Phần
06
Pháp
hối quá
Yết-
ma học gia
Cần
phải học
Trái
táo khô
Một
trọng tội
Hắc-ly-xa
Kiện
tụng- một bài học
Dụ
khị
Sao
lắm chuyện thế
Tỏi
hôi lắm
Xin
tránh ra xa
Nữ
kê tác quái
Thể
thức nuôi chúng
Phải
biết cách độ người
Cái
giá được phục chức
Oan
gia đâu có khác gì
Lành
thay Đến đây-Tỳ kheo
PHÁP
HỐI QUÁ1
Trong
thành Xá-vệ, lúc bấy giờ có Ưu-bà-di tên là Hòa-già-la-mẫu
rất yêu mến, kính trọng Phật pháp, thường cúng dường
Sa-môn, được nhiều người ca tụng. Về sau, bà xuất gia
sống thiểu dục, tri túc nhưng vẫn coi sự cúng dường làm
đầu. Ngày ấy, trên đường khất thực về, gặp một Tỳ-kheo,
bà hỏi:
- Thầy
đi đâu vậy?
- Ði
khất thực. - Tỳ-kheo đáp.
- Thầy
có thể nhận thức ăn này của con không? - Bà thưa.
- Có
thể nhận. - Tỳ-kheo đáp.
Bà
liền dâng cúng. Sau đó lại đến một gia đình khất thực.
Có
hai Tỳ-kheo trao đổi với nhau:
- Tỳ-kheo
ni Hòa-già-la-mẫu2 có khả năng nhận được thức ăn, nên
đến đó nhận.
Quả
thật, Tỳ-kheo ni này khất thực được bao nhiêu đều cúng
dường hết cho các Tỳ-kheo nào đến chỗ bà“khất thực”.
Khất thực lần chót trong buổi sáng mang về, lại gặp một
Tỳ-kheo. Tỳ-kheo ni Hòa-già-la-mẫu cũng hỏi như các lần
trước và cũng trao cúng nốt.
Quay
về lại trú xứ với bát rỗng không. Tỳ-kheo ni đành nhịn
đói.
Các
Tỳ-kheo sau khi ăn xong, tập hợp lại bàn thảo với nhau:
- Tỳ-kheo
ni ấy may mắn, có thể nhận được nhiều thức ăn, hằng
ngày cứ đi theo cô ni này là được.
Sáng
ngày hôm sau, Tỳ-kheo ni vào tụ lạc khất thực, được bao
nhiêu thức ăn đều cúng hết cho các Tỳ-kheo theo bước mình.
Ngày thứ hai, cô ni lại nhịn đói. Ngày thứ ba tình huống
cũng giống như hai ngày trước.
Sáng
ngày thứ tư vẫn đi khất thực, Tỳ-kheo ni ở trong tình trạng
hoa mắt, vội tránh chiếc xe ngựa chở Trưởng giả nên lảo
đảo té nhào.
Trước
đó vua Ba-tư-nặc có ban lệnh: “Trong nước, ai khinh mạn
Sa-môn Thích tử sẽ trị tội nặng”. Trưởng giả nhìn thấy
Tỳ-kheo ni ngã nhào, liền xuống xe đỡ Tỳ-kheo ni lên, xin
lỗi:
- Xe
tôi đâu có đụng vào cô, sao cô lại té như vậy?
Cô
ni thều thào nói:
- Thật
sự xe ông không đụng vào tôi, song vì tôi bị đói nên xỉu
té.
- Cô
khất thực không được hay sao? - Trưởng giả hỏi.
- Thức
ăn tôi khất thực được đều đem cúng hết cho các Tỳ-kheo,
nên đưa đến tình trạng xấu này. - Cô ni bảo thế.
- Xin
cô nhận thức ăn của tôi đây cũng được.
Trưởng
giả dâng cúng, cô ni im lặng thuận nhận. Nhận rồi, lại
cũng đem cúng cho các Tỳ-kheo.
Khi
ông Trưởng giả xuống xe, dân chúng vây quanh rất đông và
biết sự việc trên, họ rất cơ hiềm: “Tuy Tỳ-kheo ni này
dâng cúng hết lòng, không so tính, nhưng người thọ nhận
phải biết suy nghĩ chứ! Bọn người này thường nói thiểu
dục, tri túc nhưng lại tham lam, nhận thức ăn của người
đồng đạo cúng dường khiến cho cô ni phải khốn đốn thế
này!”.
Lời
oán trách này đến tai các Trưởng lão Tỳ-kheo, bằng cách
vạch rõ các sai lầm cho các Tỳ-kheo đương sự thấy, sau
đó bạch lên Phật. Trước Tăng, sau khi quở trách, Phật dạy:
- Nay
Ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp Ba-la-đề đề-xá-ni. Từ nay,
giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đến Tỳ-kheo
ni nhận thức ăn thì Tỳ-kheo ấy nên hướng đến các Tỳ-kheo
nói lên lời hối tội: Tôi bị phạm vào pháp đáng quở trách,
nay hướng đến các Ðại đức nói lên lời ăn năn.” Như
vậy gọi là pháp hối quá.
Giới
này về sau tuỳ khai, cho phép Tỳ-kheo nhận thức ăn của Tỳ-kheo
ni bà con, và Tỳ-kheo bệnh được nhận thức ăn của Tỳ-kheo
ni không phải thân tộc.
YẾT-MA
HỌC GIA
Lúc
bấy giờ, đức Phật ở tại nước Câu-xá-di, chuyện xảy
ra như sau:
Trưởng
giả Cù-sư-la có lòng tin kính Phật pháp sâu đậm, nhận thức
được pháp và đắc quả, thường cúng dường Phật và Tỳ-kheo
Tăng. Sau một thời gian dài, kinh tế Cù-sư-la suy sụp, dẫn
đến phá sản kiệt quệ. Bà con quen biết gia đình Trưởng
giả đều mang thức ăn đến cứu đói. Dù vậy, các Tỳ-kheo
vẫn đến nhà ông ta lấy thức ăn đầy bát mang đi. Người
trong gia đình Cù-sư-la không chịu nổi sự đói khổ. Kẻ
láng giềng thấy vậy, đều cơ hiềm rằng: “Người bố
thí tuy không nhàm chán, nhưng kẻ thọ nhận phải biết thế
nào là đủ chứ! Tại sao vì miếng ăn mà làm tổn hại đến
gia đình người ta?! Tài sản của họ khánh tận, chúng ta
mang thức ăn đến cứu giúp họ, cớ sao Tỳ-kheo vẫn đến
cắt xén phần ăn của người ta?! Không có hạnh Sa-môn, phá
pháp Sa-môn”.
Lời
chỉ trích này đến tai các Trưởng lão Tỳ-kheo, các vị quở
trách, rồi bạch Phật.Trước Tăng, Ngài dạy:
- Nay
Ta cho phép các Tỳ-kheo vì Trưởng giả Cù-sư-la tác pháp Học
gia3 bằng bạch nhị Yết-ma, không cho phép một Tỳ-kheo nào
đến nhà Trưởng giả ấy. Nên sai một Tỳ-kheo xướng lên
giữa Tăng:
“Ðại
đức Tăng xin lắng nghe! Trưởng giả Cù-sư-la này, do các
Tỳ-kheo thường lui tới nhà ông ta nhận các thức ăn đầy
bát mang về, không lưu lại cho chủ, đến nỗi gia đình này
tài vật dẫn đến khánh kiệt. Nay tác pháp Học gia Yết-ma,
không cho phép bất cứ Tỳ-kheo nào đến nhà ấy. Nếu Yết-ma
này là thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận thì đây
là lời thưa”.
Lại
Yết-ma chung quyết:
“Ðại
đức Tăng xin lắng nghe! Trưởng giả Cù-sư-la này do các Tỳ-kheo
thường lui tới nhà ông ta nhận thức ăn đầy bát mang về,
không lưu lại cho chủ, đến nỗi gia đình Trưởng giả tài
vật dẫn đến khánh kiệt. Nay tác pháp Học gia Yết-ma, không
cho phép bất cứ Tỳ-kheo nào đến nhà ông ta. Các Trưởng
lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không chấp thuận
thì xin nói... Tăng đã đồng ý tác pháp Học gia cho Trưởng
giả Cù-sư-la rồi. Vì Tăng đồng ý nên im lặng. Việc như
vậy phải nghiêm chỉnh thi hành đúng như vậy”.
Ðể
tránh trường hợp như đã xảy ra, các Tỳ-kheo lại tác pháp
Yết-ma Học gia cho các nhà khác, rồi bạch Phật. Ðức Phật
dạy:
- Không
cho phép tác pháp Yết-ma Học gia cho các nhà khác một cách
bừa bãi. Nếu vợ là Thánh nhơn, chồng là phàm phu; hay vợ
là phàm phu, chồng là Thánh nhơn đều không nên tác pháp Yết-ma
Học gia. Trường hợp cả vợ lẫn chồng đều là bậc Thánh,
không còn tâm bỏn sẻn, mà tài vật khánh tận thì mới tác
pháp Học gia Yết-ma.
Sau
đó, Trưởng giả Cù-sư-la rất ngạc nhiên không thấy một
vị Tỳ-kheo nào đến nhà mình nữa, nên ông đến Tăng phường
thưa với các Tỳ-kheo:
- Tôi
quy ngưỡng ba ngôi báu, chứ đâu có cầu mong phước điền
nào khác. Xin các Ðại đức hoan hỷ lui tới nhà con để con
được học hỏi.
Lời
yêu cầu này được các Tỳ-kheo bạch lên Phật. Phật cho
phép đến. Các Tỳ-kheo đến thăm nhưng từ chối không nhận
thức ăn cúng dường của Cù-sư-la. Sau đó, các Tỳ-kheo bạch
lên Phật lời thỉnh mời của Cù-sư-la xin cúng thức ăn cho
Tăng. Ðức Phật lại cho phép Tỳ-kheo đến thăm và nhận
thức ăn chỉ một phần ba bình bát.
Tuy
sự cúng dường lần này có mức độ, song vì do Tăng đến
thăm đông nên gia đình Trưởng giả kiệt quệ nặng hơn trước.
Khi
sự việc này trình lên Phật, và trước Tăng Ngài kiết pháp
Ba-la-đề-đề-xá-ni như vầy:
- Có
các Học gia, Tăng đã tác pháp Yết-ma Học gia; nếu Tỳ-kheo
nào nhận thức ăn nơi các Học gia đó thì nên đến các Tỳ-kheo
khác nói lên lời hối tội rằng: “Tôi bị phạm vào phép
đáng quở trách. Nay đến các Ðại đức nói lời ăn năn”.
Như vậy gọi là pháp Hối quá.
Giới
này sau đó tuỳ khai, cho phép Tỳ-kheo bệnh nhận không phạm,
cũng như một vài trường hợp tế nhị khác.
