Phần
09
Tác
pháp hạ ý
Phá
Pháp Tăng luân
Từ
đây được nhận phòng xá
Kỳ
thọ Cấp-Cô-Độc viên
Đừng
tạo mâu thuẫn
Năm
thứ thuộc tứ phương Tăng
Sự
giáo hóa hiếm thấy
Mười
một điềm mộng
Tiền
kiếp của Tôn giả Xá Lợi Phất
Vào
nhà không nhớ lối ra
Mửa
sạch
Đâu
phải ở A Lan Nhã là yên thân
Họ
tự nhận mới kết tội
Một
sáng kiến
Cũng
may
Thế
Tôn làm chứng
TÁC
PHÁP HẠ Ý5
Cách
thành Xá-vệ không xa, có khu rừng Am-ma-lặc6. Bên cạnh rừng
này có nhà một ông Trưởng giả tên là Chất-đa-la. Ðối
với Phật pháp, ông có lòng tin kính rất sâu dày. Trong rừng
Am-ma-lặc, Tỳ-kheo Thiện Pháp là người sống lâu năm ở
đây, thường làm người hỗ trợ Tăng trên đường du hành
ghé đến. Trưởng giả Chất-đa-la khi muốn thỉnh Tăng cúng
y thực, hay bố thí vật gì cho ai đều tin cho Tỳ-kheo Thiện
Pháp biết trước.
Ngày
ấy, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên cùng năm trăm Tỳ-kheo du
hành đến khu rừng này. Trưởng giả nghe, liền đích thân
ra nghinh đón, đầu mặt đảnh lễ sát chân, rồi đứng lui
qua một bên. Sau khi nghe diệu pháp và điều lợi ích được
chỉ bày rồi, Trưởng giả hoan hỷ bạch:
- Kính
mời Ðại Tăng sáng mai thọ trai nơi nhà con.
Mọi
người im lặng nhận lời.
Trưởng
giả đảnh lễ lui về, đến Tỳ-kheo Thiện Pháp thưa:
- Con
đã mời Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên... sáng mai thọ trai.
Ðại đức đến dùng cơm với các Ngài.
Tỳ-kheo
Thiện Pháp nghĩ: “Lão trưởng giả này tâm hồn đã bị
bại hoại. Từ lâu nay, khi cần thỉnh Tăng đều cho ta biết
trước, tại sao nay thỉnh Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên cùng
năm trăm Tỳ-kheo mà không cho ta biết là có ý gì?” Nghĩ
rồi nói:
- Sáng
mai tôi sẽ đến.
Suốt
đêm, nhà Trưởng giả lo trai soạn. Trong thế gian, những thức
ăn quý giá nhất, không thiếu thứ gì. Sáng ra, Trưởng giả
cho trải tòa ngồi... Lúc ấy, Tỳ-kheo Thiện Pháp đến nói:
- Các
thức ăn đầy đủ cả, chỉ thiếu món bánh “Hồ-ma”7.
Nghe
lời nói không đẹp, có ẩn ý xấu, Trưởng giả đùng đùng
giận dữ đáp lời:
- Ðại
đức uyên thâm giáo lý mà tuôn ra lời ác như vậy à?!
Và
như để dạy cho Thiện Pháp một bài học, Trưởng giả đem
chuyện xưa kể:
- Ngày
xưa có người khách buôn từ phương Bắc đem một con gà mái
đến nước Ba-tuần. Vì nước Ba-tuần không có gà trống
nên cho con quạ rập con gà mái kia. Gà đẻ ra trứng, ấp,
nở ra con quạ con. Khi lớn lên, con gà này không kêu được
tiếng gà, mà cũng không kêu được tiếng quạ. Nay Ðại đức
cũng như vậy, uyên thâm giáo lý mà tuôn ra lời ác.
Thiện
Pháp bị một vố đau, tức giận nói:
- Trưởng
giả mạ nhục tôi một cách quá đáng, làm sao tôi ở đây
được, tôi sẽ đi phương xa!.
Trưởng
giả thấy mình lỡ lời nên nói:
- Ðại
đức đừng nổi giận, nên lưu lại đây, tôi vẫn cung cấp
y thực như thường.
Ông
Trưởng giả mời thỉnh như vậy ba lần mà Tỳ-kheo Thiện
Pháp vẫn từ chối, ra đi. Ông Trưởng giả hỏi:
- Ðại
đức muốn đi đến đâu?
- Tôi
muốn đi đến chỗ Phật. - Tỳ-kheo Thiện Pháp nói.
- Nếu
đến chỗ Phật, cho tôi kính lời vấn an đức Thế Tôn và
xin Ðại đức trình bày đúng sự thật, chớ nên thêm bớt.
- Trưởng giả bảo.
- Ðược
rồi, tôi sẽ thưa. - Tỳ-kheo Thiện Pháp đáp.
Khi
trai soạn đầy đủ rồi, Trưởng giả đến rước:
- Giờ
thọ trai đã đến, xin kính mời Ðại Tăng.
Tôn
giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên và đại chúng cùng đến
nhà ông Trưởng giả, tất cả ngồi vào tòa. Ông Trưởng
giả dâng thức ăn, chư Tăng thọ thực xong, rửa tay... Ông
Trưởng giảù lấy chiếc ghế nhỏ ngồi trước Tăng. Hai
tôn giả vì gia chủ nói diệu pháp, chỉ bày sự lợi ích
và điều hoan hỷ, rồi rời tòa ra về.
Sau
khi cùng thọ trai, Tỳ-kheo Thiện Pháp trở về rừng, lại
đắp y bưng bát đến chỗ đức Thế Tôn đang trú ngụ trong
Kỳ-hoàn. Ðảnh lễ xong, ngồi lui qua một bên. Tỳ-kheo Thiện
Pháp đem chuyện Chất-đa-la trình bày trung thực lên đức
Phật. Ðức Phật liền quở trách:
- Thầy
là người ngu si, tại sao lại dùng lời hạ tiện gán cho ông
Trưởng giả kia?!
Nhân
việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
- Từ
nay nên trao cho những Tỳ-kheo như thế pháp “Hạ ý” bằng
bạch tứ Yết-ma xin lỗi bạch y kia. Nếu trực tiếp xin lỗi
không thành, thì Tăng sai các Tỳ-kheo khác làm trung gian xin
lỗi. Nếu không được nữa thì Tỳ-kheo đương sự phải
rời đi nơi khác. (^)
PHÁ
PHÁP TĂNG LUÂN1
Ðiều-đạt
luôn nuôi ý đồ phá Tăng. Bây giờ là lần thứ ba, Ðiều-đạt
lại suy nghĩ: “Nay phá Tăng của Sa-môn Cù Ðàm, ta sẽ được
tiếng đồn vang, danh tiếng sẽ lên cao, mọi người sẽ có
nhận định: Sa-môn Cù Ðàm có đại thần lực mà Ðiều-đạt
còn có thể phá Tăng của ông ta. Như vậy Ðiều-đạt cũng
là tay cao thủ”. Ðiều-đạt rất sung sướng với ý nghĩ
này và bàn bạc kế sách với Át-bệ, Phân-na-bà-tẩu-ban-na,
Lô-hê-già-lô-đế-xá, Cù-già-ly, Khiên-tra-đà-bà, Tam-văn-đạt-đa2...
là những bằng hữu tâm đắc, trong đó Tam-văn-đạt-đa là
bậc đại thông minh, đặt vấn đề với Ðiều-đạt:
- Sa-môn
Cù Ðàm có đại oai đức, Tăng của ông Ta làm sao có thể
phá được?
Ðiều-đạt
nói:
- Ta
sẽ thuyết minh năm pháp giữa Tăng, năm pháp ấy là:
1-Không
ăn muối.
2-Không
ăn tô và sữa.
3-Không
ăn cá, thịt.
4-
Khất thực, không nhận mời ăn của người.
5-
Tám tháng mùa Xuân và mùa Hạ ngồi nơi đất trống, bốn
tháng mùa Ðông thì ở trong am tranh.
Ðiều-đạt
lại nhận định:
- Nhân
dân trong hai nước Ma-kiệt và Ương-già đều thích và tin
vào đường lối khổ hạnh. Chúng ta thực hành năm pháp này,
số người theo ta chắc chắn sẽ nhiều, như vậy Tăng của
Cù Ðàm dần dà bị phá.
Nghe
chủ trương này, Tam-văn-đạt-đa rất tán đồng, bởi vì
nó có thể chia rẻ được chúng Tăng của Phật, và như thế
được cái danh lớn lắm. Tam-văn-đạt-đa trở thành “đồng
chí” lý tưởng của Ðiều-đạt.
Khi
ấy, Ðiều-đạt có người đệ tử Ưu-bà-tắc tên là Hòa-tu-đạt,
thường cúng dường Ðiều-đạt, nên Ðiều-đạt đã nhiều
lần thuyết phục ông ta ủng hộ đường lối phá Tăng của
mình. Như vậy, về phía cư sĩ, Hòa-tu-đạt là người vận
động quần chúng ủng hộ Ðiều-đạt một cách có hệ thống.
Hôm
ấy là ngày thứ 15, Bố-tát. Giữa chúng Tăng, Ðiều-đạt
tuyên thuyết năm điều trên - chính mình rút thẻ - xướng
rằng:
- Vị
nào đồng ý năm điều này thì rút thẻ này...
Có
đến 500 Tỳ-kheo bốc thẻ đồng ý, chỉ trừ A-nan và một
Tỳ-kheo Tu-đà-hoàn không rút thẻ. Hôm đó, Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên và các đại La-hán không có mặt trong kỳ
Bố-tát này. Ðiều-đạt rút thẻ xong, liền cùng 500 Tỳ-kheo
hòa hợp Bố-tát. A-nan và Tỳ-kheo Tu-đà-hoàn liền đi ra ngoài.
Hai vị đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân
Ngài, rồi đem vấn đề xảy ra bạch Phật. Ðức Phật nhân
đó nói kệ:
Người
thiện, dễ gần nhau
Người
ác, thiện khó gặp
Người
ác, dễ hội nhau
Người
thiện, ác khó gặp.
Khi
sự việc xảy ra như vậy, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên đến
chỗ đức Phật. Ðức Phật trông thấy hai tôn giả đến,
Ngài vui mừng khen ngợi:
- Thiện
lai, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên! Hai thầy có thể đến
giữa chúng của Ðiều-đạt đưa 500 Tỳ-kheo trở về.
