Phần
07
Đối
trị tất đàn
Hội
đủ con số 1250
Ân
ấy nên trả
Bốn
điều nương tựa
Xin
một lần cuối
Nuôi
đệ tử đúng pháp
Phải
thành tựu mười pháp
Phải
thưa để Tăng biết
Không
được độ người mang trọng bệnh
Không
được độ quân nhân tại chức
Xin
được gia tài của cha
Bình
đẳng kể cả thức ăn
Phi
nhơn xuất gia
Cần
giải quyết tế nhị
Tôn,
ti
Bồ
tát thuyết giới
Bên
lề Bồ tát
Xin
đợi cho tôi một con bóng
Mùa
hạ truyền thống
Tưởng
“Á pháp” là hay
Đây
là lời thưa
Còn
thiếu một
Nhân
duyên hội đủ ba y
Từ
một thực tế
ÐỐI
TRỊ TẤT ÐÀN 27
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Các
ông, mỗi người nên chia đều ra để vào nhân gian du hành.
Các bậc Hiền thiện khắp nơi có thể nhận được sự giáo
giới của các ông. Riêng Ta, bây giờ sẽ đến xứ Ưu-vi28,
chỗ Uất-tỳ-la Ca-diếp29 để khai hóa.
Các
Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, chia nhau lên đường. Ðức Thế
Tôn đi về chỗ Ca-Diếp đang trú ngụ. Ở đây, Ca-diếp thờ
một con độc long trong một ngôi nhà vắng, tách biệt; không
ai dám bén mảng đến gần, chỉ trừ Ca-diếp. Ðức Phật
cố ý đến vào buổi chiều vừa xẩm tối và xin Ca-diếp
ở lại đêm trong nhà có con rồng.
Ca-diếp
nói:
- Không
thể chấp nhận lời yêu cầu này, vì trong nhà có con độc
long, sợ e làm hại Ngài.
- Không
can chi, rồng không thể hại Tôi đâu. - Ðức Phật trả lời.
- Nếu
Ngài không sợ thì cứ tùy ý vào nghỉ. - Ca-diếp chấp thuận.
Ðức
Phật đem cỏ vào nhà, trải cỏ ra ngồi, với ý nghĩ: “Ta
sẽ làm cho thân con rồng nhỏ lại như que đũa, để trong
bình bát, điều phục nó”.
Ngồi
chưa được bao lâu, con rồng nổi giận, cả thân tuôn ra khói,
đức Phật cũng tuôn ra khói. Cả thân rồng liền biến thành
một đống lửa cháy rực, lập tức cả thân đức Phật tuôn
ra lửa. Cả hai ngọn lửa hừng hực cháy, làm cho cả gian
nhà rồng tung tóe ánh sáng chói lòa. Khi ấy, Ca-diếp và các
đệ tử đến, đi quanh nhà con rồng, nuối tiếc than:
- Ðại
Sa-môn không chịu nghe lời ta, để bây giờ bị con rồng hại
mất!
Sáng
ngày, đức Phật cầm bình bát đựng con rồng bước ra ngoài
thì gặp ngay Ðại Ca-diếp, Ngài nói:
- Ðiều
làm cho mọi người khiếp sợ thì bây giờ nằm gọn trong
bình bát này. Nay Ta đã hàng phục độc long của ông rồi
đó.
Với
ý nghĩ cố chấp, Ðại Ca-diếp nghĩ: “Ðại Sa-môn này tuy
có thần lực nhưng không bằng chơn đạo của ta”.
Ðức
Phật liền vận thần lực, chỉ trong chớp nhoáng, đem con
rồng đặt ở Trung gian thế giới, rồi về lại chỗ Ca-diếp.
Ca-diếp hỏi Phật:
- Ðể
con rồng chỗ nào rồi?
- Trung
gian thế giới. - Ðức Phật trả lời.
Ca-diếp
lại nghĩ: “Ðại Sa-môn này thần lực rất lớn nên chỉ
trong thoáng chốc đem cả con rồng bỏ vào Trung gian thế giới.
Tuy vậy cũng không bằng ta, ta đã được A-la-hán đạo”.
Ca-diếp
thưa:
- Xin
mời Ðại Sa-môn ở lại đây để tôi được cúng dường.
Ðức
Phật nói:
- Nếu
hằng ngày ông đến mời Tôi, thì Tôi có thể nhận lời.
- Tốt
thôi! - Ca-diếp đáp lời.
Cách
chỗ ở của Ca-diếp không xa, có một khu rừng rậm, đức
Phật tạm nghỉ ở nơi đây. Ban đêm, Tứ Thiên Vương từ
trời xuống hầu Phật, nghe pháp. Ánh sáng từ bốn vị Thiên
Vương như bốn đống lửa. Ca-diếp đang đêm thức dậy, thấy
chỗ Phật có bốn khối sáng rực mà không rõ đó là hiện
tượng gì. Sáng ngày, Ca-diếp đến thỉnh Phật:
- Thức
ăn đã xong rồi, mời Ngài đến dùng.
Ca-diếp
lại hỏi:
- Ðêm
rồi, nơi đây có bốn khối sáng lớn, ánh sáng như lửa mà
không phải lửa, ánh sáng này là thế nào?
- Ðêm
qua Tứ Thiên Vương xuống cúng dường và nghe pháp, ánh sáng
của họ đấy. - Ngài trả lời.
Ca-diếp
lại nghĩ: “Ðại Sa-môn này có đại oai thần nên khiến
cho Tứ Thiên Vương tự xuống cúng dường. Tuy vậy cũng vẫn
không bằng ta, bởi ta đã được A-la-hán đạo”.
Ðức
Phật bảo Ca-diếp:
- Ông
về trước, Tôi sẽ đến sau.
Ca-diếp
vừa đi, đức Phật chớp nhoáng như lực sĩ co duỗi cánh
tay đến cây Diêm-phù30 lấy trái đem về. Ca-diếp chưa về
đến nơi thì đức Phật đã đến ngồi vào chỗ ngồi rồi.
Ca-diếp về sau, thấy Phật, hỏi:
- Tôi
không đi đường nào khác trở về, cũng không ghé ở đâu,
không thấy Ðại Sa-môn, vậy Ðại Sa-môn đi đường nào đến
đây?
- Sau
khi ông vừa ra về, Tôi liền đến cây Diêm-phù hái trái đem
về đây. Trái này thơm ngon, có thể ăn được, Tôi biếu
ông ăn thử xem sao! - Ðức Phật nói.
Ca-diếp
lại nghĩ: “Ðại Sa-môn này có đại thần lực, nhưng không
bằng ta, ta đã được A-la-hán đạo”.
Ðức
Phật thọ trai xong, trở về lại khu rừng. Ðêm sau, Thích-đề-hoàn-nhơn
đích thân xuống hầu Phật, nghe pháp. Ánh sáng trời Ðế
Thích chiếu khắp khu rừng, sáng gấp bội ánh sáng Tứ Thiên
Vương. Ca-diếp ban đêm thấy, cũng không rõ là ánh sáng gì.
Sáng ngày đến thỉnh Phật thọ trai và hỏi về ánh sáng
đêm rồi. Ðức Phật bảo:
- Ðêm
rồi Thích-đề-hoàn-nhơn xuống cúng dường và nghe pháp, ánh
sáng ấy là ánh sáng của họ.
Ca-diếp
lại nghĩ: “Ðại Sa-môn này là hạng thần lực khuôn mẫu
của thần lực, nên khiến trời Ðế Thích tự xuống cúng
dường, song cũng không bằng ta, ta đã được A-la-hán đạo”.
Ðức
Phật bảo ông Ca-diếp:
- Ông
về trước, Tôi sẽ đến sau.
Ca-diếp
vừa về, đức Phật đến ven biên Diêm-phù-đề31 ở rừng
Ha-lê-lặc32, hái trái đem về chỗ Ca-diếp, đến ngồi vào
tòa. Ca-diếp về liền sau đó, cũng hỏi như trên. Ðức Phật
bảo:
- Ông
vừa đi, Tôi đến cạnh biên Diêm-phù-đề, nơi rừng Ha-lê-lặc
hái trái đem về đây. Trái này thơm ngon, có thể ăn được,
giờ thì biếu ông ăn thử.
Ca-diếp
lại nghĩ như trước đã nghĩ. Ðức Phật thọ trai xong, về
lại khu rừng...
Ðêm
thứ ba, Phạm Thiên vương chủ thế giới Ta-bà xuống hầu
Phật, nghe pháp. Ánh sáng trời Phạm Thiên sáng gấp bội ánh
sáng trời Ðế Thích. Ban đêm, Ca-diếp thấy không biết là
ánh sáng gì. Sáng ngày, Ca-diếp đến thỉnh Phật thọ trai,
rồi cũng hỏi ý nghĩa ánh sáng đêm rồi. Ðức Phật bảo:
- Ðêm
rồi, Phạm Thiên vương đến cúng dường và nghe pháp, ánh
sáng ấy là của họ.
Ca-diếp
lại nghĩ: “Ðây là Ðại Sa-môn thuộc hạng thần lực khuôn
mẫu của thần lực, nên khiến trời Phạm Thiên đến cúng
dường, song cũng không bằng ta, ta đã được A-la-hán đạo”.
Ðức
Phật bảo Ca-diếp:
- Ông
về trước, Tôi sẽ đến sau.
Ca-diếp
vừa đi, đức Phật đến cạnh biên Diêm-phù-đề, nơi rừng
A-ma-lặc33 hái trái đem về... (như trước)
Ðức
Phật thọ trai xong, trở về lại khu rừng...
Bấy
giờ, đức Thế Tôn cần nước để rửa, sông Ni-liên-thiền34
liền vòng quanh lại, chảy qua trước mặt Ngài, Ngài dùng
nước để rửa. Sáng ngày, Ca-diếp lại đến thỉnh Phật
thọ trai, thấy khúc sông chảy quanh, liền hỏi:
- Ai
đào khúc sông này?
- Vừa
rồi Tôi cần nước, nước sông tự chảy quanh đến. - Ðức
Phật trả lời.
Ca-diếp
lại nghĩ: “Ðây là hạng Sa-môn có thần lực khuôn mẫu
của thần lực, nên móng ý niệm cần nước, nước liền
chảy đến, song không bằng ta, ta đã được A-la-hán đạo”.
Ðức
Phật bảo Ca-diếp:
- Ông
về trước, Tôi sẽ đến sau.
Ca-diếp
vừa đi, đức Phật đến nơi Câu-da-ni lấy sữa bò đem về...
(diễn tiến như trước).
Ðức
Phật thọ trai xong, trở về lại khu rừng.
Bấy
giờ, người tớ gái gia đình Bà-la-môn Tư-na chết, bỏ chiếc
áo nơi gò mả, đức Phật lấy đem về, với ý nghĩ: “nên
giặt nó như thế nào?”. Vừa nghĩ như thế, Thích-đế-hoàn-nhơn
liền đến lấy ngón tay chỉ xuống đất, thì ở dưới nước
vọt lên thành ao, rồi bạch Phật:
- Ngài
có thể giặt áo nơi ao này.
Sơn
thần A-tỳ-thích-ca35 đưa đến một cái bồn bằng đá lớn,
bạch Phật:
- Ngài
có thể dùng cái bồn này để giặt.
Ðức
Phật lại nghĩ: “Ta đứng dựa thế vào cái gì để giặt
y này?”. Cách ao không xa, có cây Kha-hầu36, vị thần cây
liền bẻ cong một nhánh cây xuống sát Phật để Phật vin
vào đó. Ðức Phật giặt y rồi, phơi y nơi hư không. Ca-diếp
sáng ngày đến thỉnh Phật thọ trai, thấy khung cảnh phục
vụ cho việc giặt y của Phật, hỏi không sót thứ gì. Ðức
Phật lần lượt kể rõ mọi việc. Tuy vậy, Ca-diếp vẫn
giữ tâm niệm cao ngạo như trước. Ðức Phật bảo Ca-diếp:
- Ông
về trước, Tôi sẽ đến sau.
Ca-diếp
vừa đi, đức Phật đến xứ Uất-đơn-việt37 lấy loại
lúa tự nhiên38 đem về... (như trước)
Ðức
Phật thọ trai xong, trở về lại khu rừng.
Sáng
ngày hôm sau, nhân lúc có tiết hội, Ca-diếp nghĩ rằng: “Nay
ta không thỉnh Phật thọ trai, vì thỉnh Ngài đến chắc mọi
người sẽ bỏ rơi ta mà tranh nhau phụng sự Ngài”. Do vậy,
Ca-diếp không đi thỉnh Phật.
Ðức
Phật biết ý đồ Ca-diếp, nên đến Uất-đơn-việt lấy
thức ăn để ăn. Ngày ấy qua rồi, Ca-diếp lại đến thỉnh
Phật thọ trai và hỏi:
- Ngày
hôm qua tôi không đến thỉnh, Ngài ăn thứ gì?
- Ngày
hôm qua ông nghĩ: “Nhân ngày tiết hội mà thỉnh Phật, mọi
người thấy Ngài sẽ bỏ ta, tranh nhau phụng sự Phật”?
Cho nên Ta đến xứ Uất-đơn-việt lấy thức ăn để dùng.
- Ðức Phật trả lời.
Ca-diếp
lại nghĩ: “Ðây là Ðại Sa-môn thần lực thuộc hạng thần
lực khuôn mẫu, nên mới biết ý niệm của người khác, song
cũng không bằng ta, ta đã được A-la-hán đạo”.
Hôm
ấy, đức Phật cùng đi với Ca-diếp về nhà thọ trai, rồi
trở về khu rừng.
Ngày
ấy, đệ tử Ca-diếp gồm 500 người làm công việc bửa củi.
Họ bửa xuống nhưng không giở búa lên được. Ðệ tử thưa
với thầy chuyện quái lạ này. Thầy nghi, nói:
- Sợ
Ðại Sa-môn làm việc này. Các ông đến hỏi Ngài thử sao!
Họ
kéo đến hỏi Phật việc khó hiểu này. Ðức Phật hỏi:
- Các
ông có muốn giở búa lên không?
- Thưa
muốn. - Ðệ tử của Ca-diếp đáp.
- Các
ông cứ về đi thì cái búa tự giở lên. - Ðức Phật bảo
họ.
Khi
búa đưa lên được rồi, nhưng bửa xuống lại không được.
Họ lại thưa với thầy. Thầy bảo đệ tử đến hỏi Phật.
Ðức Phật hỏi:
- Muốn
để búa xuống không?
- Thưa
muốn.
- Các
ông hãy đi về thì búa sẽ tự để xuống.
Nhưng,
khi búa bửa xuống, búa dính luôn vào củi, không thể bửa
được. Ðệ tử lại thưa thầy, thầy bảo họ đến hỏi
Phật. Ðức Phật hỏi:
- Muốn
búa bửa được phải không?
- Thưa
muốn.
- Thôi,
cứ đi về đi, búa sẽ sử dụng được.
Búa
sau đó sử dụng bình thường.
Ðệ
tử của Ca-diếp muốn nhen lửa, lửa không chịu cháy. Ðệ
tử lại thưa với thầy. Thầy bảo đệ tử đến hỏi đức
Phật. Ðức Phật hỏi:
- Muốn
lửa cháy phải không?
- Vâng!
- Họ thưa.
- Thôi,
cứ về đi lửa sẽ tự cháy. - đức Phật bảo.
Họ
về, lửa liền phụt cháy và cứ cháy mãi không dập tắt
được. Họ lại hỏi thầy. Thầy lại bảo họ hỏi Phật.
Phật bảo họ đi về, lửa liền tự tắt.
Họ
muốn dập tắt lửa than bằng bình đựng nước, nhưng nước
trong bình không chảy ra. Họ thưa thầy, thầy bảo họ đến
hỏi Phật. Phật bảo họ đi về thì nước tự chảy ra. Nước
tự chảy ra và chảy mãi không dừng lại. Họ thưa thầy,
thầy bảo họ đến hỏi Phật. Phật dạy họ cứ đi về
thì nước trong bình tự dừng lại. Họ về, nước trong bình
tự nhiên thôi chảy ra.
Bấy
giờ trời mây u ám, mưa lớn suốt bảy ngày. Khu vực nhà
ông Ca-diếp thành một biển nước mênh mông. Ðức Phật ở
trong rừng, ông Ca-diếp sợ Phật bị nước cuốn trôi, đi
thuyền đến xem, thấy đức Thế Tôn đang kinh hành trên dòng
sông Ni-liên-thiền. Ca-diếp lại nghĩ: “ Ðại Sa-môn này
có thần lực cao siêu nên nước lớn như vậy mà không bị
cuốn trôi, lại kinh hành trên nước, song vẫn không bằng
ta, ta đã được A-la-hán đạo”.
Khi
ấy, đức Thế Tôn bay lên hư không, bảo ông Ca-diếp rằng:
- Ông
không phải là La-hán, tại sao cứ hư dối tự xưng là đắc
đạo?!
Ca-diếp
thú nhận:
- Bạch
Thế Tôn, thật vậy! Bạch Thế Tôn thật vậy!
Ông
ta lại bạch Phật:
- Xin
Thế Tôn cho con được xuất gia, thọ Cụ túc giới.
- Ông
đã báo cho đệ tử chưa? - Ðức Phật hỏi.
- Thưa
chưa. - Ca-diếp đáp.
- Nên
báo cho họ biết trước. - Ðức Phật bảo.
Ca-diếp
vâng theo, liền trở về nói với hàng đệ tử:
- Các
ông biết chăng? Ta muốn tu phạm hạnh nơi Ðại Sa-môn. Các
ông, người nào theo ta thì tốt, bằng không vui theo thì tùy
ý.
Năm
trăm đệ tử đồng thanh nói:
- Khi
chúng con thấy Phật hàng phục con rồng thì đã sanh lòng tin,
chỉ đợi ý kiến của thầy mà thôi. Chúng con xin được
đi theo con đường của thầy.
Thế
là thầy trò cùng nhau đến chỗ đức Phật, thưa:
- Bạch
Thế Tôn, thầy trò chúng con đều muốn xuất gia thọ Cụ
túc giới.
Ðức
Phật dạy:
- Lành
thay! Các Tỳ-kheo đến đây thọ Cục túc giới. Ở trong pháp
luật khéo nói của Ta để tịnh tu phạm hạnh, thì có thể
chấm dứt tất cả khổ.
Ông
Ca-diếp với 500 đệ tử râu tóc tự rụng, áo ca-sa mặc vào
thân, bình bát bưng nơi tay. Sau khi thọ giới, thầy trò đem
những dụng cụ, y phục thờ lửa trước đó bỏ xuống sông
Ni-liên-thiền. Như vậy, Ca-diếp và 500 đệ tử đã thực
hiện xong việc thọ giới Cụ-túc.
Ông
Ca-diếp có hai người em, người lớn tên là Na-đề Ca-diếp,
người nhỏ tên là Già-da Ca-diếp. Người em lớn có 300 đệ
tử, người em nhỏ có 200 đệ tử. Cả hai ở cách anh mình
một do-tuần39 về phía hạ lưu sông Ni-liên. Ngày ấy, hai
người em thấy dụng cụ thờ lửa của anh mình trôi theo dòng
sông, hoảng kinh, sợ anh mình đã bị kẻ ác sát hại, bỏ
trôi theo dòng nước. Hai người em liền dẫn 500 đệ tử ngược
dòng lên đến chỗ anh để tiếp cứu, nhưng thấy cả thầy
lẫn trò đều làm Sa-môn... Lấy làm lạ, hai em hỏi:
- Tại
sao thế này?
Ca-diếp
nói:
- Pháp
của đạo này nói lên được yếu tố thù thắng tối thượng,
không có ai hơn được.
Nghe
thế, hai người em cùng 500 đệ tử bàn bạc, thảo luận:
“Trí tuệ đệ nhất như anh mình mà nay vui sống với đạo
này, thì chắc đạo này là tối thắng”. Sự thảo luận
này dẫn đến việc hai em theo gót người anh, họ liền đưa
500 đệ tử đến chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân rồi
bạch:
- Xin
cho chúng con xuất gia thọ Cụ túc giới.
Ðức
Phật dạy:
- Lành
thay! Các Tỳ-kheo đến đây!... (như trước).
Trước
thực tế này, đức Phật có suy nghĩ: “Phải giáo giới một
ngàn Tỳ-kheo Tăng Phạm-chí mới xuất gia này. Nơi nào có
đủ ẩm thực, ngọa cụ cho Tỳ-kheo để thực hiện việc
giáo giới?”. Ðức Phật nghĩ ngay đến núi Già-da40, vì ở
đây hội đủ yếu tố trên. Ðức Phật liền đưa một ngàn
Tỳ-kheo đến núi này. Nơi đây, ba việc giáo giới được
đức Phật đề ra: Một là giáo giới thần túc. Hai là giáo
giới thuyết pháp. Ba là giáo giới Giáo sắc.
Thế
nào là giáo giới thần túc? - Như trong mục thần thông đã
nói rõ.
Thế
nào là giáo giới thuyết pháp? - Như nói: Tỳ-kheo nên suy nghĩ
thế này, không nên suy nghĩ thế này. Nên nhớ nghĩ thế này,
không nên nhớ nghĩ thế này. Nên tu thế này, nên đoạn thế
này... Nên y theo như vậy mà tu hành.
Thế
nào là giáo giới giáo sắc? - Như nói Tỳ-kheo đốt cháy tất
cả. Thế nào là đốt cháy tất cả? - Ðốt cháy nhãn, đốt
cháy sắc, nhãn thức, nhãn xúc, nhân duyên sanh thọ cũng đốt
cháy. Ðốt cháy cái gì? - Ðốt cháy lửa dục, đốt cháy
sân dục, si dục... cho đến ý pháp cũng đốt cháy như vậy.
Ðệ tử của bậc Thánh nghe pháp như vậy, sanh tâm nhàm chán
thế gian, yểm ly thế gian, không có nhiễm trước thì được
giải thoát. Giải thoát thì trí sanh, việc đã làm xong, phạm
hạnh đã lập, không còn tái sanh.
Khi
nói pháp như vậy, một ngàn Tỳ-kheo hết lậu hoặc, tâm được
giải thoát.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn nhớ lại lời hứa với vua Bình-sa là
sau khi đắc đạo sẽ độ nhà vua. Ðức Phật cùng với một
ngàn đệ tử Tỳ-kheo, kẻ trước người sau vây quanh Ngài,
lần lượt du hành về thành Vương-xá.
Vua
Bình-sa nghe Phật sau khi thành đạo, độ ba anh em Ưu-vi Ca-diếp
và một ngàn đệ tử, nay đến ấp này; vua liền ban lệnh
cho 42.000 tụ lạc trong nước, mỗi tụ lạc chọn hai vị hào
kiệt về thành để cung nghinh đức Phật và tám vạn bốn
ngàn người cỡi voi, ngựa, xe nối tiếp nhau đón mừng. Bấy
giờ, vào tháng cuối mùa Xuân, khí hậu nóng bức, mọi người
thầm nghĩ: “Làm sao có được chút bóng mát?!”. Biết được
ý nghĩ này, liền khi ấy, trời Thích-đề-hoàn-nhơn hóa một
cái lọng báu bằng mây che khắp, lại có gió mát phe phẩy
và tự thân hóa làm Phạm thiên, mặc áo màu vàng, cầm cây
trượng bằng bảy báu, một tay cầm phất trần cũng khảm
bằng bảy báu, cách đất một khủy tay đi trước hướng
dẫn. Lúc ấy, người nước Ma-kiệt muốn lấn đi trước
Phật, bị trời Ðế Thích đuổi chạy. Họ cơ hiềm, ngâm
lời kệ:
Hình
ai giống Phạm thiên Cầm trượng đi cách đất
Miệng
nói lời dễ thương Vì ai làm cấp sử (thừa sự)?
Thích-đề-hoàn-nhơn
nói kệ đáp:
Giải
thoát mọi trói buộc
Ðiều
ngự sĩ tối thượng
Ứng
cúng, bậc Thiện thệVì Ngài, tôi cấp sử.
Vua
Bình-sa trong lúc đón nghinh, lại nghĩ: “Chỗ nào đức Phật
nghỉ ngơi thì ta đem chỗ ấy cúng Phật để lập tinh xá”.
Ðức Phật biết ý này nên chiều tối Ngài đến nghỉ lại
ở vườn trúc Ca-lan-đà.
Bấy
giờ, quần chúng đều hoài nghi: “Không biết đức Phật
với Ưu-vi Ca-diếp, ai là đệ tử?”. Biết được ý nghĩ
này của quần chúng, đức Phật liền hướng đến Ưu-vi Ca-diếp
nói bài kệ:
Ưu
Vi, ông thấy gì
Mà
bỏ pháp thờ lửa?
Nay
chính Ta hỏi ông
Ông
cần như thật đáp.
Ưu-vi
Ca-diếp liền đáp kệ:
Thường
tham những mỹ vị
Tâm
chạy theo thanh sắc
Con
thấy nhơ nhớp này
Nên
bỏ nghiệp thờ lửa.
Quần
chúng tuy nghe đức Phật cùng Ca-diếp nói kệ, song chưa rõ
được ý, vẫn còn hồ nghi. Biết được tâm trạng này, đức
Phật lại nói kệ hỏi:
Ngũ
vị ngọt miệng người
Sắc
thanh vui lòng người
Ông
thấy nhơ nhớp này
Ðược
không bởi do đâu?
Ưu-vi
Ca-diếp kệ đáp:
Con
thấy đạo, liền bỏ
Tất
cả không đắm trước
Không
khác, không thể khác
Do
vậy, bỏ thờ lửa.
Dù
đã nghe đối đáp hai lần kệ, tâm đại chúng vẫn còn lưỡng
lự, hoài nghi. Phật biết tâm họ, bèn bảo Ca-diếp:
- Ông
lấy quạt, quạt cho Ta.
Ca-diếp
nghe theo, lấy quạt hầu Phật. Ðức Phật lại bảo Ca-diếp:
- Hiện
thần thông biến hóa của ông xem nào!
Ca-diếp
liền thị hiện các loại thần biến, phân thân thành trăm
ngàn ức, rồi hiệp lại thành một thân, đi xuyên qua vách
đá, vào trong đất như vào trong nước, đi trên nước như
đi trên đất, ngồi nằm trong không trung như chim bay lượn,
cả thân bừng cháy chói sáng, tuôn khói, vượt lên mây, lấy
tay rờ mặt trời, mặt trăng, đứng thẳng đến trời Phạm
Tự Tại vô ngại. Hoặc trên thân tuôn ra nước, dưới thân
tuôn ra lửa; hoặc thân trên tuôn ra lửa, thân dưới tuôn
ra nước. Rồi từ trên không giáng xuống, cúi đầu đảnh
lễ sát chân Phật, đi quanh bên phải ba lần, Ca-diếp quỳ
gối, chấp tay bạch Phật:
- Thế
Tôn là thầy của con, con là đệ tử của Thế Tôn.
Thưa
như vậy ba lần, rồi Ca-diếp nói với đại chúng rằng:
- Những
sự hiểu biết cho đến những thần biến của tôi đều do
ân của Ðại sư mà được.
Ðại
chúng sau khi biết rõ Ca-diếp là đệ tử Phật, nên đối
với đức Phật họ hết sức hoan hỷ, cung kính Ngài vô lượng.
Thường
pháp của chư Phật là khi nhân tâm chưa cảm động, chuyển
đổi thì không vì họ nói pháp, nhưng bây giờ thì đại chúng
đã hoan hỷ, cung kính, nên Ngài nói các diệu pháp, chỉ bày
sự lợi ích để họ được an vui và nói các pháp mà chư
Phật thường thuyết, đó là Khổ, Tập, Tận, Ðạo. Vua Bình-sa
và 8 vạn 4 ngàn người ngay chỗ ngồi xa lìa trần cấu, được
con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả, rồi thọ tam
quy và năm giới.
Sau
đó, vua Bình-sa cúi đầu thỉnh Phật và Tăng sáng ngày mai
thọ trai, đức Phật im lặng nhận lời. Nhà vua vui vẻ trở
về cung, ra lệnh chuẩn bị đầy đủ các thức ăn ngon bổ.
Sáng ngày, vua cho trải tọa cụ nơi vườn trúc và đích thân
đến mời Phật thọ trai. Ðức Phật cùng Ðại chúng theo
thứ tự mà ngồi. Nhà vua tự tay sớt thức ăn, ngài rất
vui vẻ và không biết mệt mỏi. Phật và Tăng thọ thực,
rửa tay xong, nhà vua đứng qua một bên, bạch Phật:
- Con
xin dâng cúng vườn trúc này lên Ngài.
Ðức
Phật dạy:
- Nên
cúng cho Tăng, phước điền nhiều hơn.
Nhà
vua lại thưa:
- Cúi
xin Ngài nạp thọ.
Ðức
Phật dạy:
- Nên
cúng cho Tăng, trong đó có Tôi.
Nhà
vua nghe theo và dâng cúng vườn trúc Ca-lan-đà cho bốn phương
Tăng. Sau đó nhà vua lấy chiếc ghế nhỏ ngồi trước đức
Phật nghe pháp. Ðức Phật nói pháp tùy hỷ, chú nguyện bài
kệ như bài kệ chú nguyện công đức cho Tỳ-lan-nhã. Tiếp
theo, đức Phật nói các diệu pháp rồi bảo vua lui về cung.
Nhà vua từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật,
nhiễu quanh bên phải ba vòng rồi lui về.
HỘI
ÐỦ CON SỐ MỘT NGÀN HAI TRĂM NĂM MƯƠI
Bấy
giờ, đức Thế Tôn trú tại tinh xá Trúc viên41 thành La-duyệt-kỳ42
có một ấp tên là A-la-đà. Phạm chí Sa-nhiên43 cư ngụ nơi
ấp này, có 250 đệ tử theo học đạo. Trong số đó có hai
môn đồ cao túc: một người tên là Ưu-Ba-đề-xá44, người
thứ hai tên là Câu-luật-đà45.
Một
hôm, Tỳ-kheo Át-bệ46 vào thành khất thực, Ưu-Ba-đề-xá
dạo chơi thấy Át-bệ có nhan sắc vui vẻ, hòa nhã, các căn
tịch định, y phục chỉnh tề, bưng bát nhìn đất mà đi.
Với phong độ giải thoát như vậy, khiến Ưu-Ba-đề-xá lưu
ý và lần theo Át-bệ quan sát từng oai nghi một. Như có một
lực hút mạnh, Ưu-Ba-đề-xá tiến lên, đến trước Át-bệ
hỏi thăm:
- Pháp
tượng này ở đâu, y phục lại khác thường như thế? Có
thể cho tôi biết quý danh bậc Tôn sư của tôn giả?
Át-bệ
trả lời:
- Sa-môn
Cù Ðàm là Ðại sư của tôi. Chúng tôi tôn thờ Ngài, theo
học với Ngài, là đệ tử của Ngài.
- Ðại
sư của tôn giả nói những pháp gì? - Ưu-Ba-đề-xá hỏi.
- Tôi
còn trẻ, mới học đạo chưa được bao lâu, đâu có thể
nói được nghĩa lý rộng lớn về pháp của thầy tôi. Nhưng,
nay tôi có thể vì ông nói các nghĩa yếu lược. Thầy tôi
dạy: “Các pháp từ duyên sanh, cũng từ duyên mà diệt. Tất
cả các pháp là không, không có chủ thể”. - Át-bệ giải
đáp.
Ưu-Ba-đề-xá
nghe chừng ấy lời, bỗng tâm ý sáng ra, hiểu rõ vấn đề
đã bị đóng kín từ lâu, được ngay con mắt pháp trong sạch,
tỉnh ngộ. Ưu-Ba-đề-xá cúi chào Át-bệ, quay về.
Ðến
gặp ngay người bạn tâm giao là Câu-luật-đà, Ưu-Ba-đề-xá
nói lại lời pháp kia cho Câu-luật-đà nghe. Nghe qua như người
ngủ được đánh thức, Câu-luật-đà bừng ngộ, xa lìa trần
cấu, đắc pháp nhãn thanh tịnh, liền hỏi Ưu-bà-đề-xáù:
- Ðức
Như Lai du hoá, hiện giờ đang ở đâu?
- Hiện
Ngài ở tại Trúc viên Ca-lan-đà.
- Ðức
Như Lai là thầy của chúng ta, chúng ta nên cùng đến đó kính
lễ, thăm hỏi.
