Chương
66
BỐN
NÚI BAO QUANH
Một
buổi sáng tinh sương, đại đức Moggallana tìm đến Bụt,
hai mắt ướt đẫm, Bụt hỏi duyên cớ. Đại đức thưa:
- Thế
Tôn, trong giờ thiền tọa đầu hôm qua, con đã nghĩ đến
mẹ của con, và con đã dùng định lực để quán chiếu về
nỗi nhớ niềm thương của con đối với mẹ. Con biết là
trong thời niên thiếu đã có đôi lần con làm cho mẹ con buồn,
nhưng con cũng biết đó không phải là nguyên do của nỗi buồn
thấm thía của con. Nỗi buồn thấm thía của con phát sinh
từ ý nghĩ là con không làm được gì để giúp mẹ con lúc
bà còn sống, và con cũng không làm được gì để giúp mẹ
con sau khi bà đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, nghiệp chướng
của mẹ con rất nặng. Hồi sinh tiền, bà đã từng tạo ra
nhiều ác nghiệp. Con biết rằng bây giờ những ác nghiệp
ấy vẫn còn theo đuổi và tiếp tục làm cho mẹ con khổ đau.
Trong giờ thiền định con thấy hình ảnh này, con thấy con
đi thăm mẹ con ở một nơi thật tối tăm, ẩm thấp. Mẹ
con than đói, bà gầy ốm như một bóng ma. Con lấy cơm trong
bình bát dâng lên, mẹ con bốc cơm ăn, nhưng khi mẹ con đưa
cơm vào tới miệng thì cơm ấy biến thành than hồng, mẹ
con không thể nuốt được, phải nhả ra. Thế Tôn, hình ảnh
đó con không thể nào quên được. Con không biết làm cách
gì để cho nghiệp chướng của mẹ con được tiêu trừ và
thân cho tâm thân của mẹ con được nhẹ nhàng, siêu thoát.
Bụt
hỏi:
- Hồi
sinh tiền, mẹ của thầy đã tạo những nghiệp ác nào?
- Bạch
Thế Tôn, hồi sinh tiền, mẹ con đã không chịu sống theo
chánh mạng. Nghề nghiệp của bà buộc bà phải sát hại rất
nhiều sinh mạng của các loài hữu tình. Mẹ con lại là người
không biết biết tu theo chánh ngữ. Bà đã gây nhiều khổ
đau cho kẻ khác vì những lời nói của bà. Bà bứng cây sống,
trồng cây chết. Con không dám kể hết chi tiết về những
ác nghiệp của bà để Thế Tôn nghe, nhưng quả thật mẹ
con đã sống ngược lại với tất cả năm giới quý báu mà
Thế Tôn đã dạy. Thế Tôn, nếu con có thể chịu khổ đau
thay thế để đổi nghiệp quả của mẹ con, thì con sẵn sàng
chấp nhận. Xin Thế Tôn, đem lòng từ bi xót thương mẹ con
mà chỉ bảo cho con.
Bụt
nói:
- Moggallana,
tôi rất cảm động về tấm lòng hiếu thảo của thầy đối
với mẹ. Công ơn cha mẹ như trời như biển: làm con phải
luôn luôn nhớ tới công ơn ấy, ngày cũng như đêm. Gặp thời
không có Bụt và không có các bậc thánh hiền, phụng sự
cha mẹ tức là phụng sự Bụt và các bậc thánh hiền. Moggallana,
thầy đã cố gắng để chuyển hóa mẹ thầy khi bà còn sống,
thầy lại còn lo lắng để chuyển nghiệp cho mẹ thầy khi
bà đã chết, điều đó chứng tỏ thầy là một người rất
có hiếu đối với cha mẹ. Tôi rất mừng vì điểm đó.
Moggallana!
Điều căn bản nhất mà mình có thể làm để báo hiếu cha
mẹ là sống một đời sống đẹp đẽ, hạnh phúc và đức
hạnh. Như vậy là vừa đền đáp được công ơn sinh dưỡng
vừa đền đáp lại kỳ vọng của cha mẹ nơi con cái. Trường
hợp của thầy là một trường hợp thành công. Đời sống
của thầy là một đời sống có an lạc, có hạnh phúc,
có đạo hạnh; đời sống của thầy là một đời sống gương
mẫu, thầy đã và đang hóa độ được bao nhiêu người, giúp
họ đi về con đường chánh. Nếu đem đời sống và công
đức ấy mà hồi hướng và chú nguyện cho mẹ thì chắc chắn
hành nghiệp của mẹ thầy sẽ được chuyển biết một cách
đáng kể.
Moggallana!
Tôi sẽ chỉ cho thầy một phương pháp mầu nhiệm và hữu
hiệu để giúp mẹ. Đến ngày tự tứ mãn khóa an cư mùa
mưa, thầy nên thỉnh cầu toàn thể đại chúng họp lực chú
nguyện cho mẹ thầy. Nên biết trong đại chúng có nhiều vị
khất sĩ đạo đức và đức hạnh rất lớn. Nếu thầy phối
hợp đạo lực và đức hạnh của thầy với đạo lực và
đức hạnh của tất cả các vị ấy thì sức chú nguyện
sẽ hùng mạnh vô cùng và nhờ nhân duyên đó, nghiệp chướng
của mẹ thầy sẽ tiêu tan và bà sẽ có cơ hội và đi vào
con đường chánh pháp.
- Tôi
nghĩ là trong đại chúng có thể cũng có những vị có tâm
trạng như thầy, vì vậy ta nên tuyên bố điều này ra trong
đại chúng. Thầy hãy bàn với thầy Sariputta, để từ nay
cứ đến ngày tự tứ thì ta có thể tổ chức một lễ chú
nguyện, chú nguyện để hộ niệm cho các bậc cha mẹ đã
mất và cả cho những người làm cha mẹ còn sống. Như vậy
cũng là để đồng thời giáo dục người trẻ về đạo hiếu
đối với cha mẹ và tổ tiên.
Moggallana!
Người đời thường chỉ biết tiếc thương cha mẹ khi cha
mẹ đã qua đời. Trong ánh sáng của đạo tỉnh thức, có
cha có mẹ là một hạnh phúc lớn. Cha mẹ là những nguồn
vui lớn cho con cái. Con cái phải biết trân quý thời gian sống
với cha mẹ, được thấy cha mẹ hàng ngày, được đem niềm
vui hàng ngày cho cha mẹ.
Ngay
trong khi cha mẹ con sống và sau khi cha mẹ quá vãng, những
hành động từ ái cần được thể hiện để gây niềm vui
cho cha mẹ và hồi hướng công đức cho cha mẹ. Giúp người
nghèo khổ và bệnh tật, thăm viếng và ủy lạo những người
cô đơn, phóng thích tù nhân và những loài vật sắp bị sát
hại, chẩn tế, trồng cây ... đều là những hành động phát
xuất từ tâm từ bi có thể chuyển đổi được tình trạng
hiện tại và gây niềm vui cho cha mẹ. Trong ngày tự tứ của
tăng đoàn khất sĩ, chúng ta nên khuyến khích mọi người
làm những việc như thế.
Đại
đức Moggallana vui mừng lạy ta Bụt.
Chiều
hôm ấy, đi thiền hành tới cổng tu viện Trúc Lâm, Bụt thấy
xa giá của vua Pasenadi cũng vừa dừng lại trước cổng. Vua
đi thăm Bụt. Hai người còn đang đứng ở cổng tu viện để
chuyện trò thì có bảy vị du sĩ phái Nigantha đi ngang qua.
Họ là những người tu khổ hạnh, lõa hình, tóc và râu không
cạo, móng tay móng chân để dài không cắt. Trông thấy họ,
vua Pasenadi xin lỗi Bụt và đi ra chào đón các vị du sĩ. Vua
lạy xuống cung kính trước bảy vị du sĩ, và nói:
- Thưa
các vị cao đức, trẫm là Pasenadi, vua nước Kosala.
Vua
lạy và nói ba lần như thế, rồi mời chào họ và trở
về với Bụt. Đợi họ đi khuất, vua hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, theo Thế Tôn thì trong bảy vị du sĩ đó có vị
nào chứng quả A la hán chưa? Học có vị nào đang đi trên
con đường đến quả vị ấy?
Bụt
đáp:
- Đại
vương, ngài sống cuộc sống vương giả và thân cận với
giới chính trị nhiều hơn giới đạo sĩ nên ngài khó mà
biết được ai là người đã giải thoát và ai chưa giải
thoát. Đại vưong, gặp gỡ đôi ba lần và nhìn vào bề ngoài
của một vị đạo sĩ thì khó mà biết được họ có giác
ngộ hay không. Chỉ khi nào ta sống bên họ và có thì giờ
nhận xét họ ta mới biết được họ có giải thoát hay không
có giải thoát. Đi lâu mới biết đường dài; thân cận lâu
ngày với một người, sống vói người ấy trong những hoàn
cảnh khó khăn, nghe người ấy nói năng đàm luận ... ta mới
thấy được mức độ trí tuệ, đức hạnh và sự chứng
đắc của người ấy.
Vua
biểu đồng tình vời Bụt:
- Bạch
Thế Tôn, con cũng thấy như thế. Mỗi khi con gửi các thám
tử đi do thám tình hình các nơi, những người này thường
phải hóa trang để cho người ta không nhận ra được họ.
Con nhớ là khi những thám tử này về cung trình diện, chính
con cũng không nhận ra được họ. Con tưởng họ là những
người không quen. Chỉ khi nào họ lột bỏ những đồ hóa
trang, đi tắm, rửa mặt và mặc áo quần của chính họ vào
thì con mới nhận ra được họ. Thế Tôn! Thế Tôn nói rất
đúng. Ta không thể nhận ra được đức hạnh, trí tuệ và
sự chứng đắc của một người nếu ta không có được cơ
hội để biết về người ấy một cách chín chắn.
Bụt
mời vua đi bộ về phía tịnh thất của người.
Vào
đến tịnh thất, Bụt bảo thầy Ananda bắc ghế trước sân
mời vua ngồi. Sau khi an tọa, vua bạch với Bụt:
- Thế
Tôn, con đã bảy mươi tuổi rồi. Con nghĩ là con phải để
nhiều thì giờ hơn vào việc tu học của con, Con phải tập
ngồi thiền và đi thiền hành nhiều hơn trước. Thế Tôn,
công việc triều chính quá bận rộn, nhiều lúc ngồi nghe
Bụt giảng mà con cũng ngủ gục. Con lấy làm xấu hổ quá.
Bạch Thế Tôn, con lại có cái tật ăn nhiều. Con nhớ có
một buổi trưa ăn no quá, tới chùa con buồn ngủ chi lạ.
Con ra ngoài sân tu viện đi thiền hành cho bớt buồn ngủ mà
cũng vẫn buồn ngủ như thường. Hôm đó con vừa đi vừa
ngủ gục, đến nổi gặp Thế Tôn cho nên cũng không thấy,
và con đã vấp vào Thế Tôn, Thế Tôn có nhớ việc này không?
Bụt
cười:
- Tôi
có nhớ, đại vương! Đại vương ăn ít thôi, thì thân tâm
sẽ nhẹ nhàng, và công việc chính trị cũng như công phu tu
tập cũng sẽ có phẩm chất hơn. Nếu muốn thành công trong
việc này, đại vương nên nhờ hoàng hậu Malika hay công chúa
Vajiri chăm sóc về thực phẩm hàng ngày cho đại vương, về
phẩm cũng như về lượng.