Hai
vị ghi nhận lời Phật dạy, kính lễ sát chân Ngài rồi ra
đi. Tỳ-kheo Tu-đà-hoàn đi với tôn giả A-nan nhìn theo Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên ra đi, liền khóc òa. Ðức Phật hỏi:
- Tại
sao Tỳ-kheo lại khóc như vậy?
- Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên là đệ tử bậc nhất của đức Phật,
nay cũng đến với chúng Ðiều-đạt, con sợ hai tôn giả học
theo pháp của Ðiều-đạt, chính vì thế mà con khóc. - Tỳ-kheo
Tu-đà-hoàn thưa.
- Thôi
đi, ông đừng khóc nữa. Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên không
bao lâu họ sẽ dẫn 500 Tỳ-kheo về lại đây. - Ðức Phật
nói.
Khi
Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên đi thẳng vào chỗ chúng của
Ðiều-đạt thì Tam-văn-đạt-đa đã nhìn thấy từ xa, liền
chạy vào nói với Ðiều-đạt:
- Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên là hàng đệ tử bậc nhất của Sa-môn Cù
Ðàm, hiện đã đến đây nhằm phá ý định của các Tỳ-kheo
chúng ta, chúng ta không nên nói chuyện, cũng đừng nên mời
họ ngồi.
Ðiều-đạt
vốn chủ quan với năm pháp đường hướng của mình, nên
không chấp nhận lời của Tam-văn-đạt-đa, cũng không bận
tâm đến vấn đề. Khi Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên đến
thẳng chỗ Ðiều-đạt, ông ta bèn nói:
- Thiện
lai Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên! Có thể đến ngồi nơi
kia.
Ðiều-đạt
nói tiếp:
- Là
người có trí, điều gì trước chưa nghe, nay nghe để nhận
lấy mà hành trì. Hai vị trước đây là hàng đệ tử bậc
nhất của Sa-môn Cù Ðàm, còn bây giờ lại đến đây làm
đệ tử bậc nhất của tôi, thật là điều tốt đẹp!
Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên im lặng không trả lời. Ðiều-đạt tưởng
họ đã chấp nhận lời nói của mình, Ðiều-đạt liền bắt
chước nếp sống của Phật, bảo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên:
- Quý
thầy có thể vì chúng hội nói pháp, tôi bị đau lưng, nằm
nghỉ một chút.
Ðiều-đạt
xếp Tăng-già-lê thành bốn lớp để gối, nằm nghiêng phía
bên hữu, hai chân chồng lên nhau, nhưng không hệ niệm tại
tiền, nên chỉ trong giây lát ngủ muồi, lăn qua bên tả, xoải
người lên đất, ngáy khò khò...
Khi
ấy, Mục-kiền-liên hiện các thần lực chuyên môn của mình,
còn Xá-lợi-phất nói các pháp vi diệu, ba phần: trước, giữa,
sau của bài pháp nói lên điều thiện, thiện nghĩa và thiện
vị, hiện rõ hình tướng thanh bạch phạm hạnh. Năm trăm
Tỳ-kheo nghe đều đắc pháp nhãn thanh tịnh, rồi họ nói
với nhau rằng:
- Chúng
ta nên trở về với Phật.
Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên từ chỗ ngồi đứng dậy, cùng 500 Tỳ-kheo
về lại trú xứ đức Phật.
Tam-văn-đạt-đa
lúc bấy giờ lấy ngón chân đụng nhẹ vào Ðiều-đạt, mắng:
- Tôi
tớ dòng họ Thích hãy đứng dậy! Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên
đã dùng các phương tiện dẫn các Tỳ-kheo đi hết rồi!
Ðiều-đạt
thức tỉnh lại, rất hãi hùng, rủa nộp:
- Ðích
thị họ là ác dục Tỳ-kheo! Mới đó đầy thiện ý, giờ
thì bỗng sanh ác tâm, dùng phương tiện dẫn hết các Tỳ-kheo
của ta đi!
Vì
quá giận dữ và sợ sệt nên máu nóng từ lỗ mũi trào ra,
mạng sống của Ðiều-đạt sờ sờ ra đó, song đã đọa
vào địa ngục khổ đau rồi!
Trước
đức Phật, Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đầu mặt đảnh
lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên, Mục-kiền-liên bạch
Phật:
- Con
muốn cho 500 Tỳ-kheo này thọ lại giới Cụ túc.
- Khỏi
phải thọ lại, tại sao vậy? Vì 500 Tỳ-kheo này ngu si nên
lầm tưởng rút thăm mà thôi. Nay chỉ cho phép Tăng khiến
bảo tác pháp Hối quá Thâu-lan-giá. - Ðức Phật dạy.
Tôn
giả Mục-kiền-liên bạch Phật:
- Kỳ
lạ thay! Bạch Thế Tôn! Ðiều-đạt bắt chước Phật nên
liền đọa vào khổ xứ như thế.
Ðức
Phật dạy:
- Không
phải chỉ bây giờ Ðiều-đạt bắt chước Ta mà đọa vào
địa ngục. Xưa kia cũng đã từng bắt chước Ta mà phải
đọa vào khổ xứ.
- Kính
bạch Phật, chuyện xưa ấy là như thế nào? - Mục-kiền-liên
hỏi.
Ðức
Phật kể:
- Thuở
đời quá khứ, nơi chỗ không nhàn3 có một ao nước. Nơi
đây có một con voi lớn thường vào trong ao lấy ngó sen rửa
sạch rồi ăn, nhờ thế sức khỏe của voi được dồi dào.
Lại có một con voi nhỏ cũng bắt chước vào ao lấy ngó sen,
không rửa mà ăn nên đưa đến bệnh tật rồi chết.
Nhân
sự việc này, đức Phật nói kệ:
Ðừng
bắt chước đại tượng
Bắt
chước không thể được
Do
bắt chước đại tượng
Nên
ăn bùn rồi chết.
Ðức
Phật bảo Mục-liên:
- Con
voi ấy chính là Ta. Còn con voi nhỏ kia là Ðiều-đạt. Xưa
bắt chước Ta nên phải bỏ mạng, nay bắt chước Ta nên phải
nhận lấy cái khổ như vậy.
Tôn
giả Mục-kiền-liên bạch Phật:
- Lạ
kỳ thay! Bạch Thế Tôn! Ðiều-đạt theo Phật nghe pháp, trong
84.000 pháp tạng, đặng năm thần thông, tại sao lại làm phản,
kiêu mạn đối với đức Thế Tôn?
Ðức
Phật bảo:
- Không
những đời này, mà xưa kia Ðiều-đạt cũng đã từng theo
Ta nghe pháp rồi khinh mạn đối với Ta.
- Bạch
Thế Tôn! Chuyện xưa ấy ra sao? - Mục-kiền-liên hỏi.
Ðức
Phật kể:
- Thuở
đời quá khứ có một Tượng sư điều phục voi rất cao tay,
được nhà vua đối xử rất trọng hậu. Khi ấy, có một
người đến Tượng sư thưa:
“Xin
dạy cho con nghề điều phục voi, con làm đệ tử của thầy”.
Tượng
sư nhận lời và dạy đệ tử không giấu giếm một nghệ
thuật điều phục nào. Sau khi nắm vững mọi phương pháp,
đệ tử lại sanh tâm đố kỵ, đến chỗ vua tâu:
“Sự
hiểu biết của thầy dạy voi kia đâu có thể hơn nô tài
được. Tại sao bệ hạ cung cấp cho ông ta hậu đến thế,
chẳng nghĩ gì đến nô tài?”
Nhà
vua gọi thầy dạy voi đến hỏi:
“Ngươi
với đệ tử, tài nghệ dạy voi ai hơn ai?”
Tượng
sư đáp:
“Xin
bệ hạ cho phép thần lui về, sau bảy ngày thi về pháp điều
tượng thì lúc ấy mới biết ai giỏi”.
Nhà
vua chấp thuận, và trong bảy ngày ấy, Tượng sư đưa voi
đi điều phục: dạy voi đi tới là voi phải đi thụt lùi,
dạy lùi thì đi tới, dạy ngồi thì bắt voi đứng, bảo đứng
thì bắt nó lại ngồi. Ðiều phục voi với các động tác
trái ngược như vậy và voi nhanh chóng thuần lệnh.
Ðúng
bảy ngày, trước nhà vua, Tượng sư cùng đệ tử biểu diễn
các nghệ thuật điều voi. Ban đầu, cả hai thầy trò chưa
có nghệ thuật nào khác, không ngoài cái khuôn mẫu nằm lòng.
Nhà vua hỏi người đệ tử:
“Nhà
ngươi còn có nghệ thuật nào khác lạ nữa không?”
“Tâu
bệ hạ, không còn nghệ thuật nào nữa”. - Ðệ tử đáp.
Xoay
sang người thầy, vua hỏi:
“Ngươi
còn phương pháp nào khác lạ nữa không?”
“Tâu
bệ hạ, còn phương pháp khác”. - Tượng sư trả lời.
“Ngươi
biểu diễn đi!” - Nhà vua bảo.
Tượng
sư điều khiển voi như đã dạy (như trên) và voi răm rắp
làm theo một cách ngoạn mục. Ðã rõ sự thật, nhà vua chỉ
người đệ tử nói:
“Tại
sao ngươi dám khi dối ta?”
Vị
Tượng sư điều voi kia tâu với vua:
“Thưa
bệ hạ, người này là đệ tử của hạ thần. Trước đây
thần dạy cho cậu ta hết lòng, nhưng chưa biết hết nghệ
thuật mà lại khinh dối. Thưa bệ hạ:‘ Xưa, có một người
vào tháng cuối mùa Xuân mang đôi giày một lớp, đất nóng
nên da giày co lại, giày siết chân kẻ ấy, gây tổn thương.
Bổn ý mang giày là để bảo hộ đôi chân, song ngược lại,
giày làm cho đôi chân thương tổn’. Thần cũng như vậy,
trước kia dạy đệ tử, mong sao có ích nhưng ngược lại
bị đệ tử làm hại”.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn nói kệ:
Như
người mang giày da
Dụng
ý bảo vệ chân
Khi
nắng nóng bất ngờ
Giày
rút, chân bị thương
Thế
gian kẻ ngu ác
Không
nghĩ mình mang ơn
Ơn
thầy dạy kỹ thuật
Lại
phản, vu khống thầy.