Ðức
Phật còn dạy các Tỳ-kheo tìm phương tiện giúp đỡ những
gia đình Học gia bị khánh tận, cụ thể như: Tăng có ruộng
vườn nên cho họ quản lý để họ nhờ phần thặng dư. Nếu
không có ruộng vườn, khi Tăng có món cúng dường nào khác
thì khiến Học gia kia làm sứ giả để họ nhờ phẩm vật
dôi ra. Nếu phương tiện này vẫn không có thì khi đi khất
thực về, nên đến nhà họ ăn, để bớt thức ăn cho họ.
Nếu không thể thực hiện được thì nên đem họ về Tăng
phường cung cấp phòng nhà, tọa cụ, theo thứ tự cho họ;
thức ăn, nước uống phi thời cũng nên cho họ. Nếu có nhận
được vải, nên chia phần cho họ. Ðối với các phụ nữ
của nhà Học gia, các Tỳ-kheo ni cũng nên liệu lý như vậy.
CẦN
PHẢI HỌC1
* Ðức
Phật cùng với năm trăm đại Tỳ-kheo Tăng du hóa tại nước
Bà-giàø2. Ngày ấy, đại Tăng đến núi Thủ-ma-la3, trú ngụ
trong rừng Khủng Bố 4.
Bấy
giờ, thái tử Bồ Ðề Vương mới xây xong một giảng đường
tại núi này, nhưng chưa có vị Sa-môn, Bà-la-môn nào ngồi
vào trong đó. Thái tử nghe đức Phật đến núi này, trú tại
rừng Khủng Bố, bảo Ma-nạp5 Tát-xà-tử:
- Người
nhân danh ta đến thăm hỏi đức Thế Tôn, xem Ngài có được
khỏe, ít buồn phiền, đi đứng có được nhẹ nhàng không?
Và thưa: Ta đã lập xong một giảng đường tại núi này,
chưa có ai ngồi vào trong đó. Cúi xin đức Thế Tôn cùng chúng
Tăng đến, trước ghi nhận giảng đường này, sau tại đây
xin được cúng dường một bữa cơm đạm bạc, nhằm cho ta
được an ổn lâu dài. Ðức Phật dạy thế nào, ta trân trọng
làm theo thế ấy. Người đến bạch Phật như vậy rồi trở
về gấp báo cáo với ta kết quả.
Ma-nạp
đi đến chỗ Phật đầu mặt đảnh lễ sát chân Ngài rồi
đứng lui qua một bên, thưa đầy đủ lời mời thỉnh của
thái tử. Ðức Phật im lặng nhận lời. Ma-nạp Tát-xà-tử
vội lui về.
Suốt
đêm hôm ấy, thái tử cho sắm sửa nhiều thức ăn ngon bổ.
Sáng ra, thái tử tự tay đưa các thức ăn đến giảng đường.
Bên trong và bên ngoài giảng đường đều trải vải nhiều
màu sắc. Ðến giờ, thái tử đến thỉnh Phật và Tăng quang
lâm giảng đường. Ðức Phật cùng với năm trăm Tỳ-kheo,
kẻ trước người sau bao quanh đức Phật, đến giảng đường
đứng trên các bậc cấp của lối đi. Thái tử để trống
vai bên phải, đầu gối bên phải chấm sát đất, chấp tay
bạch Phật:
- Kính
thỉnh đức Thế Tôn bước lên giảng đường sơ sài này
để con được thọ nhận sự an lạc lâu dài.
Ðức
Phật không nhận lời bước lên, cho đến ba lần thỉnh. Ngay
sau lần thỉnh cuối, đức Phật xoay người nhìn thẳng Tôn
giả A-nan. Tôn giả liền hiểu được ý nghĩa của Phật nên
nói với thái tử:
- Nên
cho cuốn thảm vải nhiều màu này, đức Phật không bước
lên trên thảm, vì lòng thương đối với đời sau.
Thái
tử liền ra lệnh cuốn thảm, rồi như trước thỉnh Phật.
Nhận lời, đức Phật và chúng Tăng đều bước lên giảng
đường và an tọa vào chỗ ngồi đã được sắp xếp đâu
vào đó. Thái tử tận tay dâng cúng thức ăn. Các Tỳ-kheo
lấy một ngón tay, hoặc hai ngón tay nắm bình bát đưa ra nhận
thức ăn. Cử chỉ này làm bát bị rơi, thức ăn đổ xuống
nhớp cả nền nhà bằng thủy tinh. Các Cư sĩ thấy vậy, cơ
hiềm nói:
- Các
Tỳ-kheo này láu táu giống như những người đóng trò cười,
đùa giỡn.
Các
Tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Ðức Phật dùng nhiều nhân
duyên quở trách rồi Ngài chế giới: “Khi nhận thức ăn,
Tỳ-kheo phải hết sức chú tâm. Ðây là oai nghi cần phải
học”.
* Trong
việc ăn uống, đâu phải Tỳ-kheo nào cũng có ý tứ. Hơn
nữa, đâu phải việc khởi đầu nào cũng đều hoàn chỉnh
cả? Cho nên việc xảy ra là một bài học cần phải học.
Bữa
ăn nọ có các Tỳ-kheo ngậm thức ăn không nuốt, đến nỗi
thức ăn núng ra, phồng lên hai bên má. Các Cư sĩ thấy vậy,
cơ hiềm nói:
- Các
Tỳ-kheo ăn như khỉ.
Lại
có các Tỳ-kheo duỗi dài cánh tay lấy thức ăn, liền bị
Cư sĩ nói mỉa:
- Các
Tỳ-kheo thò tay lấy thức ăn như con voi lấy vòi cuốn thức
ăn.
Lại
có Tỳ-kheo chấn tay6 mà ăn. Các Cư sĩ bảo:
- Các
Tỳ-kheo này ăn giống con voi rảy cái vòi.
Lại
có Tỳ-kheo ăn bằng cách nuốt trộng thức ăn. Lại vò lọn
cơm quăng vào miệng. Cư sĩ lắm lời phê phán mỉa mai tư
cách ăn của Tỳ-kheo.
Ðức
Phật ngụ ở thành Vương-xá. Các sự việc trên được bạch
lên Ngài, trước Tăng Ngài dạy bảo và chế giới:
- Không
được ăn để búng má, không được duỗi tay ăn.v.v... Cần
phải học.
* Lúc
bấy giờ, đức Phật trú ngụ trong thành Vương-xá. Có Tỳ-kheo
thuyết pháp mà đối tượng lại là người mang guốc, dép.
Các Cư sĩ thấy vậy, cơ hiềm nói:
- Giáo
pháp tôn quý, vi diệu đệ nhất, người nghe lại thiếu tôn
trọng, mang guốc dép đứng nghe. Ấy vậy mà Tỳ-kheo cũng
vì họ nói pháp, rõ ràng khinh mạn quá!
Vì
sự chỉ trích này, đức Phật chế giới:
- Không
vì người mang guốc dép nói pháp, cần phải học.
Giới
này về sau được mở ra, có thể vì người bệnh mang dép
nói pháp.
Một
điểm tế nhị nữa: Nếu có nhiều người mang guốc, dép,
giày... mà không thể bảo họ cởi ra được thì xem người
nào đó không mang, nói pháp hướng về họ để nói, người
kia nghe thì không phạm giới này.
Có
đến 100 pháp cần phải học. Ở đây chỉ dẫn ra vài mẫu
chuyện tiêu biểu để thấy sự giáo dục của Phật đi từ
thô thiển đến oai nghi vi tế, là một chặng đường dài
công phu học tập và rèn luyện.
(Hết
phần duyên khởi giới bổn của Tăng)
TRÁI
TÁO KHÔ1
Lúc
bấy giờ, bà Tỳ-xá-khư có người con rể tên là Lộc Tử.
Lộc Tử kính trọng bà Tỳ-xá-khư như kính trọng mẹ đẻ
của mình. Người bấy giờ gọi bà Tỳ-xá-khư là Tỳ-xá-khư
Lộc Tử Mẫu. Lộc Tử có người cháu tên là Thi-lợi-bạt.
Thi-lợi-bạt lại phải lòng Tỳ-kheo ni Thâu-la-nan-đà.
Ngày
ấy, Thi-lợi-bạt thỉnh Tỳ-kheo ni Tăng thọ trai. Tỳ-kheo
Thâu-la-nan-đà cáo bệnh không đến dự, ở lại trú xứ coi
chùa cùng với một Sa-di nhỏ. Ðến giờ thọ trai, Tỳ-kheo
ni Tăng đều tập trung về nhà Thi-lợi-bạt. Thi-lợi-bạt
tự tay san sớt thức ăn, rồi hỏi:
- Tại
sao Thâu-la-nan-đà không đến?
Các
Tỳ-kheo ni tham dự thọ trai trả lời:
- Cô
ấy bị bệnh, Tăng sai ở lại trú xứ giữ chùa, cho nên không
đến dự được.
Thi-lợi-bạt
vội sớt cơm, san thức ăn cho quý sư ni xong, liền đến chùa.
Gặp cô ni, Thi-lợi-bạt hỏi:
- Cô
bị bệnh thế nào?
- Xương
cốt đau nhức rã rời cả! -Thâu-la-nan-đà trả lời.
Thi-lợi-bạt
ngõ ý muốn đấm bóp cho cô ta. Ni Thâu-la-nan-đà liền bảo:
- Cho
phép ông đấm bóp toàn thân thể, nhưng không được hành
dục.
Ðấm
bóp xong, Thi-lợi-bạt hỏi:
- Cô
cần dùng thứ gì?
- Tôi
cần táo khô. -Cô ni trả lời.
Thi-lợi-bạt
liền đi mua táo khô đem về. Cô ni cầm trái táo, hỏi:
- Ông
thấy trái táo khô này không?
- Vâng,
tôi có thấy. - Thi-lợi-bạt trả lời.
Tỳ-kheo
ni nói:
- Người
nào cái tâm bị ràng buộc nơi chỗ không thể hành dục được
thì tinh thần bị teo tốp lại như trái táo khô này vậy.
Qua
ví dụ này, khiến cho hai người như hiểu ra và bằng nhiều
cách hai thân tiếp cận, cọ xát lên nhau, rồi Thi-lợi-bạt
ra về.
Các
Tỳ-kheo ni thọ trai xong, trở về. Khi đến cổng thấy phía
xa kia Thi-lợi-bạt đi ra. Các Tỳ-kheo ni sanh nghi, hỏi Thâu-la-nan-đà:
- Không
lẽ cô phá phạm hạnh sao?
- Tôi
không phá phạm hạnh, chỉ cùng với người nam hai thân xúc
chạm nhau thôi.
Sa-di
nhỏ kia cũng nói đúng như vậy.
Việc
này được các Tỳ-kheo ni bạch lên đức Phật. Trước Tăng,
Thâu-la-nan-đà thú tội. Ðức Phật quở trách nặng nề và
Ngài kiết giới cấm ngặt cách hành sự như thế. Ðức Phật
chế giới này tại thành Xá-vệ.
Phạm
giới này là một trong tám pháp Ba-la-di, Tỳ-kheo ni bị đuổi
ra khỏi Tăng chúng.
MỘT
TRỌNG TỘI
Chuyện
sau xảy ra lúc đức Phật lưu trú tại thành Xá-vệ.
Tỳ-kheo
ni Tu-hưu-ma và Tỳ-kheo ni Bà-phả kết thân với nhau và cũng
biết về nhau quá rõ. Sau đó, Tỳ-kheo ni Bà-phả qua đời,
Tỳ-kheo ni Tu-hưu-ma buồn rầu, khóc lóc. Các Tỳ-kheo ni nói:
- Cô
đừng khóc thảm thiết như vậy, tất cả pháp hữu vi đều
phải tiêu hoại. Như đức Phật đã dạy: ái ân biệt ly,
chứ đâu tồn tại mãi! Các pháp hữu vi mà không hư hoại,
không tan rã là điều không thể có.
Tỳ-kheo
ni Tu-hưu-ma nói:
- Không
phải tôi vì cô ấy mà khóc, khóc là bởi lúc sanh tiền cô
ta không tu phạm hạnh.
- Tại
sao cô biết? -Các Tỳ-kheo ni hỏi.
- Vì
cô ta cùng đi với tôi, chính tôi thấy cô ta làm việc dâm
dục với nam tử. -Tu-hưu-ma bộc lộ như thế.
Các
Tỳ-kheo ni quở trách rằng:
- Tại
sao lúc cô ấy còn sống lại che giấu tội của cô ta. Bây
giờ cô ấy chết rồi, cô lại đem chuyện ấy nói ra để
thú tội sao?
Các
Trưởng lão Tỳ-kheo ni bằng mọi cách nghiêm khắc quở trách,
rồi bạch lên Phật.
Trước
hai bộ Tăng, đức Phật kiết giới như sau:
- Tỳ-kheo
ni nào thấy Tỳ-kheo ni phạm tội Ba-la-di mà che giấu. Tỳ-kheo
ni kia sau đó còn sống hay đã chết, hoặc đi xa, hay bị tẫn
xuất, hoặc thôi tu, hay thay đổi giới tính, khi ấy mới nói:
“Trước đây chính tôi thấy cô ni kia phạm tội Ba-la-di”.
Tỳ-kheo ni nào như vậy, phạm tội Ba-la-di, không được sống
chung.
HẮC-LY-XA1
Bấy
giờ trong dòng họ Thích, người ta lập quy ước: “Chúng
ta không kết hôn với người thứ dân. Nếu ai vi phạm sẽ
bị trọng tội”.
Ðằng
sau quy chế ấy, có người đàn bà tên là Hắc-ly-xa chết
chồng. Ông em chồng muốn lấy chị dâu làm vợ, góa phụ
Hắc-ly-xa không đồng ý. Ông ta ba lần ngõ xin đều bị chị
chồng từ chối, lại có suy nghĩ: “Chắc cô này có ngoại
tình, ta sẽ giết bỏ”. Ông ta giở trò ma mảnh, bảo người
chị dâu như vầy:
- Tôi
vì anh tôi tổ chức cuộc lễ, chị vì chồng nên đến thắp
hương.
Nghe
theo lời, bà ta đến. Sau đó, ông em chồng phục rượu cho
bà ta uống say mèm, rồi giở trò cưỡng hiếp xong, gây thương
tích, đánh cào lên thân thể bà ta. Ngay sau đó, ông ta báo
cáo với nhà quan rằng:
- Hắc-ly-xa
là vợ tôi. Nay nó tư thông với người ngoài.
Nhà
quan liền phát lệnh truy nã bắt bà ta.
Sau
khi tỉnh rượu, thấy thân thể chỗ nào cũng bị thương tích,
bà ta suy nghĩ: “Ông này âm mưu giết ta”. Bà liền trốn
thoát chạy về thành Xá-vệ, đến trú xứ Tỳ-kheo ni, xin
xuất gia học đạo.
Nhà
quan truy tầm không được nhưng biết phạm nhân đã chạy
đến thành Xá-vệ, bèn gửi ngay công hàm đến vua Ba-tư-nặc,
với nội dung: “Trong nước tôi có người đàn bà phạm tội
đáng chết, trốn thoát vào nước Ngài, xin Ngài giao lại cho
nước chúng tôi. Nếu quý quốc có kẻ phạm tội chạy qua
nước tôi, tôi cũng cho dẫn độ”.
Nhận
công hàm, vua Ba-tư-nặc liền hỏi các quan tả hữu:
- Có
người đàn bà như vậy vào nước ta không?
Các
quan tâu:
- Có
thật, nhưng các Tỳ-kheo ni đã độ cho họ học đạo rồi.
Vì nhà vua trước đây có ban lệnh: “Trong nước ta, ai xâm
phạm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni sẽ bị trọng tội”. Như vậy,
người đàn bà ấy đã xuất gia nên không ai dám hủy nhục.
Nhà
vua bèn phúc đáp: “Sự thật có người đàn bà như vậy
chạy vào trong nước tôi, nhưng nay đã xuất gia, không nên
truy tội. Nếu có trường hợp khác, tôi sẽ cho giao hoàn”.
Dòng
họ Thích bèn cơ hiềm nói:
- Người
có tội như vậy mà không bắt để trị, nước ta sẽ loạn
thôi! Các Tỳ-kheo ni tại sao không biết người nào có thể
độ, người nào không thể độ, sao lại độ như vậy?! Họ
không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Việc
này sau đó được đưa ra hai bộ Tăng. Ðức Phật chế giới:
“Tỳ-kheo ni nào biết người nữ có tội (người chủ không
cho phép) mà độ là phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối
quá. Trừ người kia trước đã xuất gia”.
KIỆN
TỤNG - MỘT BÀI HỌC
Bấy
giờ, có một Trưởng giả đem một căn nhà cúng cho Tỳ-kheo
Tăng. Sau đó Tỳ-kheo Tăng đổi cho Tỳ-kheo ni để lấy khu
rừng An-đà2. Vào thời gian ấy, Mạt-lợi phu nhân lại đem
ngôi vườn của nhà vua cúng cho Tỳ-kheo ni Tăng. Tỳ-kheo ni
Tăng giở cái nhà cũ kia đem cất nơi vườn của nhà vua. Ngôi
nhà cũ trở thành đất trống.
Qua
một thời gian, con ông Trưởng giả cúng nhà trước kia nảy
ra ý nghĩ: “Xưa kia cha ta cúng cho Tăng, Tăng đem đổi cho
ni, nhưng các Tỳ-kheo ni không ở nơi đó, giở nhà đi, bỏ
đất trống. Ta nên lấy lại để canh tác”. Thế là ông
ta thực hiện ngay việc lấy lại đất. Các Tỳ-kheo ni nói:
- Ông
đừng lấy đất của Tăng.
Con
ông Trưởng giả trả lời:
- Tuy
xưa kia cha tôi cúng cho Tăng, Tăng không sử dụng, nên nay thuộc
về của tôi.
- Chúng
tôi không bỏ miếng đất đó. Nếu ông lấy, tôi kiện, ông
bị vua tịch thu thì đừng trách! - Các Tỳ-kheo ni trả lời
như thế.
Dù
vậy, ông ta vẫn không trả đất lại cho ni.
Chư
ni kiện đến quan, quả thật ông ta bị tịch thu tài sản.
Các Cư sĩ thấy thế, cơ hiềm chỉ trích:
- Tại
sao các Tỳ-kheo ni này lại đến quan kiện tụng, làm cho người
ta bị tịch biên tài sản như thế?! Bọn này nhận của người
ta cúng dường mà còn đối xử như vậy, huống là đối với
người khác. Không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Việc
này đến tai các Trưởng lão Tỳ-kheo ni, họ quở trách rồi
bạch lên Phật. Trước hai bộ Tăng, sau khi kiểm vấn, đương
sự xác nhận sự thật, đức Phật chế cấm Tỳ-kheo ni không
được đến quan kiện tụng. Ðức Phật chỉ cho việc giải
quyết là nhờ Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, nhờ cha mẹ, bà con, nhờ
cư sĩ.v.v...
DỤ
KHỊ
Bấy
giờ có một người khách buôn, vợ chết, ông ta có ý nghĩ:
“Nên đến đâu để tìm người vợ lý tưởng khác?!”.
Trong
hàng Tỳ-kheo ni, Tu-ma là đệ tử của Tỳ-kheo ni Chiên-trà-tu-ma-na,
có nhan sắc đẹp tuyệt vời. Người khách buôn chỉ một
lần nhìn thấy Tu-ma liền đem lòng say đắm cô ta và nghĩ
ngay đến cách chiếm đoạt làm vợ.
Ngày
ấy, người khách buôn tìm cách tiếp cận Tu-ma, và khi tiếp
cận được, ông ta nhã nhặn nói:
- Nếu
cô cần bơ, dầu, mật, đường phèn, bồ-xà-ni3, khư-xà-ni,
xin cứ đến tôi mà nhận.
Cô
ni Tu-ma cứ tình thật nghe lời mời, đến nhà người khách
buôn để nhận các loại thức ăn này. Sau khi trở thành quen
thân gần gũi, ông ta hỏi Tỳ-kheo ni:
- Cô
có biết tôi cúng cho cô thức ăn với ý nghĩ thế nào không?
- Ông
vì cầu phước nên cho tôi ăn. - Tu-ma trả lời.
- Không
phải việc ấy đâu! Vì tôi chết vợ, thấy cô tu hành thanh
tịnh nên đem lòng say đắm, yêu mến cô. Cô có thể thỏa
mãn được ý muốn của tôi không?
- Không
thể được, dứt khoát là không thể được. - Tu-ma trả lời.
- Cô
làm vợ tôi, tôi sẽ cho những đồ quý báu, y phục sang trọng
đắc giá, ăn uống theo lúc, không bao giờ thiếu thốn!
Cô
ni Tu-ma một mực từ chối thẳng thừng. Những người khách
buôn khác yểm trợ ông ta, lại đánh ngay vào chỗ yếu của
cô ni bằng lời lẽ hiểm:
- Nếu
cô không muốn làm vợ người ta, sao cô lại nhận thức ăn
tốt của họ? Nếu quả thật cô cứ khăng khăng “không thể
được” thì đoạt sạch y, bát của cô bây giờ.
Có
người trong bọn họ như thấy nguy, liền bảo đồng bọn:
- Phải
giải tán ngay, đừng để người ta nghe. Nếu nhà vua biết
được, chắc chúng ta bị trọng tội.
Các
Cư sĩ biết chuyện này, rất bất mãn, hiềm hận nói:
- Tại
sao Tỳ-kheo ni lại nhận thức ăn của người nam háo sắc
tham dâm?! Hạng người này không có hạnh Sa-môn, phá pháp
Sa-môn!
Sự
việc này, các Trưởng lão Tỳ-kheo ni biết, nghiêm khắc quở
trách Tu-ma, sau đó đưa ra giữa hai bộ Tăng. Ðức Phật chế
giới cấm Tỳ-kheo ni nhận thức ăn của người nam tử có
tâm nhiễm trước và hình thức xử trị nếu phạm.
Tôn
giả Ưu-ba-ly lại thưa hỏi Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn đã vì Tỳ-kheo kiết giới: “Tỳ-kheo ác
hạnh làm hoen ố nhà người, làm các việc làm không phải
hạnh của Tỳ-kheo đối với xóm làng, và việc xử trị tội
này là Tăng-già-bà-thi-sa”. Trước việc làm như vậy, con
phải nhận thi hành như thế nào đối với Tỳ-kheo ni?
Ðức
Phật dạy:
- Cả
hai bộ Tăng nên thọ trì. Từ nay giới trên được nói như
sau:
“Tỳ-kheo
ni nào nương ở nơi xóm làng, lại hành động xấu xa làm
hoen ố nhà người. Hành động xấu xa này ai cũng biết, cũng
nghe thấy; làm hoen ố nhà người ai cũng biết, cũng nghe thấy.
Các Tỳ-kheo ni nói với các Tỳ-kheo ni ấy rằng: “Cô hành
động xấu xa, làm hoen ố nhà người, mọi người ai cũng
thấy, cũng nghe biết. Cô nên đi ra khỏi chỗ này, không nên
ở đây nữa”.
Tỳ-kheo
ni kia lại chống chế, nói: “Các cô tùy tiện xử lý việc
theo cảm tính thương, ghét, si, sợ. Vì sao vậy? - Bởi lẽ
có Tỳ-kheo ni đồng tội như vậy, có người bị đuổi, có
người không bị đuổi”.
Các
Tỳ-kheo ni nên nói với Tỳ-kheo ni ấy rằng: “Cô đừng nên
nói rằng:‘Các cô tùy tiện xử lý việc theo thương, ghét,
si, sợ. Có các Tỳ-kheo ni đồng tội mà người bị đuổi,
người không bị đuổi ’. Cô hành động xấu xa làm hoen
ố nhà người. Hành động xấu xa ai nấy đều thấy, đều
nghe biết; làm hoen ố nhà người, mọi người đều thấy,
đều nghe biết. Cô nên bỏ lối nói cường điệu ấy đi.
Cô nên rời khỏi chỗ này, không nên ở đây nữa”.
Khi
can gián như vậy, mà cô ta ngoan cố không bỏ thì nên can gián
lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián
bỏ thì tốt, không bỏ thì Tỳ-kheo ni, phạm Tăng-già-bà-thi-sa,
cần phải hối quá.
SAO
LẮM CHUYỆN THẾ?!1
Bấy
giờ, Tỳ-xá-khư Mẫu phát tâm cúng cho Tỳ-kheo ni Tăng đồ
mặc2 khi có nguyệt thủy3. Bà sai người đến đo kích cỡ
để may. Chư ni, ai cũng để cho đo, riêng Thâu-la-nan-đà không
cho đo, lại nói với người thừa lệnh rằng:
- Tôi
đã ly dục, không còn nguyệt thủy, không cần đồ mặc ấy.
Sau
khi may xong, Tỳ-xá-khư Mẫu cho người mời chư ni đến nhận.
Tỳ-kheo ni Thâu-la-nan-đà ngày ấy lại có nguyệt thủy, bèn
đến nhận trước. Theo thứ tự, các Tỳ-kheo ni nhận y, y
bị thiếu. Có vị ni hạ tọa không nhận được y. Tỳ-xá-khư
Mẫu hỏi:
- Chư
ni nhận đủ hết chỗ y chứ?
- Thiếu
y hạ tọa, không còn y để nhận. - Một vị trả lời.
- Tại
sao vậy? - Tỳ-xá-khư hỏi.
- Vì
Thâu-la-nan-đà trước đây nói không cần nên không cho đo
cỡ, nay lại đến lấy trước, thiếu là vậy. - Cô ni hạ
tọa trả lời.
- Tại
sao trước nói không cần, nay lâm sự lại đến lấy trước,
làm cho người khác phải thiếu! Thật lắm điều! - Tỳ-xá-khư
bực dọc nói.
Tỳ-kheo
ni Thâu-la-nan-đà sau đó bị các Tỳ-kheo ni quở trách và dẫn
đến việc chế cấm.
Bấy
giờ Tỳ-kheo ni Thâu-la-nan-đà thường ra vào vương cung của
vua Ba-tư-nặc. Nhà vua nói:
- Thưa
cô, cô cần gì cứ đến tôi nhận.
- Tôi
cần trọng y4. -Thâu-la-nan-đà xin vua.
- Cô
đến hậu cung nhận. -Vua bảo.
- Tôi
muốn chiếc y Khâm-bà-la5 vua đang mặc.
Nhà
vua liền trao cúng.
Các
quan thấy vậy, cơ hiềm nói:
- Tỳ-kheo
này xuất gia trong pháp vô vi, mặc áo cắt rọc, nay tại sao
lại đòi xin áo vua đang mặc? Tuy nhà vua không tiếc, nhưng
người xin phải tự lượng sức mình chứ! Bọn người này
thường nói ít ham muốn, biết vừa đủ, mà nay không nhàm
chán, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Khi
ấy, Tỳ-kheo ni Hắc-ly-xa được các Ly-xa6 ở Tỳ-xá-ly cung
kính cúng dường, vì mọi người khi bị kiện thưa, nhờ cô
ta giúp đỡ nên các bị cáo hoan hỷ nói:
- Chúng
ta nhờ cô ni mà được khỏi tội. Nay hỏi cô cần thứ gì,
chúng ta cùng nhau cung phụng.
Các
bị cáo đến tạ ơn, được các Tỳ-kheo ni Hắc-ly-xa bày
tỏ nhu cầu:
- Tôi
cần trọng y tốt nhất.
-
Cô cần loại trị giá bao nhiêu? - Các thân chủ hỏi.
- Tôi
cần loại giá một ngàn tiền. Các ni trả lời
Nghe
yêu cầu vượt mức này, họ lại cơ hiềm chỉ trích:
- Chúng
ta dùng phí tổn cho việc kiện thưa, dù có gấp năm, sáu lần
hơn cũng không bằng với ngân khoản này. Bọn này thường
nói tri túc, thiểu dục mà nay lại đòi hỏi thái quá thì
còn gì là kẻ tu hành, không hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Qua
lời chỉ trích, các Trưởng lão Tỳ-kheo ni quở trách rồi
bạch Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo ni
Tăng, Ngài chế giới: “Tỳ-kheo ni nào xin trọng y thì nên
nhận lấy loại kém giá trị nhất, ngang với bốn đại tiền7
mà thôi, nếu nhận trọng y quí giá, phạm Ni-tát-kỳ ba-dật-đề”.
TỎI
HÔI LẮM1
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo ni ăn tỏi sống và tỏi chín trước ngọ,
sau ngọ; hoặc ăn riêng tỏi, hoặc ăn với thức ăn, mùi tỏi
làm hôi hám phòng xá. Các Cư sĩ đến thăm, nghe mùi tỏi,
bất mãn nói:
- Ở
đây giống hệt nhà bếp của người đời.
Lại
có Tỳ-kheo ni đến nhà người Trưởng giả nọ, Trưởng giả
nghe mùi hôi của tỏi từ cô ta, liền nói:
- Cô
đi ra khỏi chỗ này, vì miệng cô hôi tỏi quá!
Các
Tỳ-kheo ni rất lấy làm xấu hổ.
Lại
có một người buôn tỏi, đem tỏi cúng cho các Tỳ-kheo ni.
Do việc cúng này mà đời sống kinh tế của người buôn tỏi
kia giảm sút lần. Khẩu phần ăn uống lại bớt đi. Người
ăn kẻ ở trong gia đình nói:
- Nếu
không thể cung cấp tốt sự sống cho chúng tôi thì để chúng
tôi đi tìm sự sống nơi khác. Hai ông bà dài lưng ra mà làm
đầy tớ cho bọn Tỳ-kheo ni kia mà thôi!
Người
hàng xóm nghe lời than vãn này, chê trách rằng:
- Nhà
ông bà đã không đủ ăn, tại sao còn phải nuôi các Tỳ-kheo
ni làm gì?!
Nhân
lời chỉ trích này, nhà buôn kia tâm sự, trình bày sự thật
cúng tỏi đã xảy ra. Những người không kính trọng Phật
pháp nhân đó nói:
- Do
ông bà gần gũi Tỳ-kheo ni nên mới đưa đến tình trạng
khổ nghèo như thế. Nếu còn tiếp tục gần gũi họ sẽ khổ
nhiều hơn nữa. Những người xuất gia chủ yếu là cầu giải
thoát, mà nay tham đắm món ngon vật lạ, không có hạnh Sa-môn,
phá pháp Sa-môn.
Các
Trưởng lão ni quở trách các Tỳ-kheo ni đương sự, dẫn đến
việc đức Phật chế cấm ăn tỏi.
XIN
TRÁNH XA RA!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo ni dạo xem cung điện nhà vua, xem phòng triển
lãm, rồi du lãm các nơi vui đùa, đến vườn hoa xem hoa thơm,
cỏ lạ, ngắm cảnh thiên nga bơi trong ao nước. Ở chỗ nào
cũng rất đông người xem cảnh, có nơi chen lấn nhau... Tỳ-kheo
ni nói với các trang nam tử rằng:
- Xin
các ông tránh chúng tôi ra một tý, đừng đến gần quá!
- Hạng
người xui xẻo trọc đầu này, đã mặc áo cắt rọc thì
không nên đến đây; mà đã đến đây thì có ý muốn tìm
đàn ông, tại sao lại bảo chúng ta tránh xa?
Các
nam tử chọc phá. Thế rồi các nam tử bèn nắm tay các cô
ni lôi kéo, trêu ghẹo nói lời thô tục, dâm dục.
Các
ni chỉ còn biết cúi mặt lui về.
Việc
này các ni đương sự bị các Ni Trưởng lão quở trách nặng
nề và dẫn đến việc đức Phật chế giới cấm.
NỮ
KÊ TÁC QUÁI
Hồi
ấy, Tỳ-kheo ni Sai-ma qua đời, các Tỳ-kheo ni xây tháp thờ
cốt trong Tăng phường của Tỳ-kheo. Mỗi ngày ba lần, quyến
thuộc của Sai-ma đến đi quanh khóc kể:
- Người
cho tôi pháp, người cho tôi y thực, sàn tọa, tọa cụ, y dược,...
chỉ mới đây thôi, nay sao vĩnh biệt chúng tôi?!
Các
Tỳ-kheo bực bội về sự ồn ào vô lối này, khiến việc
hành đạo, tọa thiền của các thầy bị trở ngại. Khi ấy,
Ưu-ba-ly lại đến Tăng phường này, ông hỏi các thầy cựu
trú Tỳ-kheo:
- Tiếng
gì ồn ào vậy?
Các
cựu trú Tỳ-kheo trình bày sự việc đã xảy ra. Ưu-ba-ly liền
sai người đập phá tháp kia. Thấy sự đập phá các Tỳ-kheo
ni cùng nhau bàn luận: “Mỗi ngày chúng ta đều phải cầm
gậy đến đánh Tỳ-kheo Ưu-ba-ly. Nếu có cô nào không đi
là bị loại ra khỏi chúng”.
Họ
kéo đến Tăng phường, nhưng không tìm ra đối tượng, nên
lại kéo về. Họ tiến đến một ngõ hẻm, gặp Ưu-ba-ly,
liền trước sau giàn trận chận đường, áp sát đánh Ưu-ba-ly.
Liền lúc ấy, Ưu-ba-ly vận thần lực bay lên hư không, rồi
đến thẳng chỗ Phật, bạch lên Ngài đầy đủ sự việc
đã xảy ra. Nhân việc này, đức Phật cho tập hợp hai bộ
Tăng, hỏi các Tỳ-kheo ni:
- Thật
sự các ni có hành động như vậy không?
-Kính
bạch Thế Tôn! Sự thật có như vậy. - Các ni thưa.
Bằng
mọi hình thức, đức Phật nghiêm khắc quở trách Tỳ-kheo
ni:
- Việc
làm của các ni như vậy là phi pháp. Tại sao Tỳ-kheo ni lại
đánh Tỳ-kheo?!
Sau
đó đức Phật chế giới: “Tỳ-kheo ni nào vào trong trú xứ
của Tỳ-kheo, phạm Ba-dật-đề”.
THỂ
THỨC NUÔI CHÚNG
Việc
Tỳ-kheo ni nuôi đệ tử có những việc xảy ra không hay, cho
nên đệ tử không học hỏi được gì. Sự việc này được
bạch lên đức Phật và giữa hai bộ Tăng đức Phật dạy:
- Nay
Ta cho phép các Tỳ-kheo ni bạch nhị Yết-ma nuôi chúng. Tỳ-kheo
ni đó nên đối trong chúng Tỳ-kheo ni Tăng, cởi bỏ giày dép,
để trống vai bên hữu, quỳ gối chấp tay bạch: “A-di2 Tăng
nghe cho. Tôi, Tỳ-kheo ni tên là... đã đủ mười hai tuổi
hạ, muốn nuôi chúng, đến xin Ni Tăng pháp Yết-ma nuôi chúng”.
(Xin ba lần như vậy)
Các
Tỳ-kheo ni nên tìm hiểu xem Tỳ-kheo ni này có thể nuôi chúng
được hay không. Nếu không thể thì không nên cho pháp Yết-ma
nuôi chúng. Nếu có thể thì nên cho. Ni Tăng nên sai một Tỳ-kheo
ni - bậc Thượng tọa hay ngang bằng bậc Thượng tọa - biết
pháp, biết luật, xướng như sau:
“A-di
Tăng xin lắng nghe cho. Tỳ-kheo ni này tên là..., đủ mười
hai tuổi hạ, muốn nuôi cô... làm đệ tử, nên đến xin Tăng
pháp Yết-ma nuôi chúng. Nay Tăng cho pháp Yết-ma nuôi chúng.
Nếu bây giờ việc này thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận thì đây là lời thưa trước Tăng”.
Ni
Tăng chung quyết:
“A-di
Tăng xin nghe cho! Tỳ-kheo ni này tên..., đã đủ mười hai tuổi
hạ, muốn nuôi cô... làm đệ tử, nên đến Tăng xin pháp
Yết-ma nuôi chúng. Nay Tăng cho pháp Yết-ma nuôi chúng, A-di
nào chấp thuận thì im lặng, vị nào không đồng ý, xin nói”...
“Tăng đã cho Tỳ-kheo ni tên... pháp Yết-ma nuôi chúng rồi.
Tăng chấp thuận cho nên im lặng. Việc như vậy thì nghiêm
chỉnh thi hành như vậy”.
Nay
Ta vì các Tỳ-kheo ni kiết giới. Từ nay giới này được nói
như sau:
“Tỳ-kheo
ni nào đủ mười hai tuổi hạ, Tăng không cho pháp Yết-ma
nuôi chúng, mà nuôi, phạm Ba-dật-đề”.
PHẢI
BIẾT CÁCH ÐỘ NGƯỜI
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo ni độ dâm nữ, họ không nhận sự giáo
giới của Ni. Giống như con trâu, vai bị tổn thương không
thể kéo cày hay kéo xe, khi mắc xe thì trâu chỉ muốn thoát
ra khỏi gọng xe mà thôi.
Việc
độ này, các Ni đã bị khiển trách, dẫn đến đức Phật
chế giới cấm. Tuy nhiên, dâm nữ thật sự ê chề tấm thân
của mình, cần cầu học đạo thì độ được.
Một
trường hợp khác, các Tỳ-kheo ni cho người nữ có thai thọ
giới Cụ túc. Khi vào thôn khất thực, thiên hạ thấy vậy
chế giễu, nói:
- Tỳ-kheo
ni này nặng mang gánh nặng, nên cho họ thức ăn mau!
Có
người lại nói:
- Nên
xem cái bụng của cô ta kia kìa!
Có
người lại bảo:
- Việc
này xảy ra khi chưa xuất gia tu hành!
Họ
chê trách các Tỳ-kheo ni:
- Sao
không đợi sanh rồi mới độ họ xuất gia? Ðây là hủy nhục
phạm hạnh! Các Tỳ-kheo ni không biết cách độ, ai nên độ
và ai không nên độ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo ni lại độ người đàn bà mới sanh thọ
Cụ túc giới. Cô ni này một tay bưng bát, một tay bế con
đi khất thực. Các người bạch y thấy, liền chế giễu:
-Mau
mau cho hai mẹ con ăn gấp!
Họ
mỉa mai một cách cay độc.
Lẽ
tất nhiên đức Phật chế cấm việc độ này và luôn tạo
điều kiện hợp pháp để họ được xuất gia.
CÁI
GIÁ ÐƯỢC PHỤC CHỨC
Có
một trú xứ vây bọc bởi tường rào cây xanh. Tỳ-kheo ni
đem nước tiểu, phân uế đổ tạt vào tường rào, có khi
sang tận bên ngoài bờ cây, làm bôi nhớp người và phi nhơn.
Hồi
ấy, có một đại thần Bà-la-môn vừa bị cách chức, ông
ta lại ra sức chay tịnh, làm cho tấm thân trong sạch, thanh
khiết. Sáng sớm ngày ấy, ông ta tắm rửa sạch sẽ, thoa
hương, mặc y phục cũng được ướp hương thơm ngát, để
đến Thiên miếu với lòng thành cầu Thánh thần phù hộ cho
được phục chức quan cũ. Ông ta trùm đầu đi, vì sợ phải
nhìn thấy hạng người xui xẻo là bọn trọc đầu, mặc áo
cắt rọc. Chẳng may, đi vừa đến bên ngoài bờ tường chùa
ni thì cũng đúng lúc các ni đổ phân tiểu qua rào. Ông ta
lãnh đủ các thứ này lên đầu và chảy ướt cả mình. Rất
uất hận, ông ta nói:
- Ta
rất sợ gặp hạng người không may mắn này, giờ thì phải
gặp cái cảnh thối tha chết người này, chắc chắn số mạng
của ta gặp phải chuyện không may rồi! Dù vậy, ta cũng phải
đến vua Ba-tư-nặc thưa kiện để giết chết bọn nữ trọc
đầu này.
Nuốt
căm hờn, ông ta đành quay về. Gặp một thầy tướng Bà-la-môn.
Thầy tướng hỏi:
- Tại
sao phải tội nông nỗi này?
Thật
tình, vị quan mất chức kia trải bày tâm sự... để rồi
dẫn đến tình cảnh này.
Thầy
tướng nói:
- Ðây
là điềm rất may mắn, hôm nay ông sẽ được một ngàn quan
tiền và lại được phục chức cũ.
Như
để có được bằng chứng sống, quan mất chức Yết-ma đến
thẳng chỗ nhà vua. Vua hỏi:
- Vì
lý do gì phải cảnh như vậy?
Vị
quan trình bày cặn kẽ sự việc đã xảy ra, nhà vua vỗ tay
cười lớn và liền ra lệnh ban cho một ngàn quan tiền và
cho phục chức như cũ.
Thấy
sự ân sũng này, các quan tả hữu triều đình cơ hiềm nói:
- Quăng
phẩn dãi làm nhơ nhớp người ta chứ đâu phải có ý cầu
đạo tế vật.
Sau
sự việc này, dẫn đến hai bộ Tăng nghe lời giới cấm của
đức Phật.
OAN
GIA ÐÂU CÓ KHÁC GÌ!
Có
một gia đình nọ rất giàu, bọn cướp thường rình mò tìm
cách để đột nhập, nhưng không có cơ hội. Chúng dò la hỏi
thăm xem ai là người thường lui tới nhà này. Có người mách
rằng: “Tỳ-kheo ni Thâu-la-nan-đà thường hay lui tới các
nhà Bạch y, nhưng nhà giàu có này là nhiều nhất, vì giữa
hai bên có được sự thân thiết hiểu nhau”. Bọn cướp
liền đến trú xứ, nói với Thâu-la-nan-đà:
- Thưa
sư cô, gia đình... mời sư cô...
Chiều
xẩm ngày đó, Thâu-la-nan-đà theo lời mời đến nhà người
chủ ấy. Cửa vừa mở để cô ni vào thì bọn cướp nhanh
chóng ập đến, rồi vào bên trong hành hung và cưỡng đoạt
hết tài sản của gia đình giàu có kia.
Sau
đó, trong cơn giận, người chủ oán trách:
- Nếu
Tỳ-kheo ni này không đến phi thời, ta không mở cửa, thì
gia đình đâu có bị nạn này. Cúng dường mong cầu được
phước, trái lại gặp họa, giống như oan gia đâu có khác
gì!
Do
bởi chuyện này mà đức Phật chế giới cấm ni đến nhà
Cư sĩ phi thời nếu không có lý do, và phải xét kỹ lý do
đó.
LÀNH
THAY! ÐẾN ÐÂY TỲ-KHEO!1
Lúc
bấy giờ, đức Phật lưu trú tại thành Vương-xá. Ngày nọ,
tập Tăng, để rõ về pháp thọ giới, đức Phật bảo các
Tỳ-kheo:
Thuở
đời quá khứ có một vị vua tên là Uất-ma. Người vợ thứ
của vua sinh hạ được bốn người con: người thứ nhất
tên Chiếu-mục, người thứ hai tên Thông-mục, người thứ
ba tên Ðiều-phục-tượng, và người thứ tư tên Ni-lâu. Cả
bốn đều thông minh, nhìn xa trông rộng, oai đức lẫm liệt.
Ngược lại, hoàng hậu chỉ có một người con tên là Trường-sanh,
xấu xí, ngu đần, mọi người đều khinh miệt. Hoàng hậu
nghĩ: “Con ta tuy là trưởng nhưng tài đức không bằng ai,
còn bốn đứa kia lại có oai đức. Ngôi vị nước rồi ra
sẽ về tay chúng. Ta nên lập mưu kế thế nào đây để củng
cố cơ nghiệp cho con ta?”. Bà ta lại nghĩ: “Hiện nay, nhà
vua coi trọng, tin tưởng và thương yêu ta hơn các phu nhân
khác. Trước hết, ta nên dùng tình cảm, sau sẽ dùng lý để
giải quyết”.
Ðể
thực hiện chiến thuật của mình, hoàng hậu trang điểm và
phục sức hết sức đẹp đẽ để khi vua đến là chiếm
trọn lòng yêu quý của ngài và muốn gần gũi với hoàng hậu
ngay. Bên cạnh vua, trong sự sủng ái, hoàng hậu khóc sướt
mướt. Nhà vua hỏi lý do, hoàng hậu đáp lời:
- Em
có nguyện nhỏ, e không thành, đành phải chết đi thôi!
- Em
có lời nguyện thế nào? Nếu hợp lý thì ta nào không đáp
ứng!. - Nhà vua hỏi.
Hoàng
hậu liền tâu với nhà vua:
- Bốn
đứa con của Thứ phi đều có oai đức, còn đứa con của
thiếp tuy lớn nhưng tài đức không bằng ai. Vấn đề kế
thừa đại nghiệp e chúng nó sẽ đoạt ngôi mà thôi! Nếu
nhà vua tẫn xuất cả bốn đứa kia thì thiếp mới yên tâm.
- Bốn
đứa nó đều hiếu đễ, đối với nước không có lỗi gì,
nay Ta làm thế nào để tẫn xuất được? - Nhà vua khéo léo
đặt vấn đề.
- Thật
ra, việc nhà cả việc nước, lòng em quá đổi lo toan đền
đáp, nhưng vì bốn đứa con của vua đều có oai đức, nhân
dân đều quý mến chúng. Một ngày nào đó, chúng nó tranh
giành nhau ngôi vị, thì ắt hẳn sẽ sát hại nhau và lộc
nước lớn lao kia sẽ bị tiêu diệt, mai sau làm gì có vua?!
Bởi thế, em muốn tránh sự tranh ngôi này. - Hoàng hậu thưa.
- Thôi!
Thôi! Ðừng nói thêm nữa!. - Nhà vua chận lời.
Sau
nhiều ngày suy nghĩ, nhà vua đi đến quyết định, gọi bốn
người con kia lại ban lệnh: “Phải ra khỏi nước”. Thi
hành lệnh vua cha, bốn người con bắt tay ngay vào việc chuẩn
bị hành trang để lên đường. Trong lúc ấy, vua cha cũng chấp
thuận cho tất cả mọi người muốn theo bốn con mình thì
cứ tự nhiên.
Ngày
bái biệt vua cha lên đường và theo sau bốn người con oai
đức kia là mẹ, chị em ruột rà, là lực sĩ, bách quan, Bà-la-môn,
Trưởng giả, Cư sĩ và tất cả nhân dân. Họ rất vui mừng
như một ngày hội đi mở nước...
Qua
được bên kia sông Kỳ-la, đoàn người đông đảo kia được
hướng dẫn bởi bốn người con vua, đi đến phía Bắc Tuyết
Sơn. Nơi đây, thế đất bằng phẳng, rộng rãi, bốn bề
ngút ngàn sự trong lành, tĩnh mịch, lại có nhiều trái ngọt,
cây lành, kỳ hoa, dị thảo và muôn thú đủ loại... Nhận
ra đất lành, bốn người con cho dừng lại rồi gọi Bà-la-môn,
Trưởng giả, Cư sĩ đến để cùng nhau bàn bạc, lấy biểu
quyết: “Các nơi đã đi qua, không nơi nào hơn chỗ này, có
thể định cư được rồi”. Tất cả đều nhất trí nơi
đây là quê hương mới.
Họ
bắt tay vào việc xây dựng thành ấp và chỉ trong thời gian
vài năm, số người các nơi quy tụ về đông đúc, nền kinh
tế tăng trưởng nhanh chóng và cũng nhanh chóng trở thành một
đại quốc.
Cách
vài năm sau, vua cha nhớ đến con, hỏi quần thần:
- Bốn
đứa con của trẫm, nay ở đâu và thế nào rồi?
- Tâu
Thánh thượng, ở phía Bắc Tuyết Sơn, gần rừng Xá-di, xây
dựng thành quách, doanh ấp khang trang, nhân dân phát đạt,
đất đai màu mỡ, áo cơm sung túc, người người, nhà nhà
an vui. - Quần thần tâu.
Nhà
vua nghe rất hoan hỷ và khen ngợi khả năng của bốn người
con quá phi thường. Lời khen này được nhà vua lập lại trước
quần thần ba lần. Cũng kể từ ngày đó, danh hiệu Thích
Ca chủng tộc mở ra trang sử cho chính mình.
Người
con thứ tư Ni-lâu có người con tên là Tượng-đầu-la.
Tượng-đầu-la
có con tên là Cù-đầu-la.
Cù-đầu-la
có con tên là Ni-hưu-la.
Ni-hưu-la
có bốn người con tên là: Tịnh-phạn, Bạch-phạn, Hộc-phạn
và Cam-lồ-phạn.
Vua
Tịnh-phạn có hai người con: một tên là Bồ-tát, hai tên
là Nan-đà.
Vua
Bạch-phạn có hai người con: một tên là A-nan, hai tên là
Ðiều-đạt.
Vua
Hộc-phạn có hai người con: một tên là Ma-ha-nam, hai tên là
A-na-luật.
Vua
Cam-lồ-phạn có hai người con: một tên là Bà-bà, hai tên
là Bạt-đề.
Bồ-tát
có con tên là La-hầu-la. Khi còn nhỏ, Bồ-tát đã có chí xuất
gia. Vua Tịnh-phạn sợ con học đạo, thường dùng ngũ dục
để cho con vui chơi. Ðến tuổi mười bốn, Bồ-tát oai nghiêm
lên xa giá du ngoạn cửa thành phía Ðông, thấy một người
già, đầu bạc, lưng khòm, chống gậy, bước đi yếu ớt.
Bồ-tát hỏi người hầu xe:
- Ðó
gọi là người gì?
- Thưa,
đó là người già. - Người hầu xe đáp.
- Già
là thế nào? - Bồ-tát hỏi.
- Già
là tuổi cao sức yếu, lưng mỏi gối dùn, hình dạng biến
đổi, sắc tướng héo hon, đứng ngồi khổ sở, mạng sống
mong manh, cho nên gọi là già. - Kẻ hầu xe thưa đáp.
- Ta
có tránh khỏi tình trạng đó không? - Bồ-tát hỏi.
- Thưa
Ngài, làm sao tránh khỏi được! - Kẻ hầu đáp.
Bồ-tát
ra lệnh cho xe về lại cung, tự nghĩ: “Chưa lìa khỏi sự
già, thì ta vẫn sầu ưu, không vui”.
Vua
cha hỏi người hầu xe:
- Thái
tử đi chơi có vui hay không?
Người
hầu xe đáp:
- Tâu
Hoàng thượng, Bồ-tát không vui.
- Tại
sao vậy?
- Vì
gặp một người già nên thái tử không vui.
Nhà
vua lấy làm sợ, vì theo lời thầy tướng, e không lâu nữa
thái tử xuất gia. Nhà vua lại gia tăng ngũ dục để mua vui
cho thái tử.
Ðược
một thời gian không lâu sau, thái tử Bồ-tát lại ra lệnh
người hầu xe nghiêm xa giá đưa thái tử du quán cửa thành
phía Nam. Lại gặp một người bệnh, thân hình gầy guộc,
dựa cửa thành thở hổn hển. Thái tử hỏi người hầu xe:
- Ðó
là người gì?
- Thưa
Bồ-tát, đó là người bệnh. - Người hầu đáp.
- Thế
nào gọi là người bệnh? - Bồ-tát hỏi.
- Thưa
Ngài, bốn đại tổn giảm, ăn uống không được, sức lực
yếu dần, mạng sống chỉ còn trong khoảnh khắc, cho nên gọi
là bệnh. - Người hầu xe trả lời.
- Ta
có tránh khỏi tình trạng đó không? -Thái tử hỏi.
- Thưa
Ngài, làm sao tránh khỏi?! -Người hầu xe đáp.
Thái
tử bảo quay xe về cung, tự nghĩ: “Chưa lìa khỏi sự già,
bệnh thì còn phải ưu sầu hơn!”.
Nhà
vua hỏi người hầu xe:
- Thái
tử đi chơi có vui không?
- Muôn
tâu, hôm nay lại càng không vui.
- Vì
sao?
- Tâu
Hoàng thượng, vì thái tử gặp một người bệnh, cho nên
không vui.
Nhà
vua lại sợ thái tử xuất gia, lệnh tăng thêm những thứ
vui hoan lạc ngày đêm trong cung, để thái tử bớt ưu tư sầu
muộn.
Sau
một thời gian, thái tử Bồ-tát lại bảo người hầu xe nghiêm
xa giá du quán cửa thành phía Tây. Một cảnh tượng khác xảy
ra, thái tử thấy một người nằm bất động trên tấm gỗ
có nhiều người khiên, theo sau là gia đình, cả nam lẫn nữ
đều khóc than, thái tử liền hỏi người hầu xe:
- Ðó
là người gì?
- Thưa
thái tử, đó là người chết. - Người hầu đáp lời.
- Thế
nào gọi là chết? - Thái tử lại hỏi.
- Thưa
Ngài, hơi thở chấm dứt, tinh thần không biết gì nữa, đem
thây vất bỏ nơi đồng trống, vĩnh viễn xa lìa bà con, cho
nên gọi là chết. - Người hầu xe đáp lời.
- Ta
có thể tránh khỏi trạng huống đó không? -Bồ-tát hỏi.
- Làm
sao tránh khỏi được, thưa thái tử! -Người hầu đáp.
Thái
tử Bồ-tát nghĩ ngợi: “Chưa tránh khỏi già, bệnh, chết
thì còn phải sầu ưu nhiều hơn nữa!”.
Thái
tử liền ra lệnh cho xe quay về. Trên đường, thấy người
cạo bỏ râu tóc, mặc pháp phục, bưng bát, nhìn đất mà
đi, thái tử hỏi người hầu xe:
- Ðó
là người gì, mà y phục khác với người đời?
- Thưa
thái tử, đó là người xuất gia.
- Thế
nào gọi là người xuất gia?
- Thưa
Ngài, người khéo tự điều phục, đủ các oai nghi, thường
hành nhẫn nhục, thương xót, gần gũi chúng sanh, cho nên gọi
là người xuất gia.
Bồ-tát
nghe thế, liền thốt lên:
- Lành
thay! Lành thay! Ðây là sự sống an lạc nhất!
Thái
tử xuống xe, đến gần người xuất gia, cung kính hỏi:
- Tại
sao hình thức y phục của ngài không giống người đời?
Người
xuất gia trả lời nội dung như người hầu xe đã thưa. Thái
tử Bồ-tát lại ba lần khen:
- Lành
thay! Nếp sống này là ta thích nhất!
Bồ-tát
lên xe trở về cung. Từ xa có một người nữ trông thấy
thái tử Bồ-tát, trái tim cô ta bị rung động bởi ái dục,
liền nói kệ:
Mẹ
vui có con này
Cha
con vui cũng thế
Người
nữ được chồng này
Vui
hơn vào Nê-hoàn2.
Thái
tử Bồ-tát nghe hai từ Nê-hoàn, lòng hoan hỷ vô cùng, liền
nghĩ: “Làm thế nào để ta chứng được Vô thượng Nê-hoàn
này?”
Trở
về cung, Bồ-tát trầm tư miên man đến các pháp: sanh, lão,
bệnh, tử chưa dứt, chưa lìa được.....
Nhà
vua hỏi người hầu xe:
- Nay
thái tử đi dạo chơi có vui không?
- Khi
đi thì không vui, nhưng lúc về thì lại vui.
- Tại
sao vậy?
- Thưa
Hoàng thượng, khi đi gặp một người chết, cho nên thái tử
không vui; nhưng lúc về thấy một tu sĩ, cho nên rất vui. -
Người hầu xe giải thích.
Nhà
vua nghĩ: “Tướng sư nói thái tử xuất gia, chắc là đúng”.
Ông bèn đem tất cả những lạc thú trong hoàng triều, ban
tặng cho thái tử, để mong sao chí hướng xuất gia kia bị
lãng quên trong“vở tuồng” ngũ dục.
Một
hôm, trước trò vui của các kỷ nữ, Bồ-tát thưởng thức
tạm thời an giấc được. Ðêm càng khuya, bọn kỷ nữ cũng
mệt đã vùi mình trong giấc ngủ. Bồ-tát tỉnh dậy, thấy
các kỷ nữ cùng gối nhau ngủ, để lộ tấm thân, chẳng
khác nào con người bằng cây gỗ, nước mũi, nước mắt,
nước dãi từ trong ấy chảy ra. Ðàn cầm, đàn sắc, đàn
tiêu... ngổn ngang dưới đất, lại cảm thấy cung điện giống
như gò hoang. Chứng kiến cảnh tượng này, Bồ-tát thốt lên
lời than:
- Họa
thay! Họa thay!
Bồ-tát
liền chạy đến cung điện của phụ vương đang ở thì biến
trạng nơi đây cũng lại như vậy. Bồ-tát lại than:
- Họa
thay! Họa thay! Chán ngán quá rồi! Phải xa lìa gấp!
Ngay
lúc ấy, Bồ-tát ra lệnh cho nô dịch Xiển-đà:
- Ngươi
hãy thắng ngựa, đừng để cho một ai hay biết!
Xiển-đà
thưa:
- Thưa
thái tử, ban đêm không phải là lúc du ngoạn. Hơn nữa, đâu
có oán địch bức bách đến nơi hoàng cung, không rõ vì lý
do gì, đang đêm thái tử bảo thắng ngựa?
- Có
đại oán địch, ngươi không biết đâu! Cái oán già, bệnh,
chết, cái oán đó là lớn lắm! Ngươi phải thắng ngựa gấp,
không được trì hoãn! - Bồ-tát ra lệnh.
Con
bạch mã được thắng xong, Xiển-đà thưa:
- Ngựa
đã thắng xong, dưới sân kia, thưa thái tử.
Bồ-tát
liền đến bên ngựa, sửa muốn nhảy lên, con ngựa tự nhiên
hý lên với âm thanh buồn thảm. Thiên thần sợ có trở ngại,
bèn làm loãng tiếng vang ngựa hý nên không đánh thức một
ai trong cung. Bồ-tát lên ngựa, thúc ngựa về phía lầu đài
hướng Ðông, cửa Ðông liền mở, lại trực chỉ cửa thành,
cửa thành cũng tự mở. Ra khỏi cửa thành, Bồ-tát hướng
về rừng A-nậu-da3, cách thành không xa. Bồ-tát xuống ngựa,
cởi áo quý báu trao cho Xiển-đà và nói:
- Ngươi
đem con ngựa và chiếc áo này về hoàng cung, tâu lên vua rằng:
“Hôm nay ta bái tạ cha mẹ để đi học đạo, không lâu lắm
đâu ta sẽ trở về. Xin song thân đừng quá buồn rầu”.
Xiển-đà
khóc lóc, quỳ gối thưa:
- Tướng
sư trước kia có nói: “Thái tử sẽ làm Chuyển luân Thánh
vương4 có bảy món báu, một ngàn người con, làm vua bốn
cõi thiên hạ, dùng chánh pháp trị đời, không dùng binh trượng,
tự nhiên thái bình”, tại sao nay lại vất bỏ ngôi vua, cởi
áo quý báu, nhận sự khổ sở nơi núi rừng hoang vu chướng
khí này?!
Bồ-tát
hỏi lại:
- Tướng
sư lúc bấy giờ còn nói gì nữa không?
- Thưa
Bồ-tát, có. Tướng sư bảo: “Nếu Ngài không vui sống với
thiên hạ mà xuất gia học đạo thì sẽ thành Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác”.
- Ngươi
nghe rõ như vậy, tại sao nay lại buồn? Ngươi phải mau quay
trở về tâu với song thân ta: “Dù cho xương tan thịt nát,
nếu ta không chấm dứt được nguồn gốc sanh, lão, bệnh,
tử thì ta không trở về”. - Bồ-tát khẳng định như thế.
Lúc
ấy, Xiển-đà buồn khóc, đến trước Bồ-tát kính lễ, nhiễu
quanh ba vòng rồi dắt ngựa, đem áo báu trở về cung...
Bồ-tát
tiến thẳng về phía trước, thấy một người thợ săn mặc
chiếc áo ca-sa, liền đến chỗ ông ta đổi xiêm y lấy áo
ca-sa, rồi mặc vào mình. Bồ-tát lại đi đến cây Tu-ma-na5.
Bên gốc cây này có người thợ cạo tóc, nhờ họ cạo đầu.
Trong lúc người thợ cạo, cạo tóc Bồ-tát thì trời Thích-đề-hoàn-nhơn
nhanh như chớp, đến trước Bồ-tát lấy y hứng tóc đem về
thiên cung.
Cạo
tóc xong, Bồ-tát suy nghĩ: “Nay ta đã là người xuất gia
thì tự nhiên đủ giới”. Từ đó, Ngài tuần tự du hành
đến thành Vương-xá, thủ đô nước Ma-kiệt-đà. Vua nước
Ma-kiệt-đà là vua Bình-sa. Lúc thiếu thời, nhà vua phát năm
lời nguyện:
1-
Phụ vương băng hà, ta sẽ nối ngôi.
2-
Khi làm vua, gặp Phật ra đời.
3-
Chính mình gặp được Phật, gần gũi cúng dường.
4-
Phát tâm hoan hỷ để được nghe pháp.
5-
Nghe pháp rồi liền được tín giải.
Ðạo
sĩ Bồ-tát vào thành khất thực, oai nghi rạng rỡ, nhìn đất
mà đi. Khi ấy, chưa có bình bát, Ngài lấy lá sen làm bát,
đi khắp các nẻo đường, bát lá sen không rời, là căn bản
của sự sống.
Ngày
ấy, vua Bình-sa cùng quần thần đứng trên vọng lầu, từ
xa trông thấy Bồ-tát, nhà vua cảm thấy như một điều kỳ
lạ, quay lại nói với chư thần:
- Ta
chưa từng nghe thấy ai như con người kia, chắc là Thánh thần!
Quần
thần tâu:
- Trước
đây có nghe, phía Bắc Tuyết-Sơn, vua thành Ca-duy-la-vệ tên
là Tịnh-phạn, sanh người con tên là Bồ-tát. Xem tướng người
này, thầy tướng nói: “Nếu ở nhà thì làm vua Chuyển luân
Thánh vương, làm chủ bốn cõi thiên hạ, bảy món báu tự
đến, tức là luân báu, tượng báu, mã báu, châu báu, nữ
báu, thần báu và chủ binh báu. Vua có một ngàn người con
dũng kiện, sức mạnh phi thường, dùng pháp chế ngự đời,
binh trượng không dùng đến mà tự nhiên thái bình. Nếu không
vui sống với thế gian, xuất gia học đạo thì chứng thành
Phật đạo, độ sanh tử cho người”. Nghe thái tử đã xuất
gia, chắc là người này vậy.
Vua
nghe nói như thế, lòng rất vui mừng, nói:
- Năm
lời nguyện của ta trước đây, một lời đã thực hiện,
còn bốn lời nữa, chắc nay sắp toại nguyện.
Nhà
vua liền ra lệnh cho hai người lần theo xem Bồ-tát trú nghỉ
tại đâu để báo cho vua biết.
Hai
người nhận lệnh vua theo sát con người khất thực kia. Bồ-tát
khất thực xong, trở về núi Ba-la-nại6, ngồi kiết già hướng
về nước Ba-tuần. Thế rồi, một người bám trụ quan sát,
một người về tâu với vua. Nhà vua liền cho trang nghiêm xa
giá thẳng đến núi Ba-la-nại. Bồ-tát biết được nên xả
kiết già, xuống núi trong lúc nhà vua đang leo lên núi. Hai
người, bên cầu bên ứng gặp nhau, Bồ-tát nói:
- Lại
đây! Lành thay đại vương! Ngài sẽ nhận được điều an
lành.
Nhà
vua liền cúi đầu kính lễ sát chân rồi ngồi lui qua một
bên, bạch Bồ-tát rằng:
- Ngài
sanh từ nước nào? Xuất gia từ dòng họ nào?
- Tôi
sinh ra từ phía Bắc Tuyết-Sơn, nước Xá-di, thành Ca-duy-la-vệ.
Cha tên là Tịnh-phạn, họ là Cù Ðàm.
Nhà
vua lại muốn thử Bồ-tát, gợi ý:
- Thưa
Thánh giả, người dòng tộc tôn quý! Ngôi vua lớn ở đời,
Thánh đức tự nhiên, nhiếp hóa bốn biển; bốn biển không
một ai không trông chờ. Nếu như Thánh giả nhiếp chính thì
tôi cũng hướng về phương Bắc mà phụng thờ.
Bồ-tát
trả lời:
- Ðịa
vị nào bằng địa vị Chuyển luân Thánh vương mà tôi đã
bỏ, huống là bốn biển. Sở dĩ tôi xuất gia cầu đạo là
muốn độ tất cả cái khổ lớn của sanh tử. Sao không thỉnh
tôi thành đạo rồi độ ngài trước, mà lại cho việc đó
là trọng yếu?!
Nhà
vua nói:
- Hay
thay! Lời nói đó thật chí lý! Vậy thưa Thánh giả, khi nào
thành đạo xin độ tôi và người trong nước này trước.
Bồ-tát
chấp nhận lời vua, nhà vua rất vui mừng, kính lễ sát chân
rồi cáo lui. Sau khi nhà vua ra về, Bồ-tát liền thẳng hướng
về cây Bồ-đề. Cách cây Bồ-đề không xa có một người
cắt cỏ tên là Kiết-an. Ngài đến xin một ít cỏ, đem đến
trải dưới gốc cây, rồi ngồi kiết-già, thẳng người chánh
ý, hệ niệm trước mắt, liền trừ được năm cái, lìa dục,
lìa ác, bất thiện pháp... Cuối cùng, Ngài sở đắc đệ
Tứ thiền và du hý trong đó, thông qua hành ba mươi bảy đạo
phẩm. Do tịnh tâm này mà tam minh rỗng chiếu, tức là Túc
mạng minh, Tha tâm minh và Lậu tận minh, như trong kinh Thụy
Ứng Bổn Khởi7 đã nói.
Khi
ấy, Ngài đứng dậy, đến tụ lạc Uất-tỳ-la8, ngồi dưới
gốc cây, khởi đầu cho việc thành Phật đạo. Ðầu đêm
Ngài quán mười hai nhân duyên thuận nghịch. Do duyên cái này,
nên cái này hiện hữu, duyên diệt thì cái này diệt theo.
Nghĩa là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh
sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên
thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên
sanh, sanh duyên lão tử, ưu bi, khổ não. Nếu vô minh diệt
thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì
danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập
diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì
ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt,
hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì lão, tử, ưu bi, khổ
não đều diệt. Thấy rõ nghĩa duyên khởi này rồi, Ngài bèn
nói kệ:
Các
pháp đều duyên sanh
Phạm
Chí mới tọa thiền
Ðã
rõ pháp duyên sanh
Các
nghi có thể trừ.
Các
pháp đều duyên sanh
Phạm
Chí mới tọa thiền
Ðã
rõ duyên sanh pháp
Các
khổ có thể trừ.
Các
pháp đều duyên sanh
Phạm
Chí mới tọa thiền
Ma
tối tăm phá được
Như
mặt trời trên không.
Bấy
giờ, đức Phật mắc bệnh phong, Thần núi Ma-tu-la liền hái
quả Ha-lê-lặc9 dâng Phật, thưa:
- Cúi
xin Thế Tôn dùng trái cây này để trừ bệnh phong.
Ðức
Phật thọ nhận dùng, bệnh phong liền hết, ngồi kiết già
bảy ngày, thọ niềm vui giải thoát. Sau bảy ngày, xuất Tam
muội đứng dậy, du hành trong nhân gian.
Khi
ấy, có năm trăm khách buôn chở hàng trên năm trăm cỗ xe,
trong đó có hai đại nhân: một tên là Ly-vị, người thứ
hai tên là Ba-lợi. Xưa kia hai người có quen thân với một
Thiện tri thức. Sau khi vị này qua đời làm một Thiện thần,
thường đi theo hai người bạn, nghĩ rằng: “Nay đức Phật
mới thành đạo, chưa có người dâng cúng thức ăn, ta nên
khiến hai ông bạn cúng dường đức Phật để được an lành
nhiều kiếp”. Vị Thiện thần liền dùng thần lực làm cho
đoàn xe bị trở ngại, mọi người sợ sệt, khấn vái bốn
phương. Vị Thiện thần từ không trung nói:
- Các
người đừng sợ! Các người đừng sợ! Nay đức Phật Thế
Tôn vừa mới thành đạo, ngồi yên lặng bảy ngày, từ thiền
định đứng dậy du hành và hiện ngồi nơi gốc cây kia, và
cũng chưa có người dâng cúng. Hai ông bạn nên đem lương
khô, mật dâng cúng để được an lạc nhiều đời.
Hai
người đều hoan hỷ, trộn mật với lương khô đem đến
cúng Phật. Từ xa trông thấy đức Thế Tôn ngồi dưới tàng
cây, dung nhan đĩnh đạc, các căn tịch tịnh, có ba mươi hai
tướng của đại nhân, ánh sáng tỏa vòng quanh một tầm10,
giống như núi vàng. Họ đến trước mặt, kính lễ sát chân
Phật rồi dâng cúng lương khô với mật ong.
Ðức
Thế Tôn khởi lên ý nghĩ: “Các đức Phật quá khứ đều
dùng bình bát để thọ, các đức Phật đương lai cũng lại
như vậy. Nay ta cũng nên dùng bát để thọ nhận thức ăn
cúng dường”. Tứ Thiên Vương hiểu ý Phật, mỗi người
tự lấy một cái bát bằng đá sạch, có mùi thơm tự nhiên
đem dâng cúng đức Thế Tôn, bạch rằng:
- Cúi
xin Thế Tôn nhận lấy đồ đựng này của chúng con, để
thọ thực phẩm dâng cúng của người lái buôn.
Ðức
Phật lại suy nghĩ: “Nếu lấy một cái bát của một Thiên
vương thì mấy vị kia không bằng lòng”. Ngài bèn lấy cả
bốn cái để vào lòng bàn tay bên trái, lấy tay bên phải
ép lại thành một cái, rồi nhận thực phẩm cúng dường.
Thọ nhận rồi, Ngài nói:
- Các
người nên quy y Phật, quy y Pháp.
Hai
người liền quy y Phật, quy y Pháp. Bấy giờ, trong loài người,
hai nhà buôn này là hai người quy y Phật, Pháp đầu tiên.
Ngài nói pháp tùy hỷ, chú nguyện bằng bài kệ:
Ðôi
chân người an ổn
Bốn
chân cũng an ổn
Ði
cũng được an ổn
Về
cũng được an ổn
Như
người cày cầu mong
Gieo
giống, mầm hy vọng
Biển
hy vọng người mong
Thu
hoạch như người cày.
Ðức
Thế Tôn nói bài kệ xong, lại vì khách buôn nói các diệu
pháp, chỉ vẽ lợi ích để họ vui mừng. Sau đó, Ngài đến
ngồi dưới một tàng cây, thọ thực thức ăn mà Ngài đã
thọ nhận. Dùng lương khô trộn mật xong, Ngài lại ngồi
kiết già nhập định bảy ngày, thọ niềm vui giải thoát.
Sau
bảy ngày, đức Phật đến chỗ trú ngụ của con rồng Văn-lân11,
Ngài ngồi dưới tàng cây12. Con rồng ra khỏi nước, nó dùng
thức ăn không phải của loài người dâng lên đức Thế Tôn.
Ðức Phật nhận và thọ thực, rồi lại ngồi nhập định
bảy ngày, thọ niềm vui giải thoát.
Khi
ấy, bầu trời dày đặc mây đen rồi tuôn mưa suốt bảy
ngày khiến người hoảng sợ. Con rồng nghĩ: “Nay trời mưa
đáng khiếp, ta nên biến hóa làm thành thân lớn vây quanh
đức Phật bảy vòng, lấy đầu che lên đức Phật để khỏi
mưa gió, mòng muỗi quấy rầy Ngài”. Rồng thực hiện ngay
ý định của mình. Bảy ngày mưa qua đi, đức Phật từ Tam
muội đứng dậy. Qua cơn mưa, nhìn thấy trời quang mây tạnh,
rồng liền xả bỏ thân hình, rồi hóa làm một thiếu niên,
cúi đầu bạch Phật:
-Con
hóa thân lớn vây bọc lấy Như Lai bảy vòng và đầu con che
bên trên là muốn ngăn gió mưa muỗi mòng đến xúc não Như
Lai.
Vì
lý do đó, đức Phật nói kệ:
Xa
hết chốn tịnh, vui
Nghe
pháp, thấy pháp vui
Không
não hại, đời vui
Ðời
ly dục, đời vui
Vượt
hết ân ái, vui
Người
dẹp hết ngã mạn
Ðó
là vui tối thượng.
Ðức
Phật nói kệ rồi, đứng dậy đến tụ lạc Uất-tỳ-la-tư-na13,
Ngài vào thôn khất thực. Sau đó đến nhà Bà-la-môn Tư-na
đứng im lặng bên ngoài cửa. Người con gái tên là Tu-xà-đà
nhìn thấy oai tướng thần diệu của đức Phật, liền đến
trước mặt, lấy bình bát của đức Phật đựng đầy thức
ăn ngon, dâng cúng đức Phật. Ðức Phật thọ nhận rồi nói:
- Người
có thể quy y Phật, quy y Pháp.
Tu-xà-đà
liền thọ nhận. Trong số người nữ, Tu-xà-đà là người
đầu tiên thọ quy y Phật, quy y Pháp, làm người Ưu-bà-di.
Ðức
Phật thọ thực xong, trở lại cây Bồ-đề ngồi kiết già
nhập định bảy ngày, thọ niềm vui giải thoát.
Sau
bảy ngày, từ Tam muội đứng dậy, mặc y bưng bát, Ngài trở
lại nhà ấy. Tư-na dâng thức ăn rồi thọ quy y (như trên
đã nói). Ngày tiếp theo, đức Phật lại đến nhà ấy, người
vợ Tư-na nhìn thấy đức Phật, dâng cúng thức ăn rồi thọ
quy y như trước.
Và
một lần nữa, đức Phật quay trở lại nhà ấy, bốn chị
em trong nhà thấy đức Phật đến, liền dâng cúng thức ăn,
cũng thọ quy y Phật, quy y Pháp như trước.
Ðức
Thế Tôn thọ thực xong, lại trở về dưới cây Bồ-đề,
ngồi nhập định bảy ngày. Khi xuất định, Ngài đi đến
cây A-dự-ba-la ni-câu-loại14. Giữa đường thấy một người
nữ đang khuấy lạc(cao sửa) để làm tô(váng sửa), bèn đến
khất thực. Người nữ lấy bát đựng đầy lạc cúng Phật,
rồi quy y Phật, Pháp.
Ðức
Phật thọ thực rồi đến dưới gốc cây15 ở phía trước,
ngồi nhập định Tam muội bảy ngày.
Qua
bảy ngày, xuất định, Ngài khởi lên ý niệm: “Pháp ta chứng
được rất là vi diệu, khó nhận rõ, khó thấy, tịch tịnh
vô vi. Người trí mới biết chỗ vi diệu ấy. Kẻ ngu, tối
tăm khó bề hiểu nổi. Chúng sanh lại thích ở trong nhà hầm
ba cõi, kết dệt thành cái nghiệp chướng, làm sao có thể
ngộ đạo mười hai nhân duyên thậm thâm vi diệu khó thấy
này. Hơn nữa, phải dứt tất cả hành, cắt đứt ngay sự
lưu chuyển của nó, tận diệt ái ân, thì rõ cội nguồn Vô
Dư Nê-hoàn. Quả thật là điều rất khó! Nếu ta đem nói
ra thì chỉ tự chuốc lấy cái vất vả, nhọc nhằn. Cuối
cùng tự nhận lấy cái khổ hoang tưởng!”.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn muốn nói rõ lý do vì sao không nói rõ
nghĩa vi diệu bằng lời kệ:
Ðạo
ta thành rất khó
Không
nằm trong luận lý
Sanh
tử nghịch dòng xoay
Pháp
mầu sâu khó hiểu
Bị
nhiễm dục phủ che
Ngu
ám không thấy được
Người
tham nhuế, ngu si
Không
thể vào pháp này.
Do
vậy mà lúc này đức Thế Tôn im lặng trầm tư không nói
pháp. Bấy giờ, Phạm thiên vương16 trên cõi Phạm thiên, từ
xa biết được ý nghĩ của Phật, khởi niệm: “Nay đức
Phật Chánh Giác xuất hiện ở đời, mà không vì chúng sanh
nói pháp tự thân đã chứng ngộ thì thế gian mãi ở trong
tối tăm. Sau khi chết phải đọa vào ba đường dữ”. Nghĩ
như vậy, trong chớp nhoáng biến mất, rời khỏi cõi Phạm
thiên, xuất hiện trước đức Phật, đầu mặt kính lễ sát
chân, rồi ngồi lui