Vua
chắp tay lĩnh giáo. Bụt nói:
- Đại
vương nên để thêm thì giờ mà lo về sức khỏe và sự tu
tập của mình. Bây giờ tuổi đại vương đã cao; nếu không
lo tu tập, thì đại vương không còn nhiều thì giờ nữa.
Đại vương! Ví dụ có một người hộ vệ thân tín của
đại vương từ phương Đông trở về báo cáo với đại vương
là có một hòn núi vĩ đại cao gần bằng mặt trời đang
tiến dần từ phương Đông tới; và trên đường đi trái
núi ấy nghiến nát tất cả những sinh vật nào nó gặp dưới
chân. Đại vương đang lo lắng thì một người thân tín của
đại vương từ phương Tây về báo cáo rằng từ phương Tây
cũng có một trái núi vĩ đại như thế đang tiến tới, rồi
những người thân tín của đại vương từ phương Bắc và
phương Nam cũng về báo cáo là có hai hòn núi vĩ đại từ
các phương trời ấy đang từ từ tiến tới phía đại vương,
ngọn núi nào cũng nghiến nát dưới chân mình tất cả những
sinh vật trên đường đi.
Đại
vương biết là bốn ngọn núi từ bốn phưong đang áp tới
và mạng sống của đại vương sẽ không thể kéo dài. Đại
vương không còn nhiều thì giờ. Vậy đại vương sẽ làm
gì trong tình trạng ấy?
Vua
ngẫm nghĩ rồi nhìn vào mặt Bụt:
- Bạch
Thế Tôn, trẫm nghĩ trong trường hợp ấy thì chỉ có một
việc đáng làm mà thôi. Đó là sống những ngày còn lại
thật xứng đáng, thật trầm tĩnh, đúng theo chánh pháp.
Bụt
khen:
- Hay
lắm, đại vương! Tôi xin nói để đại vương biết: bốn
ngọn núi ấy là bốn ngọn núi của sinh lão bệnh tử. Cái
già và và cái chết là những ngọn núi vây hãm chúng ta và
đang từ từ tiến tới.
Vua
chắp tay:
- Bạch
Thế Tôn, biết được cái già cái chết đang vây quanh và
tiến tới, con nghĩ chỉ có một cách là đem những ngày tháng
còn lại để sống theo chánh pháp, sống thật trầm tĩnh,
làm tất cả những việc thiện nào có thể làm, và xây dựng
cho các thế hệ tương lai.
Vua
đứng dậy làm lễ Bụt và ra về.
Mùa
mưa năm nay, các đạo sĩ và Bà la môn đủ các giáo phái về
Savatthi đông lắm. Các buổi thuyết giảng của họ được
tổ chức khắp nơi, và dân chúng thủ đô thỉnh thoảng được
mời tới dự những cuộc đàm luận giữa những vị đại
diện của các giáo phái. Những chủ thuyết khác nhau có dịp
được trình bày. Trong giới môn đệ của Bụt cũng có nhiều
vị đi dự những cuộc đàm luận này. Họ về chùa kể cho
Bụt và các thầy nghe những điều họ nghe và thấy. Họ nói
không có vấn đề siêu hình nào mà các vị đạo sĩ lại
không đặt ra, và vị nào cũng tự nhận thuyết của mình
là đúng, thuyết của kẻ khác là sai. Ban đầu thì họ chỉ
tranh luận nhẹ nhàng, nhưng rốt cuộc phần lớn đều nổi
nóng và cuối cùng người ta bắt đầu nói nặng với nhau
và lên án nhau bằng những lời lẽ thật cay độc.
Bụt
kể cho môn đệ chuyện ngụ ngôn sau đây:
- Ngày
xưa có một vua thật ngộ nghĩnh. Ông cho mời những người
mù trong xứ đến, những người mù từ khi mới được sinh
ra. Vua cho dắt tới một con voi. Vua bảo những người này
sờ voi và cho biết con voi như thế nào. Có người sờ chân
voi, nói voi giống cái cột nhà. Có người sờ đuôi voi, nói
voi giống cái phất trần. Có người sờ tai voi, nói voi giống
cái rổ. Có người sờ ngà voi, nói voi giống như một cái
cọc. Có người sờ bụng voi, nói voi giống cái bồ chứa
thóc. Có người sờ đầu voi, nói voi giống như cái lu nước.
Ngồi lại với nhau, những người mù này không ai đồng ý
với ai về hình thù của con voi. Họ cãi nhau kịch liệt. Ông
vua thấy thế rất lấy làm thích thú.
Các
vị, những gì quý vị thấy và nghe chỉ là một phần của
sự thật. Nếu ta cho đó là toàn thể sự thật tức là ta
bóp méo sự thật. Người tu học phải có tâm khiêm nhượng,
biết rằng cái thấy cái hiểu của mình còn nhỏ bé, và mình
cần phải nổ lực học hỏi và thực tập tinh tiến thêm
mãi. Người tu học phải có tâm cởi mở, biết rằng nếu
cố chấp vào tri kiến hiện tại, cho đó là chân lý tuyệt
đối, thì mình sẽ bị kẹt và sẽ đánh mất cơ hội tiếp
xúc với chân lý của thực tại mầu nhiệm. Khiêm nhượng
và cởi mở là hai điều kiện thiết yếu của sự tiến thủ.
Chương
67
NƯỚC
BIỂN CHỈ CÓ VỊ MẶN
Mùa
an cư năm ấy hoàn mãn, nhiều vị đại đức lên từ giã
Bụt để đi hoàng hóa ở các địa phương. Đại đức Punna,
vốn là một trong những vị giảng sư nổi tiếng của giáo
đoàn khất sĩ, trình với Bụt là đại đức có ý về quê
để hành đạo. Sinh quán của đại đức là đảo Sunaparanta,
ở ngoài khơi biển Đông, Bụt hỏi:
- Tôi
nghe nói vùng đó là một vùng chưa được khai hóa, những
giống dân cư trú tại đó tính tình hung dữ và các vụ bạo
động thưòng xảy ra luôn, không biết là thầy về đó hành
đạo có tiện hay không.
Đại
đức Punna bạch:
- Lạy
Bụt, chính vì họ chưa được khai hóa cho nên chúng ta phải
tới để giúp họ. Chính vì họ hung dữ và bạo động nên
chúng ta phải đem đạo từ bi và phép hành xử bất bạo động
đến. Con nghĩ là con có thể thành công ở đó được.
- Punna,
nếu thầy đang thuyết pháp mà họ cứ tới la ó và chửi
mắng vào mặt thầy thì thầy tính sao?
- Lạy
Bụt, con nghĩ la ó và chửi mắng cũng chưa lấy gì làm dữ
lắm. Họ cũng còn chưa liệng đá và đồ dơ vào con.
- Nhưng
nếu họ liệng đá và đồ dơ vào thầy?
- Lạy
Bụt, liệng đá và dồ dơ cũng chưa lấy gì làm dữ lắm.
Họ cũng còn chưa lấy gậy đánh vào con.
- Nhưng
nếu họ lỡ họ lấy gậy đánh vào thầy?
Đại
đức Punna cười:
- Lạy
Bụt, như vậy họ cũng còn hiền lắm. Họ vẫn chưa giết
con.
- Nhưng
họ lỡ họ giết thầy?
- Điều
này không xảy ra đâu, bạch đức Thế Tôn, mà dù nó có xảy
ra đi nữa thì chết vì đạo lý từ bi và bất bạo động
vẫn là một cái chết có ý nghĩa, có thể giáo dục người
ta được. Lạy Bụt, người ta sống trên đời ai cũng phải
có một lần chết, nếu cần chết vì lý tưởng từ bi và
bất động, con sẽ không từ nan.
Bụt
khen:
- Hay
lắm Punna! Thầy có dư sức đi hành hóa tại xứ Sunaparanta.
Tôi hỏi để các thầy khác cũng được nghe mà thôi, chứ
riêng tôi, tôi không ngi ngờ gì về khả năng và lập trường
bất bạo động của thầy hết.
Đại
đức Punna ngày xưa vốn là thương gia. Hồi ấy Punna thương
cùng với người em rễ đi buôn, bỏ hàng từ Savatthi đem về
Sunaparanta và chở những sản phẩm địa phương tại quê nhà
đem bán ở lục địa. Họ dùng ghe thuyền và xe bò để chuyên
chở hàng hóa. Một hôm chở hàng tới Savatthi, Punna được
trông thấy một đoàn khất sĩ đang trang nghiêm đi khất thực.
Do đó Punna đã tìm tới được tu viện Jeatvana và đã được
nghe Bụt thuyết pháp. Nghe xong bài thuyết pháp, Punna không
muốn đi muốn nữa. Ông muốn theo Bụt để làm khất sĩ.
Ông giao hết tất cả hàng hóa tiền bạc cho người em rễ
và tới chùa xin Bụt cho phép xuất gia. Đại đức Punna rất
thông minh, đại đức tu học rất tinh tiến và đã trở nên
một vị giảng sư xuất sắc. Đại đức đã từng đi hành
hóa nhiều nơi trong các vương quốc Kosala và Magadha. Ai cũng
nghĩ rằng kinh nghiệm và đạo hạnh của đại đức đủ
bảo đảm cho sự thành công của đại đức tại quê nhà.
Mùa
Xuân năm sau, trong chuyến đi về miền Đông, Bụt đã ghé
thăm Vesali, Campa, và theo dòng sông đi ra tới miền biển để
giáo hóa. Bụt và các vị khất sĩ đã có những dịp
ra ngồi rất lâu trên bờ biển. Một lần kia, đại đức
Ananda nói với Bụt:
- Bạch
Thế Tôn, nghe tiếng sóng vỗ, nhìn các đợt sóng, chấm dứt
mọi suy tư, theo dõi hơi thở và an trú trong hiện tại, con
thấy thân tâm thật thoải mái, và đại dương như giúp con
đổi mới trong từng giây từng phút.
Bụt
gật đầu.
Có
một hôm nọ đứng nói chuyện với ngư dân ven biển, đại
đức Ananda hỏi các ngư dân này nghĩ gì về biển cả. Một
người đàn ông cao lớn, nước da xạm nắng, dáng người
rất đẹp nói với thầy:
- Biển
có những đặc tính rất lớn và tôi ưa biển vì những đặc
tính ấy. Đặc tính thứ nhất là biển có những bãi cát
thoai thoải đưa ta đi từ từ xuống nước, khiến cho việc
thả thuyền và kéo lưới trở nên rất dễ dàng. Đặc điểm
thứ hai là biển luôn luôn ở tại chỗ, biển không bao giờ
dời chỗ. Mình muốn ra biển thì mình biết hướng mà tìm
đi. Đặc điểm thứ ba là biển không chấp nhận thây chết.
Khi có thây chết, biển luôn luôn đẩy nó lên bãi. Đặc điểm
thứ tư là biển chấp nhận nước của tất cả các dòng
sông, dù đó là sông Ganga, sông Yamuna, sông Aciravati, sông Sarabhu
hay sông Mahi. Sông nào ra tới biển thì cũng bỏ tên riêng
của mình để mang tên biển cả. Đặc điểm thứ năm là
tuy ngày đêm muôn sông liên tiếp đổ nước về biển, biển
củng không vì vậy mà có khi vơi khi đầy. Đặc điểm thứ
sáu là nước biển ở đâu cũng mặn. Đặc điểm thứ bảy
là trong lòng biển có biết bao nhiêu thứ san hô, xà cừ và
ngọc quý. Đặc điểm thứ tám là biển làm chỗ dung thân
cho hàng triệu loài sinh vật, trong đó có những loài rất
lớn dài hàng trăm do tuần, và những loài nhỏ bé như cây
kim hoặc hạt bụi. Thưa các thầy, tôi chỉ nói có chừng
đó, các thầy cũng thấy tôi yêu biển đến chừng nào.