Ðức
Phật dạy:
- Tượng
sư ấy chính là tiền thân của Ta. Còn người đệ tử kia
là Ðiều-đạt, đời nào cũng theo Ta thọ học, rồi trở
lại khinh mạn đối với Ta.
Tôn
giả Mục-kiền-liên bạch Phật:
- Bạch
đức Thế Tôn! Thật hy hữu! Tôn giả Xá-lợi-phất chỉ một
lần thuyết pháp mà phá cả chúng của Ðiều-đạt.
Ðức
Phật dạy:
- Không
những đời này mà xưa kia Xá-lợi-phất cũng đã từng nói
pháp để phá chúng của Ðiều-đạt.
Mục-kiền-liên
thưa hỏi:
- Chuyện
ấy như thế nào, bạch Thế Tôn.
Ðức
Phật nói:
“Thuở
đời quá khứ có một bậc sư xạ tiễn, tên là Câu-hòa-ly,
dạy một học trò theo học pháp bắn cung. Trong sáu năm chỉ
dạy cách cầm cây cung phải như thế này, vót tên phải như
thế kia, mà chưa dạy cách bắn trúng đích. Người đệ tử
bấy giờ tự nghĩ: “Sáu năm qua chỉ học cầm cung và vót
tên mà chưa được bắn lần nào. Nay ta thử bắn xem sao?”.
Người đệ tử nhắm bắn vào một cây cổ thụ, tên xuyên
thủng qua khỏi cây rồi cắm phập vào lòng đất. Người
thầy biết việc này, hỏi:
“Ông
đã bắn một mũi tên phải không?”
“Vâng,
con đã bắn thử một tên”. - Ðệ tử đáp.
“Ông
bắn vào chỗ nào?”. - Thầy hỏi.
“Con
đã bắn vào cây đại thọ kia”. - Học trò đáp.
Người
thầy nói:
“Ông
đã thành xạ thủ từ đây. Tôi là hạng nhất, ông là hạng
nhì”. - Người thầy lại nói:
“Nơi
địa điểm ấy có 500 tên giặc cướp chận đường, không
ai dám đi qua nơi đó. Ông có thể đến tảo thanh bọn cướp
để đem lại sự bình an cho người đi đường. Ông sẽ có
công rất lớn”.
Ông
thầy liền giao cho học trò một chiếc xe ngựa, một mỹ nữ
cùng với cái bát vàng và 500 mũi tên. Trên chiếc xe ngựa
chở mỹ nữ cầm bát vàng, người trai trẻ ấy cầm cung như
ý và 500 mũi tên, điều khiển xe trực chỉ đến địa điểm
có giặc cướp.
Lúc
bấy giờ, bọn giặc đang phân chia các vật cướp được
cho nhau, chỉ sai một người canh phòng nơi yếu đạo. Người
canh phòng thấy chiếc xe ngựa từ xa chạy đến, vội vã về
tâu với tướng soái giặc. Tướng soái nói với đồng bọn:
- Chúng
Ta làm giặc từ lâu, nhưng chưa từng thấy có một người
nào đơn thương độc mã dẫn một người đàn bà đi trên
trục lộ này. Có lẽ người này là một dũng kiện không
sợ bất cứ ai. Nên để họ tự nhiên đi qua, đừng gây phiền
toái, không có lợi.
Ngay
lúc ấy, Xạ thủ kia tiến đến chỗ bọn giặc cướp rồi
dừng lại, cách bọn họ một quảng xa, bảo mỹ nữ bưng
bát vàng đến chỗ bọn giặc, xưng tên họ để khất thực.
Mỹ nữ thực hiện đúng chỉ dẫn, khiến bọn giặc rất
cảm kích và thích thú. Chúng lại ham cái bát vàng nên cùng
nhau thảo luận rằng:
- Gái
đẹp như thế đó, bát vàng như thế đó, tại sao chúng ta
lại cho phép họ đi là thế nào?
Tướng
soái giặc lại nói:
- Người
kia chắc đã lượng được sức mình nên chẳng biết sợ
là gì, mới thản nhiên hành động như thế. Cần phải nhẫn
nại, không khéo nóng giận chận lại thì phải chiêu lấy
cái họa.
Ðồng
bọn nghe theo, bèn cho đầy bát thức ăn ngon. Mỹ nữ đem bát
thức ăn trở lại chỗ Xạ thủ. Xạ thủ lại bảo mỹ nhân
đến bọn giặc nói: “Các ông hãy chia cho tôi một phần
vật dụng”. Mỹ nhân thực hiện lời Xạ thủ. Bọn giặc
cả giận bảo nhau:
- Con
mẹ này là thứ gì mà dựa vào thằng tình nhân của nó dám
khinh cả bọn chúng ta?! Chúng ta phải giết ngay, đừng để
ôm lấy cái nhục này.
Tướng
soái giặc vẫn dè dặt khuyên đồng bọn như trước. Bọn
giặc chia cho người đẹp một phần. Nhận vật dụng, mỹ
nhân trở lại chỗ Xạ thủ. Xạ thủ lại bảo người đẹp
đến nói với bọn giặc:
- Có
thể cùng ta chiến đấu chứ không thể để yên như thế
này được.
Bọn
giặc lại nói:
- Người
này thừa thắng xông lên, khinh miệt ta quá đáng, không thể
nhẫn mãi được.
Tướng
soái giặc cố khuyến dụ đồng bọn, nhưng chẳng còn tác
dụng. Cơn giận bốc lên dữ dội, không còn lường được
sự nguy hại, bọn giặc đồng loạt tấn công hai người kia.
Người Xạ thủ bắn ra một phát giết một người, và cứ
thế, 499 phát giết 499 người. Còn lại một mũi tên để
“hầu” tướng soái, song tướng soái khôn ngoan lẫn tránh
theo người nữ nên không bắn được. Tay Xạ thủ liền bảo
người đẹp lõa hình đứng trước tên tướng giặc. Tên
tướng soái liền bị loạn tâm, nhân đó nhận mũi tên cuối
cùng, chết ngay. Cảm cảnh này, mỹ nhân kia nói ra bài kệ:
Tuy
có cung tên sắc
Chưa
từng bắn một phát
Tử
thương đã dãy đầy
Tại
sao không hối hận?
Người
xạ thủ liền đáp kệ:
Ta
có cung kỳ diệu
Tâm
hợp nên tay cung
Giết
một, lòng vui liền
Tại
sao phải ăn năn?
Ta
vốn đi đường này
Vì
người trừ oán hại
Không
hề tiếc thân mạng
Ðể
thành người dũng kiện.
Ðức
Phật dạy:
- Xạ
sư kia là tiền thân của Ta, đệ tử người Xạ sư là Xá-lợi-phất,
500 tên giặc là 500 Tỳ-kheo hiện nay, tướng soái giặc chính
là Ðiều-đạt. Xưa kia, Xá-lợi-phất dùng tên phá bọn giặc,
nay một thời thuyết pháp phá chúng của Ðiều-đạt.
Mục-kiền-liên
lại bạch Phật:
- Bạch
Thế Tôn, lạ lùng thay! Ðiều-Ðạt-mắng rằng: “Ác dục
Tỳ-kheo” thì liền khi ấy đọa vào địa ngục, dù thân
vẫn còn sống.
Ðức
Phật dạy:
- Không
những bây giờ mà xưa kia Ðiều-đạt cũng đã từng dùng
lời ác khẩu nên đã thọ đại khổ, dù thân hiện sống.
- Chuyện
xưa như thế nào, xin Ngài dạy. - Mục-liên thưa.
Ðức
Phật kể:
“Thuở
quá khứ, bên ao nước nơi A-lan-nhã có hai con nhạn cùng kết
bạn thân với con rùa. Một thời gian sau, nước ao bị cạn
dần và đến khi không còn nước, hai con nhạn bàn với nhau:
“Nay
ao nước đã cạn khô, bạn thân của ta chắc bị đau khổ”.
Nghĩ
đến cảnh khổ này, hai con nhạn nói với rùa:
“Nước
ao đã cạn hết rồi, bạn khó sống nổi nơi này. Bạn có
thể ngậm giữa cái cây, chúng tôi ngậm mỗi đứa mỗi đầu,
đem bạn bay đến chỗ nhiều nước, nhưng với điều kiện,
khi bạn ngậm cắn vào cây thì tuyệt đối không được nói
một lời”.
Nhất
trí nhau, chúng liền thực hiện nhưng khi bay ngang qua một xóm
nọ, bọn trẻ con thấy cảnh vui mắt liền la ầm lên:
“Nhạn
ngậm rùa bay đi! Nhạn ngậm rùa bay đi!”.
Con
rùa liền nổi giận, buông miệng nói:
“Việc
này có can dự gì đến bọn bay?!”.
Miệng
rùa tuột ra khỏi cây, rùa rớt xuống đất chết ngay.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn nhân việc này nói kệ:
Ðời
sống kẻ sĩ
Búa
rìu trong miệng
Sở
dĩ chém mình
Do
bởi lời ác
Nên
chê lại khen
Nên
khen lại chê
Tự
nhận lấy họa
Bị
khổ dài dài
Nếu
giành nhau tài lợi
Ác
ấy chưa phải lớn
Ác
tâm hướng về Phật
Ác
đây mới là to
A-phù
4 có trăm ngàn
Ni-la5,
ba mươi sáu
Ác
ý với người hiền
Phải
đọa vào địa ngục.
Ðức
Phật dạy:
- Con
rùa kia chính là Ðiều-đạt. Xưa kia do nói lời giận mà phải
chết khổ đau, nay lại giận mắng liền đọa vào địa ngục.
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
Ta thấy ở Ðiều-đạt chỉ có một pháp thiện bằng một
sợi lông thì hoàn toàn không ghi nhận Ðiều-đạt đọa vào
đại địa ngục một kiếp khổ. Ví như một người bị chìm
dưới hầm phân, nếu có người muốn cứu họ, mà tìm thấy
có được một chỗ sạch nơi thân họ - chỉ bằng một sợi
lông thôi - là có thể nắm lấy chỗ ấy kéo họ lên. Ta quán
sát nơi Ðiều-đạt cũng lại như vậy.
Ðức
Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
- Ta
không thấy pháp nào phá hoại lòng Vô thượng đạo của con
người bằng vang danh và lợi dưỡng. Ðiều-đạt sở dĩ phá
Tăng là do lợi dưỡng. Ðiều-đạt thành tựu 8 điều phi
pháp cho nên phá Tăng: Lợi - không lợi, khen -không khen, kính
- không kính, ưa ác và nhận thức ác để làm theo.
TỪ
ÐÂY ÐƯỢC NHẬN PHÒNG XÁ1
Khi
đức Phật an trú tại thành Vương-xá, bấy giờ Tỳ-kheo Át-bệ2
thị giả Phật. Một hôm, Át-bệ vào trong thành để khất
thực. Một Trưởng giả nọ thấy hình ảnh oai nghi trong sáng,
đức độ của Át-bệ đi khất thực, liền có cảm tình,
đến để tận mắt chiêm ngưỡng và hỏi:
- Thầy
là ai? Thầy đệ tử của ai? Xuất gia với ai? Phụng hành
pháp của vị nào?
Tỳ-kheo
trả lời:
- Tôi
là Át-bệ, Ðại Sa-môn là thầy của tôi, tôi xuất gia với
Ngài, phụng hành đạo pháp của Ngài.
- Quả
là chưa từng có người nào tự toát ra oai nghi đĩnh đạc
như vậy! Hóa ra là học trò của Ðại Sa-môn!
Trưởng
giả khen ngợi và lại hỏi:
- Hiện
nay thầy ở đâu?
Tỳ-kheo
đáp:
- Tôi
ở nơi A-lan-nhã, dưới cây Sơn-nham, chỗ đất trống gò mả
là chỗ ở của tôi.
- Thầy
trải thứ gì để ngồi?
- Tôi
lấy cỏ Thi, cỏ Câu-thi, cỏ Bà-bà, cỏ Văn-nhu, cho đến
lá cây, cát, đất... có thể trải ra để ngồi.
- Lại
có thể sống với nếp sống thiểu dục như vậy! Quả người
tu có khác!
Trưởng
giả vui mừng khen ngợi, lại cung kính thưa:
- Nếu
tôi vì Ðại đức làm một phòng để cho Ðại đức thọ
dụng, thì Ðại đức có nhận không?
- Ðức
Thế Tôn của chúng tôi chưa cho phép thọ dụng phòng xá.
- Ðại
đức có thể đem vấn đề này bạch Phật, tôi cũng sẽ đích
thân đến bạch Phật.
Trưởng
giả đề nghị và Át-bệ im lặng chấp nhận.
Sau
khi thọ trai, Át-bệ đến chỗ Phật, đảnh lễ rồi thưa
rõ lời đề nghị của Trưởng giả kia. Nhân việc này, trước
Tăng, Ngài khen ngợi hạnh thiểu dục tri túc, khen giới, khen
người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
- Từ
nay cho phép các Tỳ-kheo nhận các phòng xá của người cúng.
Sau
đó, Trưởng giả kia đến hầu Phật, nghe pháp Tứ đế, Trưởng
giả hiểu đạo, thọ Tam quy Ngũ giới, làm người Ưu-bà-tắc
rất mực tín tâm. Nhân đó, Trưởng giả bạch Phật:
- Bạch
Thế Tôn, con muốn cất phòng xá cúng dường các Tỳ-kheo.
Xin Ngài chấp thuận.
Ðức
Phật im lặng trước lời xin này. Trưởng giả vui mừng vì
biết đức Phật đã chấp thuận. Ông ta đảnh lễ rồi lui
về.
Không
lâu sau, Trưởng giả dốc toàn bộ tiền của, công sức, chỉ
trong một ngày cất xong 60 phòng xá, lại cúng dường ẩm thực
cho Phật và Tăng. Cả gia quyến Trưởng giả cùng nhau lo liệu
việc cúng dường, trai nghi thịnh soạn: kẻ bửa củi, người
lấy nước, kẻ làm thức ăn, người rưới nước hoa trên
đất, trải tòa ngồi... Tất cả đều nhộn nhịp đông vui
như một ngày hội mừng Phật, mừng Tăng, mừng nhà mới.
KỲ
THỌ CẤP-CÔ-ÐỘC VIÊN3
Trưởng
giả Tu-đạt-đa4 là người thành Xá-vệ, hằng năm thường
đến thành Vương-xá thu 30 vạn tiền vàng cho người ở đây
vay. Lần nào đến cũng đều có một Trưởng giả ra nghinh
đón và đãi tiệc, nhưng lần này Trưởng giả Tu-đạt-đa
đến thì không được Trưởng giả thành này đi đón tiếp.
Tuy vậy, khi đến Vương-xá, Trưởng giả Tu-đạt-đa đến
thẳng nhà ông Trưởng giả kia. Thấy ông Trưởng giả bạn
tất bật lo thiết bày, mua sắm đồ ăn thức uống sang trọng,
liền hỏi:
- Ông
làm đám cưới, mở hội hay rước nhà vua?
- Chẳng
phải làm đám cưới, mở hội, hay rước vua gì cả. - Trưởng
giả thành Vương-xá trả lời.
- Không
phải, tại sao sửa soạn thức ăn cao sang mỹ vị như vậy?
- Trưởng giả Tu-đạt-đa lại hỏi.
- Ðức
Phật ra đời có đại oai đức, các đệ tử của Ngài cũng
như vậy. Ngày mai, tôi thỉnh quý ngài để cúng dường, cho
nên lần này tôi không ra để nghinh đón ông được. - Trưởng
giả đáp lời.
- Tôi
cũng thường nghe có Phật ra đời, hiệu là Như Lai, Ứng cúng,
Chánh đẳng giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải,
Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật
Thế Tôn. Người mà ông thỉnh là đức Phật sao? Hay không
phải là Phật? - Trưởng giả Tu-đạt-đa hỏi.
- Chính
là đức Phật. - Trưởng giả đáp.
- Hôm
nay Ngài ở đâu?. - Trưởng giả Tu-đạt-đa lại hỏi.
Ông
Trưởng giả kia liền để trống vai bên hữu, đầu gối bên
hữu chấm đất, tay bên hữu chỉ về hướng chỗ Phật ở.
Trưởng
giả Tu-đạt-đa khi biết rõ chỗ ở của Phật, lòng vui mừng
phấn khởi, liền để trống vai bên hữu, vọng hướng về
chỗ đức Phật trú ngụ, kính lễ ba lần.
Ðêm
hôm đó, trưởng giả Tu-đạt-đa niệm danh hiệu: “Nam mô
Phật”, ông ta ngủ rất ngon dù đã đi một chặng đường
xa, quá mệt mỏi.
Có
người Thiện tri thức đời trước của ông ta, làm một vị
thần ủng hộ. Vị thần suy nghĩ: “Ta sẽ giúp ông Trưởng
giả này không phải đợi qua một đêm mới thấy Phật”.
Vị thần này liền khiến đêm đen sáng rực lên. Tu-đạt-đa
tưởng trời đã sáng, liền thức dậy đi đến cửa thành,
cửa thành liền tự mở. Khi ra khỏi cửa thành thì cửa tự
đóng, bỗng nhiên trời tối lại, Tu-đạt-đa hoảng sợ, nghĩ
thầm: “Vừa rồi ta đâu phải cuồng!”. Vị thần biết
ý niệm đó, nói kệ:
Nay
là lúc đến Phật
Mỗi
mỗi bước chân đi
Lợi
hơn thí ngàn vàng
Voi
ngựa không sánh kịp.
Vị
thần lại nói:
- Ðừng
hốt hoảng, đừng sợ hãi! Cứ tiến bước, tiến bước trong
giây lát sẽ thấy Phật.
Tu-đạt-đa
nghe lời ấy, mọi sợ hãi đều biến mất, hăng hái bước
đi, và còn từ xa đã thấy đức Thế Tôn dung nghi đặc thù,
giống như núi vàng. Ðức Phật thấy ông Trưởng giả, Ngài
khen:
- Lành
thay, đến đây Tu-đạt-đa!
Tu-đạt-đa
nghe Phật gọi, rất vui mừng, tự nhủ: “Ðức Phật lại
biết luôn cả tên do cha mẹ ta đặt”. Tu-đạt-đa liền kính
lễ sát chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên. Ðức Phật
vì Trưởng giả nói các pháp vi diệu, nói pháp Tứ diệu đế.
Từ nơi chỗ ngồi, Trưởng giả đắc pháp thanh tịnh. Thấy
pháp, đắc quả rồi, Tu-đạt-đa xin thọ Tam quy, Ngũ giới
và bạch Phật:
- Kính
bạch đức Thế Tôn! Nguyện Phật và Tăng nhận lời mời
của con, đến an cư mùa Hạ nơi thành Xá-vệ.
Trưởng
giả thỉnh ba lần như vậy, đức Phật đều im lặng. Ðến
lần thứ tư, Ngài bảo rằng:
- Nếu
chỗ nào không có sự ồn ào, có được sự vắng vẻ, yên
tịnh, không tiếng động, chư Phật mới an cư nơi đó.
Ông
Trưởng giả bạch Phật:
- Con
đã hiểu lời dạy của Thế Tôn. Xin Ngài sai một Tỳ-kheo,
người có kinh nghiệm trong việc thiết lập tinh xá cùng đi
với con.
- Nay
ông muốn vị nào cùng đi? - Ðức Phật hỏi.
- Con
muốn nhờ tôn giả Xá-lợi-phất. - Trưởng giả thưa.
Ðức
Phật liền bảo tôn giả:
- Thầy
có thể đến đó làm người chỉ dẫn thiết lập trú xứ
Tăng.
Xá-lợi-phất
phụng hành lời Phật dạy
Sáng
hôm sau, Trưởng giả thành Vương-xá đến bạch Phật:
- Thức
ăn đã sửa soạn xong, xin chư Thánh đến thọ trai.
Ðức
Phật cùng Tỳ-kheo Tăng mặc y, bưng bát, kẻ trước người
sau vây quanh Phật đến nhà Trưởng giả kia. Theo thứ lớp,
các vị ngồi vào tòa ngồi. Ông Trưởng giả tự tay sớt
thức ăn. Ðức Phật và chư Tăng thọ trai xong ông Trưởng
giả bạch Phật:
- Kính
bạch đức Thế Tôn, con xin dâng cúng ngôi vườn và phòng
xá này cho Tứ phương Tăng.
Ðức
Phật im lặng nhận lời. Biết đức Phật đã nhận rồi,
Trưởng giả lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi đối diện với
Phật. Ðức Phật tùy hỷ, vì ông nói kệ chú nguyện:
Vì
ngăn gió, nóng, lạnh
Và
ngừa các ác thú
Che
mưa, sương và bụi
Cùng
trừ nạn muỗi mòng
Cúng
dường người trì giới
Tọa
thiền, thuyết, tụng pháp
Ai
nghe hiểu nghĩa này
Trừ
hết các gốc khổ.
Sau
đó, Ngài nói các pháp mầu, chỉ bày điều lợi ích, điều
hoan hỷ an vui. Ngài và Tăng trở về trú xứ.
Ngày
ấy, Trưởng giả Tu-đạt-đa đưa Xá-lợi-phất lên đường
trở về thành Xá-vệ. Qua các thành thị, xóm làng, nơi nào
Trưởng giả cũng loan báo cho mọi ngời biết rằng:
- Ðức
Phật ra đời, có đại oai đức, các đệ tử của Ngài cũng
như vậy. Tôi đã thỉnh Ngài an cư nơi thành Xá-vệ. Các người,
nơi đâu cũng phải sửa soạn nhà cửa, tu bổ đường sá
và cầu đò, chuẩn bị tốt mọi thứ để đón đức Thế
Tôn.
Nhân
dân các xóm làng ấy nghe lời rao bảo như vậy, biết đức
Phật sẽ đi qua nơi mình đang sống nên rất vui mừng, thực
hiện lời rao bảo trên một cách cung kính.
Khi
về đến Xá-vệ, Trưởng giả nghĩ: “Nơi nào là chỗ tốt
nhất để cất tinh xá đây? Trong thành này chỉ có vườn
cây ăn trái quý giá của Kỳ-lâm đồng tử 5, nơi đây lại
có cảnh trí tươi đẹp, nguồn nước thanh khiết, có suối
róc rách quanh năm, có ao tắm, có hoa thơm cỏ lạ. Nói khác
hơn, phong cảnh tịch mịch, hoàn thiện. Ta nên hỏi mua chỗ
này để lập tinh xá cho Phật và Tăng”.
Thực
hiện ý nghĩ, Trưởng giả đến sở hữu chủ vườn cây đặt
vấn đề mua lại. Kỳ-lâm đồng tử bảo:
- Nếu
Trưởng giả dùng tiền vàng trải khắp diện tích đất vườn,
không sót một nơi nào thì tôi mới thuận cùng ông trao đổi
việc sang nhượng.
Trưởng
giả thực hiện ngay lời thách này, liền hạ lệnh đem tiền
vàng trải khắp đất vườn Kỳ-lâm... Kỳ-lâm đồng tử
bảo:
- Thử
chơi vậy thôi, chứ tôi đâu có muốn trao đổi, mua bán gì!
- Ðiều
kiện ông tự đặt ra, nó trở thành lời cam kết giá trị,
sao lại hối tiếc để biến thành kẻ thất tín. Coi sao được?!
Hai
bên giằng co, tranh cãi mãi, cuối cùng phải đưa đến cửa
quan. Cửa quan y theo pháp luật hiện hành mà xử. Tu-đạt-đa
thắng kiện. Kỳ-lâm đồng tử hỏi Tu-đạt-đa:
- Vì
lý do gì mà ông không tiếc vàng bạc để mua khu vườn này
với giá như vậy?
Trưởng
giả như được cơ hội, liền thuyết:
- Ðức
Phật ra đời, có đại oai đức, các đệ tử của Ngài cũng
như vậy. Tôi đã mời Ngài an cư nơi đây, do đó tôi trút
hết gia tài cũng không hề nuối tiếc.
Kỳ-lâm
đồng tử nghe thế liền bảo:
- Nếu
để tôi đặt tên vườn là Kỳ Viên tinh xá thì tôi sẽ thỏa
thuận. Như vậy tôi xin cúng hết số cây có ở trong vườn.
- Tốt!
Tôi thuận với tên vườn ông đặt. - Tu-đạt-đa đáp lời.
Sau
khi thỏa thuận, Trưởng giả Tu-đạt-đa ra lệnh chính thức
trải tiền vàng lên diện tích đất vườn, chừa các gốc
cây. Tôn giả Xá-lợi-phất đo đạt, giăng dây, đóng cọc,
thực hiện đúng bản vẽ của một con người trí tuệ siêu
phàm.
Khu
vườn Kỳ-lâm bây giờ lại có giá trị khác, giá trị của
một tinh xá, có lối đi kinh hành, có nhà Tăng, nhà ôn hòa,
có giảng đường, nhà tắm và phòng xá khác,... không thiếu
một phương tiện nào cho mọi sinh hoạt, nhằm đáp ứng sự
tu học của Tăng nói riêng, cho bốn chúng nói chung.
Khu
vườn lịch sử ấy, kinh điển ghi rõ là Kỳ thọ Cấp-cô-độc
Viên.
ÐỪNG
TẠO MÂU THUẪN
Bấy
giờ, La-hầu-la đến tụ lạc Na-la6, ở đây có người Ưu-bà-tắc
thân tín cất cho La-hầu-la một tịnh thất để ở. Khi cất
xong, La-hầu-la có duyên sự nhỏ nên du hành nhân gian.
Không
bao lâu, A-nan lại đến tụ lạc này, người Ưu-bà-tắc đó
lại đem tịnh thất ấy cúng cho tôn giả A-nan. Khi La-hầu-la
trở về, bảo A-nan đi tìm chỗ khác, A-nan nói:
- Trước
kia, tuy người ta cúng cho thầy, nhưng thầy lại ra đi. Sau
đó người ta cúng cho tôi thì phòng này thuộc về tôi.
Ðể
làm rõ việc này, hai vị đến hỏi người Ưu-bà-tắc kia,
người Ưu-bà-tắc trả lời:
- Tuy
trước kia tôi cúng cho La-hầu-la, nhưng vì La-hầu-la ra đi,
nên sau đó tôi cúng cho A-nan.
Các
Tỳ-kheo Trưởng lão biết sự thể như thế nên bạch Phật,
Ngài tập hợp Tỳ-kheo Tăng và bảo:
- Không
những đời này mà xưa kia Ưu-bà-tắc này cũng làm như vậy.
- Bạch
Thế Tôn, chuyện xưa kia như thế nào? Xin Ngài dạy. - Các
Tỳ-kheo hỏi.
Ðức
Phật kể:
“Thuở
quá khứ có một nhà vua tên là Ba-lâu. Trong cương giới của
vua này có hai vị tiên: một tên là La-hầu-la, ưa tọa thiền;
một tên là A-nan, đa văn, vô úy. Vua Ba-lâu trước đó rất
kính trọng La-hầu-la nên cất một cái phòng cúng cho vị tiên
này. Phòng làm xong thì La-hầu-la đi vào nhân gian du hành. Sau
đó, A-nan lại đến, nhà vua cũng rất kính trọng nên đem
cái phòng đó cúng cho A-nan. Khi La-hầu-la trở về, bảo A-nan
đi tìm chỗ khác và nói:
“Phòng
này là của tôi”.
A-nan
cũng bảo:
“Phòng
này là của tôi”.
Cả
hai cùng đến chỗ vua để hỏi xem vua quyết định cái phòng
thuộc về ai. Nhà vua nói:
“Tuy
lúc trước tôi cúng cho La-hầu-la, nhưng vì La-hầu-la bỏ đi
nên sau đó tôi mới cúng cho A-nan. Vậy nay phòng này thuộc
về A-nan ”.
Lúc
bấy giờ, các Thiên, Long, Quỷ, Thần đều nói:
“Nhà
vua này làm việc phi pháp, tại sao đã cúng cho La-hầu-la rồi,
sau lại cúng cho A-nan? Chúng ta sẽ phá hoại quyến thuộc của
nhà vua”.
Họ
liền cùng nhau đến cung vua, dùng đá ném, đánh, giết hại
quyến thuộc nhà vua. Nhân việc này, đức Phật nói kệ:
Vua
cúng không trước sau
Tiên
nhơn cùng tranh cãi
Làm
cho quỷ thần giận
Chuốc
hại quyến thuộc mình
Nếu
hành xử tùy ái
Không
được người trí khen
Do
vậy nên xả ái
Hoan
hỷ nói đúng nghĩa.
Ðức
Phật dạy:
- Tiên
nhơn La-hầu-la xưa kia, nay là La-hầu-la. Tiên nhơn A-nan ngày
trước bây giờ là A-nan. Quốc vương trước kia, nay là Ưu-bà-tắc.
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Từ
nay không cho phép nhận phòng mà trước đó đã cúng cho người
khác.
NĂM
THỨ THUỘC TỨ PHƯƠNG TĂNG
Lúc
bấy giờ đức Phật cùng đại Tỳ-kheo Tăng 1.250 vị trong
nước Câu-tát-la, lên đường du hành nhân gian, đến ấp Ngật-la-ngật-liệt.
Nơi ấp này có năm Tỳ-kheo cựu trú, nghe Phật cùng đại
chúng sắp đến ấp, bàn thảo rằng:
- Trong
chúng của Phật có Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, chắc
chắn sẽ gây não chúng ta. Chúng ta có thể phân chia phòng
xá, ngọa cụ, vườn cây ăn trái trong trú xứ này thành năm
phần để thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi chúng ta. Ðừng
để các động sản và bất động sản này thuộc sở hữu
Tứ phương Tăng.
Họ
thực hiện việc phân chia.
Ngày
ấy, đức Phật và đại Tăng đến trú xứ, các Tỳ-kheo bảo
Tỳ-kheo cựu trú:
- Các
thầy mở cửa phòng, trải ngọa cụ để chúng tôi có chỗ
tạm nghỉ. Năm Tỳ-kheo nói:
- Ðức
Phật là vị Pháp chủ, mở cửa phòng hạng nhất mời Ngài
ở. Ngoài ra, mọi phòng ốc chúng tôi đã phân chia thành tư
hữu cả rồi, không thuộc của Tăng. Quý vị có thể vào
trong xóm làng, tùy theo sự quen biết mà tìm chỗ ở.
Trước
sự từ chối cung cấp chỗ ở, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên
đêm ấy, đành ngủ nhờ ngoài hiên căn phòng đức Phật nghỉ.
Sáng ra, nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng,
bảo các Tỳ-kheo:
- Có
năm thứ thuộc Tứ phương Tăng, không được quyền chiếm
đoạt làm tư hữu, không được quyền bán, không được chia
chát. Năm thứ ấy là:
1-Ðất
đai trú xứ.
2-Phòng
xá.
3-Vật
cần dùng của Tăng.
4-Cây
ăn trái.
5-Hoa
quả.
Tất
cả những thứ này, các Sa-môn Thích tử đều có phần trong
đó. Ai chiếm đoạt làm tư hữu, bán hay phân chia đều phạm
tội Thâu-lan-giá.
