Phần
01
Những
mẫu chuyện duyên khởi của giới thứ nhất.
Duyên
khởi của tội ăn trộm
Duyên
khởi của giới sát
Chuyện
đại vọng ngữ
Trưởng
lão Ưu-Đà -Di bị lửa duc thiêu đốt
Làm
mai
Mai
mối
Đừng
vắt khô sữa
NHỮNG
MẪU CHUYỆN DUYÊN KHỞI CỦA GIỚI THỨ NHẤT1
A.
- Giá trị của việc kiết giới.
Vua
Ba-tư-nặc lấy tên người Bà-la-môn Tỳ-lan-nhã phong ấp cho
ông ta là“Ấp Tỳ-lan-nhã”2. Ngoài ấp này không xa, có một
khu rừng vắng, ở đây tàng cây đan phủ lên nhau làm thành
một khu nhà xanh thoáng rộng. Ðức Phật cùng với đại chúng
500 Tỳ-kheo từ nước Tu-lại-bà3 đến ngụ ở đây. Lúc bấy
giờ là đầu mùa Hạ. Từ lâu, Bà-la-môn Tỳ-lan-nhã rất
ngưỡng vọng bậc Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh
túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự,
Thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn này. Nay cơ hội Phật đến với
ông ta đã trở thành hiện thực. Lập tức, Tỳ-lan-nhã cùng
với quyến thuộc 500 người, tiền hô hậu ủng trực chỉ
đến khu rừng này. Còn xa, ông đã trông thấy Phật, với
ánh sáng đặc thù của Ngài làm cho rừng cây sáng rỡ lên.
Ông ta liền xuống xe đi, thẳng về phía đức Phật. Trước
Phật, ông ta cung kính chào hỏi:
- Lành
thay! Xin được bái kiến Phật.
Ông
lui lại rồi ngồi sang một bên.
Thuyết
pháp là điều lợi ích to lớn đối với bất cứ ai đến
với Phật. Bà-la-môn Tỳ-lan-nhã vô cùng hoan hỷ sau khi nghe
Phật thuyết pháp. Ðể đáp lại, ông ta thưa:
- Nguyện
xin Phật và Tăng nhận lời thỉnh của con đến ấp an cư
3 tháng để con được cúng dường.
Ðức
Phật bảo rằng:
- Chúng
của tôi thì đông, mà lòng tin của ông có khác, cách nhìn
của ông có khác, niềm vui ở cách tôn thờ của ông có khác,
liệu có thích hợp được chăng?
Người
Bà-la-môn bạch Phật:
- Con,
tuy lòng tin có khác, cách nhìn và niềm vui có khác, song đối
với chúng đông đảo của Thế Tôn thì không có vấn đề
gì.
Ba
lần Tỳ-lan-nhã thưa thỉnh như vậy, đức Phật mới nhận
lời. Sau khi nhiễu quanh bên phải Phật ba lần, ông ta cáo
từ trở về ấp.
Lời
thề của ma Ba-tuần4 còn đó, cho nên việc Bà-la-môn Tỳ-lan-nhã
quay trở về với Phật, là một thất bại cho ma nên chúng
quyết ngăn chận thất bại này bằng cách làm mê hoặc Tỳ-lan-nhã
quên hẳn lời mời thỉnh kia. Năm thứ vui hoan lạc ở đời
được ma Ba-tuần hóa thân vào trong đó đã làm sơ tâm của
Tỳ-lan-nhã nhanh chóng thối hóa. Bao nhiêu việc ông cho sắm
sửa đầy đủ cho ba tháng an cư của Phật và Tăng được
đóng lại bằng lệnh ngặt sau đây: “Nay ta cần vui hưởng
ba tháng nơi hậu cung, việc bên ngoài dù hay, dở, tốt, xấu
cũng không được báo cáo”.
Mùa
an cư năm ấy, đức Phật và Tăng an cư trong rừng núi phía
Bắc thành ấy vì quanh khu vực rộng lớn này không có một
ngôi tịnh xá, giảng đường nào. Cái mà ma Ba-tuần nắm được
là Thiên không thời, Ðịa không lợi, Nhân không hòa. Trời
thì nắng như thiêu đốt, đất đai khô cằn, hoa màu chết
sạch, người thì người của Bà-la-môn, kể cả Tỳ-lan-nhã
đã bị nhận chìm trong thú vui hoan lạc. Cho nên ma Ba-tuần
hoan hỷ trong ý đồ của mình. Không nơi đâu Tỳ-kheo khất
thực được, cái đói của chúng Tăng càng lúc trở thành
nguy kịch. Nhưng vào cao điểm ấy, các Tỳ-kheo gặp người
chủ buôn ngựa, chủ đàn ngựa 500 con. Ông ta đưa ngựa về
ấp Tỳ-lan-nhã để dưỡng sức, tránh cái nóng chết người
cũng vào thời điểm Phật và đại chúng Tăng đến khu rừng
kia. Ông ta có lòng tin Phật rất sâu đậm, trước sự trầm
mặc của Tỳ-kheo khất thực, người chủ buôn ngựa thưa:
- Tôi
có loại lúa cho ngựa ăn, nếu quí thầy có thể dùng được
thì tôi bớt nửa phần, một thăng xin biếu quí vị, chắc
có thể nuôi sống mà hành đạo.
Các
Tỳ-kheo nói:
- Ðức
Phật chưa cho phép chúng tôi ăn phần lúa của ngựa. Ðược
phép hay không được phép, chúng tôi phải bạch lên Phật.
Ðức
Phật cho tập hợp chúng Tỳ-kheo. Ngài đề cao và khen ngợi
hạnh thiểu dục, tri túc. Trước Tỳ-kheo, Ngài ngõ lời rằng:
“Từ
nay về sau cho phép ăn phần lúa của ngựa”. Và lời này
về sau trở thành lời của Luật để đời sau khéo vận dụng
tùy hoàn cảnh.
Tôn
giả A-nan nhận phần lúa của Phật rồi nhờ người làm bún
cúng dường Thế tôn. Còn các chúng Tỳ-kheo khác thì tự giã,
nấu lấy để ăn.
Trước
hoàn cảnh này, từ nơi vắng lặng, Tôn giả Mục-kiền-liên
tư duy điều này: “Hiện trong nước này việc khất thực
khó được, ta nên cùng các vị có thần thông đến xứ Uất-đơn-việt5
lấy thức ăn bằng lúa gạo tự nhiên6”. Sau đó, Tôn giả
bạch lên đức Phật ý nghĩ ấy, Ðức Phật liền đặt lại
vấn đề:
- Riêng
thầy thì được rồi, còn đối với Tỳ-kheo phàm phu không
có thần thông thì giải quyết sao đây?
- Con
sẽ vận dụng thần lực của con tiếp giúp cho họ.
- Tôn
giả Mục-kiền-liên thưa.
Ðức
Phật nói ngay:
- Ðừng,
đừng làm như vậy, thầy tuy có được thần lực nhưng đối
với các phàm phu đời tương lai thì giải quyết sao đây?
Với
lời dạy này, trong tư thế sâu lắng, đức Thế Tôn phủ
nhận ý kiến của Tôn giả Mục-kiền-liên...
Riêng
đối với Tôn giả Xá-lợi-phất, cũng trong chỗ vắng lặng,
bao vấn đề được đặt ra và cũng nhân dịp này, Tôn giả
đến trước Phật tác lễ để hỏi những điều mà Tôn giả
nghĩ suy:
- Bạch
Thế Tôn, chư Phật đời quá khứ, vì sao có đức Phật phạm
hạnh thì Phật pháp không lâu dài? Có đức Phật phạm hạnh
thì Phật pháp lại bền vững?
Nắm
ngay câu hỏi, đứùc Phật hết lời khen ngợi Xá-lợi-phất:
- Lành
thay! Lành thay! Ðiều suy nghĩ của thầy rất sâu sắc, câu
hỏi của thầy cũng thật hay. Này Xá-lợi-phất! Ðức Phật
Duy-vệ7, đức Phật Thi-khí, đức Phật Tùy-diếp phạm hạnh
nhưng Phật pháp không dài lâu, còn với đức Phật Câu-lâu-tôn,
đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, đức Phật Ca-diếp phạm hạnh
nhưng Phật pháp lại bền vững.
Tôn
giả Xá-lợi-phất hỏi:
- Kính
bạch Thế tôn, vì sao lại xảy ra sự việc không đồng bộ
như vậy?
Ðức
Phật bảo Xá-lợi-phất rằng:
- Vì
ba đức Phật trước chỉ nói Chánh pháp rộng rãi cho đệ
tử nghe, nhưng không kiết giới Ba-la-đề-mộc-xoa8, nên sau
khi Phật và đệ tử vào Niết-bàn, các đệ tử bao gồm nhiều
chủng tộc xuất gia mà Chánh pháp vẫn nhanh chóng chấm dứt.
Ðiều này giống như nhiều loại hoa rải lên bàn, đem đặt
nơi chỗ trống, gió từ bốn hướng thổi đến, hoa bay theo
gió vung vãi đó đây. Lý do là vì hoa không có dây xâu buộc
lại với nhau. Cũng vậy, Xá-lợi-phất! Ba đức Phật trước,
Chánh pháp tuy thuyết rộng cho đệ tử nghe mà không kiết
giới, không nói Ba-la-đề-mộc-xoa cho nên Chánh pháp không
kéo dài lâu.
Này
Xá-lợi-phất! Còn đức Phật Câu-lâu-tôn, đức Phật Câu-na-hàm,
đức Phật Ca-diếp, các Ngài nói Chánh pháp rộng rãi cho đệ
tử nghe, giống như các loại hoa được sợi chỉ xâu kết
lại, dù có để lên bàn, đặt nơi chỗ trống, gió bốn hướng
thổi đến cũng không làm cho hoa bay tứ tản. Ðược vậy,
chính là nhờ sợi chỉ xâu buộc, kết giữ nó lại. Cũng
như vậy, này Xá-lợi-phất, do ba đức Phật sau đã vì đệ
tử nói pháp rộng và kiết giới Ba-la-đề-mộc-xoa nên phạm
hạnh được bền vững.
Tôn
giả Xá-lợi-phất bạch Phật:
- Kính
bạch Thế tôn, nếu vì lý do như Ngài dạy mà phạm hạnh
không kéo lâu dài thì cúi xin đức Thế tôn hãy vì các đệ
tử kiết giới, nói Ba-la-đề-mộc-xoa. Nay phải chăng việc
này là đúng lúc?
Ðức
Phật dạy:
- Thôi
đi! Ta tự biết khi nào là đúng lúc. Này Xá-lợi-phất, trong
chúng thanh tịnh của Ta, chưa có và cũng chưa hề có xảy
ra vấn đề gì, kẻ thấp nhất cũng đắc quả Tu-đà-hoàn,
đủ chứng minh sự trong sạch, thanh tịnh đối với chúng
của Ta rồi vậy. Các đức Như Lai chưa bao giờ kiết giới
cho hàng đệ tử khi mà các pháp hữu lậu chưa phát sinh. Trong
chúng của Ta đây, chưa có ai ỷ mình là đa văn mà sinh các
lậu hoặc. Chưa hề có ai mang tiếng vì lợi dưỡng, chưa
hề có người nào có nhiều ham muốn, chưa hề có người
hiện thần túc làm cho trời, người thấy cái sở đắc tri
thức ấy. Vì vậy mà không phát sinh các lậu hoặc.
Lúc
bấy giờ ba tháng an cư đã mãn, Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:
- Ông
và tôi cùng đến chỗ Tỳ-lan-nhã.
A-nan
y phục trang nghiêm theo hầu Phật. Ðang vui hưởng 5 thứ dục
lạc ở trên lầu cao, bỗng Tỳ-lan-nhã giật mình, nhìn xuống
thì thấy đức Phật và A-nan đã đứng trước cửa ngõ dinh
thự. Ðiều gì ông ta quên bẵng, giờ thì sực nhớ lại hết,
ông vội vã xuống lầu, ra tận cửa đón rước Phật vào
nhà. Ông đích thân lau lại tòa ngồi rồi mời Phật an tọa.
