Phần
08
Đức
Phật với Tỳ kheo bệnh
Nên
cho _ nên cúng dường
Dòng
họ Thích xin y
Nơi
biên địa được
Bò
mẹ đòi con
Nhờ
ai chư Tăng được mang dép da
Nên
hay không nên
Trước
khi ăn phải hỏi thịt gì
Được
dùng tam tịnh nhục
Được
uống sữa từ ngày ấy
Bốn
thứ tranh chấp và bảy pháp diệt tranh chấp
Lấy
ân báo oán
Thưa
Thế Tôn, chúng con là người ngu si
ÐỨC
PHẬT VỚI TỲ-KHEO BỆNH
Có
một Tỳ-kheo nhác nhớm, không tiếp tay làm những công việc
của chúng, cũng không hầu hạ Hòa thượng, A-xà-lê... Khi
ngã bệnh, không ai chăm sóc, vệ sinh tại chỗ, phân, giải
dính cả thân, hôi thối bất tịnh. Ðức Phật đi xem xét
các phòng, thấy vậy, Ngài tự tay tắm rửa, giặt y cho bệnh
nhân, dọn dẹp, trừ khử bất tịnh, đỡ bệnh nhân nằm
trên giường rồi ngồi một bên an ủi:
- Thầy
đừng lo sợ. Nay mai thầy sẽ lành, không sao đâu!
Tỳ-kheo
kia nghe lời nói ân cần này, lòng rất vui, đầy xúc động.
Ðức Phật lại nói các diệu pháp, Tỳ-kheo bệnh được xa
trần lìa cấu, đắc pháp nhãn thanh tịnh. Nhân việc này,
đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi A-nan:
- Tỳ-kheo...
bệnh, tại sao không có người chăm nom?
A-nan
trình bày sự việc, đức Phật bảo A-nan:
- Các
ông làm điều phi pháp. Tỳ-kheo không có cha mẹ không tự
chăm sóc cho nhau thì ai vào đây chăm sóc cho? Nay Ta cho phép
các Tỳ-kheo phải cử người nuôi bệnh, phải chăm sóc chu
đáo.
NÊN
CHO – NÊN CÚNG DƯỜNG
Thuở
ấy, có một người mẹ trẻ sinh con bị chết yểu. Lần sinh
sau là một đứa con trai rất dễ thương, cô ta sợ lại bị
chết yểu như đứa con lần đầu, nên đến Tỳ-kheo xin y
ca-sa, may áo cho con mặc để trừ khử tà quái. Các Tỳ-kheo
không dám cho, bạch Phật. Ðức Phật dạy: Nên cho họ.
Khi
ấy, cha mẹ của Tất-lăng-già-bà-ta rất nghèo khổ, ông muốn
đem y cúng dường mà không dám, bạch Phật. Nhân việc này
đức Phật cho tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
có người đối với cha mẹ, 100 năm vai bên phải cõng cha,
vai bên trái cõng mẹ, cha mẹ lại đại tiểu tiện luôn trên
đó, nuôi nấng cha mẹ bằng những ẩm thực, y phục trân
kỳ nhất trên đời, cũng chưa thể tạ ơn cha mẹ trong muôn
một. Từ nay Ta cho phép các Tỳ-kheo suốt đời hết lòng cúng
dường cha mẹ. Nếu không cúng dường là phạm tội rất nặng.
DÒNG
HỌ THÍCH XIN Y
Bấy
giờ, nước Xá-di10 rất bảo thủ, làm theo Cựu điển: cấm
tất cả người khác họ kết hôn với người trong họ. Vua
Ba-tư-nặc lại mê say gái đẹp của dòng họ Thích, muốn
cưới nhưng gặp trở ngại, song vua ỷ vào thế lực quân
sự mạnh của mình, bèn sai sứ khuyến cáo: “Nếu không cho
ta cưới con gái họ Thích thì ta sẽ đem quân chinh phạt”.
Các
người dòng họ Thích họp nhau lại nghị bàn: “Nên tương
kế tựu kế thế nào để tránh khỏi điều bạo ngược,
mà lại không trái với Cựu điển của nước ta”. Các người
trong dòng dõi nhất trí chọn một đứa tớ gái đẹp, thùy
mị, đoan trang, rồi cho trang điểm với đồ trang sức đẹp,
mang danh dòng họ Thích để đáp ứng việc cưới xin của
vua Ba-tư-nặc.
Ý
đồ này dòng họ Thích khéo léo thực hiện, rồi thông báo
cho vua Ba-tư-nặc biết để định liệu việc cầu hôn, và
việc hôn nhân cũng nhanh chóng diễn ra tốt đẹp. Không lâu
sau, trong hoàng cung của vua Ba-tư-nặc vang lên tiếng khóc chào
đời của một bé trai khôi ngô, tuấn tú tuyệt vời. Nhà
vua ra lệnh cho các thầy tướng dựa theo tướng mạo ấy mà
đặt tên cho con mình. Các thầy tướng nói:
- Nhà
vua vốn dùng uy lực mà cưới được mẹ đứa bé trai này,
nên dựa vào nghĩa đó đặt tên là Lưu-ly.
Ðến
năm tám tuổi, nhà vua muốn mời thầy dạy học cho con. Vua
suy nghĩ: “Trong các nghề, nghề bắn cung là hơn hết, và
trong cõi Diêm-phù-đề11 chỉ có dòng họ Thích tài bắn cung
là hơn cả. Khi Phật còn là Bồ-tát, bắn xa một do-tuần
với một Câu-lâu-xá12. Thích Ma-nam thì bắn xa một do-tuần
và tay bắn tồi nhất cũng xa không dưới một Câu-lâu-xá.
Ta nên cho Lưu-ly về bên ngoại để học nghề này”.
Vua
ra lệnh cho đại thần và bao người hầu cận thị tùng thái
tử sang bên ngoại thọ học bắn cung với Thích Ma-nam.
Bấy
giờ, các người dòng họ Thích mới xây xong một tòa nhà
lớn. Họ giao ước với nhau: “Nơi này cúng dường, cung thỉnh
Phật và đệ tử của Ngài vào đây trước nhất, sau đó
chúng ta mới vào sử dụng”. Ngày ấy, thái tử Lưu-ly cùng
với quyến thuộc tùy tiện vào trong tòa nhà ấy vui đùa.
Các người dòng họ Thích thấy vậy mắng ngay:
-Con
của đứa tớ hạ tiện, ta không coi ngươi là nơi phước
điền tốt. Tại sao đức Thế Tôn chưa vào ngồi mà ngươi
dám vào trước?
Thái
tử Lưu-ly nghe thế liền phẫn hận, ra lệnh cho một người
tùy tùng:
- Ngươi
ghi nhớ kỹ điều này, khi ta làm vua tâu lại với ta.
Thái
tử nói rồi, tức tốc bỏ đi ra. Ngay sau đó, dòng họ Thích
đào lấy đất nơi tòa nhà ấy đổ đi rồi đưa đất mới
vào làm lại. Công việc hoàn tất mới thỉnh Phật và Tăng
vào trong để cúng dường và nghe diễn thuyết diệu pháp...
Thái
tử Lưu-ly học xong nghề bắn, trở về thành Xá-vệ. Tuổi
còn niên thiếu, Lưu-ly đã nối ngôi vua. Các chức quan trọng
yếu, tân vương đều giao cho những người cùng học trước
kia. Ngày ấy, vị đại thần trước kia nhớ lời dặn tâu
với vua rằng:
- Hoàng
thượng còn nhớ bị các người thuộc dòng họ Thích mắng
không?
- Ta
nhớ.
- Nay
nếu không trả thù thì đợi lúc nào nữa?!
Lời
tâu ấy liền có tác động mạnh. Nhà vua sắc lệnh cho bốn
loại binh tiến quân chinh phạt dòng họ Thích. Khi hay tin này,
đức Thế Tôn vội đến bên lộ, ngồi dưới cây Xá-di, một
loại cây không có bóng mát. Vua Lưu-ly từ xa đã thấy Phật,
liền xuống xe đi bộ đến, đầu mặt đảnh lễ sát chân
Ngài và bạch:
- Kính
bạch đức Thế Tôn, cây tốt rất nhiều, vì lý do gì Ngài
lại ngồi dưới cây không có bóng mát?
- Thân
tộc là bóng mát vui thích nhất. - Ðức Thế Tôn trả lời
Nhà
vua biết được ý Phật là Ngài đã dũ lòng thương đến
các người dòng họ Thích, nên cho lui binh. Không lâu sau, đại
thần kia lại nhắc mối nhục dĩ vãng, lửa hận thù trong
lòng vua Lưu-ly bén lên, tác động trả thù lớn hơn. Cuộc
chinh phạt dòng họ Thích một lần nữa tái diễn. Ðức Phật
biết rõ những người dòng họ Thích không thể tránh khỏi
túc nghiệp phải đối đầu này, nên Ngài không ra can ngăn
nữa.
Dòng
họ Thích nghe vua Lưu-ly kéo binh đến chinh phạt đất nước
mình, họ cũng dàn quân chống trả. Cách một do-tuần, họ
dùng tên bắn vào địch quân, tên xuyên qua sát lỗ tai, tên
làm đứt tóc, tên gọt đứt râu khiến râu tóc và lông mày
không còn sót một sợi. Các chiến cụ của đối phương nhất
loạt bị phá hoại mà không gây thương tổn mạng sống địch
quân. Vua Lưu-ly hỏi các quan tả hữu:
- Các
người dòng họ Thích ở cách đây xa hay gần?
- Cách
đây một do-tuần. - Các tướng quân tâu.
Nghe
thế, nhà vua rất sợ hãi, nói:
- Trận
chiến chưa xáp lá cà mà đã như thế này, huống chi giáp
trận nhau, quân ta thua là điều chắc chắn, nên rút quân là
hay nhất.
Một
vị đại thần kịp ngăn vua, nói:
- Dòng
họ Thích đều giữ năm giới, họ thà chết chứ không hại
ai, vua nên tiến quân xông thẳng vào thì chắc chắn thắng,
không có chuyện bại trận xảy ra.
Nhà
vua nghe theo, ra lệnh cho quân tiến lên. Dòng họ Thích rút
vào trong thành, đóng cửa tự thủ. Vua Lưu-ly sai sứ loan báo:
“Mở cửa thành ngay thì còn có sự tha thứ. Nếu để vua
phá thành thì không một người nào thoát chết”. Khi ấy,
tôn giả Mục-kiền-liên nghe vua Lưu-ly muốn công phá đại
thành Xá-di, bạch Phật:
- Xin
Thế Tôn cho phép con biến hóa làm một cái lồng bằng sắt
để chụp đỡ cả đại thành.
Ðức
Phật dạy:
- Tuy
ông có thần lực, song làm sao có thể cải đổi được nhân
duyên định báo này.
Do
ý nghĩa ấy, đức Phật nói kệ:
Luận
nghiệp có trắng đen
Không
có chuyện hư dối
Tuy
lâu cũng sẽ đến
Trở
lại mình phải chịu
Vào
hư không, biển cả
Hay
ẩn trong núi đá
Bất
cứ đến chỗ nào
Dù
sâu kín, gần xa
Sao
tránh khỏi quả kia
Báo
ứng sẽ đưa đến
Tự
nhiên hướng đến nó
Không
nhất định nơi nào.
Bấy
giờ, dòng họ Thích thấy quân của đối phương đông như
kiến, có người nói: “Mở cửa thành để được toàn thân”,
có người nói: “Dù chết cũng cố thủ”. Phân vân về các
quyết định này nên phải bỏ phiếu, phía ít phải phục
tùng phía đông. Khi ấy, ma Ba-tuần13 yểm trợ cho phe muốn
mở cửa thành, nên qua bảy lần bỏ phiếu, phe này đều có
nhiều phiếu hơn. Thế là cửa thành được mở ra, vua Lưu-ly
chiếm được thành rồi ra lệnh cho ba quân:
- Giết
hết dòng họ Thích, không sát hại dòng họ khác.
Ba
ức người dòng họ Thích nghe đều cầm cỏ lau chạy ra nói:
- Chúng
tôi là người cắt cỏ cho dòng họ Thích.
Quân
giữ cửa thành tin theo lời, để cho chạy thoát. Thích Ma-nam
tức tốc đến chỗ vua Lưu-ly. Vì ông vừa là Ngoại gia, vừa
là thầy dạy bắn cung nên vua Lưu-ly thưa hỏi:
- Khanh
muốn cầu điều gì?
- Xin
đừng giết các người trong thân tộc của tôi nữa!
- Thích
Ma-nam khẩn thiết xin.
- Ðiều
đó không thể được. Có thể cầu xin điều gì khác.
Thích
Ma-nam lại cầu xin:
- Xin
hoàng thượng ban một ân huệ, là cho tôi khi lặn xuống nước
đến lúc trồi lên, trong thời gian ấy cho những người dòng
họ Thích được phép chạy ra, đừng giết họ.
Vua
Lưu-ly nghĩ: “Thời gian một hơi thở ở dưới đáy nước
là quá ngắn ngủi, việc gì không chấp nhận”. Ðược sự
chấp thuận, Thích Ma-nam liền xổ bung đầu tóc ra, rồi lặn
sâu xuống ao, lấy tóc cột vào gốc cây dưới đáy. Thích
Ma-nam chết, thân vẫn nằm yên trong lòng nước. Thấy khá
lâu, vua lấy làm lạ, sai người lặn xuống, thì ra cơ sự
bi thảm kia lại là hình ảnh bi hùng nhất!
Cái
chết của Thích Ma-nam được sứ giả tâu lên vua, vua khen:
- Kính
phục! vì thân quyến mà không tiếc thân mạng!
Vua
liền ra lệnh cho ba quân:
- Nếu
ai còn giết dòng họ Thích sẽ bị quân pháp nghiêm trị.
Khi
ấy, các Tỳ-kheo nghe vua Lưu-ly tàn sát người nước Xá-di,
bạch Phật. Ðức Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Vua
Lưu-ly ngu si. Sau bảy ngày, ông ta sẽ thọ tội hại người
thầy đã dạy mình và cả gia quyến của nhà vua kẻ lớn
người nhỏ cũng cùng chung số phận.
Vua
Lưu-ly nghe đức Phật nói như thế, tâm niệm: “Lời nói
của Phật không bao giờ sai”. Vua thầm nghĩ: “Trong các nỗi
khổ, khổ nào cũng đáng sợ, nhưng sợ nhất là cái khổ
bị lửa thiêu đốt”. Nhà vua cùng quyến thuộc ngồi thuyền
đi vào sông A-di. Ngày thứ bảy lại đến, ngày ấy nước
sông bỗng nhiên lớn kinh khủng, liền nhận chìm thuyền vua
Lưu-ly. Nhà vua và cả quyến thuộc chết đồng loạt. Bấy
giờ, các người dòng họ Thích còn sống sót không có một
tấm áo che thân, họ đến trú xứ Tỳ-kheo, nói:
- Tôi
là dòng họ Thích, là bà con thân tộc với đức Thế Tôn,
cho tôi xin một ít y.
Các
Tỳ-kheo không dám cho, bởi lẽ đức Phật chưa cho phép cho
y người dòng họ Thích. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Ðược phép cho”.
NƠI
BIÊN ÐỊA ÐƯỢC1....
Bấy
giờ, Ma-ha Ca-chiên-diên sống ở trong núi Ba-lâu-đa2, là biên
địa thuộc nước A-thấp-a-vân-đầu3. Trong nước có ông
Trưởng giả tên là Sa-môn Ức-nhĩ, rất tin kính Phật pháp,
thường cúng dường các Tỳ-kheo, thấy pháp đắc quả rồi
thọ Tam quy, Ngũ giới. Một hôm, trong chỗ thanh vắng, Sa-môn
Ức-nhĩ suy niệm lời Phật dạy: “Tại gia nhiễm trước,
không thể tịnh tu phạm hạnh. Xuất gia vô nhiễm, cũng như
hư không. Nay sao ta không vào pháp vô vi, cạo bỏ râu tóc,
xuất gia học đạo?”. Nghĩ rồi, sáng sớm Sa-môn Ức-nhĩ
đến chỗ Ca-chiên-diên, đầu mặt kính lễ sát chân, trình
bày đầy đủ ý nghĩ của mình, rồi cầu xin xuất gia thọ
Cụ túc giới. Ca-chiên-diên bảo:
- Như
lời ông nói là thật xác đáng, song việc xuất gia tu phạm
hạnh thì phải một mình ngồi dưới gốc cây, ăn ngày một
bữa, ông vốn là người giàu có thì đây là điều rất khó
cho ông.
Ức-nhĩ
ghi nhận lời dạy rồi về nhà. Ðiều gì ông đã quyết,
ông nhất tâm thực hiện. Ba lần đến cầu xin Ca-chiên-diên
và lần cuối được chấp nhận. Khi Sa-môn Ức-nhĩ xuất gia
học đạo, tại nước này Tăng rất ít, không đủ chúng mười
người để trao giới Cụ túc, nên Ức-nhĩ làm Sa-di đến
sáu năm. Trước sự việc này, tôn giả Ca-chiên-diên dùng
thần lực tập hợp chúng mười vị ở các nước khác đến,
trao giới Cụ túc cho Ức-nhĩ.
Sau
khi thọ giới rồi, Ức-nhĩ nghĩ: “Ta nghe đức Như lai là
bậc Ứng cúng Chánh đẳng giác mà chưa diện kiến được,
nay ta nên đến thăm hỏi đức Thế Tôn”. Ngày ấy, trước
khi lên đường, Ức-nhĩ đến thưa chào Ca-chiên-diên. Trước
tôn giả, đầu mặt kính lễ sát chân rồi xin phép đi hầu
thăm Phật. Ca-chiên-diên nói:
- Tốt
lắm! Tôi vui theo quyết định của ông. Ông nên lên đường
sớm chừng nào tốt chừng ấy. Ông cho tôi gởi lời thăm
hỏi đức Thế Tôn và bạch Ngài xin chấp thuận cho năm điều
sau:
1-
Nước A-thấp-ba-a-vân-đầu không có Tăng, Ức-nhĩ làm Sa-di
sáu năm vì không đủ chúng mười vị để trao giới Cụ túc.
Ca-chiên-diên dùng sức thần thông tập trung Tăng các nước
khác mới đủ chúng mười vị để trao giới Cụ túc cho Ức-nhĩ.
Cúi xin đức Thế Tôn cho phép nước này không đủ chúng mười
vị được trao giới Cụ túc.
2-
Nước này có nhiều sỏi đá chông gai, xin đức Thế Tôn cho
phép Tăng nước này được mang giày, guốc hai lớp.
3-
Nước này dùng da lót trên đất làm tọa, ngọa cụ, xin Thế
Tôn cho phép Tỳ-kheo nước này dùng da lót trên đất.
4-
Người nước này ngày nào cũng tắm rửa, xin Thế Tôn cho
phép Tỳ-kheo ở nước này hằng ngày tắm rửa.
5-
Có Tỳ-kheo gửi y cho Tỳ-kheo phương khác, y chưa đến nơi,
Tỳ-kheo ấy sanh nghi, sợ phạm tội chứa y dư. Xin Thế Tôn
vì Tỳ-kheo này trừ mối nghi.
Ức-nhĩ
vâng lời thầy dạy, lên đường. Khi đến chỗ trú ngụ của
đức Phật trong thành Xá-vệ, Ức-nhĩ đầu mặt đảnh lễ
sát chân Phật, rồi bạch lời thăm hỏi của Hòa thượng
Bổn sư lên đức Thế Tôn. Ðức Phật bảo A-nan:
- Ông
trải ngọa cụ cho Tỳ-kheo này nghỉ ngơi.
A-nan
nghĩ: “Ðức Phật muốn cho Tỳ-kheo này cùng nghỉ nên khiến
ta trải ngọa cụ”. A-nan trải ngọa cụ cho khách nơi phòng
của Phật. Ðức Phật với Ức-nhĩ nghỉ cùng một phòng.
Ðầu đêm, giữa đêm im lặng không chuyện vãn. Ðến cuối
đêm, đức Phật nghĩ đến Ức-nhĩ: “Ðây là con nhà vọng
tộc, oai nghi điều phục, nên bảo Tỳ-kheo này nói pháp”.
Ðức Phật bảo Ức-nhĩ:
- Thầy
có thể nói pháp.
Vâng
theo lời dạy, Ức-nhĩ nói lưu loát mười sáu nghĩa phẩm
kinh, nói rồi đứng im lặng. Ðức Phật dạy:
- Lành
thay! Người trong nước thầy, ai cũng đều nói được như
vậy chăng?!
Ức-nhĩ
thưa:
- Có
người hơn con!
- Tại
sao thầy ở nơi nước ấy mà không đến gặp Ta? - Ðức Phật
hỏi.
- Con
biết điều tội ấy, song vì nhân duyên nên con chưa thực
hiện sớm hơn.
Nhân
đó, đức Thế Tôn nói kệ:
Thấy
lỗi lầm ở đời
Tự
thân nương pháp lành
Kẻ
hiền không ưa ác
Vì
ác không thích thiện.
Ðược
gần gũi bên Phật là điều khó, Ức-nhĩ đạt được điều
này, liền bạch xin Thế Tôn chấp thuận cho năm điều mà
thầy mình kiến nghị. Sáng ngày, đức Phật cho tập hợp
Tỳ-kheo Tăng, Ngài bảo Ức-nhĩ trình bày lại năm điều xin
của tôn giả Ca-chiên-diên. Trước Tăng, Ngài khen ngợi hạnh
thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới; sau đó
Ngài chấp thuận năm điều mà Ức-nhĩ đã thay mặt thầy
mình xin. Cụ thể điều 1 và điều 5 như sau:
- Chỗ
thiếu Tỳ-kheo như nước của Ức-nhĩ thì đủ năm vị trì
luật là có thể trao giới Cụ túc.
- Tỳ-kheo
gửi y cho Tỳ-kheo nơi khác, tuy Tỳ-kheo trước có nghe biết,
y chưa vào tay, không phạm tội chứa y dư.
. BÒ
MẸ ÐÒI CON
Lúc
bấy giờ, Bạt-nan-đà thường tới lui một gia đình người
chăn bò. Ngày ấy, Bạt-nan-đà mặc y, bưng bát ghé đến nhà
ấy. Ông ta nhìn thấy con bò nghé của người nhà nuôi có
sắc lông đốm nhiều màu, rất lấy làm thích, ước gì có
được da con nghé này làm phu cụ thì tuyệt. Người chủ hỏi:
- Sao
thầy đăm đăm nhìn con nghé một cách say sưa vậy?
- Con
nghé này có sắc lông loang lỗ xem rất thích! Giá được da
nó để làm phu cụ thì hay quá! - Bạt-nan-đà trả lời.
- Ðại
đức thường lo liệu việc nhà của con, con đâu có tiếc
gì con nghé mà không cúng cho thầy. - Người chủ bảo.
