Chương
76
HOA
TRÁI CỦA NGÀY HÔM NAY
Mùa
an cư chấm dứt, các vị khất sĩ và nữ khất sĩ còn chưa
kịp lên đường hành hóa thì nghe chiến tranh bùng nổ giữa
hai vương quốc Kosala và Magadha. Đại binh của nước Magadha
đã vượt sông Hằng đi vào xứ Kasi, thuộc lãnh thổ Kosala.
Quốc vương Ajatasattu Videhyputta tự tay thống lãnh binh tướng
qua chinh phạt nước Kosala. Tướng lãnh thống suốt cả voi,
ngựa, xe và pháo, đang hướng về phía thành Baranasi, thủ
phủ xứ Kasi. Bên phía vương quốc Kosala sau khi được thám
tử thông báo, cũng đã chuẩn bị quân đội gồm đủ voi,
ngựa, xe và pháp nhắm xứ Kasi tiến tới. Việc binh quá cấp
thúc, vua không kịp đến thông báo và từ giã Bụt, vua nhờ
thái tử Jeta tới trình mọi sự với Bụt thay vua.
Bụt
đã từng được thông báo rằng sau khi nghe tin Ajatasattu mưu
sát cha để lên ngôi, quốc vương Pasenadi đã tỏ ý phản
kháng bằng cách lấy lại lãnh thổ của thục ấp vùng Baranasi
mà ngày xưa thượng hoàng đã tặng cho vua Bimbisara như vật
hồi môn của công chúa Kosaladevi, khi công chúa về nhà chồng.
Thục ấp này từ gần bảy mươi năm nay đã đem lại cho vương
quốc Magadha mỗi năm một số tiền thuế trị giá một trăm
ngàn đồng vàng. Vua Ajatasattu không chịu đựng được hành
động phản kháng này cho nên đã cất binh sang đáng.
Đại
đức Sariputta thông báo cho các vị nam nữ khất sĩ ở đâu
thì nên hành đạo ngay tại đó, đừng di chuyển nhiều trong
thơì buổi chiến tranh. Đại đức cũng xin Bụt ở lại Savatthi
cho đến khi tình hình yên tĩnh.
Hai
tháng sau dân chúng kinh hoàng nghe tin binh tướng Kosala đã thất
trận tại Kasi. Vua Pasenadi và các tướng phải rút tàn binh
chạy về kinh đô. Tình hình rất khẩn trương. May thay, hệ
thống phòng thủ tại Savatthi rất là kiên cố. Binh tướng
của vua Ajatasattu đã đuổi theo và công kích ngày đêm mà
cũng không hạ được nổi thành. Sau đó, nhờ kế hoạch của
tướng Bandhula, vua Pasenadi phối hợp được quân trong thành
và quân từ các địa phương kéo tới để mở một cuộc
tổng phản công. Lần này vua thắng lớn, vua Ajatasattu cùng
các vị tướng soái dưới quyền đều bị bắt sống. Quân
Kosala bắt được trên một vạn tù binh. Số binh lính còn
lại, hoặc chết hoặc bỏ chạy tán loạn, có đến trên một
vạn. Ngoài ra, quân đội Kosala lại chiếm được rất nhiều
voi, ngựa, xe và pháp của bên địch.
Chiến
tranh đã kéo dài hơn sáu tháng, dân chúng Savatthi được lệnh
tổ chức và ăn mừng thắng trận. Sau khi thu xếp công việc
triều đình và binh đội, vua Pasenadi đến thăm Bụt tại tu
viện Trúc Lâm.
Vua
kể cho Bụt nghe những gian nan của cuộc chiến. Vua nói rằng
quốc vương Ajatasattu đã tỏ ý gây hấn; vua chỉ chiến đấu
tự vệ thôi chứ không hề chịu trách nhiệm về việc châm
lửa chiến tranh. Vua trình với Bụt là có lẽ quốc vương
Ajatasattu đã nghe lời những vị mưu thần nhiều quá.
- Bạch
Thế Tôn, quốc vương Magadha dù sao cũng là cháu của trẩm,
trẫm không nỡ giết, cũng không nỡ bỏ nó vào chốn lao tù,
xin Bụt chỉ dạy cho trẫm.
Bụt
nói:
- Đại
vương, xung quanh đại vương có biết bao nhiêu người thần
tử và bạn hữu trung thành. Đại vương thắng trận này không
có gì là lạ, nhưng xung quanh quốc vương Ajatasattu có nhiều
phần tử xấu, và vì vậy vua ấy đã đi lầm đường lạc
nẻo. Như lai xin đề nghị là đại vương nên lấy lẽ để
tiếp đãi quốc vương Magadha cho đúng cung cách của một ông
vua đối xử với một ông vua, nhưng đại vương cũng phải
có thì giờ để dạy quốc vương Magadha như dạy một người
cháu ruột. Đại vương hãy nhấn mạnh đến sự cần thiết
của những người bạn hữu tốt và những kẻ thần tử trung
kiên, và cuối cùng đại vương có thể đặt tiệc và đưa
vua xứ Magadha về nước, nền an binh của trăm họ tùy thuộc
nơi sự khéo léo của đại vương.
Rồi
Bụt cho gọi một vị khất sĩ trẻ tên là Silavat lên và giới
thiệu vị này với vua Pasenadi. Khất sĩ Silavat vốn là một
vị thái tử, con vua Bimbisara, em cùng cha nhưng khác mẹ với
vua Ajatasattu. Silavat là một người con trai khá thông tuệ;
từ mười sáu tuổi, chàng dã được theo học với đại đức
Moggallana và đã là một người đệ tử tại gia xuất sắc
của đại đức. Sau cuộc chính biến xảy ra tại thủ đô
Rajagaha, chàng đã xin đại đức cho chàng xuất gia. Sau lễ
xuất gia, khất sĩ Silavat đã được gởi về tu viện Jetavana
ở thủ đô Savatthi để tu học. Đại đức Moggallana nghĩ
rằng dù Silavat không có ý tranh dành quyền hành với vua Ajatasattu,
nhưng gởi vị khất sĩ này qua tu học ở nước Kosala vẫn
là có an ninh hơn.
Vua
Pasenadi hỏi thăm đại đức Silavat về tình trạng hoàng gia
bên Rajagaha và thầy đã cung kính nói hết cho vua nghe tất
cả những gì thầy tai nghe mắt thấy.
Đại
đức cho vua biết là năm ngoái đã có một người từ thủ
đô xứ Magadha tới với sứ mạng ám sát đại đức, nhưng
đại đức đã cải hóa được người ấy và độ cho người
ấy được xuất gia. Hiện vị khất sĩ kia đang được tu
học ở một trung tâm không xa thành phố.
Quốc
vương Pasenadi cung kính lạy tạ Bụt và trở về cung điện.
Vua
Ajatasattu sau đó được trả tự do và đưa về nước. Lấy
tình thương để xóa bỏ hận thù, vua Pasenadi lại đem công
chúa Vajira mà gã cho vua Ajatasattu nữa. Quốc vương Ajatasattu
đã là cháu nay lại trở nên con rể của vua. Vua còn hứa
sẽ trả lại thục ấp ở Baranasi mà ngày xưa thượng hoàng
Maha Kosala đã tặng cho xứ Magadha. Quốc vướng sứ Kosala đã
nghe lời Bụt một cách đúng mức.
Chiến
tranh đã kết thúc, các vị khất sĩ và nữ khất sĩ lại
được phép lên đường hoằng hóa.
Vua
Pasenadi truyền xây dựng một tu viện mới cho giáo đoàn khất
sĩ tại ven thủ đô. Tu viện này lấy tên là Rajakarama.
Bụt
ở lại vương quốc Kosala liên tiếp trong hai năm, an cư mùa
mưa tại tu viện Jetava và đi giáo hoá ở nội địa trong những
thời gian còn lại. Thỉnh thoảng có tin tức từ vương quốc
Magadha do các vị khất sĩ du hành đem về cho Bụt. Các vị
ấy kể sau khi Bụt rời vương quốc, đại đức Devadatta không
còn được vua Ajatasattu kính nể nữa. Trong số hơn một trăm
vị khất sĩ còn ở lại với đại đức, tám mươi vị đã
bỏ đại đức để trở về với giáo đoàn của Bụt và
đều được đón nhận trở lại tại tu viện Trúc Lâm. Đại
đức càng ngày càng bị cô lập. Gần đây đại đức bị
ốm nằm liệt trên núi Gayasisa, không đi đâu được cả.
Từ ngày chấm dứt chiến tranh giữa hai nước Kosala và Magadha,
vua Ajatasattu cũng không còn gặp gỡ đại đức Devadatta. Vua
cũng không có liên lạc nào giáo đoàn khất sĩ của Bụt.
Vua chỉ thân cận với các vị lãnh đạo của những giáo
phái khác. Tuy vậy giáo đoàn khất sĩ vẫn được tiếp tục
hành đạo một cách yên ổn. Dân chúng cũng như các vị khất
sĩ rất mong ước được Bụt trở về. Núi Linh Thứu và tu
viện Trúc Lâm vẫn còn chờ đợi Bụt. Y sĩ Jivaka cũng rất
tha thiết mong Bụt trở về.
Mùa
lạnh năm ấy hoàng hậu Mallika băng. Vua Pasenadi buồn quá,
tìm tới Bụt để được an ủi. Hoàng hậu là một người
bạn đời rất xứng đáng của vua và đã được vua thương
yêu hết lòng. Hoàng hậu là một người theo Bụt thuần kính,
thông minh, sáng suốt, thông hiểu giáo pháp một cách sâu xa.
Ngay trước khi vua được gặp Bụt và tin Bụt, bà đã khuyên
vua hành động cho phù hợp chánh pháp. Có lần vì nằm mộng
thấy những điều quái gỡ, vua Pasenadi nghĩ rằng sẽ có những
việc rủi ro xảy đến cho mình. Tin vào các vị Bà la môn
và đạo sĩ ngoại đạo, vua đã cho chuẩn bị tổ chức tế
đàn, sát hại trâu bò để cầu thân linh phù hộ. Chính hoàng
hậu đã can gián vua, thuyết phục vua hủy bỏ dự án thiết
lập tế đàn. Hoàng hậu còn tham dự và bàn bạc về cả
chính sự và soi sáng cho vua rất nhiều trong lúc vua đi tìm
những quyết định có liên hệ tới vận mạng của đất
nước. Hoàng hậu là một trong những nữ đệ tử tại gia
xuất sắc của Bụt. Bà rất ham học hỏi về giáo lý. Bà
có thành lập một công viên với một hàng rào cây tinduka
bao quanh, có hội trường để tham cứu về giáo pháp. Bà đã
có mời Bụt và các cao đức tới hội trường này để thuyết
pháp và hướng dẫn những cuộc thảo luận. Công viên này
cũng mở cửa cho những vị lãnh đạo các giáo phái khác.
Đau
khổ vì bị mất người bạn đời đã bốn mươi mấy năm
sống chung, vua tìm đến Bụt. Ngồi yên lặng thật lâu bên
Bụt, vua cảm thấy tâm hồn an tịnh trở lại. Vua nghe lời
Bụt để thêm thì giờ vào việc tu tập thiền quán. Bụt
nhắc lại lời vua nói trước đây là khi tuổi về già, mình
phải tinh cần sống đúng theo chánh pháp và tạo hạnh phúc
cho mọi người. Bụt khuyên vua tìm cách cải thiện guồng
máy tư pháp và kinh tế. Người nói những hành phạt như đánh
đập, tra tấn, giam cầm và tử hình không phải là biện pháp
có hiệu lực nhất để ngăn chận trộm cướp. Gặp thời
đói kém và loạn lạc, những vụ trộm cướp và bạo động
tự nhiên tăng lên bội phần, vì vậy chánh sách an dân và
giúp dân xây dựng lại kinh tế là chánh sách căn bản. Những
biện pháp cần làm là cấp thực phẩm, lúa giống và phân
bón cho nông dân nghèo để họ có thể sinh sống và sản xuất,
cấp vốn cho nhà buôn, tăng lương bỗng cho công tư chức,
miễn thuế cho dân nghèo, phế bỏ phương pháp đe dọa, bắt
buộc và đàn áp người lao công, cho họ chọn làm những nghề
mà họ thật sự ưa thích, tạo cơ hội và phương tiện cho
họ được hành những nghề ấy. Bụt nói chánh sách kinh tế
phải là một chánh sách tự nguyện. Những lời dạy về chính
trị này, nhờ ngồi bên Bụt, hôm ấy đại đức Ananda đã
được nghe. Đại đức đã trùng tuyên lại những ý này trong
kinh Kutadanta.
Một
buổi chiều tại tu viện lộc Mẫu, đại đức Ananda thấy
Bụt xoay lưng về phía mặt trời, đại đức không hiểu tại
sao, bởi vì Thế Tôn thường ưa nhìn cảnh mặt trời khuất
bóng, đại đức tới gần và hỏi Bụt. Bụt nói Bụt đứng
như thế để cho ánh sáng mặt trời sưởi ấm lưng người.
Đại đức lấy tay xoa lưng Bụt một hồi lâu cho ấm, rồi
đại đức mời Bụt ngồi xuống ghế tre và xoa bóp hai chân
cho Bụt.
Vừa
xoa bóp, đại đức vừa nói:
- Thế
Tôn, con đã được làm thị giả cho Thế Tôn mươì lăm năm
nay, con nhớ những năm trước, nước da của người còn vàng
ánh và óng mướt, nay da Thế Tôn đã nhăn và những bắp thịt
nơi chân Thế Tôn đã teo lại rất nhiều, những lóng xương
lộ ra rất rõ.
Bụt
cười:
- Sống
lâu thì già, có sao đâu Ananda! Mắt và tai của Như lai cũng
không còn được tinh nhuệ như trước. Ananda! Thầy có nhớ
núi Thứu và những khóm tre ở tu viện Trúc Lâm không? Thầy
có muốn về leo lên núi Thứu để nhìn cảnh mặt trời khuất
bóng không?
- Lạy
Bụt, nếu Bụt muốn về Linh Thứu, con xin đi theo hầu người.
Mùa
nóng năm ấy Bụt lên đường trở về thủ đô nước Magadha.
Người đi thong thả: lộ trình được chia ra nhiều chặng.
Người ghé thăm những trung tâm tu học, dạy dỗ giới xuất
gia, thuyết pháp và nhắc nhở giới tại gia. Người đi qua
nội địa các vương quốc Sakya, Malla, Videha, Vajji, và cuối
cùng vượt sông Hằng qua nước Magadha. Trước khi về thủ
đô, người ghé thăm trung tâm tu học tại Nalanda.
Tu
viện Trúc Lâm và núi Linh Thứu vui như ngày hội khi Bụt về
tới. Dân chúng thủ đô và các miền lân cận đổ xô về
thăm Bụt rất đông. Cả một tháng sau khi Bụt về tới, y
sĩ Jivaka mới có dịp mời được Bụt về vườn Xoài của
ông. Tại vườn Xoài xanh mát này, y sĩ đã dựng được một
giảng đường lớn đủ chỗ cho Bụt nói chuyện vớí khoảng
một ngàn vị khất sĩ.
Ngồi
trước tịnh thất của người tại vườn Xoài, Bụt nghe Jivaka
kể lại những chuyện đã xảy ra trong triều đình và vương
quốc. Ông nói hiện thái hậu Videhi đã tìm lại được nếp
sống an tĩnh. Bà ăn chay, tập thiền, quán niệm về Tam Bảo
một cách thường xuyên Vua Ajatasattu đang bị khủng hoảng
tâm lý trầm trọng, bị ám ảnh bởi cái chết của thượng
hoàng, bị lương tâm cắn rứt ngày đêm, vua sinh ra mất ngủ.
Thần kinh của vua suy nhược; vua hay mất bình tĩnh và thường
nằm mơ thấy những ác mộng, tỉnh dậy mồ hôi tháo chạy
dầm dìa. Y sĩ đã đến chữa trị cho vua gần nửa năm nay,
nhưng tâm bệnh của vua vẫn còn là nguồn gốc của nhiều
biến chứng khác.
Vua
đã vời những vị đạo sĩ thuộc các giáo phái tới để
tham vấn và chữa trị tâm bệnh cho vua, nhưng không có vị
nào đã giúp được gì. Những vị này thuộc về các giáo
phái Makkali Gosala, Ajita Kosakambali, Pakudha Kaccayana, Nigantha Nataputta
và cả Sanjaya Belatthiputa nữa. Vị nào cũng muốn làm vừa
lòng vua để giáo phái mình được thừa hưởng ân huệ nhưng
không vị nào thành công.
Có
một hôm, vua vời thái hậu vào ăn cơm chung với hoàng hậu
và thái tử Udayibhadda. Thái tử Udayibhadda chưa đầy ba tuổi,
nhưng tính tình đã khó khăn và không điềm đạm chút nào.
Vua thương yêu thái tử rất mực, thái tử đòi gì được
nấy. Hôm đó thái tử đòi đem con chó vào bàn ăn chung, Đây
là một điều cấm kỵ, nhưng vì chiều con, vua đã cho phép
thái tử đem chó vào. Trong bữa ăn, hơi ngượng với thái
hậu, vua nói:
- Đem
chó vào bàn ăn thật không dễ chịu tí nào.
Thái
hậu nói:
- Con
thương con của con, cho nên con để nó đem chó vào ngồi chung,
điều này có gì là lạ. Con nhớ ngày xưa cha con vì thương
con mà mà hút máu mủ trong tay của con không?
- Con
không nhớ, xin thái hậu kể lại cho con nghe.
- Một
hôm, ngón tay trỏ của con bị đau và sưng vù lên. Một cái
nhọt đã mọc ngay dưới móng tay, làm nhức nhối khiến con
khóc suốt ngày đêm. Không có đêm nào con ngủ được, cha
và mẹ của con cũng không tài nào nhắm mắt. Cha con ẵm con
để lên đầu gối, ngậm ngón tay đau của con trong miệng
để chuyền hơi ấm qua, một mặt để con đỡ đau, một mặt
để cái nhọt nhờ sức ấm mà cương mủ sớm. Như thế trong
suốt bốn ngày đêm, khi cái nhọt đã cương mủ, và mủ đã
chín, cha con mới bắt đầu mút cho mủ thoát ra khỏi ngón
tay. Nhờ vậy mà con lành bệnh, cha con mút hết mủ và máu
độc rồi, nhưng không dám rút tay con ra sợ con bị rát. Cha
con cứ giữ mủ và máu trong miệng như thế cho đến khi không
chịu nổi thì cha con nuốt máu và mủ cho con đỡ rát. Mẹ
nói như vậy để con biết ngày xưa cha con thương con như thế
nào. Bây giờ con thương của con, cho nó đem chó vào bàn ăn,
điều đó mẹ hiểu, mẹ có trách gì con đâu.
Nghe
thái hậu kể, vua ôm đầu chạy vào cung, bỏ cả bữa ăn.
Từ đó tâm bệnh càng ngày càng nặng.
Jivata
tới chữa trị cho vua, nghe vua kể đủ mọi thứ chuyện, kể
cả chuyện tham vấn với các vị Bà la môn và đạo sĩ, nhưng
Jivaka vẫn không nói gì. Vua hỏi:
- Jivaka,
tại sao anh không nói gì hết?
Jivaka
tâu:
- Tôi
chỉ muốn nói với bệ hạ một điều mà thôi, tôi nghĩ chỉ
có sa môn Gotama mới giúp được bệ hạ cởi bỏ được những
khổ đau ẩn ức trong tâm. Bệ hạ nên tìm tới Bụt để
được người chỉ dạy.
Vua
im lặng, một lát sau, vua nói:
- Trẫm
sợ sa môn Gotama còn thù ghét trẫm.
- Bệ
hạ đừng nói thế, sa môn Gotama không hề thù ghét ai cả,
Bụt là thầy của thượng hoàng, và cũng là người bạn thân
thiết nhất của thượng hoàng, bệ hạ tới vớí Bụt thì
cũng như tới với thượng hoàng vậy. Bệ hạ tới với Bụt
để tìm lại sự an ổn trong tâm hồn và cũng là để hàn
gắn lại những gì đã đổ võ trong quá khứ, tài y khoa của
tôi không bằng được một phần triệu tài chữa trị của
Bụt, Bụt không phải là một ông thầy thuốc mà là vua của
những ông thầy thuốc. Có người đã gọi Bụt là y vương.
Sau
cuộc đàm đạo đó, vua đã chấp nhận việc đi thăm Bụt.
Y sĩ
Jivaka xin Bụt nghỉ ngơi trên núi ít tháng và đi thăm hỏi
các trung tâm tu học trong vùng. Y sĩ mong ước sẽ được thỉnh
Bụt về vườn Xoài an trú một tháng trong mùa nóng.
Chính
trong vườn Xoài của ông mà y sĩ Jivaka đã sắp đặt cuộc
gặp gỡ giữa vua và Bụt. Lần đầu vua ngự giá tới Bụt
là vào một đêm trăng. Vua cùng đi với hoàng gia và các cung
phi mỹ nữ, có quân lính đi hộ tống. Đi gần tới chỗ Bụt,
bỗng nhiên vua phát ra sợ hãi, tóc gáy dựng ngược, vua cảm
thấy cảnh tượng an tĩnh quá, Jivaka đã nói Bụt ở chung
với gần một ngàn vị khất sĩ, vậy mà tại sao khung cảnh
quá im lặng như thế này? Vua sợ bị người ta lừa vua tới
để đánh úp. Vua hỏi Jivaka có phải là y sĩ đang lừa vua
đi vào chỗ hiểm địa của kẻ thù không? Jivaka cười ngất.
Ông chỉ cho vua một ngôi nhà có cửa sổ tròn, từ đó có
ánh sáng phát ra. Ông nói: Bụt hiện đang ngồi trong giảng
đường với các vị khất sĩ.
Vua
xuống voi, đi với Jivaka và những người hộ vệ, đuốc thắp
sáng trưng, vào tới cổng giảng đường, Jivaka chỉ cho vua
thấy một người đang ngồi trên pháp tòa, dựa lưng vào cột
nhà chính giữa, trước mặt tòa các vị khất sĩ đang trang
nghiêm ngồi. Jivaka nói: Bụt là người ngồi chính giữa đó.