Liền đó Tỳ-lan-nhã đảnh lễ Phật, năm vóc đặt xuống
sát đất, ông tự hận trách mình rằng:
-
Con là người ngu si, đã thỉnh Phật an cư mà không cúng dường.
Không phải con không có tấm lòng tha thiết, cũng không phải
thiếu phương tiện, mà chỉ vì con bị vong thân trong mê mờ,
nên đánh mất luôn trí nhớ đáng tiếc kia. Con cúi mong đức
Thế Tôn nhận cho con sự sám hối này.
Ðức
Phật dạy:
- Ông
quả là ngu si, thỉnh Phật và Tăng mà không cúng dường. Ông
sám hối là điều hợp lý. Nay tôi và chúng Tăng nhận sự
sám hối này của ông.
Ðức
Phật bảo:
- Trong
Thánh pháp của tôi, người biết sám hối thì pháp lành được
tăng trưởng.
Người
Bà-la-môn lại bạch Phật rằng:
- Nguyện
xin Phật và Tăng lưu lại đây một tháng để con được cúng
dường.
Ðức
Phật không nhận lời, lại có lời dạy:
- Ông
là người Bà-la-môn, lòng tin của ông có khác, nhận thức
của ông có khác, nhưng ông đã nói lên được tấm lòng như
vậy, tức là thỉnh Phật rồi, chính đây là sự kiện lớn.
Bà-la-môn
Tỳ-lan-nhã ba lần thỉnh mời như vậy, nhưng Phật đều không
nhận lời, Ngài nói:
- Tôi
đã an cư nơi đây ba tháng, nay cần đi du hóa, không thể ở
lại được.
Người
Bà-la-môn lại tha thiết bạch Phật:
- Thôi
thì cúi xin Thế Tôn nhận cho con bữa cúng dường tiễn đưa
vào ngày mai.
Ðức
Phật im lặng trước lời mời này, nghĩa là Ngài nhận lời
mời.
Buổi
sáng hôm ấy, việc thiết lễ cúng dường Phật và Tăng chúng,
Tỳ-lan-nhã cho sắp đặt hết sức trân trọng, từ tấm lòng
mình cho đến mọi thứ vật phẩm. Ðến giờ, ông cung thỉnh
Phật và Tăng ngồi vào chỗ ngồi được thiết đặt cực
kỳ tôn kính, nhất là tòa ngồi của Phật. Ông tác bạch
cúng dường, sau đó ông đích thân hầu hạ Phật và Tăng
dùng bữa cúng dường một cách chu đáo. Ngay sau việc thọ
dụng cúng dường vừa dứt, người Bà-la-môn liền dâng cúng
lên Phật bốn trương kiếp-bối 9 và một đôi giày, còn chúng
Tăng mỗi vị 2 trương kiếp-bối và một đôi giày. Việc
cúng dường này xảy ra là lần đầu tiên nên chúng Tăng không
biết xử lý như thế nào? Các Tỳ-kheo bạch Phật, hỏi Ngài
vấn đề thọ nhận này.
Nhân
sự việc này, đức Phật lại hết lời khen ngợi hạnh thiểu
dục, tri túc, đề cao giới, khen ngợi người trì giới, rồi
bảo các Tỳ-kheo:
- Nhân
sự cúng dường của Tỳ-lan-nhã, từ nay về sau cho phép nhận
vật phẩm an cư.
Về
phía người Bà-la-môn, lòng ông vô cùng mừng rỡ, phấn chấn.
Ông Sa-lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi đối diện với đức
Phật, ông lắng nghe đức Phật thuyết kệ sau bữa cúng dường
này:
Tất
cả sự thờ cúng
Thờ
lửa 10 là hơn hết
Mọi
học thuyết khác nhau
Tá-bà-đế(?)
cao nhất.
Trong
tất cả hạng người
Vua
Chuyển luân hơn cả
Nước
trong mọi dòng chảy
Nước
biển cả nhiều hơn.
Mọi
nguồn sáng chiếu rọi
Nguồn
trời, trăng sáng nhất
Phước
cả thế gian này
Ruộng
phước Phật nhiều nhất.
Tiếp
theo kệ, Thế Tôn thuyết pháp. Ngài chỉ bày sự tu tập và
sự lợi ích to lớn của nó. Người Bà-la-môn Tỳ-lan-nhã
vô cùng hoan hỷ.
B.
Cạm bẫy thế tình
Rời
ấp Tỳ-lan-nhã đi về nước Tăng-già-thi 11, đức Phật và
Tăng du hóa khắp nước này, sau đó đến Tỳ-xá-ly12. Ðoàn
dừng ngụ nơi giảng đường Trùng Các13, bên bờ sông Di Hầu14.
Tại đây, bốn chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di
cùng Quốc vương, Ðại thần, Sa-môn, Bà-la-môn cúng dường,
cung kính, tôn trọng, tán thán Ngài.
Ngày
ấy, tại giảng đường Trùng Các, đức Phật thuyết pháp.
Trong rừng người thính giả có các Trưởng giả ấp Ca-lan-đà,
và người con của Trưởng giả Ca-lan-đà là Tu-đề-na15 đang
chăm chú lắng nghe lời pháp của Phật. Càng nghe, Tu-đề-na
như càng bị cuốn hút, niềm vui trong Tu-đề-na cứ lớn lên
dần và Tu-đề-na có sự liên hệ rằng: “Hễ là người
tại gia thì bị ân ái ràng buộc, không thể trọn đời tu
phạm hạnh16 được. Xuất gia không bị dính mắc, đắm chìm,
giống như hư không. Nay ta đâu có thể đặt lòng tin vào gia
đình, phải xuất gia tu đạo mà thôi”.
Ngay
sau khi hội chúng ra về, Tu-đề-na vội đến gặp Phật. Trước
Phật, Tu-đề-na đảnh lễ sát chân Ngài và đem ý nghĩ trên
bạch lên Phật, rồi bày tỏ ý muốn xuất gia, Tu-đề-na thưa:
- Kính
bạch Thế Tôn! Nay con đã nhận thức được lời dạy của
Ngài nên muốn xuất gia, cúi xin Ngài nhận cho con được xuất
gia thọ giới.
Ðúc
Phật dạy:
- Tốt
lắm! nhưng cha mẹ của con đã cho phép hay chưa?
- Dạ
thưa, chưa được phép! -Tu-đề-na kính cẩn đáp.
Ðức
Phật dạy:
- Theo
pháp của Phật, cha mẹ không cho phép thì không thể nhận
vào đạo.
Tu-đề-na
liền bạch Phật:
- Nay
con xin trở về để xin phép cha mẹ.
Ðức
Phật dạy:
- Con
nên thực hiện điều này.
Tu-đề-na
nhiễu quanh bên phải Phật ba vòng rồi trở về nhà. Trước
cha mẹ, Tu-đề-na trình bày lý do như trên và xin cha mẹ xuất
gia. Cha mẹ anh ta liền gạt ngay với lời lẽ thuyết phục
rằng:
- Thôi
đi Tu -đề-na! Con đừng nói điều đó. Trước đây cha mẹ
không có con, phải cúng tế, cầu khẩn Thần kỳ mới sinh
được con. Con là đứa con duy nhất của cha mẹ, tình thương
của cha mẹ đối với con quá ư sâu nặng, dù chết cũng không
muốn xa nhau, huống chi phải sống xa biền biệt. Nhà mình
nhiều của cải, vàng bạc, châu báu, con cứ tu phước theo
ý con, với đời tận hưởng thú vui, con không phiền phải
xuất gia để lòng thương của cha mẹ bị tan nát.
Dù
vậy, Tu-đề-na vẫn không nghe. Ba lần anh ta xin, ba lần bị
cha mẹ cương quyết từ chối. Vì thế, anh lập lời thề
rằng: “Nếu không được xuất gia, dứt khoát không bao giờ
ăn uống. Ðối với nguyện này, thà ta chết còn hơn chạy
theo cái sống”.
Nhịn
đói đến ngày thứ sáu, anh nghe được lời khuyến dụ lần
lượt của thân tộc, họ hàng, bè bạn như vầy: “Cha mẹ
anh chỉ có một mình anh là con, tình thương đối với anh
rất sâu nặng, chết còn không muốn xa lìa, huống chi sống
phải xa cách nhau. Nhà anh quá giàu có, anh có thể gieo trồng
phúc đức. Ðạo là do nơi tâm chứ đâu ở nơi hình thức
áo quần, hà tất anh phải sống cực khổ, thương đau làm
ngược lại ý của cha mẹ!”.
Thân
thuộc, bè bạn ba lần khuyến dụ như vậy, song Tu-đề-na
vẫn điềm nhiên im lặng không nghe, không trả lời.
Dù
thất bại, song mọi người thân cũng tìm ra được giải pháp
có lợi cho Tu-đề-na, mà về lâu về dài cũng có lợi cho
cha mẹ anh ta. Trước cha mẹ Tu -đề-na, bà con cảm động
nói:
- Theo
nhận xét của chúng tôi, thì không thể thuyết phục làm lay
chuyển được Tu-đề-na. Tốt hơn, ông bà nên cho phép Tu-đề-na
xuất gia. Thời gian sẽ cho thấy điều này: “Người không
vui sống với đạo ắt sẽ quay về”, ngày ấy không xa. Ðã
trên sáu ngày tuyệt thực rồi, mạng sống của Tu-đề-na
mong manh lắm, cùng lắm vài hôm nữa là phải đem đi vất
thôi, mặc cho chim quạ, cọp beo tranh nhau xơi tái. Ðạo làm
cha, làm mẹ sao nỡ nhẫn tâm trước thảm cảnh này sao? Hỡi
ông bà!
Nghe
thế, cha mẹ Tu-đề-na ngậm ngùi nuốt lệ, nghẹn ngào nói:
- Ðành
phải chấp nhận cho con tôi xuất gia tu phạm hạnh, song điều
cần thiết là làm sao phải có thời gian con tôi trở về nhà,
để chúng tôi được thăm nó.
Ðiều
chấp nhận này không những làm cho thân tộc, bạn bè nhẹ
nhõm vui mừng, mà còn làm cho Tu-đề-na mãn nguyện. Sau khi
nghe tin vui từ bà con truyền đạt, Tu-đề-na quay trở về
nhà. Một lần nữa trước cha mẹ, Tu-đề-na tha thiết xin:
- Nay
con xin cha mẹ cho phép con đến với đức Phật, xuất gia tu
đạo.
Cha
mẹ anh ta nước mắt chảy ròng, nghẹn ngào nói:
- Cha
mẹ đồng ý cho con xuất gia tu phạm hạnh, song quan trọng
con đừng quên về nhà thăm cha mẹ.
Tu-đề-na
bái từ cha mẹ, rồi đến chỗ đức Phật. Tu-đề-na đảnh
lễ sát chân Thế tôn và bạch:
- Kính
bạch Thế tôn! Cha mẹ con đã cho phép rồi, cúi xin Ngài cho
con xuất gia thọ giới.
Ðức
Phật dạy:
- Lại
đây, lành thay Tỳ-kheo, tu các phạm hạnh. Vì điều thiện,
Ta thuyết pháp để đoạn trừ các khổ ách.
Sau
khi nghe Phật thuyết giáo, tóc, râu Tu-đề-na tự rụng, thân
khoác áo Cà-sa, tay bưng bình bát, trở thành Sa-môn, đắc giới
Cụ túc.
Trở
thành Tỳ-kheo, Tu-đề-na rất mực tinh tấn... Thời gian trôi
qua chưa được bao lâu, nhân gặp lúc mất mùa, nạn đói xảy
ra, các Tỳ-kheo khất thực không nhận được sự cúng dường.