- Còn
250 huynh đệ thì sao?
- Khi
thầy gần qua đời, di chúc cho chúng ta là cần phải dìu dắt,
chỉ bảo cho nhau để dẫn đến mọi thành tựu. Bây giờ
đâu lẽ nào không thông báo cho nhau, ra đi, bỏ họ lại sao?!
Hai
người đi ngay đến chỗ huynh đệ, trước họ, Ưu-Ba-đề-xá
nói:
- Tôi
và Câu-luật-đà hôm nay muốn theo Sa-môn Cù Ðàm để tu phạm
hạnh. Các ông mỗi người tùy ý thích mà tự chọn con đường.
Và
con đường lựa chọn của 250 huynh đệ là quyết theo con đường
của hai cao túc mình đã chọn. Hai người đưa 250 môn đệ
đến thẳng vườn Trúc. Ðức Thế Tôn từ xa đã trông thấy,
Ngài bảo các Tỳ-kheo:
- Hai
người sắp đến kia là Ưu-Ba-đề-xá và Câu-luật-đà. Hai
người này sẽ là bậc tối thượng thủ trong hàng đệ tử
của Ta, trí tuệ vô lượng, thần túc vô biên.
Họ
đến gặp Phật và đức Phật vì tất cả họ, tuần tự
nói pháp, luận về bố thí, trì giới và sanh thiên, chê trách
dục bất tịnh, khen ngợi hạnh xuất ly. Từ nơi chỗ ngồi,
họ liền hết các lậu hoặc, tâm ý sáng ra, nhận thức được
mọi vấn đề một cách đúng đắn. Họ đến trước Phật
xin xuất gia tịnh tu phạm hạnh. Ðức Phật dạy:
- Lành
thay, các Tỳ-kheo đến đây! Ở trong pháp của Ta tịnh tu phạm
hạnh, thì nguồn gốc khổ sẽ được diệt trừ. Như vậy
được gọi là xuất gia thọ Cụ túc giới.
Như
vậy, ở thời điểm này, chúng Tỳ-kheo của Phật lên đến
1.250 vị.
ÂN
ẤY NÊN TRẢ
Bấy
giờ, có một Ma-nạp ngoại đạo muốn xuất gia thọ cụ túc
giới trong chánh pháp, bèn đến Xá-lợi-phất xin:
- Cho
con xuất gia thọ Cụ túc giới.
Xá-lợi-phất
không cho thọ. Ma-nạp tuần tự đi khắp chỗ 500 Tỳ-kheo để
xin, nhưng không vị nào cho thọ. Ma-nạp tủi thân buồn khóc,
ra về.
Ðức
Phật với thiên nhãn, Ngài nhìn thấy tấm lòng Ma-nạp, hỏi
Xá-lợi-phất:
- Ma-nạp
ấy tại sao khóc lóc ra về?
Xá-lợi-phất
trình bày đầy đủ sự việc không cho thọ giới. Ðức Phật
lại hỏi:
- Người
này đã từng có một lần nói lời lành đối với Tỳ-kheo
không?
- Thưa
có. - Xá-lợi-phất trả lời.
- Lời
nói lành ấy như thế nào?. - Ðức Phật hỏi.
- Thưa
Thế Tôn, trước đây con đi khất thực, Ma-nạp này khen con:
“Sa-môn Thích tử này thiện hảo, có đức, nên cho thức
ăn”. - Xá-lợi-phất bạch.
- Ân
ấy nên trả. Ông có thể độ họ.
Xá-lợi-phất
ghi nhận lời dạy và cho Ma-nạp thọ giới Cụ túc.
BỐN
ÐIỀU NƯƠNG TỰA
Lại
có một Ma-nạp ngoại đạo phước mỏng nên khất thực khó
được, lại có suy nghĩ: “Sa-môn Thích tử khất thực dễ
được, đau ốm có người giúp đỡ thuốc men. Nay ta nên đến
đó xuất gia thọ Cụ túc giới”. Làm theo ý nghĩ, Ma-nạp
đến Tăng phường bạch các Tỳ-kheo:
- Cho
con xuất gia thọ giới Cụ túc.
Các
Tỳ-kheo chấp thuận cho Ma-nạp thọ giới. Ma-nạp do nghiệp
nặng, phước mỏng nên theo thứ tự mời đi thọ thực bị
Tăng gác lại. Các Tỳ-kheo nói:
-Thầy
có thể mặc y, bưng bát đi khất thực.
- Thưa
Ðại đức, tôi sợ đi khất thực lắm! Vì thế mới xuất
gia trong giáo pháp Phật. Nay tại sao lại bảo tôi đi khất
thực?! - Ma-nạp thưa thế.
Các
Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy:
- Không
nên độ hạng người này, nếu độ phạm Ðột-kiết-la. Khi
độ, phải hỏi trước: “Người vì lý tưởng nào mà xuất
gia?”. Nếu nói vì ẩm thực thì không nên độ. Nếu nói
vì cầu thiện pháp, nhàm chán sanh, lão, bệnh, tử, ưu bi,
khổ não thì nên độ. Trước khi trao giới Cụ túc, nên nói
rõ bốn việc phải nương tựa, đó là: “Mặc y phấn tảo47,
đi khất thực, nương ngồi dưới gốc cây, thọ dùng tàn
khí dược48. Ngươi có thể trọn đời nương theo bốn việc
này hay không?”. Nếu nói có thể, thì nên cho thọ. Nếu nói
không có thể, thì không nên cho thọ.
XIN
MỘT LẦN CUỐI
Bấy
giờ, thọ giới Cụ túc xong, một tân Tỳ-kheo gặp tình nhân
cũ là một dâm nữ. Dâm nữ nói với người tình cũ rằng:
- Anh
không thể sinh sống được nên mới vào đạo, phải không?
- Tôi
nhàm chán sanh, lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não, muốn hết
gốc khổ nên vào đạo, phụng hành chánh pháp, rộng tu phạm
hạnh. - Tân Tỳ-kheo trả lời.
- Như
lời anh nói thì việc giao hội không còn có nữa rồi. Nay
anh có thể cùng em hành dục một lần cuối đi! - Dâm nữ
đề nghị.
Người
mới thọ giới kia, nghe hợp lý thuận tình, hành dục, mãi
chiều tối mới về Tăng phường. Các Tỳ-kheo hỏi:
- Tại
sao thầy ở lại sau?
Tân
Tỳ-kheo trả lời đúng sự thật đã diễn ra. Các Tỳ-kheo
liền xua đuổi:
- Thầy
đi đi! Thầy cút đi! Trong pháp của Tỳ-kheo, nếu hành sự
như vậy thì chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Thích tử.
Tân
Tỳ-kheo nghe vậy, buồn rầu nói:
- Nếu
khi thọ giới, nói với tôi việc này thì dù có mất mạng
tôi đâu có phạm phải tội đuổi đi.
Các
Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy:
- Thọ
giới Cụ túc rồi phải nói mười hai pháp49, bốn pháp đọa50,
bốn pháp ví dụ51, bốn pháp nương tựa52.
NUÔI
ÐỆ TỬ ÐÚNG PHÁP
Tỳ-kheo
Ưu-ba-tư-na, khi ấy mới được hai tuổi hạ, dẫn đệ tử
một tuổi hạ đến kính lễ hầu thăm đức Phật. Kính lễ
xong, Ưu-ba-tư-na ngồi lui qua một bên, sau đó, người đệ
tử lễ Phật. Trong lúc đầu mặt cúi xuống thì cái đãy
mang theo rơi lên đầu gối đức Phật.
Ðức
Phật hỏi thầy Ưu-ba-tư-na:
- Thầy
này là đệ tử của ai?
- Bạch
Thế Tôn, đệ tử của con. - Ưu-ba-tư-na thưa.
- Thầy
bao nhiêu tuổi (hạ)? - Ðức Phật hỏi.
- Con
hai tuổi, bạch Thế Tôn.
Ðức
Phật nghiêm khắc quở trách:
- Thầy
làm điều phi pháp. Tại sao chính mình chưa rời khỏi bầu
sữa, lại làm bầu sữa cho kẻ khác?!
Quở
trách rồi, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Không
nên trao giới Cụ túc cho người, khi tuổi hạ của mình chỉ
từ một đến chín tuổi. Phải đủ mười tuổi (hạ) như
pháp mới được phép trao giới. Nếu chưa đủ mười tuổi
và không như pháp mà trao giới Cụ túc cho người thì phạm
Ðột-kiết-la.
PHẢI
THÀNH TỰU MƯỜI PHÁP
Trong
thành Vương-xá, hồi ấy có một ngoại đạo lõa hình, ông
ta rất thông minh, uyên bác; người trong nước Ma-kiệt gọi
ông là kẻ biết nhiều, thấy rộng. Ngày ấy, ông đến Tăng
phường53 như muốn thách thức đức Phật, ông ta hỏi:
- Sa-môn
Thích tử nào dám cùng ta luận nghị?
Vào
thời gian ấy, các Tỳ-kheo đang vui dạo trong các thiền định,
không ai chịu bàn luận, cũng không ai chuyện vãn nhau. Tôn
giả Xá-lợi-phất lại có suy nghĩ: “Ngoại đạo kia rêu
rao như vậy, nếu không có vị nào luận nghị, Phật pháp
chắc bị hủy nhục. Nay ta có thể cùng họ luận nghị. Hơn
nữa, Ni-kiền54 này được người trong nước Ma-kiệt tôn
kính, nếu ta dùng một cú nghĩa để hỏi mà không thông hiểu,
thì danh tiếng của họ chắc mất sạch và không thể trở
thành một pháp lớn ở đời. Bây giờ, nên định thời gian
bảy ngày để ta cùng họ luận nghị”.
Tôn
giả Xá-lợi-phất cho công bố thời gian bảy ngày luận nghị
với ngoại đạo.
Bấy
giờ, trong thành Vương-xá, Trưởng giả, Cư sĩ, Bà-la-môn,
Sa-môn hồi hộp nghĩ: “Sa-môn Thích tử Xá-lợi-phất là
đệ nhị sư, hẹn cùng Ni-kiền đệ nhất sư, sau bảy ngày
luận nghị chắc hấp dẫn lắm, cùng nhau đến nghe”.
Trong
thời gian diễn ra luận nghị, từ ngày thứ nhất đến ngày
thứ sáu, bao vấn đề Ni-kiền-tử đều“thắt lưỡi”.
Ðến ngày thứ bảy, Xá-lợi-phất đặt vấn đề: “Dục
từ tư tưởng sanh?”. Ni-kiền liền đáp: “Dục từ đối
cảnh sanh”. Ðể chỉ ra sự sai lầm này, Xá-lợi-phất liền
nói kệ khẳng định:
Thế
gian dục là gốc
Ðều
từ tư tưởng sanh
Gốc
dục thế gian trụ
Nên
sanh tâm nhiễm trước.