Vua
rất làm cảm phục. Gần một ngàn người ngồi mà im lặng
không có một tiếng động nào, cảnh tượng trang nghiêm quá
đổi. Ngày xưa vua đã từng thấy Bụt trong cung, nhưng đã
có bao giờ vua tới tu viện để gặp Bụt và nghe thuyết pháp
đâu?
Bụt
mời vua và hoàng gia ngồi. Thái hậu Videhi cũng có mặt đêm
ấy. Vua lên tiếng hỏi Bụt:
- Trẫm
chỉ được nghe Thế Tôn giảng đạo có một lần ỏ hoàng
cung hồi trẫm còn nhỏ. Thế Tôn, hôm nay trẫm muốn hỏi
Thế Tôn câu hỏi này: tu hành không biết có kết quả gì
không mà trẫm thấy hàng ngàn, hàng chục ngàn, có khi cả
hàng vạn người bỏ nhà đi tu như thế?
Bụt
hỏi vua đã hỏi ai câu ấy chưa. Vua trả lời là vua đã hỏi
nhiều vị chức sắc lớn trong các giáo phái, nhưng chưa có
câu trả lời nào làm vua vừa ý cả, kể cả câu trả lời
của đại đức Devadatta.
Bụt
nói:
- Đại
vương, hôm nay Như lai sẽ nói cho đại vương nghe về những
hoa trái của sự tu học trong đạo pháp này, những hoa trái
có thể thấy được trong hiện tại và những hoa trái sẽ
hái gặt được trong tương lai. Đại vương sẽ không cần
đi vào các ngõ ngách của lý luận: đại vương chỉ cần
nhận xét cho tinh tường thì đã có thể thấy được những
hoa trái cấy của sự tu học, rõ ràng như thấy trái xoài
để trên một bàn tay.
Đại
vương, ví dụ một người nọ đang làm tôi tớ cho người
ta, thức khuya dậy sớm hầu hạ và làm theo mệnh lệnh của
chủ, một hôm bỗng có tư tưởng như sau: chủ là người,
mình cũng là người, tại sao mình phải đày đọa mình như
thế này? Nghĩ như thế, người ấy từ bỏ thân phận tôi
đòi, xin được xuất gia tu đạo, đi vào chánh pháp, sống
theo nếp sống phạm hạnh, tinh cần, tỉnh thức, ăn ngày một
bữa, tập thiền hành, thiền tọa, đi đứng trang nghiêm, trở
nên một vị khất sĩ có uy nghi, có dung hạnh, có đạo đức.
Đại vương nghĩ sao? Biết được vị khất sĩ ấy ngày xưa
vốn là thân phận tôi đòi, đại vương có gọi người ấy
tới và nói: “Này người kia, hãy lại đây, hãy làm nô bộc
cho ta, hãy thức khuya, dậy sớm và thi hành mọi mệnh lệnh
của ta” hay không?
Vua
nói:
- Thế
Tôn, trẫm sẽ không làm như vậy, sẽ không nói như vậy,
trái lại trẫm sẽ cung kính làm lễ người ấy, mời người
ấy xuống để cúng dường, và sẽ ra lệnh bảo vệ cho người
ấy đúng theo luật pháp?
Bụt
nói:
- Đại
vương, đó là hoa trái đầu tiên mà người sa môn khất sĩ
gặt hái, người ấy thoát được sự kỳ thị giai cấp, kỳ
thị chủng tộc, kỳ thị giàu nghèo, và khôi phục được
phẩm cách của một con người.
Vua
nói:
- Hay
lắm, Thế Tôn! Xin người dạy thêm.
Bụt
nói:
- Đại
vương, nhân phẫm tuy vậy chỉ là những hoa trái đầu. Vị
khất sĩ nhờ hành trì hai trăm mươi giới mà được
an trú trong một trạng thái vô ưu và thanh tịnh. Những người
không giữ giới có thể phạm vào các tội lỗi như giết
người, trộm cắp, tà dâm, dối gạt, say sưa và tự đưa
mình tới những hình phạt đớn đau về thân thể cũng như
về tâm thần. Vị sa môn khất sĩ không những hành trì năm
giới, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không
dối gạt, không say sưa, mà còn hành trì trên hai trăm giới
khác, vì vậy vị ấy sống trong một trạng thái thật an ninh,
thật nhẹ nhõm, trạng thái mà những người không giữ giới
không thể nào có được. Giới luật ngăn ngừa không để
cho ta rơi rớt vào lỗi lầm, đem lại cho ta một trạng thái
an ninh và nhẹ nhõm. Đó là một loại hoa trái khác của sự
tu học, có thể gặt hái ngay trong thời gian hiện tại.
Vua
nói:
- Hay
lắm! Thế Tôn, Xin người dạy tiếp cho!
Bụt
nói:
- Đại
vương, vị sa môn khất sĩ không có gì ngoài ra ba chiếc áo
ca sa và một chiếc bình bát. Người ấy không gây thù oán,
không sợ ai ban đêm tới hành thích mình. Vị ấy có thể
ngủ một mình trong rừng, dưới một gốc cây, thanh thản,
vô ưu, lặng lẽ. Không sợ hãi là một niềm hạnh phúc lớn.
Đó là một loại hoa trái khác của sự tu học, có thể gặt
hái ngay trong thời gian hiện tại.
Vua
rùng mình, rồi vua nói:
- Hay
lắm, Thế Tôn! Xin người dạy tiếp cho trẫm.
Bụt
nói:
-
Đại vương, vị sa môn khất sĩ sống đơn giản tới mức
tối đa, mỗi ngày chỉ ăn một bữa, bình bát một chiếc
nhưng cơm ngàn nhà, không nghĩ đến chuyện làm giàu, không
chạy theo danh vọng, không tích trữ, không tom góp, sống đúng
theo phép tri túc, và không chạy theo một tham vọng hay một
ước muốn nào. Sự thảnh thơi là một niềm hạnh phúc lớn.
Đó là cũng là một loại hoa trái của sự tu học, có thể
gặt hái ngay trong giờ phút hiện tại.
Vua
nói:
- Hay
lắm, Thế Tôn! Kính xin người dạy tiếp cho trẫm.
Bụt
nói:
- Đại
vương! Nếu đại vương biết quán niệm hơi thở, biết thực
tập thiền quán thì đại vương mới có được ý niệm về
hạnh phúc của người tu. Hạnh phúc đó là thiền duyệt.
Vị sa môn khất sĩ biết giữ gìn sáu căn của cảm giác,
biết đối trị lại năm loại trở lực của tâm ý là tham
dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử và nghi ngờ; trong khi sử
dụng phép quán niệm hơi thở để thực tập thiền quán,
vị ấy làm phát sinh những trạng thái hỷ và lạc trong thân
tâm mình để nuôi dưỡng thân tâm và đi tới trên con đường
ngộ đạo, những cảm giác dễ chịu do ngũ dục đem đến
không thể nào bì kịp với thứ hỷ lạc do thiền định thực
hiện. Hỷ và lạc này thấm nhuần thân tâm, trị lành tất
cả những âu lo, sầu khổ, thất vọng, đưa người hành giả
tiếp xúc với những gì mầu nhiệm nhất của thực tại.
Đại vương, đây là một loại hoa trái quan trọng của sự
tu học, loại hoa trái này cũng có thể gặt hái được ngay
trong giờ phút hiện tại.
Vua
nói:
- Hay
lắm, Thế Tôn! Xin người cứ dạy tiếp cho trẫm.
Bụt
nói:
- Đại
vương! Vị sa môn khất sĩ nhờ an trú tinh cần trong giới
luật và chánh niệm mà có định tâm, lấy định tâm ấy
mà quán chiếu vạn pháp trên thế gian. Nhờ quán chiếu mà
vị sa môn khất sĩ thấy được tính cách vô thường và vô
ngã của vạn pháp. Nhờ thấy được tự tính vô thường
và vô ngã của vạn pháp nên vị sa môn khất sĩ không bị
tham đắm vào bất cứ pháp nào va không bị bất cứ pháp
nào trói buộc. Vị sa môn khất sĩ nhờ đó cắt đứt được
những sợi dây phiền não thường trói buộc con người, đó
là những sợi dây tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên
kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến.
Cắt đứt được những sợi dây phiền não ấy rồi, vị
sa môn khất sĩ đạt tới trạng thái giải thoát, thảnh thơi.
Đại vương! Giải thoát là một hạnh phúc lớn một loại
hoa trái lớn nhất của sự tu học. Đại vương! Trong số
những vị khất sĩ ngồi ngay trong thính chúng đây, có vị
đã chứng đắc được thứ hoa trái đó. Hoa trái này, đại
vương, cũng có thể gặt hái được ngay trong kiếp hiện tại.
Vua
nói:
- Hay
lắm, Thế Tôn! Xin người tiếp tục dạy dỗ cho trẫm.
Bụt
nói:
- Đại
vương! Vị sa môn khất sĩ nhờ quán chiếu về tự tính của
vạn pháp thấy sâu vào trong tự tính ấy và biết rằng các
pháp là không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không
thêm, không bớt, không một, không nhiều, không đến, không
đi. Vị sa môn khất sĩ do đó đạt được cái thấy thanh
tịnh, không phân biệt, nhìn vạn pháp trong thế gian bằng
con mắt tuyệt đối bình tĩnh, không sợ hãi, không lo lắng,
cỡi trên sóng sinh tử mà đi vào cuộc đời để cứu độ
cho chúng sanh, chỉ bày cho chúng sanh con đường chánh pháp
để chúng sanh cũng được nếm hương vị của giải thoát,
của vô ưu và của hỷ lạc. Đại vương! Được giúp đỡ
người khác, được dắt dẫn người khác ra khỏi vũng lầy
của tham vọng, hận thù và si mê, đó là một niềm vui lớn.
Niềm vui này là một loại hoa trái rất đẹp đẽ của sự
tu học, có thể thực hiện ít ra là một phần nào đó trong
hiện tại và sẽ tiếp tục được thực hiện trong tương
lai. Đại vương! Các vị khất sĩ trong những tiếp xúc hàng
ngày với dân chúng, có nhiệm vụ hướng dẫn dân chúng đi
trên con đường đạo đức và giải thoát. Đại vương! Các
vị khất sĩ tuy không làm chánh trị nhưng cũng đóng góp vào
công trình xây dựng an lạc và đạo đức cho xã hội. Hoa
trái của sự tu học không phải là để riêng cho người sa
môn tu sĩ hưởng thụ mà là gia tài của cả quốc gia và nhân
loại.
Vua
đứng dậy, chắp hai tay lại một cách cung kính, vua bạch:
- Vi
diệu thay, Thế Tôn! Bằng những lời đơn giản, Thế Tôn
đã soi sáng cho trẫm đã giúp trẫm thấy được giá trị
chân thật của chánh pháp. Thế Tôn đã dựng lại những gì
đã ngã xuống, phơi bày ra những gì đã bị che kín, chỉ
đường cho những kẻ lạc hướng, đem ánh sáng rọi vào nơi
tối tăm. Xin Thế Tôn nhận cho con làm đệ tử của người,
cũng như ngày xưa Thế Tôn đã nhận phụ hoàng và mẫu hậu
con làm đệ tử của Thế Tôn, và vua lạy xuống.
Bụt
mỉm cười, chấp nhận lời thỉnh cầu của vua. Người bảo
đại đức Sariputta dạy cho vua và hoàng hậu đọc ba lời
quay về nương tựa. Lễ quy y xong, vua nói:
- Bây
giờ trời đã khuya, chúng con xin phép Thế Tôn để trở về
cung an nghỉ. Sáng mai chúng con sẽ phải có buổi chầu rất
sớm.
Bụt
dạy:
- Đại
vương hãy làm những gì đại vương nghĩ là phải làm.
Tuy
buổi gặp gỡ này giữa vua và Bụt không phải là một buổi
gặp gỡ riêng tư, và Bụt giảng kinh Sa môn quả không phải
chỉ để cho vua nghe mà cũng là để cho tất cả các vị khất
sĩ có mặt đêm ấy, nhưng sau buổi đó, bệnh tình của đã
thuyên giảm đi quá nửa. Đêm ấy vua nằm mơ thấy thượng
hoàng nhìn vua mỉm cười, vua có cảm tưởng đã nối lại
được một cái gì đã gãy, dựng lên được một cái gì
đã ngã xuống. Buổi gặp gỡ đã làm đẹp lòng vua mà cũng
làm đẹp lòng dân chúng.
Sau
lần gặp gỡ đó, vua thường đến thăm Bụt mà không cần
qua sự sắp đặt của y sĩ Jivaka nữa. Vua cũng không đem theo
voi ngựa và binh sĩ hộ tống. Vua cũng đã trèo những bậc
đá để lên núi Linh Thứu như vua Bimbisara ngày xưa. Trong những
buổi gặp gỡ riêng với Bụt, vua đã có dịp thố lộ tâm
tình và sám hối với Bụt về những tội lỗi của vua trong
quá khứ. Bụt đối với vua ngọt ngào như đối với một
đứa con của người, Bụt khuyên vua nên dùng người có đạo
đức trong giới quần thần và cố vấn.
Cuối
mùa an cư năm ấy, y sĩ Jivaka xin Bụt được xuất gia. Ông
được Bụt ban cho pháp danh là Vimala Kondanna.
Chương
77
SINH
TỬ LÀ HOA ĐỐM GIỮA HƯ KHÔNG
Mùa
an cư hoàn mãn, Bụt cùng Ananda đi hành hóa khắp nơi ở trong
xứ Magadha. Những chốn non xanh nước Bụt đều có tới, nhưng
không có nơi nào người không dừng lại để thăm viếng các
trung tâm tu học để dạy dỗ và khích kệ các vị khất sĩ
và nói pháp thoại cho giới của sĩ. Đại đức Ananda thường
được Bụt chỉ cho thấy những cảnh tượng đẹp đẽ. Đại
đức vốn ít để ý đến phong cảnh vì tâm trí mãi lo cho
Bụt, Bụt biết như thế nên thường nhắc thầy.
Đại
đức nhớ lại trong suốt gần hai mươi năm làm thị giả
cho Bụt, Bụt đã chỉ cho thầy xem biết bao nhiêu là cảnh
đẹp. Người hay nói: “Nhìn đi, Ananda, núi Thứu đẹp biết
bao, khả ái biết bao!”, “Này Ananda, động Saptapanni đẹp
quá!”, “Này Ananda, Trúc Lâm tu viện dễ thương biết bao!”.
Có một lần đứng trên đồi, Bụt đã chỉ cho Ananda thấy
những thửa ruộng chín vàng bao bọc những bờ cỏ xanh. Người
khen cảnh ấy đẹp và bảo đại đức nên phỏng theo mô thức
ấy để may áo phước điền sanghati cho các vị khất sĩ.
Ananda thấy rõ rằng qua Bụt là người tu biết thưởng thức
những gì hay và đẹp, nhưng không vướng mắc vào bất cứ
một cái đẹp hay cái xấu nào.
Mùa
mưa năm sau, Bụt về tu viện Jetavana an cư. Vua Pasenadi đi du
hành mãi tới giữa mùa an cư mới về. Về tới kinh đô, biết
Bụt hiện đang an cư, vua liền đến thăm Bụt.
Vua
nói với là Bụt là vì tuổi đã lớn, vua không ưa ở hoài
trong cung điện. Vua ưa đi đây đi đó để thấy được những
cảnh đẹp của thiên nhiên. Giao công việc cho các quan đại
thần, vua đi rong chơi, đem theo một đoàn tùy tùng nhỏ. Không
những vua đi du ngoạn ở những nơi trong nước, vua còn đi
rong chơi ở các nước ngoài, không phải với tư cách một
vị quốc vương cần phải được tiếp đón quốc lễ mà
với tư cách một kẻ hành hương. Vua đi dạo chơi mà cũng
như để thực tập thiền hành. Bỏ ra ngoài mọi ưu tư, vua
bước từng bước thanh thản và chú ý đến cảnh vật. Vua
nói những cuộc du ngoạn như vậy làm ấm lòng vua.
- Thế
Tôn, trẫm năm nay đã bảy mươi tám tuổi. Thế Tôn cũng vậy.
Trẫm nghe nói Thế Tôn gần đây cũng ưa đi du sơn ngoạn thủy.
Trẫm cũng lớn tuổi như Thế Tôn nhưng trẫm không làm được
lợi gì cho ai, còn Thế Tôn, thì đi đâu cũng dạy dỗ và
hướng dẫn cho mọi người tu học. Thế Tôn đến đâu là
như mặt trời chiếu sáng đến đó.
Rồi
vua tâm sự với Bụt về một nổi đau thầm kín của vua.
Số là trong một cuộc âm mư đảo chánh xảy ra tại kinh đô
bảy năm về trước, vua đã kết tội lầm vị tổng tư lẹnh
quân đội hoàng gia là tướng Bandhula và đã xử tử ông.
Mấy năm sau vua mới biết là mình lầm. Vu ahối hận lắm.
Vua đã tìm mọi cách để phục hồi danh dự cho tướng Bandhula
và đã bồi thường cho gia đình ông, vua cũng đã cất nhắc
cháu của ông là tướng Karayana lên chức tổng tư lệnh quân
đội hoàng gia.
Có
Bụt an cư tại thủ đô, vua đến tu viện Jetavana hầu như
mỗi ngày để hoặc nghe thuyết pháp hoặc tham dự vào những
cuộc pháp đàm hoặc được ngồi im lặng với Bụt. Mãn mùa
an cư, Bụt lại lên đường du hóa và vua cũng cùng đoàn tùy
tùng của vua đi rong chơi khắp chốn, gọi là đi tuần thú.
Năm
sau, cuối mùa an cư, Bụt đi lên xứ Kuru. Sau khi ở đó hai
tháng, Bụt lại theo bờ sông đi xuống Kosali, về Banarasi,
ghé Vesali, rồi lại đi lên miền Bắc. Một hôm nọ, đang
cư trú hành đạo tại quận lỵ Medalumpa, một quận lỵ nhỏ
trong vương quốc Sakya quê hương của mình, Bụt tình cờ gặp
vua Pasenadi.
Lần
này vua đi du hành có đem theo thái tử Vedudabha và tướng Karayana
theo. Vua muốn làm vui lòng vị cận thần mà ngày xưa vì lỗi
lầm vua đã kết tội một cách oan uổng người bác của ông
ta. Đang đi du sơn ngoạn thủy vua chợt nhớ Bụt, và hỏi
thăm không biết Bụt hiện giờ ở đâu. Người ta cho vua biết
là Bụt dang hành đạo ở quận Medalumpa, Medalumpa chỉ cách
Nagaraka nơi vua đang du ngoạn chỉ chừng nửa ngày đường.
Mừng quá, vua bảo Karayana thắng xe đưa vua tới thăm Bụt.
Đoàn tùy tùng của vua chỉ dem theo có bốn chiếc xe. Tới
Medalumpa, vua hỏi thăm, và biết được Bụt đang cư trú trong
công viên quận lỵ. Xa giá của vua đậu lại ngoài cổng.
Để đoàn tùy tùng ở lại bên ngoài, vua bảo tướng Karayana
cùng đi với vua vào công viên. Thấy bóng các vị khất sĩ
áo vàng qua lại, vua tìm tới một vị gần nhất và hỏi thăm
Bụt ở đâu, vị khất sĩ chỉ cho vua một ngôi nhà ẩn dưới
bóng cây bóng lá và nói:
- Tâu
hoàng thượng, Bụt đang ở trong ngôi nhà đó, cửa đóng,
hoàng thượng cứ thong thả đi tới đấy, rồi hoàng thượng
ho lên một tiếng, và gõ hai tiếng. Thế nào đức Thế Tôn
cũng mở cửa rước hoàng thượng vào.
Vua
cởi thanh gươm và tháo vương miện xuống trao cho vị tướng
lãnh, bảo ông ta trở lại với đoàn tùy tùng để đợi mình.
Rồi vua một mình tiến về ngôi nhà nơi Bụt ở, Tới trước
cửa, vua đằng hắng và ho lên một tiếng. Chưa kịp gõ cửa
thì cửa đã mở. Bụt mừng rỡ khi thấy vua. Người cầm
tay dắt vua vào trong nhà. Hai đại đức Ananda và Sariputta hiện
có mặt để hầu chuyện với Bụt trong tịnh thất cũng đứng
dậy chào vua.
Bụt
mời vua ngồi trên một chiếc ghế, rồi tự mình ngồi xuống
trên chiếc ghế đối diện. Hai vị đại đức đứng hầu
sau lưng Bụt. Vừa ngồi xuống vua đã đứng dậy. Vua lạy
xuống dưới đất và ôm hôn hai bàn chân của Bụt. Vua quỳ
trong tư thế ấy thật lâu, hai tay vuốt ve bàn chân của Bụt,
miệng nói:
- Thế
Tôn, trẫm là Pasenadi vua nước Kosala, trẫm xin kính làm lễ
Thế Tôn. Trẫm là Pasenadi vua nước Kosala, trẫm kính xin làm
lễ Thế Tôn.
Bụt
đỡ vua dậy. Người mời vua ngồi lại một lần nữa xuống
ghế, rồi người nói:
- Đại
vương, sao hôm nay đại vương lại lễ lạy cung kính quá đáng
như thế? Chúng ta không phải là một đôi bạn thân thiết
hay sao?
Vua
nói:
- Thế
Tôn, con có một vài điều mà con muốn tự miệng con nói ra
để Thế Tôn nghe, con sợ không có dịp.
Bụt
dịu dàng:
- Điều
gì, xin đại vương cứ nói.
- Thế
Tôn, con hoàn toàn tin tưởng nơi Thế Tôn, bậc toàn giác,
con hoàn toàn tin tưởng nơi giáo pháp của Bụt và nơi giáo
đoàn khất sĩ của người. Con đã từng thấy và gặp những
tu sĩ Bà la môn và các đạo sĩ các giáo phái: họ có thể
tu hành đứng đắn, có khi được mười, hai mươi, ba mươi
hay bốn mươi năm, nhưng sau đó con lại thấy họ bỏ cuộc
và đi vào nếp sống ngũ dục. Ở trong đạo pháp của Thế
Tôn, con thấy các vị khất sĩ hầu hết đều tu phạm hạnh
cho đến trọn đời.
Thế
Tôn, con từng thấy vua chống đối vua chúa, tướng sĩ âm
mưu chống tướng sĩ, Bà la môn chống Bà la môn, vợ cãi cọ
với chồng, con cãi cọ với cha, anh cãi cọ với em, bè bạn
cãi cọ với bè bạn. Ở đây con thấy các vị khất sĩ sống
trong hòa kính, an vui, hợp nhau như nước với sữa. Con không
thấy ở đâu có được cái thương yêu và hòa điệu như
trong giáo đoàn của người.
Thế
Tôn, khắp nơi con đã từng thấy giới đạo sĩ dáng điệu
khắc khổ, mặt mày ủ rủ, âu sầu và lo lắng, nhưng ở
đây, các vị khất sĩ luôn luôn tỉnh táo, tươi cười, vui
vẻ, thong dong và tươi mát. Thế Tôn, điều đó khiến con
càng tin tưởng nơi Thế Tôn và giáo pháp của người.
Thế
Tôn, con là vua thuộc dòng dõi chiến sĩ: con có quyền ra lệnh
chém đầu hoặc giam cầm hoặc trừng phạt bất cứ ai nếu
con muốn, vậy mà khi con ngồi trong một buổi họp, thiên hạ
vẫn dám cướp lời con, dù con có nói: “Quý vị không được
cướp lời trẫm”, họ cũng vẫn quên và cướp lời con như
thường, không đợi đến khi con phát biểu hết ý kiến. Vậy
mà con thấy ở đây, trong giáo đoàn người, có khi có cả
ngàn vị khất sĩ ngồi nghe Bụt nói mà con không nghe lấy
một tiếng động nhỏ, dù là tiếng đắng hắng hay tiếng
sột soạt của y áo, đừng nói có ai dám cướp lời Bụt.
Thế Tôn, con nghĩ: Thật là mầu nhiệm, Bụt chẳng cần quyền
uy, chẳng cần gươm giáo, chảng cần trừng phạt gì mà người
ta kính yêu Bụt một cách tuyệt đối. Thế Tôn, điều này
cũng làm cho con càng tin tưởng ở Thế Tôn và giao pháp của
người.
Thế
Tôn, con đã từng thấy và nghe giới trí thức và giới học
giả lừng danh bàn bạc với nhau để soạn sẵn những câu
hỏi bí hiểm có thể làm cho Bụt lúng túng, nhưng khi đến
gặp Thế Tôn và nghe Thế Tôn thuyết pháp, họ cứ há miệng
ra nghe để rồi tất cả đều bị Thế Tôn chinh phục, đến
nổi không có cơ hội và thì giờ để hỏi những câu hỏi
hóc búa của họ, những câu hỏi mà sau cuộc gặp gỡ với
Thế Tôn họ thấy là ngây thơ. Thế Tôn, điều này cũng là
điều làm cho con có thêm tin tưởng nơi Thế Tôn và giáo pháp
của người.
Thế
Tôn, con nhớ là con từng có hai thợ mộc rất khéo tay tên
là Isidata va Purana: họ thường làm việc trong cung điện, và
con là người cung cấp lương bỗng cho họ, thế mà họ đâu
có thưong kính con bằng thương kính Thế Tôn. Có lần con đem
họ đi theo trong một chuyến hành tẩu phương xa, và đêm đó
vì mưa gió mà cả vua cả tôi đều phải ngủ trong một chiếc
lều tranh nhỏ bé. Gần suốt đêm, hai người thợ mộc của
con ngồi trao đổi với nhau về giáo pháp học được của
Thế Tôn và khi họ mỏi mệt, họ nằm xuống ngủ, đầu hướng
về phía núi Linh Thứu và chân họ lại xoay về phía con. Thế
Tôn có cho họ lương bỗng gì đâu, thế mà họ quý kính Thế
Tôn hơn con nhiều lắm lắm. Thế Tôn, điều này khiến con
lại càng tin tưởng nơi Thế Tôn và giáo pháp của người.
Thế
Tôn! Người thuộc về giai cấp vua chúa, con cũng thuộc về
giai cấp vua chúa. Người năm nay đã bảy mươi chín, con năm
nay cũng đã bảy mươi chín, vì vậy con nghĩ đây là cơ hội
quý báu để con tỏ lòng quy kính Bụt hết mức và để con
bày tỏ niềm tri kỷ giữa con và Bụt, bây giờ con xin từ
tạ Bụt để con đi.
Bụt
nói:
- Đại
vương, đại vương hãy trân trọng giữ gìn sức khỏe. Và
Bụt đứng dậy đưa tiễn vua ra cửa.
Lúc
Bụt trở vào, hai đại đức Ananda và Sariputta đứng dậy
chắp tay im lặng. Hai đại đức đã chứng kiến từ đầu
đến cuối buổi gặp gỡ này giữa Bụt và vua, Bụt nói:
- Sariputta
va Ananda! Quốc vương Pasenadi đã nói những lời chân thành
nhất của quốc vương đối với Tam Bảo. Các thầy nên ghi
nhớ lấy để làm vững mạnh thêm đức tin của những người
hậu học.
Tháng
sau, Bụt lên đường về miền Nam. Đi chừng nửa tháng, người
về đến núi Linh Thứu, về tới núi Linh Thứu, Bụt nhận
được hai tin buồn cùng một lúc: vua Pasenadi đã băng và đại
đức Moggallana đã bị những người thuộc giáo phái lõa hình
ám sát ngay tại cổng tu viện Trúc Lâm.
Quốc
vương Pasenadi đã băng không không ở thủ đô Savatthi mà ở
Rajagaha, trong một tình trạng không được xứng đáng lắm
đối với một người như vua. Theo tin tức nhận được thì
sau cuộc viếng thăm Bụt ở quận lỵ Medalumpa, vua đã trở
ra với đoàn tùy tùng, nhưng khi ra tới cổng vua chỉ còn thấy
có một chiếc xe và một người cung phi ở lại. Hỏi ra thì
ba chiếc xe kia đã trở về Savatthi dưới sự cưỡng ép của
tướng Karayana, đem theo vương miện, ấn tín và thanh gươm
báu của vua. Karayana bảo thái tử Vidudabha phải trở về ngay
Savatthi để lên ngôi vua, đừng để một người quá già yếu
ngồi trên ngai mãi mãi. Thái tử dùng dằng chưa chịu thì
Karayana dọa rằng nếu thái không chịu về làm vua, ông ta
sẽ về kinh tuyên bố đảo chánh và tự xưng vương. Dưới
áp lực ấy, thái tử Vidudabha đã phải vâng lệnh.
Vua
quyết định đi về thành Rajagaha để cầu viện với cháu
là quốc vương Ajatasattu. Suốt quãng đường dài, vua chỉ
uống nước mà không ăn gì được. Về tới Rajagah thì trời
đã khuya và cửa thành đã đóng; vua phải vào nghỉ đêm trong
một trạm nghỉ công cộng. Đêm ấy vua lên cơn bạo bệnh
và chết trong tay vị cung phi. Người cung phi này than khóc như
mưa như gió cho số phận của vị hoàng đế. Sáng ngày, sau
khi hay tin, vua Ajatasattu vội vã cho rước long thể vào cung
và ra lệnh tổ chức một lễ quốc táng long trọng cho người
bác của mình. Tang lễ hoàn mãn, vua định cử binh trị tội
quốc vương Vidudabha, nhưng vua đã bị y sĩ Jivaka can gián.
Jivaka nói rằng dù sao quốc vương Pasenadi cũng đã băng hà
và vua mới bên nước Kosala cũng là anh em cô cậu của vua,
có cử binh chinh phạt cũng không đưa đến được một giải
pháp nào khác. Nghe lời Jivaka, vua đã cử sứ thần qua Savatthi
để thừa nhận quốc vương mới.
Đại
đức Moggallana là vị đại đệ tử thứ ba của Bụt đứng
sau Kondanna và Sariputta. Đệ tử lớn của Bụt có nhiều nhưng
nhiều vị đã tịch trước Bụt. Đại đức Kondanna, thủ
lĩnh của năm vị khất sĩ đầu tiên được nghe Bụt thuyết
pháp tại vườn Lộc Uyển đã tịch. Đại đức Uruvela Kassapa
và hai người em cũng đã tịch. Ni trưởng Mahajapati cũng đã
viên tịch từ lâu. Ni sư Yasodhara và đại đức Rahula cũng
đã nối tiếp nhau viên tịch. Đại đức Rahula viên tịch
năm đại đức được năm mươi mốt tuổi. Đại đức Moggallana
là một vị đại khất sĩ có rất nhiều dũng khí. Người
là kẻ phát ngôn bạo dạn và cương trực nhất của giáo
đoàn khất sĩ. Khi cần phải tuyên bố lập trường của giáo
đoàn hoặc của giáo pháp, đại đức bao giờ cũng nói thẳng,
không khi nào chấp nhận sự thỏa hợp. Cũng vì lý do này
mà trong giới ngoại đạo có nhiều kẻ thù ghét đại đức.
Hôm ấy đại đức cùng ra đi với hai vị đệ tử, lên đường
rất sớm. Bọn sát nhân có dự tính trước cho nên đã mai
phục bên ngoài tu viện. Họ xông ra tấn công khi thấy đại
đức. Họ tấn công bằng gậy gộc. Ba thầy trò tay không,
không thể nào chống lại được họ, vì họ quá đông, và
cũng vì họ có khí giới trong tay. Hai vị đệ tử bị đánh
văng ra ngoài. Họ la lên kêu cứu, nhưng không kịp nữa, đại
đức đã bị bọn bất lương hạ sát, đại đức hét lên
một tiếng vang động cả rừng cây trước khi bị bọn chúng
đập xuống những hèo cuối cùng. Khi các thầy trong tu viện
chạy ra thì bọn sát nhân đã tẩu thoát hết. Hai vị đệ
tử bị đả thương khá nặng. Khi Bụt về tới thì nhục
thân của đại đức đã được trà tỳ. Tro xương của đại
đức đã được thu góp trong một chiếc bình và đặt sẵn
bên ngoài tịnh xá của Bụt.
Bụt
hỏi thăm đại đức Sariputta, các thầy cho biết là đại
đức Sariputta đã đóng cửa am thất từ ngày đại đức Moggallana
bị ám sát. Ai cũng biết hai vị đại đức này thân với
nhau còn hơn anh em ruột, đối với nhau luôn luôn như hình
với bóng, Bụt chưa kịp nghỉ ngơi đã phải đi tìm đến
am thất của Sariputta để an ủi đại đức. Đại đức Ananda
đi theo người, đại đức nghĩ chắc thế nào Bụt cũng đang
buồn. Không buồn sao được khi mất một lần hai vị đệ
tử lớn: vua Pasenadi và đại đức Moggallana. Bụt đi an ủi
đại đức Sariputta, nhưng ai sẽ an ủi Bụt? Như để trả
lời câu hỏi thầm kín của đại đức Ananda, Bụt quay lại
nhìn thầy rồi lên tiếng:
- Ananda,
ai cũng nói thầy học nhiều và ghi nhớ nhiều về chánh pháp.
Thầy không nên lấy sự học nhiều và nhớ nhiều làm đủ.
Chăm sóc cho Như lai và lo lắng cho giáo đoàn, điều đó tuy
cần thiết nhưng cũng không đủ, thì giờ còn lại có là
bao lăm, thầy phải nổ lực để vượt thoát sinh tử. Thầy
phải bình thản trước sinh tử, thấy sinh tử như những hoa
đốm giữa hư không.
Đại
đức Ananda cúi đầu, đi im lặng.
Ngày
hôm sau, Bụt xuống núi, đến tu viện Trúc Lâm. Người đề
nghị vị trí để xây tháp kỷ niệm đại đức Moggallana
và để an trí xá lợi của đại đức này.
Chương
78
HAI
NGÀN CHIẾC ÁO VÀNG TRÊN NÚI THỨU
Một
buổi chiều nọ, khi Bụt đang đi thiền hành trên triền núi,
có hai người võng đại đức Devadatta lên. Đại đức Devadatta
ốm nặng đã mấy năm nay. Đại đức muốn thấy mặt Bụt
trước khi qua đời. Hai người đang khiêng đại đức là hai
người trong số sáu người đệ tử còn sót lại. Trong thời
gian ngọa bệnh trên núi Gayasisa, không mấy ai đến thăm đại
đức, kể cả những người đã ủng hộ đại đức tích
cực nhất ngày xưa. Suốt thời gian ấy, đại đức đã có
nhiều cơ hội nghĩ lại về những đắc thất và về giá
trị của hành động mình.
Được
báo là có đại đức Devadatta lên và xin được gặp, Bụt
liền trở về tịnh thất. Đại đức yếu lắm, không ngồi
dậy được. Đại đức cũng không nói được nhiều, đại
đức chỉ nhìn Bụt, cố gắng chắp tay lại: “Con về nương
tựa Bụt", đại đức cố gắng lắm mới nói được những
tiếng đó.
Bụt
để tay lên trán Devadatta và an ủi đại đức.
Chiều
hôm ấy đại đức qua đời. Bây giờ là mùa nắng, trời
trong xanh, Bụt đang sắp sửa đi du hành thì có sứ giả của
vua Ajatasattu tới. Sứ giả là quan đại thần Vassakara, một
người thuộc giai cấp Bà la môn. Ông được lệnh vua tới
đảnh lễ Bụt và cho Bụt biết chủ định của vua và triều
thần muốn cử binh đi đánh nước Vajji ở phía Bắc sông
Hằng. Vua muốn được nghe phản ứng của Bụt và đã dặn
vị đại thần ghi nhớ tất cả những gì Bụt sẽ phát biểu
về vấn đề này.
Trong
khi Bụt tiếp quan đại thần Vassakara, đại đức Ananda đứng
sau lưng Bụt và quạt cho người. Bụt xoay lại hỏi thầy:
- Này
đại đức Ananda, thầy có nghe dân chúng Vajji thường hay hội
họp đông đảo để bàn bạc chính sự không?
Đại
đức Ananda đáp:
- Thế
Tôn, con nghe nói dân Vajji rất chuyên cần hội họp và hội
họp rất đông đảo để đàm luận về chính sự.
- Vậy
thì nước Vajji vẫn còn cường thịnh. Ananda, thầy có có
biết khi họ hội họp với nhau, họ có bày tỏ sự hòa hợp
đoàn kết và có một lòng một dạ với nhau không?
- Bạch
Thế Tôn, con nghe họ rất hòa hợp và đoàn kết với nhau.
- Vậy
thì chắc chắn nước Vajji vẫn còn rất cường thịnh. Ananda,
dân Vajji có tôn trọng và có sống đúng theo những pháp chế
đã được ban hành không?
- Bạch
Thế Tôn, con nghe họ rất tôn trọng những pháp chế đã được
ban hành.
- Vậy
thì chắc chắn nước Vajjvẫn còn cường thịnh. Ananda, dân
Vajji có còn biết tôn trọng và nghe lời những bậc tôn trưởng
của họ không?
- Thế
Tôn, con nghe họ rất biết tôn trọng và nghe lời những bậc
tôn trưởng của họ.
- Vậy
thì nước họ vẫn còn cường thịnh. Đại đức Ananda, thầy
có nghe trong xứ của họ có những vụ bạo động và hãm
hiếp không?
- Bạch
Thế Tôn, những vụ bạo động và hãm hiếp ít bao giờ xảy
ra ở xứ họ.
- Vậy
thì nước Vajji vẫn còn cường thịnh. Ananda, thầy có nghe
dân Vajji còn biết bảo vệ tông miếu của tổ tiên họ không?
- Bạch
Thế Tôn, con nghe họ vẫn còn biết bảo vệ tông miếu của
tổ tiên họ.
- Vậy
thì Ananda, nước Vajjia vẫn còn cường thịnh. Thầy có nghe
là dân Vajji biết tôn kính, cúng dường và chịu học hỏi
theo các hàng tu sĩ đạt đạo không?
- Bạch
Thế Tôn, cho đến ngày nay họ vẫn rất tôn kính, cúng dường,
và học hỏi với các vị tu sĩ đạt đạo.
- Ananda,
vậy thì chắc chắn nước Vajji vẫn còn cường thịnh, chưa
bị suy đồi, Ananda, ngày xưa Như lai đã từng có dịp chỉ
dạy cho giới lãnh đạo ở Vajji về bảy yếu tố giữ gìn
cho quốc gia không suy thoái, gọi là thất bất thoái pháp.
Đó là chuyên cần hội họp, hòa hợp và đoàn kết, tôn trọng
pháp chế đã ban hành, tôn trọng và nghe lời các bậc tôn
trưởng, không bạo động và hiếp đáp, biết bảo vệ tông
miếu tổ tiên và tôn kính các các bậc đạo hạnh. Ananda,
thì ra họ vẫn còn thi hành bảy phép bất thoái ấy, Như lai
tin rằng quốc gia Vajji vẫn còn cường thịnh, chưa bị suy
nhược, và do đó Như lai nghĩ rằng nước Magadha không thể
đánh chiếm được nước họ.
Đại
thần Vassakara bạch:
- Thế
Tôn, dân Vajji chỉ cần thực hành một trong bảy phép đó
thì cũng đủ làm cho nước họ cường thịnh rồi, huống
hồ là họ thực hành cả bảy phép. Thế Tôn, con nghĩ vua
Ajatasattu không thể thắng được dân Vajji bằng sức mạnh
vũ khí đâu. Vua chỉ có thể thắng họ nếu vua gieo được
sự chia rẽ trong giới lãnh đạo của họ. Thế Tôn, con xin
cảm tạ người, con phải về lo công việc.
Sau
khi đại thần Vassakara từ giã, Bụt than thở với Ananda:
- Vị
đại thần này có nhiều mưu chước lắm. Như lai ngại là
trong tương lai, vua Ajatasattu sẽ cử binh đánh chiếm nước
Vajji.
Chiều
hôm ấy, Bụt nhờ đại đức Ananda đi triệu tập tất cả
các vị khất sĩ có mặt ở thủ đô Rajagaha và trong các vùng
phụ cận về núi Thứu.
Chỉ
trong vòng bảy hôm các vị khất sĩ và nữ khất sĩ trong vùng
đã quy tụ về đầy đủ. Gần hai ngàn vị đã về tới,
màu áo ca sa làm vàng rực cả năm ngọn đồi của Linh Thứu
sơn. Đến giờ đại hội, tất cả đều quy tụ về sân trước
của giảng đường.
Đại
chúng được triệu tập đông đủ, Bụt từ tịnh thất thong
thả đi xuống. Người bước lên pháp tọa cao. Đưa mắt nhìn
đại chúng, Bụt mỉm cười và nói:
- Các
vị khất sĩ! Như lai sẽ chỉ dạy cho các vị bảy phương
pháp để giữ gìn cho chánh pháp và giáo đoàn không bị suy
thoái. Các vị hãy lắng nghe.
Thứ
nhất là các vị nên thường xuyên gặp mặt nhau trong những
buổi hội họp đông đủ để học hỏi và luận bàn về
chánh pháp. Thứ hai là các vị tới với nhau trong tinh thần
hòa hợp và đoàn kết, và chia tay nhau trong tinh thần hòa hợp
và đoàn kết. Thứ ba là cùng tôn trọng và sống theo giới
luật và pháp chế một khi những những giới luật và pháp
chế ấy đã được ban hành. Thứ tư là biết tôn trọng và
vâng lời các bậc trưởng lão có đạo đức và kinh nghiệm
trong giáo đoàn. Thứ năm là sống một nếp sống thanh đạm
và giản dị, đừng để bị lôi cuốn vào tham dục. Thứ
sáu là biết quý đời sống tĩnh mặc. Thứ bảy là biết
an trú trong chánh niệm để thực hiện an lạc và giải thoát,
làm chỗ nương tựa cho các bạn đồng tu.
Này
các vị khất sĩ! Chừng nào mà các vị còn thực hành được
bảy điều ấy, gọi là bảy phép bất thối, thì đạo pháp
còn hưng thịnh và giáo đoàn không bị suy thoái. Không một
yếu tố nào bên ngoài có thể phá hoại được giáo đoàn.
Chỉ có những phần tử bên trong giáo đoàn mới có thể làm
cho giáo đoàn tan rã mà thôi. Các vị khất sĩ! Khi con sư tử
chúa của mọi loài ở chốn sơn lâm ngã qụy, không có một
loài nào đám đến ăn thịt nó. Chỉ có những con trùng phát
sinh từ bên trong thân thể của sư tử mới ăn thịt được
sư tử mà thôi. Các vị hãy bảo vệ chánh pháp bằng cách
sống theo bảy phép bất thối, đừng bao giờ tự biến mình
thành những con trùng trong thân thể của con sư tử.
Sau
khi đã chỉ dạy những vị khất sĩ về bảy phép bất thối,
Bụt dặn các vị khất sĩ đừng nên phí bỏ thì giờ quý
báu của mình để la cà nói chuyện phiếm, để ngủ vùi,
đừng đánh mất mình trong danh lợi và tham dục, đừng thân
cận với những người xấu ác và biếng lười, đừng tự
mãn với những kiến thức và những trình độ chứng đắc
thấp thỏi.
Bụt
nhắc lại giáo lý bảy yếu tố giác ngộ như con đường
mà mỗi vị khất sĩ phải đi: yếu tố chánh niệm, yếu tố
quán chiếu vạn pháp, yếu tố tinh tiến, yếu tố hỷ lạc,
yếu tố nhẹ nhõm, yếu tố định và yếu tố hành xả.
Bụt
lại chỉ dạy về các phép quán vô thường, vô ngã, bất
tịnh, buông bỏ, xa lìa tham dục và giải thoát.
Hai
ngàn vị khất sĩ được sống với Bụt trên núi Linh Thứu
được mười hôm. Họ cư trú khắp nơi trên năm ngọn đồi,
nơi cội cây, hang đá, am thất, khe suối ... Mỗi ngày các
vị tụ tập một lần tại sân giảng đường để nghe Bụt
giảng dạy. Thính chúng ngồi thành nhiều bậc bởi vì sân
không đủ rộng để chứa đủ số người. Qua ngày thứ mười,
Bụt từ giã các vị khất sĩ và khuyên họ xuống núi và
trở về trú sở để hành đạo. Chỉ có các vị thường
trú ở Linh Thứu là còn ở lại mà thôi.
Các
vị khất sĩ xuống núi rồi, Bụt từ giã thủ đô Rajagaha,
người hướng về Ambalatthika. Ambalatthika là khu lâm viên nghỉ
mát của vua Bimbisara, nơi Bụt và các vị khất sĩ thường
ghé trên đường đi Nalanda. Hai thầy trò Sariputta và Rahula
ngày xưa đã từng cư trú tại đây. Tại Ambalatthika, Bụt
thăm viếng và ủy lạo các vị khất sĩ, Bụt dạy cho họ
thêm về giới, định và tuệ.
Rời
Ambalatthika, Bụt đi Nalanda. Đoàn khất sĩ đi theo Bụt có chừng
một trăm vị. Các đại đức Ananda, Sariputta, và Anurudha đi
sát bên người. Tới Nalanda, Bụt nghỉ ở vườn Xoài Pavarika.
Sáng
ngày hôm sau, đại đức Sariputta tới ngồi bên Bụt một hồi
lâu, không nói gì.
Sau
đó, tự nhiên đại đức mở lời:
- Bạch
Thế Tôn, con thiết nghĩ trong quá khứ, trong hiện tại, và
trong cả tương lai, không có một vị đạo sư hay Bà la môn
nào mà trí tuệ và sự chứng đắc siêu việt hơn Thế Tôn.
Bụt
nói:
- Sariputta,
lời nói đó của đại đức quả thật là mạnh bạo, quả
thật là một tiếng gầm sư tử. Thầy đã gặp và đã biết
tất cả các bậc giác ngộ trong quá khứ, hiện tại, và tương
lai chưa mà dám nói như thế?
- Bạch
Thế Tôn, làm gì mà con đã gặp được tất cả các bậc
giác ngộ trong ba thời, nhưng có một điều con biết chắc.
Con sống thân cận với Thế Tôn đã trên bốn mươi năm. Không
những con được nghe Thế Tôn dạy dỗ mà con còn được thấy
Thế Tôn sống. Nhìn vào Thế Tôn, con biết là Thế Tôn sống
thường trực trong tỉnh thức và chánh niệm. Sáu căn được
Thế Tôn hộ trì một cách tuyệt hảo. Không bao giờ có vết
nhỏ của năm sự ngăn che là tham dục, oán giận, hôn trầm,
trạo cử và hoài nghi được nhận thấy trong sinh hoạt hàng
ngày của Thế Tôn. Con nghĩ các bậc giác ngộ trong quá khứ,
hiện tại và tương lai, khi đạt tới chánh trí thì trí
tuệ và sự chứng đắc cũng chỉ bằng Thế Tôn thôi chứ
làm sao cao hơn được.
Tại
Nalanda, Bụt giảng dạy thêm cho đại chúng ở đây về giới,
định, tuệ. Rời Nalanda, Bụt đi về Pataligama. Tới Pataligama,
Bụt và các vị khất sĩ được rất nhiều giới cư sĩ ra
đón tiếp và đưa về trú sở của họ. Tại đây, họ cúng
dường cơm nước lên Bụt và các vị khất sĩ. Thọ trai xong,
Bụt thuyết pháp.
Sáng
hôm sau, trước khi Bụt lên đường, đại đức Sariputta đến
từ giã người. Đại đức được tin bà mẹ của đại đức
đang bị ốm nặng, và đại đức muốn về thăm mẹ. Mẹ
của đại đức năm nay đã trên một trăm tuổi, Bụt và các
vị khất sĩ ra tiễn đại đức Sariputta về quê. Đại đức
lạy Bụt ba lần và cùng với chú sa di Cunda đi ngược về
miền Nam, hướng về Nala.
Lúc
Bụt và đoàn khất sĩ ra tới cửa thành thì có hai vị đại
thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakara tới trình diện. Họ
là những người được vua Ajatasattu phái tới nghiên cứu
xây dựng đô thị Pataligama thành một đô thị lớn. Các vị
đại thần bạch:
- Cổng
thành mà Thế Tôn, và các vị khất sĩ sắp đi qua để rời
khỏi thành phố, chúng con sẽ đặt tên là cổng Gotama. Chúng
con cũng sẽ đi theo để tiễn đưa Bụt. Bến đò mà người
và chư vị khất sĩ tới để vượt qua sông Hằng, chúng con
cũng sẽ đặt tên là bến đò Gotama.
Sông
Hằng nước đầy cho đến nổi một con quạ đứng trên bờ
sông có thể chúi mỏ xuống sông để uống nước được.
Năm
chiếc đò ngang chở Bụt và các thầy sang sông một lượt.
Ra đến giữa dòng, đại đức Ananda tìm lối bước tới gần
Bụt và rón rén ngồi xuống bên người, Bụt đang nhìn xuống
nước. Đại đức Ananda đưa mắt nhìn dòng sông mêng mang
rồi chuyển cái nhìn về bên kia bờ. Đại đức nhớ năm
xưa, cách đây đã trên hai mươi lăm năm, có lần dân chúng
Vesali đã kéo nhau ra tận bờ sông để đón Bụt, đông có
đến mấy vạn người. Năm ấy tại Vesali, có dịch hạch
lan tràn, người lớn và trẻ em chết như rạ. Những ông thầy
thuốc giỏi nhất trong xứ đã chịu bó tay. Lễ đàn được
thiết lập liên tiếp để cúng tế và cầu nguyện, nhưng
cũng không đem lại hiệu quả nào. Cuối cùng dân chúng trong
thành nghĩ đến việc đi cầu cứu với Bụt, Quan tổng trấn
Tomara được chỉ định đích thân qua tận Rajagaha để thỉnh
Bụt về Vesali, ước mong đạo đức của người có thể chuyển
đổi được tình trạng. Bụt đã nhận lời thỉnh cầu. Vua
Bimbisara, hoàng hậu, các vị đại thần, và dân chúng đi tiễn
Bụt tới tận bờ sông Hằng. Bên kia sông, dân chúng Vesali
đã tụ tập đông nghịt. Họ thiết lập nghênh môn, lễ đài,
treo cờ và kết hoa đầy cả bờ sông. Khi thuyền của Bụt
qua tới, dân chúng reo hò vang dậy, nhã nhạc nổi lên vang
lừng, Hôm đó đi phụ tá cho Bụt ngoài các vị đại đệ
tử lớn còn có y sĩ Jivaka. Dân chúng đón tiếp Bụt như đón
tiếp một vị cứu tinh của họ, Bụt vừa đặt chân lên
đất liền thì sấm chớp bống nổi dậy và trời mưa xuống
một trận mưa rất lớn. Đây là trận mưa đầu tiên sau nhiều
tháng ngày nắng cháy và hạn hán. Dân chúng mừng rỡ, nhảy
múa, reo mừng, và ca hát ngay dưới cơn mưa. Cơn mưa đem lại
sự mát mẻ và hy vọng cho cả xứ. Bụt và các vị khất
sĩ đã được dân chúng rước về trung tâm thành phố. Tại
công viên, Bụt đã nói về Tam Bảo như ba viên ngọc quý,
nơi nương tựa vững chãi của mỗi người. Sau đó Bụt và
các đại đức được rước về tu viện Trùng Các ở Mahavana.
Kỳ đó, nhờ đức độ của Bụt và tài chữa trị của y
sĩ Jivaka, dịch hạch đã từ từ được đẩy lui và cuối
cùng mất dấu. Năm ấy Bụt đã lưu lại Vesali gần sáu tháng
trước khi lên đường về Savatthi.
Qua
bên kia sông, Bụt đi về Kotigama, các vị khất sĩ tại Kotigama
đi đón Bụt rất đông. Tại đây, Bụt giảng dạy về tứ
diệu đế và về tam học giới, định, và tuệ. Sau khi cư
trú một thời gian tại Kotigama với các vị khất sĩ. Bụt
lại ra đi, hướng về Nadika, Bụt và các vị khất sĩ nghỉ
tại một ngôi nhà xây bằng gạch gọi là Ginjakavasatha.
Tại
Nadika, Bụt nhắc nhở đến những vị đệ tử của người
đã mệnh chung tại vùng này, trong đó có nữ khất sĩ Sundari
Nanda, em gái của người, các vị khất sĩ Salha và Nadika, nữ
cư sĩ Sujata ngày xưa đã dâng sữa và thức ăn cho người
trước khi người thành đạo, và các cư sĩ Kakudha, Bhada, Subhadda
... Bụt nói các vị khất sĩ này cùng khoảng năm mươi vị
khác đã từng sinh sống trại đây đều đã chứng được
những quả vị nhập lưu, nhất hoàn và bất hoàn. Nữ khất
sĩ Nanda đã chứng quả nhất hoàn, hai vị khất sĩ đã đạt
được quả vị la hán.
Bụt
dạy: người tu hành nào vững tin nơi Bụt, Pháp và Tăng, nhìn
vào tâm ý mình có thể biết được mình đã tham dự vào
dòng giải thoát chưa, không cần hỏi đến một người khác.
Một
hôm khác, Bụt lại dạy thêm cho các vị khất sĩ về giới,
định, và tuệ. Thăm viếng và sách tấn đại chúng xong. Bụt
cùng các vị khất sĩ lên đường đi Vesali. Tới Vesali, Bụt
và đại chúng nghỉ tại vườn Xoài của Ambapali. Ngày hôm
sau Bụt giảng cho đại chúng về phép quán niệm về bốn
lãnh vực thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng tâm
ý.
Nghe
nói Bụt đã về vườn Xoài của mình, bà Ambapali rất sung
sướng, liền vội tới thăm người. Bà thỉnh Bụt và
chư vị khất sĩ tới thọ trai ngày hôm sau. Ngày mai lại,
sau khi Bụt và các vị khất sĩ đã thọ trai xong, bà làm lễ
dâng khu vườn cho giáo đoàn khất sĩ. Bà cũng xin được xuất
gia.
Mấy
hôm sau, Bụt lại giảng cho đại chúng nghe thêm về phép hành
trì, giới, định và tuệ.
Sau
khi đã thăm viếng Vesali, Bụt đi tới làng Beluvagamaka ở vùng
ngoại ô thành phố. Mùa mưa đã đến, Bụt dự định an cư
năm nay tại làng Beluva này. Đây là mùa an cư thứ bốn mươi
lăm sau ngày Bụt thành đạo. Bụt nhắn với các vị khất
sĩ trong vùng hãy tới an cư ở ven đô thành phố Vesali, tại
những trung tâm có bạn bè, thân quyến đàn việt ủng hộ.
Giữa
mùa an cư, Bụt bị ốm nặng, thân thể người đau đớn vô
cùng. Người nằm yên, không hề rên siết, giữ vững chánh
niệm và hơi thở. Mọi người nghĩ rằng Bụt sẽ không qua
khỏi cơn đau, nhưng không ngờ sau đó Bụt vượt thắng được,
sức khỏe dần dần trở lại với người. Mười hôm sau,
Bụt dậy được và ra khỏi phòng, ngồi xuống trên một chiếc
ghế kê sát vào tường.
Chương
79
NẤM
CHIÊN ĐÀN
Đại
đức Ananda tới gần Bụt, ngồi xuống bên người và bạch
nhỏ:
- Thế
Tôn, bốn mươi năm nay con chưa từng thấy người ốm đau
nặng nề như kỳ rồi. Hôm Thế Tôn bệnh nặng, con cảm thấy
bủn rủn cả chân tay. Đầu óc của con lúc ấy không được
sáng suốt và con không thấy được sự việc một cách rõ
ràng. Hôm đó ai cũng nghĩ rằng Thế Tôn sẽ không qua khỏi,
nhưng con tự hỏi: Đức Thế Tôn chưa di chúc gì hết cho giáo
đoàn khất sĩ thì Thế Tôn chưa nhập Niết Bàn đâu. Nhờ
nghĩ như vậy mà con không đến nỗi nào.
Bụt
nói:
- Náy
Ananda, giáo đoàn khất sĩ còn chờ đợi gì ở Như lai mà
thầy bảo là Như lai phải để lại di chúc? Chánh pháp đã
được Như lai giảng bày cặn kẽ cho mọi người, có điều
gì mà Như lai còn dấu diếm chưa dạy qúy vị đâu? Ananda,
chỗ nương tựa của giáo đoàn là chánh pháp; các vị đừng
đi tìm một chỗ nương tựa bên ngoài nào khác nữa. Mỗi
người phải lấy chánh pháp làm nơi nương tựa, phải sống
theo chánh pháp; mỗi người phải là một hòn đảo cho chính
mình. Ananda, Bụt, Pháp và Tăng có sẵn trong mỗi người: khả
năng giác ngộ là Bụt, pháp môn tu học là Pháp, những yếu
tố hỗ trợ cho sự tu tập là Tăng. Không ai cướp giật Bụt,
Pháp, và Tăng ra khỏi tự thân quí vị được, dù đất trời
có nghiêng ngã, tự tính Tam Bảo nơi nỗi người vẫn còn
nguyên vẹn. Đó là nơi nương tựa an ổn nhất của mỗi người.
Vị khất sĩ trở về an trú trong chánh niệm, quán chiếu thân
thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng tâm ý, đó là vị
khất sĩ đang làm hòn đảo cho chính mình, đang có nơi nương
tựa vững chãi nhất. Một người khác, dù là giáo chủ, dù
là thượng thủ, dù là thầy mình, cũng vẫn không phải là
chỗ nương tựa vững chãi hơn hòn đảo chánh niệm, hơn tự
tính Tam Bảo sẵn có nơi mỗi người.
Vào
cuối mùa an cư, sức khỏe của Bụt đã được hồi phục.
Một buổi sáng, chú tiểu Cunda, vị thị giả của đại đức
Sariputta tìm tới tịnh thất của đại đức Ananda, chú báo
tin thầy của chú, đại đức Sariputta đã viên tịch tại
Nala, rồi chú trình lên đại đức áo ca sa, bình bát và tro
xương xá lợi của đại đức Sariputta, rồi chú ôm mặt khóc.
Đại đức Ananda cũng òa lên khóc. Cunđa kể là đại đức
Sariputta đã về đến Nala thăm mẹ và đã săn sóc bà cho đến
khi bà lâm chung. Làm lễ trà tỳ mẹ xong, đại đức triệu
tập bà con và dân cư trong vùng lại, giảng giải pháp cho
họ nghe, làm lễ quy y cho họ và dặn dò hành trì theo chánh
pháp, rồi đềm đó đại đức ngồi lại trong tư thế kiết
già và nhập diệt. Trước đó, đại đức đã dặn Cunda rằng
sau khi đại đức tịch thì chú phải đem y bát và xá lợi
của đại đức về trình Bụt và xin Bụt cho đi theo người.
Đại đức có nói là đại đức muốn nhập diệt trước
ngày đức Thế Tôn nhập diệt.
Đại
đức Ananda lau nước mắt đứng dậy và cùng chú tiểu Cunda
đi gặp Bụt, đem theo ca sa, bình bát và xá lợi của đại
đức Sariputta.
Bụt
lặng yên nhìn ca sa, bình bát và xá lợi của vị đại đệ
tử. Người không nói gì trong một lúc lâu, rồi người xoa
đầu chú Cunda.
Đại
đức Ananda lên tiếng:
- Lạy
Bụt, khi con nghe tin sư huynh đã viên tịch, con thấy bủn rủn
cả chân tay và đầu óc con mất hết sáng suốt, con buồn
quá.
Bụt
nhìn đại đức Ananda:
- Này
Ananda, sư huynh của thầy khi nhập diệt có đem đi theo tất
cả giới, định, tuệ và sự giải thoát của thầy đâu?
Đại
đức Ananda trần tình:
- Không
phải như thế, bạch đức Thế Tôn, con nghĩ đến sư huynh
con lúc sống đã phục vụ chánh pháp đắc lực như thế nào,
để nâng đỡ anh em chúng con như thế nào, đã dạy dỗ, hướng
dẫn, khích lệ chúng con như thế nào, bây giờ đây sư huynh
không còn với chúng con nữa, không có hai sư huynh Sariputta
và Moggallana, chúng con thấy giáo đoàn trống trải một cách
lạ kỳ. Các sư huynh không còn đó để hướng dẫn cho chúng
con và chống đỡ cho giáo đoàn, chúng con không cảm thấy
bơ vơ sao được?
Bụt
dạy:
- Ananda,
Như lai đã nhiều phen nhắc thầy rằng có sinh thì có diệt,
có hội ngộ thì có phân ly. Các pháp hữu vi là thế đó,
cho nên ta đừng nên kẹt vào các pháp hữu vi. Hãy vượt thoát
lên khỏi thế giới của sinh diệt và của tụ tán. Ananda,
Sariputta là một cành cây lớn đã làm xong bổn phận nuôi
dưỡng một thân cây hùng mạnh. Cành cây hiện có mặt trong
thân cây. Thân cây ấy là giáo đoàn khất sĩ đang tu tập
theo giáo pháp giác ngộ. Nếu thầy mở mắt ra mà nhìn, thầy
sẽ thấy Sariputta trong thầy, trong Như lai, trong giáo đoàn
khất sĩ, trong những người được Sariputta giáo hóa, trong
chú tiểu Cunda, và thầy sẽ thấy Sariputta một nơi. Đừng
nghĩ là Sariputta không còn nữa, Sariputta đang còn và sẽ còn
mãi với chúng ta.
Ananda,
Sariputta là một vị bồ tát, nghĩa là một người đã giác
ngộ và đã biết đem trí tuệ và tình thương của mình đi
vào cuộc đời để hóa độ cho những người khác, đưa họ
cùng về bến bờ giác ngộ. Trong giáo đoàn khất sĩ, Sariputta
đã từng được ca ngợi như người có trí tuệ lớn, và
vì thế, Sariputta sẽ được các thế hệ tương lai tưởng
niệm tới như một vị bồ tát đại trí.
Ananda,
trong giáo đoàn khất sĩ còn có nhiều vị bồ tát nữa có
mặt trong cuộc đời để hóa độ và những vị này cũng
có hạnh nguyện lớn như Sariputta, khất sĩ Punna, nữ khất
sĩ Yasodhara, nam cư sĩ Sudatta đều là những người có lòng
thương lớn và hạnh nguyện lớn, luôn luôn dấn thân vào
cuộc đời để cứu giúp chúng sanh, không ngại gian khổ và
khó khăn. Dó là những vị bồ tát đại bi. Nữ khất sĩ Yasodhara
và cư sĩ Sudatta đã viên tịch, nhưng đại đức Punna vẫn
còn mãi trong hàng ngũ những vị bồ tát đang tinh tiến và
dũng mãnh trên con đường hóa độ. Nói đến dũng mãnh, Như
lai nhớ tới đại đức Moggallana, đó là một vị bồ tát
đại dũng, chí khí và can trường rất lớn, ít ai bì kịp,
đại đức Mahakassapa với nếp sống đơn giản và lành mạnh
là một vị bồ tát tượng trưng cho hạnh tri túc. Đại đức
Anurudha là một vị bồ tát tượng trưng cho hạnh tinh tiến.
Ananda, nếu các thế hệ tương lai biết học hỏi và tu tập
đạo lý giải thoát, các vị bồ tát như thế sẽ tiếp tục
xuất hiện trong đòi để nối đuốc chánh pháp và soi sáng
cuộc đời. Ananda, tin vào Bụt, tin vào Pháp và tin vào Tăng,
tức là tin tưởng ở tương lai giáo đoàn. Trong tương lai
sẽ tiếp tục có thêm những vị bồ tát mới có tầm vóc
lớn như Sariputta, Moggallana, Punna, Anurudha, Yasodhara, Anathapindika
... Ananda, thầy không nên buồn về việc sư huynh Sariputta viên
tịch.
Trưa
hôm ấy trên bờ sông Ganga, bên thôn Ukkhacela, Bụt trầm tĩnh
báo tin viên tịch của đại đức Sariputta cho đại chúng các
vị khất sĩ, Bụt khuyên đại chúng nên nổ lực để mỗi
người có thể trở nên Sariputta, mỗi người có thể mang
khả năng và đại nguyện của Sariputta trên đường tu tập
và hành hóa, Bụt dạy:
- Này
các vị khất sĩ! Các vị hãy nương tựa vào chính mình, hãy
tự mình làm một hòn đảo cho chính mình, đừng nương tựa
vào gì khác, đừng nương tựa vào ai khác, như vậy các vị
mới không bị đánh chìm bởi những đợt sóng của sầu đau,
của thất vọng, của chới với. Các vị, hãy lấy giáo pháp
làm hòn đảo, làm chỗ nương tựa, và đừng nương tựa vào
gì khác, đừng nương tựa vào ai khác.
Này
các vị khất sĩ! Các vị hãy tự mình thắp đuốc lên mà
đi. Hãy lấy chánh pháp làm đuốc.
Một
buổi sáng, Bụt cùng đại đức Ananda đi vào thành Vesali khất
thực. Sau khi ra thọ trai ở một cụm rừng, Bụt nói:
- Ananda,
chúng ta hãy về đền Capala để nghỉ trưa.
Trên
đường đi, Bụt dừng lại nhiều lần để nhìn phong cảnh
và mây nước, Bụt nói:
- Ananda,
Vesali thật là đẹp, đền Udena cũng đẹp. Các ngôi đền
khác trong vùng như Gotamaka, Sattanbaka và Bahuputta cũng đều
là những ngôi đền đẹp. Đền Capala mà ta sắp đến để
nghỉ ngơi cũng dễ thương lắm.
Sau
khi sắp đặt chỗ nghỉ cho Bụt, đại đức Ananda đi ra phía
ngoài để thiền hành. Trong khi đi thiền hành, đại đức
thấy đại địa rung động dữ dội và tâm thần của thầy
cũng bị chấn động theo. Đại đức tìm về đền Capala và
thấy Bụ