Trước hoàn cảnh này, trong chỗ thanh vắng, Tỳ-kheo Tu-đề-na
nảy ra ý nghĩ: “Hiện nay mất mùa, khất thực khó lòng ai
cho. Nơi quê nhà ta, thức ăn lại dư dật, ta nên đưa các
Tỳ-kheo về lại bổn ấp để được cúng dường tu phước,
cũng là cơ hội để độ dòng họ ta”. Ý niệm tốt này,
sau đó được Tu-đề-na thực hiện.
Tại
quê nhà, Tỳ-kheo Tu-đề-na cùng các Tỳ-kheo khác trú ngụ
trong rừng cây. Hay tin này, cha mẹ Tu-đề-na hối thúc người
con dâu của mình rằng:
- Này
con! Con hãy trang điểm lại sắc đẹp, đẹp hơn ngày nào.
Sắc đẹp mà con ta, Tu-đề-na ngày trước đắc ý nhất, con
hãy trang sức thật lộng lẫy.
Nghe
theo lời cha mẹ chồng, con dâu làm đẹp tấm thân mình, sắc
đẹp của cô dâu bỗng sáng lên rực rỡ. Cô ta cùng với
cha mẹ đến khu rừng Tỳ-kheo đang trú ngụ. Sau lời thăm
hỏi đón chào, Tu-đề-na phải nghe những lời này của cha
mẹ:
- Tại
sao con lại hủy thân mình nơi rừng sâu thế này? Con có thể
bỏ đạo trở về nhà tu thiện được chứ?
Tu-đề-na
ôn tồn thưa với cha mẹ:
- Con
không thể bỏ đạo, trở về nhà sống đời sống thấp hèn
như vậy!
Ý
chí sắt son kiên định này đã đẩy lùi ba lần khẩn khoản
thuyết phục của cha mẹ. Cha mẹ đành ngậm ngùi đưa con
dâu ra về. Song, nghĩ đến cái gia nghiệp kếch xù không ai
thừa kế, cha mẹ Tu-đề-na cương quyết giành giật lại Tu-đề-na
bằng mọi mánh khóe, trong đó yếu tố tham ái là phương án
trí mạng được thực hiện một cách quyết liệt.
Tính
theo nguyệt thủy17, con dâu của ông bà Trưởng giả Ca-lan-đà,
biết được chu kỳ “không an toàn” của mình, cô ta liền
đem “bí quyết” này thưa với cha mẹ, bà mẹ chồng vui
vẻ nói: “Ðó là thời kỳ con có thể thụ thai”.
Cũng
với sắc đẹp ấy, cũng với ý đồ ấy, cha mẹ và con dâu
dẫn nhau đến thăm Tỳ-kheo Tu-đề-na. Tu-đề-na lễ phép lắng
nghe điệp khúc này của cha mẹ:
- Tại
sao con lại hủy hoại tấm thân con nơi rừng cây này? Tại
sao con phải chấp nhận gió sương, đói khát, lạnh lẽo, khốn
khổ này? Nhà ta giàu có, thiên hạ đều biết khắp. Chỉ
riêng Ta làngười đứng đầu về số châu báu được tích
lũy, huống chi là của cải của cha mẹ gộp lại thì vô số,
chẳng ai có thể sánh kịp. Con hãy trở về nhà, tha hồ tu
thiện. Hiện tại, với đời thụ hưởng lạc thú, về sau
lại hưởng cả phúc đức.
Tu-đề-na
ôn tồn thưa với cha mẹ rằng:
- Như
chỗ con biết thì ngũ dục làm tổn hại đến đức, hoan lạc
chỉ trong chớp nhoáng mà ưu khổ thì lại kéo dài mãi, con
không vì thế mà bỏ tu phạm hạnh.
Ðiểm
mạnh là thế, và cha mẹ Tu-đề-na hiểu rõ điểm mạnh này
của con mình, song bao điều kinh nghiệm của cha mẹ cũng biết
rõ chỗ yếu kia. Cha mẹ Tu-đề-na quyết liệt đánh vào chỗ
yếu ấy với lời lẽ rất biện chứng:
- Con
là con của ta, nay theo dòng họ Thích đó là đạo trái với
ta, đâu còn lời để mà nói. Nghiệt một nỗi, Tổ tiên ta
dứt đi người thừa kế, nghĩa tình này nặng lắm con ơi!
Theo luật nước, không có người thừa kế thì toàn bộ tài
sản thuộc về nhà quan. Cha mẹ đã chuẩn bị cả rồi, con
đâu biết rằng tất cả kỳ vọng đều đặt nơi con, là
người kế tục dòng họ. Con hãy nghĩ kỹ điều này! Cha mẹ
đã nói hết lời rồi đó!
Trước
lời khẩn khoản thống thiết của cha mẹ, tâm đạo Tu-đề-na
dao động như tảng đá núi đỗ nhào, nước mắt tuôn trào.
Tu-đề-na coi đây như một điều lệ chấp nhận nên cùng
với “bổn nhị”18 quay trở về với ngôi nhà cũ. Ngôi nhà
của nghĩa tình chồng vợ. Nơi đây, Tu-đề-na quay trở lại
với điểm gốc trầm luân, ba lần hành dâm.
Trong
bối cảnh này, liền có Thần giáng hạ từ cõi trời Ðâu
Suất, vị trời Ðại oai đức này mạng chung, đậu vào thai.
Lúc
bấy giờ, Ðiïa thần báo với thần Hư Không rằng: “Con
trai của Ca-lan-đà, ở trong chúng Tăng là người chưa từng
sánh, lại làm cái việc chưa từng có”. Hư Không thần báo
cho Tứ Thiên Vương. Tứ Thiên Vương báo cho Ðao Lợi Thiên
và lần lượt báo cho nhau, lên đến trời Phạm Thiên...
Ngày
tháng qua mau, vợ Tu-đề-na đủ tháng sanh con trai, thông minh
tuấn tú, đặt tên là Tục Chủng19. Lớn lên, Tục Chủng
xuất gia tu hành chứng A-la-hán.
Về
phía Tu-đề-na, một khi đã phạm phải điều ác rồi thì
sống trong mặc cảm, suy nhược, hối trách, nghe rõ tiếng
nói của chính mình: “Nay ta đánh mất đi điều lợi ích.
Tại sao xuất gia trong Chánh pháp của đức Phật mà không
tu phạm hạnh một cách trọn vẹn, để rồi phải tiều tuỵ,
xanh xao, mất hết khí lực thế này?!”.
Thế
rồi, qua việc tâm tình vặn hỏi của các Tỳ-kheo khác. Tu-đề-na
thổ lộ sự thật rằng:
- Tôi
đã cùng với “bổn nhị” làm hạnh bất tịnh.
Trước
sự thật này, Tăng nghiêm khắc quở trách bằng lời lẽ:
- Việc
thầy làm là bất thiện, chẳng phải hạnh thanh tịnh, chẳng
phải pháp của Sa-môn, không tùy thuận chánh đạo.
Tăng
đưa Tu-đề-Na-đến trước Phật và trình bày sự việc Tu-đề-na
phạm phải. Cũng cần biết rõ lệ này: Pháp thông lệ của
chư Phật là có trường hợp biết mà vẫn hỏi, có trường
hợp biết mà không hỏi, hỏi khi có lợi ích, không lợi ích
thì không hỏi. Thường pháp chư Phật là có 500 vị thần
Kim Cang hộ vệ hai bên. Nếu đức Phật hỏi ba lần mà không
như thật trả lời thì đầu bị đập vỡ làm 7 phần.
Trường
hợp Tu-đề-na là biết rõ tội phạm mà vẫn hỏi. Phật hỏi
Tăng trước, rồi hỏi Tu -đề-na, và một lần nữa thẩm
quyền của Tăng xác định việc làm của Tu-đề-na là phi
pháp, và chính đương sự công nhận tội phạm của mình.
Bấy giờ Phật mới quở trách Tu-đề-na:
- Ông
là người ngu si, làm điều bất thiện, chẳng phải hạnh
thanh tịnh, chẳng phải pháp của Sa-môn, không tuỳ thuận
chánh đạo. Ðiều này không thể khiến cho người chưa tin,
tin theo được và khiến cho người đã tin giảm sút lòng tin.
Ông há không nghe Ta từng lập đi, lập lại sự quở trách
về dục, dục tưởng, cảm giác dục, lửa dục và khen ngợi
sự đoạn dục, xa lìa nhớ nghĩ về dục, trừ cảm giác dục,
diệt lửa dục hay sao? Ta thường nói: Dục như đống xương
đỏ, như hầm lửa lớn, như dao sắc bén, như tên nhọn, như
rắn độc, như thuốc độc, như ảo hóa, như mộng mị, làm
mê hoặc con người. Tại sao nay ông lại làm việc ác tày
trời như vậy? Ông đâu không nghe chỗ pháp cốt yếu của
Ta nói là làm cho người chưa ly dục được ly dục, người
phóng dật khiến không phóng dật, có khả năng đoạn khát
ái, xa lìa pháp hữu vi, vô học lìa dục hướng đến đạo
vô vi, chỉ vẽ cho người con đường chính để cuối cùng
đạt đến Niết-bàn hay sao? Ông đâu không sợ cái khổ của
ba đường ác? Nếu ông không làm điều đại ác này thì trong
Chánh pháp của Ta ắt sẽ được vô lượng điều thiện công
đức. Ông là người đầu tiên mở cửa lậu hoặc, làm điều
đại ác này. Ma Ba-tuần thường dò xét mọi lỗi lầm của
các Tỳ-kheo, nay ông lại mở ra cho ma con đường tắt, xô
ngã cờ pháp, xây dựng ngọn cờ đầu cho ma. Này Tu-đề-na!
Thà là đem phần thân xác này để vào lò lửa lớn kia, hay
trong miệng con rắn độc, chớ không nên đem nó xúc phạm
đến thân người nữ. Việc ác của ông đã phạm, vĩnh viễn
trôi lăn trong đường sanh tử, hoàn toàn không thể nuôi lớn
pháp lành.
Tiếp
theo đó, đức Phật vì các Tỳ-kheo kiết giới điều về
tội phạm này.
C.
Ngụy biện
Lúc
bấy giờ, đức Phật đang ở tại thành Xá- vệ, có một
sự việc xảy ra như sau:
Tỳ-kheo
A-lan-nhã20 thì thường sống nơi an nhàn thanh vắng. Ở một
khu rừng nọ, có một bầy khỉ sống quây quần bên Tỳ-kheo.
Một con khỉ cái làm cho Tỳ-kheo mống tâm. Tỳ-kheo nghĩ đến
nó và để dụ dỗ, vị này dùng thức ăn để tiếp cận
nó. Ông đã cùng với con khỉ cái hành dâm.
Lệ
thường, có chúng Tỳ-kheo đi tuần xét tọa cụ, đến chỗ
ở của Tỳ-kheo này. Hôm đó Tỳ-kheo này vào thành khất thực.
Con khỉ cái kia liền đến với các Tỳ-kheo tuần tra, biểu
hiện tướng dâm dục. Các Tỳ-kheo tuần tra có chung một nhận
định: “Xét hiện tượng của con khỉ cái này, ắt có vấn
đề”. Thế rồi hiện trạng vấn đề ấy đã xảy ra trước
sự dò xét kín đáo của các Tỳ-kheo: Tỳ-kheo ở chốn này
sau khi khất thực về, con khỉ cái lân la đến với Tỳ-kheo...
thế là người hành dâm với thú.
Sau
đó, các Tỳ-kheo tuần tra bảo thẳng với Tỳ-kheo này:
- Thầy
không nghe đức Phật kiết giới: Tỳ-kheo hành dâm là phạm
trọng tội phải vất đi hay sao?
Thầy
ta liền đáp:
- Phật
cấm hành dâm với người nữ, chứ đâu có cấm đối với
súc sanh.
Các
Tỳ-kheo vặn lại:
- Người
nữ với súc sanh cái, có khác gì đâu đối với cảm giác
dục.
Các
Tỳ-kheo lại quở trách Tỳ-kheo này như lời Phật quở trách
ở trên, rồi đưa Tỳ-kheo ấy đến trước Phật, trình bày
rõ ràng sự việc phạm pháp đã xảy ra.
Phật
cho tập hợp Tỳ-kheo và sau khi hỏi rõ vấn đề, Ngài quở
trách Tỳ-kheo A-lan-nhã này (lời quở trách như trên). Ngài
đã vì Tỳ-kheo kiết giới bổ sung.
D.
Bán đồ nhi phế.
Lúc
bấy giờ đức Phật trú tại thành Xá-vệ21. Nhiều chúng
Tỳ-kheo cũng ở quanh đây. Trong đó có số đông Tỳ-kheo không
vui thích với đời sống phạm hạnh. Họ nói với nhau rằng:
“Xuất
gia trong pháp của Phật là khổ sở. Chúng ta nên cùng nhau
làm theo phép tắc của Bạch y, làm theo phép tắc của ngoại
đạo, làm việc làm của cư sĩ, làm việc làm của ngoại
đạo, đúng lúc hay không đúng lúc cũng vào xóm làng, làm
việc sát sanh, trộm cắp, dâm dục, uống rượu, ăn thịt,
ngày đêm xem hát, ca xướng, tự do vui thích”.
Và
thực sự số Tỳ-kheo này đã hành động như vậy, không hề
biết xấu hổ là gì! Nhìn thấy các con sâu Tỳ-kheo này, các
Tỳ-kheo trì giới, thiểu dục, tri túc, bằng mọi cách nghiêm
khắc quở trách và đưa họ đến trước Phật trình bày mọi
sự việc đã xảy ra.
Trước
toàn thể Tỳ-kheo Tăng, tội của các Tỳ-kheo kia được xác
định lại rõ ràng. Ðức Phật quở trách họ là kẻ ngu si
và quy định rõ tội làm theo phép tắc của ngoại đạo nặng
hơn tội làm theo phép tắc của cư sĩ, tức là tội Thâu-lan-giá
và tội Ðột-kiết -la22.
E.
- Lại một con sâu khác
Sự
việc này xảy ra lúc đức Phật đang trú ngụ tại thành Vương-xá23.
Khi ấy, có Tỳ-kheo tên là Tôn-đà-la-Nan-đà ở ấp Bạt-kỳ.
Tu sĩ họ Tôn có mối liên hệ rộng, được nhiều bạn bè,
kẻ quen biết cúng dường nhiều lợi dưỡng. Ấy thế, Tỳ-kheo
này vẫn không thích tu phạm hạnh, làm theo nghi pháp ngoại
đạo, hành xử theo nghi pháp Bạch y, làm việc sát sanh, trộm
cắp, dâm dục, không từ việc ác nào là không làm. Với những
Phật tử có lòng tin Phật pháp cạn cợt thì chê bai rằng:
“Tại sao Sa-môn Thích tử lại làm các điều ác như vậy?!”.
Họ đi nói xấu, hủy báng khắp nơi rằng: “Tu sĩ họ Tôn
cũng thọ 5 thứ dục lạc như cư sĩ. Ông ta không có hạnh
Sa-môn, không có hạnh Bà-la-môn, không thọ pháp Sa-môn, không
thọ pháp Bà-la-môn. Những Tỳ-kheo này, nơi nào họ không
đến thì nơi đó có được điều thiện, điều lợi lạc”.
Tiếng
xấu về Tỳ-kheo này bị đồn đại khắp nơi.
Trước
sự đồn đại này, Tôn-đà-la-Nan-đà trở lại trong chúng,
tác bạch lời này: “Cho tôi xuất gia thọ giới”.
Các
Tỳ-kheo bảo rằng: “Cần phải bạch lên đức Thế tôn”.
Các
Tỳ-kheo bạch lên Phật sự việc này. Trước toàn thể Tăng,
Phật dạy:
- Tôn-đà-la
chẳng phải là Tỳ-kheo, nếu đã thọ giới thì trước chúng
Tăng bạch Tứ Yết-ma đuổi đi, tức là pháp Diệt tẫn.
Những
sự việc trên đây được đúc kết thành giới điều quan
trọng về dâm dục thuộc bộ Ngũ phần luật.
DUYÊN
KHỞI CỦA TỘI ĂN TRỘM
Chuyện
này xảy ra lúc đức Phật đang ở thành Vương-xá. Khi ấy
có Tỳ-kheo tên là Ðạt-ni-ca, xuất thân từ con nhà làm đồ
gốm truyền thống. Ông ta nắm vững bí quyết nhồi đất
sét và nung gốm rất tuyệt. Tỳ-kheo Ðạt-ni-ca làm cái am
bằng vật liệu thô sơ: cây, lá, tranh, tre để tu, tại núi
Ất-la24. Khốn nỗi, mỗi lần đi khất thực về, lại phải
tu sửa am vì bị kẻ hái củi phá am lấy củi đem đi. Không
phải một mà đến ba lần như vậy. Tỳ-kheo Ðạt-ni-ca hết
kiên nhẫn, giận lắm. Cùng thì phải biến, và cái biến ấy
nằm trong ý nghĩ này của Ðạt-ni-ca: “Cái nghề tinh nhồi
đất sét là nghề của ta, tại sao ta không làm cái am bằng
gạch nung để ở, tránh khỏi cái họa phá nhà lấy củi này!”.
Từ
ý nghĩ dẫn đến hành động, Ðạt-ni-ca thực hiện ngay ngôi
nhà mà bản vẽ nằm trong ý nghĩ: Toàn bằng đất sét từ
vách, cột, đòn tay, rui, mè, mái lợp, cửa sổ, cửa cái...
đến hệ thống cửa lớn, cửa nhỏ... đặt để rất khoa
học. Ngôi nhà sơ chế đã khô cứng, ổn định, Ðạt-ni-ca
khéo đặt củi để nung. Màu đỏ tươi càng hiện ra khi lửa
nung lụi tàn. Ngôi nhà càng đẹp đáo để khi bàn tay nghệ
thuật của Ðạt-ni-ca đã trổ hết tài hoàn chỉnh. Cái đẹp
làm ngẩn ngơ thiên hạ. Gió luôn đi qua nhà tạo thành âm
thanh như tiếng tiêu, tiếng sáo vi vu. Phải chăng đây là ngôi
nhà lý tưởng của một Ðạt-ni-ca dẫn đi từ một cái am
tranh bị phá?!
Ðức
Phật ở trên núi Kỳ-xà-quật, nhìn thấy cái am màu đỏ
được vẽ vời đẹp đẽ ở xa kia. Hình như Ngài đã biết
hết diễn tiến của nó song Ngài vẫn gọi A-nan để hỏi:
- Cái
nhà đỏ kia là của ai vậy?
- Thưa
Thế Tôn, Ðạt-ni-ca tự lực làm cái am bằng đất nung ấy.
Ðức
Phật bảo A-nan:
- Ðạt-ni-ca
làm điều phi pháp! Tại sao người xuất gia lại làm ác nghiệp,
tổn thương đến mạng sống sinh vật, làm mất đi lòng từ?
Trước đây, Ta bằng nhiều hình thức khác nhau, nói về pháp
từ mẫn, tại sao Tỳ-kheo lại đánh mất đi lòng từ của
mình?
Sau
đó, bằng sự khéo léo, đức Phật quở trách rồi bảo các
Tỳ-kheo:
- Các
ông đến phá bỏ cái nhà ấy đi.
Thừa
lệnh, các Tỳ-kheo đến am của Ðạt-ni-ca, làm việc triệt
hạ. Từ trong am bước ra, Ðạt-ni-ca hỏi các Tỳ-kheo:
- Tôi
không xúc phạm quý vị, tại sao quý vị rủ nhau đến phá
nhà tôi?
Các
Tỳ-kheo trả lời:
- Chẳng
phải chúng tôi tự ý làm mà chúng tôi làm theo lời dạy của
Phật.
Ðạt-ni-ca
nói:
- Ðức
Pháp vương ra lệnh phá thì tôi đâu dám nói gì!
Các
Tỳ-kheo liền phá bỏ toàn bộ rồi đưa Ðạt-ni-ca đến trước
Phật và trình bày đầy đủ diễn tiến sự việc lên Ngài.
Trước
toàn thể Tăng được triệu tập, sự việc Ðạt-ni-ca được
bên bị, bên cáo xác định lại rõ ràng. Ðức Phật quở
trách Ðạt-ni-ca và qui định rõ trước Tỳ-kheo lời dạy
này:
- Từ
nay, Tỳ-kheo nào làm nhà bằng đất nung, phạm Thâu-lan-giá,
tự mình thi thố công xảo phạm Ðột-kiết-la.
Không
dừng lại ở đây, Ðạt-ni-ca có suy nghĩ: “Trước đây Ta
làm am tranh thì bị tiều phu phá để lấy củi, còn làm bằng
đất nung thì trái với thể thống người xuất gia của đấng
Pháp vương. Nay ta có thể tìm gỗ làm một cái nhà lớn, sao
cho được bền chắc, khỏi phải cái nạn khổ não, rầy rà”.
Ðạt-ni-ca
nghĩ ngay đến người bạn học cũ hiện trông nom cây gỗ
trong thành Vương-xá. Ðạt-ni-ca nhìn thấy cái thuận lợi
cho bản vẽ của mình. Ông ta đến ngay chỗ làm việc của
người bạn với lời đề nghị:
- Tôi
cần gỗ, bạn có thể giúp cho tôi chứ?
Người
bạn kiểm lâm25 trả lời:
- Tôi
chỉ có bổn phận giữ, chứ không có quyền cho.
Ðạt-ni-ca
hỏi:
-
Vậy ai thì có quyền?
-
Nhà vua mới có quyền. - Người bạn đáp.
-
Vua đã cho tôi rồi. - Ðạt-ni-ca nói.
-
Nếu vua đã cho thì tùy ý cứ lấy. - Người bạn kiểm lâm
nói.
Bấy
giờ, đại thần Vũ-xá đi thanh tra các nơi trong thành, bắt
gặp Tỳ-kheo chặt cây chiến lược phòng vệ thành mang đi.
Ðại thần liền đến hỏi người giữ gỗ:
- Tại
sao cho Tỳ-kheo kia đốn những cây gỗ lớn dùng để bảo
vệ thành như vậy?
Người
giữ cây gỗ trả lời:
- Chẳng
phải tôi cho.
- Như
vậy ai cho? - Ðại thần hỏi.
- Vua
cho. - Người kiểm lâm đáp lời.
Thần
Vũ-xá không ngần ngại đến gặp nhà vua, tâu ngay:
- Vì
lý do gì Ðại vương lại cho Tỳ-kheo Ðạt-ni-ca những cây
gỗ lớn để bảo vệ thành?
- Ai
bảo trẫm cho? - Vua gằn hỏi.
- Người
giữ gìn cây gỗ trong thành nói thế. - Thần Vũ-xá thưa.
Nhà
vua liền ra lệnh cho quan hầu cận bắt giữ người kiểm lâm
kia. Trên đường áp giải đến vua, cũng vừa lúc Ðạt-ni-ca
vào thành khất thực. Nhìn thấy người bạn cũ, Ðạt-ni-ca
liền đến hỏi:
- Bạn
phạm tội gì mà bị bắt trói như thế?
Người
bạn kiểm lâm nói:
- Do
Ðại đức mà tôi phải phạm tội như thế này. Xin Ðại
đức cứu tôi thoát khỏi chết.
Ðạt-ni-ca
nói:
- Bạn
đến trước, tôi sẽ đến sau.
Trước
điện vua, sau khi vua hỏi về cái tội cả quyền kia thì người
kiểm lâm tâu:
- Tâu
Ðại vương, con đâu dám lạm quyền cho như vậy. Ðạt-ni-ca
xác định với con là được phép của vua nên con nói: “Vua
cho thì cứ đốn”.
Ðược
lệnh gọi thì Ðạt-ni-ca đã có mặt ngoài cửa. Nhà vua bảo
đưa Ðạt-ni-ca vào.
Vua
hỏi Ðạt-ni-ca:
- Trẫm
cho Tỳ-kheo gỗ vào lúc nào?
Ðạt-ni-ca
nói:
- Nhà
vua đâu không còn nhớ, khi mới lên ngôi vua, nhà vua có nói:
“Tất cả cỏ cây cũng như nước thuộc quốc nội, bố thí
cho Sa-môn, Bà-la-môn” kia mà!
Nhà
vua thở ra nói:
- Trẫm
nói bố thí đối với những vật không có chủ, quái thay
Tỳ-kheo lại lạm dụng điều này để lấy vật của người
không cho. Nhà vua nói: Ta là vị vua Quán Ðảnh26, đâu nên
cầm tù hay giết hại Sa-môn27. Thầy nên sớm về gặp đức
Phật, Ngài là vị Pháp vương, sẽ dùng pháp trị thầy.
Vua
xử lý như thế, khiến mọi người đều kinh ngạc bảo rằng:
- Ðạt-ni-ca
phạm tội đáng chết, tại sao chỉ quở trách rồi cho đi.
Tội như vậy mà được tha thì ai không làm việc ăn trộm!.
Thế
rồi, tiếng cơ hiềm của người đời lại vang lên: “Sa-môn
Thích tử được nhà vua cung cấp lại ăn trộm gỗ của vua,
như thế chúng ta đâu còn có điều gì để mà lo sợ. Sa-môn
Thích tử thường ca ngợi người không ăn trộm, dạy người
bố thí, tại sao chính họ lại làm cái việc của kẻ giặc?
Những kẻ này không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn”.
Tiếng
xấu ngày một đồn khắp. Trong nước, các Trưởng giả, Cư
sĩ, Bà-la-môn.v.v... không có lòng tin yêu Phật pháp, cứ trông
thấy Sa-môn liền tìm mọi cách mắng nhiếc. Sự việc này
đến tai các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo hỏi nhau: “Ai đã trộm
gỗ của vua để bị tiếng xấu như thế?!”. Ðạt-ni-ca liền
công nhận: “Chính tôi làm việc ấy”. Biết rõ như thế,
các Tỳ-kheo quở trách:
- Thầy
làm như thế là phi pháp, không hợp đạo. Ðức Thế Tôn bằng
nhiều hình thức chê trách việc lấy của không cho, khen ngợi
người không lấy trộm. Tại sao nay thầy lại làm việc của
kẻ giặc?.
Quở
trách xong, các Tỳ-kheo đưa Ðạt-ni-ca đến chỗ Phật, trình
bày đầy đủ sự việc đã xảy ra. Ðức Phật nhân đó cho
tập hợp các Tỳ-kheo. Trước toàn thể Tăng, Ðạt-ni-ca thừa
nhận việc làm sai trái của mình. Ðức Phật nghiêm khắc
quở trách như trường hợp Tu-đề-na.
Ngày
ấy, đứng hầu Phật là vị đại thần nước Ma-kiệt-đà28
đã xuất gia hành đạo. Ðức Phật hỏi vị cựu đại thần
này rằng:
- Vua
A-xà-thế 29qui định người ăn trộm bao nhiêu thì xử tội
tử hình?
Tỳ-kheo
cựu đại thần thưa:
- Từ
năm tiền30 trở lên là bị xử tội tử hình. Căn cứ vào
luật lệ nước, đức Phật, trước Tỳ-kheo, răn chế như
vầy:
- Nếu
Tỳ-kheo ăn trộm năm tiền trở lên thì phạm tội cực trọng31
không thể sống chung.
DUYÊN
KHỞI CỦA GIỚI SÁT
A.
Hiểu nhầm lời Phật dạy
Lúc
bấy giờ đức Phật ở trong Tịnh xá nơi thành Tỳ-xá-ly.
Ngài dạy các Tỳ-kheo tu tập pháp quán thân bất tịnh32. Các
Tỳ-kheo tinh tấn tu tập từ thô đến tế và càng đi sâu
vào pháp quán thì càng nhìn thấy cái ghê tởm, gớm ghiếc
của thân, nó giống hệt hình ảnh như vầy: “Một thiếu
niên tuấn tú ăn vận rất mực đẹp đẽ, thơm phức hương
hoa. Bỗng dưng có xác chết trẻ sơ sinh quấn vào cổ cậu
ta. Máu, mũ, dòi...nhầy nhụa, nhun nhút, chảy, bò khắp người
của cậu. Kinh tởm, hãi hùng, khổ sở hết chỗ nói, cậu
ta mong sao sớm thoát khỏi tấm thân khốn nạn này”. Các
Tỳ-kheo với pháp quán ấy muốn thoát bỏ tấm thân gớm ghiếc
của mình như ý nghĩ của thiếu niên kia.
Trong
số những Tỳ-kheo ấy, hoặc có vị tự sát, hoặc lần lượt
từng mạng giết chết nhau, hoặc thắt cổ, hoặc uống thuốc
độc... Có một Tỳ-kheo quá chán ngấy thân, tìm lấy cái
chết như vầy: Thầy đến chỗ người Chiên-đà-la tên là
Di-lân33, cậy nhờ rằng: “Hãy vì tôi, ông đoạn mạng này
đi, y bát đây tôi cho ông”.
Sẵn
máu giết, lại tham y bát, người Chiên- đà-la sẵn dao, lập
tức chặt đứt mạng sống Tỳ-kheo ấy.
Bên
bờ sông Bà-cầu-mạt34, trong khi rửa cái dao đẩm máu kia,
người Chiên-đà-la bỗng lòng đầy hối hận, trong ông khởi
lên ý nghĩ này: “Nay Ta làm điều bất thiện, tại sao chỉ
vì chút lợi nhỏ mà sát hại vị Sa-môn trì giới, tội này
trời không dung, đất không tha cho ta”.
Liền
sau ý nghĩ này, có Thiên ma cõi Tự Tại biết rõ tâm niệm
thiện ấy, nhanh như chớp, từ dưới nước vọt lên, đứng
trên mặt nước, sừng sững trước mặt Di-lân, với lời
khen ngợi rằng:
- Lành
thay! Ông đã được điều lợi lớn vì đã đoạn mạng vị
Sa-môn trì giới kia. Ông độ người chưa được độ, phước
ấy vô lượng. Thiên thần ghi nhận điều đó, nên ta đến
báo tin cho ông biết.
Tâm
thiện biến mất, Di-lân nghe theo lời ma, trở thành tà kiến,
ác độc, lòng lại vui mừng nói: “Nay ta lại độ người
chưa độ”.
Người
Chiên-đà-la ấy, giờ rất tinh tế, biết rõ từng tướng
trạng của các Tỳ-kheo, thân nào đã nhàm chán, thân nào chưa
nhàm chán. Nếu là Tỳ-kheo phàm phu, chưa ly dục, khi đưa dao
đến, thân họ sợ sệt, đó là người chưa nhàm chán, ta
giết người này được phước quá ít. Nay ta nên tìm những
vị đã đắc đạo quả là người không có sợ cái chết
là gì. Với ý nghĩ như thế, tay cầm trường đao, người
Di-lân đi từ phòng này sang phòng kia, từ chỗ kinh hành này
sang chỗ kinh hành khác, rao vang rằng: “Ai muốn diệt độ,
tôi sẽ độ cho”. Nghe thế, các Tỳ-kheo nhàm chán, ê chề
thân xác đều sẵn sàng tìm đến Di-lân để nhờ đoạn mạng.
Có ngày ông ta giết từ 10, 20 cho đến 60 vị. Với lý do như
vậy, Tăng số càng giảm, nhất là các Ðại đức Thanh-văn
đều tuần tự vắng bóng.
Bấy
giờ, đức Thế tôn từ Tam muội đứng lên, đến ngồi bên
chỗ đất trống và ngồi vây quanh Thế tôn là Ðại chúng.
Ðức Phật quan sát Tăng chúng, rồi hỏi Tôn giả A-nan:
- Hôm
này, Tăng chúng sao lại giảm số như vậy?
Tôn
giả A-nan bạch Phật:
- Thưa
Thế tôn, có một dạo, đức Thế tôn nói về lợi ích của
pháp tu quán thân bất tịnh. Qua tu tập, các Tỳ-kheo chán ngán,
ghét bỏ thân khổ đau này nên đã lần lượt tìm lấy cái
chết dưới mọi hình thức khác nhau. Thậm chí chỉ trong một
ngày mà người Di-lân đành đoạn sát hại đến 60 vị phạm
hạnh. Vì vậy, hôm nay Tăng số giảm nhiều như thế. Lành
thay, đức Thế tôn! Cúi xin Ngài chỉ cho con đường thiện
pháp khác, khiến cho các Tỳ-kheo trụ vững trong an lạc
Ðức
Phật bảo Tôn giả A-nan:
- Nay,
ông thông báo cho các Tỳ-kheo y chỉ nơi Tỳ-xá-ly này về
hội họp tại nhà giảng đường.
Ngày
ấy, Tỳ-kheo về hội đầy đủ. Tôn giả A-nan thỉnh Phật
đến giảng đường. Ngài uy nghi ngồi vào pháp tòa. Ngài hỏi
các Tỳ-kheo về sự việc đã xảy ra và được toàn thể
Tăng xác nhận sự thật đau lòng ấy.
Ðức
Phật, với sự nghiêm khắc, Ngài dạy:
- Các
ông là người ngu si, làm việc phi pháp, các ông há không nghe
Ta nói: để hộ niệm chúng sanh thì phải có lòng từ và sự
kiên nhẫn, tại sao các ông không ghi nhớ điều này?
Và
sau khi nghiêm khắc quở trách, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu ai tự sát, phạm tội Thâu-lan-giá”. Ngài lại dạy:
- Từ
nay về sau nên tu An-ban niệm35, quán Lạc tịnh, quán Lạc hỷ.
Quán như vậy là trừ được các điều ác nếu có sanh ra.
Như
vậy, từ nay, Tỳ-kheo tự tay giết hại kẻ khác là phạm
tội cực trọng, bị loại ra khỏi hàng ngũ của Tăng.
B.
Biến chứng
Những
sự việc sau đây cũng được qui kết tội cực trọng như
trên:
Lúc
bấy giờ, có số đông Tỳ-kheo mắc trọng bệnh. Các Tỳ-kheo
đến thăm hỏi:
- Bệnh
tình của Ðại đức có bớt không? Có đau đớn lắm không?
Tỳ-kheo
bệnh nói:
- Bệnh
chắc khó lành, đau đớn không chịu nổi!
Tỳ-kheo
bệnh lại van xin các pháp hữu: “Ðưa cho tôi con dao hay sợi
dây, cho tôi thuốc độc, cho tôi thức ăn nào làm bệnh nặng
thêm, đưa hộ tôi đến mé sông sâu...”
Trước
tình cảnh tuyệt vọng đó, yêu cầu của con bệnh được
các Tỳ-kheo đáp ứng. Tỳ-kheo bệnh đã tự đoạn mạng mình
bằng một trong các phương tiện trên. Chứng kiến cảnh chết
này, các Tỳ-kheo giúp phương tiện lòng đầy hối hận, đem
việc này thố lộ với Tôn giả A-nan để qua trung gian nhờ
Phật chỉ dạy. Ðức Phật đã nghiêm khắc quở trách việc
làm này của Tỳ-kheo và cấm ngặt hành động tự sát này.
Tỳ-kheo phạm, bị loại ra khỏi Tăng.
Lại
một trường hợp khác, cũng Tỳ-kheo mắc bệnh cực nặng,
nhờ các Tỳ-kheo đến thăm giúp cho các phương tiện để
tự kết liễu như trên, nhưng các pháp hữu đến thăm nói:
- Phật
đã cấm làm sao chúng tôi có thể giúp thầy như thầy yêu
cầu. Nhưng chúng tôi có người bạn làm nghề thợ săn, thầy
có cần nhờ họ không?
Tỳ-kheo
bệnh,
nghe thế liền hối thúc:
- Các
thầy hãy mau mau gọi họ đến.
Các
Tỳ-kheo đi ngay, đến nhờ thợ săn, ngõ lời:
- Này
bạn! Có Tỳ-kheo bệnh quá nặng, không muốn sống nữa! Bạn
quen việc đoạn mạng, bạn giúp cho việc này, đoạn mạng
Tỳ-kheo ấy bạn được phước lớn!
Người
thợ săn liền bảo:
- Nếu
sát sanh được phước lớn thì chắc người mổ thịt ở
lò sát sanh kia phước lớn lắm, phải không?
Nghe
thế các thầy tự nhủ: “Mình có lòng từ bi, nay lại bảo
gọi người giết. Mình tự giết, và bảo người khác giết
đâu có khác nhau chỗ nào?!”. Ðã trót như thế, các thầy
cảm thấy hối hận vô cùng. Tỳ-kheo đem việc này thố lộ
với Tôn giả A-nan...
Ðức
Phật đã bổ sung sự nghiêm cấm này và nếu phạm, Tỳ-kheo
bị loại ra khỏi chúng Tăng.
Một
trường hợp nữa, cũng lại có Tỳ-kheo bệnh quá nặng. Các
Tỳ-kheo khác đến thăm, thấy tình cảnh thương tâm như vậy
nhưng chẳng biết làm gì hơn để giúp kết liễu sự sống
kia. Nhưng cái điều thật tình này được nói ra như một
lời đề nghị:
- Giới
hạnh của thầy thật toàn vẹn nên nhận lấy được cái
phước của cõi thiên. Nếu chính thầy tự kết liễu mạng
sống, chắc thầy được sanh lên cõi trời, chuyện gì thầy
phải nhận lấy cái khổ đau triền miên thế này?!
Tỳ-kheo
bệnh nói:
- Sự
việc sẽ là như vậy, song dù có bị khổ đấy nhưng không
thể làm việc tự sát. Vì sao? Vì nếu tự sát thì không những
phạm tội Thâu-lan-giá mà còn không thể rộng tu phạm hạnh.
Vị Tỳ-kheo bệnh này còn xoay lại quở trách các Tỳ-kheo
đến thăm rằng: “Tự tay mình giết người, và dạy bảo
người tự giết, đâu có khác chỗ nào? Ðã là Tỳ-kheo, các
thầy lại làm theo ác nghiệp này ư?!
Sự
việc này đến tai các Trưởng lão. Bằng mọi hình thức,
các vị Trưởng lão nghiêm khắc quở trách các Tỳ-kheo kia.
Sau đó, các Trưởng lão đưa các Tỳ-kheo đến trước đức
Phật, trình bày lên Ngài đầy đủ sự việc đã xảy ra.
Ðức
Phật cho tập hợp các Tỳ-kheo. Trước Tăng, đức Phật hỏi
các Tỳ-kheo kia:
- Các
thầy, thật sự có nói ra như vậy không?
Các
Tỳ-kheo kia thưa:
- Bạch
đức Thế Tôn, có đúng như vậy.
Ðức
Phật nghiêm khắc quở trách:
- Các
thầy rất ngu si. Tự tay giết người, huớng dẫn cho người
tự kết liễu mạng sống, có gì khác đâu? Sao lại không
ý thức được điều này?!
Thế
là Giới điều sát, lại được bổ sung để được rõ hơn.
Lại
một trường hợp khác xảy ra, đó là đem lời ca ngợi, tán
dương để người tự giết chết mạng sống của mình. Chuyện
như vầy:
Các
pháp hữu đến thăm Tỳ-kheo bệnh nặng. Chứng kiến cái khổ
sở, ngặt nghèo của chứng bệnh với nỗi buốt đau, các
Tỳ-kheo đến thăm nói với Tỳ-kheo bệnh lời khuyên như vầy:
- Với
chỗ đứng phạm hạnh của thầy, thầy chết chắc nhận được
quả an vui ở cõi trời. Tại sao thầy không tự kết liễu
mình đi, để sanh thiên, mà lại cam chịu căn bệnh hành hạ
triền miên như thế này?
Tỳ-kheo
bệnh nghe thế, gắng sức nói rằng:
- Dù
cho có được như vậy, tôi cũng không thể tự sát. Tại sao?
Bởi vì đức Phật cấm tự sát, nếu tự sát phạm Thâu-lan-giá.
Vả lại, khi được lành bệnh, tôi còn có cơ hội tu phạm
hạnh.
Cùng
lúc ấy, ở một nước nọ, giặc giã tràn lan. Các gia đình
Cư sĩ bị nạn cốt nhục phân ly, khổ não không sao kể xiết
hết. Trước tình cảnh này, các Tỳ-kheo nói với các Cư sĩ
rằng:
Các
người đã tu phước, chắc chắn sẽ sanh thiên, tại sao không
tự kết liễu cho xong, lại cam sống trong nỗi khổ cốt nhục
chia lìa, đầy sầu não như vầy?!
Các
Cư sĩ nghe thế, có ý bất bình, lên tiếng:
- Chúng
tôi tuy chịu nỗi khổ ưu não, phân ly, đứt ruột, song không
thể tự sát. Tại sao vậy? Vì ở đời có nếm trải khổ
đau mới biết tu đạo nghiệp.
Họ
lại gay gắt quở trách rằng:
- Ðạo
của Sa-môn là đạo vì chúng sanh mà từ bi, nhẫn nhục. Tại
sao lại khen ngợi sự chết, thôi thúc người tự sát? Tự
sát, khen ngợi, hay động viên sự chết có hơn kém gì đâu
mà các thầy lại xúi dục?
Các
Trưởng lão nghe việc này, sau đó, đưa sự việc lên đức
Phật. Ngài nghiêm khắc quở trách, luôn đi đôi với điều
răn cấm.
Giới
điều sát đến đây được hoàn chỉnh như đã ghi ở trong
Luật. Càng phân tích lời lẽ, càng thấy lời răn cấm chứa
đầy lợi ích, nếu người tu đạo biết vận dụng triệt
để.
CHUYỆN
ÐẠI VỌNG NGỮ
A.
Tự dối lòng mình
Trên
đường du hóa, đức Phật dừng lại ở thành Tỳ-xá-ly. Lúc
bấy giờ gặp lúc mất mùa, nạn đói kém xảy ra. Việc khất
thực của Tỳ-kheo khó khăn vô cùng, nếu không muốn nói là
chẳng nhận được gì. Trước thời buổi như vậy, đức
Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Các
thầy tùy theo chỗ quen biết, nên đến đó an cư, đừng tập
trung ở đây để chịu sự đói khát.
Ðược
cho phép như thế, các Tỳ-kheo chia nhau đến những địa điểm
thích hợp. Một số đến nước Ma-kiệt, một số khác về
các xóm làng ven sông Bà-cầu-mạt. Cạnh bờ sông này, các
Tỳ-kheo họp lại, bàn bạc như vầy:
- Nay
gặp lúc khất thực khó được, trong xóm làng này có những
người thành tín, chúng ta nên khen ngợi nhau, như nói: “Vị
kia đắc sơ thiền, tôi cũng đắc sơ thiền. Vị kia đắc
nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, bốn vô lượng xứ, bốn
vô sắc định, tôi cũng đắc chứng như vậy. Vị kia chứng
bốn niệm xứ cho đến tám chánh phần, ba giải thoát môn,
tôi cũng được như vậy. Vị kia được tám giải thoát, chín
cấp bậc định, mười nhất thiết nhập, mười trực đạo,
tôi cũng được như vậy. Vị kia Chứng Kiến tín, Kiến pháp,
bốn quả Sa-môn, Tam minh, Lục thông, tôi cũng chứng được
như vậy”. Chúng ta cứ khen nhau như vậy, Cư sĩ nghe ắt sanh
lòng cảm phục nhiều hơn. Họ sẽ vui mừng nói lên cảm nghĩ
rằng: “Chúng ta được nhiều thiện lợi mới có những vị
đắc Thánh đạo như vậy an cư nơi ấp chúng ta”. Từ đó
họ sẽ mua sắm các thứ ngon bổ cúng dường, Sa-môn chúng
ta không thiếu thốn, chúng ta sẽ sống trong an lạc.
Giải
pháp được hình thành như thế, các Tỳ-kheo đi thẳng vào
thành, chia nhau đến các nhà giàu có, ca tụng nhau những điều
như trên. Các thầy còn nói với họ rằng:
- Quí
vị được nhiều điều lợi lắm, ruộng phước của Thánh
chúng đã đến với xóm làng của quí vị rồi đó.
Các
Cư sĩ nghe thế, lòng rộn rã niềm vui, hân hoan với sự việc
chưa từng gặp này. Họ đồng loạt giảm chi dụng trong gia
đình, bỏ qua việc cúng kỵ, không bố thí cho ai, chỉ dồn
hằng tâm, hằng sản vào việc cúng dường an cư.
Mùa
an cư ở đây qua nhanh. Theo thường pháp của chư Phật thì
trong hai kỳ đại hội vào cuối tháng mùa Xuân và mùa Hạ,
tất cả Tỳ-kheo khắp mọi nơi đều phải về thăm hỏi nhau.
Các Tỳ-kheo nước Ma-kiệt-đà an cư xong, thân thể ốm yếu,
gầy guộc, về trước, họ vào thăm Phật, đảnh lễ sát
chân Phật rồi đứng lui qua một bên. Cũng theo thường pháp,
đức Phật hỏi thăm, an ủy Tỳ-kheo từ nước Ma-kiệt: “Các
thầy an cư có hoà hiệp? Khất thực có dễ được? Trên đường
đi có vất vả lắm không?”
Các
Tỳ-kheo thưa:
- Chúng
con an cư hoà hợp, trên đường đi không mấy vất vả, chỉ
có việc khất thực là khó khăn.
Sau
đó, đức Phật vì họ nói từng vấn đề về diệu pháp,
chỉ bày sự lợi ích của hoan hỷ. Các Tỳ-kheo theo đó có
được chỗ đứng của mình trong an lạc.
Ngược
lại, các Tỳ-kheo an cư bên sông Bà-cầu-mạt thân thể mập
khoẻ, sung túc, đến trước Phật, đầu mặt đảnh lễ sát
chân Phật rồi đứng lui qua một bên. Theo thường pháp, đức
Phật thăm hỏi, an ủy các Tỳ-kheo những vấn đề đã đề
cập. Các Tỳ-kheo bạch:
- Chúng
con an cư hoà hiệp, khất thực rất dễ dàng, trên đường
đi không mấy mệt nhọc.
Ðức
Phật liền hỏi:
- Hiện
nay nơi đâu cũng mất mùa, khất thực khó được, tại sao
các thầy nói khất thực dễ là sao?
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
- Dễ
là vì chúng con ca ngợi nhau về chỗ chứng đắc của mình.
Nhờ ruộng phước đó mà Cư sĩ cúng dường đầy đủ.
Ðức
Phật liền hỏi:
- Những
điều các thầy ca ngợi với nhau là sự thật hay là hư dối?
Các
Tỳ-kheo bạch:
- Thật
có, hư vọng cũng có.
Ðức
Phật quở trách nặng nề sự hư dối này, Ngài nói:
- Các
thầy làm điều phi pháp, không hợp đạo lý. Người xuất
gia không nên làm như vậy. Thà nuốt viên đá nung đỏ, hay
uống nước đồng sôi, còn hơn dùng lời hư dối mà ăn của
tín thí! Các thầy há không nghe Ta chê trách tội vọng ngữ,
và bằng nhiều hình thức khen ngợi cái đức không nói lời
dối trá đó sao?! Tại sao, nay các thầy lại vì lợi dưỡng
mà dối trá nói chứng được pháp hơn người.
Ðức
Phật lại quở trách các Tỳ-kheo:
- Ở
đời có 5 hạng người được liệt vào loại giặc lớn:
Một là hạng người dẫn đầu từ một trăm đến ngàn người
đi phá thành ấp, xóm làng, hại người lấy của. Hai là có
ác Tỳ-kheo dẫn các Tỳ-kheo du hành trong nhân gian nói pháp
tà mạng. Ba là có ác Tỳ-kheo, đối với các pháp do Phật
thuyết lại tự xưng là do họ nói ra. Bốn là có ác Tỳ-kheo
không tu phạm hạnh, lại tự nói ra là tu phạm hạnh. Năm
là có ác Tỳ-kheo vì lợi dưỡng, không có pháp hơn người
lại tự xưng là sở đắc pháp ấy.
Hạng
giặc thứ năm này được liệt vào hạng giặc lớn nhất,
tột cùng nhất của thế gian, của Thiên, Nhơn, Ma, Phạm36,
Sa-môn, Bà-la-môn. Tại sao các thầy chỉ vì một chút lợi
dưỡng mà cam tâm làm kẻ đại tặc này?!
Trước
Tăng, sau khi quở trách rồi, Phật chế giới cấm như đã
ghi trong Tạng Luật.
Sau
đây là các trường hợp xảy ra liên hệ, dẫn đến bổ sung
giới điều trên.
B.
Hiểu nhầm
Lúc
bấy giờ, đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Nơi đây có một
số đông Tỳ-kheo hạn chế việc nghe, học, không hỏi ai,
không có pháp hơn người, nhưng lại tự cho rằng mình biết,
mình thấy, mình chứng. Một thời gian sau, có dịp nghe các
Tỳ-kheo giảng luận về trạng thái đắc đạo, chưa đắc
đạo, các Tỳ-kheo ít hiểu biết kia mới nhận ra cái đắc
đạo sai trái của mình. Lòng các thầy đầy xấu hỗ, lại
có suy nghĩ: “Trước đây, chúng ta chưa đắc đạo mà mạo
nhận là đắc đạo, lẽ ra ta phạm tội Ba-la-di, bị loại
ra khỏi Tăng chúng”. Lòng hối hận này cứ dằn vặt các
thầy.
Lại
có trường hợp rơi đúng trường hợp trên, nhưng về sau
các Tỳ-kheo thiếu học...này lại có cơ hội học rộng kinh
điển. Bởi thế, các thầy cảm thấy hổ thẹn, hối tiếc
cho việc mạo nhận đắc đạo của mình, lại có suy nghĩ:
“Như chỗ hiểu biết của ta đối với Phật pháp hiện nay
thì rõ trước kia ta chưa đắc đạo, mà dưng dưng tự cho
là đắc đạo là Tăng thượng mạn37. Lẽ ra ta phạm tội
nặng (Ba-la-di) bị đuổi ra khỏi Tăng chúng”. Lòng các thầy
này cứ trăn trở với tội lỗi của mình.
Lại
xảy ra một trường hợp tương tự, trùng lặp như trên. Về
sau vị kia tu phạm hạnh, sở đắc được đạo quả. Thầy
ngước nhìn lại, lòng thầy len lén bao điều xấu hổ, và
rồi từ sự xấu hổ ấy, lại cất lên lời tự thú rằng:
“Trước đây ta chưa đắc đạo, lại dưng dưng cho là đắc
đạo, là Tăng thượng mạn”. Lẽ ra ta phạm tội Ba-la-di,
cái tội bị đuổi ra khỏi Tăng chúng. Tội lỗi này trở
thành nỗi ám ảnh trong tâm hồn của vị tu sĩ này.
Các
trường hợp trên, qua trung gian Tôn giả A-nan, sau cùng được
trình lên đức Phật. Trước toàn thể Tăng, từng trường
hợp, đức Phật hỏi các Tỳ-kheo:
- Thật
sự thầy có mạo nhận như vậy không?
Tỳ-kheo
thưa:
- Sự
thật là đúng như vậy.
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Có
năm hạng người làm cho pháp hơn người38 hiện rõ là: 1.Người
ngu si, 2.Người loạn tâm, 3.Người chạy theo xấu ác, 4.Người
Tăng thượng mạn, 5.Người thật có pháp hơn người.
Nếu
ngu si, loạn tâm, chạy theo xấu ác, Tăng thượng mạn và thật
có pháp hơn người, mà nói ta chứng được pháp ấy thì phạm
Ba-lA-di là điều không thể xảy ra.
Ðức
Phật chế giới cấm này, nguyên văn ghi rõ trong Tạng.
TRƯỞNG
LÃO ƯU-ÐÀ-DI BỊ LỬA DỤC THIÊU ÐỐT[1]
Lúc
bấy giờ đức Phật lưu trú tại thành Xá-vệ. Chuyện xảy
ra như vầy:
Trưởng
lão Ưu-đà-di là một trong 6 Tỳ-kheo thuộc nhóm “Lục quần”[2].
Hiện thân như là ngọn lửa dục. Lửa dục như luôn hừng
hực trong người Trưởng lão Ưu-đà-di. Ngọn lửa ấy hành
hạ khiến thân thể Ưu-đà-di tiều tụy, khí lực tiêu hao,
ông phải dùng tay cho ra cái bất tịnh ấy mới làm hạ được
ngọn lửa dục, mới cảm thấy an ổn thoải mái.
Về
sau, Ưu-đà-di thấy một Tỳ-kheo gầy yếu xanh xao. Ưu-đà-di
hỏi:
- Tại
sao thầy mất sức nhiều như vậy?
Tỳ-kheo
kia trả lời:
- Tôi
bị lửa dục thiêu đốt cho nên như thế!
Ưu-đà-di
nói:
- Trước
đây tôi cũng vậy nên phải dùng tay cho ra bất tịnh mới
an ổn nổi. Nếu thầy áp dụng phương pháp thủ dâm như tôi
thì cũng sẽ như vậy.
Tỳ-kheo
kia bèn dạy cho Ưu-đà-di một bài học:
- Thầy
làm điều phi Phật pháp, không phải hạnh thanh tịnh, phá
pháp Sa-môn, không hợp chánh đạo. Ðức Thế tôn bằng nhiều
cách quở trách về dục, nhớ nghĩ về dục, cảm giác dục,
lửa dục và khen ngợi người cắt đứt nhớ nghĩ về dục,
cắt đứt cảm giác dục, dập tắt lửa dục. Ngài nói dục
như xương đỏ, như thuốc độc. Tại sao nay thầy lại dùng
tay cho ra bất tịnh để rồi nhận lấy sự cúng dường của
tín thí, thậm chí thầy còn dạy người làm việc đó?!
Ưu-đà-di
bị khiển trách và bị đưa đến trước Phật, lại bị Phật
quở trách trước Tăng chúng.
Không
dừng ở đây, vì lửa dục của Ưu-đà-di chưa dập tắt nổi.
Ưu-đà-di nhìn thấy kẽ hở của điều cấm: Cấm thủ dâm,
chứ có cấm tìm cảm giác rờ rẫm nơi người nữ đâu?!
Ðược thế, cũng là cách để hạ ngọn lửa dục. Ông ta
dấn thân vào việc này.
Ngày
ấy, Ưu-đà-di sửa sang, quét dọn, trang hoàng phòng ở của
mình, ra vẻ rất văn hóa. Ông rất đắc ý, lấy một cái
ghế nhỏ ngồi dưới tàng cây ngoài cửa phòng, như để đón
khách tham quan.
Phong
cảnh khu tịnh xá, thường cũng là nơi để mọi người đến
để tìm lấy cái phúc lợi tinh thần. Lúc ấy, có các người
nữ đến viếng cảnh, được Ưu-đà-di chào đón và họ ngỏ
lời với Ưu-đà-di muốn đi xem các phòng xá. Họ được Ưu-đà-di
săn đón đưa đi tham quan.
Sau
khi các người nữ vào tham quan phòng Ưu-đà-di, thì cửa ra,
vào đóng lại, cửa sổ mở ra. Ưu-đà-di lẫn lộn trong đám
người nữ này. Bấy giờ lửa dục trong ông càng bốc lên
hừng hực, đốt cháy luôn cả lý trí của ông. Bằng kiểu
cách rờ rẫm, và không người nữ nào ở đây là không bị
ông rờ mó hoặc nắm, hoặc ôm, hoặc bóp, hoặc xoa, hoặc
bồng lên, hoặc để xuống, hoặc cỡi lên, hoặc cõng đi...
mặc cho các người nữ ấy có mắc cở hay không mắc cở.
Ðối với người không mắc cở thì như đồng lõa, thích
thú nói:
- Sao
không làm cái việc chính kia, làm chi những việc phụ như
vậy?
Ưu-đà-di
liền bảo:
- Cái
việc chính ấy bị cấm ngặt, tôi không được phép.
Còn
đối với người mắc cở, không ưa thói xằng bậy như vậy
thì giận dữ ra mặt, dạy cho Ưu-đà-di bài học nặng nề:
- Xưa
nay gọi chỗ này là nơi an ổn, nay ngược lại thành chỗ
đáng ghê sợ, lửa bốc cháy trong nước chưa đủ để so
sánh điều quái gỡ này. Kẻ Cư sĩ ở trong nhà còn xấu hỗ
khi làm việc này, tại sao Tỳ-kheo lại làm điều ác như thế?!
Như
thế, vẫn chưa hả dạ, ra khỏi Tịnh xá họ đi ngay đến
từng người rêu rao, hủy báng. Những người không có lòng
tin, không ưa thích gì Phật pháp, được dịp họ tha hồ xuyên
tạc, mạ lị: “Chúng Ta là Cư sĩ rờ rẫm đàn bà, Sa-môn
Thích tử cũng làm như vậy, thế thì cái đầu này cạo tóc
đi, ta với họ có khác gì nào? Họ không hạnh Sa-môn, họ
phá pháp Sa-môn”. Tiếng xấu đồn xa là vậy.
Lại
cũng bữa ấy, có vợ chồng Bà-la-môn đến vãng cảnh, lần
lượt họ đến phòng Ưu-đà-di, nói:
- Vợ
chồng chúng tôi muốn vào xem phòng xá.
Ưu-đà-di
bảo:
- Không
được cùng một lúc hai người vào, có thể vợ trước, chồng
sau.
Người
chồng để người vợ vào phòng trước. Ưu-đà-di cũng lại
giở trò rờ rẫm như trước. Kéo dài lâu lắm, người phụ
nữ mới ra khỏi phòng. Người chồng liền hỏi vợ:
- Chứ
làm chuyện gì mà lâu thế? Không muốn đi xem các phòng khác
hay sao?!
Bà
vợ nói:
- Thôi!
Thôi! đừng nói đến nữa! Chỉ vào một phòng mà gần muốn
chết mới ra được đây. Xem các phòng khác lại phải chịu
nổi cái cảnh như thế sao?!
Người
chồng hỏi lý do. Người vợ nói rõ sự thật. Ngay khi ấy,
người Bà-la-môn mạ nhục rằng:
- Các
ác nghiệp này, tại sao Sa-môn Thích tử phải làm như thế?!
Sau
đó ông ta vào thành Xá-vệ, nơi ngã tư đường, nơi chợ
búa xóm làng, tận hang cùng ngõ hẽm, ông là cái loa hết cỡ
rằng: “Sa-môn Thích tử rờ rẫm vợ tôi”.
Chính
đây cũng là dịp để cho những người không tin yêu Phật
pháp tha hồ mạ lỵ, mắng nhiếc: “Sa-môn Thích tử làm hạnh
xấu xa như thế, tại sao lại tự xưng là phạm hạnh, là
tịnh là tu?”.
Ưu-đà-di
đã nhận bao nhiêu quở trách của chúng Tăng và của Phật,
Ngài đã kiết giới bổ sung.
Như
vậy, cố ý cho ra bất tịnh, rờ rẫm thân người nữ là
điều đức Phật cấm nhưng Trưởng lão Ưu-đà-di biết lợi
dụng ngay điều chưa cấm. Ðiều ấy như vầy:
Cũng
tại căn phòng của mình, được phép người nữ vào tham quan
như đã nói ở trên, vào phòng rồi đóng cửa ra vào. Ông
ta lân la làm quen rồi sổ sàng hỏi người nữ: “Tay, chân
của cô, bắp chân, cổ tay của cô, eo, lưng, bụng, vú, đầu,
mặt, móng tay, tóc, đường tiểu tiện của cô em giống như
cái gì?”
Lại
nói: “Này cô em, tay chân cho đến đường đại, tiểu tiện
của cô em, chỗ nào cũng xấu xí, mà lại cũng đẹp lắm
phải không?”
Lại
hỏi: “Khi chồng cô gần gũi cô, âu yếm cô ra sao? Nếu chiều
theo ý muốn của tôi thì tôi sẽ cho cô trân bảo, cô em cần
gì cho tôi biết. Tất cả thiên thần đều chứng giám cho
lòng tôi.
Các
người nữ tham quan hôm ấy, nghe thế, người thì cười, kẻ
thì bực dọc khinh bỉ, có những phản ứng như đã xảy ra
ở hai lần trước.
Không
quanh co, trước các Trưởng lão rồi trước Ðức Phật, Ưu-đà-di
thành thật nhận lấy lời nói thô tục, bất thiện của mình.
Ðức Phật nhân đó chế cấm bổ sung điều giới.
Tuy
nhiên, một Ưu-đà-di luôn luôn bị lửa dục thiêu đốt, nhưng
cũng là một con người lanh lợi, hoạt bát, luôn biết lợi
dụng vấn đề. Ưu-đà-di suy nghĩ vấn đề như vầy: “Cố
ý... rờ rẫm, nói lời tục tỉu, đức Phật cấm. Còn liệu
hướng đến người nữ tự khen ngợi, hiến dâng thân xác,
tìm cái vui khát dục như thế, chắc là không phạm đâu?!”
Ngày
nọ, cũng ở trong phòng của Ưu-đà-di có người nữ tham quan.
Ưu-đà-di không ngần ngại nói với người nữ lời này:
- Này
cô em! Trong việc cúng dường, cô em cúng dường cho Sa-môn,
Bà-la-môn đến cả các vị thiền định, chứng bốn đạo
quả không bằng đem sự dâm dục hiến cúng cho người trì
giới.
Các
người nữ nghe thế, có người cười, có kẻ nhăn mặt, khinh
bỉ... Họ cũng đã hết lời hủy báng như trước đây.
Tại
Kỳ-hoàn[3], Xá-vệ, trước toàn thể Tăng, Ưu-đà-di nhận
tội. Ðức Phật quở trách nặng nề và Ngài kiết giới chế
cấm hành động này.
LÀM
MAI
Lúc
bấy giờ, đức Phật lưu trú tại thành Xá-vệ. Ca-lưu thuộc
nhóm Lục quần Tỳ-kheo. Trước khi xuất gia ông là Trưởng
giả của thành này. Bẩm chất Ca-lưu rất thông minh, có khả
năng giải quyết mọi rắc rối cho thiên hạ. Người trong
thành, hễ ai có việc gia đạo, kể cả việc hôn nhân là
đều tìm đến Ca-lưu để hỏi ý kiến hay nhờ vả giải
quyết việc này, việc nọ. Nếu việc có kết quả tốt thì
thân chủ nói: “Nhờ Ca-lưu nên họ mới được thế này,
nên làm thế nào để Ca-lưu cũng vui với chúng ta”. Còn nếu
kết quả xấu thì họ nói: “Do Ca-lưu nên ta mới ra nông
nỗi này, làm sao phải cho Ca-lưu chịu chung nỗi khổ như ta”.
Như vậy, tiếng khen, tiếng chê, điều tốt, việc xấu...
đồn vang khắp cả nước. Ðược một thời gian, sau đó với
lòng tin Phật pháp, ông xuất gia học đạo. Bấy giờ, thân
chủ của Ca-lưu càng lúc càng đông, đông hơn lúc xưa nhiều,
thậm chí Vua Ba-tư-nặc cũng đích thân đến Ca-lưu hỏi việc
nước. Cho nên, điều vui mừng, sự phẫn nộ đến với Ca-lưu
cũng được nhân lên gấp bội.
Thế
rồi, có một quả phụ rất tự hào về người con gái của
mình là hoa khôi thiên hạ. Rất nhiều người đến cầu hôn,
song bà đều không nhận lời. Bà ta nói:
- Nếu
người nào muốn cưới con gái bà thì phải ở rể luôn, bà
mới gả.
Khi
ấy, có người Bà-la-môn giàu có, tiền của không sao kể
xiết, đến nói với bà quả phụ rằng:
- Cho
con trai tôi cưới con gái bà thì sự sống chúng nó ắt có
nhiều hạnh phúc.
Bà
quả phụ vẫn một mực từ chối như trước đây.
Bị
từ chối, người Bà-la-môn bèn dò la trong quần chúng và biết
được trong số người thường lui tới nhà bà ta thì Ca-lưu
là người số một.
Người
Bà-la-môn liền mời Ca-lưu đến nhà để cúng dường và sự
cúng dường này là thường xuyên. Khi đã trở thành chỗ thân
thiết, hiểu nhau, người Bà-la-môn đem sự việc trình bày:
- Thưa
Ðại đức, tôi muốn cưới con gái của bà quả phụ ấy
cho con trai tôi, nhờ Ðại đức nói giúp lời để bà ta chấp
nhận việc cầu hôn này.
Ngày
ấy, Ca-lưu y bát trang nghiêm đến nhà bà quả phụ. Bà quả
phụ liền ra đón tiếp, bái chào.
Ca-lưu,
sau đó đi ngay vào việc, nói:
- Ông
Bà-la-môn ấy cầu hôn, bà có thể gả con gái cho con trai ông
ấy. Gia đình ông ta rất giàu có, chắc chắn con gái bà có
nhiều hạnh phúc.
Bà
quả phụ nhất quyết không nghe. Ca-lưu lại nói:
- Nếu
bà không gả, con gái bà khi bị lỡ thì, nó sẽ không nghe
theo lời bà nữa đâu. Tại sao lại để mất đứa con gái
lại mất luôn cả người rể tốt!
Khi
nghe lời thuyết phục hữu lý này, bà ta nghe theo Ca-lưu, chấp
thuận việc gả cưới.
Cuộc
hôn nhân giữa con cái hai nhà: Bà-la-môn và bà quả phụ, sau
đó thành tựu tốt đẹp. Nhưng sự thật hạnh phúc không
xảy ra. Sau khi về nhà chồng, người con gái hoa khôi ấy không
chịu nổi sự cực khổ, cô ta viết một lá thư gửi về
mẹ, nhờ mẹ can thiệp, nói với phía nhà chồng cầu xin chút
thông thả. Người mẹ nghĩ đến ông mai Ca-lưu, nhờ ông đánh
lời hộ cho việc này.
Ngày
hôm sau, Ca-lưu đến nhà người quả phụ. Sau khi nghe bao điều
cực khổ về cảnh làm dâu của người con gái kia, từ cửa
miệng người mẹ, Ca-lưu còn nghe bà ta quy kết:
- Do
Ðại đức mà có cuộc hôn nhân này, Ðại đức vì tôi đến
can thiệp nói giúp lời để con tôi bớt khổ.
Ca-lưu
trả lời:
- Con
của bà vô phúc nên mới gặp cảnh khổ này, nếu nó có phúc
thì cơ sự đâu đến nỗi như vậy. Pháp Sa-môn, không cho
phép tôi can dự việc thế sự, xin bà cảm phiền!
Bà
quả phụ liền mắng:
- Trước
kia việc gì của người ta cũng xen vào, nay lại nói không
biết, người ác như thế này thì cuối cùng cũng chẳng ra
chi!
Bà
ta đủ cách tru tréo, ngôn từ hết sức cay nghiệt mắng nhiếc
Ca-lưu. Những người hàng xóm nghe đều đến khuyên can, họ
bảo rằng:
- Con
bà bạc phước nên phải chịu lắm cái khổ như vậy, chứ
can chi đến Sa-môn này mà mắng nhiếc ông ta thậm tệ như
vậy?
Bấy
giờ, những người thiếu lòng tin đối với Phật pháp thì
buông lời mỉa mai rằng:
- Bà
tin Sa-môn nên con bà chịu khổ, đáng đời! Nếu ai còn tin
lời họ thì cứ nhìn cái gương đó mà tin!
Có
người lại cay độc mắng:
- Chúng
Ta là cư sĩ, sự thường làm mai mối, Sa-môn Thích tử lại
cũng như vậy, thử hỏi, họ với ta có khác gì đâu, có khác
chăng là cái đầu trọc với chiếc áo hoại màu chẳng giống
ai mà thôi!
Tiếng
xấu ấy đồn vang khắp gần xa, các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe
được, bèn hết lời quở trách Ca-lưu, rồi trình sự việc
lên đức Phật. Trước Tăng, đức Phật cho xác định lại
vấn đề. Ca-lưu thành khẩn nhận tội. Sau khi Phật quở trách
Ca-lưu là kẻ ngu si, Ngài kiết giới cấm Tỳ-kheo làm mai dong.
MAI
MỐI
Bấy
giờ các tay hào phú trong thành Xá-vệ muốn mua vui trò dục
lạc, họ nhờ những mụ lớn tuổi làm con “Chim xanh”. Các
mụ này xỏ lá, chơi khâm, đem việc này nhờ Lục quần Tỳ-kheo.
Các mụ nói với các Tỳ-kheo này rằng: “Quý thầy có thể
làm giúp cho chúng tôi việc ấy, cần chi tôi lo liệu đầy
đủ cho quý thầy. Một ngày, một đêm hay chỉ một lần giao
hợp giá là bao nhiêu? Các tay hào phú đâu kể số gì tiền.
Quý thầy giúp được là trúng mánh đó!”
Con
chim xanh đậu đúng ngay trên cửa miệng Tỳ-kheo Lục quần.
Thầy ta đến với những người nữ, bắn tiếng mối lái
việc tư thông kia với những lời đề nghị béo bỡ, mà không
chút ngượng ngùng, e ngại.
Chẳng
những không được gì mà còn mang tiếng dữ dội về hành
động không đạo lý này. Thiên hạ đồn đãi rằng: “Sa-môn
Thích tử tịnh tu phạm hạnh, tại sao, nay lại đi làm cái
ác nghiệp này. Chỗ nhục nhã là cấu kết, hợp tác với
bọn tà dâm mà không phải cư sĩ. Các Sa- môn này chẳng còn
chút xấu hổ nào cả, thật đồi bại làm sao!
Việc
này đến tai các Trưởng lão. Các Trưởng lão nghiêm khắc
quở trách Lục Quần, rồi trình sự việc lên đức Phật.
Trước
toàn thể Tăng, Lục Quần thú nhận tội lỗi của mình. Ðức
Phật cấm làm việc tư thông, bổ sung cho điều giới làm
mai mối.
ÐỪNG
VẮT KHÔ SỮA
Lúc
bấy giờ, đức Phật lưu trú tại thành Xá-vệ. Ở vùng cận
thành có ấp A-trà-bệ[4]. Tạm trú ở ấp này, các Tỳ-kheo
tự động đi xin các nguyên vật liệu để