Ananda
nhìn kỹ bác ngư dân. Bác này làm nghề chài lưới mà nói
năng như là một thi sĩ. Thầy hướng về phía Bụt:
- Thế
Tôn, bác ngư dân này ca tụng biển rất hay. Thế Tôn, bác
ngư dân yêu biển thế nào thì con cũng yêu đạo pháp giác
ngộ như thế, con thấy đạo pháp của Thế Tôn có rất nhiều
đặc tính tuyệt vời, đạo pháp này cũng bao la như biển
cả, mong Thế Tôn dạy cho chúng con.
Bụt
mỉm cười, đưa tay chỉ ghềnh đá:
- Chúng
ta hãy tới ngồi trên những tảng đá kia. Tôi sẽ nói cho
các vị nghe về những đặc tính của đạo pháp giác
ngộ.
Mọi
người theo Bụt leo lên ngồi trên ghềnh đá. Các bác ngư
dân cũng được mời theo. Khi mọi người đã an tọa quanh
Bụt, Bụt cất tiếng:
- Này
quý vị, bác ngư dân vừa nói tới tám điều đáng yêu của
biển. Tôi cũng sẽ nói tới tám điều đáng yêu của chánh
pháp.
Thứ
nhất, nếu biển có những bờ cát thoai thoải có thể đưa
ta đi từ từ xuống nước, khiến cho việc thả thuyền và
kéo lưới trở nên dễ dàng, thì chánh pháp cũng vậy. Trong
đạo pháp này, mọi người có thể đi từ dễ tới khó, từ
thấp tới cao, từ cạn tới sâu. Chánh pháp mỏ rộng cho tất
cả mọi người thuộc đủ loại căn tính: ai cũng có thể
đi vào chánh pháp được cả. Dù là em bé, người già, giác
ngộ trí thức, kẻ thiếu học ... tất cả đều tìm thấy
pháp môn tu học thích hợp với mình trong đạo pháp này.
Thứ
hai, nếu biển luôn luôn ở tại chỗ mà không dời đi nơi
khác, không cuốn phăng đi xóm làng và thành thị, thì chánh
pháp cũng thế, những nguyên tắc của chánh pháp luôn luôn
không thay đổi, và giới luật của người thọ trì chánh
pháp đã được quy định rõ ràng, Ở đâu có sự học hỏi
và thực hành đúng theo những nguyên tắc ấy và những giới
luật ấy là ở đó có chánh pháp, không thể nào sai chạy
được.
Thứ
ba, nếu biển không bao giờ dung túng một thây chết trong lòng
nó thì chánh pháp cũng vậy. Chánh pháp không dung túng được
vô minh, biếng lười và hành động phạm giới. Một người
không tu trong một đại chúng có tu không thể nào cư trú lâu
dài được. Ngưòi đó sớm muộn gì cũng phải bị đẩy ra
khỏi đoàn thể và giáo pháp.
Thứ
tư, nếu biển chấp nhận nước của tất cả các dòng sông
không phân biệt kỳ thị thì chánh pháp cũng thế. Từ giai
cấp nào trong bốn giai cấp xã hội, người ta cũng được
đón tiếp một cách bình đẳng vào trong đạo pháp này. Cũng
như khi nước các dòng sông chảy ra biển, chúng bỏ lại sau
lưng mình tên của dòng sông và bắt đầu lấy tên biển cả,
những người đi vào trong đạo pháp của tôi không còn mang
theo giai cấp, dòng dõi và địa vị xã hội của họ: tất
cả đều được gọi chung là người khất sĩ.
Thứ
năm, nếu biển không vơi đi cũng không đầy thêm dù đêm
ngày muôn sông vẫn tiếp tục chảy về, thì chánh pháp cũng
vậy. Chánh pháp là chánh pháp, không phải vì có nhiều người
đi theo mà mới là chánh pháp, không phải là vì ít người
đi theo mà đạo pháp không phải là chánh pháp. Sự thịnh
suy không đánh giá được chân lý của đạo pháp này.
Thứ
sáu, nếu nước biển ở đâu cũng chỉ có một vị là vị
mặn, thì chánh pháp cũng thế. Dù giáo pháp được trình bày
ra nhiều cách, dù có hàng ngàn hàng vạn pháp môn, thì chánh
pháp cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát. Không có
công năng giải thoát thì đó không phải là chánh pháp.
Thứ
bảy, nếu trong lòng biển có vô số các loại san hô, xà cừ
và
ngọc quý thì chánh pháp cũng thế. Trong đạo pháp ta có nhiều
pháp môn vi diệu và quý báu như tứ diệu đế, tứ chánh
cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lục, thất bồ đề và
bát chánh đạo.
Thứ
tám, nếu biển là chỗ dung thân thoải mái cho hàng triệu
loài sinh vật trong đó có những loài vật nhỏ như hạt cát
và dài lớn đến hàng trăm do tuần, thì chánh pháp cũng thế.
Trong đạo pháp ta, một em bé hay một người ít học vẫn
có thể cơ hội tu học thoải mái. Trong đạo pháp ta, những
bậc đại nhân có kích thước lớn như những vị bồ tát
có thể có cơ hội tu học và hoằng hóa trong một môi trường
thênh thang. Trong đạo pháp ta cũng có vô số các vị đã chứng
đạt quả vị Nhập lưu, Nhất hoàn, Bất hoàn và A la hán.
Này
quý vị, biển cả là một nguồn cảm hứng, là một kho tàng
vô tận. Chánh pháp là một nguồn cảm hứng, là một kho tàng
vô tận.
Đại
đức Ananda chắp tay nhìn Bụt:
- Thế
Tôn, người là một vị đạo sư, nhưng người cũng là một
thi sĩ nữa.
Chương
68
BA
CÁNH CỬA NHIỆM MẦU
Rời
miền biển Bụt trở về Pataliputta, ghé Vesali và đi lên hướng
Tây Bắc, quê hương của người. Khi tới Samagama, thuộc
nội địa vương quốc Sakya. Bụt nghe nói vị giáo chủ của
giáo phái Nigantha là Nathaputta đã qua đời, và giáo đoàn du
sĩ Nigantha đã bị chia rẽ trầm trọng làm hai cánh. Hai bên
chống đối nhau rất kịch liệt về mặt giáo lý cũng như
về mặt tổ chức khiến cho giới đệ tử tại gia của họ
rất đau khổ, không biết theo ai.
Chú
sa di Cunda thị giả của đại đức Sariputta đã tới gặp
đại đức Ananda và kể lại những chuyện trên, vì trong khi
an cư ở Pava, chú đã nghe hết mọi chi tiết. Thầy Ananda liền
đem câu chuyện chia rẽ của giáo phái Nigantha bạch lên Bụt.
Thầy nói, giọng rầu rầu:
- Lạy
Bụt, con mong sau khi người diệt độ, sẽ không có sự chia
rẽ trong hàng ngũ giáo đoàn khất sĩ như thế. Con không ưa
sự chia rẽ và tranh chấp một chút nào hết.
Bụt
vỗ vai Ananda:
- Này
Ananda, thầy có thấy các vị khất sĩ trong giáo đoàn ta tranh
chấp và cãi vả nhau về nội dung các pháp môn như Tứ Niệm
Xứ, Chánh Cần, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề và Bát Chánh
Đạo không?
- Lạy
Bụt, con chưa thấy có vị khất sĩ nào tranh chấp và cãi
cọ về nội dung giáo lý, nhưng con nghĩ khi Bụt còn tại thế,
nhờ đức của Bụt ai cũng nương tựa vào Bụt, nghe lời
Bụt và tu học yên ổn không có vấn đề gì, nhưng một khi
Bụt trăm tuổi, họ có thể bắt đầu tranh chấp với nhau
về giới luật và về cách thức sinh hoạt và hoằng hóa.
Nếu điều này xảy ra thì nhiều người sẽ buồn lắm và
sẽ mất tin tưởng ở đạo pháp.
Bụt
an ủi Ananda:
- Đừng
lo ngại, Ananda, chừng nào mà có sự tranh chấp và cãi cọ
trong giáo đoàn về nội dung giáo lý, về các pháp môn tu tập
như Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất
Bồ Đề, Bát Chánh Đạo ... thì lúc đó ta mới nên e ngại,
còn những tranh chấp về tổ chức, về giới luật và về
lề thói sinh hoạt, tuy có thể xảy ra, nhưng cũng không đáng
ngại lắm đâu.
Tuy
được Bụt trấn an, đại đức Ananda vẫn không tươi tỉnh
lắm. Thầy mới nghe tin là tại Vesali, đại đức Sunakkhata,
ngày xưa từng làm thị giả cho Bụt, nay đã rời bỏ giáo
đoàn khất sĩ vì những bất mãn riêng tư. Thầy ấy đã bắt
đầu tổ chức những cuộc diễn giảng chống lại Bụt và
giáo đoàn. Đi tới đâu Sunakkhata cũng nói: sa môn Gotama cũng
chỉ là người thường thôi, không có gì đặc biệt hơn ai
và giáo pháp của sa môn Gotama chỉ đem tới sự giải thoát
cá nhân, chẳng có ích lợi gì cho xã hội. Sunakkata đã bắt
đầu gây hoang mang trong quần chúng. Điều này chính đại
đức Sariputta cũng đã biết.
Đại
đức còn biết rằng mầm chia rẽ đã manh nha trong giáo đoàn
ở thủ đô Rajagaha. Một nhóm các vị khất sĩ tại Rajagaha
trong đó có đại đức Devadatta đang âm thầm tổ chức một
giáo đoàn khất sĩ độc lập với giáo đoàn của Bụt. Cộng
tác với thầy Devadatta có nhiều thầy cũng thuộc hạng giỏi
như các đại đức Kokalita, Katamoraka Tissa, Khandadeviputta và
Samuddadatta. Thầy Devadatta vốn là một trong những người đệ
tử lớn, thông minh và tài giỏi nhất của Bụt. Chính sư
huynh Sariputta đã từng khen ngợi đại đức Devadatta ngay giữa
các đám đông vùng Rajagaha. Đã có lúc đại đức Sariputta
tiếp xử với đại đức Devadatta như là một người bạn
tri kỷ. Vậy mà không biết vì lý do nào Devadatta gần đây
đã nảy ý ganh ghét, ngay cả với Bụt. Thầy Ananda không biết
là đã có ai trình lên Bụt các vụ này chưa. Riêng thầy,
thầy rất ái ngại phải nói để Bụt nghe những chuyện đau
buồn như thế.
Mùa
mưa năm sau, Bụt lại về Savatthi và an cư tại vườn Cấp
Cô Độc. Đầu mùa an cư, người giảng kinh Pháp Ấn.
Hôm
đó, tại giảng đường Kỳ Thọ, Bụt nói:
- Có
pháp ấn mầu nhiệm, quý vị có biết không? Hôm nay tôi muốn
nói cho quý vị nghe về pháp ấn ấy. Qúy vị hãy tháo bỏ
mọi tri kiến để cho tâm hồn thanh tịnh thì mới nghe, hiểu
và tiếp thị được.
Các
vị khất sĩ! Pháp ấn là con dấu chứng thực tích cách chân
xác của chánh pháp. Có ba con dấu tất cả. Bất cứ một
giáo lý nào, một pháp môn nào mà không có dấu vết của
ba con dấu ấy, thì không phải là giáo lý của tôi nói. Ba
con dấu là không, vô tướng, và vô nguyện. Ba con dấu ấy
cũng là ba cánh cửa để đi vào thế giới của giải thoát.
Vì vậy pháp ấn cũng được gọi là ba cánh cửa giải thoát,
hay tam giải thoát môn.
Các
vị khất sĩ! Con dấu thứ nhất là không (sunnata). Không ở
đây có nghĩa là rỗng không, không có tự ngã riêng biệt.
Không ở đây không có nghĩa là không đối với có. Như các
vị đã biết, chấp có và chấp không là hai kiến chấp sai
lầm. Vậy không ở đây có nghĩa là không có một tự ngã
riêng biệt, không có một sự tồn tại riêng biệt. Vạn pháp
nương vào nhau mà có mặt, không có pháp nào có thể phát
sinh và tồn tại một cách độc lập. Các pháp sinh khởi và
tồn tại trong liên hệ nhân duyên chằng chịt, cái này có
vì cái kia có, cái này không vì cái kia không, cái này sinh
vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt. Do đó, bản
chất của không là duyên khởi. Này các vị! Các vị phải
tập nhìn vạn pháp trong liên hệ nhân duyên của chúng để
thấy được rằng trong một pháp có mặt tất cả vạn pháp,
để thấy rằng trong cái một có cái tất cả và ngoài cái
một, cái tất cả không thể nào tồn tại. Quán chiếu mười
tám giới là sáu căn, sáu trần và sáu thức, quán chiếu năm
uẩn là sắc thọ tưởng, hành và thức, các vị sẽ thấy
được rằng không có giới nào cũng như không có uẩn nào
có tự thể riêng biệt, rằng tất cả đều nương vào nhau
mà đứng. Thấy được tính không ấy rồi thì thấy được
tính không của vạn pháp. Thấy được tính không ấy rồi
thì các vị không còn ước muốn theo đuổi hoặc trốn chạy
bất cứ một pháp nào nữa và các vị sẽ đồng thời vượt
thoát những tham đắm, phân biệt hoặc kỳ thị đối với
tất cả các pháp. Quán chiếu về tính không tức là mở ra
một cánh cửa để đi vào thế giới của tự do. Vì vậy
không là cánh cửa giải thoát thứ nhất.
Các
vị khất sĩ! Con dấu thứ hai là vô tướng (animita). Vô tướng
tức là vượt thoát những khuôn khổ của tri giác và của
nhận thức phân biệt. Vì không thấy được tự tính duyên
khởi của các pháp. Vì không thấy được tự tính duyên khởi
của các pháp, vì không chứng đắc được tính không của
các pháp, cho nên người đời thường nhìn các pháp như những
hiện tượng riêng biệt, độc lập, cái này tồn tại ngoài
cái kia, cái này có mặt độc lập với tất cả cái kia. Nhìn
các pháp như thế cũng giống như là lấy thanh gươm của nhận
thức phân biệt để chặt thực tại ra từng mảnh nhỏ rời
rạc, và như thế là không thấy được tự thân của thực
tại. Này các vị! Vạn pháp tùy thuộc vào nhau, cái này có
trong cái kia, cái này lồng trong cái kia, trong một cái có tất
cả mọi cái. Đó là ý nghĩa hai tiếng tương nhập và
tương tức. Tương nhập là đi vào trong nhau; tương tức là
là nhau. Cái này đi vào trong cái kia, cái kia đi vào trong cái
này; cái này là cái kia, cái kia là cái này. Quán chiếu như
thế các vị sẽ thấy rằng tri giác của chúng ta đầy dẫy
sai lầm. Con mắt của cảm giác không thấy được vạn hữu
rõ ràng và chính xác bằng con mắt quán chiếu của trí tuệ.
Có khi nhìn sợi dây, con mắt của cảm giác và của tri giác
có thể nhận lầm là con rắn, nhưng dưới con mắt của quán
chiếu, tự thân của sợi dây được hiển lộ rõ ràng và
hình bóng con rắn sẽ tự nhiên tiêu diệt.
Các
vị khất sĩ! Các tướng trạng như có, không, sinh, diệt,
một, nhiều, còn, mất, tới, đi, dơ, sạch, thêm, bớt ...
đều là những tướng trạng mà tri giác và nhận thức phân
biệt úp chụp vào thực tại. Đối với đệ nhất nghĩa đế,
thì tự thân thực tại không bị giam nhốt trong những phạm
trù phân biệt đó, không bị khuôn khổ trong các tướng trạng
đó của nhận thức phân biệt, Vì vậy cho nên vạn pháp được
gọi là vô tướng. Quán chiếu để làm tan rã những ý niệm
có, không, sinh, diệt, một, nhiều, còn, mất, tới, đi, dơ,
sạch, thêm, bớt ... các vị sẽ đạt tới giải thoát. Vô
tướng vì vậy là cánh cửa mầu nhiệm thứ hai mở ra để
ta đi vào thế giới của tự do. Vô tướng là cánh cửa giải
thoát thứ hai.
Các
vị khất sĩ! Con dấu thứ ba là vô tác, hay là vô nguyện
(appanithita). Vô nguyện là không đuổi theo bất cứ một cái
gì. Tại sao thế! Thói thường người ta hay muốn trốn chạy
khỏi một pháp để đuổi theo một pháp khác. Người đời
ưa trốn chạy sự nghèo khổ để đuổi theo sự giàu sang.
Người tu đạo ưa trốn chạy sinh tử để đuổi theo giải
thoát. Nhưng nếu các pháp có mặt trong nhau, nếu các pháp
là nhau, thì ta còn cần trốn chạy pháp nào và đuổi theo
pháp nào? Trong sinh tử đã có niết bàn, trong niết bàn đã
có sinh tử, niết bàn và sinh tử không phải là hai thực thể
riêng biệt. Vậy thì ruồng bỏ sinh tử để chạy theo niết
bàn tức là chưa chứng nhập được thể tính duyên sinh của
vạn pháp. Chưa chứng nhập tự tính không và vô tướng của
vạn pháp. Quán chiếu vô nguyện là để chấm dứt ngay sự
tìm cầu và theo đuổi.
Giải
thoát và giác ngộ không phải là những pháp có mặt ở ngoài
ta. Chỉ cần mở mắt để chiêm nghiệm, thì ta thấy được
ta chính là bản thân của giải thoát và giác ngộ. Tất cả
các pháp, tất cả chúng sinh đều có sẵn tự tính giác ngộ
tròn đầy trong tự thân mình. Các vị đừng đi tìm tự tính
ấy ở bên ngoài. Nếu biết xoay ánh sáng quán chiếu vào tự
thân, tự khắc các vị thực hiện được giác ngộ. Các vị
khất sĩ! Tất cả các pháp trong vũ trụ không pháp nào tồn
tại độc lập ngoài nhận thức của các vị, trong đó kể
cả niết bàn, trong đó kể cả giải thoát. Các vị không
cần đi tìm cầu những thứ ấy ở đâu nữa. Các vị nên
nhớ rằng đối tượng nhận thức không tồn tại độc lập
với nhận thức. Không đuổi theo một pháp nào, kể cả Phạm
Thiên, Niết Bàn và Giải Thoát, đó là ý nghĩa của vô nguyện.
Các vị đã là cái các vị đang đi tìm.
Vô
nguyện, do đó, là cánh cửa mầu nhiệm thứ ba mở ra để
ta đi vào thế giới của tự do. Vô nguyện là cánh cửa giải
thoát thứ ba vậy.
Các
vị khất sĩ! Đó là giáo lý pháp ấn, đó là pháp môn ba
cánh cửa giải thoát. Tam Giải Thoát Môn là pháp môn rất
vi diệu, rất mầu nhiệm, các vị nên hết lòng học hỏi
và thực tập. Tu tập theo pháp này chắc chắn quý vị sẽ
đạt tới tri kiến thanh tịnh, và thực hiện được giải
thoát.
Bụt
nói xong Kinh Pháp Ấn, đại đức Sariputta đứng dậy đảnh
lễ Bụt. Đại chúng thấy thế đều đứng dậy và lạy xuống
để tạ ơn Thế Tôn.
Đại
đức Sariputta tuyên bố với đại chúng là ngày hôm sau sẽ
có một buổi trùng tuyên và học hỏi về kinh này. Đại đức
nói đây là một kinh thâm diệu vô cùng, phải đem hết sinh
mạng và tâm chí ra mà học hỏi và thực tập mới mong có
thể hiểu được. Đại đức Svastika thấy kinh này có liên
hệ tới Kinh Không mà Bụt dạy năm ngoái. Bụt đã hướng
dẫn các đệ tử của người từ những giáo lý đơn giản
đến những giáo lý càng ngày càng huyền nhiệm. Thầy thấy
các vị trưởng thượng như Mahakassapa, Sariputta, Punna, Moggallana
... ai nấy đều tỏ vẻ sung sướng cực kỳ khi được nghe
kinh này. Thầy nhớ năm ngoái khi Bụt giảng xong Kinh Không,
thầy Sariputta cũng đã lên lạy Bụt, và tất cả các vị
trưởng thượng trong giáo đoàn cũng đã lên bắt chước đại
đức Sariputta. Tình thầy trò thật rất thắm thiết.
Chiều
ngày hôm sau, các đại đức Yamelu và Tekula đến tìm Bụt
ở tịnh thất của người. Hai đại đức này đều xuất
thân từ dòng dõi Bà la môn. Đó là hai anh em ruột. Họ nổi
tiếng là lão thông văn chương, cú pháp và nhất là cổ ngữ.
Giọng phúng tụng và xướng tán của họ rất thanh tao, trong
như tiếng chuông và hùng mạnh như tiếng trống. Gặp Bụt,
hai đại đức lạy xuống. Bụt mời họ ngồi:
Đại
đức Yamelu nói:
- Thế
Tôn, chúng con muốn xin phép Thế Tôn để trình bày về vấn
đề chuyển ngữ trong công cuộc hoằng pháp. Bạch Thế Tôn,
trong khi Thế Tôn thuyết pháp, người thường dùng ngôn ngữ
Magadhi ở Magadha hay ở Kosala cũng vậy. Nhưng trong giới khất
sĩ có nhiều vị không sử dụng được tiếng Magadhi, và ở
những miền họ hành đạo dân chúng cũng không biết tiếng
Magadhi. Vì vậy pháp âm của người đã được chuyển dịch
thành rất nhiều thứ tiếng của nhiều giống dân khác nhau.
Thời chưa xuất gia, chúng con đã may mắn hoặc được nhiều
sinh ngữ, và chúng con nhận xét rằng ở nhiều nơi người
ta đã làm sai lệch và méo mó pháp âm vi diệu của người
bằng cách diễn dịch pháp âm ấy thành nhiều thổ ngữ. Chúng
con xin Bụt cho phép chúng con đem tất cả các kinh giáo của
người viết thành ngôn ngữ Sanskrit cổ điển. Nếu các vị
khất sĩ bốn phương đều học thuộc pháp âm người qua cổ
ngữ ấy thì chắc chắn chúng ta tránh được cái nạn làm
méo mó và sai lệch tiếng nói của Bụt.
Bụt
im lặng một lát rồi ngửng lên nhìn hai vị đại đức:
- Các
vị làm như thế không tiện, đạo pháp là một thực thể
linh động, ngôn ngữ để chuyên chở giáo pháp phải là những
sinh ngữ đang được sử dụng. Tôi không muốn giáo lý của
chúng ta được trình bày bằng một cổ ngữ, trừ những người
trí thức, ít ai hiểu và cảm được giáo lý qua một cổ
ngữ. Các thầy Yamalu và Tekula, tôi muốn nói rõ với quý vị
là giới môn đệ của tôi, xuất gia cũng như tại gia, đều
phải học hỏi và thực tập giáo pháp bằng chính tiếng mẹ
đẻ của mình. Như vậy giáo pháp mới linh động và dễ hiểu.
Giáo pháp phải được thích ứng với đời sống hiện tại
và phải được trình bày như thế nào để thích hợp và
dễ hiểu với văn hóa địa phương.
Hiểu
được ý Bụt, hai đại đức Yamalu và Tekula đảnh lễ người
và rút lui.
Chương
69
CHIM
CỤT VÀ CHIM ƯNG
Tuy
chưa bị Bụt gọi riêng để quở trách lần nào, thầy Svastika
vẫn biết rằng mình còn có rất nhiều khiếm khuyết trong
nếp sống phạm hạnh và thầy cũng biết rằng Bụt thấy
hết những khiếm khuyết ấy. Nếu Bụt không rầy hoặc chưa
rầy có lẽ là vì Bụt thấy thầy có để tâm hộ trì sáu
căn, tuy sự hộ trì này chưa được nghiêm mật. Mỗi lần
thấy vị khất sĩ hay nữ khất sĩ nào bị quở trách, Svastika
thường xem như chính mình bị quở trách, vì vậy thầy có
nhiều cơ hội để tập thúc liễm thân tâm. Nhất là mỗi
khi thầy Rahula được Bụt gọi lại giáo hóa là thầy Svastika
xem như là chính mình được Bụt gọi. Thầy Rahula đã bước
những bước thật vững chãi trên con đường tiến tu phạm
hạnh và điều này là một trợ duyên cho sự tu học của
thầy Svastika.
Có
một lần thầy Svastika ngồi tâm sự với thầy Rahula trong
một cụm rừng về sự may mắn được xuất gia theo Bụt của
mình. Thầy nói thầy đã được nếm hương vị tịnh lạc
và giải thoát rồi thì không còn thấy nếp sống ngoài thế
gian là vui thích nữa. Thầy Rahula bảo:
- Tuy
vậy mình không nên vội quá tin nơi mình. Công trình hộ trì
sáu căn là công trình căn bản của nếp sống phạm hạnh
và ngay các vị lớn trong giáo đoàn khất sĩ cũng vẫn không
dám khinh thường công phu thực tập này.
Rồi
thầy kể cho thầy Svastika nghe về thầy Vangisa. Thầy Vangisa
nổi tiếng là một vị khất sĩ vừa có biện tài vừa có
khiếu văn chương. Thầy đích thực là một thi sĩ, thầy đã
làm nhiều bài thi kệ ca ngợi Bụt, Pháp và Tăng. Thầy đã
từng đọc thơ của thầy cho Bụt nghe và Bụt đã ngỏ lời
khen ngợi. Hồi mới xuất gia, thầy Vangisa được theo học
với thầy Nigrodhakappa và y chỉ nơi thầy. Hai thầy trò cư
trú tại đền Aggalava miền ngoại ô thành Savatthi. Sau đó
trưởng lão Nigrodhakappa tịch, thầy được về tu viện Cấp
Cô Độc. Một hôm đi khất thực với thầy Ananda, thầy Vangisa
thú thật với thầy Ananda rằng tâm thầy không được an tịnh
và thầy khẩn cầu thầy Ananda hóa giải dùm. Hỏi ra, thầy
Ananda biết được rằng tâm của thầy Vangisa còn đang xao
xuyến vì nhan sắc của một số các vị tiểu thư thường
đến cúng dường tại tu viện. Thầy Ananda hiểu rằng thầy
Vangisa là một nghệ sĩ, tâm hồn dễ rung động bởi những
cái đẹp và vì vậy đã lấy cái sắc đẹp của chính giáo
pháp và của giác ngộ để giúp thầy Vangisa vượt thoát cái
đẹp mong manh, vô thường và có thể gây tai họa của nữ
sắc. Thầy đã dạy thầy Vangisa chiếu rọi ánh sáng vào đối
tượng quán niệm để thấy tính cách bất tịnh và chóng
tàn hoại của các pháp. Thầy Vangisa đã thực tập theo lời
giáo huấn của thầy Ananda, đã thực tập hộ trì sáu căn
và đã làm một bài thi kệ tự tính mà nhiều thầy biết
đến. Bài kệ ấy như sau:
Đã khoác áo ca sa,
Tham dục còn đuổi theo
Như trâu nhớ lúa người
Quả thật là hổ thẹn!
Con của nhà đại tướng
Tài giỏi nghề cung tên
Ngàn người bắn tứ phía
Vẫn phá được vòng vây.
Nay giai nhân có đến,
Đông hơn là quân tràn,
An trú nơi chánh pháp
Ta quyết cũng không sờn.
Ta đã theo Thế Tôn
Của dòng họ Mặt Trời
Trên đường về thong dong
Tình ta đã trọn gởi.
Do hộ trì sáu căn
Ta ung dung tiến bước
Não phiền vô lượng
Nào lay chuyển được ta?
Thầy
Vangisa là người thông minh và tài giỏi, vì vậy đã có lần
vướng vào tâm trạng tự hào và âm thầm có ý khinh miệt
một số các thầy khác, nhưng may mắn thay, nhờ tu tập chánh
niệm, thầy đã thấy được niềm kiêu mạn khởi ra trong
tâm thầy, và thầy bất giác cảm thấy hổ thẹn. Thầy đã
làm ra bài kệ sau đây để tự tỉnh:
Đệ tử Gotama,
Hãy đoạn trừ kiêu mạn!
Con đường khiêu mạn này
Chỉ đưa về khổ thủ!
Kẻ kiêu mạn ngấm ngầm
Cũng đi về địa ngục
Huống chi là những kẻ
Vênh váo nhìn cuộc đời!
Học đạo thấy đường ngay,
Tâm hồn được an lạc
Niềm vui đó rất cao
Ta phải mong đạt tới.
Hãy tập phép chánh niệm
Để đạt phép tam minh,
Kiêu mạn đoạn trừ xong
Mới thành công thật sự.
Nhờ
có cảnh giác cao cho nên thầy Vangisa đã vượt được rất
nhiều chướng ngại và đã bước những bước thật lớn
trên con đường chuyển hóa. Thầy đã đạt tới quả vị
Bất Sinh, và điều này đã được trưởng lão Sariputta xác
nhận. Ngày tâm tư bừng mở, thầy Vangisa đã làm một bài
thi kệ để tỏ lòng biết ơn Bụt. Bài thi kệ ấy như sau:
Ngày xưa say thơ mộng
Ta phiêu bồng khắp nơi
Cảnh chợ rồi cảnh quê
Cuối cùng được gặp Bụt!
Thế Tôn đã thương xót
Dạy cho ta phép mầu
Nghe xong khởi niềm tin
Khoác áo người khất sĩ.
An trú trong chánh pháp
Kiên cố ta một lòng
Nay chứng được tam minh
Đền ơn bậc tỉnh thức
Hạt giống của mặt trời
Thế Tôn đã gieo rắc
Vì chúng sanh u tối
Người khai mở lối ra
Bốn thật sự nhiệm mầu
Con đường tám nẻo chánh
An lạc và tự do
Nghĩa lời cùng vi diệu.
Phạm hạnh đã cao siêu
Độ sinh càng khéo léo
Niết bàn cứu muôn loài
Ơn sâu người chỉ dạy!
Thầy
Sariputta trong một buổi giảng cho các vị khất sĩ trẻ có
đem trường hợp của thầy Vangisa ra để làm gương. Thầy
bảo: Thầy Vangisa trong bước đầu tu học cũng đã từng có
những tình cảm và những tâm trạng yếu đuối, nhưng sau
đó nhờ tu học tinh chuyên đã vượt thắng được mọi phiền
não và chứng ngộ được diệu pháp. Biết vậy, người tu
không nên có mặc cảm, dù là mặc cảm tự tôn hay là mặc
cảm tự ty. Tu tập chánh niệm, ta sẽ ý thức được những
gì đang xảy ra trong nội tâm và ta sẽ không bị lôi cuốn
theo những gì đang xảy ra. Hộ trì sáu căn vì vậy là phương
pháp rất mầu nhiệm để vững tiến trên đường đạo.
Nghe
thầy Rahula kể về thầy Vangisa, thầy Svastika hình dung lại
được vị khất sĩ tài hoa này. Tuy thầy đã từng được
gặp thầy Vangisa nhưng chưa bao giờ có dịp trò chuyện. Thầy
định bụng hôm nào sẽ xin đến làm quen và học hỏi kinh
nghiệm tu đạo của thầy Vangisa. Thầy nhớ có một hôm Bụt
dùng hình ảnh về biển cả để dạy đại chúng về công
phu hộ trì sáu căn. Người nói:
- Này
các vị khất sĩ, mắt là một đại dương sâu, trong ấy có
đầy những loài thủy quái, có đầy những con nước xoáy
và những đợt sóng ngầm rất nguy hiểm. Nếu không đi trong
chánh niệm, chiếc thuyền của quý vị sẽ bị những loài
thủy quái, những con nước xoáy và những đợt sóng ngầm
ấy làm cho đắm chìm trong biển sắc. Tai, mũi, lưỡi, thân
và ý của quý vị cũng là những đại dương sâu trong ấy
có đầy những loài thủy quái ...
Nhớ
tới những lời dạy ấy của Bụt, thầy Svastika thấy sâu
sắc vô cùng. Quả thật sáu giác quan của thầy là những
đại dương sâu, và những đợt sóng ngầm có thể nổi dậy
bất cứ lúc nào và làm cho thầy chìm đắm. Thầy Rahula nói
rất phải: thầy rất không nên khinh thường và phải thực
tập rất nghiêm chỉnh lời Bụt dạy.
Câu
chuyện về con chim Cút mà Bụt kể cho các thầy khất sĩ trẻ
nghe trước túp lều của người tại tu viện Jetavana là một
câu chuyện thật dễ nhớ. Câu chuyện này cũng có mục đích
nhắc nhở các thầy giữ gìn sáu căn và đừng buông thả
tự thân trong lĩnh vực của thất niệm. Bụt kể: Một hôm
nọ có một con chim Ưng thình lình đáp xuống và chụp lấy
một con chim Cút rồi bay vút lên cao. Con chim Cút than khóc,
tự trách là mình đã đi ra khỏi vùng mà cha mẹ nó bảo không
nên ra khỏi cho nên mới bị tai nạn. “Nếu ta biết nghe lời
cha mẹ ta thì con chim Ưng này có làm gì được ta”. Nghe con
chim Cút nói thế, chim Ưng hỏi: “Vậy vùng mà cha mẹ mày
bảo mày đừng ra khỏi là vùng nào?” Chim Cút trả lời:
“Đó là vạt đất mới được cày”. Chim Ưng lấy
làm lạ, bay đi, bèn mang con chim Cút ra trả về chỗ cũ. Trước
khi bay đi, chim Ưng nói: “Này Cút, ta đã thả mày ra, mày
hãy liệu chừng, ta chỉ thả mày lần này thôi. Lần sau nếu
bắt được mày, ta sẽ không thả đâu”.
Chim
Cút trở về vạt đất đã được cày, leo lên đứng trên
một hòn đất lớn và thách thức chim Ưng: “Này chim Ưng,
mày hãy xuống đây, xuống đây xem có thể bắt được ta
hay không?”.
Chim
Ưng nổi giận, xếp hai cánh vào mình, lao vút xuống với tất
cả sức lực của nó. Chim Cút biết thế nên lập tức chui
xuống núp dưới hòn đất. Chim Ưng đã bắt không được
chim Cút mà còn va vào hòn đất thật mạnh đến nỗi bị
bể ngực và quay ra dẫy chết. Này các vị khất sĩ, người
tu hành phải an trú trong chánh niệm, hộ trì sáu căn cho nghiêm
chỉnh, rời khỏi lãnh vực chánh niệm tức là đi vào lãnh
thổ của ma vương, thế nào cũng bị tai nạn”.
Thầy
Svastika nhận thấy trong giáo đoàn của Bụt có nhiều vị
khất sĩ trẻ tuổi có đạo hạnh và tài năng. Điều này
làm cho thầy phấn khởi. Có một hôm thầy được tháp tùng
một số các thượng tọa tới dự lễ trai tăng ở tư thất
cư sĩ Citta tại thị trấn Macchikasanda và đã khám phá ra sự
có mặt im lặng của một vị khất sĩ trẻ tuổi như thế.
Cư sĩ Citta là người nổi tiếng tinh thâm giáo lý. Ông là
một vị đệ tử cư sĩ có đạo tâm và cũng được quần
chúng ái mộ gần như cư sĩ Anathapindika. Ông thường hay thỉnh
các vị cao đức tới nhà để cúng dường trai phạn và để
được học hỏi. Hôm ấy có trên mười vị khất sĩ cao niên
được mời. Chỉ có Svastika và một vị khất sĩ khác tên
là Isidatta là hai người trẻ tuổi. Sau khi cúng dường trai
hạn, cư sĩ Citta đứng ra đảnh lễ các vị tôn túc, xin phép
ngồi xuống một chiếc ghé thấp trước mặt các vị xuất
gia và đặt câu hỏi sau đây:
- Kính
bạch các vị tôn túc, con đã được nghe kinh Bramajala, trong
đó Bụt nói về sáu mươi hai luận chấp của các học phái
đương thời. Con cũng có nghe những câu hỏi về sinh diệt
và về linh hồn mà các đạo sĩ thường nêu ra như: thế giới
là hữu biên hay vô biên, vĩnh cữu hay phải đoạn diệt, linh
hồn và thân xác là một hay là khác, Như Lai có còn không
sau khi nhập diệt, hay là vừa còn vừa không còn, hoặc không
còn cũng không không còn ... Bạch các vị tôn đức, do đâu
mà có những luận chấp và những câu hỏi có tính cách siêu
hình ấy?
Trước
câu hỏi của cư sĩ Citta, tất cả các vị khất sĩ đều
nín thinh, Citta lặp lại câu hỏi này tới ba lần mà cũng
không có vị khất sĩ nào lên tiếng để trả lời cả. Thầy
Svastika cảm thấy bối rối, và cảm thấy nóng bên hai tai.
Đột nhiên thầy Isidata lên tiếng, hướng về phía các vị
trưởng lão, thầy hỏi:
- Kính
bạch các vị trưởng thượng, con có thể trả lời câu hỏi
đó của cư sĩ Citta được không?
Các
vị khất sĩ lớn trả lời:
- Khất
sĩ, ông có thể trả lời nếu ông muốn.
Hướng
về cư sĩ Citta, thầy Isidatta nói:
- Này
của sĩ, sở dĩ có những luận chấp và những câu hỏi ấy
vì người ta còn mắc kẹt vào ngã kiến. Nếu ngã kiến không
còn, người ta sẽ không hỏi những câu hỏi như thế và không
chủ trương những luận chấp như thế.
Cư
sĩ Citta lộ vẻ ngạc nhiên và thán phục, song ông lại nói:
- Xin
đại đức vui lòng cắt nghĩa cho rõ thêm.
- Người
không được gần gũi các bậc thiện nhân, không được học
hỏi giáo pháp giác ngộ, thường cho rằng thân thể này là
ta, hoặc thân thể này là của ta, hoặc có ta trong thân thể
này, và có thân thể này trong ta ... Người ấy lại cho rằng
cảm thọ là ta, là sở hữu của ta, hoặc có ta trong cảm
thọ này và có cảm thọ này trong ta ... Người ấy cũng có
cùng một kiến chấp ấy đối với tri giác, tâm hành và nhận
thức. Đó là người đang bị kẹt vào ngã kiến, chính vì
bị kẹt vào ngã kiến như thế nên mới chủ trương và tin
vào những luận chấp như sáu mươi hai luận chấp trong kinh
Phạm Võng, và mới hỏi những câu hỏi như những câu hỏi
về hữu biên và vô biên, thường và đoạn, một và khác,
còn hay là không còn. Cư sĩ Citta, nếu học hỏi và tu tập
để phá trừ được ngã kiến thì những câu hỏi và những
luận chấp kia sẽ tự động trở thành vô nghĩa.
Cư
sĩ hoàn toàn bị thầy Isidatta chinh phục. Ông kính cẩn hỏi:
-
Bạch đại đức, ngài từ đâu tới?
- Cư
sĩ Citta, tôi tới từ Avanti.
- Bạch
đại đức, tôi nghe nói ở Avanti có một người trẻ tuổi
tên là Isidatta đã xuất gia. Đó là một thiếu niên anh tuấn,
lỗi lạc phi thường, một người mà chúng tôi nghe tên mà
chưa bao giờ từng được gặp. Chẳng hay đại đức có gặp
ông ta hay không?
- Cư
sĩ Citta, tôi đã có gặp ông ấy.
- Vậy
thưa đại đức, vị khất sĩ tài đức ấy hiện bây giờ
ở đâu?
Đại
đức Isidatta im lặng.
Cư
sĩ Citta vốn người thông minh. Ông ngờ rằng vị đại đức
đang ngồi trước mặt mình là Isidatta. Ông hỏi:
- Có
phải đại đức chính là đại đức Isidatta đó không?
- Thưa
phải, thầy Isidatta trả lời.
Cư
sĩ Citta mừng rỡ:
- Vậy
thì quý hóa và hân hạnh cho tôi biết mấy. Bạch đại đức
Isidatta, vườn xoài và tệ xá tại Macchikasada rất mát mẻ
và đầy đủ mọi tiện nghi. Tôi rất mong ước được đại
đức đến viếng chúng tôi thường thường. Chúng tôi xin
nguyện cúng dường đại đức tất cả những gì đại đức
cần đến như thực phẩm, y áo, thuốc men và chỗ ở.
Thầy
Isidatta im lặng. Sau đó các vị khất sĩ từ giã. Thầy Svastika
nghe nói là sau đó, thầy Isidatta không bao giờ trở lại nhà
cư sĩ Citta một lần nữa. Và từ đó thầy cũng không còn
được gặp lại thầy Isidatta. Hình ảnh thầy Isidata sáng
ngời trong tâm thầy Svastika. Thầy Isidatta không những thông
minh mà còn rất khiêm nhượng nữa. Thầy không màng tới sự
cung kính và cúng dường của người cư sĩ, dù là một vị
đại cư sĩ như Citta. Thầy Svastika thầm nguyện sẽ học theo
hạnh của thầy Isidatta và thầm hẹn là một hôm nào đó
có dịp ghé về Avanti, thầy sẽ hỏi thăm để tìm gặp lại
vị khất sĩ ấy.
Thầy
Svastika biết Bụt rất thương yêu những thầy trẻ có chuyên
tâm, có tuệ giác và có chí nguyện lợi tha. Bụt đã từng
nói là người trông cậy thật nhiều ở những vị này trong
công trình bồi đắp và trao truyền đạo pháp cho các thế
hệ tương lai. Tuy vậy, thầy thấy Bụt đã và đang đem lòng
che chở cho cả các thầy trong giáo đoàn khất sĩ, và người
rất kiên nhẫn trong việc giảng dạy và hóa độ. Có thầy
tu không thành công, ra đời tới sáu lần mà đến khi hồi
đầu, Bụt cũng cho phép trở lại giáo đoàn một lần nữa.
Có những những vị thiếu thông minh đến nỗi học hoài mà
cũng không thuộc được mười sáu phép thở, vậy mà người
vẫn tiếp tục vỗ về và khuyến khích. Một hồi đó, tại
tu viện Jetava, có một thầy tên Bhaddali. Thầy Bhaddali có những
khuyết điểm mà Bụt biết, nhưng người cố tình làm lơ
để tạo cho thầy một cơ hội để chuyển hóa. Thầy không
theo kịp đại chúng trong việc chấp tri những qui luật của
tu viện. Phép tắc của tu viện có điều khoản là khi thọ
trai, vị khất sĩ chỉ ngồi một lần cho đến khi ăn xong
bữa cơm mà không được đứng dậy để lấy thêm thức ăn
hoặc làm những việc khác. Đó gọi là phép nhất tọa thực.
Tuy nhiên, thầy Bhaddali không làm như vậy được, và sống
trong đại chúng, thầy thường gây ra những phiền nhiễu cho
người khác, Bụt có gọi thầy lên nhiều lần và dạy thầy
phép tự hỏi câu hỏi: “Tôi phải làm gì để cho đại chúng
hoan hỷ?” mỗi sáng mai. Vậy mà mấy tháng sau, thầy vẫn
chưa thành công, Trong đại chúng có những thầy không đủ
kiên nhẫn và có khi nói nặng thầy. Biết vậy, có hôm Bụt
dạy đại chúng:
- Các
vị khất sĩ, mọi cá nhân trong tăng đoàn dù có những khuyết
điểm trầm trọng, nhưng thế nào trong con người ấy vẫn
còn lại một ít hạt giống của niềm tin và tình thương.
Chúng ta phải cư xử với vị ấy như thế nào để những
hạt giống của niềm tin và tình thương còn lại trong con
người không bị hoàn toàn tiêu diệt. Ví dụ có một người
kia vì bất hạnh mà mù một con mắt, và chỉ còn một con
mắt. Bà con và những người thân thuộc của người này cố
nhiên sẽ tìm cách giúp đỡ và bảo vệ con mắt còn lại
kia, vì biết rằng con mắt kia mà mù nữa thì không còn gì
là tương lai nữa. Vậy thì các vị khất sĩ, các vị hãy
giúp bảo vệ những hạt giống đức tin va tình thương còn
lại nơi người đồng đạo bằng cách đối xử dễ thương
với người ấy.
Hôm
ấy, thầy Svastika có mặt. Thầy rất cảm động vì thái độ
và tình thương của Bụt Thầy ngửng lên thì thấy thầy Ananda
đưa tay lau nước mắt, thì ra thầy Ananda cũng cảm động
như thầy.
Bụt
tuy là một người rất ngọt ngào, nhưng có khi người cũng
rất nghiêm khắc và cũng từng sử dụng những lời quở trách
rất thẳng thắn và rất quyết liệt. Người nào mà Bụt
không độ được hoặc chưa độ được quả thật là người
không có tương lai. Một hôm, Svastika được chứng nghiệm
một cuộc nói chuyện ngắn và rất hào hứng giữa Bụt và
một vị điều mã sư, nghĩa là một người huấn luyện điều
phục ngựa. Bụt hỏi vị điều mã sư:
- Ông
điều phục ngựa như thế nào, xin nói cho chúng tôi nghe đi.
Vị
điều mã sư:
- Thế
Tôn, có nhiều loại ngựa. Có loại rất dễ, chỉ cần dùng
biện pháp ngọt ngào. Có loại khó trị nhơn phải dùng vừa
biện pháp ngọt ngào vừa biện pháp mạnh. Có loài khó hơn,
chỉ có thể dùng biện pháp mạnh.
Bụt
cười và hỏi:
- Vậy
khi gặp loại ngựa chứng mà cả ba biện pháp đều vô hiệu
thì ông làm thế nào?
- Bạch
Thế Tôn, trong trường hợp ấy thì con phải hạ sát nó. Để
nó sống chung trong bầy ngựa thì sẽ làm hư hỏng những con
ngựa khác. Bạch đức Thế Tôn, người điều phục các vị
đệ tử như thế nào, xin cho con biết với.
Bụt
cười:
- Thì
tôi cũng làm tương tự như ông. Có những người chỉ cần
ngọt ngào. Có những người vừa cần biện pháp ngọt ngào
vừa cần biện pháp mạnh. Có những người chỉ có thể dùng
biện pháp mạnh mới có thể trị nổi.
- Vậy
trong trường hợp cả ba biện pháp đều vô hiệu thì đức
Thế Tôn làm gì đối với người bất khả trị đó?
Bụt
nói:
- Thì
tôi cũng làm như ông vậy, tôi giết người ấy đi.
Vị
điều mã sư tròn xoe hai mắt:
- Sao?
Đức Thế Tôn giết người à? Đức Thế Tôn dạy người
ta giới bất sát ...
Bụt
nói:
-
Tôi nói vậy thôi chứ đâu có giết người theo kiểu ông
giết ngựa. Gặp trường hợp có người không thể sử dụng
được một trong ba biện pháp trên thì tôi từ chối không
chấp nhận vào giáo đoàn khất sĩ, không chấp nhận là học
trò của tôi, thế thôi, nhưng đó cũng là điều bất hạnh
lớn. Không được tu tập theo chính pháp trong tăng đoàn đó
là gì nếu không phải là sự đánh mất cái cơ hội muôn
kiếp một lần? Đó là gì không phải là một cái chết của
tâm linh. Nhưng đó không phải chỉ là cho người kia mà là
một niềm đau cho cả tôi, vì tôi rất thương xót người
đó, và tôi vẫn mong là một ngày kia người đó có thể hồi
đầu.
Ngày
xưa, thầy Svastika đã có dịp thấy và nghe Bụt quở trách
và dạy dỗ thầy Rahula, và thầy cũng đã từng thấy Bụt
trách dạy một vài thầy khác. Bây giờ thầy thấy được
sau hành động quở trách và la dạy ấy cả một tình thương
đằm thắm. Thầy Svastika biết Bụt rất thương thầy dù Bụt
chưa nói ra điều đó thành lời, nhưng chỉ cần nhìn vào
mắt người là thầy thấy rõ điều đó.
Đêm
nay, đức Thế Tôn có khách. Thầy Ananda nhờ thầy Svastika
đi đun nước nấu trà. Khách là một vị hiệp sĩ, dáng đi
hiên ngang, lưng đeo trường kiếm. Ông cột ngựa ngoài cổng
tu viện Jetavana, gươm bên yên ngựa và được thầy Sariputta
hướng dẫn vào chiếc am tranh của Bụt. Người ông cao lớn,
mắt ông sáng quắc và ông bước những bước dài, mắt sáng
quắc nhìn về phía trước. Thầy Ananda cho thầy Svastika biết
đó là hiệp sĩ Rohitassa.
Khi
vào dâng trà, thầy Svastika thấy hiệp sĩ Rohitassa và thầy
Sariputta đang ngồi đối diện Bụt trên những chiếc gỗ kê
thấp, còn thầy Ananda thì đứng hầu sau lưng Bụt. Dâng trà
cho Bụt, cho khách và cho hai thầy xong, thầy Svastika cũng đến
đứng sau lưng Bụt bên cạnh thầy Ananda. Mọi người lặng
thinh một lúc thật lâu sau khi uống trà. Đột nhiên, hiệp
sĩ Rohitassa mở lời:
- Bạch
đức Thế Tôn, có một cõi nào mà không có sinh, không có
già, không có bịnh, và không có chết? Có một cõi nào mà
muôn loại không chịu luật sinh diệt? Ta có thể di chuyển
bằng cách nào để ra khỏi thế giới của sinh diệt để
đi tới thế giới không sinh diệt kia?
Bụt
trả lời:
- Này,
Rohitassa, không thể nào ra khỏi thế giới sinh diệt bằng
cách di chuyển, dù ta có đi mau cách mấy đi nữa, dù ta có
đi mau hơn cả ánh sáng.
Nghe
Bụt nói như thế, hiệp sĩ chắp hai tay lại:
- Lạy
đức Thế Tôn, người dạy rất chí lý. Quả thật ta không
thể đi ra khỏi biên giới của thế giới của sinh diệt bằng
cách di chuyển, dù bằng tốc độ nào. Con nhớ trong một kiếp
trước con đã từng có thần thông và con đã có thể bay trong
hư không với tốc độ của một mũi tên, con chỉ vần bước
một bước là đã có thể từ bờ biển miền Đông con sang
tới bờ biển miền Tây. Con đã cố quyết vượt biên giới
của thế giới sinh lão, bệnh, tử, để đi sang một thế
giới khác, một thế giới trong đó ta không còn bị không
chế bởi luật sinh diệt. Con đã đi suốt ngày như vậy, ngày
này sang ngày khác, không dừng lại hoặc để ăn, hoặc để
uống, hoặc để nghỉ ngơi, hoặc để ngủ, hoặc để đi
đại tiện hay tiểu tiện ... Con đã đi trên một trăm năm
với tốc độ ấy nhưng con đã không đi tới đâu cả và
rốt cuộc con đã chết dọc đường ... Vi diệu thay, dùng
sự thật thay là lời nói của đức Thế Tôn! Quả thật ta
không thể nào vượt được biên giới của cõi sinh tử bằng
cách di chuyển, dù là di chuyển với tốc độ của ánh sáng.
Bụt
dạy:
- Tuy
vậy, ta không nói rằng cõi sinh tử này không thể vượt được.
Này Rohitassa, ông có thể vượt khỏi cõi sinh tử này. Ta sẽ
chỉ cho ông con đường để vượt thoát thế giới sinh tử.
Này Rohitassa, chính trong tấm thân dài bảy thước của ông
mà thế giới sinh tử được sinh khởi và cũng trong chính
tấm thân dài bảy thước ấy mà ông có thể tìm thấy được
sự chấm dứt của thế giới sinh tử. Hãy quán chiếu thân
thể ông. Hãy quán chiếu thế giới sinh diệt ngay trong tấm
thân bảy thước của ông. Quán chiếu để thấy được thực
tướng vô thường, vô ngã, bất sinh và bất diệt của vạn
pháp trong vũ trụ. Rồi ông sẽ thấy thế giới sinh diệt
tan biến và thế giới của bất diệt bất sinh hiển lộ.
Ông sẽ được giải thoát khỏi mọi khổ đau và sợ hãi.
Để vượt khỏi thế giới của khổ đau và sinh diệt, ông
không cần đi đâu hết. Ông chỉ cần ngồi lại và nhìn sâu
vào tự tánh của thân thể ông.
Thầy
Svastika thấy hai mắt của đại đức Sariputta sáng quắc như
hai vì sao. Hiệp sĩ cũng lộ vẻ vui sướng một cách rõ rệt.
Svastika cảm động không cùng, ai dè pháp Bụt mầu nhiệm đến
thế và cũng hùng tráng đến thế. Thật như là một bản
đại hùng ca. Chìa khóa của sự thành công nằm ngay trong lòng
bàn tay của mình, thầy Svastika cảm thấy rõ ràng điều đó.
Chương
70
BỤT
TỪ ĐÂU TỚI VÀ SẼ ĐI VỀ ĐÂU?
Một
hôm nọ, khi trời đang cơn mưa tầm tả, có một vị du sĩ
tới viếng. Vị du sĩ này tên là Uttiya. Đại đức Ananda tiến
dẫn ông vào gặp Bụt. Thầy giới thiệu vị du sĩ, nhắc
ghế mời ông ngồi, rồi đi lấy khăn để ông lau khô đầu
tóc và mình mẩy.
Uttiya
hỏi Bụt:
- Sa
môn Gotama, thế giới là còn mãi hay là sẽ có khi bị hoại
diệt?
Bụt
mỉm cười, nói:
- Du
sĩ Uttiya, tôi xin phép không trả lời câu hỏi đó.
Uttiya
hỏi:
- Thế
giới là có biên giới hay không có biên giới?
- Tôi
cũng không trả lời câu hỏi đó.
- Vậy
thì thân thể và linh hồn là một hay là hai?
- Câu
hỏi này tôi cũng xin phép không trả lời.
- Sau
khi chết, sa môn Gotama còn hay là mất?
- Câu
hỏi này tôi cũng xin phép không trả lời.
- Hay
ngài nghĩ rằng sau khi chết, ngài vừa còn mà cũng vừa mất?
- Du
sĩ Uttiya, câu hỏi đó, tôi cũng không trả lời.
Uttiya
ngạc nhiên. Ông nói:
- Câu
nào tôi hỏi, sa môn Gotama cũng không trả lời. Tại sao thế?
Vậy hỏi câu nào sa môn Gotama mới chịu trả lời?
Bụt
nói:
-
Tôi chỉ trả lời những câu hỏi về đạo pháp có liên hệ
tới công phu tu tập nhằm gạn lọc thân tâm, vượt thắng
lo âu và sầu khổ mà thôi.
- Đạo
pháp của sa môn Gotama có thể cứu độ được bao nhiêu người
trên thế giới?
Bụt
lặng yên không nói.
Du
sĩ Uttiya cũng ngồi yên lặng.
Sợ
vị du sĩ nghĩ lầm rằng Bụt không thèm hoặc không đủ sức
trả lời những câu hỏi của ông ta, và nghĩ như thế thì
tội nghiệp cho ông ta quá, đại đức Ananda lên tiếng:
- Du
sĩ Uttiya để tôi nói cho bạn nghe một ví dụ này, và bạn
có thể hiểu ý của thầy tôi, Giả dụ có một ông vua kia
cư trú trong một thành trì thật kiên cố, có hào sâu và hầm
chông bao quanh, chỉ có một cửa ra vào mà thôi, và ở cửa
ra vào ấy vua đã cử một người thật sáng suốt đứng canh
gác. Người gác cửa nà chỉ cho vào thành người nào mà ông
ta biết và nhận mặt được, ngoài ra ông ta chận lại tất
cả một người lạ mặt. Ông ta cũng đã đi tuần tiễu chung
quanh thành trì và biết rõ rằng không có một kẻ hở nào
do đó ngoại nhân có thể đột nhập được vào thành, dù
cho một cái lỗ nhỏ đủ để một con mèo con chui qua. Ông
vua trấn ngự trong thành không lưu tâm tới số lượng những
người được phép qua lại cổng thành. Ông vua ấy chỉ quan
tâm đến việc làm thế nào cho kẻ gian không đột nhập được
vào thành. Thầy tôi cũng vậy. Sa môn Gotama không quan tâm mấy
tới số lượng những người theo đạo. Sa môn Gotama chỉ
quan tâm tới những pháp môn có hiệu lực ngăn chận và diệt
trừ tham dục, bạo động, và mê vọng để thực hiện an
lạc và giải thoát mà thôi. Nếu bạn hỏi thầy tôi những
câu hỏi thật sự hữu ích cho việc điều phục thân tâm
và tu tập thiền quán thì thầy tôi sẽ trả lời bạn, chứ
sao không?
Du
sĩ Uttiya lĩnh ý, nhưng vì ông ta quá chú trọng đến những
vấn đề thuộc phạm vi lý luận siêu hình nên ông đã cáo
từ Bụt và đại đức Ananda mà không cảm thấy thỏa mãn
cho lắm.
Sau
đó mấy hôm lại có một vị du sĩ khác tên là Vacchagota tới
viếng Bụt. Ông ta cũng hỏi Bụt những câu có tính cách tương
tợ như những câu hỏi của du sĩ Uttiya. Ví dụ ông hỏi:
- Sa
môn Gotama, xin ngài cho biết là có ngã hay không?
Bụt
lặng thinh không đáp. Sau vài câu hỏi không được giải đáp,
Vacchagota đứng dậy và bỏ đi.
Sau
khi Vacchagota đã đi khuất, đại đức Ananda hỏi Bụt:
- Thế
Tôn, trong các buổi pháp thoại, Thế Tôn đã từng có giảng
dạy về đạo lý vô ngã. Tại sao hôm nay Thế Tôn không trả
lời những câu hỏi về ngã của du sĩ Vacchagota?
Bụt
nói:
- Ananda,
đạo lý vô ngã mà tôi giảng dạy cho các vị khất sĩ là
một pháp môn hướng dẫn thiền quán, mà không phải là một
chủ thuyết. Hiểu nó như một chủ thuyết, các vị có thể
bị kẹt vào nó. Tôi đã chẳng có lần bảo các thầy là
giáo pháp phải được xem như chiếc bè chở ta qua sông, như
ngón tay chỉ mặt trăng, và ta không nên bị kẹt vào giáo
pháp hay sao? Du sĩ Vacchagota chỉ muốn tôi đưa ra một chủ
thuyết thì tôi đưa ra sao được. Tôi không muốn cho Vacchagota
kẹt vào một chủ thuyết, dù là chủ thuyết hữu ngã hay
là chủ thuyết vô ngã. Nếu mình nói với ông ta là có ngã,
thì là mình ngược lại giáo pháp của mình. Nếu mình nói
với ông ta là không có ngã, để ông ta níu vào đấy như
một chủ thuyết rồi để ông ra bị kẹt vào đấy thì có
ích gì cho ông ta? Vậy nên im lặng là câu trả lời hay nhất
trong trường hợp này, thà rằng họ cho là mình “không biết”
còn hơn là họ bị kẹt vào kiến chấp.
Một
hôm đại đức Anuruddha trên đường đi khất thực bị một
nhóm du sĩ chận lại cật vấn. Họ bắt thầy phải trả lời
cho được câu hỏi của họ. Họ nói trả lời được thì
họ mới cho đi. Họ hỏi:
- Chúng
tôi nghe đồn sa môn Gotama là bậc giác ngộ vẹn toàn, và
giáo pháp của người rất cao siêu mầu nhiệm. Thầy là môn
đệ của sa môn Gotama, vậy xin thầy cho biết: sau khi chết
sa môn Gotama có còn hiện hữu hay không?
Rồi
các vị du sĩ buộc đại đức Anaruddha chọn một trong những
điều sau đây:
1.
Sau khi chết, sa môn Gotama còn.
2.
Sau khi chết, sa môn Gotama mất.
3.
Sau khi chết, sa môn Gotama vừa còn vừa mất.
4.
Sau khi chết, sa môn Gotama vừa không còn vừa không mất.
Khất
sĩ Anuruddha biết rằng trong bốn câu trả lời đó không có
câu trả lời nào phù hợp với giáo pháp của Bụt. Thầy
im lặng, nhưng các vị du sĩ không bằng lòng sự im lặng đó.
Họ buộc thầy phải nói một cái gì đó. Cuối cùng, đại
đức nói:
- Này
các bạn, theo tri kiến của tôi thì bốn mệnh đề đó, không
mệnh đề nào diễn tả được sự thật về sa môn Gotama.
Các
thầy du sĩ cười và bảo nhau:
- Xem
bộ vị khất sĩ này là người mới tu cho nên ông ta mới
không trả lời được câu hỏi của mình và tìm mọi cách
để thối thác. Thôi chúng ta nên để cho ông ta đi đi cho
rồi.
Nói
xong, họ bỏ đi.
Sau
đó mấy hôm, gặp giờ pháp thoại, đại đức Anuruddha đem
việc xảy ra trình lên Bụt, rồi thầy nói:
- Thế
Tôn, xin Thế Tôn soi sáng cho chúng con, để chúng con được
học hỏi thêm và để cho chúng con có khả năng trả lời
mỗi khi được hỏi những câu hỏi tương tợ.
Bụt
hỏi Anuruddha:
- Này
Anuruddha, đi tìm bắt sa môn Gotama bằng khái niệm rất khó.
Sa môn Gotama ở đâu? Anaruddha! Có thể tìm sa môn Gotama nơi
hình sắc không?
- Bạch
Thế Tôn, không.
- Có
thể tìm sa môn Gotama nơi cảm giác không?
- Bạch
Thế Tôn, không.
- Có
thể tìm sa môn nơi tri giác, tâm tư và nhận thức không?
- Bạch
Thế Tôn, không.
- Vậy
thì Anuruddha, có thể tìm sa môn Gotama ngoài hình sắc không?
- Bạch
Thế Tôn, không.
- Có
thể tìm sa môn Gotama ngoài cảm giác không?
- Bạch
Thế Tôn, không.
- Có
thể tìm sa môn Gotama ngoài tri giác, tâm tư và nhận thức
không?
- Bạch
Thế Tôn, không.
Bụt
nhìn Anuruddha:
- Vậy
thì tìm sa môn Gotama ở đâu? Anuruddha, ngay trong giờ phút hiện
tại đứng trước sa môn Gotama mà còn không nắm bắt được
sa môn Gotama huống hồ là sau khi sa môn Gotama diệt độ! Anuruddha,
tự thân của sa môn Gotama, cũng như tự thân của bất cứ
một pháp nào trong vạn pháp, không thể nào nắm bắt được
bằng khái niệm, bằng những phạm trù của nhận thức phân
biệt. Phải thấy được các pháp trong liên hệ duyên khởi
của nó. Phải thấy được sa môn Gotama nơi những pháp mà
ta thường cho là không phải sa môn Gotama, như thế mới thấy
được chân tướng của sa môn Gotama.
Anuruddha!
Muốn thấy được tự tánh của một đóa hoa sen, ta phải
thấy được đóa sen nơi những pháp mà ta không gọi là đóa
sen, như ánh sáng mặt trời, nước hồ, đám mây, bùn đất,
hơi nóng ... Chỉ có cái thấy đó mới đưa ta vượt thoát
được cái lưới biển kế sở chấp, tức là cái lưới phân
biệt khái niệm, tức là những phạm trù sinh, diệt, này,
kia, có, không, dơ, sạch, thêm, bớt ... Muốn thấy được
sa môn Gotama cũng thế. Bốn phạm trù: có, không, vừa có vừa
không, không có cũng không không, chỉ là bốn cái lưới nhện
trong số bao nhiêu chiếc lưới nhện khác, không có đủ sức
nắm bắt được con chim đại bàng của thực tại mầu nhiệm.
Anuruddha!
Thực tại tự thân không thể dùng khái niệm phân biệt mà
nắm bắt, không thể dùng ngôn ngữ văn từ mà diễn
bày. Chỉ có trí tuệ thực chứng do thiền quán đem lại mới
giúp ta nhận được tự thân thực tại. Anuruddha, một người
chưa bao giờ có dịp nếm hương vị của một trái xoài thì
không thể nào biết được hương vị ấy dù người khác
có dùng bao nhiêu ngữ ngôn, văn từ và khái niệm phân biệt
để diễn tả hương vị trái xoài cho người kia nghe. Chỉ
có kinh nghiệm chứng đắc trực tiếp mới đưa ta thể nhập
được thực tại. Do đó tôi đã từng nhiều lần nói với
các vị là đừng nên đi lạc vào thế giới của hý luận
để đánh mất thời gian quý báu của sự tu tập quán chiếu.
Anuruddha!
Vạn pháp là vạn pháp trong cái tự thân như thật của nó,
cho nên ta gọi tự thân của các pháp là chân như (tathatha).
Chân như là tự thân mầu nhiệm của vạn pháp. Đóa sen từ
chân như mà tới, Anuruddha cũng từ chân như mà tới,, sa môn
Gotama cũng từ chân như mà tới. Từ chân như mà tới thì
gọi là như lai (tathagatha). Từ chân như tới, vạn pháp đi
về đâu? Vạn pháp đi về chân như. Đi về chân như thì gọi
là như khứ (tathagatha). Thật ra vạn pháp không từ đâu tới
cả, cũng không đi về đâu cả, vì tự thân của vạn pháp
đã là chân như rồi. Anuruddha! Nghĩa đích thực của như lai
là không từ đâu tới mà cũng không đi về đâu cả (từng
vô sở lai, diệc vô sở khứ). Anuruddha, từ hôm nay trở đi
tôi sẽ tự gọi là như lai (tathagatha). Như lai ưa từ này,
bởi vì từ này tránh được ý niệm phân biệt có thể thấy
được trong các đại danh từ tôi và ta.
Đại
đức Anuruddha mỉm cười:
- Bạch
như lai, từ nay xin người cứ tự xưng là Như lai đối với
chúng con. Chúng con biết rằng chúng con cũng từ chân như tới,
nhưng chúng con không tự xưng chúng con là Như lai, chúng con
chỉ để Như lai sử dụng đại danh từ này.
Thế
Tôn, mỗi lần Thế Tôn tự gọi mình là Như lai, chúng con
lại có dịp được nhắc để quán chiếu và nhớ rằng chúng
con cũng thuộc về cùng một bản thể chân như, bất sinh và
bất diệt.
Bụt
mỉm cười:
- Như
lai rất vuilòng vì đề nghị ấy của thầy Anuruddha.
Đại
đức Ananda có mặt trong buổi tham vấn kỳ diệu hôm ấy.
Sau khi cuộc tham vấn chấm dứt, thầy đi theo đại đức Anuruddha.
Thầy đề nghị là ngày hôm sau, hai người sẽ lên trùng tuyên
cho đại chúng nghe nội dung của cuộc tham vấn từ đầu tới
cuối, và đại đức Anuruddha sẽ bắt đầu buổi trùng tuyên
bằng cách thuật lại cuộc đối thoại giữa thầy và các
du sĩ ngoại đạo trên đường phố Savatthi. Thầy Anuruddha
rất hoan hỷ về đề nghị này.