Chương
71
NGHỆ
THUẬT LÊN DÂY ĐÀN
Mùa
an cư hoàn mãn, Bụt lên đường về miền Nam. Người ghé
thăm vườn Nai Migaradava ở Isipatana, phía Bắc thành phố Baranasi,
nơi người đã nói pháp thoại Tứ Diệu Đế, pháp thoại
đầu tiên của người. Quang cảnh ở đây đã đổi khác.
Một cái tháp lớn đã được dân chúng địa phương dựng
lên để kỷ niệm lần đầu tiên bánh xe chánh pháp được
chuyển xoay. Mới đó mà ba mươi sáu năm đã đi qua, bánh xe
chánh pháp đã được chuyển xoay liên tục trong mươi sáu
năm và chánh pháp đã được lan truyền đến mọi nơi, trên
khắp lưu vực sông Hằng. Tại vườn Nai, một giảng đường
đã được tạo lập và các vị khất sĩ cư trú tu học rất
là đông đảo. Sau khi thăm hỏi, thuyết pháp và khích lệ
đại chúng, Bụt lên đường đi Gaya. Người ghé Uruvela thăm
cây bồ đề năm xưa. Cây bồ đè càng ngày càng xanh tốt.
Nhiều chiếc tịnh thất đã được dựng lên trong vùng. Vua
Bimbisara đang chuẩn bị cho xây một ngôi tháp kỷ niệm nơi
Bụt thành đạo. Bụt ghé vào thôn xóm để chơi với bọn
trẻ con. Những đứa trẻ năm nay không khác gì những đứa
trẻ năm xưa. Chú bé chăn trâu Svastika năm xưa nay đã bốn
mươi bảy tuổi rồi và đã trở nên một vị lớn trong giới
khất sĩ. Bọn trẻ đi hái những trái đu đủ chín đỏ để
cúng dường Bụt, đứa nào cũng biết đọc bài tam quy.
Từ
Gaya, Bụt đi dần lên phía Đông Bắc để về Rajagaha. Về
tới thủ đô, Bụt đi thẳng lên núi Linh Thứu.
Tại
đây, Bụt gặp đại đức Punna. Thấy Bụt, đại đức rất
mừng. Thầy kể cho Bụt nghe về công trình hoằng pháp của
thầy tại đảo Sunaparanta. Thầy vừa mới kết thúc một mùa
an cư tại đó với một số các vị khất sĩ bạn. Số người
quy y Bụt, Pháp và Tăng ở đảo đã lên tới con số năm trăm.
Những
ngày kế tiếp, Bụt đi thăm các trung tâm tu học rải rác
trong vùng. Một đêm kia, tĩnh tọa trong tịnh thất tại trung
tâm vườn Mát. Bụt thoáng nghe được giọng tụng kinh hơi
bất thường của một vị khất sĩ. Giọng tụng kinh này có
vẻ mệt mỏi và buồn chán. Bụt biết vị khất sĩ này đang
gặp khó khăn.
Sáng
hôm sau, nhờ hỏi đại đức Ananda, Bụt biết vị khất sĩ
tụng kinh hồi hôm là Sona. Bụt đã từng biết Sona nhiều
năm về trước tại Savatthi.
Đại
đức Kulikanna đã được xuất gia dưới sự hướng dẫn của
đại đức Maha Kaccana, và tu học với đại đức này mấy
năm trên núi Pavatta ở xứ Kururaghara. Sona là một thanh niên
con nhà giàu, nho nhã thông minh, nhưng thể chất không được
cứng cát cho lắm. Thầy phải cố gắng hết sức mới sống
được đời sống xuất gia không nhà không cửa, ăn một một
ngày một bữa và ngủ dưới gốc cây, nhưng đạo tâm của
Sona rất lớn. Năm sau, thầy Sona mới được đại đức bổn
sư phái về Savatthi thăm Bụt.
Được
gặp Bụt lần đầu, thầy Sona rất sung sướng, Bụt hỏi
thăm thầy:
- Sona,
thầy có mạnh giỏi không? Tu học, khất thực và hành hóa
có khó khăn lắm không?
- Bạch
Thế Tôn, con hạnh phúc lắm. Công việc tu học, khất thực
và hành hóa của con không có gì khó khăn.
Bụt
bảo thầy Ananda:
- Thầy
dọn cho khất sĩ Sona một chỗ nghỉ ngơi trong tịnh thất.
Đại
đức Ananda kê thêm một cái giường trong tịnh xá Bụt. Đêm
ấy, Bụt ngồi thiền ngoài trời cho tới ba giờ sáng. Sona
thấy thế cũng không ngủ. Khi Bụt bước vào, người hỏi:
- Thầy
chưa ngủ sao?
- Bạch
Thế Tôn, con chưa ngủ.
- Thầy
chưa buồn ngủ sao? Vậy thì thầy có thuộc được kinh kệ
gì, đọc lên cho vui đi.
Đại
đức Sona vâng lời đọc lên mười sáu câu kệ thuộc phép
quán niệm hơi thở. Giọng thầy trong như chuông, không vấp
váp, không có một lỗi văn phạm. Bụt khen:
- Thầy
đọc hay lắm, thầy tu đã được mấy năm rồi?
-Bạch
Thế Tôn, con mới đi tu được có hơn một năm thôi. Con chỉ
mới có một tuổi an cư.
Đó
là lần đầu Bụt gặp thầy Sona. Đêm qua nghe tiếng tụng
kinh của thầy. Bụt biết là Sona đã cố gắng quá sức mình
trong nổ lực tu học. Người bảo Ananda cùng đi với người
tới tịnh thất của thầy Sona. Thấy Bụt, Sona đứng dậy
chào mừng. Bụt bảo Ananda và Sona ngồi xuống cạnh Bụt,
rồi người hỏi Sona:
- Ngày
trước, hồi chưa xuất gia, thầy là nhạc sĩ chuyên về đàn
mười sáu dây, phải không?
- Bạch
Thế Tôn, phải.
- Khi
đánh đàn, nếu dây đàn chùng thì sao?
- Bạch
Thế Tôn, nếu dây đàn chùng thì tiếng đàn chưa đúng mức.
- Còn
nếu dây quá căng.
-Bạch
Thế Tôn, nếu dây đàn quá căng thì tiếng đàn biến thể
và dây đàn có thể đứt.
- Còn
nếu dây đàn được lên vừa phải?
- Bạch
Thế Tôn, nếu dây đàn được lên vừa phải thì bản nhạc
sẽ hay.
- Đúng
như vậy đó, Sona! Giải đãi và lười biếng thì đạo nghiệp
không thành, mà cố gắng quá sức mình thì sẽ đưa tới sự
mệt mỏi và thối chí. Sona! Thầy phải biết lượng sức
mình, đừng ép uổng thân và tâm quá mức, như vậy thầy
mới mong thành tựu được đạo nghiệp.
Đại
đức Sona đứng dậy lạy xuống để cảm tạ Bụt.
Một
buổi chiều, y sĩ Jivaka, lên núi Linh Thứu thăm Bụt. Tới
chân núi, ông gặp Bụt, Bụt mới ở tu viện Trúc Lâm về.
Ông chào Bụt và xin phép được đi theo người lên núi.
Jivaka
nhìn Bụt leo các bậc thang đá lên núi mà trong bụng khen thầm
Năm nay Bụt đã bảy mươi hai tuổi rồi mà người còn cứng
cát và mạnh khỏe quá, Bụt leo núi một cách thong thả và
ung dung, một tay cầm bát, một tay cầm chéo áo. Đại đức
Ananda đi cạnh Bụt không thể cầm bát thay cho Bụt được,
bởi vì một tay thầy cũng cầm bát và một tay thầy cũng
cầm chéo áo. Jivaka tiến lên và xin mang bình bát hầu Bụt.
Bụt trao bình bát cho ông và mỉm cười:
- Như
lai đã leo núi này có cả mấy ngàn lần, lần nào cũng tự
cầm lấy bát, thì đã có sao đâu.
Bậc
đá được xây lên tận thềm tịnh xá của Bụt ở trên đỉnh
đồi. Chính vua Bimbisara đã ra lệnh xây mấy trăm bậc đá
này để cúng dường. Lên tới sân tịnh xá, y sĩ được Bụt
mời ngồi trên một tảng đá. Ông cám ơn Bụt rồi hỏi thăm
Bụt về tình hình sức khỏe và công việc hoằng hóa của
người ở các nước. Ông nhìn đại đức Ananda rồi nhìn
Bụt. Ông nói:
- Bạch
Thế Tôn, con xin phép nói sơ lược về tình trạng giáo đoàn
ở đây. Con thấy tình trạng giáo đoàn có liên hệ tới tình
trạng chính trị. Con nghĩ Thế Tôn cần phải được thông
báo về tình hình này.
Rồi
y sĩ cho Bụt biết rằng đại đức Devadatta có vây cánh khá
mạnh mẽ và đông đảo trong giới các vị khất sĩ cũng như
trong giới chính trị. Cánh tay trái của đại đức là đại
đức Kokalika, một người được xem như là mưu sĩ của đại
đức Devadatta. Ngoài ra còn có các đại đức Kotamoraka Tissa,
Khandadeviputta và đại đức Samuddadatta; vị nào cũng có đông
đảo đệ tử. Đại đức Devadatta rất thông minh mà cũng
rất hùng biện cho nên được rất đông người nghe theo, trong
giới khất sĩ cũng như trong giới cư sĩ. Đại đức không
chính thức nói ra là đại đức chống đối Bụt và các vị
đại đệ tử phụ tá người, nhưng đại đức đã nhiều
lần đưa ra ý kiến là Bụt đã lớn tuổi, không đủ sức
để lãnh đạo giáo đoàn, và cách thức của Bụt đã hơi
xưa không thích hợp với giới trẻ và với thời đại mới.
Đứng về phương diện xã hội, đại đức rất được nhiều
giới giàu có ủng hộ. Người ủng hộ đại đức tận tình
nhất là là hoàng thái tử Ajatasattu. Không biết đại đức
khéo léo thế nào mà thái tử Ajatasattu đã ủng hộ đại
đức một cách tận tình. Hoàng thượng Bimbisara tin kính Bụt
như thế nào thì Ajatasattu tin kính đại đức Devadatta như
thế ấy. Thái tử đã xây cất cho đại đức một trung tâm
tu học lớn trên núi Gayasisa, nơi ngày xưa Bụt đã nói Kinh
Lửa cho ba anh em đại đức Uruvela Kassapa và cả gần một
ngàn vị môn đệ của họ. Thái tử cho chở tới trung tâm
các thức cúng dường, chở bằng xe ngựa, ba bốn hôm một
lần. Giới thương gia và chính trị gia muốn được lòng thái
tử cũng bắt chước đi lại Gayasisa để cúng dường và nghe
pháp. Với sự ủng hộ đó, uy tín của đại đức càng lúc
càng lên. Số các vị khất sĩ theo hùa về đại đức đã
có đến ba hoặc bốn trăm vị.
Nói
tới đây, y sĩ lại nhìn Bụt và xuống giọng:
- Bạch
Thế Tôn, con nghĩ rằng những gì xảy ra đó không đủ để
làm Thế Tôn e ngại, nhưng điều này con xin Thế Tôn lưu ý
cho con, con nghe phong phanh là Ajatasattu muốn sớm làm vua để
thi hành được những gì mà thái tử muốn, Ajatasattu nóng
ruột thấy vua cha ngồi ở trên ngôi lâu quá; cũng như đại
đức Devadatta nóng ruột thấy Bụt chưa giao quyền lãnh đạo
giáo đoàn cho đại đức. Con nghĩ rằng chính đại đức Devadatta
đã gieo những ý tưởng nguy hiểm vào đầu thái tử Ajatasattu,
Thế Tôn, vì phải lui tới kinh đô để chữa trị cho hoàng
thưọng và hoàng gia, con đã cảm thấy các nguy cơ này. Nếu
vạn nhất có chuyện gì xảy ra, Bụt và giáo đoàn thế nào
cũng bị liên lụy. Xin Thế Tôn lưu ý.
Bụt
nói:
- Jivaka,
cám ơn ông đã cho Như lai biết tình hình. Biết được những
gì đang xảy ra, đó là điều quan trọng, nhưng ông đừng
quá lo lắng, Như lai sẽ sắp đặt để giáo đoàn đừng bị
vương vấn vào những chuyện không may.
Y sĩ
Jivaka lạy Bụt, cáo từ và xuống núi.
Bụt
dặn thầy Ananda đừng tiết lộ những gì y sĩ nói cho ai biết.
Mươi
hôm sau, trong một buổi pháp thoại lớn tổ chức hàng tháng
tại tu viện Trúc Lâm, Bụt giảng về ngũ lực, tức năm loại
năng lực cần thiết để nuôi dưỡng hoa trái giác ngộ, Ngũ
lực là niềm tin (tín), sự chuyên cần (tấn), chánh niệm
(niệm), sự chuyên tinh (định), và sự hiểu biết (tuệ).
Buổi
pháp thoại rất đông đảo, có trên ba ngàn người tham dự,
trong đó có cả quốc vương Bimbisara. Pháp thoại vừa chấm
dứt, mọi người chưa có cơ hội để hỏi Bụt những điểm
họ chưa thấu triệt thì đại đức Devadatta đã đứng dậy.
Đại đức bước lên, chắp tay cung kính làm lễ Bụt, rồi
bạch:
- Thế
Tôn, năm nay tuổi Thế Tôn đã cao, sức khỏe Thế Tôn đã
kém, Thế Tôn cần được nghỉ ngơi an tĩnh để bớt đi những
khó nhọc trong những năm chót còn lại trên đời. Công việc
lãnh đạo giáo đoàn đã trở nên quá nặng nhọc đối với
Thế Tôn. Xin Thế Tôn rút về tịnh xá an nghỉ. Con sẽ xin
thay mặt người mà lãnh đạo giáo đoàn khất sĩ.
Bụt
nhìn Devađatta, người trả lời:
-Devadatta,
cám ơn thầy đã lo lắng cho Như lai, nhưng Như lai vẫn còn
đủ sức để lãnh đạo giáo đoàn khất sĩ.
Đại
đức quay lại nhìn đại chúng. Có khoảng ba trăm vị khất
sĩ đứng dậy và chắp tay. Đại đức nói:
- Ở
đây có nhiều vị cũng nhận thấy như con. Xin Thế Tôn đừng
e ngại, con đủ sức lãnh đạo giáo đoàn để đỡ mệt cho
người.
Bụt
nói:
-
Thôi, Devadatta, đừng nên nói nữa. Trong số các đệ tử lớn
của ta có những vị xuất sắc và xứng đáng hơn thầy nhiều
mà ta cũng chưa giao cho họ trách nhiệm lãnh đạo giáo đoàn
khất sĩ, huống hồ là giao cho thầy. Thầy chưa có đủ tư
cách lãnh đạo giáo đoàn khất sĩ đâu.
Bị
Bụt chê giữa đám đông người, trong đó có cả vua Bimbisara,
đại đức Devadatta lấy làm xấu hổ, mặt thầy đỏ lên
vì giận. Thầy đi xuống, không nói thêm một lời nào nữa.
Ngày
hôm sau, tại tịnh thất trên núi Linh Thứu, đại đức Ananda
tâm tình với Bụt:
- Thế
Tôn, con rất đau khổ vì anh ruột của con là đại đức Devadatta,
Thế Tôn đã chê anh ấy trước đám đông, anh ấy sẽ tìm
mọi cách để trả thù, con nghĩ là sẽ có chia rẽ trầm trọng
trong giáo đoàn, nếu Thế Tôn thấy con cần đi nói chuyện
riêng với anh ấy để khuyên nhủ thì con xin đi.
- Ananda,
sở dĩ Như lai phải nói nặng với Devadatta ngay giữa đám
đông và trước mặt quốc vương là vì Như lai có ý muốn
cho mọi người thấy rằng Devadatta không phải là người chủ
chốt trong giáo đoàn, và những hành vi của Devadatta sau này
chỉ có một mình Devadatta chịu trách nhiệm, chúng ta không
phải gánh chịu trách nhiệm ấy. Ananda, nếu thầy thấy nói
chuyện với Devadatta có thể làm cho Devadatta hồi tâm thì thầy
cũng nên đi gặp Devadatta.
Mấy
hôm sau đó, y sĩ Jivaka lại lên thăm Bụt. Ông trình với Bụt
rằng ông biết Devadatta đang chuẩn bị một kế hoạc nào
đó để tách rời khỏi giáo đoàn, nhưng ông không biết rõ
được kế hoạch đó là kế hoạch gì.
Chương
72
CHỐNG
ĐỐI IM LẶNG
Thấm
thoát mà đã đến ngày Bụt nói pháp thoại tại Trúc Lâm.
Kỳ nào quần chúng cũng đi thật đông, có mặt tại buổi
pháp thoại cũng có quốc vương Bimbisara, và có cả hoàng thái
tử Ajatasattu nữa. Đại đức Ananda để ý thì thấy các vị
khất sĩ các nơi về đông lắm, đông gấp hai kỳ trước.
Đại đức Devadatta cũng có mặt ở hàng đầu các vị khất
sĩ. Đại đức ngồi giữa hai vị Sariputta và Mahakassapa.
Cũng
như lần trước, sau khi Bụt thuyết pháp xong, đại đức Devadatta
đứng dậy, tiến lên, chắp tay lễ Bụt và nói:
- Thế
Tôn, người đã dạy các vị khất sĩ nên sống theo các nguyên
tắc thiểu dục và tri túc, bỏ dần các ham muốn và sống
thật đơn giản với những điều kiện vật chất tối thiểu.
Con xin đề nghị một quy chế năm điểm để thực hiện các
nguyên tắc thiểu dục và tri túc đó:
- Điểm
thứ nhất, các vị khất sĩ chỉ ở suốt đời trong rừng
hoặc trong vườn cây mà không được về ngủ ở ngoài thành
phố hay trong thôn xóm.
- Điểm
thứ hai, các vị khất sĩ chỉ đi khất thực suốt đời mà
không được đáp lời mời của giới cư sĩ tới thọ trai
ở nhà họ.
- Điểm
thứ ba, các vị khất sĩ chỉ có quyền lượm giẻ rách và
những mảnh vải vụn để may lại thành y chứ không được
nhận y do giới cư sĩ cúng dường.
- Điểm
thứ tư, các vị khất sĩ chỉ được ngủ dưới gốc cây
mà không được ngủ trong phòng ốc.
- Điểm
thứ năm, các vị khất sĩ chỉ được phép ăn chay, không
được động tới thịt cá.
Thế
Tôn, nếu giáo đoàn khất sĩ theo đúng năm điểm này thì
chắc chắn các nguyên tắc thiểu dục và tri túc mới được
thực hiện nghiêm chỉnh.
Bụt
nói:
- Devadatta,
Như lai không chấp nhận sự bắt buộc phải làm theo năm điểm
ấy. Vị khất sĩ nào muốn chỉ cư trú trong chốn viên lâm
thì được phép chỉ cư trú trong chốn viên lâm, nhưng những
vị khác có thể ở tu viện, tịnh xá, và tạm trú tại thành
phố hay thôn lạc khi cần thiết. Vị khất sĩ nào muốn chỉ
khất thực mà không muốn đến nhà đàn việt thọ trai thì
được phép chỉ đi khất thực, nhưng những vị khác có thể
đáp lời mời của giới cư sĩ tới nhà thọ trai và thuyết
pháp. Vị khất sĩ nào muốn chỉ lượm giẻ và vải vụn
để may thành y thì được phép chỉ lượm giẻ và vải vụn
để may thành y, nhưng những vị khác có thể thọ nhận của
giới đàn việt cúng dường, với điều kiện là không có
quá ba y. Vị khất sĩ nào chỉ muốn ngủ dưói gốc cây thì
được phép chỉ ngủ dưới gốc cây, nhưng những vị khác
có thể ngủ trong tăng xá, tịnh xá, và ngủ tạm tại nhà
cửa ở thành phố hay thôn lạc khi cần thiết. Vị nào muốn
chỉ ăn chay, thì được phép chỉ ăn chay, nhưng những vị
khác có thể tạm thọ nhận thức cúng dường mà đàn việt
đã làm sẵn, trong đó có ngũ tịnh nhục, nghĩa là những
vị đàn việt này đã không vì các vị khất sĩ mà sát sinh.
Devadatta theo pháp chế hiện thời, các vị khất sĩ có đủ
cơ hội để tiếp xúc và hướng dẫn người cư sĩ, nhất
là những người mới có duyên tiếp xúc lần đầu với đạo
giác ngộ.
Đại
đức Dvadatta thưa:
- Như
vậy là Thế Tôn không chấp nhận pháp chế năm điểm.
- Không,
Devadatta, Như lai không chấp nhận pháp chế của thầy đề
nghị.
Devadatta
cúi chào Bụt và trở về chỗ ngồi, miệng mỉm cười, không
có vẻ gì thất vọng.
Tối
hôm ấy, Bụt nghỉ lại tịnh xá ở tu viện Trúc lâm. Người
nói với đại đức Ananda:
- Ananda,
Như lai biết tâm trạng của Devadatta, Như lai nghĩ là sẽ có
chia rẽ trầm trọng trong giáo đoàn khất sĩ.
Một
hôm đi khất thực trong thành phố Rajagaha, đại đức Ananda
gặp đại đức Devadatta. Hai người dừng lại bên đường
để nói chuyện. Đại đức Devadatta cho đại đức Ananda biết
là từ nay trở đi, đại đức sẽ tổ chức những lễ tụng
giới, bố tát, tự tứ và an cư riêng trong giới các vị đệ
tử và thân hữu khất sĩ của đại đức, không còn làm chung
với giáo đoàn khất sĩ do Bụt lãnh đạo như trước. Buồn
bã, đại đức Ananda về bạch lại với Bụt.
Lễ
bố tát thường được thực hiện tại tu viện Trúc lâm.
Đại đức Ananda nhận thấy kỳ bố tát này có hàng trăm
vị khất sĩ vắng mặt. Số lượng các vị này ít nhất là
ba trăm. Chắc hẳn là họ đi dự lễ bố tát trên tu viện
Tượng Đầu do đại đức Devadatta tổ chức.
Lễ
bố tát và tụng giới cử hành xong, một số các vị khất
sĩ tìm tới tịnh xá gặp Bụt. Họ nói:
- Thế
Tôn, những người bên phía đại đức Devadatta đã đến với
chúng con. Họ nói rằng chúng con nên theo về giáo đoàn do
sư huynh Devadatta lãnh đạo, bởi vì bên ấy pháp chế nghiêm
chỉnh hơn pháp chế của Thế Tôn nhiều. Họ đưa ra pháp
chế năm điểm, pháp chế mà Thế Tôn không chấp nhận trong
kỳ pháp thoại vừa rồi. Họ nói: tu hành như bên Trúc Lân
thì sướng quá, có khác gì người không tu đâu. Bụt dạy
pháp thiểu dục và tri túc nhưng không chấp nhận pháp chế
năm điểm để thực hành cho đúng mức những phép ấy, như
vậy là mâu thuẫn. Thế Tôn, chúng con đã không nghe lời sư
huynh Devadatta. Chúng có đức tin nơi Bụt, nơi trí tuệ và
sự xét đoán của người, nhưng có rất nhiều vị khất sĩ
trẻ, chưa có kinh nghiệm, nhất là những vị xuất thân từ
Vajji do đại đức Devadatta thế độ, những vị này thấy
pháp chế năm điểm khổ hạnh rất là hấp dẫn và đã đi
theo về bên ấy. Chúng con xin tin để Thế Tôn biết.
Bụt
dạy:
- Xin
các thầy đừng lo lắng quá về vụ này. Điều quan trọng
nhất là tự mình, mình phải tu học và sống đời phạm hạnh
cho xứng đáng.
Mấy
hôm sau, y sĩ Jivaka lên thăm Bụt ở trên núi Linh Thứu, y sĩ
cho Bụt biết là trên năm trăm vị khất sĩ đã theo về phía
đại đức Devadatta. Devadatta đã đưa tất cả về trung tâm
Tượng Đầu ở Gayasisa, và lập đại bản doanh của giáo
đoàn độc lập ở đấy. Y sĩ cũng cho Bụt biết là một
cuộc vận động khác cũng đang âm thầm diễn biến trong lãnh
vực chánh trị, trong đó đại đức Devadatta có dính líu quan
trọng, và ông đề nghị với Bụt nên chính thức tuyên bố
khai trừ đại đức Devadatta ra khỏi giáo đoàn khất sĩ.
Tin
đại đức Devadatta lập giáo đoàn riêng làm chấn động hết
mọi giới. Đi đâu các vị khất sĩ cũng bị quần chúng chất
vấn. Tất cả các thầy đều được đại đức Sariputta dặn
là chỉ nên trả lời như sau: “Những ai gây nhân xấu sẽ
gặt quả xấu, chia rẽ giáo đoàn là một trọng tội đối
với đạo pháp”.
Một
hôm, nói chuyện với các vị khất sĩ, Bụt nhắc lại lời
của y sĩ Jivaka là phải lên tiếng về vụ đại đức Devadatta,
phải tuyên bố rằng mình không chịu trách nhiệm gì về hành
động của Devadatta, và Devadatta không còn giữ một chức vụ
gì trong giáo đoàn của Bụt. Đại đức Sariputta ngẫm nghĩ
hồi lâu rồi bạch với Bụt:
- Thế
Tôn, ngày xưa chúng con đã từng tán thán tài đức của sư
huynh Devadatta trước mặt mọi người, bây giờ nếu chính
chúng con lại đi tố giác sư huynh của chúng con thì chướng
lắm, ngó sao được?
Bụt
nói:
- Sariputta,
ngày xưa tán thán tài đức của Devadatta trước đám đông,
thầy có nói sự thật không?
- Bạch
Thế Tôn, ngày xưa tán thán tài đức của Devadatta, con đã
nói sự thật.
- Vậy
bây giờ nếu tố giác Devadatta thầy có nói sự thật không?
Bạch
Thế Tôn, nếu bây giờ đi tố giác sư huynh Devadatta, con cũng
sẽ nói sự thật.
Bụt
dạy:
- Vậy
thì có gì là chướng ngại đâu? Vấn đề là nói ra sự thật
mà thôi.
Những
ngày sau đó, trong dịp tiếp xúc với quần chúng, các vị
khất sĩ báo tin cho thiên hạ biết là đại đức Devadatta
đã bị khai trừ ra khỏi giáo hội. Các vị khất sĩ cũng
nói thêm: từ nay Bụt và giáo đoàn không còn chịu trách nhiêm
gì về hành động của đại đức Devadatta nữa.
Trong
khi đó hai đại đức Sariputta và Moggallana vẫn luôn luôn giữ
im lặng. Họ không mở miệng để nói bất cứ một lời nào,
dù được quần chúng hỏi. Thấy thái độ ấy, đại đức
Ananda hỏi:
- Các
sư huynh không nói gì hết, có lẽ các sư huynh đã có chủ
ý?
- Sư
huynh Ananda, đúng như vậy. Chúng tôi có chủ ý, chúng tôi
sẽ phụng sự Bụt và giáo đoàn bằng những phương tiện
khác.
Trong
giới quần chúng, có những người xì xào bàn tán cho rằng
các vị khất sĩ tố cáo giáo đoàn độc lập vì thù ghét
và ganh tị, nhưng cũng có những người nghĩ rằng có những
lý do sâu kín bên trong mà họ chưa thấy được, những người
này vẫn có đức tin vững chải nơi Bụt và giáo đoàn.
Một
buổi sáng trong lúc trời còn mưa gió nặng nề, dân chúng
ở thủ đô được tin là hoàng thượng Bimbisara thoái vị
và nhường ngôi cho con là hoàng thái tử Ajatasattu. Lễ đăng
quang của thái tử sẽ được tổ chức trong vòng mười hôm
vào ngày trăng tròn sắp tới. Tin này Bụt không được nghe
trực tiếp tù quốc vương Bimbisara mà đã nghe qua các vị
khất sĩ. Từ trước đến nay, chưa bao giờ vua Bimbisara lấy
một quyết định quan trọng như thế mà không trực tiếp
báo tin cho Bụt.
Mấy
hôm sau, Jivaka lên hầu Bụt, và xin phép được nói chuyện
riêng với người. Bụt mời ông đi thiền hành với Bụt trên
sườn núi. Hai thầy trò im lặng đi và thở. Đến cuối thiền
lộ, Bụt chỉ một phiến đá mời Jivaka ngồi, người cũng
ngồi xuống một phiến đá khác.
Jivaka
cho Bụt biết là hoàng thái tử Ajatasattu đã ra lệnh nhốt
vua Bimbisara trong cung cấm và không cho ai ra vào thăm hỏi, trừ
hoàng hậu Videhi. Hoàng thái tử cũng bắt giam hai vị đại
thần thân tín nhất của vua, vì sợ những người này âm
mưu cản trở việc lên ngôi của hoàng thái tử. Ban đầu
thì thái tử cấm không cho hai người này vào thăm vua, nhưng
sau đó vì chưa yên tâm nên thái tử bắt giữ luôn họ, Gia
đình các vị này được thông báo là các vị sự lưu lại
ăn ngủ trong cung để luận bàn chánh sự trong vòng bảy hôm.
Sự thật thì họ đang bị nhốt trong cung cấm, mỗi người
một phòng riêng.
Y sĩ
Jivaka cho Bụt biết là những chuyện trên hoàn toàn được
giữ bí mật. Sở dĩ ông được biết là vì ông đã có cơ
hội tới chữa trị cho hoàng hậu Videhi. Hoàng hậu đã thuật
hết sự thật cho ông và nhờ ông lên núi bạch với Bụt
tất cả tự sự.
Jivaka
kể cho Bụt nghe chi tiết của tất cả những gì đã xảy
ra. Một hôm, cách đây gần cả tháng, ngự lâm quân thấy
thái tử đột nhập vào cung vua trong đêm khuya. Thấy dáng
dấp thái tử có vẻ khả nghi, ngự lâm quân đã chận thái
tử lại để lục soát, và tìm thấy một thanh gươm dấu
trong áo của thái tử.
Họ
đưa thái tử vào gặp vua, trình lên vua thanh gươm và kể
lại tự sự. Vua hỏi:
- Ajatasattu,
ban đêm con mang gươm vào cung để làm gì?
- Tâu
phụ vương, con muốn hành thích phụ vương.
- Tại
sao con lại muốn giết ta?
- Tâu
phụ vương, con muốn làm vua.
- Làm
vua thì làm vua, tại sao lại phải giết cha? Nếu con muốn
làm vua, con chỉ cần nói lên một tiếng là ta thoái vị lập
tức, và con có thể làm vua ngay.
- Tâu
phụ vương, con không biết như vậy. Con đã lỡ lầm xin phụ
vương tha tội cho con.
- Ai
xúi giục con làm chuyện này?
Thái
tử Ajatasattu im lặng. Vua gạn hỏi một hồi thì thái tử
tiết lộ là đại đức Devadatta.
Vua
cho gọi hai vị đại thần thân tín của vua vào cung, ngay lúc
nữa đêm. Vua thuật lại cho họ nghe và hỏi ý kiến của
họ. Một vị nói rằng tội ám sát vua là tội xử trảm,
và đề nghị đem chém đầu các tội phạm trong đó có thái
tử Ajatasattu, khất sĩ Devadatta và tất cả các vị khất sĩ
liên hệ.
- Trẫm
không muốn giết Ajatasattu, vì nó là con trẫm, trẫm cũng không
muốn giết các vị khất sĩ, bởi vì các vị khất sĩ đã
từng tuyên bố là họ không chịu trách nhiệm về hành động
của Devadatta. Trẫm thấy trong vụ này Bụt là người sáng
suốt nhất. Người đã tiên đoán được những gì sẽ xảy
ra cho nên người đã cho công bố không chịu trách nhiệm về
Devadatta. Trẫm cũng không muốn giết Devadatta, vì dù sao Devadatta
cũng là một vị khất sĩ nổi tiếng và lại là em chú bác
của Bụt.
Vị
đại thần thứ hai lên tiếng:
- Lòng
từ bi của bệ hạ thật không có ai sánh bằng. Bệ hạ thật
xứng đáng là học trò của đức Thế Tôn. Vậy bệ hạ định
thu xếp như thế nào?
Vua
nói:
Ngày
mai, trẫm sẽ hạ chiếu cho bàn dân thiên hạ biết là trẫm
thoái vị, và nhường ngôi cho con trẫm là Ajatasattu. Mười
hôm sau, thái tử sẽ làm lễ đăng quang.
- Vậy
còn tội mưu sát?
- Trẫm
tha thứ cho con trẫm và cho khất sĩ Devadatta. Mong rằng hai
người thấy được tấm lòng của trẫm mà học được chút
gì từ đức độ của trẫm.
Hai
vị đại thần lạy xuống. Thái tử Ajatasattu cũng lạy xuống.
Vua dặn các quan giữ nội vụ thật bí mật và thi hành ngay
những quyết định của vua bắt đầu từ giờ phút ấy.
Ngay
sau khi chiếu chỉ thoái vị của vua được ban hành, đại
đức Devadatta đã về ngay kinh đô để hội kiến với thái
tử. Thái tử có nói với hoàng hậu Videhi là đại đức Devadatta
đã được thái tử mời về để bàn luận về lễ đăng
quang của thái tử, nhưng hoàng hậu cho biết là chỉ hai hôm
sau cuộc đàm luận đó, thái tử ra lệnh cô lập vua trong
cung cấm và bắt giữ luôn hai vị đại thần.
Y sĩ
Jivaka nói:
- Lạy
Bụt, con mong là sau lễ đăng quang, Ajatasattu sẽ trả tự do
cho thượng hoàng và cho hai vị đại thần bị giam giữ.
Trình
xong mọi việc, Jivaka lạy Bụt và xuống núi.
Ngày
mai lại, Bụt tiếp sứ giả của triều đình mời Bụt và
các vị khất sĩ tới dự lễ đăng quang của thái tử. Chính
quân đội đi tổ chức kết nghinh môn và treo cờ đèn ở
khắp nơi trên thủ đô, Bụt được cho biết là đại đức
Devadatta và trên sáu trăm vị khất sĩ theo thầy đều đã
có mặt tại thủ đô để tham dự lễ đăng quang này.
Bụt
cho gọi đại đức Sariputta, người nói:
- Này
Sariputta, Như lai sẽ không về kinh dự lễ đăng quang và Như
lai mong rằng tất cả các vị khất sĩ của giáo đoàn cũng
không nên về kinh dự lễ. Chúng ta không nên can dự vào công
việc ác đức này.
Đại
đức Sariputta nói:
- Lạy
Bụt, con hiểu. Con sẽ thông bạch với đại chúng là Thế
Tôn sẽ không về dự lễ đăng quang và Thế Tôn muốn các
vị khất sĩ trong giáo đoàn cũng không về dự lễ này.
Và
đại đức rút lui.
Ngày
lễ đăng quang của vua mới đã tới. Không thấy Bụt và các
vị khất sĩ trong giáo đoàn do người lãnh đạo, quần chúng
bắt đầu đặt câu hỏi, và từ câu hỏi, họ tìm ra được
sụ thật. Họ biết thượng hoàng và hai vị đại thần đang
bị giam giữ. Họ biết được là sau lễ đăng quang, vua mới
cũng không trả tự do cho thượng hoàng và hai vị đại thần
này. Họ bắt đầu hiểu được ý Bụt. Trong quần chúng,
nổi lên một phong trào âm thầm chống đối đường lối
thiếu nhân nghĩa của triều đình mới. Quần chúng bắt đầu
phân biệt được sự khác nhau giữa giáo đoàn của Bụt và
giáo đoàn của đại đức Devadatta. Devadatta đã bắt đầu
tự xưng là một vị giáo chủ. Nhiều giới đàn việt, trước
khi cúng dường cơm vào bát vị khất sĩ, đã hỏi thăm là
vị khất sĩ thuộc về giáo đoàn nào, và họ từ chối không
cúng dường cho những vị khất sĩ thuộc giáo đoàn độc
lập. Thái độ của họ là để đối kháng lại sự phản
bội của Devadatta cũng như của ông vua mới.
Vua
Ajatasattu được báo cáo về phong trào chống đối âm thầm
này. Vua rất giận, nhưng vua không thể dùng quyền lực để
bắt giam Bụt hoặc đàn áp các vị khất sĩ trong giáo đoàn.
Vua biết nếu vua động đến Bụt và giáo đoàn một cách
trực tiếp thì không những vua sẽ bị dân chúng trong nước
chống đối mà con có thể bị cô lập ngoại giao đối với
các nước lân bang nữa. Vua biết rõ là Bụt rất được ngưỡng
mộ ở các nước lân bang nữa. Vua biết rõ Bụt rất được
ngưỡng mộ ở các nước này, nhất là ở vương quốc Kosala.
Quốc vương Pasenadi có thể đem quan sang chinh phạt nếu ngài
nghe vua động tới Bụt. Vua triệu đại đức Devadatta vào
cung điện để vấn kế.
Chương
73
NHỮNG
VẮT CƠM DẤU TRONG MÁI TÓC
Một
đêm nọ trong khi đang tọa thiền ngoài sân tịnh thất trên
núi Linh Thứu. Bụt mở mắt và thấy có người đứng lấp
ló sau cây đại thọ, Bụt lên tiếng mời người ấy đến.
Dưới ánh trăng vằng vặc, người ấy đặt gươm xuống sân
đất và quỳ xuống lạy Bụt như tế sao. Bụt hỏi:
- Ông
là ai, đến đây để làm gì?
- Con
xin lạy sa môn Gotama! Con xin lạy sa môn Gotama! Con vâng lệnh
tới đây giết ngài nhưng thấy ngài, con không dám. Con đã
cầm gươm định bước tới có hơn mười lần rồi mà không
lần nào con dám bước tới. Con quyết định thôi không giết
ngài nữa, nhưng con lại sợ nếu con không giết ngài thì khi
về, con cũng bị chủ tướng con giết chết. Con chưa biết
phải làm sao thì sa môn gọi con. Con xin lạy sa môn Gotama! Con
xin lạy sa môn Gotama!
Bụt
hỏi:
-
Ai đã sai anh đến giết Như lai?
- Chủ
tướng của con, nhưng con không dám nói tên chủ tướng của
con đâu.
- Anh
không nói cũng được, nhưng chủ tướng của anh nói với
anh như thế nào?
- Bạch
sa môn, chủ tướng của con chỉ cho con con đường phải đi
để lên núi và chỉ cho con một con đường khác để trở
về sau khi làm xong nhiệm vụ.
- Anh
có vợ con gì không?
- Bạch
sa môn, con chưa có vợ con gì cả. Con chỉ có một bà mẹ
già.
- Anh
nghe đây. Nghe cho thật kỹ và làm theo cho thật đúng. Anh hãy
về nhà ngay đi, và đem mẹ anh vượt biên giới trốn sang
nước Kosala ngay lập tức. Anh đưa mẹ sang bên ấy tị nạn
và sinh sống, nhưng anh đừng xuống núi bằng con đường mà
chủ tướng anh đã chỉ bày. Nếu xuống núi bằng đường
ấy, anh sẽ bị mai phục giết chết giữa đường. Anh xuống
núi bằng một con đường khác. Anh đi ngay đi.
Người
lạ mặt lạy xuống một lạy nữa rồi đi mất, để lại
thanh gươm trên nền đất.
Sáng
hôm sau, hai đại đức Sariputta và Moggallana tìm tới viếng
Bụt. Hai vị bạch:
- Chúng
con nghĩ là đã đến lúc chúng con phải đi qua bên ấy để
giúp các anh em khất sĩ đã vì dại dột mà đi lầm đường
lạc lối. Chúng con xin phép Bụt cho chúng con vắng mặt một
thời gian.
Bụt
nhìn hai vị đại đệ tử:
- Các
thầy đi thì đi, nhưng các thầy hãy giữ gìn cẩn thận và
làm mọi cách để bảo toàn thân mạng.
Vừa
lúc ấy đại đức Sariputta trông thấy thanh gươm trên nền
đất. Đại đức đưa mắt nhìn Bụt, không nói. Bụt gật
đầu:
- Đúng
như thế. Hồi hôm có anh lính được lệnh lên ám sát Như
lai, nhưng đã được Như lai độ cho rồi. Thanh gươmg ấy
cứ để đó, chừng nào cư sĩ Jivaka lên núi, Như lai sẽ nhờ
cư sĩ đem xuống núi.
Đại
đức Moggallana nhìn bạn:
- Bỏ
Bụt mà đi lúc này, đệ không được an tâm lắm. Sư huynh
nghĩ sao?
Sariputta
chưa trả lời thì Bụt nói:
- Các
thầy cứ an tâm mà đi, Như lai có đủ tỉnh thức để tránh
được những tai họa có thể xảy tới.
Hai
vị đại đệ tử sụp lạy thầy trước khi xuống núi.
Chiều
hôm ấy có mấy vị khất sĩ từ tu viện Trúc Lâm lên thăm
Bụt. Thấy Bụt họ không nói năng gì cả. Họ chỉ đứng
ôm mặt khóc.
Bụt
hỏi:
- Này
các vị khất sĩ, tại sao các vị khóc?
Một
vị khất sĩ lau nước mắt và trả lời Bụt:
- Thế
Tôn, chúng con từ Trúc Lâm về, giữa đường chúng con gặp
sư huynh Sariputta và Moggallana. Chúng con hỏi hai sư huynh đi
đâu. Hai sư huynh nói là đi qua Gayasisa. Chúng con buồn quá
nên chúng con khóc. Hơn năm trăm vị khất sĩ đã bỏ Bụt
mà đi rồi, bây giờ hai vị đệ tử lớn nhất của Bụt
mà cũng bỏ Bụt đi nữa thì chúng con không buồn sao được?
Bụt
bật cười. Người an ủi các thầy khất sĩ:
- Này
các vị, các vị đừng buồn nữa. Như lai biết là ở đâu,
lúc nào, Sariputta và Moggallana cũng không phản bội Như lai
đâu.
Nghe
Bụt nói, các vị khất sĩ cảm thấy yên dạ hơn. Họ xin
phép được ngồi im lặng một lát dưới chân Bụt.
Ngày
hôm sau, Bụt được y sĩ Jivaka mời về tịnh xá riêng của
ông trong vườn Xoài để thọ trai. Đại đức Ananda cùng đi
với người.
Bụt
và đại đức Ananda vừa thọ trai xong thì Jivaka thông báo
có hoàng thái hậu Videhi đến thăm ông và vì nghe nói có Bụt
ở đây nên thái hậu xin vào viếng người. Bụt biết cuộc
viếng thăm này đã được y sĩ sắp đặt trước. Người
cho mời thái hậu vào.
Lạy
Bụt xong, thái hậu khóc nức nở.
Bụt
để yên cho thái hậu khóc. Một hồi sau, người nói:
- Có
chuyện gì xin thái hậu cho Như lai biết.
Thái
hậu nói:
- Bạch
Thế Tôn, tình trạng thượng hoàng rất nguy ngập. Ajatasattu
quyết định bỏ đói thượng hoàng cho đến chết. Nó không
cho con đem thức ăn vào cho thượng hoàng nữa.
Rồi
bà kể cho Bụt nghe rằng mới hôm đầu tháng, bà còn được
phép mang cơm vào cho thượng hoàng Bimbisara, nhưng sau đó mấy
hôm, khi bà vào thăm thượng hoàng, quân lính chặn lại và
lấy mất thức ăn. Bà vào thăm thượng hoàng mà chỉ biết
ngồi khóc. Thượng hoàng an ủi ba, nói rằng người không
oán giận Ajatasattu. Ngài nói ngài nhịn đói mà băng cũng được,
miễn là nước nhà không bị nội chiến tàn phá. Sáng ngày
hôm sau, bà dấu mấy vắt cơm nhỏ trong tóc của bà, và bà
cũng mang trên tay ít thực phẩm để vào thăm thượng hoàng.
Bọn lính canh chặn bà lại, lấy mất thức ăn trên tay bà
nhưng không biết bà có dấu cơm trong mái tóc. Thượng hoàng
đã ăn cơm ấy. Bà đã làm như thế được tám hôm. Thấy
thượng hoàng không chết, Ajatasattu bắt quân lính khám xét
bà rất kỹ. Chúng tìm thấy cơm trong tóc bà. Vậy là bà không
thể đem cơm vào cho thượng hoàng được nữa.
Ba
hôm sau bà nghĩ ra được một cách mới. Bà nấu một loại
đề hồ gồm có sữa, mật ong và bột. Bà tắm gội sạch
sẽ, lau mình thật khô rồi trát một lớp đề hồ lên thân
thể, đợi cho ráo rồi mới mặc xiêm y. Quân canh không thấy
có thức ăn và cơm dấu trong tóc, liền để cho bà vào. Vào
tới nơi, bà cởi áo và bóc lớp đề hồ ra để thượng
hoàng ăn tạm. Bà đã làm được hai lần như thế, nhưng bà
rất sợ là trong một vài tuần, mưu của bà sẽ bị khám
phá và bà sẽ không còn được phép vào thăm thượng hoàng
nữa.
Kể
tới đây, thái hậu lại ôm đầu khóc.
Bụt
lặng thinh. Một lát sau, người hỏi về tình trạng sức khỏe
của thượng hoàng, về thể chất cũng như về tinh thần.
Thái hậu nói thượng hoàng đã ốm đi nhiều, nhưng vẫn còn
khương kiện. Tinh thần thượng hoàng rất cao. Ngài không tỏ
vẻ oán giận hay buồn rầu gì cả. Thì giờ trong tù, ngài
dùng vào việc thiền tọa và thiền hành. Có một hành lang
khá dài, ngài thường đi thiền hành dọc hành lang đó. Phòng
giam ngài có một cánh cửa có chấn song. Từ khung cửa ấy
ấy ngài có thể nhìn thấy núi Linh Thứu. Ngài ngồi trước
cửa ấy để nhìn về núi Linh Thứu mỗi ngày, ngồi rất
lâu. Ngồi thiền, thượng hoàng cũng ngồi ở đấy, mặt xoay
về núi Linh Thứu.
Bụt
hỏi thái hậu xem bà đã đưa tin về vua Pasenadi chưa. Bà nói
là bà chưa có phương tiện, Bụt nói người sẽ nhờ một
vị khất sĩ đưa tin về Savatthi giúp bà.
Thái
hậu tạ ơn Bụt. Bà kể cho Bụt nghe là hồi Ajatasattu chưa
sinh, các chiêm tinh gia đã đoán rằng Ajatasattu là người sẽ
phản lại vua cha. Bà nói hồi bà có mang thái tử, một hôm
không biết vì cớ gì mà bà rất thèm cắn vào bàn tay vua
Bimbisara mà hút máu. Bà hoảng kinh, không ngờ rằng chính bà
mà lại có được cái ý tưởng và cái thèm khát ghê tởm
đó. Từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ bà dám nhìn người ta
giết một con gà hay một con cá, bà rất sợ khi thấy máu
chảy, nhưng hôm ấy thật sự là bà muốn cắn tay vua để
hút máu trong tay ngài. Bà chống trả lại sự thèm khát đó
một cách tuyệt vọng. Cuối cùng bà ôm mặt khóc nức nở,
và cảm thấy tủi hổ vô cùng. Một hôm khác trong bữa ăn,
vua Bimbisara cầm dao gọt trái cây làm sao đó mà bị đứt
tay, mấy giọt máu chảy ra, lập tức bà ôm ấy tay vua đưa
miệng mút máu chỗ bị thương, Vua rất lấy làm lạ, nhưng
vẫn để cho bà hút. Hút xong mấy giọt máu, bà nằm lăn khóc
nức nở. Hoảng kinh, vua tới nâng bà dậy hỏi han. Bà phải
nói cho vua nghe cái thèm muốn ghê gớm đó của bà. Bà đã
chống trả một cách kịch liệt nhưng cuối cùng và đã bị
thua. Bà biết cái thai trong bụng bà đã là nguyên nhân đưa
đến cái thèm khát kỳ dị đó.
Các
chiêm tinh gia được vua mời tới đều nói rằng đứa con
trong bụng sau này sẽ làm hại vua và đề nghị nên tiêu diệt
nó. Vua Bimbisara không chịu, bà cũng không chịu. Tuy nhiên khi
sinh, thái tử đã được đặt tên là Ajatasattu. Tên này nghĩa
là “kẻ thù không sinh ra”.
Bụt
khuyên bà đừng nên vào thăm thượng hoàng mỗi ngày. Cứ
hai hoặc ba ngày thì mới nên vào một lần để vua Ajatasattu
khỏi nghi. Mỗi lần vào thăm như thế, bà có thể ở lại
với vua thật lâu. Đề hồ bóc ra, nên để dành và ăn mỗi
ngày ít thôi, đề phòng bị trường hợp thái hậu bị cấm
vào thăm viếng.
Dặn
dò thái hậu xong, Bụt từ giã Jivaka và trở về Thứu Lĩnh.
Chương
74
TIẾNG
RÚ CỦA CON VOI CHÚA
Các
đại đức Sariputta và Moggallana đã trở về tất cả Trúc
Lâm sau hơn một tháng cư trú tại Gayasisa với đại đức
Devadatta và giáo đoàn mới. Tất cả các vị khất sĩ khác
trong tu viện đều mừng rỡ khi thấy hai vị trở về. Họ
hỏi thăm hai vị rối rít về tình hình ở Gayasisa. Hai vị
chỉ mỉm cười mà không trả lời. Mấy hôm sau, các vị khất
sĩ trong giáo đoàn của đại đức Devadatta theo gót hai đại
đức Sariputta và Moggallana trở về Trúc Lâm rất đông. Đã
có tới trên ba trăm vị bỏ trung tâm Gayasisa để trở về
với Bụt. Các vị khất sĩ thường trú tại tu viện vui mừng
khôn xiết. Họ tổ chức đón tiếp các vị từ Gayasisa về
một cách nồng hậu. Bốn hôm sau, đại đức Sariputta kiểm
điểm lại số lượng các vị khất sĩ đã từ Gayasisa trở
về với Bụt. Đại đức đếm được ba trăm tám mươi lăm
người. Cùng với Moggallana, đại đức Sariputta hướng dẫn
ngót bốn trăm vị khất sĩ này lên núi Linh Thứu.
Đứng
trên sân tịnh xá, Bụt đã trông thấy đoàn khất sĩ do hai
vị đệ tử lớn của Bụt hướng dẫn đang leo dần các bậc
đá để lên núi. Khi đoàn này leo tới nơi, đại chúng thường
trú trên núi Linh Thứu vui mừng khôn xiết. Họ xúm lại để
hỏi thăm. Trong khi đó hai đại đức Sariputta tiến về phía
tịnh thất của Bụt.
Hai
vị đảnh lễ Bụt và được Bụt mời ngồi. Đại đức
Sariputta mỉm cười:
- Lạy
Bụt, chúng con đã đem về được cho giáo đoàn gần bốn
trăm vị khất sĩ đi lạc.
Bụt
hỏi:
- Các
thầy giỏi lắm. Các thầy đã làm thế nào để mở mắt
cho họ?
Đại
đức Moggallana nói:
- Bạch
Thế Tôn, khi chúng con đến thì sư huynh Devadatta đã thọ trai
cong và đang sửa soạn thuyết pháp. Devadatta bắt chước làm
hệt như Thế Tôn. Thấy chúng con đến, Devadatta tỏ ý mừng
rỡ. Devadatta gọi sư huynh con tới và mời sư huynh con ngồi
chung trên pháp tọa. Sư huynh con từ chối, và chỉ ngồi xuống
một bên, con ngồi phía bên kia. Devadatta nói với các vị khất
sĩ:
- Hôm
nay, có các đại đức Sariputta và Moggallana đến với chúng
ta. Đây là một tin vui rất lớn. Đại đức Sariputta đã từng
là một người bạn rất thân của ta. Nhân có mặt đại đức
ở đây, xin mời đại đức phụ trách nói buổi pháp thoại
hôm nay.
Nói
xong, Devadatta hướng về phía sư huynh con và chắp tay mời.
Sư huynh con nhận lời, và bắt đầu thuyết pháp. Sư huynh
nói về bốn sự thật mầu nhiệm. Sư huynh thuyết pháp thật
hay, khiến mọi người đều nghe một cách chăm chú. Con để
ý thì thấy Devadatta lim dim ngủ, có lẽ vì lo nhiều việc
cho nên Devadatta mỏi mệt. Nửa phần sau của pháp thoại, anh
ta ngủ khì.
Chúng
con ở lại Gayasisa hơn một tháng và tham dự vào tất cả
những hoạt động của giáo đoàn bên đó. Cứ ba hôm một
lần sư huynh con lại thuyết pháp và giảng dạy cho các các
vị khất sĩ. Sư huynh con dạy dỗ họ một cách tận tình.
Có lần con thấy Kokalita, người phụ tá số một của Devadatta,
thì thào to nhỏ với Devadatta, dường như có ý khuyên Devadatta
đừng tin ở chúng con, nhưng hình như Devadatta không đồng
ý ấy. Devadatta rất thích khi thấy có người phụ trách dạy
dỗ các vị khất sĩ thay cho mình, nhất là khi người ấy
là một người xuất sắc như sư huynh con.
Một
hôm, sau buổi thuyết pháp nói về Tứ Niệm Xứ, sư huynh con
nói với đại chúng như sau:
- Các
huynh đệ, chiều hôm nay tôi và sư đệ tôi sẽ từ giã các
huynh đệ. Chúng tôi sẽ về với Bụt và với giáo đoàn khất
sĩ do đức Thế Tôn lãnh đạo. Thưa các huynh đệ, chúng ta
chỉ có một bậc chánh biến tri giác trên đời mà thôi, người
ấy là sa môn Gotama, Bụt là người sáng lập ra giáo đoàn
khất sĩ, là nguồn gốc của tất cả chúng ta. Tôi tin rằng
nếu các huynh đệ trở về, các huynh đệ sẽ được đức
Thế Tôn mở rộng tầm tay mà đón vào lòng người như cũ.
Thưa các huynh đệ, không có điều gì làm đau nhức bằng
việc giáo đoàn bị chia rẽ. Một đời tôi, tôi chỉ thấy
Bụt là bậc đạo sư chính đáng cho tất cả chúng ta. Hai
anh em tôi xin chào các huynh đệ. Nếu các huynh đệ muốn trở
về với Bụt, thì các huynh đệ tìm về tu viện Trúc Lâm.
Chúng tôi sẽ chờ quý vị ở đấy, và sẽ đưa quý vị lên
núi Linh Thứu để gặp Bụt.
Thế
Tôn, hôm ấy Devadatta có công việc phải về kinh đô. Kokalita
đứng dậy phản đối, nhưng chúng con làm lơ đi như không
nghe gì. Chúng con im lặng ôm y bát rời núi Tượng Đầu và
đi về tu viện Venuvana. Chúng con ở đó được năm hôm thì
có tất cả ba trăm tám mươi lăm vị từ Gayasisa tìm về.
Đại
đức Sariputta bạch:
- Thế
Tôn, ba trăm tám mươi lăm vị này có cần phải làm lễ xuất
gia thọ đại giới lại hay không? Nếu cần, con sẽ làm lễ
cho họ trước khi đưa họ lên làm lễ Thế Tôn.
Bụt
nói:
- Thôi,
Sariputta, đừng bắt họ làm lễ xuất gia và thọ đại giới
trở lại. Cho họ làm lễ phát lộ sám hối trước đại chúng
là đủ.
Hai
đại đức cúi đầu làm lễ Bụt rồi rút lui.
Trong
những ngày kế tiếp, có ba mươi lăm vị khất sĩ nữa từ
Gayasisa trở về với Bụt. Đại đức Sariputta cũng cho họ
làm lễ phát lộ sám hối rồi cho họ lên trình diện Bụt.
Số các vị khất sĩ trở về với giáo đoàn đã lên tới
bốn trăm mười vị.
Đại
đức Ananda có đến nói chuyện với ba mươi lăm vị khất
sĩ vừa mới từ Gayasisa trở về. Đại đức hỏi về tình
hình bên đó. Các thầy cho biết là khi từ Rajagaha trở về,
thấy bốn trăm đồ chúng đã bỏ đi về với Bụt, đại
đức Devadatta giận tím mặt. Đại đức không nói gì hết
trong nhiều ngày liên tiếp. Ananda hỏi:
- Các
sư huynh Sariputta và Moggallana đã nói gì với các huynh đệ
mà các huynh đệ bỏ Devadatta về với Bụt đông như thế?
Một
thầy đáp:
- Các
sư huynh có nói gì đâu. Các sư huynh không hề động tới
đại đức Devadatta, không hề thốt ra một lời nào để nói
xấu giáo đoàn bên ấy. Các sư huynh chỉ thuyết pháp và dạy
dỗ anh em chúng tôi hết lòng mà thôi. Phần lớn anh em chỉ
mới có hai, ba hoặc năm tuổi tu là cùng, thành ra anh em còn
non yếu lắm. Nghe sư huynh Sariputta thuyết pháp, được sư
huynh Moggallana dạy dỗ, anh em mới thấy rằng giáo pháp của
Bụt cao siêu mầu nhiệm vô cùng. Đệ tử của Bụt như hai
sư huynh mà đạo đức còn cao viễn và học thức còn thâm
uyên như thế huống gì là Bụt. Đại đức Devadatta nói thì
hay lắm nhưng làm thì không được bằng hai sư huynh đâu.
Vì vậy khi hai sư huynh đi rồi, anh em bàn luận với nhau và
quyết định trở về với Bụt.
- Thế
còn đại đức Kokalika?
- Đại
đức Kokalika thấy anh em bỏ đi lấy làm tức giận lắm. Đại
đức lên tiếng nguyền rủa hai sư huynh thậm tệ. nhưng điều
này chỉ làm cho anh em chán đại đức thêm và ý định quay
về với Bụt lại mạnh mẽ hơn lên.
Một
buổi chiều trong khi Bụt đang đứng trên sườn núi ngắm
cảnh trời chiều, thì bỗng có tiếng một vị khất sĩ la
hoảng lên:
- Thế
Tôn, coi chừng! Có đá lăn xuống phía sau lưng!
Bụt
ngoảnh lui nhìn. Một tảng đá lớn bằng một chiếc xe bò
đang từ trên đỉnh núi lăn xuống hướng về phía người.
Tảng đá lăn xuống với một tốc độ kinh khiếp. Bụt bước
mấy bước tránh sang phía bên. Chỗ người đứng toàn là
những mô đá nên sự di chuyển rất khó khăn, nếu không có
đủ thì giờ. May quá, tảng đá lăn xuống gần tới chỗ
Bụt đứng thì bị hai tảng đá nhỏ chụm nhau chận lại,
nhưng sự va chạm giữa ba tấm đá làm văng ra một mảnh đá
nhọn. Mảnh đá nhọn bay trúng vào chân trái của Bụt và
làm Bụt bị thương nơi ngón chân. Máu chảy thấm ướt chéo
áo ca sa của người.
Nhìn
lên, Bụt thấy bóng một người đang tìm cách chạy trốn.
Vết
thương nơi bắp chân làm Bụt đau lắm, người lấy áo sanghati
xếp lại làm tư, trải xuống đất, nằm nghiêng về bên mặt
theo tư thế sư tử tọa, chân bị thương đặt lên chân không
bị thương, và theo dõi hơi thở để làm dịu xuống sự đau
đớn.
Nhiều
vị khất sĩ chạy đến bên Bụt. Một người nói:
- Đây
chắc là Devadatta chớ không còn ai khác nữa!
Một
người khác:
- Các
huynh đệ phải chia nhau ra giữ bốn phía núi để bảo vệ
cho Thế Tôn, mau đi.
- Các
thầy đừng la ó, đừng làm ồn ào. Không việc gì phải la
ó, và làm ồn ào. Như lai không cần người anh giữ, Như lai
không cần người bảo vệ. Tất cả các vị hãy trở về
liêu xá của mình đi. Ananda, thầy hãy nhờ chú sa di Cunda đi
mời y sĩ Jivaka.
Mọi
người làm theo lời Bụt dạy.
Chỉ
trong vài hôm, tin Bụt bị mưu sát hai lần được truyền đi
khắp thủ đô. Quần chúng ngẩn ngơ và kinh hoàng. Quần chúng
đang xôn xao thì đùng một cái có tin thượng hoàng Bimbisara
băng hà. Không biết vì kẻ hở nào mà dân chúng khắp nơi
biết được rằng thượng hoàng đã băng trong ngục thất.
Một niềm xót thương dâng lên trong lòng người. Ai nấy đều
nhìn về núi Linh Thứu như là biểu tượng của một sự đối
kháng đạo đức. Càng thương xót thượng hoàng bao nhiêu thì
thiên hạ càng mến phục Bụt bấy nhiêu. Bụt tuy không nói
gì, nhưng người đã nói thay được tiếng nói của lòng người.
Thượng
hoàng Bimbisara thọ sáu mươi bảy tuổi, thượng hoàng nhỏ
hơn Bụt năm tuổi. Năm quy y làm đệ tử Bụt, thượng hoàng
mới có ba mươi mốt. Lên ngôi từ năm mười lăm tuổi, thượng
hoàng đã trị vị trong năm mươi hai năm. Chính thượng hoàng
đã xây dựng lại kinh đô Vương Xá mới, sau khi kinh đô cũ
bị hỏa hạn tàn phá. Trong năm mươi hai năm, đất nước
Magadha luôn luôn được hòa bình, chỉ trừ có một lần lâm
chiến với vương quốc Anga. Trong cuộc chiến tranh đó quốc
vương Brahmadatta của xứ Anga đã thua trận, và xứ Anga đã
trở nên nội thuộc vương quốc Magadha. Khi quốc vương Taxila
Pukkusati lên cầm quyền ở Anga, quốc vương Bimbisara đã thiết
lập liên lạc thân hữu với vua này và đã đưa vua này đến
với đạo Bụt. Để có hòa bình lâu dài với các nước,
quốc vương Bimbisara đã thiết lập liên hệ thân tộc với
các hoàng gia. Vua cưới công chúa Kosaladevi em ruột của quốc
vương Pasenadi và lập làm chánh hậu, hiệu Videhi. Vua cũng
có thứ hậu từ các hoàng tộc Madra và Licchavi. Chị ruột
của vua cũng đã được gã cho quốc vương Kosala làm thứ
hậu.
Vua
Bimbisara từng tỏ lòng thương kính Bụt bằng cách xây một
chiếc tháp đựng tóc và móng tay của người ngay trong vườn
Ngự Uyển. Vua thường nhắc các công nhân đốt hương trầm
và thắp đèn nến quanh tháp để cúng dường và để tỏ
lòng biết ơn giáo hóa của Bụt. Vua lại giao cho cung nhân
Srimatri trách vụ chăm sóc, quét dọn tháp và vun bón hoa cỏ
quanh tháp.
Một
hôm nọ, trong khi Bụt và một số các thầy đi khất thực
trên con đường quen thuộc dẫn về thủ đô, đại đức Ananda
nhác thấy bóng một con voi lớn từ chuồng voi hoàng gia xổng
ra và đang chạy về phía mình. Đại đức hoảng kinh. Con voi
này ai cũng đã nghe tiếng. Đó là con voi dữ nhất trong vương
quốc. Nó tên là Nalagiri. Tại sao người ta lại để cho Nalagiri
xổng chuồng ra như thế. Vừa lúc đó những người đi đường
cũng đã nhận ra sự nguy hiểm. Họ hô hoán lên và cùng nhau
chạy núp ở hai bên vệ đường. Dân chúng hai bên đường
phố đều đã trông thấy con voi Nalagira. Con voi đưa vòi lên
cao, đuôi và hai tai thẳng đứng dậy, nó nhắm phía Bụt và
các vị khất sĩ mà chạy tới.
Thấy
tình trạng nguy hiểm quá, Ananda vội nắm tay Bụt và đẩy
người về phía vệ đường, nhưng Bụt không theo Ananda, người
đứng yên tại chỗ, một số các vị khất sĩ núp sau lưng
Bụt, một số khác chạy tứ tán tìm chỗ núp hai bên vệ
đường. Dân chúng hai bên đường phố la hoảng lên. Mọi
người nín thở, Ananda vừa bước lên định đứng chận trước
mặt Bụt thì bỗng nghe Bụt hú lên một tiếng lớn và dài.
Tiếng rú vọng lên, nghiêm trang và oai vệ. Đây là tiếng
hú của con voi chúa trong rừng Rakkhita ở Parileyyaka. Bụt đã
an cư một mình trong rừng này, và trong thời gian ấy người
đã học được tiếng hú của con voi chúa thường đem bầy
voi con tới uống nước bên bờ suối.
Voi
Nalagiri đã xông tới chỉ còn cách Bụt chừng mươi bước.
Nghe tiếng hú vang dội, nó tự nhiên khựng lại. Lập tức
nó khuỵu hai chân trước xuống, rồi khuỵu luôn hai chân sau,
vòi nó hạ thấp xuống sát đất. Hai tai nó cụp xuống, đuôi
nó cũng vậy.
Bụt
tiến tới, người đưa tay phải sờ lên đầu voi với tất
cả thương mến. Người ra hiệu cho voi đứng dậy rồi người
nắm lấy vòi của voi, dẫn nó đi trở về nơi xuất phát
của nó. Con voi ngoan ngoãn đi theo người.
Tiếng
hoan hô của dân chúng hai bên đường nổi lên vang dây. Thầy
Ananda mỉm cười. Thầy nhớ lại Bụt hồi còn trẻ tuổi,
không một môn thể thao mà Siddhatta không giỏi, từ bắn cung,
cử tạ, đánh kiếm cho đến đua ngựa, cỡi voi. Bụt đã
đối xử với voi Nalagira như đối xử với một con người
hay một con vật đã từng quen thuộc lắm với người.
Đoàn
khất sĩ và hàng trăm dân chúng đi theo Bụt và con voi. Khi
vào tới chuồng voi, người nhìn vị quản voi với đôi mắt
nghiêm nghị. Rồi với giọng từ bi, người bảo:
- Ai
ra lệnh thả voi này ra, Như lai không cần biết, nhưng quý
vị nên biết rằng thả voi Nalagira ra giữa đường phố là
một điều hết sức nguy hiểm. Voi này một khi được thả
ra có thể làm cho hàng chục hay hàng trăm người mất mạng.
Từ nay về sau quý vị không được làm như vậy nữa.
Vị
quản tượng và viên giám đốc chuồng voi lạy xuống để
chịu tội. Bụt đỡ họ lên, và cùng các vị khất sĩ rời
khỏi chuồng voi. Bụt đỡ họ lên, và cùng các vị khất
sĩ rời khỏi chuồng voi. Người tiếp tục cuộc khất thực
đang bị bỏ dở nửa chừng.
Đã
đến ngày làm lễ trà tỳ thượng hoàng, Bụt tự thân hành
tới dự lễ, và bảo tất cả các vị khất sĩ trong giáo
đoàn cùng đi. Lễ trà tỳ được tổ chức rất long trọng.
Quần chúng tiếc thương vị vua đạo đức của họ đã đến
tham dự rất đông đảo vòng trong vòng ngoài chật ních. Riêng
các vị khất sĩ trong xứ có mặt hôm đó cũng đã trên bốn
ngàn người.
Trên
đường dự lễ về, Bụt ghé lại vườn Xoài của y sĩ Jivaka
nghỉ một đêm trước khi lên núi. Y sĩ cho Bụt biết là cả
tháng nay thái hậu Videhi bị cấm không được vào thăm thượng
hoàng. Thượng hoàng đã lìa đời trong nhà giam, bên cạnh
không có một người thân thích. Người đã xoay đầu về
núi Linh Thứu để hơi thở thở cuối cùng.
Một
hôm y sĩ Jivaka lên núi Thứu và tiến dẫn lên Bụt một người
của hoàng gia muốn được đi xuất gia. Đó là hoàng đệ
Abhayarajakumara con của vua Bimbisara và của thứ hậu Padumavati,
thái tử Abhayaraja bạch với Bụt là sau cái chết của thượng
hoàng Bimbisara, thái tử không còn tha thiết gì nữa đến nếp
sống phù hoa danh lợi. Đã từng được nghe Bụt thuyết pháp
nhiều lần, thái tử rất hâm mộ đạo lý giải thoát và
ước mong được sống nếp sống thảnh thơi va vô ưu của
người khất sĩ. Bụt chấp nhận lời thỉnh cầu của Abbhayaraja
và cho thái tử được xuất gia.
Chương
75
NHỮNG
GIỌT NƯỚC MẮT SUNG SƯỚNG CỦA SUDATTA
Mười
hôm sau, Bụt khoác y, ôm bát và rời thành Vương Xá. Người
đi lên miền Bắc, vượt sông Hằng, tới thăm viếng chúng
khất sĩ ở tu viện Trùng Các, rồi người lại lên đường,
hướng về thủ đô Savatthi. Mùa mưa sắp tới, và người
cần về tu viện Cấp Cô Độc để kịp thời chuẩn bị cho
khóa an cư. Theo người có đại đức Ananda, các đại đức
Sariputta, Moggallana và khoảng ba trăm vị khất sĩ khác.
Tới
Savatthi, Bụt về thẳng tu viện Jetavana. Các thầy chờ Bụt
ở đây rất đông. Năm nay các vị khất sĩ và nữ khất sĩ
về an cư rất đông. Tin tức về những cuộc biến động
ở kinh đô Magadha ai cũng đã được nghe. Thấy Bụt về nguyên
vẹn và khỏe mạnh, mọi người đều tỏ vẻ mừng vui. Ni
sư Khema lãnh đạo một đoàn nữ khất sĩ đến thăm viếng
Bụt. Năm nay bà được đưa lên làm vị lãnh đạo tối cao
bên ni giới. Ni sư Pajapati đã viên tịch mười năm về trước.
Quốc
vương Pesanadi nghe Bụt về cũng lập tức đến tu viện thăm
người. Vua hỏi thăm Bụt về tình hình ở Rajagaha. Bụt thuật
cho vua nghe nhiều chuyện, trong đó có buổi gặp gỡ giữa
người và thái hậu Videhi em ruột của vua. Bụt cho vua biết
là thái hậu vẫn được bình yên nhưng chắc là trong lòng
còn nhiều sầu khổ, vua cho Bụt biết là vua đã gửi một
sứ đoàn qua Rajagaha cách đây hơn một tháng, và yêu cầu
Ajatasattu Videhiputta giải thích tại sao có chuyện giam giữ
quốc vương Bimbisara và hai vị đại thần. Quốc vương Ajatasattu
là cháu của vua. Vua bảo nếu cần thì Ajatasattu phải về
Savatthi để trình bày mọi sự. Hiện vẫn chưa thấy sứ đoàn
trở về. Vua cũng cho biết là để tỏ ý phản kháng hành
động của quốc vương xứ Magadha, vua đã lấy lại thục
ấp mà thượng hoàng đã tặng nước Magadha hơn sáu muơi mấy
năm về trước, khi em gái vua về làm chánh hậu của vua Bimbisara.
Thục ấp này thuộc địa phận Baranasi xứ Kasi.
Ngày
an cư mùa mưa đã đến. Các trung tâm tu học ở vùng thủ
đô và các vùng lân cận đều có đầy các vị khất sĩ và
nữ khất sĩ cư trú. Cứ mười lăm hôm Bụt lại nói pháp
thoại một lần tại Jetavana, và các giới khất sĩ cũng như
nữ khất sĩ từ các trung tâm khác đều được tới tham dự.
Pháp thoại của Bụt thường được nói vào buổi chiều,
ngay sau giờ thọ thực, vì vậy các vị khất sĩ từ những
trung tâm xa, đến ngày có pháp thoại, phải nghỉ khất thực
để có thì giờ đi thẳng về tu viện. Các vị đại thích
ở thủ đô cố gắng sắp đặt để cúng dường thực phẩm
cho các vị ngay khi các vị tới tu viện, để các vị có đủ
thời gian thọ thực và nghe pháp.
Pháp
thoại đầu mà Bụt nói trong mùa an cư năm nay có đề tài
là hạnh phúc. Bụt dạy hạnh phúc là có thật và ta có thể
thực hiện được hạnh phúc ngay trong đời sống này nếu
ta biết hành theo chánh pháp.
Trước
hết Bụt cho biết hạnh phúc không phải là sự đam mê vào
dục lạc. Dục làc có thể cho người một ảo tưởng về
hạnh phúc, và thật sự chỉ là khổ đau. Người lấy ví
dụ của một người bị bệnh hủi, bị bắt buộc vào sống
biệt lập ở trong rừng. Người này luôn luôn cảm thấy ngứa
ngáy xốn xang rất khó chịu. Ông ta đào một cái hố, chất
cành khô và những gốc cây mục xuống hố và đốt cháy cho
đến khi hố đầy than hồng, rồi ông ta đứng bên cạnh hố,
đưa mình mẩy tay chân lên trên hố than để hứng lấy cái
nóng của than lửa đang cháy. Trong khi làm như thế ông ta thấy
rất đã ngứa và cảm thấy bớt khổ. Ngày nào không được
hơ mình trên hố than rừng này, ông ta rất làm đau khổ. May
mắn cho ông ta, mấy năm sau bệnh hủi của ông được chữa
lành. Ông trở về sống đời sống bình thường trong thôn
xóm. Một hôm ông ta vào rừng thấy mấy người có bệnh hủi
đang đưa mình mẩy của họ hơ trên hố than rừng của họ.
Ông thấy thương xót họ vô cùng. Hố than rừng nóng quá,
tới gần ông chịu không nổi. Nếu có ai tới trì kéo ông,
bắt ông tới gần hố than để đưa mình mẩy hơ lên trên
than lửa, ông ta sẽ la tru tréo lên và phản đối kịch liệt.
Cái mà ngày xưa ông cho là làm cho ông sung sướng, bây giờ
đã trở thành một mói khổ đau của ông. Bụt nói: dục lạc
cũng chỉ là một hố than hồng, chỉ có người bệnh mói
thấy dục lạc là vui, những người lành mạnh đều phải
xa lánh hố than của dục lạc.
Nếu
đam mê dục lạc không phải là hạnh phúc thì cái gì là hạnh
phúc? Bụt dạy: sống thư thái, tự do, tiếp xúc được với
những mầu nhiệm của cuộc sống tức là có hạnh phúc, ý
thức được những gì xảy ra trong giờ phút hiện tại; không
tham đắm vào bất cứ pháp nào mà cũng không ghét bỏ bất
cứ một pháp nào.
Người
có hạnh phúc biết quý những gì mầu nhiệm đang xảy ra trong
hiện tại; một làn gió mát, một buổi sáng đẹp trời, một
bông hoa vàng, một cấy trúc tím, một nụ cười của trẻ
thơ, một bữa com ngon. Ngưòi có hạnh phúc biết thưởng thức
những thứ ấy nhưng không bị ràng buộc vào những thứ ấy.
Thấy được vạn pháp là vô thường và vô ngã. Người ấy
không nhận thức các pháp như những gì có thường và có
ngã, do đó người ấy không bị ràng buộc bởi các pháp kia,
không bị tham đắm vào các pháp kia. Không bị ràng buộc,
không tham đắm, người ấy sống thảnh thơi, không lo âu,
không sợ hãi. Biết rằng một bông hoa có thể sớm nở tối
tàn, người ấy thấy được tự tính sinh diệt vô thường
của các pháp cho nên không vì sự sinh diệt của vạn pháp
mà sầu khổ và lo âu. Cũng vì thế nên hạnh phúc của người
ấy là hạnh phúc chân thật. Người ấy không lo âu và sợ
hãi ngay về sự sinh diệt của chính mình.
Có
người cho rằng muốn có hạnh phúc trong tương lai thì phải
chịu khổ trong hiện tại, vì vậy họ hy sinh hiện tại bằng
cách chịu khổ chịu cực, về tâm não cũng như về thể xác,
để mua lấy hạnh phúc trong tương lai. Bụt dạy rằng sự
sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại, hy sinh hiện tại
là phế bỏ sự sống, Có người nghĩ muốn có an lạc và
giải thoát trong tương lai thì phải hành hạ xác thân trong
hiện tại. Nghĩ như thế, họ áp dụng những phép tu khổ
hạnh, chịu đói khát và đau đớn trong thân xác và trong tâm
tư, dùng khổ đau trong hiện tại, để mua hạnh phúc trong
tương lai. Bụt dạy lối tu hành đó không những làm cho người
tu chịu đau khổ trong hiện tại mà còn gây đau khổ trong
tương lai nữa.
Có
người cho rằng đời sống quá ngắn ngủi, không nên nghĩ
tới tương lai, phải tận lực hưởng thụ những thú vui dục
lạc ngay trong giờ phút hiện tại, Bụt dạy rằng tham đắm
vào dục lạc như thế cũng giống như nướng mình trên hố
than rừng, hành động này đem lại khổ đau ngay trong hiện
tại và cho cả tương lai.
Phương
pháp tu học của Bụt vượt ra ngoài hai cách sống vừa kể.
Bụt dạy rằng phép sống khôn ngoan nhất là phép sống đem
lại hạnh phúc trong hiện tại mà cũng sẽ đem lại hạnh
phúc trong tương lai.
Tu
tập theo đạo giải thoát không phải là ép xác khổ hạnh
để cầu mong một hạnh phúc tương lai. Khi vị khất sĩ ăn
ngày một bữa, thực tập thiền tọa, thực tập thiền hành,
thực tập Tứ Niệm Xứ, thực tập Tứ Vô Lượng Tâm, thực
tập phép Quán Niệm Hơi Thở, vị khất sĩ ấy tạo hạnh
phúc cho chính mình và cho những người xung quanh ngay trong giờ
phút hiện tại. Ăn mỗi ngày một bữa có thể giúp cho cơ
thể nhẹ nhàng, có thể cho ta nhiều thì giờ hơn để tu tập,
để sống thoải mái và tự do, và để giúp ích cho người
khác. Không lập gia đình, không có vợ con không phải là một
sự ép xác khổ hạnh mà cũng là để có thể sống tự do
và thoải mái để có thời gian tu tập và giúp ích cho kẻ
khác. Sống đời sống phạm hạnh, người khất sĩ phải thấy
được niềm vui và hạnh phúc trong giây phút của cuộc sống
hàng ngày. Nếu sống đời sống phạm hạnh mà thấy khổ
đau, ép buộc, thiếu tự do, đó là đã sống không đúng theo
tinh thần chánh pháp. Nhìn vào một vị khất sĩ sống đời
sống phạm hạnh. Người ta phải thấy sự có mặt của sự
thoải mái, sự thong dong và niềm an lạc. Nếp sống này đem
lại hạnh phúc trong hiện tại mà chắc chắn cũng đem lại
hạnh phúc trong tương lai.
Sau
buổi pháp thoại, nữ cư sĩ Punnalakkhana xin đến viếng Bụt.
Bà là nội trợ của cư sĩ Sudatta Anathapindika, người đã
xây dựng tu viện Jetavana để cúng dường giáo đoàn khất
sĩ. Nữ cư sĩ báo tin cho Bụt biết là cư sĩ Sudatta bị ốm
đã hơn mười hôm nay, và rất khổ đau vì không đến dự
được buổi pháp thoại này. Bệnh của cư sĩ càng ngày càng
tăng chứ không thấy giảm. Cư sĩ rất sợ sẽ không được
nhìn thấy mặt Bụt trước khi qua đời.
Ngày
hôm sau, Bụt đi thăm cư sĩ Sudatta, cùng đi với người có
hai đại đức Sariputta và Ananda, được thấy Bụt và hai đại
đức, cư sĩ mừng rỡ. Ông ngồi trên một chiếc ghế dựa,
nét mặt xanh xao, Bụt bảo:
- Sudatta,
suốt đời ông đã sống một cuộc sống có ý nghĩa và có
hạnh phúc. Ông đã làm vơi nổi khổ của biết bao nhiêu người.
Danh từ Anathapindika mà thiên hạ tặng cho ông là một trong
những bằng chứng lớn của sự thành công của ông. Tu viện
Jetavana là một bằng chứng lớn khác. Ông đã đóng góp thật
nhiều để pháp âm của đạo giác ngộ được truyền đi
khắp chốn. Ông đã sống theo chánh pháp, đã tạo được
hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và cho rất nhiều người
trong xã hội. Bây giờ ông nên tĩnh dưỡng, tôi sẽ nhờ đại
đức Sariputta thỉnh thoảng tới thăm ông và hướng dẫn sự
tu học cho ông. Ông không nên cố gắng để tìm lên tu viện,
bởi vì di chuyển như thế sẽ làm cho ông mất sức nhiều
quá.
Cư
sĩ Sudatta chắp tay tạ ơn Bụt.
Mười
lăm hôm sau, vào giờ pháp thoại, Bụt nói về đời sống
người tại gia, về hạnh phúc chân thực mà người cư sĩ
có thể thực hiện ngay trong đời sống hiện tại.
Bụt
ôn lại những nguyên tắc sống “hạnh phúc trong hiện tại,
hạnh phúc trong tương lai” mà người đã diễn bày trong kỳ
pháp thoại trước, rồi người nói:
- Vị
khất sĩ sống đời sống phạm hạnh là để có an lạc hạnh
phúc ngay trong giờ phút hiện tại, và nếp sống phạm hạnh
ấy chắc chắn sẽ đem lại hạnh phúc hạnh trong tương lai,
nhưng không phải chỉ người xuất gia mới sống được theo
nguyên tắc ấy.
Những
người của sĩ sống ở thành thị và trong xóm làng cũng có
thể theo nguyên tắc ấy của chánh pháp mà làm cho đời sống
càng ngày càng có thêm hạnh phúc. Trước hết là đừng vì
ước muốn làm giàu mà chúi đầu vào công việc, bỏ mất
cơ hội tạo hạnh phúc cho mình và cho gia đình mình trong giờ
phút hiện tại. Hạnh phúc trước hết là sự tỉnh thức.
Một cái nhìn đầy hiểu biết, một nụ cười bao dung, một
câu chuyện nói thương yêu, một bữa cơm quây quầy trong đầm
ấm và tỉnh thức ... đó là hạnh phúc trong hiện tại. Nuôi
dưỡng sự tỉnh thức trong hiện tại, ta sẽ tránh không gây
khổ đau cho ta và cho những người sống chung quanh, ta và bên
cạnh ta. Bằng cái nhìn, bằng lời nói, bằng nụ cười, bằng
những cử chỉ săn sóc nhỏ, ta tạo ra hạnh phúc cho ta và
cho một người ngay trong giây phút hiện tại. Hạnh phúc này
không cần đến giàu sang và danh vọng.
Bụt
kể cho đại chúng nghe câu chuyện của Sigala, một người
gia chủ trẻ tuổi mà Bụt gặp ở thành phố Rajagaha nhiều
năm về trước.
Buổi
sáng nọ, khoác y, mang bát và rời tu viện Trúc Lâm lúc trời
mới rạng sáng. Người gặp một chàng trai tên Sigala, con của
một thương gia sống ở ngoại ô thành phố. Sigala đang đứng
ở ngoài trời và đang cúi lạy sáu phương Đông, Tây, Nam,
Bắc, Thượng và Hạ một cách cung kính.
Bụt
tới gần và hỏi chàng lạy như thế để làm gì, Sigala thưa
là từ hồi còn bé, chàng đã được thân phụ dạy mỗi buổi
sáng phải ra lạy sáu phương. Chàng chỉ biết vâng lời cha,
sáng nào cũng ra lạy như thế, nhưng không biết để làm gì.
Bụt nói: lạy như thế là thực tập một lối sống có thể
đưa tới hạnh phúc trong hiện tại và trong tương lai. Người
dạy rằng lạy phương Đông là để quán chiếu cách đối
xử với ơn cha mẹ, lạy phương Nam là để quán chiếu cách
đối xử với ơn sư trưởng, lạy phương Tây là để quán
chiếu cách đối xử với tình vợ con, lạy phương Bắc là
để quán chiếu cách đối xử với tình bè bạn, lạy phương
Hạ là để quán chiếu cách đối xử với người cộng sự,
lạy phương Thượng là để quán chiếu cách đối xử với
những bậc hiền nhân.
Bụt
lại dạy Sigala về phép thọ trì năm giới, phép quán chiếu
để đừng vội vã hành động khi trong tâm có tham dục, giận
hờn, si mê và sợ hãi. Bụt dạy Sigala tránh xa sáu loại hành
động có thể đưa đến sự tán gia bại sản: không say sưa,
không đi lang thang trong thành phố vào giờ khuya khoắt, không
lui tới những chốn cờ bạc, không lui tới những nơi ăn
chơi trác táng, không la cà với những bạn xấu và không lười
biếng ỷ lại.
Bụt
lại dạy cho Sigala biết phân biệt thế nào là một người
bạn tốt. Người nói:
- Một
người bạn tốt là một người đối xử với mình một cách
chung thủy, khi mình giàu sang hoặc sa sút, hạnh phúc hay khổ
đau, thành công hay thất bại, đắc thế hoặc thất thế thì
người bạn ấy vẫn không hề thay đổi. Người bạn ấy
biết lắng nghe và chia xẻ những buồn đau của mình, nói
cho mình nghe những lo lắng và buồn vui của người ấy. Một
người bạn tốt là một người bạn biết vui cái vui của
mình và buồn cái buồn của mình.
Kể
xong chuyện Sigala, Bụt nói:
- Hạnh
phúc chân thật là một điều có thể thực hiện ngay trong
đời này nếu ta quy tụ được càng nhiều càng tốt những
điều kiện sau đây:
1.-
Được thân cận với những người hiền đức, có khả năng
xa lánh được những kẻ đang đi trên con đường sa đọa.
2.-
Được sống trong một môi trường thuận tiện cho sự tu học
và sự tạo tác những nhân lành.
3.-
Được có cơ hội thêm về giáo pháp, về giới luật, về
công nghệ và về ngôn ngữ văn chương.
4.-
Được phụng dưỡng mẹ cha và có thời giờ để ý săn sóc
vợ chồng con cái của mình.
5.-
Được chia xẻ thì giờ, tài vật và hạnh phúc với kẻ khác.
6.-
Được có cơ hội vun trồng đạo đức, xa lánh hẳn rượu
chè cờ bạc.
7.-
Được thực tập un đúc các đức khiêm nhượng, biết ơn
và tri túc của đạo giác ngộ.
8.-
Được thân cận với các vị khất sĩ mà học hỏi đạo
lý.
9.-
Được sống một cuộc sống trong sạch theo nguyên tắc Bốn
Sự Thật.
10.-
Được học cách thiền quán để tháo bỏ những phiền não
và ưu sầu trong cuộc sống.
Tới
đây, Bụt mở lời khen những cư sĩ đã và đang sống theo
chánh pháp trong cuộc sống hàng ngày, trong gia đình và xã
hội, Bụt đặc biệt nhắc tới cư sĩ Sudatta Anathapindika.
Bụt nói Sudatta là người đã quy tụ được nhiều điều
kiện để làm cho đời sống có ý nghĩa, có hạnh phúc và
có lợi ích cho nhiều người. Đạo tâm của Sudatta rất lớn
và cuộc đời của Sudatta đã được hướng dẫn bởi những
nguyên tắc của chánh pháp, Bụt nhấn mạnh rằng có những
người giàu có hơn Sudatta nhiều gấp bội, nhưng đứng về
phương diện hạnh phúc thì không thể nào so sánh được với
Sudatta.
Hôm
ấy nội trợ của cư sĩ Sudatta là Punnalakkhana cũng có mặt
trong buổi pháp thoại. Nghe Bụt nói, bà cảm động đến rơi
nước mắt, bà đứng dậy và tắc bạch:
- Thế
Tôn, cuộc sống của người cư sĩ có nhiều khi thật bận
rộn, nhất là khi mình được thừa hưởng một gia sản lớn.
Con thấy khi mình có một cơ nghiệp bình thường, sự tu đạo
sẽ dễ dàng hơn. Nhìều khi nhìn những vị khất sĩ không
nhà, không cửa, không vợ, không con, cầm một chiếc bình
bát, đi thong dong trên nẻo đường khất thực, chúng con thấy
thèm muốn sự thảnh thơi ấy một cách lạ kỳ. Chúng con
ước muốn được sống như thế, nhưng mà chúng con có nhiều
sợi dây ràng buộc quá, biết làm sao?
Bụt
dạy:
- Nữ
cư sĩ Punnalakkana! Vị khất sĩ cũng có nhiều trách nhiệm
chứ không phải không. Nếp sống phạm hạnh là nếp sống
buộc vị khất sĩ phải an trú ngày đêm trong chánh niệm,
trong giới luật. Người khất sĩ lại còn phải nghĩ đến
trách nhiệm độ sinh.
Các
vị cư sĩ! Như lai đã tìm ra một phương cách để quý vị
có thể lâu lâu, hoặc nửa tháng một lần, được sống giống
như các vị khất sĩ. Phương cách đó là Bát Quan Trai giới.
Các vị có thể đến chùa thọ tám giới, sống trong thời
gian trọn vẹn một ngày một đêm, ngày ăn một bữa, thực
tập thiền tọa, thiền hành, sống trong phạm hạnh, tỉnh
thức, tinh cần, thong dong và an lạc, giống hệt như các vị
khất sĩ. Sau thời gian một ngày, một đêm sống như thế,
các vị lại xả giới và trở về đời sống thế gian, chỉ
giữ lại năm giới và ba sự quay về nương tựa.
Các
vị khất sĩ! Như lai sẽ báo tin để tất cả các vị khất
sĩ biết về pháp chế Bát Quan Trai này. Quý vị có thể tổ
chức tu tập Bát Quan Trai tại chùa hay ngay trong nhà quý vị,
và các vị khất sĩ có thể được mời để tuyên giới,
hướng dẫn và dạy dỗ trong các ngày tu Bát Quan Trai.
Punnalakkhana
sung sướng hỏi Bụt:
- Bạch
Thế Tôn, tám giới của pháp chế Bát Quan Trai là tám giới
nào, tại sao gọi là quan, tại sao gọi là trai, xin Thế Tôn
khai thị cho chúng đệ tử biết.
- Tám
giới là: không sát hại sinh mạng, không trộm cướp, không
dâm dục, không vọng ngữ, không uống rượu, không trang sức,
không nằm và ngồi trên giường chiếu sang trọng và không
sử dụng tiền bạc. Tám giới ấy là để phòng ngừa sự
phát sinh của vọng niệm và tạp niệm trong thời gian tu tập
nên gọi là quan. Quan có nghĩa là phòng ngừa, còn trai có nghĩa
là chỉ ăn một bữa trước giờ ngọ, để có thì giờ tu
tập.
Được
biết thiết chế phép Bát Quan Trai, giới cư sĩ hôm ấy rất
lấy làm sung sướng.
Mười
hôm sau, người nhà của cư sĩ Sudatta tới tìm đại đức
Sariputta, báo tin là bệnh tình của cư sĩ trở nặng.
Đại
đức rủ đại đức Ananda cùng đi. Cư sĩ Sudatta nằm trên
giường bệnh để tiếp hai vị đại đức. Người nhà nhắc
ghế để hai đại đức ngồi gần bên giường.
Biết
cư sĩ không sống được bao nhiêu ngày nữa, đại đức Sariputta
khai thị:
- Cư
sĩ Sudatta, ông nên quán tưởng như sau: mắt, không phải là
tôi, tai không phải là tôi, mũi, lưỡi thân cũng không phải
là tôi.
Đợi
cư sĩ quán tưởng xong, đại đức nói:
- Cư
sĩ tiếp tục quán tưởng; những gì tôi thấy không phải
là tôi, những gì tôi nghe không phải là tôi, những gì tôi
ngửi, nếm, xúc chạm cũng không phải là tôi.
Rồi
đại đức dạy cho cư sĩ quán chiếu vô ngã trong sáu thức:
cái thấy không phải là tôi, cái nghe không phải là tôi, tri
giác, vị giác, xúc giác và ý thức cũng không phải là tôi.
Đại đức nói:
- Sáu
căn, sáu trần và sáu thức không phải là tôi. Sáu đại là
đất, nước, lửa, gió, không gian và tâm thức cũng không
phải là tôi. Tôi không bị ràng buộc và hạn cuộc trong những
yếu tố ấy. Tôi không bị sinh tử ràng buộc và hạn chế.
Sinh tử không chạm được tới tôi. Tôi mỉm cười, bởi
vì tôi không sinh cũng không diệt. Sinh không làm cho tôi có,
tử không làm cho tôi không.
Thực
tập tới đó, cư sĩ Sudatta khóc. Nước mắt chảy ràn rụa
trên hai má ông.
Đại
đức Ananda hỏi:
- Sao,
cư sĩ có tiếc nuối không, cư sĩ quán chiếu không thành công
hả?
- Thưa
đại đức, Ananda, con không tiếc nuối, con quán chiếu rất
thành công. Con khóc vì con cảm động quá. Con được phụng
sự Bụt và gần gũi các vị khất sĩ đã hơn ba mươi năm
nay, vậy mà chưa bao giờ con được nếm giáo lý thậm thâm
vi diệu như hôm nay.
- Cư
sĩ Sudatta, giáo lý này các vị khất sĩ và nữ khất sĩ được
nghe đức Thế Tôn giảng dạy luôn.
- Thưa
đại đức, Ananda, đệ tử của cư sĩ chúng con có người
cũng có thể nghe, hiểu và hành được giáo lý thậm thâm
này. Xin đại đức Ananda bạch với Bụt để người cho phép
giới cư sĩ chúng con được nghe, hiểu và thực hành giáo
lý thậm thâm đó.
Cư
sĩ Sudatta từ trần ngay buổi chiều hôm ấy. Các đại đức
Sariputta và Ananda đã ở lại hộ niệm rất lâu cho cư sĩ.
Gia
đình của cư sĩ Anathapindika là một gia đình cư sĩ kiểu
mẫu. Tất cả mọi người trong gia đình từ cha mẹ đến
con cái, người nào cũng có đức tin vững chải nơi Bụt,
người nào cũng siêng năng học hỏi giáo lý và đem áp dụng
vào cuộc đời. Trước đây mấy hôm, cư sĩ được biết
tin rằng con gái út của mình là Sumagadha, lấy chồng ở xứ
Anga, đã hóa độ được rất nhiều dân chúng trong vùng theo
Bụt. Chồng của cô trước đó là một vị quan tổng
trấn ở xứ Anga, tín đồ của phái du sĩ lõa hình. Lần đầu
được chồng ép đi thăm các vị du sĩ này, cô đã khéo léo
từ chối. Với sự hiểu biết vững vàng về đạo Bụt, cô
đã từ từ cảm hóa được quan tổng trấn và mang được
giáo lý Bụt vào đời sống của dân chúng trong vùng.