Người
chủ liền ra tay giết con nghé trước mặt mẹ nó để lấy
da cúng cho Bạt-nan-đà. Nhận được tấm da “quý”, sư trở
về Tăng phường. Ði theo sau Bạt-nan-đà là con bò mẹ, rống
kêu buồn thảm như để đòi lại đứa con của nó!
Các
Tỳ-kheo hỏi Bạt-nan-đà:
- Sao
con bò này lại theo thầy rống kêu thảm thiết vậy?
- Tôi
không rõ lắm. - Bạt-nan-đà đáp.
- Con
bò này theo thầy mà không theo người khác, thầy nói không
biết là không đúng. - Các Tỳ-kheo vặn hỏi.
Bạt-nan-đà
đành đem sự thật kia nói trước Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo hết
sức nghiêm khắc quở trách Bạt-nan-đà, rồi bạch lên Phật.
Trước Tăng, Bạt-nan-đà bị đức Phật quở trách là người
ngu si. Ngài dạy các Tỳ-kheo:
- Từ
nay không cho phép cất giữ tất cả các loại da súc vật.
NHỜ
AI, CHƯ TĂNG ÐƯỢC MANG DÉP DA?
Dưới
triều vua Bình-sa, hai nước Ma-kiệt và Ương-già4 có đến
42 ngàn tụ lạc. Các hào kiệt của hai nước không người
nào không tin kính Phật, Pháp, Tăng, chỉ trừ trong thành Chiêm-bà5
có ông Thủ-lâu-na, là con của một Trưởng giả giàu có,
tiền lên đến con số 20 ức. Người đương thời gọi Thủ-lâu-na
là ông “Hai Mươi Ức”. Ông ta hưởng được sự vui sướng,
ấm êm ngay lúc chào đời, tay chân mềm mại, dưới chân mọc
nhiều lông. Vua Bình-sa nghĩ: “Trong cương giới ta chỉ có
Hai Mươi Ức là chưa có lòng tin yêu Phật pháp. Bằng cách
nào ta có thể làm cho ông tin? Nếu đích thân đến nhà, ông
ta sẽ hoảng sợ, còn nếu gọi đến, ông ta lại kinh hồn.
Ta nên mời 60 gia đình hào kiệt trong thành Chiêm-bà đến
dự lễ hôn nhân của vương tử. Nhân cuộc gặp gỡ này,
ta sẽ hướng dẫn ông đến với đạo pháp”.
Sau
đó, thông báo của vua đến 60 gia đình kia nhưng thân tộc
gia đình của Hai Mươi Ức liền đến vua tâu:
- Bẩm
hoàng thượng! Hai Mươi Ức chưa có lúc nào bước xuống đất,
vì dưới chân Hai Mươi Ức có mọc đầy lông, chẳng khác
nào tóc mọc trên đầu, nên không thể đến dự lễ cưới
của vương tử. Xin hoàng thượng thứ tội và đặc biệt
miễn trừ cho Hai Mươi Ức.
- Có
thể đi voi, ngựa, xe, kiệu mà đến. - Nhà vua bảo.
- Muôn
tâu, cũng không được, bởi thân thể Hai Mươi Ức mềm nhũn
như con bún thì làm sao dùng các phương tiện ấy!. - Thân tộc
thưa.
Nay
vương tử làm lễ thành hôn, cần sự hiện diện của các
hào kiệt, ta cho phép thân tộc của Hai Mươi Ức tận dụng
mọi phương tiện để đưa bằng được ông ta đến tham dự.
Sau
đó, thân tộc họp lại thảo luận tìm giải pháp. Giải pháp
ấy là đào một con kênh thông thuyền đưa ông ta đi mỗi
ngày vài dặm mới tránh được sự vất vả, mệt nhọc, đồng
thời cũng để phụng mạng nhà vua. Kế hoạch được thực
hiện một cách nhanh chóng và có kết quả tốt.
Ngày
ấy Hai Mươi Ức đến thành Vương-xá, thân tộc tâu lên vua:
- Tâu
hoàng thượng Hai Mươi Ức vừa đến, xin hoàng thượng cho
ông ta giữ tập quán sống như ở gia đình.
- Nếp
sống ở nhà là như thế nào? - Vua hỏi.
- Tâu
hoàng thượng, dùng vải trải trên đất rồi đi lên đó.
- Thân tộc trình bày.
- Ðược
thôi. - Vua cho phép.
Nhà
vua liền ra lệnh cho các quan thực hiện tốt yêu cầu này.
Lại trải vải mịn trên tòa để ông ta ngồi lên đó. Nhà
vua hỏi:
- Dưới
chân ông thật có mọc lông, phải không?
- Dạ,
thật có.
- Ta
muốn xem.
Hai
Mươi Ức tâu:
- Xin
hoàng thượng sai người tin cậy xem.
- Ta
muốn tận mắt thấy.
- Xin
phép hoàng thượng cho phép hạ dân được duỗi chân ra.
- Ðược,
nhà ngươi cứ tự nhiên.
Hai
Mươi Ức duỗi chân ra và chỉ vào lông dưới chân cho vua
xem. Ðúng như lời đồn, ánh sáng từ lông dưới chân tỏa
ra làm cho mắt vua không nhìn kỹ được. Vua suy nghĩ về điều
hiếm có này, lòng rất vui, thầm nghĩ rằng: “Nước ta đại
phước đức mới sinh ra con người phước đức này”. Vua
xoay nhìn hai bên, trước vua là ba đại cư sĩ, giờ thì có
Hai Mươi Ức nữa là bốn. Nhà vua hỏi:
- Mỗi
người có bao nhiêu của cải thì được gọi là cư sĩ?
Người
thứ nhất thưa:
- Tâu
hoàng thượng, hạ dân có 13 ức tiền.
Người
thứ hai thưa:
- Tâu
hoàng thượng, hạ dân có 14 ức tiền.
Người
thứ ba thưa:
- Tâu
hoàng thượng, hạ dân có 14 ức tiền, lại có một hạt châu
ma-ni6 vô giá.
Hai
Mươi Ức thưa:
- Tâu
hoàng thượng, hạ dân có 20 ức tiền, lại có 500 hạt châu
ma-ni và một viên bảo châu ma-ni.
Nhà
vua hỏi Hai Mươi Ức:
- Do
đâu ông có được của cải này?
- Tâu
hoàng thượng, của cải này không phải do cha mẹ để lại,
cũng không do kinh doanh mà có, nhưng do tự nhiên. Lúc ấy, hạ
dân ngủ trên lầu cao, khi thức dậy thấy của này đầy đủ
trước mặt. - Hai Mươi Ức tâu.
Nhà
vua rất đổi ngạc nhiên, không tin nổi, nghĩ rằng: “Phước
đức này chỉ có đức Phật mới biết, không một ai có thể
hiểu rõ hơn đức Phật. Nhà vua liền nghiêm giá đến chỗ
Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân, rồi bạch Phật:
- Kính
bạch Thế Tôn, Hai Mươi Ức kia có 500 hạt châu ma-ni, một
viên bảo châu ma-ni. Của báu này từ đâu có?
- Người
này trước kia ở nơi cung trời Ðâu-suất có 500 Thiên nữ,
họ rất kính trọng, yêu mến nhau. Sau đó, người ấy sanh
vào cõi này, 500 Thiên nữ với lòng ái kính, họ lần tìm
và qua thiên nhãn, họ thấy người kia sanh tại nơi đây, cho
nên mỗi Thiên nữ mang một ma-ni châu và đưa một bảo châu
mà trước kia Thiên tử nằm, biến hóa khiến các của cải
này tương xứng với thân người kia, đặt trước mặt người
đó, rồi biến đi.
Ðược
nghe biết sự việc rồi, nhà vua kính lễ cáo lui. Trở về
thành Chiêm-bà tập hợp 60 hào kiệt, tuyên bố:
- Nay
ta phong cho Hai Mươi Ức là bậc đại Cư sĩ ở thành Chiêm-bà,
các ngươi phải tôn kính.
Nhà
vua lại nói với Hai Mươi Ức và 60 người:
- Ta
là vua của các người, dùng pháp trị hóa, đã cùng với các
người làm việc ích lợi cho hiện thế. Nay có đức Phật
Thế Tôn trú ngụ trong núi Kỳ-xà-quật, các Cư sĩ nên đến
đó để có thể cầu điều lợi cho hậu thế.
Mọi
người tuân theo lệnh vua, đi đến núi Kỳ-xà-quật. Bấy
giờ, ở trong núi, trưởng lão Ta-kiệt-đà kinh hành trên bàn
thạch. Các Cư sĩ đến, thưa:
- Ðại
đức vì chúng con, bạch Phật: “Hai Mươi Ức và 60 Cư sĩ
thành Chiêm-bà muốn đến thăm hỏi đức Thế Tôn”.
Ta-kiệt-đà
trên bàn thạch tự nhiên biến mất, rồi xuất hiện trước
đức Phật, bạch lên Ngài sự việc, Phật dạy:
- Thầy
có thể về trước, trên bàn thạch trải tòa ngồi, Ta sẽ
đến sau.
Vâng
lệnh, Ta-kiệt-đà liền biến mất, rồi xuất hiện nơi bàn
thạch, trước mặt số đông Cư sĩ, trải tòa ngồi đón chờ
Phật đến.
Các
Cư sĩ nghĩ rằng: “Tỳ-kheo này có đại thần lực, vắng
mặt rồi xuất hiện nơi bàn thạch cũng như vào trong nước
rồi ra khỏi nước”. Ðức Phật với oai nghi thù thắng,
đi bộ đến sau.
Khi
đức Thế Tôn xuất hiện, họ vô cùng cung kính đảnh lễ.
Ðức Thế Tôn đến ngồi nơi tòa. Thường pháp của chư Phật
là: trước hết khiến cho mọi người khởi tâm hoan hỷ, rồi
sau đó mới nói pháp. Ðức Phật bảo Ta-kiệt-đà:
- Ông
đứng dậy quạt Phật.
Nghe
lời Phật, Ta-kiệt-đà đứng lên hầu quạt Phật. Sau đó,
giống như trường hợp Ưu-vi Ca-diếp, Ta-kiệt-đà hiện các
thần biến, rồi quay về trước Phật, cúi đầu đảnh lễ
sát chân Phật và bạch như lời bạch của Ca-diếp: “Phật
là Ðại sư của con, con là đệ tử Phật”. Thưa như vậy
ba lần, rồi ngồi lại chỗ cũ. Khi ấy, các Cư sĩ thầm nghĩ:
“Ðệ tử mà thần lực như thế, huống là bậc Như Lai Ứng
cúng Chánh đẳng giác”. Họ liền hướng đến Phật chiêm
ngưỡng Ngài. Ðức Phật vì họ nói các diệu pháp, chỉ bày
sự lợi ích an vui cho họ... Ngài thuyết pháp cho đến câu
Khổ, Tập, Tận, Ðạo....ngay chỗ ngồi họ đều đắc pháp
nhãn thanh tịnh, thọ tam quy, ngũ giới.
Hai
Mươi Ức từ chỗ ngồi đứng dậy, đi chân không, đến trước
đức Phật, cúi đầu kính lễ, đức Phật mỉm cười, Ta-kiệt-đà
suy nghĩ: “Do nhân duyên gì mà đức Phật cười?”. Với
ý nghĩ này, Ta-kiệt-đà đứng lên, để trống vai bên hữu,
quỳ gối bạch Phật:
- Bạch
Thế Tôn, do nhân duyên gì mà Thế Tôn mỉm cười?
Ðức
Phật nói với Ta-kiệt-đà:
- Do
Hai Mươi Ức trải qua 91 kiếp nay mới bước chân xuống đất.
- Hai
Mươi Ức vì nhân duyên gì mà 91 kiếp chân không bước xuống
đất? - Ta-kiệt-đà thưa hỏi.
Ðức
Phật kể:
“
Thuở đời quá khứ, khi ấy có đức Phật Thế Tôn xuất
hiện ở đời, tên là Tỳ-bà-thi, phụ vương Ngài cai trị
một thành có chiều dài 12 do-tuần, rộng 7 do-tuần, dân chúng
đông đúc, an ổn, phong túc, vui tươi. Ðức Phật Tỳ-bà-thi
cùng đại Tỳ-kheo Tăng 68.000 người đông đủ, đều là bậc
A-la-hán cư trú nơi thành. Nhà vua ấy, hằng ngày thỉnh Phật
và Tăng thọ trai trong cung. Bấy giờ, trong đại chúng có một
người tên là Tu-tỳ-xa cùng với mọi người đến chỗ nhà
vua, tâu:
- Nay
Bệ hạ làm những việc công đức, cầu xin Bệ hạ cho phép
chúng thần cùng được dự vào.
- Nay
Phật và Tăng gồm có 68.000 người, sợ các người không chuẩn
bị được, hoặc lại sanh não cho Tăng. - Nhà vua đáp lời.
- Chúng
thần kham nổi, xin Bệ hạ cho phép. - Họ lại thưa.
- Tốt
lắm! - Nhà vua chấp thuận.
Sợ
họ không chuẩn bị kịp, nhà vua ra lệnh cứ làm thức ăn
như thường lệ, nếu họ không chu toàn thì dùng đến thức
ăn đó. Do sự thiết cúng của họ dồi dào, thức ăn thức
uống nào cũng hơn chỗ nhà vua. Cho nên qua nhiều ngày như
vậy, thức ăn do vua cho làm cuối cùng không thiết cúng được.
Tu-tỳ-xa tuần tự thiết cúng, sai người đào đường lấy
đất mềm mại trải lên trên, lấy bùn thơm trét mặt đường,
hai bên đường dựng 80 cây trụ quý báu, lấy châu ma-ni tạp
sắc gắn lên đầu trụ, treo phan tạp sắc, trương màn tạp
sắc phủ khắp trên lộ trình. Trên đường đi để các loại
nước uống, trong chỗ thiết trai trang bị 68.000 chỗ ngồi,
mỗi Tỳ-kheo ngồi một chỗ; sử dụng 500 cái chảo nấu canh
để cúng dường, dâng cúng cho mỗi Tỳ-kheo hai trương kiếp-bối,
một đôi giày da... Lại vì bốn phương Tăng làm một gian
phòng lớn, dưới đất trải ngọa cụ đều bằng các thứ
diệu hảo. Tu-tỳ-xa lúc ấy nay là Hai Mươi Ức. Từ đó về
sau, Hai Mươi Ức thọ phước ngang bằng với chư thiên trên
cõi trời, không có sự chênh lệch. Nếu nay không gặp Ta thì
chân của Hai Mươi Ức vẫn chưa đạp đất.”
Bấy
giờ, Hai Mươi Ức quỳ gối, bạch Phật:
- Cho
phép con xuất gia thọ Cụ túc giới.
Ðức
Phật hỏi:
- Cha
mẹ ngươi đã cho phép chưa?
- Bạch
Thế Tôn, chưa cho phép.
- Cha
mẹ không cho phép thì không được xuất gia.
- Con
sẽ trở về nhà xin phép cha mẹ.
- Tốt
lắm! Nay chính là đúng lúc.
Hai
Mươi Ức kính lễ sát chân Phật, nhiễu quanh bên phải, rồi
trở về thành Chiêm-bà. Một hôm, Hai Mươi Ức thưa với cha
mẹ:
- Nay
con muốn xuất gia học đạo. Xin cha mẹ chấp thuận việc
làm này của con.
- Thôi,
thôi! Chuyện gì phải xuất gia! Cha mẹ chỉ có một mình con,
dù chết, cha mẹ cũng không muốn cách xa nhau, huống chi còn
sống mà lại chịu cảnh xa lìa hay sao?! Hiện nhà ta của cải,
trân bảo, tôi tớ, ruộng vườn nhiều vô số, con tùy ý làm
việc phước, nhận lấy cái vui ngũ dục. - Bà mẹ phản đối.
Hai
Mươi Ức thành khẩn cầu xin ba lần, cuối cùng thuyết phục
được mẹ. Ðược cha mẹ chấp thuận, Hai Mươi Ức liền
đến trước mẹ, kính lễ sát chân, đi quanh bên phải ba vòng,
rồi đi thẳng về chỗ Phật. Hai Mươi Ức đảnh lễ sát
chân Phật, quỳ gối bạch:
- Mẹ
con đã chấp thuận cho con xuất gia, cúi xin Thế Tôn cho con
được xuất gia, thọ giới Cụ túc.
Ðức
Phật dạy:
- Tỳ-kheo
đến đây! Xuất gia thọ Cụ túc giới, khéo tu phạm hạnh,
Ta sẽ nói pháp để dứt hết các khổ.
Khi
Phật nói lời như vậy thì râu tóc của Hai Mươi Ức tự
rụng, Tăng-già-lê mặc vào người, bình bát bưng nơi tay.
Xuất gia không bao lâu, ở rừng Thi-đà7, Hai Mươi Ức tinh
tấn kinh hành, chân bị tổn thương nặng, máu chảy ra theo
bước kinh hành, chim chóc đi theo để ăn. Tỳ-kheo Hai Mươi
Ức suy nghĩ: “Trong hàng đệ tử của Phật, vấn đề tinh
tấn không ai hơn ta, mà nay chưa hết các gốc khổ. Gia đình
ta may mắn có nhiều của cải, ta có thể hoàn tục, sung sướng
làm các công đức”. Ðức Phật biết được ý nghĩ này,
từ núi Kỳ-xà-quật đi xuống, thấy chim chóc đang mổ máu
ăn, hỏi tôn giả A-nan:
- Vì
sao có máu nơi đây?
- Bạch
thế Tôn, Hai Mươi Ức kinh hành nơi đây, chân bị thương
rơi máu xuống, chim tranh nhau ăn. - A-nan thưa.
Ðức
Thế Tôn liền đến chỗ Hai Mươi Ức, hỏi:
- Thật
sự ông có ý nghĩ quay về, phải không?
Hai
Mươi Ức thưa:
- Bạch
Thế Tôn, thật sự con có ý nghĩ như vậy.
- Nay
Ta hỏi ông, tùy ý ông trả lời. Khi ông còn tại gia, ông
khéo sử dụng cây đàn cầm, phải không?
- Bạch
Thế Tôn, dạ phải.
- Khi
dây đàn quá thẳng, tiếng đàn có hay không?
- Bạch
Thế Tôn, không hay.
- Khi
dây đàn không thẳng, tiếng có tốt không?
- Thưa
không tốt.
- Vậy
dây đàn phải như thế nào thì tiếng đàn mới tốt?
- Bạch
Thế Tôn, không căng quá, không dùn quá tiếng đàn mới tốt.
Ðức
Phật dạy:
- Ở
trong pháp của Ta cũng như vậy, gấp quá, hoãn quá đâu đắc
đạo được. Tinh tấn với mức vừa phải thì không bao lâu
sẽ hết gốc khổ.
Tỳ-kheo
Hai Mươi Ức nghe lời Phật dạy, ngay nơi chỗ kinh hành dứt
hết các lậu hoặc. Do dưới bàn chân Hai Mươi Ức bị thương
tích, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Nay
ta cho phép Hai Mươi Ức mang dép da, dày một lớp.
Hai
Mươi Ức bạch Phật:
- Bạch
Thế Tôn, con bỏ 20 ức tiền, 500 châu ma-ni, một viên bảo
châu ma-ni, 20 phu nhân, vô số thể nữ, bây giờ mang dép da
một lớp, thiên hạ sẽ cơ hiềm con: “Bỏ đi của cải như
vậy, mà còn ham thọ nhận mang dép da một lớp”. Nếu đức
Phật cho phép tất cả các Tỳ-kheo đều mang thì con sẽ mang.
Ðức
Phật bèn khen ngợi người thiểu dục tri túc, khen giới, khen
người trì giới rồi bảo các Tỳ-kheo:
- Từ
nay cho phép các Tỳ-kheo mang dép da một lớp.
NÊN
HAY KHÔNG NÊN.
Có
các Tỳ-kheo sinh sống ở nơi A-lan-nhã cất giữ cái phu cụ
bằng da. Các ác thú nghe được mùi da thú, lần đến và sát
hại Tỳ-kheo. Khi các Tỳ-kheo bạch việc này lên Phật, Phật
dạy:
- Ở
A-lan-nhã không dùng phu cụ bằng da, nên đem cho các trú xứ
nơi xóm làng, dùng lót nơi cấp đi.
Việc
sử dụng giày da, dép da và các tư cụ bằng da..., về sau
đức Phật hướng dẫn Tỳ-kheo rất cụ thể, trường hợp
nào nên dùng, trường hợp nào không nên dùng trước thời
tiết khắc nghiệt khác nhau, trong việc du hành.
TRƯỚC
KHI ĂN PHẢI HỎI THỊT GÌ1
Bấy
giờ, trong thành Xá-vệ có Ưu-bà-di tên là Tu-tỳ. Bà có lòng
kính tin Phật pháp sâu đậm, nhận thức được pháp và đắc
quả, quy y Tam bảo, thọ ngũ giới. Bà thường thỉnh Tăng
cúng dường và cung cấp thuốc thang.
Ngày
ấy, Tu-tỳ đến Tăng phường thấy một Tỳ-kheo uống thuốc
thổ hạ, bà hỏi:
- Ðại
đức cần dùng gì?
- Tôi
uống thuốc thổ hạ bị kiệt sức, nếu được thì dùng
thịt. - Tỳ-kheo đáp lời.
- Thưa
đại đức, sáng mai con sẽ đưa đến cho Ðại đức. - Ưu-bà-di
thưa.
Sáng
hôm sau, Tu-tỳ sai người cầm tiền đi mua thịt. Rủi cho ngày
hôm nay, tất cả phải thi hành lệnh của vua Ba-tư-nặc: “Nếu
ai giết thú sẽ bị trọng tội”, nên không đâu tìm ra thịt
để mua. Người giúp việc trở về báo: “Chợ không có thịt”,
nhưng bà chủ vẫn sai người giúp việc cầm tiền đi tìm
khắp nơi để mua. Bà nói:
- Ðừng
kể chi giá cả, đắt mấy cũng mua.
Dù
vậy, người giúp việc vẫn không mua được thịt. Trước
việc không có thịt để mua, Ưu-bà-di Tu-tỳ có suy nghĩ: “Hôm
qua ta đã hứa, nếu không có thịt để dùng, có thể Ðại
đức mạng quá, thì sự hối tiếc nơi Ta làm sao xóa được”.
Ðiều nghĩ ngợi này khiến bà cương quyết phải thực hiện
thì tâm bà mới yên ổn được. Bà lặng lẽ vào trong phòng,
lấy dao bén xẻo ngay thịt bắp vế của mình, rồi nhanh chóng
giao cho người giúp việc nấu, mang đến cúng cho vị Ðại
đức kia. Tỳ-kheo nhận ăn, bệnh được lành.
Khi
người chồng về, không thấy vợ liền lớn tiếng hỏi:
- Tu-tỳ
đâu?!
Người
trong nhà nói:
- Bà
bệnh, nằm ở nhà trong.
Người
chồng liền vào thăm, hỏi:
- Mình
bệnh gì?
Người
vợ trình bày sự việc, người chồng bảo:
- Sợ
vết cắt ấy không khéo mình không qua khỏi. Nếu vậy thì
vợ chồng mình nên mời Phật và Tăng ngày mai đến cúng dường
buổi ngọ trai.
- Nếu
được vậy thì tốt lắm! - Người vợ đáp.
Người
chồng với tấm lòng lo lắng cho vợ, liền đi đến chỗ Phật,
đầu mặt kính lễ sát chân Ngài, bạch Phật:
- Nguyện
Phật và Tăng hạ cố, ngày mai con xin cúng dường bữa trai
tại gia đình.
Ðức
Phật im lặng nhận lời. Người chồng đảnh lễ lui về.
Suốt đêm hôm ấy, ông chồng cho chuẩn bị đầy đủ mọi
thức ăn uống ngon bổ để cúng dường. Sáng ngày, ông đích
thân trải tòa ngồi, thiết dọn trai bàn rồi sai người đến
bạch Phật: “Thỉnh Phật và Tăng phó trai”.
Sáng
ngày, đức Phật cùng Chúng Tăng đi đến nhà ấy. Sau khi mọi
người an tọa, ông chồng tự mình lấy nước, đức Phật
không nhận bảo:
- Hãy
đưa Ưu-bà-di Tu-tỳ ra đây!
Ông
chồng liền sai người vào trong nói:
- Ðức
Thế Tôn gọi bà.
Bà
Tu-tỳ trả lời:
- Có
thể người nhân danh ta thăm hỏi đức Thế Tôn và thưa: vì
bệnh không thể ra hầu thăm Ngài.
Khi
người thay mặt bà thưa lời như vậy, nhưng đức Phật vẫn
cho gọi đến lần thứ ba, và người nhà đành phải khiêng
bà Tu-tỳ đến trước Phật. Kỳ lạ thay! Khi đức Phật trông
thấy vết thương kia thì bỗng nhiên vết thương xóa mất,
da thịt liền lại như cũ. Trước sự hy hữu, mầu nhiệm
này, tâm bà sinh khởi điều thiện rất lớn lao, bà thầm
nhũ: “Ta có bậc Ðại sư và đồng phạm hạnh như vậy”.
Bà sung sướng vô cùng, tự tay dâng thức ăn. Phật và Tăng
thọ trai xong, bà lấy nước cho Phật và Tăng rửa tay, rồi
lấy chiếc ghế nhỏ ngồi trước đức Phật. Ðức Phật
vì bà nói kệ tùy hỷ, như đã nói cho Trưởng lão Tỳ-lan-nhã2.
Ðức Phật lại nói các pháp vi diệu, chỉ bày sự lợi ích
và sự hoan hỷ. Ngài và Tăng trở về trú xứ.
Nhân
việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi vị Tỳ-kheo
kia:
- Vừa
rồi, ông ăn thứ gì?
- Con
ăn thịt. - Tỳ-kheo thưa.
- Thịt
có ngon không? - Ðức Phật hỏi.
- Thưa
ngon. - Tỳ-kheo đáp.
Ðức
Phật dạy:
- Ông
là người ngu si. Tại sao không hỏi mà ăn thịt người! Từ
nay ăn thịt mà không hỏi, phạm Ðột-kiết-la. Nếu ăn thịt
người, phạm Thâu-lan-giá.
ÐƯỢC
DÙNG TAM TỊNH NHỤC
Tuần
tự du hóa, đức Phật đến Tỳ-xá-ly, Ngài trú tại Trùng
Các giảng đường, bên bờ sông Di Hầu. Thành này có tướng
quân tên là Sư Tử, trước đó là đệ tử của Ni-kiền3,
nghe đức Thế Tôn du hóa đến thành này, ông rất lấy làm
vui mừng, bởi từ lâu ông rất mến mộ nhân cách của đức
Phật và ước nguyện được yết kiến, thỉnh Phật cúng
dường. Bây giờ cơ hội ấy đã đến, tướng quân lên xa
giá đến hầu Phật. Từ xa, tướng quân đã nhìn thấy đức
Thế Tôn dung nhan sáng rỡ đặc biệt, giống như núi vàng.
Ông đến gần Phật, đảnh lễ sát chân Ngài, rồi ngồi lui
qua một bên. Ðức Phật vì ông nói các pháp nhiệm mầu Khổ,
Tập, Tận, Ðạo. Từ chỗ ngồi, ông được con mắt pháp
trong sạch, ông đứng lên rồi chấp tay, quỳ gối bạch:
- Nguyện
Phật và Tăng sáng mai quang lâm đến nhà con thọ bữa cơm
đạm bạc.
Ðức
Phật im lặng nhận lời. Tướng quân đảnh lễ lui về, ông
sai người đi chợ mua sắm các thứ với lời dặn: “Tất
cả số thịt đã xẻ rồi, đắc mấy cũng mua hết”.
Ngày
ấy, người nhà của tướng quân mua sạch thịt bày bán ở
chợ. Suốt đêm lo việc nấu nướng, sửa soạn các thức
ăn. Sáng ngày trải tòa, chưng dọn... Tướng quân đích thân
đến bạch Phật: “Thức ăn dọn bày đã xong, xin Ngài phó
trai”. Ðức Phật cùng Tỳ-kheo Tăng kẻ trước người sau
vây quanh, đến nhà gia chủ, ngồi vào tòa ngồi. Tướng quân
tự tay san sớt thức ăn một cách trân trọng, hoan hỷ. Việc
cúng dường này của tướng quân Sư Tử khiến các đệ tử
Ni-kiền vô cùng tức giận và tìm cách trả thù. Họ đến
các ngã tư, đường hẻm rêu rao: “Tướng quân Sư Tử phản
sư, không còn tình nghĩa gì cả. Tên này bây giờ lại phụng
sự Sa-môn Cù Ðàm, tự tay giết trâu, dê để cung phụng bọn
trọc đầu”.
Các
Tỳ-kheo nghe lời rêu rao ấy không dám ăn. Tướng quân Sư
Tử quỳ gối bạch Phật:
- Các
Ni-kiền này lúc nào cũng hủy báng Phật. Hiện tại cũng như
trọn đời, con không bao giờ cố ý sát hại. Cúi xin chư Tỳ-kheo
chớ sanh hiềm nghi, cứ thọ thực tự nhiên thoải mái.
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Tùy
ý ăn cho no đủ.
Thọ
trai và uống nước xong, tướng quân lấy một chiếc ghế
nhỏ ngồi ở phía trước, đức Phật vì ông nói bài kệ
tùy hỷ như trước, rồi đức Phật và chúng Tăng ra về.
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các
Tỳ-kheo:
- Có
ba loại thịt không được ăn: hoặc thấy, hoặc nghe, hoặc
nghi. Thấy là tự mình thấy họ vì mình mà giết. Nghe là
nghe từ người đáng tin cậy nói họ vì mình mà giết. Nghi
là nghi họ vì mình mà giết. Nếu không thấy, không nghe, không
nghi, tất cả tịnh nhục cho phép tùy ý thọ thực.
ÐƯỢC
UỐNG SỮA TỪ NGÀY ẤY
Bấy
giờ, trong thành Bạt-đề, thuộc nước Ma-kiệt có Trưởng
giả tên là Văn Trà. Không phải chỉ mình ông có đại phước
đức mà vợ, con, dâu, kẻ ăn người ở đều có phước đức.
Ðại phước đức là như vầy:
- Khi
ông trưởng giả vào kho lúa thì trên không trung mưa lúa rơi
xuống, và lúa ngừng rơi lúc Trưởng giả đi ra khỏi kho.
- Người
vợ lấy bồn cơm để phân phối cho người trong kẻ ngoài,
lấy ra bao nhiêu cơm thì đầy lại bấy nhiêu, cơm không bao
giờ hết.
- Người
con cầm đãy vàng trút ra thì tiền vàng chảy ra không ngớt.
Thôi trút, vàng trong đãy vẫn y nguyên.
- Ðứa
con dâu lấy một hộc gạo để cho bên nội, bên ngoại dùng
một tháng, nhưng ăn mãi vẫn không hết.
- Người
con trai cày đất gieo trồng thì liền thành bảy khoảnh.
- Ðứa
tớ gái mài nửa lượng đồ hương để thoa bên nội, bên
ngoại họ tộc, cũng không hề hết nửa lượng.
Người
bốn phương nghe đồn, không ai là không tò mò tìm hiểu hư
thật. Vua Bình-sa lại càng muốn biết rõ. Ngày ấy, không
thông báo, vua cùng quyến thuộc đến nhà Trưởng giả Văn
Trà. Nghe vua đến thình lình, Trưởng giả liền vội nghinh
đón, chào hỏi, vấn an:
- Lành
thay Ðại vương! Hân hạnh thay được ngài hạ cố!
Nhà
vua hỏi:
- Nhà
ngươi có nghe tin ta đến không?
- Tâu
đại vương, không hay biết gì cả. - Văn Trà thưa.
- Binh
mã của ta đông như thế này, e nhà ngươi khó có thể phục
vụ được hết. - Nhà vua bảo.
- Con
có thể phục vụ được. Chính con sẽ phục vụ nhà vua và
các đại thần. Con của con sẽ phục vụ thái tử. Vợ của
con phục vụ hậu cung. Nô tỳ của con phục vụ cho tất cả
binh sĩ. Lúa và cỏ cũng đủ cho voi, ngựa ăn. Xin Ðại vương
cứ quang lâm. - Trưởng giả đáp lời.
Nhà
vua vào nhà, ngồi nơi tòa rồi nói:
- Ta
nghe ông Trưởng giả và tất cả vợ, con, dâu, cũng như tôi
tớ của ông đều có phước đức. Nay ta muốn chứng kiến
phước đức ấy.
- Con
xin vâng lệnh, không dám che giấu sự thật. - Trưởng giả
thưa.
Trưởng
giả ra lệnh rưới nước, quét xung quanh, rồi trải tòa mời
vua vào nhà ngự tọa. Sau đó, Trưởng giả vào kho thì tự
nhiên 5 loại thóc từ trên không trung rơi xuống. Nhà vua rất
ngạc nhiên và ca ngợi.
Ðến
lượt vợ Trưởng giả cầm bồn đựng cơm phân phối cho
tất cả binh lính, đâu đó đều no đủ, mà trong bồn cơm
vẫn như cũ. Tận mặt nhà vua chứng kiến phước đức này.
Ðến
lượt con của Trưởng giả cầm cái đãy bằng vàng, trút
vàng ra để dâng vua và đại chúng. Mọi người nhận theo
sở thích, nhưng vàng vẫn không hết. Nhà vua không ngớt lời
ca ngợi.
Ðến
lượt người con dâu lấy một hộc gạo cung cấp cho nhà vua
và đại chúng một tháng mà không hết.
Ðến
lượt đứa tớ trai cày đất thì liền thành bảy khoảnh.
Ðến
lượt đứa tớ gái mài nửa lượng đồ hương, mùi thơm
nửa do-tuần còn nghe và không phân biệt ai, hương thơm xoa
khắp mọi người mà vẫn không hết nửa lượng.
Nhà
vua thấy rõ phước đức như vậy, không ngớt lời khen ngợi...
rồi trở về cung.
Khi
ấy, từ thành Vương-xá, đức Thế Tôn cùng đại Tỳ-kheo
Tăng 1.250 vị đầy đủ, du hành nhân gian, đến thành Bạt-đề.
Nghe đức Thế Tôn đến thành này, đang nghỉ mát dưới cây
Võng Lâm, Trưởng giả Văn Trà muốn đến cung nghinh lễ bái,
thăm hỏi. Các ngoại đạo nghe, liền đến nói:
- Trưởng
giả không nên đến cung nghinh Sa-môn Cù Ðàm mà cứ để cho
Sa-môn Cù Ðàm tự đến yết kiến ông. Tại sao vậy? Bởi
ông phước đức hơn người, tất cả Sa-môn, Bà-la-môn, quốc
vương, Trưởng giả, có ai mà không đến cửa ngõ nhà ông?
Trưởng
giả nghe luận điệu này, bèn thay đổi ý kiến, nhưng sau
đó lại suy nghĩ: “Sa-môn Cù Ðàm đến đây đã lâu, không
đến yết kiến ta, chắc đạo Ngài hơn ta, đâu có lý do gì
ta ngồi yên không đến kính lễ Người”. Hành động theo
ý nghĩ, Trưởng giả cho sửa soạn xe cộ rồi lên xe đến
chỗ Phật. Từ xa, trông thấy dung nhan của đức Thế Tôn
thù đặc, giống như núi vàng, Trưởng giả liền đến trước
Phật, đầu mặt kính lễ sát chân Ngài, rồi đứng qua một
bên. Ðức Phật vì ông nói các pháp nhiệm mầu Khổ, Tập,
Tận, Ðạo. Từ chỗ ngồi, ông ta được con mắt pháp trong
sạch, ông đứng lên bạch Phật:
- Con
xin thỉnh Phật và Tăng thọ trai vào ngày mai tại nhà con.
Ðức
Phật im lặng nhận lời. Trưởng giả đảnh lễ rồi lui về.
Suốt đêm lo trai soạn đầy đủ. Sáng ngày, đâu đã vào
đấy, trai bàn thật trang nghiêm, Trưởng giả đích thân đến
thỉnh Phật:
- Cúi
xin Ngài quang lâm.
Ðức
Phật cùng Tỳ-kheo Tăng, kẻ trước người sau vây quanh, đến
nhà thí chủ Văn Trà. Tất cả đều ngồi vào tòa trang nghiêm.
Ông Trưởng giả tận tay san sớt thức ăn. Sau khi đức Thế
Tôn dùng xong, toàn thể người trong gia đình cùng Trưởng
giả đến ngồi trước đức Phật. Ðức Phật vì họ nói
diệu pháp Khổ, Tập, Tận, Ðạo. Họ đều ngộ đạo, thọ
Tam quy, Ngũ giới.
Ông
Trưởng giả bạch Phật:
- Bạch
Thế Tôn! Chính con và vợ, con, dâu cũng như tôi tớ trong gia
đình đều có phước đức tự thân. Vậy phước đức này
có được là từ đâu đem lại? Xin Thế Tôn giải thích cho.
Ðức
Phật dạy:
- Phước
đức này là phước đức chung cùng với nhau của các người
mà được.
- Tại
sao là cùng chung nhau có? - Trưởng giả hỏi.
Ðức
Phật kể:
“Xưa
kia tại thành Vương-xá có hai vợ chồng người thợ dệt
sanh ra đứa con trai. Người con trai có vợ và gia đình có
tớ trai một tớ gái. Trong một bữa cơm cùng ăn, có một
vị Bích-chi Phật4 đến khất thực. Người thợ dệt nói:
“Các người cứ ăn, còn phần ta thì lấy cúng cho Ngài”.
Người vợ nói: “Lấy phần tôi để cúng cho Ngài”. Con
trai, dâu, tớ trai, tớ gái đều cũng tranh phần để cúng
dường như ông bà thợ dệt. Ðức Phật Bích-chi nói: “Quý
vị đều đã nhịn phần của mình để cho tôi với thiện
tâm đầy đủ. Vậy tôi chỉ xin mỗi người sớt một ít
cho là đủ. Như thế, quý vị không thiếu mà tôi cũng được
no”. Mỗi người trong nhà thực hiện đúng lời Phật Bích-chi.
Phật Bích-chi nhận bát thức ăn, ăn xong liền bay lên hư không
hiện các thứ thần biến, sau đó đức Phật ra đi. Gia đình
ấy sau khi mạng chung, sanh lên cõi trời Tứ Thiên Vương. Ở
đây đời sống hết, lại sanh vào cõi trời Ðâu-suất, rồi
lần lượt sanh đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại5. Bảy phen
như vậy, dư phước mới sanh lại cõi này. Quyến thuộc người
thợ dệt lúc ấy nay là các ngươi đây.”
Gia
đình Trưởng giả rất xúc động và cũng rất vui mừng. Trước
Phật và Tăng, Trưởng giả phát nguyện:
- Nay
con xin được thỉnh tất cả Tăng tu vô hạn thí. Nếu cần
thứ gì, tùy thời, nhiều hay ít đến nơi nhà con nhận.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn từ Võng Lâm tiếp tục du hành trong nhân
gian. Trưởng giả Văn Trà chở đầy thức ăn theo sau dự tính
đến chỗ không người, hoang vắng mới bày ra để cúng. Khi
đến nơi Khoáng dã (đồng hoang rừng vắng), đoàn dừng lại
nghỉ và suốt đêm soạn bày thức ăn. Ðại chúng ổn định
chỗ ngồi xong, trước hết ông Trưởng giả sai một người
vắt sữa một con bò cúng cho một Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo không
dám dùng vì nghĩ Phật chưa cho phép uống sữa mới vắt từ
bò ra. Bạch Phật, Phật cho phép dùng. Sau khi uống sữa, ông
Trưởng giả tự tay dâng thức ăn. Ðức Phật và Ðại chúng
dùng xong, rửa tay, ông Trưởng giả ngồi trước Phật, Phật
vì ông nói kệ tùy hỷ như trước đây nói cho Trưởng giả
Tỳ-lan-nhã. Lại vì ông nói các diệu pháp, chỉ bày sự lợi
ích và sự hoan hỷ, rồi Trưởng giả trở về lại nhà. Ðức
Phật và 1.250 vị Tỳ-kheo tiếp tục lên đường du hóa.
BỐN
THỨ TRANH CHẤP 1
VÀ
BẢY PHÁP DIỆT TRANH CHẤP
Lúc
bấy giờ xảy ra đấu tranh, tranh chấp nhau trong chúng Tăng:
Tỳ-kheo với Tỳ-kheo, Tỳ-kheo với Tỳ-kheo ni, Tỳ-kheo ni với
Tỳ-kheo ni. Xiển-đà bỏ Tỳ-kheo, yểm trợ Tỳ-kheo ni, làm
rối mù... Việc chưa xảy ra tranh tụng thì làm cho sanh chuyện,
việc đã xảy ra thì khơi rộng thêm, chưa chấm dứt thì không
thể chấm dứt, chuyện đã chấm dứt thì làm khơi dậy. Các
Tỳ-kheo bạch lên Phật những sự việc xảy ra như vậy lúc
Ngài đang lưu trú tại thành Xá-vệ. Ðức Phật tập hợp
Tỳ-kheo Tăng để xác nhận sự thật. Các Tỳ-kheo thú nhận
mọi tranh chấp kia, đức Phật quở trách:
- Việc
làm của các thầy là phi pháp, không phải đạo tùy thuận.
Việc Tỳ-kheo bỏ Tỳ-kheo để yểm trợ Tỳ-kheo ni là sai
phạm. Phạm việc này là phạm tội Ðột-kiết-la.
Ngài
dạy:
- Có
4 thứ tranh chấp: 1.Do lời nói, 2.Do giáo giới, 3. Do phạm
tội, 4. Do sự việc gây nên.
Bởi
thế, nên Ta vì các Tỳ-kheo chế bảy pháp nhằm tiêu diệt
sự tranh chấp. Nếu có các tránh sự khởi lên thì dùng để
diệt trừ. Bảy pháp diệt tranh chấp như sau:
1.
Sự việc phải trao cho pháp Hiện Tiền Tỳ-ni thì nên trao
cho pháp Hiện Tiền Tỳ-ni.2
2.
Sự việc phải trao cho pháp Ức Niệm Tỳ-ni thì nên trao cho
pháp Ức Niệm Tỳ-ni.3
3.
Sự việc phải trao cho pháp Bất Si Tỳ-ni thì nên trao cho pháp
Bất Si Tỳ-ni.4
4.
Sự việc phải trao cho pháp Tự Ngôn thì nên trao cho pháp Tự
Ngôn.5
5.
Sự việc phải trao cho pháp Ða Nhân Ngữ thì nên trao cho pháp
Ða Nhân Ngữ.6
6.
Sự việc phải trao cho pháp Thảo Phú Ðịa thì nên trao cho
pháp Thảo Phú Ðịa.7
7.
Sự việc phải trao cho pháp Bổn Ngôn Trị thì nên trao cho
pháp Bổn Ngôn Trị.8
Thế
nào gọi là do lời nói gây nên? -Nếu Tỳ-kheo cùng nhau tranh
cãi, có người nói là pháp, có người nói là phi pháp, là
luật nói phi luật, là phạm nói phi phạm, là trọng nói phi
trọng, hữu dư nói phi hữu dư, là thô tội nói phi thô tội,
là dùng Yết-ma xuất tội nói không dùng Yết-ma xuất tội,
là lời Phật dạy mà nói không phải lời Phật dạy, là điều
Phật chế mà nói không phải Phật chế. Do đó đưa đến
giận dữ mắng chửi nhau. Như vậy gọi là sự tranh chấp
do lời nói gây nên.
Thế
nào là do giáo giới? -Tỳ-kheo giáo giới Tỳ-kheo, nói: “Thầy
nhớ có phạm Ba-la-di không? Nhớ phạm Tăng-già-bà-thi-sa, Thâu-lan-giá,
Ba-dật-đề, Ba-la-đề đề-xá-ni, Ðột-kiết-la, Ác thuyết9
không?”. Tỳ-kheo kia không vui, không chấp nhận, do đó đưa
đến sự tranh cãi. Như vậy gọi là tranh chấp do giáo giới.
Thế
nào gọi là do phạm tội? - Tỳ-kheo phạm Ba-la-di cho đến
Ác thuyết. Hơn nữa, do sự đấu tranh cùng nhau mắng chửi,
khiến thân khẩu ý tuôn ra điều xấu ác. Như vậy gọi là
tranh chấp do phạm tội.
Thế
nào là do sự việc? - Tất cả các việc làm của Tăng đều
Yết-ma mà thiếu sự nhất trí trong vấn đề Yết-ma, như
vậy gọi là do sự việc dẫn đến tranh chấp.
Ðức
Phật lại dạy rõ từng trường hợp, vận dụng từng pháp
diệt tránh hay phối hợp để chấm dứt sự tranh chấp, cãi
cọ lời qua tiếng lại. Có cả một chương đức Phật hướng
dẫn cách giải quyết mọi tranh chấp này ở trong Tăng rất
chi ly.
LẤY
ÂN BÁO OÁN 1
Lúc
bấy giờ đức Phật trú ngụ tại thành Câu-xá-di. Ngài biết
trong chúng Tăng đang có sự rạn nứt bởi sự việc các Tỳ-kheo
bên cử tội và các Tỳ-kheo bên bị cử tội đưa ra những
lý lẽ để phản bác nhau, bên nào cũng rất bảo thủ, ngoan
cố, không tiếc lời mắng mỏ cay độc lên nhau. Ðức Phật
đã đến các Tỳ-kheo bị cử tội, rồi đến các Tỳ-kheo
cử tội can gián, phân giải, nhưng cả hai coi thường, tiếp
tục tạo ra nghiệp ác khẩu. Ðứng trước tình trạng Tăng
không còn hòa hợp, Tăng bị phá, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Các
thầy chớ đấu tranh nhau, phỉ báng, mạ lị nhau, nên cùng
nhau hòa hợp làm một như nước hòa với sữa, cùng nhau làm
cho lời của thầy hoằng truyền rộng khắp.
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
- Bạch
đức Thế Tôn, xin Ngài cứ sống trong sự an ổn. Tuy Phật
là Pháp chủ, nhưng chúng con cũng tự hiểu được vấn đề,
Ngài không phải bận chi.
Ðức
Phật ba lần can ngăn nhưng các Tỳ-kheo không vâng lời và
nói lên lời ngã mạn chẳng cần ai như vậy. Ðức Phật lại
bảo các Tỳ-kheo:
- Từ
đời quá khứ, ở nước Câu-tát-la có nhà vua tên là Trường
Thọ thống trị một nước nhỏ, quân đội ít ỏi, yếu kém.
Trong lúc đó, lân quốc Ca-di2 có vua tên là Phạm Ðạt, thống
trị một nước rộng lớn, binh lực cường thịnh, lần lần
xâm lăng, cướp đoạt nước Câu-tát-la. Vua Phạm Ðạt bắt
giữ một vị đại thần của vua Trường Thọ, chiêu đãi
rất ân huệ và tin dùng vào việc quân sự. Nước bị thôn
tính, vua Trường Thọ “mình trần thân trụi” cùng phu nhân
làm người Bà-la-môn chạy thoát về nước Ba-la-nại, trú
ngụ trong nhà người thợ gốm. Một hôm, phu nhân nảy ra ý
nghĩ: “Ứớc nguyện sao lúc mặt trời vừa ló dạng có được
nước mài dao chiến đấu của bốn loại binh, nơi ngả tư
đường để uống”. Phu nhân đem ý nghĩ này nói với vua
và thề:
“Nếu
ý muốn này không thực hiện được thì em sẽ chết tại
nơi này”.
Nhà
vua bảo:
“Ðiều
này không thể được. Chứng bệnh thiếu thực tế này chắc
em phải chết, đó là điều không còn nghi ngờ”.
Nhà
vua lại nói:
“Nếu
Phạm Ðạt nghe, biết mình ở đây chắc sẽ bị bắt. Họ
đánh trống hành hình, phanh thây ta làm năm phần. Thôi, em
hãy ráng chờ xem, ta sẽ bí mật đến gặp vị đại thần
trước đây, vấn ý điều này xem sao”.
Ngay
sau đó, nhà vua tìm cách đến gặp vị cựu thần để hỏi
kế. Vị cựu thần nói:
“Hạ
thần cần gặp phu nhân trước khi có ý kiến”.
Cuộc
gặp gỡ bí mật giữa phu nhân và cựu thần diễn ra. Cựu
thần vừa trông thấy phu nhân, liền để trống vai bên hữu,
đầu mặt tác lễ, ba lần xưng tụng:
“Nay
phu nhân đang mang thai, một người con đại phước, quốc gia
Câu-tát-la sẽ có người thừa kế”.
Vị
đại thần xoay sang tâu với cựu vương:
“Sáng
mai, nguyện vọng của phu nhân sẽ có kết quả”.
Dứt
lời, cựu thần liền lui về chỗ vua Phạm Ðạt. Với mưu
kế của mình, vị đại thần tâu với nhà vua:
“Ðại
vương có biết chăng? Rất gần đây thôi, có một vì sao xấu
xuất hiện. Muốn trừ được tai ương này thì vua phải ra
lệnh tất cả bốn loại binh tập trung nơi bốn ngã đường
vào sáng sớm ngày mai, diễn tập xáp chiến, rồi tất cả
đều mài dao lấy nước này để trừ tai ương kia. Nếu không
thực hiện được việc này ắt nhà vua phải gặp nguy khốn
lớn”.
Vua
Phạm Ðạt như rúng sợ, liền bảo:
“Cần
thực hiện ngay!”.
Không
mấy chốc, lệnh vua truyền đến bốn binh chủng sẵn sàng
ứng chiến theo kế hoạch đề ra. Sáng sớm hôm sau, nơi ngã
tư đường, hai bên xáp chiến tập trận, rồi tất cả đều
mài dao. Ðược lệnh mật, phu nhân đứng vào một địa điểm
và nhận được nước mài dao của vị cựu thần. Ðược
nước, phu nhân uống ngay và bào thai được nuôi dưỡng rất
tốt...
Mãn
nguyệt khai hoa, người con ra đời là một bé trai dung nhan
thù thắng, tự là Trường Sanh. Khi lên mười tuổi, người
cha nói với con:
“Phạm
Ðạt xâm lăng nước ta, cha mẹ đã trốn thoát đến nơi này.
Con đã lớn nhanh lên theo những tháng ngày dài lao lý của
cha mẹ. Phạm Ðạt có thể biết được chỗ ẩn trú của
cha con mình, họ sẽ giết cả hai. Tốt hơn, con nên lánh xa
nơi này, đừng quyến luyến cha mẹ làm gì để bị hại lây”.
Trường
Sanh buồn khóc, kính lễ sát chân cha mẹ, nhiễu ba vòng rồi
ra đi. Trên bước đường trốn lánh, Trường Sanh lần lượt
học tập kỹ nghệ, toán số, văn tự, bắn cung, cỡi ngựa,
điều phục voi ngựa, âm nhạc... Không một môn học nào không
hơn người. Trường Sanh dốc lòng phụng thờ Tượng sư để
biết hết nghệ thuật điều phục voi.
Người
thợ hớt tóc cho vua Trường Thọ xưa kia, nay lại làm người
hớt tóc cho vua Phạm Ðạt. Nhận lệnh hớt tóc, ông ta được
đưa đến chỗ vua. Do vì biết rõ chỗ ở của vua Trường
Thọ, ông ta không dám che giấu khi vua Phạm Ðạt xét hỏi,
nên khai báo rõ nơi ẩn trốn của vua Trường Thọ.
Ngày
ấy, vợ chồng vua Trường Thọ bị bắt trói và theo lệnh
Phạm Ðạt phải hành hình ngay. Tiếng trống rao vang khắp
hang cùng ngõ hẻm, hai phạm nhân bị đưa đến ngã tư đường
để phân thây thành năm phần. Trường Sanh nghe tin này, vội
vã đến pháp trường, đứng bên lề đường chứng kiến
cảnh cha mẹ sắp hành hình mà nát ruột, nát gan. Trường
Sanh căm thù nghĩ: “Nỗi oán hận của cha mẹ ta không cho
phép ta đội trời chung. Nay ta làm sao có thể nhận chịu được
cảnh này!”. Lòng Trường Sanh sôi sục, muốn liều thí mạng
để trả mối nhục thù này. Cha mẹ từ xa thấy con, biết
được lòng con mình khởi lên ý muốn báo thù, bèn như người
cuồng cất cao lời cuồng:
“Con
đừng trông cậy vào tài năng sẵn có của con, cũng đừng
nên quá nông cạn hẹp hòi. Dùng oán trả oán, oán không do
đâu mà dứt. Dùng đức trả oán, oán kia mới hết. Thuận
theo lòng cha mẹ mới gọi là người con có hiếu, làm theo
ý chí riêng tư thì chẳng phải là cái đạo của cha”.
Khi
ấy, người đi xem đều nói:
“Vua
Trường Thọ vì sợ sệt nên nói cuồng si mà thôi”.
Nhưng
Trường Sanh nghe lời ấy mới thấm thía, hiểu được thâm
ý của cha, nên đè nén được lòng mình để nhìn cảnh đau
thương đang diễn ra trước mắt mà bình thản thực hiện
hết điều ước mong còn lại của cha mẹ.
Trường
Sanh trở về chỗ Tượng sư. Tuy vậy, anh ta vẫn không thể
nhanh chóng quên đi mối hận trong lòng, quyết tìm cách báo
thù. Hằng đêm, nơi chuồng voi, Trường Sanh thường chơi đàn
cầm cho đến nửa đêm. Tiếng đàn càng về khuya càng thánh
thoát, diệu vợi bay xa. Không phải một mà nhiều lần, vua
Phạm Ðạt nghe được tiếng đàn cầm tuyệt vời này giữa
đêm thanh vắng. Nhà vua hỏi:
“Tiếng
đàn cầm của ai mà tuyệt vời thế?! Có phải nơi chuồng
voi có ai đó chơi đàn?”
Cận
thần
thưa:
“Người
học trò của Tượng sư. Chính người này có khả năng chơi
đàn cầm xuất chúng”.
Thế
rồi Trường Sanh được nhà vua gọi đến, chơi đàn cầm
để nhà vua thưởng thức. Tiếng đàn cầm vừa dứt, nhà
vua lại suy nghĩ: “Từ khi ta làm vua đến nay, chưa khi nào
nghe được âm thanh réo rắc tuyệt vời này!”. Phạm Ðạt
liền tín nhiệm cho phép Trường sanh được ở lại bên mình.
Một
thời gian sau, nhà vua ra lệnh xa giá, tướng sĩ, đưa các cung
nhân, quần thần, thái tử tuần du săn bắn. Trong khi quân
lính dàn ra tứ tán, họ mãi mê đuổi theo các con nai thì Trường
Sanh lại bảo vệ nhà vua. Khi tiền quân cách xa xe vua đến
ba do-tuần và chẳng còn ai buồn nghĩ đến vua, bấy giờ nhà
vua mệt mỏi, nói với Trường Sanh:
“Ta
muốn nằm nghỉ một chút, ngươi có thể bảo vệ cho ta được
chăng?”
“Hoàng
thượng cứ yên tâm nghỉ ngơi, hạ thần có thể bảo vệ
được”. - Trường Sanh tâu.
Nhà
vua nằm dưới gốc cây, gối đầu lên bắp đùi của Trường
Sanh ngủ. Cây kiếm hộ thân của vua tự nhiên tuột ra trước
mắt Trường Sanh, liền gợi cho Trường Sanh ý nghĩ: “Nhà
vua này đối với ta có mối thù lớn như vậy, hôm nay gặp
cơ hội tốt này, đâu có thể bỏ qua”, liền vói tay cầm
lấy thanh gươm định chặt cổ vua, nhưng bỗng nhiên lời
di huấn của song thân vang vọng trong tiềm thức: “ Ðừng
ỷ mình tài giỏi, cũng đừng quá nông nổi, hẹp hòi. Lấy
oán báo oán, oán lấy đâu mà dứt...”. Ý nghĩ này như đánh
thức được Trường Sanh nên anh ta đặt cây kiếm lại chỗ
cũ và bảo vệ cho vua ngủ. Liền đó, nhà vua thức dậy với
vẻ hốt hoảng. Trường Sanh hỏi:
“Vì
lý do gì hoàng thượng có vẻ kinh hãi vậy?”
“Ta
nằm mộng thấy con của vua Trường Thọ cầm kiếm muốn giết
ta”. - Nhà vua đáp.
“Ðây
là khu rừng hoang vắng, duyên cớ gì mà bỗng dưng lại có
con vua Trường Thọ, ắt Sơn thần muốn khủng bố hoàng thượng
chăng? Hoàng thượng cứ yên nghỉ, chớ nên lo ngại”. - Trường
Sanh nói.