SỰ
GIÁO HÓA HIẾM THẤY1
Bấy
giờ, bốn vị Thanh văn: Ca-diếp, Mục-liên, A-na-luật, Tân-đầu-lô
cùng nhau bàn định rằng: “Hiện nay trong thành Vương-xá
có một số người không tin ưa Phật, Pháp, Tăng. Chúng ta
nên cùng nhau khiến thế nào để cho họ có lòng tin kính Tam
bảo”.
Bàn
định như vậy rồi, các vị liền quan sát khắp gần xa, chỉ
thấy có Trưởng giả Bạt-đề và người chị của ông ta
không tin ưa Phật, Pháp, Tăng. Ba vị Thanh văn nói:
- Không
lẽ chỉ giáo hóa Bạt-đề không thôi?!
- Có
thể giáo hóa chị của Bạt-đề nữa. - Tân-đầu-lô nói.
Nhà
ông Trưởng giả Bạt-đề có bảy lớp cửa, có ba bộ kỷ.
Khi muốn ăn, họ cho đóng bảy lớp cửa và mỗi thức ăn
đặt trên một bộ kỷ. Khi ông Trưởng giả ăn thì A-na-luật
liền đứng ngay trước mặt xin. Ông Trưởng giả hỏi:
- Ông
từ đâu vào được đây?
- Tôi
vào từ cửa. - A-na-luật đáp.
Ông
Trưởng giả hỏi người giữ cửa:
- Tại
sao ngươi cho người ăn xin vào?
- Cửa
đóng chặt như thường lệ, không thấy có ai vào đây cả.
- Người giữ cửa trả lời.
Ông
Trưởng giả liền lấy một miếng bánh mè để vào trong bát
và nói:
- Ði
đi! Ông có vật này để ăn rồi.
A-na-luật
nhận thức ăn, liền đi...
Vào
bữa cơm sau, Ca-diếp lại đứng trước Trưởng giả khất
thực (hỏi và trả lời như trước). Ông Trưởng giả lại
hỏi người giữ cửa:
- Tại
sao ngươi cố ý cho Sa-môn vào nhà ta?
- Cửa
đóng như thường lệ, chẳng thấy ai vào cả, thưa Trưởng
giả. - Người giữ cửa thưa.
Ông
Trưởng giả lại lấy một miếng cá bỏ vào trong bát và
bảo:
- Ði
đi! Ông có vật này để ăn rồi.
Sau
khi Ca-diếp đi, vợ ông Trưởng giả hỏi:
- Ý
ông thế nào? Cứ ngỡ rằng Tỳ-kheo này không thể có được
thức ăn nên mới đến đây xin phải không?
- Chính
như vậy. - Ông Trưởng giả trả lời vợ.
- Ông
có biết vị Tỳ-kheo ngày hôm qua là ai không? - Người vợ
hỏi.
- Không
biết. - Ông Trưởng giả trả lời.
- Ông
ấy tên là A-na-luật, con dòng họ Thích, bỏ cung điện ba
mùa, bỏ thú vui ngũ dục, xuất gia học đạo đó ông ơi!
Người
vợ đáp lời, rồi lại nói:
- Ông
có biết Tỳ-kheo hôm nay là ai không?
- Không
biết. - Người chồng đáp.
- Vị
ấy là con dòng họ lớn Tất-ba-la-diên Ma-nạp, bỏ 990 mẫu
ruộng, nhà cửa, trâu, bò xuất gia học đạo, dũ lòng thương
đối với ông cho nên đến xin thức ăn đấy, ông biết không?
- Người vợ nói.
Ông
Trưởng giả nghe vợ nói, trong lòng kính phục. Ngay khi ấy,
Mục-kiền-liên bay lên hư không, vì Trưởng giả nói pháp,
chỉ bày sự lợi ích, sự hoan hỷ... Nghe pháp, ông Trưởng
giả liền từ chỗ ngồi xa trần lìa cấu, được con mắt
pháp trong sạch. Thấy pháp, đắc quả rồi, thọ Tam quy, Ngũ
giới. Từ đó về sau, ông Trưởng giả thường cúng dường
cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di và các ngoại
đạo. Sau đó, ba vị Thanh văn nói với Tân-đầu-lô rằng:
- Chúng
tôi đã giáo hóa được Trưởng giả Bạt-đề kính tin Phật
pháp rồi, nay đến phiên thầy giáo hóa bà chị của ông ta.
Nhận
sự phân công, vào buổi sáng, Tân-đầu-lô mặc y bưng bát
vào thành khất thực, theo thứ tự đến nhà bà chị của
Trưởng giả Bạt-đề. Lúc ấy, chị ông Trưởng giả tự
tay đóng bánh, bỗng nhiên thấy Tân-đầu-lô, bà liền cúi
đầu nhắm mắt. Tân-đầu-lô nhất tâm nhìn vào bình bát.
Bà ta bèn nói:
- Quyết
không cho một thứ gì! Ông có chú tâm nhìn vào bát cũng chỉ
uổng sức mà thôi.
Tân-đầu-lô
làm thân tuôn ra khói. Bà ta nói:
- Cả
thân tuôn ra khói cũng mặc. Không cho là không cho.
Tân-đầu-lô
làm thân tuôn ra lửa. Bà ta lại nói:
- Cả
thân lửa bùng cháy cũng thừa, cương quyết không cho ông thì
dứt khoát không cho.
Tân-đầu-lô
liền bay lên hư không. Bà ta nói:
- Có
bay lên hư không cũng mặc, đã không cho là dứt khoát không
cho, thử ông làm gì nào?
Tân-đầu-lô
bèn lộn nhào trong hư không. Bà ta nói:
- Có
nhào lộn tới đâu cũng quyết chí không cho là không cho.
Tân-đầu-lô
nghĩ: “Ðức Thế Tôn không cho phép ta cưỡng bức để xin
cho bằng được”, bèn ra đi. Nhưng cách thành Vương-xá không
xa có một tảng đá lớn, Tân-đầu-lô ngồi trên đó, rồi
kẹp tảng đá bay vào thành Vương-xá. Người trong thành thấy
đều hết hồn, hết vía, sợ tảng đá rớt xuống là xong
đời, mọi người vội vã chạy trốn. Bay đến nhà chị ông
Trưởng giả, Tân-đầu-lô cho tảng đá lững lờ trên nhà
bà ta. Bà ta thấy tảng đá như sắp rơi trên người bà, thất
kinh hồn vía, tóc lông dựng ngược, bà ta vòng tay thưa:
- Xin
ngài tha mạng cho con, đem tảng đá về chỗ cũ, con xin cúng
cho ngài.
Tân-đầu-lô
liền đem tảng đá để vào chỗ cũ rồi trở lại đứng
trước nhà bà ta. Chị ông Trưởng giả lại có ý nghĩ: “Ta
không thể cho cái bánh lớn, nên làm cái bánh nhỏ để cho”.
Bà ta liền viên tròn cái bánh còn chút xíu, nhưng cái bánh
lại biến thành rất lớn. Ba lần như vậy, bánh nhỏ đều
biến thành bánh lớn. Bà ta lúng túng nghĩ: “Ta muốn làm
cái bánh nhỏ thì nó lại thành cái bánh lớn. Thôi thì cứ
lấy đại một cái mà cho họ”. Bà ta lấy một cái, thì
liền tù tì các bánh còn lại dính theo, đến nỗi cái thẩu
đựng bánh cũng dính theo bánh. Bà ta cầm cái thẩu lại, thì
tay bà cũng dính luôn vào thẩu. Rất khó chịu, bực tức,
bà nói với Tân-đầu-lô rằng:
- Ông
cần bánh, tôi cho hết bánh, kể cả cái thẩu tôi cũng không
tiếc. Cớ sao ông lại cần tôi để làm gì, đến nỗi tay
tôi cũng dính chặt vào thẩu?!
- Tôi
không cần bánh, lẫn thẩu; cũng không cần bà. Chúng tôi bốn
người đã cùng bàn định giáo hóa bà và em của bà. Ba vị
kia đã giáo hóa được em của bà rồi. Nay tôi giáo hóa bà,
nên tôi phải mượn cách mầu nhiệm như vậy mà thôi! - Tân-đầu-lô
nói rõ như thế.
- Vậy
bây giờ ông muốn tôi thực hiện việc gì? - Bà chị Trưởng
giả hỏi.
- Tôi
muốn chị em bà có thể đưa số bánh này đi theo tôi đến
cúng dường Phật và Tăng. - Tân-đầu-lô yêu cầu như thế.
Bà
ta liền cho chở bánh đi theo Tân-đầu-lô. Tân-đầu-lô biến
hóa con đường đi ngang qua ngõ nhà mọi người, khiến cho
ai cũng thấy sự giáo hóa này. Khi đến chỗ đức Phật, tự
tay bà sắp bánh cúng dường Phật và 1.250 Tỳ-kheo. Tất cả
các vị đều thọ dụng đầy đủ, song cũng không hết số
bánh bà đem đến cúng. Số bánh còn lại, bà mang đến chỗ
Phật, thưa:
- Con
đã cúng dường và chư Tăng đã thọ dụng đầy đủ cả
rồi. Chỗ bánh dư này nên để chỗ nào?
Ðức
Phật bảo:
- Có
thể để nơi chỗ đất trống không có cỏ sống, hay bỏ
vào chỗ nước không có trùng.
Bà
chị Trưởng giả đem số bánh dôi ra đổ vào nước không
có trùng, nước sôi sùng sục như sắt nóng bỏ vào trong nước.
Bà hoảng sợ, rợn cả tóc gáy. Quay trở lại chỗ Phật,
bà đảnh lễ sát chân Phật rồi ngồi lui qua một bên. Ðức
Phật vì bà nói các pháp nhiệm mầu. Bà đắc pháp, thọ Tam
quy, Ngũ giới, cúng dường tứ chúng, cầu đạo như người
em của mình.
Việc
hiện thần túc để giáo hóa, khi đưa ra trước Tăng, Tân-đầu-lô
bị đức Phật quở trách. Ngài bảo các Tỳ-kheo:
- Từ
nay không cho phép hiện thần túc. Nếu thị hiện thì phạm
tội Ðột-kiết-la.
MƯỜI
MỘT ÐIỀM MỘNG
Ðức
Phật lúc bấy giờ ở nước Câu-tát-la, cùng với 1.250 Tỳ-kheo
du hành nhân gian, đến xóm làng Ðô-di của Bà-la-môn trải
tòa ngồi nghỉ dưới cây Sa-la cạnh bên đường. Khi ấy đức
Phật mỉm cười, A-nan nghĩ đức Phật mỉm cười chắc có
nhân duyên, để trống vai bên hữu, quỳ gối thưa hỏi Phật,
đức Phật dạy:
- Này
A-nan! Thuở quá khứ, có ông vua tên là Cấm Mị. Con gái vua
khi sanh ra, trên thân đã đeo sẵn một tràng hoa bằng vàng.
Nhà vua triệu tập quần thần thảo luận việc đặt tên cho
công chúa. Quần thần đều có ý kiến nên hỏi thầy tướng
Bà-la-môn. Thầy tướng được triệu vời. Sau khi xem xét mọi
hiện tượng, thầy tướng Bà-la-môn bảo: “Công chúa khi
sanh ra, thân đã đeo sẵn tràng hoa bằng vàng, với đặc điểm
này nên đặt tên cho công chúa là Ma-lê-ni”. Nhà vua rất
bằng lòng với tên gọi này và sự nuông chiều yêu dấu của
vua đối với con gái thật vô bờ. Ðể hầu hạ con mình,
nhà vua cho tìm hiểu trong nước xem bé gái nào sanh ra đúng
ngày với con mình thì cho lập danh bộ đưa vào cung nuôi dạy,
làm người sai khiến hầu hạ. Cả nước có đến 500 bé gái
như vậy, trở thành người của nhà vua.
Khi
tuổi đã lớn khôn, Ma-lê-ni được lệnh của vua cha thường
phải cúng dường 500 Bà-la-môn mà vua cha tôn trọng cúng dường.
Nhà vua nói với con gái rằng:
- Con
nên như cha, hằng ngày nấu 500 nồi canh theo sở thích của
quý vị mà cúng dường.
Ma-lê-ni
vâng lời cha thực hiện việc cúng dường 500 Bà-la-môn rất
trọng hậu. Sau mỗi bữa cúng dường, Ma-lê-ni cùng 500 người
nữ thị tùng ngồi xe tứ mã dạo chơi các viên quán. Từ
vườn này đến vườn kia, thăm thú hết cảnh quan này đến
cảnh quan khác, và ngày nào cũng như ngày nào...
Bấy
giờ, đức Phật Ca-diếp đang ở trong một khu vườn. Khi người
đánh xe đưa Ma-lê-ni đến ngôi vườn này thì anh ta liền
cho quay xe lại, không vào. Ma-lê-ni hỏi:
- Trong
quốc giới của ta, không vườn nào là không vào. Tại sao
ngươi thường lãng tránh ngôi vườn này?
- Trong
vườn này có một Sa-môn đầu trọc tên là Ca-diếp, tôi không
muốn thấy ông ta nên không vào. - Người đánh xe đáp.
- Sa-môn
Ca-diếp đâu có dính dáng gì đến việc của ngươi. Ngươi
có thể quay xe lại, vào trong vườn này thử xem sao! - Ma-lê-ni
bảo người đánh xe.
Người
đánh xe quay xe lại, vào vườn. Xe đến cuối đường, Ma-lê-ni
xuống xe đi vào sâu trong vườn. Từ xa, Ma-lê-ni đã trông
thấy Phật Ca-diếp dung nhan vô cùng rực rỡ, chẳng khác nào
một núi vàng. Hình ảnh này đã khiến Ma-lê-ni vô cùng hoan
hỷ, liền đến trước Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân
rồi đứng qua một bên. Ðức Phật vì Ma-lê-ni nói các diệu
pháp, chỉ bày sự lợi ích, niềm vui và sự an lạc. Nhận
thức được pháp, Ma-lê-ni liền đắc quả, rồi thọ Tam quy,
Ngũ giới. Ma-lê-ni đảnh lễ, nhiễu quanh Phật rồi ra về.
Từ
ngày được gặp đức Phật Ca-diếp, Ma-lê-ni có nhiều thay
đổi về nhận thức. Có nhiều suy nghĩ về 500 Bà-la-môn kia.
Vấn đề được công chúa Ma-lê-ni đặt ra là: “Hằng ngày
cúng dường 500 nồi canh cho 500 Bà-la-môn là sự cúng dường
không đúng chỗ, không phải là phước điền, họ không nên
nhận của thí. Ta nên cúng dường thức ăn tốt cho đức Phật
Ca-diếp. Ðây là phước điền ta đã cảm nhận ra như vậy”.
Khi
các Bà-la-môn nghe Ma-lê-ni làm đệ tử Phật Ca-diếp, lại
dùng thức ăn ngon để cúng dường đức Phật Ca-diếp thì
họ sinh lòng đố kỵ. Họ họp lại thảo luận sôi nổi và
đề nghị: “Chúng ta phải tìm mọi phương cách để giết
chết người con gái phản phúc này”.
Cũng
trong thời gian ấy, vào một đêm vua Cấm Mị ngủ thấy 11
điềm mộng:
1-Mộng
thấy cây dài bốn ngón tay lại có hoa.
2-Mộng
thấy hoa liền thành trái.
3-Mộng
thấy con bò con thì cày, con bò lớn thì đứng xem.
4-Mộng
thấy ba cái chõ đều nấu cơm. Hai chõ ở hai bên, cơm sôi
nhảy vào nhau mà không rơi vào cái chính giữa..
5-Mộng
thấy con lạc đà có hai đầu ăn cỏ.
6-Mộng
thấy con ngựa mẹ bú con ngựa con.
7-Mộng
thấy cái bát vàng vận hành giữa hư không.
8-Mộng
thấy nước tiểu con cáo hoang đựng trong cái bát bằng vàng.
9-Mộng
thấy con khỉ đột ngồi trên cái giường vàng.
10-
Mộng thấy đem bán cái đầu bò bằng Chiên-đàn mà giống
như cỏ mục.
11-
Mộng thấy trong vũng nước, xung quanh trong, chính giữa đục.
Sáng
ngày, nhà vua triệu tập quần thần, nói lại 11 điềm mộng
rồi hỏi ý kiến:
- Những
điềm mộng ấy có ý nghĩa như thế nào?
Quần
thần đều nói:
- Nên
hỏi ý kiến thầy tướng Bà-la-môn.
Nhà
vua cho triệu vời thầy tướng Bà-la-môn đến hỏi. Họ liền
nảy ra ý nghĩ: “Chúng ta định giết người nữ này thì
đây là cơ hội tốt”. Họ liền tâu với nhà vua rằng:
- Những
điềm chiêm bao ấy đều không tốt, là dấu hiệu bị mất
nước, hoặc phải mất mạng.
Nhà
vua hỏi:
- Có
cách nào để tránh khỏi tai ương này không?
- Tâu
bệ hạ, có! Nhưng khốn nổi nhà vua quá thương yêu mà không
nỡ hy sinh, nên không thể thực hiện được. - Thầy tướng
Bà-la-môn tâu.
- Cứ
thẳng thắn nói ra. - Nhà vua bảo.
Thầy
tướng tâu:
- Tâu
bệ hạ, voi... của nhà vua, ngựa... của nhà vua, đại thần...
của nhà vua, Ðại Bà-la-môn.. của nhà vua dẫn 500 bò đực,
500 trâu nước, 500 trâu nghé cái, 500 trâu nghé đực, 500 con
dê đen, 500 con dê sức lực, vương nữ Ma-lê-ni và 500 người
con nuôi, sau bảy ngày - nơi ngã tư đường - giết hết để
tế Thiên thần, thì tai ương này có thể tiêu trừ, nếu không
thì cái họa này không thể nào tránh khỏi.
Nhà
vua nghe rồi cả tin, liền ra lệnh chuẩn bị. Riêng con gái
mình, sau khi nói rõ sự việc, lại cho phép trong vòng sáu ngày
tùy ý làm theo sở nguyện. Ma-lê-ni tâu với vua cha:
- Con
không hề sợ chết, nhưng xin được làm theo ý nguyện:
·
Ngày thứ nhất cùng nhân dân nam nữ, lớn nhỏ trong thành
đến chỗ Phật Ca-diếp. (Nhà vua chấp thuận, tức khắc ra
lệnh toàn dân trong thành đến chỗ Phật Ca-diếp. Ðức Phật
vì họ nói các pháp nhiệm mầu, chỉ bày sự lợi ích để
họ được vui mừng... Sau khi nghe pháp, họ đều đắc quả,
thọ Tam quy, Ngũ giới).
·
Ngày thứ hai, xin được cùng đại thần của vua đến chỗ
Phật Ca-diếp.
·
Ngày thứ ba, xin cùng với các vương tử đến chỗ Phật Ca-diếp.
·
Ngày thứ tư, xin cùng với vương nữ đến chỗ Phật Ca-diếp.
·
Ngày thứ năm, xin cùng với thể nữ đến chỗ Phật Ca-diếp.
·
Ngày thứ sáu, xin cùng với vua cha đến chỗ Phật Ca-diếp.
Nhà
vua đều thuận cho và tất cả đều thấy pháp đắc quả,
thọ Tam quy, Ngũ giới như lời nguyện đầu.
Nhà
vua đắc quả rồi, đem 11 điềm mộng thưa hỏi Phật Ca-diếp:
- Bạch
Thế Tôn, những điềm mộng ấy có báo ứng như thế nào?
Ðức
Phật dạy:
- Mười
một điềm chiêm bao này thuộc về đời sau, chứ không phải
đời này:
- Mộng
thấy cây còn nhỏ mà sanh hoa là đời sau có đức Phật ra
đời chỉ sống 100 tuổi, gọi là Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng
Cúng Chánh Ðẳng Giác. Khi ấy, người 30 tuổi đều đã bạc
đầu.
- Mộng
thấy hoa liền thành trái, là bấy giờ người mới 25 tuổi
đã sanh con.
- Mộng
thấy con bò con cày, bò lớn lại đứng nhìn, là lúc ấy người
trẻ thống lãnh việc nhà, cha mẹ không được tự tại.
- Mộng
thấy ba nồi đều nấu cơm, nồi hai bên cơm sôi nhảy vào
nhau mà không rơi vào nồi ở giữa, là khi ấy người giàu
cùng nhau ban ân giúp đỡ giữa họ mà người nghèo không nhận
được.
- Mộng
thấy con lạc đà hai đầu ăn cỏ, là khi ấy quần thần của
nhà vua đã hưởng bổng lộc của quốc vương mà lại ăn
cắp vật của dân.
- Mộng
thấy con ngựa mẹ lại bú con ngựa con, là khi ấy con gái
đã có chồng rồi, người mẹ lại đến cầu thực nơi con
gái.
- Mộng
thấy cái bát vàng vận hành giữa hư không, là khi ấy mưa
không đúng thời tiết, cũng không khắp cùng.
- Mộng
thấy nước tiểu con cáo hoang ở trong bát vàng, là khi ấy
nhân dân chỉ chọn người giàu mà kết hôn, chứ không chọn
người có bổn tánh.
- Mộng
thấy con khỉ đột ngồi trên giường vàng là khi ấy quốc
vương dùng phi pháp cai trị, bạo ngược, vô đạo.
- Mộng
thấy đem bán cái đầu bò bằng Chiên-đàn mà giống như cỏ
mục, là khi ấy Sa-môn dòng họ Thích tham lợi dưỡng nên
cùng bạch y nói pháp.
- Mộng
thấy trong vũng nước ở giữa đục, xung quanh trong, là khi
ấy Phật pháp ở trung tâm bị tiêu diệt trước, nơi ven biên
cương lại thịnh.
Ðức
Phật dạy:
- Mười
một điềm mộng của vua thấy là như vậy, chẳng có gì bất
tường cho bản thân của đại vương.
Nhà
vua liền từ chỗ ngồi ra lệnh cho quần thần rằng:
- Những
phẩm vật dùng để tế trời, thần hãy mang đem bố thí khắp,
chẳng có việc gì phải lo sợ. Từ nay ta thà tự mất mạng
chứ không cố ý sát sanh, huống nữa lại bảo giết người.
Không cố ý làm tổn thương loài kiến, loài trùng, huống
là làm tổn thương con gái và mọi người.
Ðức
Phật bảo tôn giả A-nan:
- Ðức
Phật Ca-diếp sau khi Nê-hoàn, nhà vua Cấm Mị vì Ngài xây
tháp bằng vàng, bạc, dọc ngang nửa do-tuần, cao một do-tuần,
thêm vào tháp là những viên ngói bằng vàng, bằng bạc xen
lẫn nhau, hiện nay vẫn còn trong lòng đất.
Ðức
Phật liền bước ra chỉ cho Tứ chúng thấy rõ vị trí tháp
và toàn thân xá-lợi của Phật Ca-diếp, nghiễm nhiên vẫn
như cũ. Nhơn việc này, đức Phật lấy một nắm đất rồi
nói kệ:
Tuy
được Diêm-phù-đàn2
Trăm
ngàn lợi kim bảo
Không
bằng một nắm đất
Vì
Phật, xây bảo tháp.
Chỉ
bảo xong, trở lại chỗ cũ, đức Phật lấy bốn nắm bùn
trát lên chỗ đất mà ngay phía bên dưới, ngầm trong lòng
đất là ngôi tháp của Phật Ca-diếp. Một ngàn hai trăm năm
mươi vị Tỳ-kheo, mỗi vị cũng lấy bốn nắm bùn trát lên
chỗ đất ấy. Và tại chỗ đống bùn này, sau đó, các Tỳ-kheo
xin phép Phật xây một ngôi tháp lên đó. Ðức Phật cho phép
và đây là ngôi bảo tháp đầu tiên được xây trên cõi Diêm-phù-đề
này.
TIỀN
KIẾP CỦA TÔN GIẢ XÁ-LỢI-PHẤT
Bấy
giờ, tôn giả Xá-lợi-phất bị bệnh phong, thường dùng trái
Ha-lê-lặc để chữa trị. Ngày ấy, Cù-già-ly là cấp bậc
Thượng tọa, đến chỗ ở của Xá-lợi-phất, bảo tôn giả
đi chỗ khác, nhường chỗ cho Thượng tọa. Xá-lợi-phất
liền nhường chỗ nhưng khi đi để quên lại trái Ha-lê-lặc.
Cù Gia Ly thấy thế, nói với các Tỳ-kheo:
- Ðức
Thế Tôn khen ngợi Xá-lợi-phất là thiểu dục tri túc, nay
lại cất chứa đồ ăn, còn chúng ta không làm việc này.
Tôn
giả Xá-lợi-phất nghe lời ấy liền suy nghĩ: “Tại sao nay
vì một việc nhỏ, ta lại bị cơ hiềm!”. Xá-lợi-phất
lấy trái Ha-lê-lặc quăng đi. Các Tỳ-kheo nói:
- Ðại
đức bị chứng hoạn phong, cần dùng trái Ha-lê-lặc để
chữa trị. Nó là vị thuốc, nên lượm lại để dùng.
Xá-lợi-phất
nói:
- Do
một vật nhỏ lại khiến cho đồng phạm hạnh cơ hiềm đến
như thế. Tốt hơn là quăng đi, mà đã quăng rồi thì cớ
gì phải lượm lại?!
Các
Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy:
- Xá-lợi-phất,
không những đời này hành động như vậy, mà thuở quá khứ
cũng từng như vậy. Thuở ấy, có một con Hắc xà cắn một
con bò nghé, rồi chui vào trong bộng cây. Có một thầy chú
thuật dùng thần chú “Cổ Dương” (dê đen) phù phép cho
con rắn ra khỏi bộng cây, nhưng Hắc xà không ra. Thầy chú
thuật bèn đốt lửa trước con bò nghé để làm phép, hóa
thành gió lửa bay vào trong bộng cây đốt nóng con Hắc xà.
Chịu không nổi sức nóng, Hắc xà bò ra khỏi bộng cây. Con
dê dùng sừng hất con rắn để trước mặt chú thuật sư.
Chú thuật sư nói:
“Ngươi
liếm lại nọc độc, bằng không ta quăng vào trong lửa”.
Hắc
xà liền nói kệ:
“Ta
đã nhả độc này
Nhất
định không liếm lại
Nếu
có phải bị chết
Chấm
dứt mạng này thôi!”
Dứt
khoát, Hắc xà không thu lại độc của mình, liền phóng vào
lửa.
Ðức
Phật dạy:
- Lúc
ấy là Hắc xà, nay là Xá-lợi-phất. Xưa kia chấp nhận cái
chết khổ đau chứ không thu lại nọc độc, huống nay lại
thu lượm lại thuốc đã vứt đi. Từ nay ta cho phép các Tỳ-kheo
chứa thuốc để dùng trị bệnh.
Sự
cất dành thuốc về sau có quy định mức độ.
VÀO
NHÀ KHÔNG NHỚ LỐI RA1
Bấy
giờ, có một Tỳ-kheo khất thực hơi đãng trí, lại không
hệ niệm. Ngày nọ, đi khất thực, Tỳ-kheo vào trong nhà người,
lại không nhớ lối ra. Ði tìm lối ra thì lại lạc vào một
nơi có người đàn bà nằm ngửa, thân thể lõa lồ. Tỳ-kheo
thất kinh, vội vã thoát nhanh ra khỏi nhà không bằng cửa
chính. Ngay lúc ấy, tình cờ người chủ nhà cũng vừa về,
nhìn thấy nét mặt hốt hoảng, sợ hãi của Tỳ-kheo, sinh
nghi ông này có hành động bất chính, người chồng vội chạy
vào nhà trong, thì thấy bà vợ lõa hình nằm ngửa, liền nghĩ
ngay đến việc Tỳ-kheo kia tư thông với vợ mình. Ông ta chạy
vội theo Tỳ-kheo, kêu:
- Ðứng
lại, ông đã làm việc “như vậy...”, “như vậy...” trong
nhà tôi.
- Ông
đừng nói lời đó. Pháp Tỳ-kheo chúng tôi không làm việc
ác như vậy! - Tỳ-kheo trả lời.
Người
chồng kia không tin, đánh cho Tỳ-kheo một trận thừa sống
thiếu chết rồi tước đoạt y bát của Tỳ-kheo mới buông
tha. Về đến Tăng phường, Tỳ-kheo kể chuyện cho các Tỳ-kheo
nghe. Các Tỳ-kheo nghiêm khắc quở trách:
- Tại
sao thầy không hệ niệm tại tiền? Vào trong nhà người ta
mà không nhớ đường ra!.
Sự
việc được bạch lên Phật, nhân đó đức Phật chỉ dạy
Tỳ-kheo khất thực mọi oai nghi trước và sau khi đi khất
thực. Bài học cần phải học.
MỬA
SẠCH
Trong
Tăng hồi ấy, Xá-lợi-phất là bậc cao nhất, còn La-hầu-la
là bậc thấp nhất. Ngày ấy, hai thầy trò thọ trai nơi nhà
một đàn-việt nọ. Người thí chủ dùng canh nấu thứ váng
sữa(sanh tô, thục tô)béo ngậy dâng cho Thượng tọa, còn
loại canh bằng dầu cúng cho Thứ tọa. Hạ tọa như La-hầu-la
thì cúng cho loại canh thừa thãi.
Sau
khi thọ trai về, La-hầu-la đến chỗ Phật, đầu mặt đảnh
lễ sát chân rồi ngồi qua một bên. Ðức Phật hỏi La-hầu-la:
- Hôm
nay ông ăn thức ăn như thế nào?
La-hầu-la
liền nói kệ:
Người
ăn dầu có sức
Người
ăn tô có sắc
Ăn
canh loãng xà bần
Không
sức, huống là sắc.
Nói
kệ xong, bạch Phật:
- Hôm
nay, con ăn thứ canh loãng nấu với đồ thừa.
Sau
đó, Xá-lợi-phất cũng đến chỗ Phật, đảnh lễ xong rồi
ngồi qua một bên, đức Phật hỏi:
- Hôm
nay thầy ăn thức ăn thế nào?
- Thưa,
con ăn thức ăn bằng váng sữa nấu canh. - Xá-lợi-phất đáp.
Ðức
Phật quở:
- Hôm
nay thầy ăn thức ăn bất thiện. Tại sao Tỳ-kheo Thượng
tọa ăn thức ăn bằng váng sữa, Trung tọa ăn thức ăn bằng
dầu, Hạ tọa ăn thức ăn bằng đồ thừa?!
Xá-lợi-phất
lặng thinh không trả lời, bèn vào chỗ vắng làm cho ói hết
thức ăn ra và cương quyết không nhận đi thọ trai ở nhà
đàn-việt nữa.
Ðức
Phật dạy:
- Từ
nay, có người mời cơm, Thượng tọa nên nói với người
chủ “Tất cả thức