Ni-kiền
kệ vấn:
Dục
do tư tưởng sanh
Do
đó sanh nhiễm trước
Tỳ-kheo
quán rõ ác
Bèn
mất ngay phạm hạnh.
Xá-lợi-phất
đáp lại rằng:
Tư
tưởng không sanh dục
Mà
từ đối tượng sanh
Thầy
ông thấy các sắc
Tại
sao không thọ dục?
Ni-kiền
nghe kệ này rồi, không thể trả lời thêm gì được nữa,
bèn sanh thiện tâm, muốn xuất gia học đạo trong giáo pháp
đức Phật.
Trong
chúng, Bạt-nan-đà là người có tướng mạo cao đẹp nhất,
còn Xá-lợi-phất có hình dung nhỏ thấp. Ni-kiền thấy vậy
so sánh: “Tỳ-kheo thấp nhỏ này, tài trí còn như vậy, huống
là người đường đường dung mạo kia!”. Với ý nghĩ ấy,
Ni-kiền đến chỗ Bạt-nan-đà thưa:
- Cho
con xuất gia thọ Cụ túc giới.
Bạt-nan-đà
liền độ Ni-kiền.
Xá-lợi-phất
luận nghị xong, đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ
sát chân rồi ngồi lui qua một bên. Ðức Phật hỏi:
- Thầy
cùng với Ni-kiền bảy ngày luận nghị, kết quả như thế
nào?
Xá-lợi-phất
trình bày đầy đủ diễn tiến sự việc, đức Phật khen:
- Lành
thay! Lành thay! Xá-lợi-phất! Thầy có nhiều lòng lân mẫn
và đầy lợi ích.
Tỳ-kheo
Ni-kiền hỏi Bạt-nan-đà về kinh luật. Bạt-nan-đà không
trả lời trôi, Ni-kiền bèn khinh khi Phật pháp và cho các Tỳ-kheo
đều không biết gì. Ni-kiền thôi tu, bỏ về lại ngoại đạo.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão quở trách, hỏi:
- Tại
sao Tỳ-kheo mười tuổi hạ mà không biết pháp? Không thể
vì đệ tử giải quyết được những nghi hoặc cho họ để
họ trở về lại ngoại đạo?!
Sự
việc này được các Trưởng lão bạch lên đức Phật, Ngài
dạy:
- Nếu
chính mình không biết pháp, mà cho người xuất gia thọ Cụ
túc giới, phạm Ðột-kiết-la.
Tỳ-kheo
nào thành tựu mười pháp mới được trao giới Cụ túc cho
người: Thành tựu giới, thành tựu oai nghi; Cẩn thận sợ
tội nhỏ; Ða văn, có khả năng thọ trì pháp Phật thuyết;
Tụng rành hai bộ Luật, phân biệt được nghĩa lý; Ðủ khả
năng dạy đệ tử tăng giới học, tăng tâm học, tăng tuệ
học; Có khả năng trừ nghi cho đệ tử, cũng khiến người
khác trừ nghi hoặc của họ; Có khả năng trị bệnh cho đệ
tử, cũng khiến người khác trị bệnh cho họ; Ðệ tử sanh
ác tà kiến có thể dạy cho họ bỏ, cũng có thể khiến người
khác dạy cho đệ tử bỏ; Nếu đệ tử quốc độ nào có
sự hiểu biết còn nông cạn, mơ hồ, thì có khả năng xoay
ý hướng cho họ, cũng có khả năng khiến người khác tác
động, xoay chuyển việc đó; Ðủ mười tuổi hạ, hay hơn
mười tuổi hạ.
Lại
phải thành tựu mười pháp khác, nên trao giới cho người:
Biết tội nặng; Biết tội nhẹ; Biết thô tội; Biết chẳng
phải thô tội; Biết tội hữu dư; Biết tội vô dư; Biết
tội có Yết-ma; Biết tội không Yết-ma; Biết nhân duyên của
tội; Ðủ mười tuổi hay hơn mười tuổi hạ.
Lại
phải thành tựu năm pháp khác, nên trao giới Cụ túc cho người:
Có khả năng dạy đệ tử tăng giới học; Tăng tâm học;
Tăng tuệ học; Xét kỹ việc làm của mình; Buộc niệm trước
mắt.
Lại
phải thành tựu năm pháp khác, ngoài ba pháp trên: Thông minh;
Biện tài.
Lại
thành tựu năm pháp khác, là: Giới thành tựu; Ðịnh thành
tựu; Tuệ thành tựu; Giải thoát thành tựu; Giải thoát tri
kiến thành tựu.
Lại
phải thành tựu năm pháp nữa, là: Có khả năng dạy đệ
tử Tăng thượng giới, tăng thượng phạm hạnh. Biết phạm,
biết không phạm. Biết sám hối, chưa sám hối. Ðủ mười
tuổi, hoặc hơn mười tuổi hạ, nên trao giới Cụ túc cho
người.
PHẢI
THƯA ÐỂ TĂNG BIẾT
Bấy
giờ, có một cậu bé được cha mẹ gửi đến nhà một thầy
để học chữ và các kỹ thuật. Ông thầy sai cậu bé làm
đủ việc, lại thường bị đánh đòn. Cậu bé bỏ ông thầy
về lại nhà. Cha mẹ lại la rầy, buộc con phải trở lại
nhà thầy. Trước cảnh này, cậu bé nghĩ: “Ông thầy hành
hạ ta, cha mẹ lại không bênh vực ta. Nay ta nên tìm cách nào
để thoát khỏi cái nạn này?! Chỉ có một cách xuất gia
thọ giới Cụ túc là yên”. Thực hiện ngay ý định, cậu
bé đến Tăng phường thưa với Tỳ-kheo:
- Cho
con xuất gia thọ Cụ túc giới.
Các
Tỳ-kheo chấp thuận và độ cậu bé này. Ông thầy giáo mất
học trò, đến hỏi cha mẹ. Cha mẹ cậu bé nói:
- Tôi
bảo nó trở lại thầy mà, chắc bỏ đi rồi!?
Thế
là cha mẹ cậu bé và ông thầy dạy học tìm kiếm khắp nơi...
Ðến Tăng phường hỏi các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo đều trả
lời không thấy. Thầy giáo và cha mẹ cậu bé đành bó tay
trở về.
Sau
đó, cậu bé này vào thành khất thực. Thầy giáo biết, cơ
hiềm:
- Sa-môn
Thích tử thường dạy không nói dối, tại sao độ người
làm lại là học trò của tôi, lại bảo là không thấy?!
Việc
này được các Trưởng lão quở trách, rồi bạch lên Phật.
Ngài dạy: “Không được độ người làm của kẻ khác”.
Ngài
lại dạy: “Từ nay nếu độ người nên dẫn đến từng
phòng để lễ Tăng, tự xưng tên họ để Tăng biết”.
KHÔNG
ÐƯỢC ÐỘ NGƯỜI MANG TRỌNG BỆNH
Bấy
giờ, người nước Ma-kiệt mắc phải bảy thứ bệnh nghiêm
trọng như, cả người mọc nhọt ghê tởm, ung thư, hủi trắng,
nửa người khô da quái gở, loang lỗ từng chấm đỏ, mỡ
chảy ra... Chữa trị những chứng này chỉ có Kỳ-vức55,
các thầy thuốc khác đều “thúc thủ”, nên Vua Bình-sa chỉ
thị cho Kỳ-vức rằng:
- Khanh
chỉ trị bệnh cho nội cung của trẫm và Tỳ-kheo, Tỳ-kheo
ni, không được trị cho người khác.
Do
thế, khiến cho bệnh nhân tìm cách xuất gia thọ giới Cụ
túc ngày một nhiều, và các Tỳ-kheo đều chấp thuận cho
xuất gia. Vì phải tìm dược thảo và bào chế thuốc để
chữa trị, nên các Tỳ-kheo bận rộn với công việc này,
bỏ bê việc hành đạo. Các bạch y rất bất mãn với việc
làm này, cơ hiềm chỉ trích:
- Các
Sa-môn như thầy thuốc, như đồ đệ của thầy thuốc, cứ
lo bào chế thang dược độ người trọng bệnh, không cân
nhắc người đáng độ hay không đáng độ, không có hạnh
Sa-môn, phá pháp Sa-môn...
Có
một Trưởng giả nọ, bỗng nhiên mắc phải bảy thứ trọng
bệnh này, đến nói với thầy thuốc Kỳ-vức:
- Thầy
chữa hộ bệnh cho tôi.
- Ngài
há không nghe lệnh nhà vua hay sao? - Kỳ-vức hỏi thế.
- Thầy
chữa bí mật, tôi sẽ trả cho thầy trăm ngàn tiền. - Trưởng
giả tha thiết xin.
Kỳ-vức
trả lời như ban đầu. Ông Trưởng giả đề nghị tặng thêm
200, 300, 400, 500 ngàn tiền vàng, cho đến giao cả gia tài sự
nghiệp và cả vợ con đều làm nô tỳ cho Kỳ-vức, nhưng
Kỳ-vức trước sau một mực tuân theo lệnh vua.
Trước
sự thể như thế, ông Trưởng giả nghĩ: “Ðến thế này
vẫn không có kết quả, thôi đành chọn con đường xuất
gia thọ Cụ túc giới”. Trưởng giả đến Tăng phường thưa
với các Tỳ-kheo, xin xuất gia thọ Cụ túc giới. Sau đó,
Kỳ-vức chữa trị một mạch bảy ngày các bệnh nhân đều
lành, trong đó có Trưởng giả. Bận rộn với công việc chữa
trị liên tục này, Kỳ-vức không còn đủ thì giờ chăm sóc
cho các bệnh nhân trong nội cung, có người phải chết.
Ông
Trưởng giả lành bệnh, sau đó lại hoàn tục, Kỳ-vức gặp,
hỏi:
- Ngài
đã xuất gia, tại sao lại bỏ đạo?
- Thật
sự tôi không có ý xuất gia. Do thầy không chịu chữa bệnh
cho tôi, nên tôi quyền biến xuất gia. Nay bệnh đã lành rồi,
tôi hoàn tục âu cũng là lẽ thường. - Trưởng giả thật
lòng trả lời.
Khi
ấy, Kỳ-vức đến chỗ Phật, trình bày lên Ngài đầy đủ
việc đã xảy ra, rồi thưa:
- Nếu
nhà vua biết việc này thì tội tôi không phải nhỏ. Nguyện
xin đức Phật dạy các Tỳ-kheo không nên độ người có trọng
bệnh.
Ðức
Phật vì Kỳ-vức nói các diệu pháp, rồi khiến ông lui về.
Sự
việc này dẫn đến Phật cấm các Tỳ-kheo độ người mang
trọng bệnh như vậy.
KHÔNG
ÐƯỢC ÐỘ QUÂN NHÂN TẠI CHỨC
Dưới
triều vua A-xà-thế có một kiện tướng, sức mạnh bằng
1.000 người. Người đời bấy giờ gọi là Thiên Nhơn lực
sĩ. Ông ta nhàm chán đời khổ, nên có suy nghĩ: “Các Sa-môn
Thích tử đều phụng hành chánh pháp, ta nên đến đó xuất
gia để dứt gốc khổ”. Thế rồi Thiên Nhơn lực sĩ đến
Tăng phường cầu độ, các Tỳ-kheo trao giới Cụ túc. Sau
đó, vua A-xà-thế ra lệnh động binh, nhưng không thấy Thiên
Nhơn lực sĩ trình diện. Nhà vua liền hỏi phần hành thuộc
quyền, họ tâu với vua:
- Không
biết Thiên Nhơn lực sĩ ở đâu.
Nhà
vua liền ra lệnh:
- Nếu
quân triều đình hội binh mà quân sĩ nào không đến, sẽ
dùng quân pháp trị tội.
Ngày
hội binh diễn ra, nhà vua hỏi:
- Kiện
tướng đến chưa?
- Tâu
Ðại vương, vị ấy chưa đến. - Quan coi quân thưa.
- Bộ
binh mà không có người này cũng như tượng quân không có
đệ nhất tượng. - Vua nói.
Khi
quân pháp đã giải tán thì mới nghe Sa-môn Thích tử độ
kiện tướng kia xuất gia. Nhà vua nổi giận, phán:
- Như
thế này thì không lâu nữa Sa-môn Thích tử sẽ độ hết
người trong các binh chủng triều đình.
Nhà
vua lại nghiêm cấm:
- Nếu
độ quân nhân sẽ chẻ gân cốt của vị Hòa thượng, cắt
lưỡi vị A-xà-lê, còn các Tăng khác trị tội thật nặng,
lấy cát lột da, đánh tám roi, đuổi ra khỏi nước.
Các
Trưởng lão biết việc này bạch Phật, Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Không
nên độ người thuộc nhà quan.
XIN
ÐƯỢC GIA TÀI CỦA CHA
Ngày
ấy, trời vừa sáng, đức Thế Tôn đắp y bưng bát đến
cung vua Tịnh-phạn. Khi ấy, mẹ của La-hầu-la dẫn La-hầu-la
lên lầu cao. Từ xa thấy Phật đi vào, bà hỏi:
- Con
có thấy Sa-môn kia không?
- Con
có thấy. - La-hầu-la thưa.
- Ðó
là cha của con. Con có thể đến đòi của cải. - Gia-du bảo
con như thế.
Ðức
Phật vào trong cung, ngồi nơi đất trống trước sân. La-hầu-la
chạy xuống lầu, đến chỗ Phật, đầu mặt kính lễ sát
chân rồi đứng trong bóng của đức Phật, thưa:
- Bóng
mát này thích quá! Nguyện Phật cho của cải của cha con.
- Con
nghĩ kỹ, có muốn được hay không? - Ðức Phật hỏi.
- Con
muốn được. - La-hầu-la thưa.
Ðức
Phật bèn dẫn La-hầu-la về trú xứ, bảo Xá-lợi-phất:
- Ông
có thể độ đứa nhỏ này.
- Bạch
Thế Tôn, trước đây Thế Tôn không cho phép nuôi hai Sa-di.
Con đã nuôi Châu-na rồi, không thể độ nữa. - Xá-lợi-phất
thưa.
- Nay
cho phép những người như ông, có khả năng giáo giới, được
nuôi hai Sa-di.
Khi
vua Tịnh-phạn nghe đức Phật đã độ La-hầu-la, lòng rất
ưu phiền, áo não. Vua đến chỗ Phật trình bày:
- Xưa
kia Phật xuất gia còn có Nan-đà, không làm cho tôi áo não
như vậy. Nan-đà đã lại xuất gia, tôi còn chút hy vọng ký
thác nơi đứa cháu này. Nay nó lại xuất gia, vấn đề kế
thừa việc nước việc nhà thế là đoạn tuyệt. Kẻ chưa
dứt được vọng tình, làm sao nhẫn chịu?!
Nhà
vua lại nhân trường hợp của mình, bạch Phật:
- Sự
luyến ái đối với con cháu còn hơn cốt tủy. Tại sao các
Tỳ-kheo lại lén dụ dẫn con của người ta độ để làm
đạo? Nguyện xin Phật từ nay ra lệnh cho các Tỳ-kheo: “Cha
mẹ không cho phép thì không được độ”.
Ðức
Phật vì nhà vua nói các pháp mầu, chỉ bày sự lợi ích khiến
được niềm vui. Nhà vua lui về.
Sau
khi kiểm vấn việc độ này của các Tỳ-kheo, đức Phật
bảo các Tỳ-kheo:
- Từ
nay cha mẹ không cho thì không được độ người xuất gia.
BÌNH
ÐẲNG KỂ CẢ THỨC ĂN
Lúc
bấy giờ, trong thành Vương-xá có một đại phú Trưởng giả
rất kính tín, mến mộ Phật pháp. Ông ta thường thết đãi
cơm cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Sau đó,
gia đình ông bị phi nhơn làm hại, chết chẳng còn ai, chỉ
còn lại hai đứa bé nghèo khổ cùng cực, thường lượm thức
ăn dư để sống. Vì trước kia thường gần gũi Tỳ-kheo,
nên hai đứa bé rất mến quý thầy, thấy Tỳ-kheo từ xa đã
chạy đến, cầm y bát, ngồi trên bắp vế Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo
sợ nhớp y bát nên tránh xa nó. Các Cư sĩ rất bất mãn hành
vi này, cơ hiềm chỉ trích:
- Nhà
ấy trước đây giàu có, tất cả Sa-môn không ngày nào không
đến. Nay thấy con người ta mồ côi mồ cút, bần cùng, Tỳ-kheo
lại tránh xa, không biết ơn nuôi dưỡng của họ. Chỉ có
thức ăn thì mới gần, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Các
Trưởng lão nghe và bằng nhiều cách quở trách các đương
sự, rồi bạch lên đức Phật. Ðức Phật hỏi A-nan:
- Hai
đứa bé kia đã bao nhiêu tuổi? Có thể đuổi quạ nơi nhà
ăn được chưa?
- Bạch
Thế Tôn, có thể được. Ðứa lớn 8 tuổi, đứa nhỏ 7 tuổi.
Sau
đó, hai đứa bé được độ và giữ phần việc đuổi quạ
nơi nhà ăn, nhưng các Tỳ-kheo không cho chúng ăn thức ăn chánh.
Các Cư sĩ cũng bất mãn việc này và phê phán:
- Các
Sa-môn thường khen ngợi sự bố thí, ăn bình đẳng. Nay độ
hai đứa bé này sai đuổi quạ mà không cho thức ăn chính.
Việc
này sau đó đức Phật dạy:
- Như
phần ăn mà Thượng tọa nhận được, phần Sa-di cũng như
vậy. Ðứa nhỏ đuổi quạ cũng cho nhận bình đẳng như thế.
PHI
NHƠN XUẤT GIA
Bấy
giờ, có một A-tu-la56 nhàm chán sanh, lão, bệnh, tử, khởi
lên ý nghĩ: “Sa-môn Thích tử phụng hành chánh pháp, tịnh
tu phạm hạnh. Ta nên đến đó xuất gia sẽ hết các gốc
khổ”. A-tu-la liền hóa thành hình người, đến Tăng phường
cầu xin xuất gia. Các Tỳ-kheo liền cho thọ Cụ túc giới.
Tân Tỳ-kheo này ăn phần ăn của một người đến bảy người
vẫn không no, ăn cả thức ăn dư của Tăng vẫn không đủ.
Khi
ấy, thành Vương-xá có hai vị Cư sĩ, cùng một ngày, mỗi
nơi mời 500 vị Tăng thọ trai. Các Tỳ-kheo cùng đến một
nhà, còn một nhà chỉ có Tỳ-kheo hóa thân đến mà thôi.
Tỳ-kheo này chỉ trong thoáng chốc đã ăn hết 500 phần ăn.
Các Cư sĩ cơ hiềm, nói:
- Tại
sao các Tỳ-kheo lại độ phi nhơn57?
Kẻ
hóa thân người kia biết thiên hạ đã biết về mình rồi,
liền trở về vị trí cũ.
Các
Tỳ-kheo Trưởng lão biết việc này, bạch Phật. Ðức Phật
dạy:
- Ở
trong giáo pháp của Ta, phi nhơn không phục sinh, không nên cho
xuất gia thọ Cụ túc giới. Nếu đã thọ Cụ túc giới thì
nên diệt tẫn. Khi thọ giới Cụ túc, nên hỏi: “Ngươi có
phải là phi nhơn không?”.
CẦN
GIẢI QUYẾT TẾ NHỊ
Khi
ấy, có một Tỳ-kheo nam căn biến mất, nữ căn lại hiện
ra. Các Tỳ-kheo không biết phải giải quyết thế nào, bạch
Phật. Ðức Phật dạy:
- Nên
dùng vấn đề thọ giới, vấn đề thỉnh sư, vấn đề tuổi
tác của đương sự chuyển qua trú xứ Tỳ-kheo ni, y theo pháp
Tỳ-kheo ni mà sống. Nếu trước kia phạm cộng giới của
Tỳ-kheo ni58thì nên hối quá trong Tỳ-kheo ni. Nếu trước kia
phạm giới bất cộng thì khỏi phải hối quá. Tỳ-kheo ni
biến căn thì giải quyết ngược lại.
Bấy
giờ, có một Tỳ-kheo bị lửa dục thiêu đốt, không thể
kham nhẫn, tự chặt đứt “nam căn” của mình. Việc này
được các Tỳ-kheo bạch lên Phật. Ngài quở trách Tỳ-kheo
đương sự:
- Ngươi
là người ngu si, cái không nên chặt lại chặt, cái nên chặt
lại không chặt.
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
chặt cái đầu âm cho đến phân nửa “hình” thì phạm Ðột-kiết-la.
Nếu chặt hết, phạm Thâu-lan-giá. Nếu khử đi một tinh hoàn,
phạm Thâu-lan-giá. Nếu khử đi hai tinh hoàn thì nên diệt
tẫn. Nếu bị ác thú hoặc bị oan gia làm hại và tự thối
nát hư hoại mà không phục hồi khả năng người nam nữa,
đều nên diệt tẫn.
TÔN,
TY
Bấy
giờ các Tỳ-kheo ngồi không có trên dưới, không cung kính
nhau, các Cư sĩ thấy cơ hiềm, nói:
- Bọn
sa-môn này ngồi không biết thượng, trung, hạ, không có lớn
nhỏ. Họ không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Các
Trưởng lão Tỳ-kheo nghe việc này bạch Phật. Nhân chuyện
này, trước Tăng đức Phật mượn câu chuyện quá khứ để
giáo giới:
- Ðời
xa xưa ấy, bên bờ biển nọ có cây Ni-câu-luật59, bóng cây
che phủ cả 500 cỗ xe. Bấy giờ, có ba con thú ở nơi cây
này: một là chim trĩ, hai là con khỉ lớn, ba là con voi. Tuy
là thân hữu nhưng chúng không có tôn kính nhau. Sau thời gian,
chúng thảo luận: “Chúng ta đã là thân hữu, tại sao lại
không kính nhau? Nên dựa theo năm, ai lớn hơn là tôn, ai nhỏ
hơn là ty”. Cả ba đồng ý như vậy nên trĩ và khỉ hỏi
voi:
“Bạn
nhớ việc lâu xa của cây này như thế nào?”
“Tôi
nhớ cây này khi ấy cao mới ngang bụng tôi”. - Voi trả lời.
Voi,
trĩ hỏi khỉ lớn, khỉ bảo:
“Tôi
nhớ khi ấy tôi đứng thẳng thì cắn tới đọt cây này”.
Voi
và khỉ lại hỏi trĩ, trĩ bảo:
“Tôi
nhớ xưa kia ở nơi chỗ đó, tôi ăn hạt cây này, rồi đến
đây nhả ra, hạt ấy mọc lên cây này”.
Sự
nhớ lại này đã giúp cho cả ba thống nhất việc suy cử
tôn ty: Chim trĩ là lớn, con khỉ lớn là bậc trung, voi là
nhỏ nhất.
Khi
cần đi, con khỉ cõng con chim trĩ, con voi cõng khỉ lớn. Con
trĩ dạy hai con kia làm 10 thiện nghiệp, chúng đều vâng làm
theo. Người đời nghe, đều ghi nhận sự giáo hóa đó, bèn
gọi hành thiện là trĩ phạm hạnh. Người hành pháp đó khi
mạng chung được sanh lên cõi trời.
Này
các Tỳ-kheo! Súc sanh còn biết có tôn ty, huống là trong chánh
pháp của Ta lại không có sự tương kính hay sao? Từ nay các
ông, người nào thọ giới Cụ túc trước, nên thọ chỗ ngồi
thứ nhất, vật cúng thứ nhất, được cung kính lễ bái thứ
nhất. Nên phụng hành như vậy.
BỐ-TÁT
THUYẾT GIỚI1
Bấy
giờ, Kiếp-tân-na ở núi Ất-sư-la khởi lên ý nghĩ: “Nay
ta có nên đến chỗ Tăng hợp lại để Bố-tát không?”.
Nhưng, Kiếp-tân-na lại nghĩ: “Ta thường thanh tịnh, phiền
gì phải đến Bố-tát”.
Ðức
Phật khi ấy trú ngụ ở thành Vương-xá, biết ngay ý nghĩ
này của Kiếp-tân-na, Ngài liền biến mất nơi đây, rồi
xuất hiện trước mặt Kiếp-tân-na, ngồi nơi tòa và bảo:
- Thầy
chớ nên nghĩ: “Ta thường thanh tịnh, phiền gì phải đến
Bố-tát”. Nếu thầy không đến, không cung kính Bố-tát thì
ai cung kính?
Thế
Tôn dạy như vậy, rồi bèn cùng Kiếp-tân-na cùng biến mất
và hiện ra nơi thành Vương-xá...
Nhân
việc này, đức Phật cho tập hợp Tỳ-kheo Tăng, nói lên điều
Kiếp-tân-na suy nghĩ rồi bảo các Tỳ-kheo:
- Nay
cho phép các Tỳ-kheo hòa hợp Bố-tát. Nếu ai không đến,
phạm Ðột-kiết-la. Một Tỳ-kheo biết pháp, hoặc Thượng
tọa, hoặc vị ngang bằng Thượng tọa bạch:
“Ðại
đức Tăng xin lắng nghe! Hôm nay là ngày thứ 15 Bố-tát thuyết
giới, Tăng nhất tâm tác pháp Bố-tát thuyết giới. Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận thì đây là
lời tác bạch”.
“Các
Ðại đức! Nay Bố-tát nói Ba-la-đề-mộc-xoa, tất cả cùng
nhau khéo nghe và suy niệm. Nếu có tội, nên phát lồ, không
tội thì im lặng. Do sự im lặng nên biết tôi và các Ðại
đức thanh tịnh, như bậc Thánh im lặng, tôi và các Ðại
đức cũng như vậy”.
Tỳ-kheo
nào trong chúng xướng lên như vậy cho đến ba lần, nhớ có
tội mà không phát lồ thì phạm tội cố ý vọng ngữ. Tội
cố ý vọng ngữ, đức Phật nói đó là pháp làm cản trở
đạo nghiệp. Người phát lồ thì được an lạc.
Ðức
Phật dạy có năm cách Bố-tát, năm cách thuyết giới.
Năm
cách Bố-tát là:
1-
Tâm niệm miệng nói Bố-tát.
2-
Hướng đến người khác (Tỳ-kheo) nói tịnh.
3-
Rộng hay lược thuyết giới.
4-
Tự tứ Bố-tát
5-
Hòa hợp Bố-tát.
Năm
cách thuyết giới là:
1-
Nói bài tựa của giới rồi, ngoài ra nói các điều chư Tăng
thường nghe.
2-
Nói bài tựa của giới và bốn đọa pháp rồi, ngoài ra nói
các điều chư Tăng thường nghe.
3-
Nói bài tựa của giới... cho đến 13 việc rồi, ngoài ra nói
các điều chư Tăng thường nghe.
4-
Nói bài tựa của giới... cho đến 2 pháp bất định, ngoài
ra nói các điều chư Tăng thường nghe.
5-
Nói đầy đủ các giới.
BÊN
LỀ BỐ-TÁT
Ðến
ngày Bố-tát, các Cư sĩ đem thức ăn đúng thời, đồ uống
đúng thời, thuốc2 bảy ngày3, thuốc trọn đời4 đến Tăng
phường cúng dường, đồng thời nghe pháp, thọ tám phần
giới (Bát quan trai). Các Tỳ-kheo lại hững hờ đối với
sự cúng dường này, Cư sĩ nổi giận mang về. Việc thiếu
tế nhị này được các Tỳ-kheo bạch lên đức Phật, Ngài
dạy:
- Thượng
tọa nên khiến Hạ tọa quét đất, lấy nước, khiến bảo
Tịnh nhơn lấy vật dụng đựng phẩm vật Cư sĩ cúng.
Các
Tỳ-kheo thọ trai hết phần, không ngó ngàng gì đến Cư sĩ
khách. Khách bất mãn, chê trách nói:
- Sa-môn
Thích tử thường khen ngợi bố thí, chỉ biết nhận bố thí
của người, chứ chẳng biết bố thí cho ai.
Việc
này sau đó được Phật dạy:
- Nên
trao thức ăn để khách dùng. Nên có đồ đựng, đựng thức
ăn mời họ, không nên bỏ vào tay họ...
Sau
khi dùng bữa xong, Thượng tọa hay vị ngang bằng Thượng tọa
vì họ nói pháp và chú nguyện.
XIN
ÐỢI CHO TÔI MỘT CON BÓNG...
Thuở
ấy, vua Ưu-đà-diên rành về khoa tướng số và phu nhân của
nhà vua tên là Nguyệt Quang, dung nhan cực kỳ dịu dàng xinh
đẹp; lời ca, tiếng hát, điệu múa... không ai hơn được.
Một hôm, trên lầu thượng múa cho nhà vua xem, nhà vua nhìn
thấy tướng tử nơi Nguyệt Quang hiện ra, sự sống không
thể kéo dài quá một năm. Nhà vua không vui khi thấy với nhan
sắc ấy mà “yểu mệnh”. Nhìn thấy nỗi buồn của vua
hiện ra, phu nhân hỏi:
- Thiếp
múa không hay lắm phải không? Vậy hoàng thượng buồn chuyện
gì?
- Không
nên hỏi ta điều ấy. - Nhà vua trả lời.
Dù
vậy, phu nhân vẫn hỏi đến ba lần. Nhà vua không từ chối
được, vua đành phải nói rõ sự thật phũ phàng kia. Phu nhân
tâu:
- Nếu
thật vậy thì cho phép thiếp xuất gia.
- Ta
và phu nhân thương yêu và kính trọng nhau rất mực, dù chết
cũng không lìa nhau, hãy trọn vui với cái vui ít ỏi còn lại.
Sao vội sống lìa nhau?! - Nhà vua tâm sự.
- Hoàng
thượng! Nhiễm chỉ một chút vinh hoa của đời là mê muội
đạo nghiệp! Ðây là việc bức xúc, trì hoãn chỉ đem lại
sự khổ đau cho nhau. Xin hoàng thượng dũ lòng thương cho thiếp
xuất gia. - Phu nhân tha thiết xin.
- Phu
nhân còn nhỏ mà tu đạo với quyết tâm sáng suốt thì chắc
được sanh thiên. Nếu trở lại làm người, mong sao chúng
ta gặp lại nhau. Việc xuất gia, thôi thì tùy ý phu nhân chọn
lựa. - Nhà vua cho phép.
- Nguyện
này nếu được thành, xin thề không trái hứa. - Phu nhân thề.
Ngày
phu nhân xuất gia, nhà vua cũng rất não lòng.
Hành
đạo không bao lâu, phu nhân chứng được quả A-na-hàm thì
mạng sống cũng liền chấm dứt. Bà sanh lên cõi trời Phạm
Thiên. Khi ấy, bà khởi niệm: “Ta được xuất gia là nhờ
ân của vua, trọng ân ấy nên trả thì lời thề ước mới
trọn”.
Người
cõi trời kia xuống lại vương cung, đứng trong hư không, nói
với nhà vua:
- Nguyệt
Quang phu nhân tức là thân của tôi đây, trước đây có hứa
với nhà vua cho nên trở xuống lại, đây là để tỏ lòng
thành tín.
- Tôi
không biết được thân loài trời, nên cô có thể hiện lại
thân Nguyệt Quang ngày nào không? - Nhà vua yêu cầu.
Người
cõi trời liền biến thành thân hình ngày xưa, đứng trước
nhà vua. Nhìn thấy lại dáng người xưa, lòng vua lại nặng
tình thương mến, tiến sát đến định ôm lấy Nguyệt Quang,
nhưng người ấy liền bay lên hư không, nói với vua rằng:
- Tại
sao nhà vua vẫn quen theo nếp sống ái dục? Dục là vô thường,
khổ, không, bất tịnh. Suy nghĩ hiểu ra được nghĩa này thì
có thể giải thoát. Không hiện thực được điều này, chắc
chắn đọa vào ba đường ác. Khi ấy, tự thân có cải thiện
được cũng là điều khó!
Nhà
vua nghe lời ấy, tâm liền nhu thuận, ý thức được vấn
đề. Sau đó, nhà vua không còn vướng bận đến ngôi vua nữa,
liền giao ngôi vua cho thái tử để xuất gia học đạo.
Nhà
vua đến một khu rừng vắng, cách vương thành không xa, ngồi
tu ở đây. Thái tử thấy vua cha xuất gia mà không tu ở một
nơi xa hẳn, nên thái tử nơm nớp sợ cha còn hối tiếc, quay
trở lại đoạt ngôi. Do thế, thái tử ngỏ lời xin phụ vương
rời đi một nơi khác thật xa vương thành.
Trước
lời đề nghị này, nhà vua suy nghĩ: “ Nay ta làTỳ-kheo phụng
hành lời Phật dạy mà chưa thấy được đức Phật, nay đến
đó để đảnh lễ đức Thế Tôn”, nghĩ rồi ra đi. Khi tân
vương, quần thần, Bà-la-môn đứng trên lầu cao nhìn thấy
nhà vua rời khu rừng đi ra, lòng họ rất vui mừng. Ði được
một đoạn đường ngắn, nhớ lại cái tọa cụ để quên,
nhà vua quay trở lại để lấy. Các Bà-la-môn lại nói với
tân vương rằng:
- Nhà
vua đã trở lại, đó là mối nguy lớn cho tân vương.
Nghe
lời sàm tấu, tân vương đâm hoảng, sợ mất ngôi liền ban
lệnh cho các quan:
- Hãy
đến giết Tỳ-kheo kia và giết tất cả Sa-môn Thích tử khác.
Vua
lại ra lệnh:
- Nếu
người đó sợ chết, dựng nên nhiều cớ để xin đến gặp
ta thì cũng không quên thi hành lệnh giết tức khắc.
Kẻ
thi hành lệnh đi ngay đến chỗ Tỳ-kheo, hối hả nói:
- Lệnh
của tân vương phải giết ngài!
- Tại
sao lại giết tôi? - Tỳ-kheo hỏi.
- Do
ngài đi rồi lại quay trở lại, tân vương hoảng hồn, sợ
ngôi vua của mình bị cướp nên hạ lệnh giết.
- Tôi
không tham vương vị, vì quên tọa cụ nên quay lại để lấy.
Như vậy, chuyện gì phải giết tôi?!
- Lệnh
của nhà vua là phải giết, không có chuyện nài nỉ, van xin,
trì hoãn để mong gặp mặt vua. Lệnh như thế làm sao tôi
không thi hành ngay được?
- Tôi
xuất gia nhưng sở cầu chưa đạt, xin người hoãn cho tôi
một chút, chỉ cần đợi bóng cây kia đến đây là đủ.
Kẻ
thi hành lệnh chấp thuận. Tỳ-kheo vua cha mắt nhắm lại,
tập trung tư duy trong chánh định, liền đắc quả Tu-đà-hoàn.
Khi con bóng vừa ngã đến, kẻ thừa lệnh nói:
- Bóng
cây đến sát rồi đó!
- Xin
hoãn cho tôi một con bóng, vì sở cầu của tôi cần đạt
thêm.
Kẻ
thừa lệnh chấp thuận và ngay sau đó chấp thuận thêm hai
khoảng thời gian ngắn ngủi nữa, Tỳ-kheo vua cha mới đạt
được sở cầu trọn vẹn, đó là chứng được bốn quả
Sa-môn: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán.
Chứng
quả xong, Tỳ-kheo vua cha nói với kẻ thừa hành:
- Ngươi
có thể thi hành lệnh, rồi trở về báo cáo với vua của
ngươi rằng: “Ta không tham vương vị, vì quên tọa cụ nên
quay trở lại để lấy mà thôi. Vua của ngươi vì việc này
mà giết ta, tức là giết cha, giết A-la-hán. Ta nghĩ: Người
ấy sẽ thọ đại khổ lâu dài”.
Vừa
nói dứt lời, Tỳ-kheo vua cha trút hơi thở cuối cùng. Khi
kẻ thừa lệnh giết trở về, vua hỏi:
- Ngươi
đã giết chưa?
- Tâu
hoàng thượng đã giết rồi.
- Phụ
vương trước khi lâm chung có nói lời gì không?
Kẻ
thừa lệnh thở dài, nghẹn ngào tâu lại đầy đủ diễn
tiến cảnh giết Tỳ-kheo. Nghe lời nhắn gửi của cha - qua
lời thuật - huyết từ trong miệng tân vương phụt ra. Rõ
ràng tân vương còn sống mà thân đã vào địa ngục.
Trong
thời gian này, vua Bình-sa cùng các lân quốc nghe báo cáo lệnh
giết hết Sa-môn Thích tử, liền hạ lệnh cho các tướng
sĩ bảo vệä Tỳ-kheo. Thi hành sắc lệnh, các tướng sĩ thành
Vương-xá cẩn mật không rời Tỳ-kheo. Ðến nổi, ngày thứ
15 Bố-tát, Tăng tập hợp đến 500 người đề nghị tướng
sĩ nên lui ra, song các tướng sĩ trả lời:
- Chúng
tôi vâng lệnh của đại vương không được tạm rời quý
vị, đâu dám trái lệnh của đại vương!
Việc
này không biết giải quyết thế nào, Tỳ-kheo bạch lên Phật,
Ngài dạy:
- Nếu
họ không chịu đi tránh ra ngoài chỗ Bố-tát, thì Tăng chỉ
nói tựa của giới rồi nói tiếp những việc kia Tăng thường
nghe.
MÙA
HẠ TRUYỀN THỐNG1
Hồi
ấy, các Tỳ-kheo Xuân, Hạ, Ðông đều đi du hành, nhất là
vào mùa mưa, đạp chết trùng cỏ, y vật ướt sũng, mang theo
đường nặng nề, trông thật gian khổ và lắm điều phiền
toái... Các Cư sĩ nhìn thấy cảnh này, bất mãn nói:
- Các
ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn đến mùa Hạ trong năm còn biết
dừng nghỉ tránh mưa, các loài chim cũng thế, chúng làm tổ,
làm hang để tạm trú cho yên. Ngược lại, các Tỳ-kheo không
biết ba mùa, mùa nào nên du hành, mùa nào không nên du hành.
Các Tỳ-kheo thường nói thiểu dục, từ mẫn, hộ niệm chúng
sanh, mà nay dẫm đạp lên chúng sanh, không có tâm nhân từ,
trắc ẩn, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Sự
việc này được bạch lên đức Phật, lúc bấy giờ Ngài
lưu ngụ tại thành Xá-vệ, Ngài dạy:
- Từ
nay, cho phép an cư vào mùa Hạ2. Và đây là điều bắt buộc
chúng Tăng phải thi hành để trưởng dưỡng sự tu tập.
TƯỞNG
“Á PHÁP” LÀ HAY1
Lúc
bấy giờ, nơi trú xứ nọ có số đông Tỳ-kheo an cư. Các
thầy có cùng quan điểm là an cư phải thực hiện quy chế
như vầy: “Chúng ta nếu cùng nhau nói năng trao đổi thì thêm
việc này, bớt việc nọ, sanh ra nhiều việc rối rắm, phiền
phức. Chi bằng nên cùng nhau thống nhất làm theo quy chế là
chớ nên có lời lẽ gì với nhau, đóng cửa miệng lại. Ai
khất thực về trước thì lau quét, rưới nước bụi chỗ
dọn ăn, lấy nước đầy bình, đặt khăn lau tay lau chân vào
vị trí, trải các tọa cụ, lấy sẵn đồ đựng thức ăn
dư, lường thức ăn, có dư thì sớt bớt để vào đó, người
nào ăn thiếu thì lấy đó mà ăn, ăn rồi theo thứ tự dọn
dẹp. Nếu một mình không thể làm được thì ra dấu nhờ
bạn cùng làm. An cư mà như vậy là được sống an lạc, không
mắc phải cái họa đúng-sai, phải-quấy”.
Mùa
an cư nơi trú xứ ấy, các thầy thực hiện theo pháp của
người câm (á pháp) rồi cũng qua nhanh.
Theo
thường pháp của chư Phật, mỗi năm có hai lần đại hội(trước
hạ và sau hạ). Các Tỳ-kheo ra hạ đều về hầu thăm đức
Phật, lúc bấy giờ đức Phật trú ngụ ở tinh xá Kỳ-hoàn,
Xá-vệ. Khi đến chỗ Phật, các Tỳ-kheo an cư ở trú xứ
ấy, đầu mặt lễ túc rồi ngồi qua một bên. Ðức Phật
an ủi, hỏi:
- Các
thầy an cư có hòa hợp không? Khất thực không thiếu, trên
đường về đây không vất vả chứ?
- Bạch
Thế Tôn! Chúng con an cư hòa hợp, khất thực không thiếu,
trên đường đi không nhọc nhằn. - Các Tỳ-kheo thưa.
- Các
thầy an cư bằng cách nào để được hòa hợp? - Ðức Phật
hỏi.
Các
Tỳ-kheo trả lời đầy đủ như trên. Ðức Phật bằng mọi
hình thức quở trách:
- Các
thầy ngu si, giống như oan gia sống với nhau, làm sao có được
sự hòa hợp, an lạc?! Ta đã sử dụng nhiều phương cách
dạy các thầy chung sống, điều cần thiết là phải nhắc
nhở, giáo giới cho nhau, xây dựng, giác ngộ cho nhau để làm
tròn đạo nghiệp. Tại sao nay các thầy lại thực hành “á
pháp”? Từ nay nếu thực hiện cái pháp câm, không cùng trao
đổi nhau bằng lời sách tấn thì phạm Ðột-kiết-la.
ÐÂY
LÀ LỜI THƯA
Có
một trú xứ, chúng Tăng an cư sau ba tháng đều thọ đắc
sự chứng ngộ. Các thầy khởi lên ý niệm: “Nếu đủ ba
tháng mà Tự tứ để di chuyển thì niềm vui chứng đạo mất
đi”. Các thầy đem suy nghĩ này đến bạch Phật, lúc Ngài
đang trú ngụ trong Kỳ-hoàn. Ðức Phật dạy:
- Nay
cho phép các Tỳ-kheo ngày Tự tứ sau ba tháng, tập hợp lại
một chỗ, sai một Tỳ-kheo xướng:
“Ðại
đức Tăng xin lắng nghe! Chúng ta an cư nơi đây đều rất
thỏa lòng, an vui và thích thú. Nếu lại Tự tứ ra đi thì
mất niềm vui này. Nay đình chỉ việc này đến tháng 8, đủ
4 tháng Tự tứ luôn. Ðây là lời thưa trước Tăng cho việc
làm của chúng ta”.
CÒN
THIẾU MỘT1
Khi
đức Phật ở tại thành Xá-vệ, lúc bấy giờ, người nhũ
mẫu tắm rửa cho Kỳ-vức2 thấy rõ tướng của Kỳ-vức,
bà biểu lộ sắc mặt đượm buồn. Kỳ-vức nhìn qua liền
hỏi mẹ:
- Tại
sao mẹ nhìn con với dáng vẻ buồn vậy?
- Mẹ
buồn vì trên thân con có tướng thù đặc mà tâm ý con chưa
được gần Phật, Pháp, Chúng Tăng. - Nhũ mẫu trả lời.
Kỳ-vức
nghe
thế, khen: