Phần
03
Cuộc
đời của Tỳ kheo Liên Hoa Sắc
Chuyện
giặt nhuộm
Kính
Phật, trọng Tăng
Tranh
thủ
Kẻ
tham này không đủ tồn tại
Đừng
làm khổ cư sĩ
Đổi
nghề
Thôi
rồi ân nhân!
Thầy
trò quá biết nhau!
Phỏng
tay trên
Hóa
cỏ thành vàng
Giặc
tháng tám
Chín
lời nguyện của bà Tỳ Xá Khư
Hứa
cuội
Cũng
tại Tỳ kheo
Tơ
tằm ơi! Sao khổ thế!
Của
quý lông dê đen
Tự
đeo cái khổ
Lại
chuyện lông dê
CUỘC
ÐỜI CỦA TỲ-KHEO LIÊN HOA SẮC
Ðức
Phật đang lưu trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ trong ấp Ưu-thiện-na
có một Cư sĩ ở tuổi thiếu niên, trên đường du lịch vui
chơi gặp một người con gái tên là Liên Hoa Sắc, sắc đẹp
mơn mỡn như hoa đào, dáng vẻ cực kỳ xinh đẹp. Hợp tình
hợp tánh, yêu nhau thắm thiết, trở thành vợ chồng xứng
đôi vừa lứa nhất thiên hạ. Sau thời gian ngắn, người
vợ mang thai. Gần ngày sanh, cô ta về lại nhà cha mẹ mình.
Ở đây, cô sanh một bé gái.
Vì
người vợ nằm nơi nên người chồng không thể gần gũi
được. Anh ta lại vụng trộm tư thông với mẹ vợ của mình...
Liên Hoa Sắc biết được, muốn vất bỏ tất cả, cắt đứt
đạo vợ chồng, nhưng lại sợ liên lụy đến cha mẹ; hơn
nữa, vì thương con nên phải ôm sầu, nuốt hận, chịu tủi
nhục để nuôi con, nhằm che mờ cái điều khốn nạn kia...
Về
lại nhà chồng, cúi đầu nuôi con được một thời gian 8
năm rồi bỏ nhà ra đi để lại đứa con lên 8. Ðến được
thành Ba-la-nại3 trong sự đói khát lã người, Liên Hoa Sắc
ngồi nghỉ bên mé nước. Trong lúc ấy, có ông Trưởng giả
nọ du ngoạn qua đây, trông thấy Liên Hoa, ông ta say đắm,
đem lòng sủng ái và ngõ lời hỏi thăm:
- Cô
ở đâu, dòng họ cha mẹ cô thế nào? Hiện nay cô có bị
ai ràng buộc không? Hay còn độc thân?
Liên
Hoa Sắc đáp:
- Tôi
là đứa con gái thuộc dòng họ... nay tôi không thuộc sở
hữu của ai.
Ông
Trưởng giả lại hỏi:
- Nếu
không thuộc sở hữu của ai thì có thể vì tôi làm chánh
thất được không?
Liên
Hoa Sắc nói:
- Người
con gái lấy chồng, tại sao không được?!
Ông
Trưởng giả liền đưa cô ta lên xe trở về nhà, rồi tấn
phong làm vợ cả. Liên Hoa Sắc sắp đặt chu toàn mọi việc
trong nhà. Từ lớn đến nhỏ hòa thuận, sung túc, vợ chồng
tương kính, nặng nghĩa lẫn nhau. Sau 8 năm, bấy giờ ông Trưởng
giả nói với vợ rằng:
- Tôi
có đầu tư vốn tại ấp Ưu-thiện-na, theo sổ sách, kiểm
tra số nợ lãi 8 năm qua, thống kê cho đến nay lãi sanh từ
vốn ấy lên đến con số cả ức. Hôm nay tôi muốn đến
đó thu lãi về, chúng ta tạm thời xa nhau, chắc em đồng ý
chứ?
Người
vợ nói:
- Phong
tục tại ấp đó người nữ thích phóng dật, anh đến đó
coi chừng bị mất tiết tháo của người trượng phu. Của
cải như phân, như đất, sao lại bận lòng tính toán làm chi?!
Người
chồng trả lời:
- Tôi
tuy biết rõ nhược điểm của mình, nhưng không đến nỗi
bị cám dỗ, mê loạn.
Người
vợ lại nói:
- Nếu
anh quyết định cần phải đi thì nên suy nghĩ kỹ và cho em
nghe một lời thề.
Người
chồng nói:
- Tốt
lắm, anh thề rằng: “Nếu anh có mống tâm yêu thương nhăn
nhít, thì khi trở về, anh sẽ chết với tà tâm đó ngay tại
cửa ngõ”.
Với
lời thề như thế, người chồng đến ấp Ưu-thiện-na. Vì
phải thu lãi nhiều nơi, nên thời gian kéo dài đến cả năm.
Xa nhà càng lâu ngày, nhớ nhà càng gấp bội, cái thiếu tình
lại sanh nọ, kia, nên muốn tìm của lạ, nhất là tiền bạc
dư giả mua tiên cũng được. Trưởng giả nảy ra ý nghĩ:
“Ta nên giải quyết thế nào để không đi ngược lời thề
với vợ, mà vẫn thỏa tình hiện nay?”. Trưởng giả lại
tính: “Nếu ta tà dâm thì trái lời thề với vợ, thôi thì
tạo một nhà riêng là êm chuyện, khỏi kẹt vào lời thề”.
Thế
rồi, ông ta lân la dò tìm cái của riêng ấy. Gặp một người
con gái dung nhan tao nhã, dịu dàng, nét người đoan chánh toát
ra một sức hấp dẫn lạ kỳ. Ông ta đem lòng yêu thương
cô bé này một cách say đắm. Ông thẳng tiến tìm đến nhà
cầu hôn.
Cha
người con gái thấy ông Trưởng giả tiền tài loang loáng,
lại rất hào phóng. Vớ được người giàu sụ như thế,
người cha hoan hỷ nhận lời cầu hôn của Trưởng giả. Cô
gái bây giờ trở thành người vợ trẻ của kẻ trọc phú.
Thu nợ xong, ông Trưởng giả cùng với người vợ trẻ quay
về cố quốc. Ông đưa người vợ đến an nhàn ở trong một
tổ ấm riêng biệt. Êm ấm đâu đấy, ông mới về nhà cũ.
Coi như chẳng có việc gì xảy ra. Từ đó, sáng đi, chiều
về, khác hẳn với ngày trước. Liên Hoa Sắc cảm nhận được
sự bất thường, âm thầm, cô ta theo dõi rồi hỏi người
tùy tùng của chồng. Người ấy bảo rằng: “Ngoài ấy có
một thiếu phụ nên mới đi - về như vậy”.
Chiều
hôm đó, người chồng về, Liên Hoa Sắc hỏi thẳng vấn đề:
- Anh
đã có người hầu sao lại giấu em, không cho em thấy?!
Ông
Trưởng giả thú nhận:
- Sợ
em biết sự thật lại hận anh, nên phải giấu ngoài ấy.
Người
vợ nói:
- Em
không ghen ghét hiềm hận đâu! Thần minh chứng giám cho em
điều này, anh nên gọi cô ấy về để cùng em lo liệu việc
nhà.
Nghe
lời vợ, Trưởng giả đưa cô em về nhà...
Thời
gian sau, nhân lúc gội đầu, để ý kỹ tướng mạo, Liên
Hoa Sắc mới nghi là con gái mình, bà ta khéo léo hỏi rõ lý
lịch, và thiếu phụ trả lời cặn kẽ về cha mẹ, dòng tộc,
làng xã của mình. Thế là vỡ lẽ! Liên Hoa Sắc kinh hoàng
nói:
- Xưa
kia mẹ và con đồng một chồng! Nay con với mẹ cùng một
chàng rể! Sanh tử mê loạn đến nổi này ư?! Nếu không đoạn
ái dục, xuất gia học đạo thì sự điên đảo, mê hoặc
này làm sao chấm dứt được?!
Liên
Hoa Sắc liền vất bỏ tất cả ra đi và lần lữa đến cửa
Kỳ-hoàn4 trong sự đói khát, mệt lã. Bà ta ngồi tựa vào
gốc cây.
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn giữa một rừng người vây quanh.
Liên Hoa Sắc thấy hàng hàng, lớp lớp người vào ra tấp
nập, nghĩ bụng: “Tiết hội chắc có thức ăn”, bèn đi
lần vào tịnh xá. Thì ra Thế Tôn đang thuyết pháp trước
số đông người đang lắng nghe. Liên Hoa Sắc lắng nghe pháp,
lãnh hội được vấn đề, và sự đói khát ngay lúc ấy cũng
xua tan đâu mất. Bấy giờ, Thế Tôn quan sát khắp hội chúng
xem ai có thể độ được. Ngài thấy rõ chỉ có Liên Hoa Sắc
là người sẽ đắc đạo quả, nên liền nói pháp bốn chân
đế: Khổ, Tập, Tận, Ðạo. Từ nơi chỗ ngồi Liên Hoa Sắc
rũ bỏ được mọi trần cấu, sở đắc con mắt pháp thanh
tịnh. Khi đắc quả rồi, Liên Hoa Sắc một lòng chấp tay
đứng hướng về đức Phật.
Ðức
Phật nói pháp xong, hội chúng ra về. Liên Hoa Sắc đến trước
đức Phật, kính lễ sát chân Ngài, quỳ gối, chấp tay bạch
Phật:
- Con
xin nguyện được xuất gia trong Chánh pháp của đức Phật.
Ðức
Phật chấp nhận rồi bảo Tỳ-kheo ni Ba-xà-ba-đề5:
- Này
Tỳ-kheo ni, nên độ người nữ này tu tập hành đạo.
Ma-ha
Ba-xà-ba-đề vâng lời dạy, liền độ cho xuất gia thọ giới.
Liên Hoa Sắc siêng năng tinh tấn hành đạo, nhanh chóng thành
bậc La-hán.
Sau
khi thành La-hán, nhờ thú vui trong các cảnh thiền giải thoát,
nên dung nhan, tướng mạo Liên Hoa Sắc càng sáng rỡ bội phần
hơn trước.
Ngày
ấy, vào giờ trì bát, Liên Hoa Sắc vào thành khất thực.
Một người Bà-la-môn trông thấy, ông ta đắm say ngay sắc
đẹp của Liên Hoa, liền có ý nghĩ: “Ðây là Tỳ-kheo ni,
ta không thể chiếm đoạt ngay được mà phải khôn khéo tìm
cách tiếp cận, rồi dồn vào thế có thể hành sự được...”
Khất
thực xong, Liên Hoa sắc trở về vườn An-đà6, rồi vào trú
phòng của mình. Người Bà-la-môn kia theo sau theo dõi, nắm
vững chỗ ở và nếp sống của Liên Hoa. Hôm sau, khi đến
giờ khất thực, lợi dụng lúc vắng vẻ không người, ông
ta đột nhập phòng Liên Hoa qua ngã sau, rồi chui xuống gầm
giường nằm yên đợi chờ. Suốt ngày ấy, các Tỳ-kheo ni
tập trung nghe pháp và nghe xong thời pháp thì trời đã tối.
Về đến phòng, vì mỏi mệt nên Liên Hoa Sắc đặt mình xuống
là thiếp đi. Ngay lúc ấy, Bà-la-môn dưới gầm giường bò
ra làm chuyện bất tịnh. Tỳ-kheo ni Liên Hoa liền thức dậy,
rồi vụt bay lên hư không. Còn đối với người Bà-la-môn
thì ngay trên giường ông đã bị đọa thẳng vào địa ngục.
Liên Hoa Sắc nhân đó bay đến chỗ đức Phật, đầu mặt
đảnh lễ sát chân Ngài, rồi bạch lên Phật vấn đề vừa
xảy ra.
Ðức
Phật hỏi:
- Vào
lúc ấy tâm cô thế nào?
Liên
Hoa Sắc thưa:
- Lúc
ấy như lưới sắt nung đỏ rực, áp vào thân con.
Ðức
Phật dạy:
- Như
thế là vô tội.
Liên
Hoa Sắc lại bạch Phật:
- Ngủ
một mình có phạm tội hay không?
Ðức
Phật dạy:
- Người
đắc đạo thì không phạm.
Vào
thời gian ấy, có bọn giặc tập trung tại một địa điểm
rồi thảo luận: “Vật dụng mà chúng ta đoạt được nên
trao đổi như thế này... để có thức ăn ngon và gái đẹp”.
Ða số bọn chúng đều đồng ý rằng: “Vườn An-đà kia
là trú xứ của Tỳ-kheo ni, chắc chắn có sắc đẹp và cũng
sẽ có nhiều thức ăn ngon cung cấp cho ta, ta đến đó phân
chia trao đổi vật dụng, đương nhiên chúng ta sẽ được
như ý muốn”. Trong lúc ấy, tên cầm đầu bọn giặc lại
có lòng kính tin Phật pháp, nghe nói như vậy, lấy làm lo lắng,
trong ý tưởng ông ta: “Bọn chúng chắc sẽ đến gây não
loạn các Tỳ-kheo ni. Ta nên âm thầm cho người đến báo trước”.
Tên cầm đầu bọn giặc liền thực hiện việc mật báo.
Tỳ-kheo ni nhận được với lời cảnh báo: “Tối nay sẽ
có bọn người ác đến đây khủng bố, ắt sẽ sanh náo loạn,
Chư ni nên đi tránh để có được sự an toàn”.
Trong
thành Xá-vệ có một nơi dành riêng cho Tỳ-kheo Tăng trạm
trú, ngôi nhà này do một đại thần phát tâm xây dựng cúng
dường. Ngày hôm ấy không có Tăng trạm trú ở đây, nhân
đó, các Tỳ-kheo ni, sau khi được mật báo đã vội vã về
đây lúc xế chiều và tạm trú ngụ tại ngôi nhà này.
Tối
hôm ấy, bọn giặc đến vườn An-đà, chúng chẳng tìm thấy
một ai cả. Trước sự thất vọng của bọn giặc, người
chủ tướng lại vui mừng, tâm niệm rằng: “Các Tỳ-kheo
ni đã thoát được cảnh sĩ nhục, không gì vui bằng, ta nên
làm việc cúng dường”. Chủ tướng lấy một xấp vải rất
tốt, gói đầy đủ đồ ăn, thức uống thuộc loại cao sang
mỹ vị rồi treo lên nhánh cây với tâm niệm rằng: “Nếu
Tỳ-kheo ni nào đắc đạo Thần thông thì đến lấy gói thức
ăn này ”.
Tâm
niệm này liền được cảm ứng, Tỳ-kheo ni Liên Hoa Sắc nhanh
như cánh tay co duỗi của lực sĩ, từ thành Xá-vệ đến vườn
An-đà, lấy gói thức ăn trên nhánh cây.
Sáng
hôm sau, đến giờ ăn, thay vì ăn, Liên Hoa Sắc thiết dọn
rồi mời hai Trưởng lão Ưu-bà-tư-na và Bạt-nan-đà đến
cúng dường. Hai vị nhận sự cúng dường này, và sau khi thọ
thực xong, Liên Hoa Sắc ngồi trên chiếc ghế nhỏ đối diện,
thỉnh cầu nhị vị Trưởng lão thuyết pháp. Trưởng lão
Ưu-bà-tư-na nói diệu pháp xong liền đứng dậy ra về, còn
Bạt-nan-đà nán lại, hỏi Liên Hoa Sắc:
- Sư
cô được thức ăn hảo hạng này từ đâu?
Liên
Hoa Sắc trình bày lại sự việc từ đầu đến cuối như
đã xảy ra.
Bạt-nan-đà
nói:
- Có
thể cho tôi xem tấm vải ấy được không?
Yêu
cầu này được thỏa mãn và Bạt-nan-đà nhìn thấy xấp vải
giá trị kia thì lòng tham nổi dậy, muốn trưng dụng nên nài
nỉ xin cho được.
Liên
Hoa Sắc nói:
- Ðiều
này không thể được, tại sao vậy? Bởi người nữ phước
mỏng nên cần phải sắm giữ 5 y7.
Bạt-nan-đà
nói:
- Như
người đem voi, ngựa bố thí mà lại không cho dây cương,
sư cô cũng như vậy: Tại sao cúng dường thức ăn mỹ vị
cao sang thì được, mà lại tiếc chi một tấm vải không cho
là sao?
Bạt-nan-đà
bằng tài ăn nói của mình đã tìm cách thuyết phục cho kỳ
được. Trong thế chẳng đặng đừng, Liên Hoa Sắc đành trao
cho Bạt-nan-đà tấm vải giá trị này.
Ðược
tấm vải này rồi, Bạt-nan-đà trở về lại trú xứ. Các
Tỳ-kheo thấy tấm vải đẹp nói:
- Thầy
là người phước đức nên mới được tấm vải tốt này.
Bạt-nan-đà
nói:
- Tôi
đâu có phước đức gì, năn nỉ muốn gãy cả lưỡi, Tỳ-kheo
ni mới cho tôi đó!
Các
Tỳ-kheo nghe thế liền quở trách:
- Tại
sao thầy lại cưỡng bức bằng lời nói để thu đoạt vải
y của Tỳ-kheo ni?
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn không muốn 4 chúng tới lui ồn ào,
nên bảo các Tỳ-kheo:
- Nay
Ta muốn vào tịnh thất ba tháng, đừng để ai đến chỗ Ta
đang trú, chỉ trừ Tỳ-kheo đem cơm. Các thầy nên lập ra
quy định này.
Vâng
lời Phật dạy, các Tỳ-kheo lập ra định chế ghi rõ:
“Từ
nay không ai được đến chỗ Phật ở, chỉ trừ Tỳ-kheo đem
cơm. Nếu người nào vi phạm, phạm Ba-dật-đề 8”.
Qui
chế này, Trưởng lão Ưu-bà-tư-na không hay biết, sau khi đến
thành Xá-vệ, hỏi một Tỳ-kheo để biết đức Phật ở phòng
nào. Theo chỉ dẫn của Tỳ-kheo này, Ưu-bà-tư-na-đến trước
cửa phòng Phật, đưa tay gõ cửa. Ðức Phật mở cửa. Ưu-bà-tư-na
kính lễ sát chân Phật rồi ngồi lui ra một bên. Ðức Phật
hỏi Ưu-bà-tư-na:
- Chúng
của thầy thanh tịnh, rất mực oai nghi, thầy giáo hóa cách
nào mà được như vậy?
Tỳ-kheo
ấy thưa:
- Nếu
có người nào đến con cầu xin xuất gia thì con dạy họ 12
hạnh Ðầu-đà. Con bảo họ: “Phải trọn đời làm Tỳ-kheo
ở A-lan-nhã, khất thực, nhất tọa thực, tuần tự khất
thực, ở nơi gò mả, mặc y phấn tảo, ba y, phu tọa tùy thân,
ngồi dưới gốc cây, ngồi chỗ đất trống. Kính bạch đức
Thế Tôn! Nếu người nào nói trọn đời có thể phụng hành
pháp này thì mới được vào chúng của con, con làm thầy họ.
Ðức
Phật khen:
- Hay
lắm! Hay lắm! Như vậy, có thể gọi thầy là hạng người
khéo giáo dục đồ chúng.
Ðức
Phật lại hỏi:
- Thầy
có biết trong Chúng tăng ở đây có đề ra qui chế gì hay
không?
Trưởng
lão Ưu-bà-tư-na thưa:
- Con
không hề hay biết việc này. Vì con từng nghe Phật dạy: “Những
gì Phật chưa chế, không được tự ý lập ra; những gì Phật
đã quy định, nên trân trọng làm theo”.
Ðức
Phật nói lại quy chế trên cho thầy này nghe. Trưởng lão
Ưu-bà-tư-na thưa:
- Con
không tùy theo quy chế của Tăng mà sám hối tội Ba-dật-đề
được.
Ðức
Phật dạy:
- Hay
lắm! Thầy nhận xét như thế là đúng!
Trong
lúc đó, Tỳ-kheo sống lâu năm ở đây đứng trước phòng,
chờ Ưu-bà-tư-na đi ra rồi bảo:
- Thầy
phạm quy chế của Tăng, nên tác pháp sám Ba-dật-đề.
Trưởng
lão Ưu-bà-tư-na hỏi:
- Tôi
phạm Ba-dật-đề nào vậy?
Các
Tỳ-kheo trình bày đầy đủ nội dung quy chế trên. Trưởng
lão Ưu-bà-tư-na trả lời:
- Tôi
không thể thực hiện theo quy chế của Tăng để sám hối
được! Tại sao thế? Bởi chính tôi nghe Phật dạy: “Nếu
Phật không chế cấm thì Tăng không được phép chế cấm.
Nếu Phật đã chế rồi Tăng không được trái phạm”.
Lúc
ấy, đức Phật bước ra nói với các Tỳ-kheo:
- Từ
nay nếu có Tỳ-kheo A-lan-nhã nào như Ưu-bà-tư-na thì cho phép
đến chỗ Ta.
Các
Tỳ-kheo ghi nhận lời dạy, lại có ý nghĩ: “Chúng ta nên
trân trọng tu theo hạnh Ðầu-đà này để đến được chỗ
đức Thế Tôn”. Thế là các Tỳ-kheo đua nhau tu hạnh Ðầu-đà...
Bấy
giờ, các Cư sĩ xây dựng các phòng xá để cúng dường, nhưng
chẳng có Tỳ-kheo nào nhận sự cúng dường này. Vấn đề
này được các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch lên Phật. Ðức
Phật dạy các Tỳ-kheo:
- Từ
nay cho phép 4 chúng tự do đến thăm Ta.
Tỳ-kheo
ni Ba-xà-ba-đề nghe Phật cho phép như vậy, liền cùng 500 Tỳ-kheo
ni lên đường về thăm đức Phật. Trên đường đi, gặp
Trưởng lão Ưu-bà-tư-na. Trong chúng của Ưu-bà-tư-na có một
Tỳ-kheo mặc y thô rách, thấy vậy Ba-xà-ba-đề hỏi:
- Tại
sao Trưởng lão mặc chiếc y rách nát như vậy?
Vị
ấy trả lời:
- Chẳng
còn chiếc nào khác nữa!
Tỳ-kheo
ni chỉ vào chiếc y mình đang mặc, nói:
- Thầy
có thể mặc chiếc y của con không?
- Có
thể được.
Ba-xà-ba-đề
lại hỏi:
- Trưởng
lão có thể cho con chiếc y mà ngài đang mặc không?
- Có
thể. - Trưởng lão đáp.
Hai
bên trao đổi y cho nhau.
Khi
đến trước đức Phật,Tỳ-kheo ni Ba-xà-ba-đề đảnh lễ
sát chân Phật, rồi ngồi lui ra một bên. Ðức Phật hỏi
Cù Ðàm di:
- Tại
sao cô mặc chiếc y rách bươm như thế?
Cù-đàm
di trình bày sự việc như trên. Ðức Phật nói pháp cho Cù-đàm
di nghe, rồi bảo về trở lại trú xứ.
Sau
đó, đức Phật cho tập hợp Tỳ-kheo Tăng và trước Tăng,
Tỳ-kheo đương sự xác nhận việc trao đổi y kia là sự thật.
Ðức Phật quở trách vị này là thiếu sáng suốt, nhiều
ham muốn. Nhân đó, sự việc của Bạt-nan-đà được bạch
lên Phật và Bạt-nan-đà cũng thú nhận sự thật này. Phật
quở trách và chế cấm như vầy:
- Tỳ-kheo
nào nhận lấy y từ Tỳ-kheo ni, phạm Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề
9
Tuy
nhiên về sau, Phật cho phép nhận y của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni
bà con mà không phạm điều chế cấm trên.
CHUYỆN
GIẶT NHUỘM
Khi
đức Phật ở tại thành Xá-vệ, bấy giờ lúc trời vừa
sáng, Tỳ-kheo Bạt-nan-đà mặc y, bưng bát đến chỗ cư trú
của Tỳ-kheo ni Thâu-la-nan-đà... Cách ngồi bất cẩn của
ni cô này để lộ ra chỗ kín. Bạt-nan-đà nhìn thấy, dục
thịnh quá đổi, đến nỗi xuất bất tịnh. Tỳ-kheo ni biết,
khẻ bảo:
- Trưởng
lão, thay y cho tôi giặt.
Bạt-nan-đà
trao y thay cho cô ni. Nhìn thấy thứ bất tịnh này, cô ta lại
có tác ý không nghiêm, lấy thứ bất tịnh đặt vào chỗ
kín của mình...
Lại
có Tỳ-kheo khác đưa y cho Tỳ-kheo ni giặt, nhuộm, đập. Việc
này làm ảnh hưởng lớn đến việc tu tập, vì thời gian
đọc tụng, tọa thiền, hành đạo của chư ni bị phí lãng
vào việc giặt giũ kia. Người thế gian thấy thế, lại lắm
lời chê trách, mỉa mai: “Các Tỳ-kheo ni lấy việc giặt,
nhuộm, đập y làm sự nghiệp; người tu hành với kẻ tại
gia nào có khác gì đâu?!”
Vào
dịp ấy, Tỳ-kheo ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng với 500 Tỳ-kheo
ni đến chỗ của đức Phật ở trong thành Xá-vệ. Sau khi
đầu, mặt đảnh lễ sát chân Ngài, chư ni ngồi lui sang một
bên. Ðức Phật hỏi Cù Ðàm di:
- Tại
sao tay chân của các Tỳ-kheo ni lại dính đầy sắc màu nhuộm
như thế?!
Chư
ni nhân đó bạch lên Phật vấn đề Tỳ-kheo sai giặt, nhuộm
y, làm lãng phí việc tu học.
Ðức
Phật vì họ nói diệu pháp xong, bảo họ trở về lại trú
xứ.
Sau
đó, đức Phật cho tập hợp Tỳ-kheo Tăng... Trước Phật
và Tăng, Tỳ-kheo đương sự thú nhận việc sai ni giặt, nhuộm
y là sự thật, và sự thật về Bạt-nan-đà, nhân đó, cũng
được làm sáng tỏ. Ðức Phật đã nghiêm khắc quở trách
Tỳ-kheo vi phạm là kẻ ngu si, tiếp theo Ngài kiết giới cấm
Tỳ-kheo ni giặt, nhuộm y cho Tỳ-kheo. Về sau có Tỳ-kheo già,
yếu bệnh tật nhờ Tỳ-kheo ni bà con trong thân tộc giặt,
nhuộm. Việc này cũng được trình lên Phật và vì là thân
tộc nên đây là trường hợp ngoại lệ, đức Phật cho phép.
KÍNH
PHẬT, TRỌNG TĂNG...
Trong
thành Xá-vệ, có một Trưởng giả rất thích mặc các loại
áo sang trọng. Ông ta có lòng tin kính Phật pháp một cách
thuần thành, mỗi khi đức Phật lưu trú ở thành này thì
ông thường đến nghe pháp. Hôm ấy, ông Trưởng giả mặc
trong, ngoài hai sắc áo tốt, cùng với các vị khách và tuỳ
tùng ra ngoài thành, đến viếng thăm đức Thế Tôn và các
Tỳ-kheo. Ðức Phật vì họ nói pháp, họ lấy làm hoan hỷ
vì được nghe Phật chỉ dạy những điều lợi ích. Họ đảnh
lễ Phật rồi ra về.
Ra
khỏi trú xứ của Phật, họ gặp ngay Bạt-nan-đà. Bạt-nan-đà
lại vì họ thuyết pháp và trước khi ra về họ ngỏ lời
mời:
- Ngày
mai, mời Trưởng lão đến nhà con thọ một bữa cơm đạm
bạc.
Bạt-nan-đà
nói:
- Tôi
không thiếu ăn, mà lại khổ vì thiếu mặc. Trưởng giả
có thể cho bớt tôi chiếc áo hiện ông đang mặc không?
Ông
Trưởng giả nói:
- Sẽ
cúng cho Ngài, nhưng bây giờ thì không thể được, về nhà
tôi sẽ tính liệu sau.
Bạt-nan-đà
bảo:
- Tôi
nghe Trưởng giả rất vui làm việc bố thí, tại sao riêng
đối với tôi lại thiếu tích cực như thế?
Bạt-nan-đà
lại tác động:
- Tôi
nói pháp khiến ông có thể xa lìa sanh, lão, bệnh, tử, ưu
sầu khổ não để làm công việc cứu độ mà xả bỏ tất
cả, bản thân không mưu cầu điều gì. Ấy thế, nay ông lại
keo kiết chiếc áo này mà không chịu bố thí!
Nghe
phải, ông Trưởng giả liền cởi áo cho Bạt-nan-đà...
Tưởng
chẳng ai để ý đến mình, không ngờ lúc trở về đến cửa
thành, người giữ cửa hỏi Trưởng giả:
- Lúc
ra đi, ông mặc hai lớp áo rất đẹp, sao về lại bay đi đâu
mất một áo? Phải chăng, vì người đẹp mà “thương nhau
cởi áo cho nhau”?
Ông
Trưởng giả nói:
- Tôi
không cho người đẹp nào cả, cũng không bị ai cướp giật,
mà lại bị Sa-môn Thích tử cưỡng bức xin cho kỳ được,
tôi đành cởi cho!
Người
canh cửa nói:
- Ông
đừng nói như vậy! Tôi nghe Sa-môn Thích tử ít ham muốn,
biết vừa đủ, dâng cúng còn không nhận, huống chi lại cưỡng
đoạt thì còn mặt mũi nào?
Ông
Trưởng giả kể lại sự cưỡng bức xin áo kia cho người
giữ cửa nghe. Ðối với người có lòng đố kỵ Phật pháp,
nghe thế liền lớn tiếng miệt thị: “Ðây chính là loại
cướp đoạt, những ai gần gũi họ cũng sẽ bị trấn lột
như thế. Ðích thị bọn Sa-môn Thích tử, miệng thường khen
việc bố thí, chê việc không cho mà lấy, nay cưỡng đoạt
lấy y vật của người, thì họ đâu có khác gì bọn cướp?”.
Ông
Trưởng giả về đến nhà cũng phân trần với người nhà
lý do cho chiếc áo kia.
Sự
việc này lọt đến tai các Trưởng lão Tỳ-kheo. Các vị quở
trách Bạt-nan-đà, rồi đưa Bạt-nan-đà đến chỗ Phật,
bạch lên Ngài sự vệc trên.
Ðức
Phật cho tập hợp Tăng, trước Tăng và Phật, Bạt-nan-đà
thú nhận sự thật đã xảy ra, đức Phật nghiêm khắc quở
trách Bạt-nan-đà và Ngài chế giới cấm việc làm này.
Giới
này được bổ sung bởi các việc xảy ra sau đây:
Lúc
bấy giờ có nhiều Tỳ-kheo mặc y xấu tệ, rách rưới, các
người bà con thấy vậy hỏi:
- Tại
sao thầy lại mặc loại y vứt đi như thế này? Hãy đến
con cúng cho y khác.
Các
Tỳ-kheo bảo:
- Ðức
Phật không cho chúng tôi đến nam, nữ Phật tử xin y. Nếu
đem cúng cho Tăng, rồi tôi nhận y từ Tăng thì được.
Các
người bà con nói:
- Con
chỉ muốn cúng cho thầy, chứ không muốn cúng cho Tăng, vì
sợ vị khác nhận được.
Các
Tỳ-kheo nói:
- Nếu
đức Phật cho phép chúng tôi đến nam, nữ Phật tử bà con
xin y thì đâu đến nỗi chúng tôi phải mặc y rách rưới
như thế này!
Các
người bà con thưa:
- Trong
chỗ bà con với nhau thì biết lúc nào nên nhận, không nên
nhận, xin thầy bạch lên đức Phật việc này.
Ðức
Phật khi biết được việc này, Ngài kiết giới bổ sung,
xem việc đến bà con thân tộc xin y là một ngoại lệ, Tỳ-kheo
được phép.
Lại
một chuyện cắc cớ khác:
Lúc
ấy, có nhiều Tỳ-kheo đi theo đoàn khách buôn để về Kỳ-hoàn
song lại lạc đường, Tỳ-kheo bị bọn cướp đoạt sạch
sẽ y, bát, đành mình trần,thân trụi đến thành Xá-vệ.
Người đi đường cứ ngỡ Tỳ-kheo cải đạo, theo đạo lõa
hình, vặn hỏi mới biết sự thể nghiệt ngã như thế.
Khi
đến Kỳ-hoàn, các Tỳ-kheo ở đây sợ sứ giả cũng vặn
hỏi rồi trắc nghiệm hư thật:
- Nếu
các ông là Tỳ-kheo thì thọ giới, Bố tát, Tự tứ phải
như thế nào?
Sư
lõa hình trả lời:
- Thọ
giới như vậy... Bố tát như vậy... Tự tứ như vậy...
Dù
biết không phải sư giả, song các Tỳ-kheo ở Kỳ-hoàn vẫn
không cho y để mặc.
Không
cho thì cứ để vậy, các Tỳ-kheo gặp nạn, bình thản đến
chỗ Phật. Ðức Phật quở trách:
- Tại
sao các ông lõa hình đến thăm Như Lai?! Ðến nỗi nào các
ông không thể lấy lá cây hay cỏ để tạm che thân được
hay sao?
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Từ
nay lõa hình đến thăm Như Lai là phạm tội Ðột-kiết-la10.
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
- Ngài
không cho phép chúng con đến nam, nữ Phật tử chẳng phải
bà con xin y. Trong khi đó, bà con của chúng con ở cách đây
rất xa thì làm sao có y để mặc trong trường hợp bị nạn
cướp này?
Ðức
Phật lại hỏi:
- Các
thầy đã đến nơi ở của Tỳ-kheo cựu trú chưa?
- Thưa
Ngài đã đến rồi, đã bị chất vấn, trắc nghiệm đủ
điều, song dù biết rõ chúng con bị nạn, Tỳ-kheo cựu trú
vẫn không cho y để mặc.
Ðức
Phật nghiêm khắc quở trách Tỳ-kheo cựu trú và khen ngợi
các Tỳ-kheo bị nạn. Ngài kiết giới bổ sung, tức là gặp
phải nạn bị cướp y, bị mất, bị cháy, bị nước cuốn
trôi, bị rách thì Tỳ-kheo có thể đến nam, nữ Phật tử
xin y để mặc.
TRANH
THỦ
Lúc
bấy giờ đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Vào dịp nọ, có
nhiều chúng Tỳ-kheo từ ấp Ba-lợi về thăm Phật. Trên đường
đi, họ gặp bọn cướp, bị cướp hết y mang theo, các thầy
bảo nhau:
Có
5 trường hợp được Phật cho phép đến Cư sĩ hay vợ Cư
sĩ không phải bà con để xin y. Dù vậy chúng ta cũng chẳng
biết ai để đến xin bây giờ!
Lục
quần Tỳ-kheo nghe được sự việc này, chớp ngay cơ hội,
liền đến các Tỳ-kheo mất y đề nghị đi xin hộ y cho, nếu
còn dư thì lấy.
Các
Tỳ-kheo mất y rất hoan hỷ, tán dương:
- Hay
lắm! Tốt lắm! Thầy giúp cho.
Ðược
sự đồng ý như vậy, Tỳ-kheo Lục quần đi khắp trong thành,
đến Cư sĩ hay vợ Cư sĩ trình bày: “ Có các Tỳ-kheo từ
ấp Ba-lợi về hầu thăm đức Thế Tôn, không may bị bọn
cướp, cướp mất y. Quý vị có thể giảm bớt chỗ may mặc,
cùng nhau đem y11 đến cúng dường quý thầy”.
Nghe
thế, các nam nữ Phật tử đóng góp y, kẻ ít người nhiều,
được một số y khá lớn đem đến cúng. Các Tỳ-kheo mất
y, sau khi được đầy đủ y, bảo các Tỳ-kheo Lục quần:
- Chúng
tôi đủ rồi, không phiền các thầy phải xin nữa.
Lục
quần Tỳ-kheo nói:
- Các
thầy có lý do chánh đáng để xin y, còn chúng tôi thì đâu
được phép. Chúng tôi dựa vào nhân duyên của quý thầy mới
có lý do để xin. Xin được tiếp tục.
Các
Tỳ-kheo mất y nói:
- Ðiều
đó tùy ý các Trưởng lão, miễn sao đúng pháp là được.
Như
thế là Lục quần Tỳ-kheo lại đi đến các nơi để xin nữa,
thu được rất nhiều y.
Nhìn
thấy các thầy cứ đi xin mãi, các Cư sĩ sinh nghi, họp lại,
có ý kiến: “Số Tỳ-kheo mất y không có bao nhiêu vị, trong
thành hầu hết Phật tử đều đem cúng y, như vậy còn thiếu
chỗ nào nữa mà các thầy ấy cứ đến xin tiếp? Phải chăng
mấy ông này lợi dụng xin, tích chứa y cho nhiều để mua
bán, đổi chác. Không tu phạm hạnh?
Nghe
được việc làm này, các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng nhiều
cách quở trách rồi đưa Tỳ-kheo Lục quần đến chỗ Phật,
bạch lên Phật sự việc đã xảy ra.
Trước
Tăng, đức Phật hỏi Lục quần Tỳ-kheo:
- Thật
sự các ông có làm như vậy không?
- Bạch
đức Thế Tôn, thật sự đúng như vậy.
Ðức
Phật bằng mọi cách quở trách Lục quần Tỳ-kheo rồi chế
giới, giới hạn việc xin y.
KẺ
THAM NÀY KHÔNG ÐỦ TỒN TẠI
Mối
liên hệ giữa Bạt-nan-đà và Cư sĩ xem ra rất khắn khít.
Ngoài việc nói pháp ra, Bạt-nan-đà còn lo liệu cho Cư sĩ
lúc ốm đau hay khi hữu sự.
Bữa
nọ, có một Tỳ-kheo sáng sớm đắp y, bưng bát vào thành
khất thực. Khi đến gia đình thường ngày được Bạt-nan-đà
lui tới, nghe chuyện vợ chồng nhà này bàn định, họ bảo
nhau: “Bạt-nan-đà là ân nhân của ta, nên sử dụng một
số tiền may y như thế cúng cho Ngài”.
Tỳ-kheo
này, sau khi trở về khen Bạt-nan-đà:
- Thầy
có nhiều phước đức!
Bạt-nan-đà
hỏi:
- Phước
đức gì mà có? Thử nói cho tôi biết nào?
Tỳ-kheo
kia tình thật, đem điều tình cờ nghe được như trên kể
lại cho Bạt-nan-đà biết rồi bảo:
- Nay
thầy đến đó, chắc chắn sẽ nhận được y mà không gì
trở ngại.
Sáng
sớm hôm sau, đến giờ khất thực Bạt-nan-đà mặc y, bưng
bát đến nhà Cư sĩ thân tín kia. Thấy thầy đến, Cư sĩ
vội vàng ra đón chào. Bạt-nan-đà liền hỏi:
- Có
phải Phật tử định sử dụng số tiền như thế để may
y như thế phải không?
- Bạch
thầy đúng như vậy. - Cư sĩ thưa.
- Phật
tử dư biết là tôi không mặc y xấu chứ? Nếu may tốt thì
tôi sẽ mặc. Phật tử hãy nhớ cho, lúc ốm đau hay có việc
chi tôi đều lo liệu giải quyết tốt cho Phật tử. Nếu y
không tốt thì tôi cho đệ tử hay đem cất mà thôi. Như vậy,
vật này vất đi. Việc cho của Phật tử chẳng có tác dụng
phước đức gì!
Bất
bình trước lời nói này của thầy, Cư sĩ kia nói với người
xung quanh rằng:
- Bạt-nan-đà
quá tham lam, ai cung cấp cho nổi, làm sao thỏa mãn theo ý ông
ta. So với chỗ phát tâm tôi đã dành cúng gấp 5, 6 lần rồi,
ấy vậy mà vẫn không đáp ứng lòng tham của ông ta. Trước
đây tôi có lòng tốt như vậy, còn bây giờ thì tiêu tan cả
rồi! Thôi, tôi không cúng nữa!.
Các
Tỳ-kheo Trưởng lão nghe được sự việc này đã hết lời
quở trách Bạt-nan-đà rồi đưa sự việc lên trình đức
Phật.
Trước
Phật và Tăng, Bạt-nan-đà thú nhận sự thật do mình đã
gây ra, làm mang tiếng xấu kia. Ðức Phật quở trách rồi
kiết giới cấm vấn đề này.
Tánh
nào tật nấy, Bạt-nan-đà thường lui tới các nhà Cư sĩ
để gia ân. Ân đã kết thì nghĩa phải đền, có hai gia đình
Cư sĩ nọ, vợ chồng cùng nhau bàn định: “Chúng ta mỗi
gia đình cùng nên vì thấy Bạt-nan-đà sử dụng chừng số
tiền như thế để may y như thế cúng cho ngài Bạt-nan-đà”.
Việc
bàn tính này, tình cờ Tỳ-kheo khất thực nghe được, về
thông tin cho Bạt-nan-đà biết. Bạt-nan-đà liền đến nhà
hỏi 2 cặp vợ chồng kia:
- Tôi
nghe quí Phật tử, mỗi vị đều vì tôi, sử dụng số tiền
tương đương như vậy để may y như vậy cúng cho tôi phải
không?
- Thưa
thầy quả thật như vậy. - Họ thưa.
Bạt-nan-đà
bèn khuyên họ:
- Quý
vị có thể chung tiền lại để may một cái y cho thật tốt.
Nếu thật tốt, tôi sẽ mặc bên mình để luôn nhớ đến
quý vị, bằng như không tốt, tôi xếp bỏ vào một chỗ,
chẳng biết đến. Vật như thế là vất đi, chẳng còn tác
dụng phước đức gì cả!
Khi
ấy, Cư sĩ và vợ Cư sĩ của hai gia đình đùng đùng nổi
giận, mắng mỏ rằng:
- Ông
này tham lam quá! Làm sao có thể cung cấp nổi, có thể làm
thỏa mãn nổi?! Tuy yêu cầu chung lại may thành một y, song
so với chỗ phát tâm của chúng ta đã gấp 5, 6 lần rồi.
Ấy thế, vẫn không thỏa lòng kẻ tham. Kẻ ác này không đủ
để tồn tại. Từ nay chấm dứt không để đến đây nữa!
Sự
thật tai tiếng này được các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch lên
Phật. Phật nặng lời quở trách Bạt-nan-đà, rồi kiết giới
cấm Tỳ-kheo hành động như vậy.
ÐỪNG
LÀM KHỔ CƯ SĨ
Lúc
bấy giờ đức Phật lưu trú tại thành Vương-xá, nơi đây
có một vị đại thần rất trọng Bạt-nan-đà. Ngày ấy,
vị Ðại thần này sai người hầu việc mang một số tiền
may y đến cúng cho Bạt-nan-đà. Người hầu cận đem lời
vị Ðại thần thưa với Bạt-nan-đà rằng:
- Bạch
Ngài, vị Ðại thần tên đó... có lời thăm hỏi sức khỏe
Ngài, và xin cúng Ngài một số tiền may y. Xin Ðại đức nhận
cho số tiền này.
Bạt-nan-đà
nói:
- Tôi
không được phép nhận số tiền may y này, nếu được tịnh
y (y hợp pháp) thì có thể nhận để mặc.
Sứ
giả hỏi:
- Ðại
đức, ngài có người chấp sự12 chứ?
- Vâng,
người chấp sự của tôi hiện ở nơi kia...- Bạt-nan-đà
chỉ chỗ.
Ðến
người chấp sự, cận thần sứ giả kia thưa:
- Ðại
thần..., cho tôi đem số tiền may y này đến cúng ngài Bạt-nan-đà,
ông là người chấp sự của Ðại đức Bạt-nan-đà, xin nhận
giữ hộ số tiền này. Khi nào Ðại đức đến lấy thì trao
cho Ðại đức.
Người
chấp sự nhận tiền, sau đó người hầu cận kia quay lại
chỗ Bạt-nan-đà thưa:
- Người
chấp sự của Ngài đã nhận tiền rồi, khi nào Ðại đức
cần y thì đến đó lấy. Con xin về.
Sau
một thời gian, Ðại thần lại sai người đến hỏi Bạt-nan-đà:
- Gần
đây tôi có sai người đem tiền may y đến gởi nơi người
chấp sự của ngài. Ðại đức đã sử dụng để may y mặc
chưa?
Bạt-nan-đà
nói:
- Tôi
chưa lấy y ở người chấp sự để sử dụng.
Sau
khi người hầu cận về cho biết như thế, Ðại thần có
suy nghĩ: “Ta thực hiện đúng cách cúng y, sao đã lâu rồi
chưa thấy nhận để mặc, chắc y của ta không đáng giá nên
Bạt-nan-đà không buồn nhận mặc!”
Ðại
thần sai người hầu cận quay trở lại, nói với Bạt-nan-đà:
- Ðại
thần cúng y lâu rồi, sao không thấy Ngài mặc? Nếu không
cần thì xin trả lại cho Ðại thần.
Bạt-nan-đà
đáp lời:
- Xin
lỗi vậy! Tôi rất cần y.
Sau
đó, Bạt-nan-đà vội đến chỗ người chấp sự không đúng
lúc, yêu cầu:
- Nay
tôi cần y, có thể cho tôi nhận.
Người
chấp sự thưa:
- Xin
ngài chờ cho, ngay lúc này tôi phải tham dự buổi họp cùng
với mọi người, không thể đến trễ, đến họp trễ sẽ
bị phạt 500 tiền vàng13 theo quy định.
Bạt-nan-đà
nói:
- Ðối
với việc đạo pháp, ông thường vui vẻ hết lòng sốt sắng,
tại sao nay lại coi trọng việc thế tục?
Nghe
lời này, lòng tự trọng như bị tổn thương, người chấp
sự liền có suy nghĩ: “Dù có bị phạt vẫn phải giao y cho
xong rồi mới đến họp”.
Người
chấp sự tất bật xử lý nhanh chóng cho có y để giao, song
cũng mất quá nhiều thời gian. Giao xong, đến họp, bị mọi
người chất vấn ngay:
- Tại
sao đến họp trễ thế?!
Tình
thật, người chấp sự nói:
- Bạt-nan-đà
đến đòi nhận y, tôi phải lo liệu giao cho xong, nên đến
họp trễ như thế này.
Mọi
người đều nói:
- Coi
trọng một Tỳ-kheo, mà xem nhẹ quy chế của nhiều người.
Theo điều ước, không thể tha thứ, phải nộp phạt vậy.
Ðương
sự nộp phạt rồi, nổi giận nói:
- Sa-môn
Thích tử tự nhận có đạo lý, làm lợi ích cho mọi người,
nay ngược lại, Sa-môn đã làm cho ta bị phạt.
Người
không có lòng tin kính Phật pháp lại đồng tình nói:
- Ông
kính tin Sa-môn để đến nỗi bị phạt nặng như vậy, nếu
lại cứ gần gũi nữa sẽ bị phạt nặng hơn nữa.
Người
thành Xá-vệ hầu như nghe biết việc không mấy tốt đẹp
này. Các Tỳ-kheo Trưởng lão lại càng nắm vững vấn đề
hơn, và đã nghiêm khắc quở trách Bạt-nan-đà. Sau đó vấn
đề được nêu lên giữa Phật và Tăng chúng. Bạt-nan-đà
đã xác nhận sự thật. Ðức Phật lại quở trách và Ngài
kiết giới hướng dẫn cách thức đến người chấp sự nhận
y một cách cụ thể, tránh việc không hay đã xảy ra.
ÐỔI
NGHỀ
Hồi
ấy, chúng Tăng trong thành Xá-vệ nhận được nhiều tơ sợi
của Phật tử đem đến cúng. Các Tỳ-kheo được phân chia
tơ để tùy nghi sử dụng. Các vị thuê dệt để may y Tăng-già-lê14,
Ưu-đa-la-tăng15, hay y An-đà-hội16, cũng như làm dây lưng,
dây ngồi thiền, cho đến dây cột cửa mà vẫn không hết
tơ. Lục quần Tỳ-kheo sau khi thuê thợ dệt may một y vẫn
còn dôi ra một số tơ, chỗ dư này lại lỡ cỡ, dệt thêm
một chiếc chiếu thì không đủ. Lục quần lại đi xin thêm
tơ. Trưởng giả, Cư sĩ hoan hỷ cho. Thấy việc xin dễ dàng
mà có lợi tốt như thế nên “Nhất dạ sanh bách kế”,
Tỳ-kheo Lục quần liền có ý nghĩ chuyển đổi nghềø, rằng:
“Từ nay, ta chỉ nên làm theo nghề này”.
Lục
quần ra sức đi xin thật nhiều tơ, rồi thuê thợ dệt khắp
nơi dệt cho hết số tơ quá nhiều kia. Thợ dệt khắp thành
bận hợp đồng với Lục quần, nên từ chối không nhận
dệt cho khách hàng. Có một Cư sĩ cần vải, đến khắp xưởng
dệt đều không nơi nào nhận dệt, vì kẹt phải hợp đồng
với Tỳ-kheo Lục quần. Ức quá, nói cho hả dạ, người Cư
sĩ kia chữi đổng:
- Sa-môn
Thích tử, tự xưng là ít ham muốn, biết lúc vừa đủ, nay
lại đi khắp, thuê tất cả thợ dệt, ham hố, bao nhiêu cũng
không vừa. Lòng tham lợi của họ đâu có khác gì với kẻ
ở chợ?! Họ không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn!
Việc
này, sau đó, Phật chế giới cấm hành động phi pháp ấy
trước Tăng chúng.
THÔI
RỒI ÂN NHÂN!
Như
đã biết, Bạt-nan-đà có tài xử lý việc của nguời. Trong
thành Xá-vệ, có một người khách buôn, Bạt-nan-đà thường
lui tới nhà ông ta để nói pháp và chữa bệnh. Ðối với
ân này, người khách buôn nói với vợ:
- Bạt-nan-đà
là ân nhân của ta, có thể dùng số tơ này thuê dệt thành
y, sau khi về, ta sẽ đem cúng cho thầy.
Người
chồng lên đường buôn bán, người vợ đem tơ sợi đến
xưởng dệt thuê dệt thành y. Bà ta nói với người thợ dệt:
- Ông
tính cho đủ tơ, đừng để dư, đừng để thiếu.
Thông
tin này không biết đến từ đâu, Bạt-nan-đà đến ngay nhà
Phật tử khách buôn. Người vợ ra đón chào thăm hỏi và
thưa:
- Chồng
con bảo con thuê thợ dệt y để cúng cho Ðại đức, thợ
dệt đang dệt, thưa thầy.
Bạt-nan-đà
hỏi:
- Thuê
dệt ở xưởng nào?
Người
vợ khách buôn thưa:
- Con
thuê thợ tên đó..., ở đó...
Bạt-nan-đà
đến ngay xưởng dệt này nói với người thợ:
- Ông
có biết không? Y này họ thuê dệt để cúng cho tôi. Ông dệt
cho tốt, cho dài, cho rộng. Riêng phần tôi, ít nhiều sẽ trả
ơn ông.
Người
thợ dệt nói:
- Bà
ấy bảo tôi tính toán vừa đủ, đâu vào đó rồi, nay làm
sao có thể làm theo đề nghị của thầy được!
Bạt-nan-đà
bảo:
- Cứ
dệt cho thật đẹp như tôi yêu cầu, nếu chỉ sợi không
đủ, ông đến nói với bà ta cho tôi xin thêm sợi. Ðảm bảo
bà ấy sẽ đưa cho thôi.
Người
thợ dệt nghe theo, dệt hết chỉ, đến xin thêm.
Bà
vợ khách buôn nói:
- Trước
đây đã tính toán đầy đủ rồi, nay tại sao lại đến lấy
thêm sợi?
Người
thợ dệt trình bày lại lời dặn của Bạt-nan-đà. Nghe thế,
người vợ bèn đưa thêm chỉ.
Khi
người khách buôn trở về, hỏi vợ chuyện dệt y cúng cho
thầy Bạt-nan-đà. Người vợ liền lấy y cho chồng xem. Thấy
chiếc y quá tốt về hình thức cũng như chất lượng, người
chồng hỏi:
- Với
số tơ dự trù ít, sao dệt được y dày và tốt như thế
này?
Bà
vợ nói:
- Bạt-nan-đà
bảo thợ đến lấy thêm sợi, cho nên mới được như thế.
Người
khách buôn nghe vậy, bực tức nặng lời:
- Bạt-nan-đà,
túi tham không đáy, không ai cung cấp, thỏa mãn nổi cho ông
ta đâu! Với y như thế này là gấp đôi số tơ ta dự định
ban đầu. Tuy trước kia là ân nhân, nhưng bây giờ thì xin
tuyệt giao là vừa, thôi đừng cúng y này cho Bạt-nan-đà nữa.
Tiếng
xấu này cứ lan rộng, đến tai các Tỳ-kheo Trưởng lão rồi
đến Phật đang lưu trú tại thành Xá-vệ. Ðức Phật đã
chế giới cấm hành động phi pháp này của Tỳ-kheo coi như
ngăn chận lòng tham của người xuất gia ở trong thế gian
này.
THẦY
TRÒ QUÁ BIẾT NHAU
Bạït-nan-đà
và Ðạt-ma là hai thầy trò. Một hôm Thầy bảo trò:
- Nay
ta muốn cùng ông đi du hành đến nước Câu-tát-la17, ông có
muốn cùng đi không?
Ðạt-ma
thưa:
- Nước
đó lạnh, thiếu y, con không thể đi được!
Bạt-nan-đà
bảo:
- Nếu
ông có thể cùng đi, thì tôi sẽ cho ông y.
Như
không tin, Ðạt-ma thưa:
- Thầy
cho y con trước rồi con mới đi.
Bạt-nan-đà
lấy y đưa cho đệ tử. Ðược y của thầy cho rồi, để
tử lại đổi ý không đi cùng thầy.
Bạt-nan-đà
trách:
- Ông
bảo có cho y mới đi, nay nhận được y rồi sao không chịu
đi? Nếu không đi thì trả lại y cho tôi.
Ðạt-ma
phủ nhận điều kiện, thưa:
- Thầy
đã cho rồi, tại sao đòi lại y, là thế nào?
Bạt-nan-đà
lập luận:
- Chẳng
phải tôi cho ông, nhưng vì tôi muốn cùng ông du hành nên mới
cho. Nay ông không đi thì không có lý do gì mà không trả lại
y cho tôi.
Thế
là Bạt-nan-đà cưỡng bức lấy lại y. Ðạt-ma vừa khóc
vừa lớn tiếng. Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, hỏi:
- Tại
sao thầy khóc?
Ðạt-ma
thưa:
- Thầy
con cưỡng đoạt y của con.
Các
Tỳ-kheo trách Bạt-nan-đà rằng:
- Tại
sao gọi là Tỳ-kheo mà lại tước đoạt y của kẻ khác?
Bạt-nan-đà
trình bày sự việc, rồi kết luận:
- Ông
ta nhận được y rồi, lại không cùng đi, nên tôi lấy lại,
chứ không hề cưỡng đoạt.
- Các
Tỳ-kheo nghe thế, lại khiển trách Ðạt-ma:
- Tại
sao ông dối trá với thầy ông, đòi cho y để đi, được
y rồi lại không đi?!
Qua
sự việc này, trước Tăng, hai đương sự đã bị chê trách.
Ðức Phật lại kiết giới và nội dung của giới này là
đã đem cho y, dù dưới hình thức nào đi nữa cũng không được
phép đòi lại. Ðức Phật chế giới này tại thành Xá-vệ.
Nhìn
thấy kẽ hở của điều luật, Tỳ-kheo Lục quần “chơi
ngẳng” như vầy: Ðem y cho các Tỳ-kheo rồi bảo Sa-di hay
người giữ vườn đoạt lấy lại. Các Tỳ-kheo hỏi Tỳ-kheo
Lục quần:
- Thầy
há không nghe Phật kiết giới cấm làm việc này hay sao?
Lục
quần nói:
- Có
nghe chứ! Nhưng nay tôi bảo Sa-di hay người giữ vườn đoạt
lại, nên không trái với lời Phật cấm.
Các
Tỳ-kheo hỏi Lục quần:
- Tự
mình đoạt lại, hay chỉ bảo người, xúi giục người khác
đoạt lại có khác gì đâu?!
Qua
sự việc này, giới điều được Phật nói bổ sung cụ thể
hơn.
Tuy
nhiên có sự việc xảy ra không dừng ở thế, chẳng hạn
như có trường hợp các Tỳ-kheo gởi y cho Tỳ-kheo tại trú
xứ rồi đi bặt, lâu lắm mới trở về. Sợ phạm giới cấm
đã nêu trên, nên không dám đòi lấy lại.
Lại
có các Tỳ-kheo trên lộ trình du hành, đem gởi y cho Tỳ-kheo
ở một trú xứ nào đó. Sau một hành trình dài trở về,
sợ phạm điều cấm đã nêu, nên cũng không dám đòi nhận
lại y, hoặc đã đòi lại rồi lòng lại ray rứt phân vân:
không biết làm như thế có phạm tội xả đọa18?
Những
vấn đề trên, các Tỳ-kheo bạch lên Phật, được đức Phật
khen ngợi hạnh thiểu dục tri túc và làm sáng tỏ vấn đề
trên ở trong điều luật bổ sung.
PHỎNG
TAY TRÊN
Lúc
bấy giờ có một số đông Cư sĩ trong thành Vương-xá muốn
thỉnh Phật và Tăng chúng để cúng dường, nhân đó được
nghe pháp. Tại một địa điểm thuận lợi, họ chia nhau công
việc, người bữa củi, kẻ xách nước, người quét dọn
rưới nước làm sạch sẽ không bụi, kẻ trải toạ cụ,
người rải hoa, trải phu cụ ở tòa ngồi, nhất là lực lượng
trai soạn rất đông đảo...
Buổi
sáng sớm hôm đó, Bạt-nan-đà đắp y, bưng bát đến trước
ngôi nhà mà mọi người đang chuẩn bị mọi việc để cung
thỉnh Phật và Tăng. Tùy theo công việc của mỗi người mà
Bạt-nan-đà khéo lời tán dương, cổ vũ. Bạt-nan-đà tán
thán:
- Việc
làm của quí vị hôm nay rất tốt, là điều thiện, là niềm
vui, quý vị thật xứng đáng là người Phật tử.
Mọi
người đáp lại như để khoe khoang:
- Chúng
con thật lấy làm vui mừng với việc làm cúng dường này.
Ngoài việc cúng dường đồ ăn, thức uống, thứ nào cũng
đặc sắc thơm ngon, chúng con còn cúng dường y vật cho chúng
Tăng nữa.
Bạt-nan-đà
nghe thế lại bảo:
- Các
vị làm việc dư thừa, y vật chúng Tăng được nhiều người
cúng dường quá thừa thải rồi! Các vị cúng tiếp nữa thì
hoá ra chất thành đống trong kho, có ai ngó ngàng đến đâu,
có quý cũng trở thành vô dụng, không còn tác dụng phước
đức nữa! Ừ nhĩ! Sao quí vị lại không cho tôi?! Nếu cho
tôi, tôi thường đắp mặc bên mình, nhìn thấy y là liền
nhớ nghĩ đến quý vị, để rồi sự ốm đau, việc quan yếu
lại được cùng nhau lo liệu giải quyết.
Mọi
người nghe, thấy hữu lý quá nên họp lại lấy ý kiến,
có người nói:
- Nếu
Tăng không cần thì nên cho vị này để sự cúng dường của
chúng ta có tác dụng phước đức.
Có
người lại phản đối:
- Với
bản nguyện của chúng ta là cúng cho chúng Tăng, tại sao nay
lại tập trung cúng cho một người?!
Bàn
qua tính lại, số đông cúng cho một người chiếm đa số.
Toàn bộ y vật được trao cúng cho Bạt-nan-đà.
Bấy
giờ, Bạt-nan-đà vác cả một bao nặng y vật, trở về trú
xứ Tỳ-kheo, các thầy khen:
- Thầy
là người có phước đức! Xin hỏi, mới ra đi có một lát
mà sao đầy thắng lợi như thế?
Bạt-nan-đà
trả lời rất thực như vầy:
- Khéo
miệng mới được, chứ chẳng phải do phước đức nào cả.
Bạt-nan-đà
liền kể lại chuyện phỏng tay trên của mình rồi cười
một cách đắc chí...
Sáng
ngày ấy, sau khi thiết dọn trai bàn đầy đủ đâu vào đấy.
Các Cư sĩ trong ban tổ chức cho người đến thỉnh Phật.
Ðức Thế Tôn mặc y, trì bát đi giữa Tỳ-kheo Tăng về địa
điểm thiết lễ cúng dường kia... Ngài và Tăng, uy nghiêm
ngồi vào tòa. Tiếp theo là nghi thức tác bạch cúng dường
và trong khi thọ thực, các Cư sĩ đích thân hầu hạ thật
chu đáo. Thọ thực rồi, chư Tăng nhận nước rửa tay và
nước uống. Ðáng ra có vật cúng dường thì cũng được
dâng cúng luôn, song phần này bị hụt hẩng... Chư Tăng, qua
một số Phật tử trách hờn, nghe được lời than vãn như
vầy: “Bữa cơm cúng dường hôm nay, đâu phải chúng ta không
chuẩn bị đầy đủ, tại các người ấy không xét kỹ y
vật định cúng cho Tăng, lại nhẹ dạ đem cúng riêng cho một
người nên mới xảy ra tình huống đáng hổ thẹn và thiếu
phước đức này”.
Việc
này, sau đóù được kiểm vấn lại, Bạt-nan-đà thú nhận
tội giữa Tăng và nhận sự quở trách của đức Phật...
Ngài kiết giới cấm Tỳ-kheo tìm cách xoay xở vật cúng cho
Tăng về cho riêng mình. Giới này đức Phật nói tại thành
Vương-xá.
HÓA
CỎ THÀNH VÀNG
Bấy
giờ, đức Thế Tôn lưu trú tại thành Vương-xá. Ðệ tử
của Ngài là Tất-lăng-già-bà-ta hiện sống tại núi Lăng-cầu-la.
Ngày ấy, Tất-lăng-già-bà-ta làm công việc vệ sinh phòng
ốc bằng cách bay lên cao, rồi dội nước xuống để rửa
sạch. Vào lúc ấy, vua Bình-sa dạo đến núi này. Trông thấy
vua đến, lập tức trở về lại mặt đất, đến trước
vua, Tất-lăng-già-bà-ta ngỏ lời chào:
- Lành
thay đại vương mới đến! Xin mời đại vương tạm ngồi
vào nơi này.
Ngồi
xuống chỗ ngồi rồi, vua hỏi:
- Ngài
phải tự làm lụng như vậy sao? Không có người giúp việc
à?!
- Chẳng
có ai cả. - Tất-lăng-già-bà-ta đáp.
Thấy
hoàn cảnh “neo đơn” như thế, nhà vua liền ra lệnh cho
một vị cận thần:
- Nên
cung cấp người giúp việc cho Tỳ-kheo này.
Tất-lăng-già-bà-ta
nghe thế, can rằng:
- Ðức
Phật không cho phép chúng tôi nuôi người giúp việc.
Nhà
Vua bảo:
- Nên
bạch đức Phật việc này.
Sau
khi về lại cung, nhà vua đến bạch Phật. Sau đó, nhân việc
này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng. Ngài khen hạnh thiểu
dục tri túc, khen giới, khen người gìn giữ giới, rồi Ngài
bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay Ta cho phép các Tỳ-kheo nuôi người
giữ vườn (giúp việc)”.
Ðược
đức Thế Tôn cho phép, vua Bình-sa ra lệnh cho vị đại thần
điều người đến giúp Tỳ-kheo Tất-lăng-già-bà-ta, nhưng
vì không ưa gì Phật pháp, vị đại thần không cấp người
theo lệnh vua. Bởi thế, Tất-lăng-già-bà-ta, trước sau gì
cũng chỉ có Tất-lăng-già-bà-ta. Bẳng đi một thời gian,
Tất-lăng-già-bà-ta đắp y, trì bát vào thành khất thực.
Như không hẹn mà gặp, nhà vua và quần thần từ lầu cao
vọng nhìn thấy Tất-lăng-già-bà-ta... nhà vua liền sực nhớ,
tự hỏi: “Không rõ trước đây ta hứa cung cấp người giúp
việc cho Tỳ-kheo Tất-lăng-già-bà-ta, việc này đã thực hiện
chưa?”. Nhà Vua liền hỏi vị đại thần lúc trước đã
nhận lệnh.
Vị
đại thần tâu:
- Chưa
cấp, thưa đại vương.
Nhà
Vua lại hỏi:
- Lệnh
của ta đến nay được bao nhiêu ngày rồi?
Vị
thần ấy tâu:
- Ðã
500 ngày, thưa đại vương.
Nhà
Vua bảo vị đại thần:
- Tùy
theo số ngày này mà cung cấp người giúp việc cho Tỳ-kheo
Tất-lăng-già-bà-ta.
Vị
đại thần này rờ gáy, liền ra lệnh lấy người giúp việc
từ 500 nhà, mỗi nhà một người, đến trú xứ Tất-lăng-già-bà-ta
để lau quét phòng ốc, nhà cửa, trông nom vườn tược trú
xứ và những công việc khác...
Bấy
giờ, trong thôn nọ đến ngày tiết hội, nam nữ trang sức
thật xinh đẹp, thi đua phô bày quần áo đẹp, vòng vàng rất
nhiều... đến với lễ hội. Song không hoàn toàn phải thế,
có một hình ảnh ngược lại, đó là một người con gái
vì nhà quá nghèo nên tủi thân vừa đi vừa khóc. Hôm ấy,
vào xóm khất thực thấy cô gái khóc, Tất-lăng-già-bà-ta
hỏi bà mẹ cô gái:
- Con
gái bà vì sao lại khóc bù lu, bù loa như thế?
- Hôm
nay, mọi người ăn mặc đẹp đẽ để dạo chơi. Nhà tôi
nghèo khổ, không lấy gì chưng diện như người ta, nên con
gái tôi tủi thân khóc!
Nghe
thế, nhân cạnh ấy, có con bò đang gặm cỏ, Tất-lăng-già-bà-ta
bảo với bà mẹ con gái rằng:
- Bà
đến lấy ít cọng cỏ nơi con bò đang ăn kia đem đến đây.
Tất-lăng-già-bà-ta
nhận cỏ từ tay bà ta rồi kết lại và nhanh chóng biến hóa
nó thành hai tràng hoa bằng vàng, đưa cho bà mẹ, nói:
- Trong
thiên hạ có hai loại vàng tốt hơn hết, là vàng Diêm-phù-đàn19
và loại vàng do Thần túc biến hóa. Bà cầm lấy hai tràng
hoa này đưa cho con gái bà mang vào đi dự hội.
Ðeo
hai tràng hoa bằng vàng, người con gái ấy vui mừng, hãnh diện,
thong dong đi dạo chơi. Mọi người trông thấy đều trầm
trồ khen ngợi, rồi lòng ham muốn và đố kỵ cứ xen lẫn
nhau.
Một
khi điều kỳ lạ này diễn ra trước mắt thì người ta không
bao giờ chịu để yên, nhất là lòng ganh ghét biến họ trở
thành người cộng tác đắc lực với triều đình và có người
đến tâu lên Vua Bình-sa rằng:
- Thôn
đó, gia đình đó, phát hiện được một kho báu vật. Ðứa
con gái của họ mang tràng hoa bằng loại vàng cực kỳ quý
hiếm, trong thiên hạ không thể sánh kịp, hậu cung của đại
vương cũng chưa hề có được loại vàng như thế.
Ðược
sự tâu báo này, nhà Vua ra lệnh điều người đàn bà ấy
đến cửa vua. Vua trực tiếp hỏi bà ta:
- Ngươi
được kho tàng báu vật ấy ở chỗ nào? Có thể chỉ chỗ
ấy cho ta?
- Tâu
đại vương, thật sự tôi chẳng được kho tàng nào cả!.
- Bà ta thưa.
Nhà
vua lại hỏi:
- Vật
trang sức mà con gái người mang đó là từ đâu có?
- Thưa
đại vương, do Tất-lăng-già-bà-ta kết cỏ biến hóa thành,
rồi đem cho con gái tôi mang. - Bà ta đáp.
Nghe
nói thế, nhà vua hết sức kinh ngạc, lại giận dữ trước
sự vô lý này, quát:
- Tại
sao cỏ lại biến hóa thành tràng hoa bằng vàng?
Nhà
vua cho rằng bà ta xúc phạm, ra lệnh quân bắt trói, hạ ngục.
Một
thời gian sau, Tất-lăng-già-bà-ta lại đến thôn ấy. Vừa
gặp Tỳ-kheo, người con gái bật khóc nức nở... và than oán:
- Do
Ðại đức cho hai tràng hoa bằng vàng mà mẹ của con bị tra
khảo, ngồi tù!
- Thôi
đừng khóc nữa, ta rõ rồi. Mẹ của con rồi sẽ được thả
ra mà!. - Tất-lăng-già-bà-ta nói thế.
Tất
Lăng liền đến thẳng quan giữ ngục. Quan giữ ngục cung kính
chào hỏi:
- Ðại
đức có việc gì, phải hạ cố đến đây?
- Người
giúp việc của ta bị nhốt nơi ngục tù này, nên ta mới đến
đây. Nay ông có thể thả bà ấy ra được không?. - Tất-lăng-già-bà-ta
hỏi.
- Người
này được kho tàng quí báu mà không khai báo, không chỉ cho
vua, nếu chỉ cho vua thì bà ta được thả ra liền. - Quan cai
ngục đáp lời.
Tất-lăng-già-bà-ta
nói:
- Ta
kết cỏ làm thành, chứ chẳng phải là của kho tàng đâu!
- Kết
cỏ mà làm thành vàng là điều không thể xảy ra. - Quan cai
ngục nói.
Tất-lăng-già-bà-ta
liền biến chỗ ngồi của quan cai ngục thành cái giường
bằng vàng và hỏi:
- Nay
ông có nhìn thấy mình ngồi trên cái giường gì không?
Rõ
ràng là ngồi trên giường vàng và chính cái sang trọng này
làm người cai ngục thất kinh hồn vía, liền xuống giường,
cúi đầu thưa:
- Lạy
ngài giải tha cho con được nhờ! Nếu nhà Vua mà biết con
ngồi trên giường vàng thì chắc chắn bị trọng tội!
Tất-lăng-già-bà-ta
ra điều kiện:
- Thả
người giúp việc của ta ra, rồi ta mới giải phép cho ngươi.
Quan
giữ ngục thưa:
- Việc
này không phải thuộc thẩm quyền của con!
- Vậy
thì quyền của ai? - Tất-lăng-già-bà-ta hỏi.
- Dạ
thưa, quyền của vua. - Quan giữ ngục đáp.
Tất-lăng-già-bà-ta
liền giải phép xóa mất giường vàng, rồi bay đến chỗ
nhà vua, đứng trên hư không.
Khi
ấy, nhà vua từ trên lầu cao nhìn thấy, liền đảnh lễ thưa:
- Ðại
đức có việc gì cần mà đến đây?
Tất-lăng-già-bà-ta
nói:
- Người
giúp việc của tôi bị ngồi tù nên tôi đến đây, xin nhà
vua thả họ ra cho!
Nhà
Vua nói:
- Người
kia được kho tàng bảo vật, nếu chỉ cho tôi thì tôi mới
thả họ ra.
Tất-lăng-già-bà-ta
nói:
- Tôi
kết cỏ làm thành, chứ chẳng phải của báu trong kho tàng
đâu!
Nhà
Vua nói:
- Việc
này không thể xảy ra, không phải sự thật.
Lập
tức, Tất-lăng-già-bà-ta lấy cây gậy gõ vào trụ cột lầu,
thì cả toà cao lầu biến thành lầu vàng, rồi hỏi rằng:
- Cao
lầu của vua được xây cất bằng vật liệu gì đây?
Chứng
kiến việc này, nhà vua rất hoan hỷ, ra lệnh thả ngay người
đàn bà kia.
Tất-lăng-già-bà-ta
cứ như vậy biến hiện bốn thần túc từ nơi này sang nơi
khác khắp trong thiên hạ.
Một
khi toàn dân đều nghe biết sự biến hóa mầu nhiệm này,
thì lòng kính tin Phật pháp đối với họ lớn lắm. Họ mang
vật thực đến cúng dường Tăng không thiếu thứ gì. Ðiều
này gây ra sự khủng hoảng thừa. Ðồ ăn, thức uống, các
vật dụng cá nhân thừa thãi vất bỏ lung tung, dẫn đến
mất vệ sinh chung... Các Cư sĩ chỉ trích sự thừa thải:
- Ðây
là những thứ Sa-môn Thích tử chứa cất. Tự nói là tiết
chế sự ăn uống, mà bo bo cất giữ như thế này thì tha hồ
ăn nuốt. Những người này vì cầu giải thoát, xa lìa, sanh,
lão, bệnh, tử mà nay lại cầu thức ăn mỹ vị, cao sang như
thế này ư? Họ chẳng có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn..v.v...
Chính
vấn đề này dẫn đến Phật kiết giới cấm cất giữ thức
ăn một cách nghiêm nhặt đến nổi các dạng thuốc uống
để chữa bệnh, để xoa bóp, cũng quy định rõ thời gian
được dùng, để quá không xả là phạm tội.
GIẶC
THÁNG TÁM
Bây
giờ là tháng tám, tháng của bọn giặc tế trời. Họ thường
rình rập bắt người giết để tế. Cho nên tháng này trở
thành nổi khiếp sợ của nhân dân và các Tỳ-kheo. Không ai
là không đề phòng, cẩn thận việc đi lại, làm ăn.
Ðã
gần đến ngày tế, nhưng chưa bắt được ai, bọn giặc cùng
họp lại bàn bạc như vầy: “Ở A-lan-nhã có Tỳ-kheo, bắt
họ không khó”. Thế là bọn giặc tiến đến một A-lan-nhã
nọ. Nghe được thông tin này, các Tỳ-kheo, ai nấy đều tìm
cách lẫn tránh. Kế hoạch bị thất bại, họ lại bàn với
nhau: “Ta sẽ đến nơi khác, ngày tế sắp đến rồi, không
được trể nãi, biếng nhác”.
Trong
bọn có một người tu xuất, khi ấy nói với đồng bọn rằng:
- Tôi
được biết đức Phật dạy không cho phép Tỳ-kheo rời y
một đêm, chúng ta phải phục sẵn quanh đây, chắc mờ sáng
họ phải quay về thôi.
Cả
bọn nói:
- Nếu
họ không về thì sẽ giết ngươi. Nếu ngươi không bị ân
hận, hối tiếc, thì bọn tao ở lại đây mai phục.
Người
ấy trả lời:
- Tốt
lắm, tôi xin thế mạng.
Ðược
cam kết như vậy, bọn giặc bố trí, rình rập...
Ðối
với Tỳ-kheo, lời Phật dạy luôn tuân thủ. Cho nên để khỏi
phạm tội rời y ngủ thì phải về A-lan-nhã trước lúc mặt
trời ló dạng, nên gà vừa gáy sáng, các Tỳ-kheo rời nơi
ẩn náu quay về trú xứ và rơi vào ổ phục kích của bọn
giặc. Bọn giặc liền bảo:
- Các
ông tưởng bọn tôi đã đi rồi phải không?
Các
Tỳ-kheo trả lời:
- Chúng
tôi biết các ông còn ở lại, nhưng đức Phật không cho phép
chúng tôi lìa y ngủ, cho nên rơi đúng vào ý đồ của các
ông.
Bọn
giặc liền bắt giết ngay, cần máu, lấây máu, cần thịt
lấy thịt, bọn giặc có đủ máu thịt để tế trời.
Các
Tỳ-kheo tránh được cuộc tàn sát này đã có suy nghĩ: “Nếu
đức Thế Tôn cho phép chúng ta, khi chưa hết các ngày của
tháng tám được gởi một loại y nào nơi nhà Cư sĩ trong
phạm vi cương giới, thì đâu có gặp phải tai nạn khủng
khiếp này”.
Như
vậy, giới điều rời y ngủ không phạm, được Phật chế
định và sau đó được bổ sung để trở thành hoàn chỉnh.
Giới điều này được Phật chế định tại thành Xá-vệ.
CHÍN
LỜI NGUYỆN CỦA BÀ TỲ-XÁ-KHƯ
Bà
Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu20 là một cận sự nữ rất mực
sùng mộ đức Thế Tôn. Ngày ấy, bà cho thiết lễ trai phạn
để thỉnh Phật và Tăng đang lưu trú trong thành Xá-vệ để
cúng dường.
Hôm
ấy như sắp giao mùa, giông tố nổi lên rồi trút mưa xối
xả, như có cánh tay lực sĩ nào đó liên tục trút nước
ầm ầm từ trên trời xuống. Khắp nơi trong thành, nước
lênh láng tưởng chừng như một bát nước đầy tràn, nhưng
nước lại rút ngay vào lòng đất như những giọt dầu thấm
vào đống cát nóng. Trong tịnh xá Kỳ-hoàn, đức Phật bảo
các Tỳ-kheo:
- Xem
trận mưa trong Kỳ-hoàn hôm nay thì rõ được sức mưa cả
Diêm-phù-đề cũng vậy. Các ông có thể tranh thủ đi tắm
đi. Ðây là trận mưa cuối mùa, ở đâu cũng thế cả.
Các
Tỳ-kheo mình trần trùng trục ùa ra tắm mưa. Trong lúc ấy,
vì trai phạn đã thiết lễ xong, bà Tỳ-xá-khư sai nô tỳ
đến Kỳ-hoàn mời. Ðến nơi, nô tỳ thấy một số đông
người đang loã hình tắm mưa, lòng ái ngại, nghĩ rằng: “Ðây
là ngoại đạo chứ không phải Tỳ-kheo!”. Cô ta thôi không
vào mời, mà quay trở về báo lại cảnh mắt thấy nơi Kỳ-hoàn.
Tỳ-xá-khư có ý nghĩ: “Chắc là Tỳ-kheo tắm giữa đất
trống, đứa tớ ngu không biết cho đó là ngoại đạo”.
Bà lại bảo rằng:
- Mi
đến cửa Kỳ-hoàn thưa lớn như thế này: “Thưa Ðại đức
Tăng, thức ăn đã sửa soạn xong, mời quí ngài đến thọ
trai”.
Lúc
nô tỳ quay trở lại Kỳ-hoàn thì các Tỳ-kheo đã tắm xong,
các vị về lại phòng mình. Chẳng thấy có ai, muốn thưa
lớn nhưng lại e ngại, nghĩ bụng: “Vừa rồi, trong sân đầy
cả ngoại đạo, bây giờ chẳng thấy người nào. Thôi, khỏi
mời về trình lại là ổn”.
Nghe
nô tỳ báo như vậy, Tỳ-xá-khư nghĩ: “Chắc tắm xong, các
Tỳ-kheo vào phòng nghỉ ngơi”.
Bà
lại sai nô tỳ:
- Mi
đến một lần nữa, có thể vào trong cửa, đứng giữa sân
thưa lớn lời bà đã dặn.
Ðứa
nô tỳ làm y như lời chủ dạy và đức Phật nghe rõ. Ngài
bảo các Tỳ-kheo:
- Tỳ-xá-khư
mời thọ trai. Các ông nên mặc y, mang bát đến phó trai.
Các
Tỳ-kheo vâng lời, tập hợp nơi giảng đường. Nô tỳ đến
trước giảng đường bạch Phật:
- Trai
bàn đã thiết cúng xong, xin cung thỉnh quí ngài đến dự.
Ðức
Phật bảo người tớ gái:
- Ngươi
có thể về trước, chư Tăng sẽ đến sau.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn và các Tỳ-kheo, trong thoáng chốc đã
biến mất khỏi giảng đường, rồi xuất hiện tại nhà bà
Tỳ-xá-khư, đâu đó ngồi vào tòa ngồi một cách thứ lớp
mà y phục không ướt. Tỳ-xá-khư chứng kiến hình ảnh này,
lòng bà đầy cảm phục, thầm nghĩ: “Ta được nhiều thiện
lợi nên được cúng dường đầy đủ cho bậc Thánh sư và
các đệ tử của Thánh sư. Các Ngài đến trong mưa lớn mà
không hề ướt y phục”. Bà rất lấy làm vui mừng và toại
nguyện. Bà đích thân mời Phật và Tăng dùng cơm và hầu
ăn một cách trân trọng, đúng phép. Ăn xong, bà dâng nước
rồi kính cẩn chấp tay đứng qua một bên, bạch Phật:
- Cúi
xin đức Thế Tôn cho con được phép nói lên lời ước nguyện.
Ðức
Phật bảo Tỳ-xá-khư:
- Phật
đã vĩnh viễn rời bỏ mọi ước nguyện của thế gian.
Tỳ-xá-khư
lại thưa:
- Cúi
xin Ngài cho con phát những lời nguyện thanh tịnh.
Ðức
Phật dạy:
- Rất
lành thay!
Tỳ-xá-khư
bạch Phật, bà trình bày lý do chư Tăng tắm lõa hình như
ngoại đạo, mà nô tỳ đã chứng kiến sáng nay, bà thưa:
- Tại
sao các Tỳ-kheo phải lõa hình tắm trước Hòa thượng, A-xà-lê?!
Cho nên, cúi xin đức Thế tôn cho phép các Tỳ-kheo sử dụng
y tắm mưa21. Con nguyện trọn đời cung cấp y tắm mưa cho
các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ này.
Bà
lại thưa:
- Gần
đây, con có chút việc đến nơi sông A-di-la22, thấy các Tỳ-kheo
ni lõa hình tắm rửa trong dòng sông. Khi ấy, có người thấy
hình ảnh này đều chê cười rằng: “Người nữ mặc áo
che thân còn coi không được, huống là người nữ xuất gia
mà lại lõa thể”. Cúi xin Phật cũng cho Tỳ-kheo ni sử dụng
y tắm. Con nguyện trọn đời cung cấp y tắm cho các Tỳ-kheo
ni trong thành Xá-vệ này.
Bà
lại thưa:
- Thế
tôn dạy có ba loại bệnh: Một loại uống thuốc hay không
uống thuốc cũng chết. Loại thứ hai uống thuốc hay không
uống thuốc đều thoát khỏi bệnh. Loại thứ ba, uống thuốc
thì sống, không uống thuốc thì chết. Cúi xin Phật cho phép
các Tỳ-kheo được uống các thứ thuốc. Con cũng xin nguyện
trọn đời cung cấp thuốc cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ
này.
Bà
lại thưa:
- Ðức
Phật dạy có ba loại bệnh: Một, tùy theo bệnh được ăn
thức ăn, hay không được ăn thức ăn, tùy theo bệnh đều
chết. Loại thứ hai, tùy theo bệnh được ăn thức ăn, hay
không được ăn thức ăn, tùy theo bệnh đều sống. Loại
thứ ba, tùy theo bệnh được ăn thức ăn thì lành, không được
ăn thức ăn, tùy theo bệnh chết. Cúi xin Phật cho phép các
Tỳ-kheo được ăn thức ăn tùy theo bệnh. Con nguyện xin trọn
đời cung cấp thức ăn tùy theo bệnh cho các Tỳ-kheo tại
thành Xá-vệ này.
Bà
lại thưa:
- Người
nuôi bệnh, nếu phải đi khất thực thì không chu toàn việc
chăm sóc người bệnh. Cúi xin Ngài cho phép các Tỳ-kheo nuôi
bệnh được ăn thức ăn để nuôi bệnh. Con cũng nguyện trọn
đời cung cấp thức ăn cho các vị nuôi người bệnh trong
thành Xá-vệ này.
Bà
lại thưa:
- Khách
Tỳ-kheo từ các nơi xa xôi đến đây quá mệt mỏi, hơn nữa
không biết chỗ nào để khất thực. Cúi xin Ngài cho phép
các Tỳ-kheo nhận thức ăn từ nơi con, để Tỳ-kheo khách
dùng trong thời gian nghỉ ngơi vì mệt mỏi và chưa biết chỗ
khất thực. Con nguyện trọn đời cung cấp cho quí Tỳ-kheo
khách trong thành Xá-vệ này.
Bà
lại thưa:
- Nếu
có Tỳ-kheo nào đi xa mà phải vào thôn khất thực nên không
theo kịp bạn đồng hành, hoặc gặp phải bọn giặc tháng
tám, hay bị lạc đường. Con cúi xin Phật cho phép các Tỳ-kheo
đi xa nhận thức ăn đi xa của con. Con nguyện trọn đời cúng
dường lương thực đi đường xa cho các Tỳ-kheo trong thành
Xá-vệ này.
Bà
lại thưa: