố giám ỷ.
Dẫu
cho Trương Lương nhiều kế sách,
Cuối
cùng ở đây cũng khó thi (hành).
٭
GIA PHONG PHÁP NHÃN TÔNG:
Người
sáng lập là Thanh Lương Văn Ích thiền sư, trụ trì Kim Lăng
Thành Vương Tự, học giả bốn phương tấp nập tìm đến
tham học, hình thành một Tông phái trong Thiền tông.
Gia
phong của Pháp Nhãn tông có Lục Tướng và Tứ Liệu giản
dùng để tiếp dẫn hậu học. Tứ Liệu Giản tức là Văn
văn (phóng), Văn bất văn (thu), Bất văn văn (minh), Bất văn
bất văn (ám).
٭
GIA PHONG TÀO ĐỘNG TÔNG:
Tào
Động tông đúng ra phải xưng là Động Tào tông, do Động
Sơn Lương Giới thiền sư với đệ tử là Tào Sơn Bổn Tịch
thiền sư sáng lập. Ngài Lương Giới thọ tâm yếu nơi Vân
Nham thiền sư, sau trụ trì Động Sơn Phổ Lợi viện ở Dự
Chương, đề xướng Ngũ Vị để tiếp dẫn học giả. Ngũ
Vị là: Chánh trung thiên, Thiên trung chánh, Chánh trung lai, Thiên
trung chí, Kiêm trung đáo. Còn có bài Bửu Cảnh Tam Muội Ca.
Động
Sơn gia phong miên mật, trong số đệ tử thượng thủ, ngài
Tào Sơn Bổn Tịch đắc tâm truyền, trụ trì Tào Sơn Sùng
Thọ viện ở Võ Châu, xướng dương yếu khuyết Ngũ Vị,
người học đến tấp nập, người đời xưng là Tào Động
tông.
Pháp
Nhãn Thiền Sư Thập Qui Tụng rằng: “Tào Động là xướng
họa làm dụng”, bởi gia phong một vấn một đáp, qua lại
miên mật, so với cơ phong thẳng tắt của Lâm Tế ý thú khác
xa. Nên người xưa có lời nói “Lâm Tế tướng quân, Tào
Động nông dân”. Vì gia phong Lâm Tế như tướng chỉ huy
binh lính trăm vạn, mà gia phong Tào Động thì như kẻ nông
phu canh tác ruộng đất rất chu đáo vậy.
Có
Tăng hỏi Phần Dương Thiện Chiêu thiền sư: Thế nào là Chánh
trung lai?
Đáp:
Bông sen nở đầy trên đất khô.
Hỏi:
Sau khi nở thế nào?
Đáp:
Nhụy bông Kim Liên hứng sương ngọc, cao Tăng chẳng tọa đài
Phượng Hoàng.
Hỏi:
Thế nào là Chánh trung thiên?
Đáp:
Mặt trăng chiếu sáng đầu đêm rồi, gà gáy phải báo trước
canh năm.
Hỏi:
Thế nào là Thiên trung chánh?
Đáp:
Mầm nhỏ thành cây to, giọt nước làm sông ngòi.
Hỏi:
Thế nào là Thiên trung chí?
Đáp:
Ý khí chẳng đắc từ thiên địa, anh hùng đâu nương thời
thế thành.
Hỏi:
Thế nào là Kiêm trung đáo?
Đáp:
Ngọc nữ dệt vải thuyền ọt ẹt, người đá đánh trống
tiếng đùng đùng.
Sư
vì Tăng xin hỏi Ngũ Vị, bèn tụng ra từng vị rằng:
Chánh
trung lai:
Bửu
kiếm Kim Cang vạch trời ra,
Một
tia thần quang khắp thế giới,
Phẩm
tánh sáng tỏ tuyệt trần ai.
Chánh
trung thiên:
Cơ
phong sấm sét nháy mắt nhìn,
Lửa
đá điện chớp chậm trể thay!
Suy
nghĩ đo lường xa ngàn dặm.
Thiên
trung chánh:
Hãy
xem Luân Vương ban chánh lệnh,
Bảy
ngàn Thái Tử đều theo hầu,
Giữa
đường một mình tìm gương vàng.
Thiên
trung chí:
Sư
tử ba tuổi oai thế sẵn,
Thiên
tà bá quái ló đầu ra,
Rống
lên một tiếng đều hàng phục.
Kiêm
trung đáo:
Hiển
bày vô công chớ tạo tác,
Trâu
gỗ bước đi trong lửa hồng,
Thật
là Pháp Vương diệu trung diệu.
Còn
Ngũ Vị Tụng của Từ Minh Sở Viên thiền sư rằng:
Chánh
trung thiên:
Gà
đen nửa đêm gáy trong phòng,
Đáy
biển đốt đèn thế giới sáng,
Tảng
đá trồng bông mọc cây linh.
Thiên
trung chánh:
Mặt
trời lặn xuống hiện bóng lạ,
Ảnh
tượng rõ ràng hiển Tông thừa,
Lông
mày chớ nhìn trăng trong giếng.
Chánh
trung lai:
Ngựa
gỗ sanh con khắp thiên hạ,
Mặt
tình dẫn dắt đi đường chim,
Há
chẳng người nương ổ chim ở.
Kiêm
trung chí:
Mỗi
mỗi trượng phu có ý khí,
Mâu
thuẫn chống nhau chẳng vết thương,
Tung
hoành khai triển chẳng lìa nhau.
Kiêm
trung đáo:
Trắng
đen chưa rõ chớ tạo tác,
Phải
biết trụ cột chưa sanh con,
Chớ
nhận lời cuồng ngưng giữa đường.
Trên
đây là gia phong đại khái của Tào Động tông.
Người
xưa có bình luận Ngũ gia gia phong rằng:
Tào
Động đinh ninh, Lâm Tế thế thắng, Vân Môn thẳng tắt, Pháp
Nhãn linh xảo, Qui Ngưỡng trao nhau.
Còn
Bạch Vân Pháp Nhãn thiền sư trong Ngữ Lục có luận về Ngũ
gia gia phong rằng:
Tăng
hỏi: Thế nào là việc của Lâm Tế?
Đáp:
Ngũ nghịch nghe sấm sét.
Hỏi:
Thế nào là việc của Vân Môn?
Đáp:
Cờ đỏ lấp lánh.
Hỏi:
Thế nào là việc của Tào Động?
Đáp:
Gởi thơ chẳng đến nhà.
Hỏi:
Thế nào là việc của Qui Ngưỡng?
Đáp:
Bia gẫy nằm đường xưa.
Tăng
lễ bái.
Sư
nói: Sao chẳng hỏi việc Pháp Nhãn?
Tăng
nói: Để giành cho Hòa thượng.
Sư
nói: Người tuần phạm luật giới nghiêm.
Sư
nói tiếp: “Ngộ thì việc đồng một nhà, chẳng ngộ thì
muôn ngàn sai biệt, một nửa ăn bùn ăn đất, một nửa ăn
mạch ăn mè, hoặc là hàng long phục hổ, hoặc là lượm sò
với tôm. Hòa Sơn chỉ biết đánh trống, Bí Ma luôn luôn giơ
chỉa. Nói chung một tuồng hát cười, đều do mỉm cười
niêm hoa, đồ bỏ trong đám Bạch Vân, gió xuôi xả đất,
xả cát, nếu chẳng tâm cang thế này, sao được áo gấm vinh
qui! Vậy một tiếng Vinh Qui nên nói thế nào? Vinh hoa hôm nay
người chẳng biết mười năm trước là một thư sinh”.
Còn
thượng đường nói: “Đạt Ma từ bên Tây đến, việc lâu
nhiều biến đổi, con cháu đời sau gia phong vô hạn, nhiễu
loạn thân tâm, một đống chỉ mành. Bạch Vân hôm nay thảy
đều cắt đứt.
Đại
chúng! Một trăm lẻ năm ngày thanh minh, Thượng nguyên nhất
định là rằm tháng giêng”.
Nên
biết nói gia phong chỉ là phương tiện tùy nghi của chư Tổ
dùng để tiếp dẫn hậu học. Gia phong dù theo người mà khác,
nhưng Phật tánh thì ngàn xưa chẳng đổi, kẻ ngộ thì thấu
qua như một, chẳng ngộ thì lại thêm lắm rồi.
Pháp
Nhãn tông truyền sang Cao Ly, Vân Môn tông thất truyền đã
lâu, nay chỉ còn ba tông qui Ngưỡng, Tào Động, Lâm Tế; nhưng
con cháu của các Tông, chỉ lấy cội nguồn gia phổ để truyền
thừa với nhau, ghi tên trên pháp quyển là thiền sư đời
thứ mấy mà thôi, nếu hỏi về gia phong tông chỉ thì ngơ
ngác chẳng thể trả lời. Nên khuyên người học đời nay,
hễ được minh tâm kiến tánh liền được liễu thoát sanh
tử, nối tiếp huệ mạng của chư Phật chư Tổ, với chư
Phật chư Tổ nắm tay cùng đi, đâu cần phân chia tông phái
chi nữa!
Xem
Tiếp: Chương
II: Yếu Chỉ Thiền Tông, Trang 02-1