Sự
việc như vậy diễn ra đến ba lần và trong giấc ngủ mang
tính cách sanh tử sau cùng của nhà vua, Trường Sanh lại nghĩ:
“Tại sao ba lần ta cứ muốn trái phạm lời dạy của song
thân?! Từ nay ta phải khắc phục và luôn tâm niệm: ‘Thờ
vua như thờ người thân, dứt khoát không mống khởi niệm
sát hại’”. Trường Sanh vừa dứt ý nghĩ này thì nhà vua
liền thức dậy với vẻ mặt đầy hoan hỷ. Trường sanh lại
hỏi vua:
“Vì
lý do gì mà hoàng thượng hân hoan?”
“Ta
nằm mộng thấy con vua Trường Thọ muốn thờ ta như thờ
người thân, không ôm lòng oán hại, cho nên ta vui”. - Vua
nói.
Lúc
ấy, Trường Sanh liền thưa:
“Bẩm
hoàng thượng, hạ thần chính là con vua Trường Thọ đây.
Hoàng thượng sát hại cha mẹ của hạ thần, hạ thần nuôi
chí giết hoàng thượng nhưng ba lần nhớ lại lời di chúc
của cha mẹ nên hoàng thượng mới khỏi chết. Tuy vậy, tâm
này khó bảo đảm, về sau lại có thể phát sinh. Xin hoàng
thượng giúp cho hạ thần con đường giải quyết, đừng để
lại mối lo âu về sau”.
“Ta
đã làm việc vô đạo, còn cha con của khanh thì lại nặng
lòng nhân từ. Nay cớ sao ta phải sống với lo âu vây bủa?!
Ông đã cho ta cái mạng sống này, lại thề không phụ nhau”.
- Nhà vua nói.
Vua
Phạm Ðạt liền ra lệnh bốn quân quay trở về, rồi tập
hợp quần thần cùng thảo luận vấn đề vua đặt ra rằng:
“Nếu bắt được con vua Trường Thọ thì sẽ xử trị thế
nào?”. Có người nói phải chặt tay, chặt chân; có người
nói phải xẻo mũi, xẻo tai; có người nói phải dùng búa
bổ nó ra; có người nói phải lấy cây xâu nó để nướng...
Nhà vua liền chỉ tay nói:
“Người
này chính là con vua Trường Thọ. Chính người này đã cho
ta mạng sống, nay ta lại dùng cái mạng sống này để đền
đáp lại. Tất cả không ai được ghim gút ác ý đối với
người này”.
Giải
quyết xong, về lại cung, nhà vua đem người con gái gả cho
Trường Sanh. Nhà vua hai tay cầm cái bình vàng đựng nước,
rót lên tay Trường Sanh, cử hành lễ tiễn đưa Trường Sanh
trở về bổn quốc phục ngôi vua nước Câu-tát-la. Các nước
lân
cận từ đó có mối giao hảo hòa hợp, tốt đẹp, bền vững
nhiều đời.
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Người
đời làm vua một nước còn tạo điều kiện hóa giải được
mối thù lớn này, bởi do biết vận dụng niệm thiện, biết
loại trừ niệm ác nơi tâm hồn để biến thành nhân hậu.
Các thầy xuất gia cầu đạo vô vi, tại sao việc nhỏ lại
cùng nhau đấu tranh để mất cái lợi lớn?! Nên bỏ tâm này,
cùng nhau hợp tác hòa đồng như sữa với nước, cùng truyền
nhau lời dạy của bậc thầy để cùng nhau sống trong sự
an lạc.
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
- Bạch
đức Thế Tôn, xin Ngài cứ sống đời sống an ổn. Ngài tuy
là ngôi vị Pháp vương nhưng chúng con cũng tự hiểu được
vấn đề.
Do
các Tỳ-kheo cố ý không xả, đức Phật liền bay lên hư không,
nói bài kệ:
Tuôn
các ác lên nhau
Còn
đâu chung thắng pháp
Tăng
phá chia thành hai
Hại
này do lời ác
Mạng
người, cốt nhục lìa
Cướp
đi tài,trâu ngựa
Oán
phá nước, diệt dòng
Hòa
hợp vẫn còn được
Ví
hai cây cọ nhau
Phát
hỏa tự đốt cháy
Ðâu
không phải lẽ thường
Ngu
oán hận cũng vậy
Các
thầy mạ nhục nhau
Sao
cứ chấp không bỏ
Họa
oán nào dứt được
Ngày
đêm càng chôn sâu
Gieo
neo tiếng ác mắng
Nếu
được, báo đừng thêm
Nhẫn
này oán không đến
Oán
có tự nhiên trừ
Nếu
lấy oán trừ oán
Oán
trọn đời không tiêu
Tâm
niệm từ trừ oán
Ðấy
sức mạnh vô song.
Ðức
Thế Tôn nói kệ xong, liền dùng thần lực bay đến tụ lạc
Ba-la, trú dưới cây Bạt-đà-ba-la, cô thân không một ai giúp
việc. Vào lúc ấy, gần nơi đức Phật ngụ, có một con voi
lớn, bị các con coi con gây não. Khi voi lớn muốn uống nước
thì bị các voi con đi trước làm cho nước đục bùn. Khi voi
lớn muốn ăn cỏ, các con voi con đi trước ăn sạch, rồi
đạp lên cỏ, phóng uế dơ bẩn. Con voi lớn nghĩ rằng: “Nay
ta bị bọn voi nhỏ gây khốn nạn, thà tránh đi để được
an ổn”. Nghĩ thế, voi lớn liền bỏ đi... Nhờ thế, hàng
ngày voi lớn được uống nước trong, ăn cỏ tốt. Voi tuần
tự đến rừng Bạt-đà-ba-la, nhìn thấy đức Phật, voi rất
vui mừng. Voi vì Phật lấy nước và dọn cỏ hai bên chỗ
Phật ở... Ðức Phật cũng như con voi lớn này, xa lìa được
đồng loại khuấy phá nên được khoái lạc trong sự yên
tịnh.
Ðức
Phật nói kệ:
Hai
rồng, lòng đều bị
Kẻ
hậu côn gây não
Bỏ
lại, một mình đi
Nay
vui trong rừng vắng.
Sau
đó, đức Phật từ rừng Bạt-đà-ba-la sang thành Xá-vệ,
trú ngụ trong tinh xá Kỳ-hoàn. Nghe đức Phật về Kỳ-hoàn,
các Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, quốc vương, đại thần, trưởng
giả, cư sĩ, ngoại đạo, Bà-la-môn đến hầu thăm cúng dường,
cung kính, tôn trọng, tán thán. Ngài nhận được nhiều thức
ăn, thức uống, y phục... nhưng như hoa sen, Ngài không hề
đắm trước.
Trong
lúc ấy, nơi thành Câu-xá-di, các Ưu-bà-tắc đều có chung
một nhận định: “Chúng ta mất đi cái lợi rất lớn, vì
các Tỳ-kheo nhiều chuyện, ưa đấu tranh, nên đức Thế Tôn
không ở đây. Cần phải áp dụng phương cách nào, chế tài
họ để họ đi cho khuất nơi này”. Họ bèn dặn nhau: không
tiếp xúc, không cúng dường vật thực cho các Tỳ-kheo ưa
đấu đá nhau ấy. Về phần các Tỳ-kheo đương sự, sau khi
Phật ra đi, lòng đều hối: “Do tội lỗi của chúng ta gây
nên, khiến đức Thế Tôn bỏ nơi này ra đi. Nay chúng ta nên
đến chỗ đức Phật thành tâm sám hối”.
Các
Tỳ-kheo nơi Câu-xá-di mặc y bưng bát lên đường, đến chỗ
đức Phật. Bấy giờ, tôn giả Xá-lợi-phất nghe các Tỳ-kheo
đấu tranh kia đến, liền cùng 500 Tỳ-kheo đến chỗ đức
Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân rồi bạch:
- Các
Tỳ-kheo đấu tranh ở Câu-xá-di sắp đến đây, chúng con sẽ
nên đối xử với họ như thế nào?
Ðức
Phật bảo tôn giả Xá-lợi-phất:
- Thầy
nên cho phép hai bên tự nói lên ý nghĩ của họ. Nếu như
pháp, như luật, như lời Phật dạy thì khéo đãi ngộ họ,
thản nhiên như bạn bè.
- Bạch
Thế Tôn, có thể căn cứ vào những điều gì để biết các
vị kia nói như pháp, như luật, như lời Phật dạy? Có thể
căn cứ vào những điều gì để biết các vị kia nói phi
pháp, phi luật, phi lời Phật dạy? - Xá-lợi-phất thưa hỏi.
- Nếu
thành tựu 14 pháp như: pháp nói là phi pháp, luật nói là phi
luật..., lời Phật chế nói chẳng phải lời Phật chế. Như
vậy gọi là phi pháp, phi luật, phi lời Phật dạy. Nếu ngược
lại những điều trên tức là pháp, là luật, là lời Phật
dạy.
Nơi
trú xứ của Tỳ-kheo ni, nghe các Tỳ-kheo đấu tranh kia sắp
đến nên Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng 500 Tỳ-kheo ni liền đến
chỗ Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch:
- Kính
bạch đức Thế Tôn, các Tỳ-kheo đấu tranh ở Câu-xá-di sắp
đến đây, chúng con nên đối xử với họ như thế nào?
- Quý
vị nên để hai bên nói lên ý nghĩ của họ. Nếu như pháp,
như luật, như lời Phật dạy thì khéo đãi ngộ họ. Nên
đến Tỳ-kheo như pháp, như luật, như lời Phật dạy cần
cầu năm việc:
1-
Tỳ-kheo ni mỗi nửa tháng phải đến Tỳ-kheo như pháp cầu
người giáo thọ.
2-
Tỳ-kheo ni cần phải nương theo chỗ có Tỳ-kheo như pháp mà
an cư mùa hạ. An cư rồi, phải đến Tỳ-kheo như pháp cầu
thỉnh tội: kiến, văn, nghi.
3-
Thức-xoa-ma-na học giới hai năm rồi, nên đối trước hai
bộ Tăng thọ Cụ túc giới.
4-
Tỳ-kheo ni phạm tội thô ác phải đối trước hai bộ Tăng
hành pháp Ma-na-đỏa nửa tháng. Hành pháp Ma-na-đỏa rồi,
nên đối trước hai bộ Tăng - mỗi bên 20 vị - cầu pháp
xuất tội.
5-
Nếu Tỳ-kheo ni Tăng lại có những việc gì khác, nên cần
cầu Tỳ-kheo như pháp chỉ giáo.
Các
Cư sĩ trong thành Xá-vệ nghe các Tỳ-kheo đấu tranh kia sắp
đến chỗ Phật, trưởng giả Cấp-cô-độc cùng với 500 Ưu-bà-tắc
liền đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân
rồi bạch:
- Kính
bạch đức Thế Tôn, các Tỳ-kheo đấu tranh ở Câu-xá-di sắp
đến đây, chúng con cung kính đãi ngộ họ như thế nào?
- Ông
nên để mỗi bên nói lên ý kiến của họ. Nếu như pháp,
như luật, như lời Phật dạy thì tiếp nhận sự răn bảo
của họ và việc cung kính đãi ngộ, cúng dường cần phải
bình đẳng. Tại sao vậy? - Vì đã là thỏi vàng thì dù chặt
làm hai đoạn, đoạn nào cũng vẫn là vàng.
Bà
Tỳ-xá-khư cùng 500 Ưu-bà-di đến chỗ Phật, bạch như trên...
Và đức Phật cũng trả lời như trên