Chương
61
TIẾNG
GẦM CỦA SƯ TỬ LỚN
Mùa
an cư an năm nay, nhân một câu hỏi của đại đức Ananda về
đạo lý duyên sinh, Bụt đã dạy các vị khất sĩ về mười
hai nhân duyên như là động cơ của guồng máy sinh tử.
Ngưới
bảo thầy Ananda:
- Đạo
lý duyên sinh là đạo lý rất vi diệu và thâm sâu. Các vị
đừng nghĩ rằng có thể thấu hiểu được hết chiều sâu
của đạo lý này bằng ngôn từ và lý luận.
Các
vị khất sĩ! Ngày xưa thầy Uruvela Kassapa nhờ được nghe
đạo lý nhân duyên mà thấy được và vào được chánh pháp.
Ngày xưa Sariputta cũng nhờ nghe được một bài kệ về đạo
lý nhân duyên mà hôm nay đã trở nên một trong những khuôn
mặt của chúng trung tôn. Này các vị! Trong mỗi giây phút
của cuộc sống hàng ngày, các vị phải quán chiếu về tự
tính duyên sinh của vạn pháp. Nhìn vào một tờ lá hay một
hạt mưa, các vị phải tập thấy cho được tất cả những
điều kiện gần xa đã đưa tới sự có mặt của tờ lá
ấy hay của hạt mưa ấy. Các vị nên biết rằng thế giới
được dệt thành bởi những màn nhân duyên chằng chịt, cái
này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không, cái này
sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt. Sự sinh
diệt của một pháp tùy thuộc vào sự sinh diệt của tất
cả các pháp. Sự sinh diệt của tất cả các pháp tùy thuộc
vào sự sinh diệt của một pháp. Trong cái một có cái tất
cả, và trong cái tất cả có cái một. Cái một tức là cái
tất cả, cái tất cả tức là cái một. Không có cái một
thì không có cái tất cả, không có cái tất cả thì không
có cái một. Đây là chỗ vi diệu của đạo lý duyên sinh.
Nếu quán sát cho thấu triệt tự tính của vạn pháp, các
vị sẽ vượt thoát ra ngoài cái lo và cái khổ về sinh tử,
nói một cách khác hơn là thoát ra được ngoài vòng sinh tử.
Các
vị khất sĩ! Duyên khởi chằng chịt nhiều tầng nhiều lớp,
nhưng quý vị có thể phân biệt bốn loại: đó là nhân duyên,
tăng thượng duyên, đẳng vô gián duyên và sở duyên duyên.
Nhân
duyên là điều kiện chính yếu gần nhất, như hạt lúa là
điều kiện chính yếu để phát sinh ra cây lúa. Tăng thượng
duyên là những điều kiện phù trợ, như nắng, mưa, hơi ấm,
đất màu giúp cho hạt lúa nảy mầm lớn lên thành cây lúa.
Đẳng
vô gián duyên tức là sự tiếp nối không gián đoạn của
dòng lưu chuyển. Thiếu sự tiếp nối thì sự trưởng thành
của cây lúa bị gián đoạn nữa chừng.
Sở
duyên duyên là đối tượng của nhận thức, bởi vì nhận
thức bao giờ cũng là nhận thức một cái gì, nhận thức
không rời đối tượng nhận thức. Hạt lúa, cây lúa và các
điều kiện xa gần đưa tới sự có mặt của cây lúa ...
tất cả đều là đối tượng của nhận thức, không thể
tách rời ra khỏi nhận thức. Tâm thức vì vậy là một điều
kiện căn bản của hiện hữu.
Này
các vị khất sĩ! Sở dĩ có khổ đau là vì có sinh tử. Tại
sao có sinh tử? Tại vì có vô minh. Nếu các vị quán chiếu
và thấy được tự tính duyên khởi của vạn vật thì các
vị sẽ tiêu diệt được vô minh. Tiêu diệt được vô minh
thì siêu thoát được quan niệm về sinh tử. Thoát được
sinh tử thì diệt được mọi khổ đau và lo âu.
Này
các vị! Có tử là vì có sinh, có sinh tử là vì còn ý niệm
có ta, còn ý niệm có ta là vì bị dính mắc, bị dính mắc
là vì tham ái, tham ái là vì không thấy được tự tính của
cảm giác, không thấy được tự tính của cảm giác là vì
bị kéo theo dòng tiếp xúc giữa giác quan và đối tượng,
bị kéo theo dòng tiếp xúc giữa giác quan và đối tượng
là vì tâm tư không sáng suốt và an tĩnh, tâm tư không sáng
suốt an tĩnh là vì tâm thức hôn mê. Tâm thức hôn mê là
vì vô minh. Mười hai cái khoen của vòng xích ấy nối liền
nhau, trong một cái có cả mười một cái kia, thiếu một cái
thì mười một cái kia cũng không có. Tử, Sinh, Hữu, Thủ,
Ái, Thọ, Xúc, Lục nhập, Danh sắc, Thức, Hành, và Vô minh
là tên gọi của mười hai cái khoen ấy.
Các
vị khất sĩ! Vô minh là chất liệu căn bản của cả mười
hai nhân duyên. Nhờ quán chiếu tự tính duyên sinh, ta lấy
ánh sáng của trí tuệ làm tan rã chất liệu vô minh đó và
ta vượt thoát được tất cả những lo sợ đau buồn của
sinh tử. Người phàm phu bị nhận chìm trong biển khổ sinh
tử. Bậc giải thoát cỡi trên những đợt sóng sinh tử mà
đi. Mười hai cái khoen của vòng xích trở nên mười hai cái
bánh xe của một cỗ xe chở người tới giác ngộ. Bậc giác
ngộ sống trên đời nhưng không bao giờ bị cuộc đời làm
cho chìm đắm. Các vị khất sĩ! Các vị đừng trốn chạy
sinh tử, các vị chỉ cần vượt thắng lên trên sinh tử mà
thôi. Siêu việt sinh tử, đó là chí khí của bậc đại trượng
phu.
Trong
một buổi pháp đàm được tổ chức sau đó mấy hôm, đại
đức Mahakassapa cho biết Bụt đã từng giảng dạy nhiều lần
về đạo lý nhân duyên, và đạo lý này có thể coi như là
trọng tâm của đạo giác ngộ, và đại đức cho biết có
lần Bụt đã dùng hình ảnh một bó lau để làm ví dụ. Người
nói không có ai làm ra các nhân duyên cả mà chính các nhân
duyên tự làm ra nhau. Vô minh là ra hành và hành làm ra vô minh,
hành làm ra thức và thức làm ra hành. Cũng như những cọng
lau dựa vào nhau mà dứng, Một cọng lau bị kéo qua một bên
thì cọng kia rơi xuống. Vạn vật trong vũ trụ cũng vậy.
Một làm ra tất cả, và tất cả làm ra một. Nhìn cho sâu,
ta thấy cái một trong tất cả và ta thấy tất cả trong cái
một.
Cũng
trong mùa an cư, Bụt bị một nhóm Bà la môn âm mưu trả thù
bằng cách vu cáo rằng người đã ăn nằm với người đàn
bà cho đến khi người này có thai rồi bỏ.
Vụ
âm mưu này được tổ chức rất khéo léo. Những người chủ
mưu đã tìm được một cô gái trong giới Bà la môn sẵn sàng
cộng tác với họ. Cô này tên là Cinca, nhăn sắc khá mặn
mà. Những người chủ mưu đã than thở với cô về sự sụp
đổ của niềm tin nơi đạo Bà la môn của giới trẻ tuổi.
Giới trẻ tuổi Bà la môn đã theo Bụt nhiều quá, và trong
số ấy có những người rất xuất sắc. Một khi theo Bụt
họ đã không ngần ngại nói tới những cái mà họ cho là
sai lầm và hẹp hòi trong đạo Bà la môn. Nóng lòng vì nền
đạo đức của tổ tiên, cô Cinca nói rằng cô có thể làm
bất cứ gì để cứu vãn tình thế, và cô đã làm theo những
lời chỉ dẫn của những người chủ mưu.
Ngày
nào cô cũng ăn mặc thật đẹp và đi về tu viện Jetavana,
trên tay luôn luôn có một bó hoa. Nhưng cô không đi chùa vào
giờ người khác đi chùa. Cô chỉ tới chùa vào giờ những
người khác rời chùa để về nhà sau khi nghe thuyết pháp.
Ai hỏi đi đâu, cô chỉ mỉm cười mà không nói. Có khi cô
lại nói nửa úp nửa mở: “Tôi đi đâu thì đi, việc gì
đến quý vị mà hỏi?”. Thiên hạ lấy làm hồ nghi. Sau đó
nhiều tuần lễ, cô lại trả lời người ta như sau: “Tôi
đi thăm sa môn Gotama". Rồi mấy hôm sau, cô lại nói: “Ngủ
lại tu viện Jetavana thật là vui!”.
Những
điều đó làm nhiều người chói tai, nhưng cũng làm cho người
sinh ra hoài nghi. Tuy nhiên không ai phê phán gì. Cho đến một
hôm, Cinca xuất hiện trong một buổi thuyết pháp của Bụt.
Bụng của cô đã phình lên khá lớn, Bụt đang thuyết pháp
nửa chừng thì cô bước lên. Trước mặt thính chúng đông
đảo, cô nói lớn:
- Sa
môn Gotama! Ngài thuyết pháp rất là hay, và ngài là một người
có thế lực lớn, nhưng ngài không bao bọc được cho một
người đàn bà yếu đuối đã vì ngài mà bụng mang dạ chửa.
Đứa con trong bụng này là của ngài. Nếu ngài không chịu
nhận trách nhiệm làm cha nó thì ai nhận đậy?
Thính
chúng xôn xao, mọi người đưa mắt hỏi nhau rồi nhìn lên
Bụt. Bụt nói với Cinca, miệng người mỉm cười:
- Này
cô bé, chuyện này là thật hay giả thì chỉ có cô và ta biết
rõ mà thôi.
Cinca
hơi mất bình tĩnh, nhưng cô cố lấy giọng rắn rõi:
- Đúng
rồi, việc này có thật hay không có thật thì chỉ có sa môn
Gotama và tôi biết mà thôi.
Quần
chúng không chịu đựng được sự ngạc nhiên nữa. Nhiều
người xô ghế đứng dậy. Nhất là những người ngồi phía
sau. Cinca hoảng hốt, tưởng thiên hạ đang lén tấn công mình.
Cô tìm cách thoát thân, cô vụng về vấp phải một cái cột
nhà, cô gượng níu lấy cột nhà để đứng dậy. Lúc đó
có một sợi dây đứt và miếng gỗ tròn lép từ bụng cô
rơi xuống, đánh rầm một cái. Miếng gỗ khá nặng, miếng
gỗ dày ở giữa nhưng có mép mỏng chung quanh. Miếng gỗ rơi
xuống trúng vào hai ngón chân của bàn chân cô làm cô đau
điếng. Cinca rú lên, cúi xuống ôm lấy bàn chân. Cái bụng
của cô bây giờ xép lẹp.
Quần
chúng thở phào nhẹ nhõm. Nhiều người phá lên cười ngặt
ngoẻo. Có một ni sư đứng dậy và tiến lên. Đó là ni sư
Khema. Ni sư bước tới, dịu dàng dìu Cinca ra khỏi phòng. Đợi
cho hai người khuất bóng, Bụt trở lại với bài thuyết pháp.
Giọng nói của người bình thản, như là vừa rồi chẳng
có chuyện gì quan trọng xảy ra.
Bụt
nói:
- Đại
chúng! Đạo lý giác ngộ có năng lực công phá những thành
trì kiên cố nhất của vô minh, cũng như ánh sáng có năng
lực làm tiêu tan bóng tối. Những đạo lý như bốn sự thật,
vô thường, vô ngã, duyên sinh, bốn niệm xứ, bảy giác chi,
ba cánh cửa giải thoát và con đường tám sự chân chính đã
được tuyên thuyết trong nhân gian như những tiếng gầm của
một con sư tử lớn, đẩy lui hàng trăm hàng ngàn tà thuyết
và hý luận.
Này
các vị, sư tử là vua của các loài thú. Khi nó ra khỏi hang,
con sư tử uốn mình và vươn vai. Sau khi uốn mình và vươn
vai, nó đưa cặp mắt sáng nhìn ra bốn phía. Rồi nó gầm
lên ba lần tiếng gầm của loài sư tử. Sau đó nó mới đi
tìm mồi.
Này
các vị, bất cứ loài thú nào trong rừng nghe tiếng gầm của
sư tử đều lấy làm sợ hãi, có con núp kín, có con run rẩy,
có con bỏ chạy, có con rời rã cả tứ chi không còn biết
làm gì nữa. Chim bay lên cao, loài cư trú dưới nước như
thuồng luồng và cá sấu hấp tấp lội xuống nước, chồn,
cáo, và các loài ở hang chui xuống hang sâu. Những con voi trong
các làng xóm lân cận, dù là voi của vua có trang sức dây
nịt và lộng vàng, đều hoảng sợ, tung bỏ tất cả những
đồ trang sức mà chạy, có khi văng cả phân và nước tiểu.
Con sư tử có uy lực lớn như thế đó.
Đại
chúng! Pháp âm của đạo giác ngộ cũng giống như tiếng gầm
của con sư tử! Pháp âm giác ngộ được cất lên thì tất
cả các tà thuyết đều run sợ. Các đạo lý vô thường,
vô ngã, duyên sinh ... một khi được tuyên thuyết lên thì
tất cả những ai lâu nay nương náu và cảm thấy an ổn trong
vô minh và trong quên lãng đều phải giật mình. Loài người
cũng vậy mà loài trời cũng vậy. Khi bừng tỉnh giấc mơ,
mọi người thấy được sự thật chói lòa: “thì ra lâu
nay chúng ta đang ôm lấy hiểm nguy, chúng ta đã nhận cái vô
thưòng làm cái thường, cái vô ngã làm cái ngã, cái khổ
làm cái vui, cái tạm bợ làm cái vĩnh cữu, cái giả làm cái
thật. Đã đến lúc chúng ta phải phá tung tất cả những
màn lưới quên lãng và luận chấp mà đi”.
Đại
chúng! Các học thuyết của nhân gian đều bị ràng buộc vào
ý niệm có và không. Pháp âm của đạo giác ngộ đưa nhân
gian ra khỏi màn lưới dày đặc của muôn ngàn lý luận ấy.
Đạo lý giác ngộ vượt thoát mọi ý niệm có không. Mỗi
khi có một bậc giác ngộ ra đời là pháp âm giác ngộ lại
được dịp vang động như tiếng hải triều. Khi hải triều
lên tất cả đều bị cuống phăng theo ngọn sóng. Pháp âm
giác ngộ cũng hùng vĩ như tiếng hải triều.
Đại
chúng! Nhân gian thường bị vướng mắc trong bốn cái cạm
bẫy lớn. Cạm bẫy thứ nhất là dục lạc. Cạm bẫy thứ
hai là kiến thức. Cạm bẫy thứ ba là nghi lễ. Cạm bẫy
thứ tư là ý niệm về ngã. Vướng mắc vào các cạm bẫy
ấy, con người không còn vùng vẫy được. Pháp âm giác ngộ
đưa con người thoát ra bốn thứ cạm bẫy lớn này.
Đại
chúng! Đạo lý duyên khởi là con đường đưa mọi người
ra khỏi mọi cố chấp và cạm bẫy. Các vị phải thường
xuyên quán sát tự tánh duyên khởi trong đời sống hàng ngày
của các vị, nơi thân thể, nơi cảm thọ, nơi tâm ý và nơi
vạn pháp, đối tượng của tâm ý.
Buổi
thuyết pháp của Bụt được đại đức Ananda trùng tuyên
ngày hôm sau tại giảng đường Lộc Mẫu. Đại đức đặt
tên cho bài thuyết pháp này là Kinh Tiếng Gầm Của Sư Tử.
Mùa
an cư năm ấy, rất nhiều vị khất sĩ trong tu viện mắc phải
bệnh sốt rét. Có nhiều thầy sốt cho đến ốm o và xanh
xao. Rất nhiều thầy không đủ sức để ôm bát đi khất
thực. Họ phải nằm tại nhà chờ các vị khất sĩ đi khất
thực về chia xẻ thức ăn với họ. Nhưng hầu hết thức
ăn xin được là cơm có chan nước cà ri. Thức ăn này quá
cứng và quá khô đối với người bệnh, thành ra những vị
khất sĩ bị sốt không thể nào muốt được. Biết vậy,
Bụt cho phép giới cư sĩ cúng dường cho các vị khất sĩ
bệnh các thức ăn mềm và có nhiều chất lượng bổ dưỡng
như mật, sữa, đường, đề hồ và dâu.
Nhờ
những thức ăn ấy các vị khất sĩ bị bệnh phục hồi được
sức khỏe một cách từ từ. Một hôm sau giờ ngồi thiền.
Bụt nghe tiếng quạ kêu râm ran bốn phía. Người đi ra thì
thấy một số các vị khất sĩ đang cho quạ ăn các thức
ăn rất quý đã được cúng dường đặc biệt cho người
bệnh. Các vị khất sĩ này là những người được cử ra
săn sóc cho bệnh nhân. Họ trình với Bụt rằng sở dĩ họ
phải cho quạ ăn các thức ăn quý giá này vì có một số
các vị khất sĩ sốt vào buổi sáng nên không thọ thực được.
Quá giờ ngọ thì không được ăn nữa, cho nên thức ăn phải
đem cho quạ ăn. Bụt hỏi tại sao không giữ các thức ăn
này lại cho ngày mai. Các vị trả lời là họ không được
phép giữ thức ăn qua đêm. Bụt dạy trong khi bệnh, các vị
khất sĩ có quyền thọ thực sau giờ ngọ, và cũng có quyền
giữ các thức ăn đến ngày hôm sau.
Một
vị y sĩ tại thủ đô gặp đại đức Sariputta và đề nghị
với đại đức một thứ thức ăn được chế biến bằng
năm yếu tố có nhiều chất đạm để bồi bổ cho các vị
khất sĩ đã vì sốt và rét mà trở nên ốm yếu xanh xao.
Chương
62
ĐỪNG
VỘI TIN CŨNG ĐỪNG VỘI BÀI BÁC
Mùa
an cư hoàn mãn, đại đức Sariputta đến từ biệt Bụt để
lên đường hành hóa, Bụt chúc đại đức lên đường bình
yên, thân thể và tâm trí nhẹ nhàng, không gặp quá nhiều
khó khăn trên đường giáo hóa. Đại đức Sariputta cảm tạ
và lên đường ngay sau đó.
Trưa
hôm ấy có một vị khất sĩ lên tìm Bụt và phàn nàn với
người là thầy đã bị đại đức Sariputta hất hủi. Bụt
hỏi hất hủi như thế nào. Vị khất sĩ ấy đáp:
- Con
hỏi thầy ấy đi đâu, thầy ấy đã không thèm trả lời
mà lại còn xô con ngã rồi bỏ đi không thèm xin lỗi.
Bụt
bảo Ananda:
- Chắc
Sariputta chưa đi xa đâu. Ananda, hãy nhờ một vị sa di đi tìm
đại đức Sariputta về. Tối hôm nay chúng ta sẻ tâp họp
đại chúng ở giảng đường Jeta.
Đại
đức Ananda vâng mệnh. Chiều hôm ấy đại đức Sariputta trở
về tu viện với vị sa di. Thầy lên trình diện Bụt. Bụt
bảo:
Sariputta,
tối hôm nay chúng ta sẽ họp tại giảng đường, có vị khất
sĩ buộc tội thầy đã xô ngã thầy ấy và bỏ đi không thèm
xin lỗi.
Các
đại đức Moggallana và Ananda chiều hôm đó tay cầm xâu chìa
khóa đi vào khắp các tăng xá của tu viện. Tới đâu họ
cũng thông báo về cuộc họp tối nay. Họ nói:
- Mời
chư huynh đệ tối nay tới họp mặt đông đảo tại giảng
đường. Tối nay sư huynh Sariputta thế nào cũng gầm lên tiếng
gầm sư tử của sư huynh trước mặt Thế Tôn và đại chúng,
sẽ hào hứng lắm.
Tối
hôm ấy giảng đường không thiếu mặt ai. Ai cĩng muốn biết
đại đức Sariputta phản ứng thế nào trước những người
lâu nay đã có thái độ ganh ghét và hờn giận mình. Ai cũng
biết rằng đại đức là một người đệ tử lớn của Bụt
và được Bụt tin yêu, và vì vậy ông đã là mục tiêu của
rất nhiều sự hiểu lầm và ganh ghét.
Trong
giới môn đệ Bụt, có người nghĩ rằng Bụt đã tin cậy
Sariputta một cách quá đáng, rằng người đã quá nghe lời
Sariputta, hoặc đã đi tới những quyết định dưới ảnh
hưởng nặng nề của vị đại đức này. Có người lại
nghĩ rằng nều họ bị Bụt quở trách và giáo giới đó là
cũng vì Bụt đã nghe những lời nói ra nói vào của đại
đức Sariputta. Và họ đem lòng hận thù đại đức. Họ nhắc
mãi tới việc năm xưa có lần Bụt đã mời Sariputta ngồi
chung một ghế.
Có
một thầy tên là Kokalika, trước đây cũng từng cư trú tại
tu viện Jetava, và đã từng thù ghét các sư huynh Sariputta và
Moggallana đến nước không ai có thể can ngăn được. Chuyện
đã xảy ra cách trên tám năm, nhưng vẫn còn đậm nét trong
lòng thầy Ananda. Theo thầy Kokalika thì cả hai vị đại đệ
tử Bụt là Sariputta và Moggallana đều là những người tu
hành giả dối, đều là người hành động theo ái dục. Niềm
ganh tỵ và hận thù của thầy Kokalika quá lớn khiến không
ai có thể hòa giải được. Chính Bụt đã có lần gọi thầy
tới và bảo: “Này khất sĩ Kokalika, đừng có nói rằng Sariputta
và Moggallana là những người bị ái dục chi phối. Họ là
những người có đạo đức chân thật và tính tình rất hòa
ái”. Tuy nhiên vì tâm thầy Kokalika đã bị hận thù che lấp
nên thầy không tiếp nhận được lời của Bụt. Cuối cùng
thầy bỏ tu viện ra đi. Sau đó thầy mắc một chứng bịnh
rất lạ kỳ. Da thầy trở nên sần sùi, rồi tự nhiên đầy
mình mọc ra hàng vạn cái mụt nhỏ lớn bằng hạt cải, những
cái mụt này lớn lên bằng những hạt đậu. Rồi những chiếc
mụt ấy vỡ ra, chảy đầy máu và mủ. Thuốc men nào cũng
không chữa được, Bụt nhận thầy về tu viện, nhưng thầy
không về. Sau đó thầy mạng chung. Bụt rất xót thương. Người
bảo: “Hận thù và ganh ghét là những chất độc làm ung
thối tâm hồn, sau khi làm ung thối tâm hồn, những chất độc
ấy còn phá hoại thân thể và gây thành những chứng bệnh
rất kỳ lạ. Này các vị khất sĩ, các vị đừng để cho
những chất độc ấy thấm vào thân tâm”.
Đại
đức Ananda biết hết những tình tiết đó cho nên đã ngần
ngại rất nhiều trước khi nhận trách nhiệm làm thị giả
cho Bụt. Trong những điều kiện thầy đưa ra có điều kiện
là nếu làm thị giả cho Bụt, thầy xin Bụt đừng bao giờ
cho thầy áo, đừng cho thầy ngủ chung một phòng và đừng
bao giờ chia cho thầy những thức ăn mà người ta cúng dường
riêng cho Bụt. Thầy biết rất rõ là trong số những người
đến với Bụt có nhiều người muốn được Bụt tiếp xử
bằng một thái độ đặc biệt, và nếu không được tiếp
xử như thế họ cảm thấy buồn tủi và từ sự buồn tủi
đó họ có thể sinh ra hờn án và ghét bỏ luôn cả Bụt.
Đại
đức Ananda nhớ rằng hồi Bụt an cư tại làng Kaimasadamya
ở Kosambi, có một người đàn bà tên là Magandika đã vì không
được Bụt đối xử một cách đặc biệt mà sinh lòng thù
hận Bụt. Magandika là một phụ nữ xinh đẹp, con gái của
một gia đình Bà la môn. Lần đầu thấy Bụt -hồi đó Bụt
mới có bốn mươì bốn tuổi- cô đem lòng yêu mến người,
rồi khi tình cảm đó lớn mạnh, cô đòi hỏi Bụt có một
biệt nhãn đối với cô. Cô dã làm mọi cách để Bụt đối
xử với cô như một người đặc biệt, nhưng cô không thành
công. Rốt cuộc, tình cảm biến thành thù hận. Sau này trở
nên thứ hậu của vua Udena xứ Vamsa, cô đã dùng quyền thế
và phương tiện của cô để cho người đi nói xấu và nhục
mạ Bụt, làm áp lực cho những chính quyền quận và ấp đừng
cho Bụt và giáo đoàn tới thuyết pháp. Cô lại tìm cách trả
thù và hành hạ vương phi Samavati, một người rất được
vua Udayana ân sủng, chỉ vì người này là đệ tử rất thuần
kính của Bụt. Thấy Bụt bị nhục mạ và làm khó dễ quá,
đại đức Ananda đề nghị người nên đi hành đạo tại
một xứ khác. Bụt hỏi:
- Nếu
tới xứ khác mà cũng bị nhục mạ và làm khó dễ nữa, thì
ta sẽ đi đâu?
Ananda
nói:
- Thì
ta nên tới một xứ khác nữa.
Bụt
bảo: Nói như thế không được. Ananda ơi, gặp khó khăn, ta
không nên nản lòng. Phải từ trong môi trường khó khăn ấy
mà tìm ra giải pháp ổn thỏa. Ananda, nếu ta thực tập phép
hành xã, ta sẽ không thấy khó chịu khi bị nhục mạ, và
những lời nhục mạ ấy không động được đến ta. Những
người chửi rủa ta sẽ không làm tổn thương được ta và
chí hướng ta nếu ta thực tập được phép xả; còn họ,
họ sẽ phải cịu dựng những kết quả của sự chửi rủa
của họ. Khi một người nhổ nước bọt lên trời với ý
định làm bẩn người, trời đã không bị bẩn mà nước
bọt sẽ rơi xuống mặt người nhổ nước bọt.
Bụt
đã thành công năm xưa ấy, Ananda thấy lòng bình thản và
không lo ngại gì cho đại đức Sariputta tối nay. Đạo hạnh
của Sariputta đã được số đông các huynh đệ công nhận,
Nếu đứng vào địa vị của Bụt, chắc Ananda cũng phải
làm như Bụt và cũng phải trọng dnụg đại đức Sariputta.
Sư huynh Sariputta thật xứng đáng ở địa vị một huynh trưởng.
Thông minh xuất chúng, kiến giải và đạo hạnh cao siêu, sư
huynh đã từng thay thế Bụt nhiều lần trong việc lãnh đạo
giáo đoàn. Sư huynh đã thuyết pháp nhiều lần và nhiều bài
pháp thoại của sư huynh đã được Bụt khen ngợi và cũng
đã được trùng tuyên thành kinh điển. Chính Kinh Dấu Chân
Voi - Hatthipadopanna sutta - là do sư huynh nói. Trong kinh này sư
huynh đã dạy về tứ diệu đế. Sư huynh không lặp lại những
lời của Bụt, mà đã diễn giải tứ diệu đế một cách
rất kỳ thú căn cứ vào sự tu chứng của bản thân sư huynh.
Những lời sư huynh nói về bốn yếu tố đất, nước, lửa
và không khí liên hệ tới năm uẩn thật là những giáo lý
kỳ đặc và mới mẻ.
Khi
Bụt bước vào giảng đường, tất cả các vị khất sĩ đều
đứng dậy. Người đưa tay mời mọi người an tọa. Người
cũng ngồi xuống pháp tọa để dành cho người và ra hiệu
cho đại đức Sariputta tới ngồi trên một chiếc ghế thấp
bên tay phải của người.
Đợi
cho mọi người an tọa hết. Bụt mới xoay lại nói với đại
đức Sariputta:
- Sariputta,
có vị khất sĩ buộc tội thầy xô vị ấy ngã và bỏ đi
mà không xin lỗi. Thầy có điều gì nói về việc này không?
Đại
đức Sariputta đứng dậy chắp tay xá Bụt rồi chắp tay xá
đại chúng. Thầy lên tiếng:
Thế
Tôn, một ông thầy tu không tu, không quán niệm thân thể nơi
thân thể, không có ý thức về những động tác của thân
thể, một ông thầy tu như thế có thể xô ngã một người
bạn tu của mình và bỏ đi mà không thèm xin lỗi.
Thế
Tôn, con nhớ bài học mà ngày xưa Thế Tôn đã dạy cho khất
sĩ Rahula, hồi ấy mới mười tám tuổi, cách đây đã trên
mười bốn năm. Thế Tôn dạy Rahula học theo hạnh của đất,
của nước, của lửa và của không khí, để nuôi dưỡng
và phát triển bốn đức Từ, Bi, Hỷ và Xả. Hôm ấy con cũng
có mặt. Thế Tôn dạy Rahula, nhưng con đã có duyên học và
thực tập bài học ấy trong suốt mười bốn năm qua và con
đã nhiều lần thầm biết ơn Thế Tôn về bài học ấy.
Thế
Tôn, con đã tập hành sự như đất, và con đã thành công.
Đất bao giờ cũng dày dặn, rộng lớn, bao la, có khả năng
thu nhận và chuyển hóa. Dù người ta đổ và rải lên những
thứ tinh sạch như hoa, nước thơm, sữa thơm hoặc đổ và
rải xuống đất những thứ dơ bẩn và hôi hám như phân,
nước tiểu, máu, mủ, đàm, nhớt ... thì đất cũng tiếp
nhận những thứ đó một cách thản nhiên, không tham đắm,
không giận hờn, cũng không ghê tởm ...
Lạy
Bụt, con đã quán niệm để thân và tâm con được như đất.
Một ông thầy tu không quán niệm thân thể nơi thân thể,
không có ý thức về những động tác của thân thể, một
ông thầy tu như thế có thể xô ngã một người bạn tu và
bỏ đi mà không thèm xin lỗi. Con không đến nỗi như vậy.
Thế
Tôn, con đã tập hành sự như nước. Khi người ta giặt những
thứ thơm tho hoặc dơ bẩn trong nước, nước cũng không vì
thế mà cảm thấy tham đắm hoặc tủi nhục, buồn khổ và
chán chường. Nước bao la, lưu chuyển, có năng lực hóa giải
và gạn lọc. Lạy Bụt, con đã quán niệm để thân và tâm
con được như nước. Một ông thầy tu không quán niệm thân
thể nơi thân thể, không có ý thức về những động tác
của thân thể, một ông thầy tu như thế có thể xô ngã một
người bạn tu và bỏ đi mà không thèm xin lỗi. Con không đến
nỗi như thế.
Thế
Tôn, con đã tập hành sự như lửa. Lửa đốt cháy mọi thứ
kể cả những cái đẹp đẽ hoặc hôi hám và dơ bẩn, nhưng
lửa không vì vậy mà cảm thấy hoặc tham đắm hoặc tủi
nhục, buồn giận và chán chường. Lửa có năng lực thiêu
đốt, gạn lọc và hóa giải. Lạy Bụt, con đã quán niệm
để thân và tâm con được như lửa. Một ông thầy tu không
quán niệm thân thể nơi thân thể, không có ý thức về những
động tác của thân thể, một ông thầy tu như thế có thể
xô ngã một người bạn tu và bỏ đi mà không thèm xin lỗi.
Con không đến nỗi như thế.
Thế
Tôn, con đã tập hành sự như không khí. Không khí thổi đi
những thứ mùi hoặc thơm hoặc thối, dù mùi đó là mùi máu
mủ, phân và nước tiểu, mà không cảm thấy tham đắm hoặc
tủi nhục, buồn giận hay chán chường. Không khí có khả
năng giải tỏa, gạn lọc và hóa giải. Lạy Bụt, con đã
quán niệm để thân và tâm con được như không khí. Một
ông thầy tu không quán niệm thân thể nơi thân thể, không
có ý thức về những động tác của thân thể, một ông thầy
tu như thế có thể xô ngã một người bạn tu và bỏ đi mà
không thèm xin lỗi. Con không đến nỗi như thế.
Thế
Tôn, như một em bé dòng dõi hạ tiện, áo quần rách rưới
ôm bát vào làng xóm mà xin ăn; trong lòng không có một hào
ly nào tự phụ, con cũng thế, trái tim con cũng như trái tim
của một em bé dòng dõi hạ tiện, luôn luôn tràn đầy khiêm
cung, đâu có dám lên mặt với ai. Lạy Bụt, một ông thầy
tu không quán niệm thân thể nơi thân thể, không có ý thức
về những động tác của tâm ý, một ông thầy tu như thế
có thể xô ngã một người bạn tu và bỏ đi mà không thèm
xin lỗi. Con không đến nỗi như thế.
Đại
đứ Sariputta còn muốn nói nữa, nhưng vị khất sĩ buộc tội
đại đức đã đứng dậy. Vị này vắt chéo áo sanghati lên
vai, và lạy xuống trước Bụt, rồi quỳ xuống với hai bàn
tay chắp lại, vị ấy nói:
- Bạch
Thế Tôn, con đã phạm giới, con đã buộc tội sư huynh Sariputta
một cách oan uổng, con xin sám hối trước Bụt và đại chúng
để được thanh tịnh, và tự nguyện từ nay về sau sẽ không
tái phạm.
Bụt
nói:
- Thầy
đã nhận là mình có tội trước đại chúng và sám hối.
Điều này rất tốt, đại chúng đã chấp nhận sự sám hối
của thầy.
Quay
lại đại đức Sariputta, Bụt nói:
- Mong
đại đức bỏ qua lỗi lầm của vị khất sĩ này.
- Con
xin sẵn lòng bỏ qua nếu thầy ấy hối cải, và con cũng xin
thầy ấy bỏ qua và tha thứ những lỗi lầm có thể có của
con.
Vị
khất sĩ đến trước Sariputta chắp tay lại làm lễ, Đại
đức Sariputta đứng dậy đáp lễ. Hai vị cung kính lạy nhau.
Đại chúng rất hoan hỷ. Không khí rất cởi mở và hòa dịu.
đại đức Ananda đứng dậy nói:
- Sư
huynh Sariputta, mời sư huynh ở lại chơi với các huynh đệ
dăm ba hôm rồi sau đó hãy lên đường đi hành hóa. Anh em
rất nhiều người muốn được gặp gỡ thân mật với sư
huynh.
Đại
đức Sariputta mỉm cười, im lặng chấp thuận.
Sau
mùa an cư, Bụt đi du hành ở nhiều thị trấn trong xứ. Một
hôm người đến Kesaputta, thị trấn của bộ tộc Kalama. Giới
trẻ tìm gặp người rất đông, họ đã từng nghe tiếng sa
môn Gotama nhưng chưa lần nào được gặp.
Một
thanh niên chắp tay hỏi Bụt:
- Sa
môn Gotama, lâu nay có rất nhiều vị đạo sĩ Bà la môn đến
viếng xứ Kesaputta này, để giảng dạy đạo lý. Vị nào
cũng nói chỉ có đạo lý của mình là hay và thường hay chê
bai những đạo lý khác. Chúng con thật là bối rối, không
biết đường nào mà đi, và rốt cuộc chúng con sinh ra nghi
ngờ tất cả. Sa môn, chúng con nghe nói người là bậc giác
ngộ liêm trực, xin người cho chúng con biết là nên tin theo
ai và không nên tin theo ai? Ai là nói đúng và ai là người
đang truyền bá tà thuyết?
Bụt
nói:
-
Trong trường hợp này, nếu các bạn có sinh tâm nghi ngờ,
đó cũng là việc tự nhiên, dễ hiểu.
Này
các bạn, các bạn đừng vội tin vào một điều gì dù diều
đó là điều mà người ta thường nói đến luôn, dù điều
đó có trong kinh điển, dù điều đó là do một bậc thầy
mà thiên hạ tôn sùng nói ra. Các bạn chỉ nên chấp nhận
và tin vào những điều mà các bạn thấy hợp với lý trí
của các bạn, những điều được các hiền nhân đồng ý,
những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới những
kết quả tốt đẹp cho đời sống, còn những điều không
hợp với lý trí, những điều bị các hiền nhân chê trách,
những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới khổ đau
và đổ vỡ, những điều đó các bạn nên bác bỏ, đừng
chấp nhận nữa.
Người
thanh niên Kalama nói:
- Xin
sa môn Gotama chỉ bày thêm cho chúng con.
Bụt
hỏi:
- Này
các bạn, ví dụ có một người để tham vọng, giận hờn
và si mê chế ngự tâm mình, thì những tham dục giận hờn
và si mê ấy sẽ làm cho kia vui hay là khổ?
- Thưa
sa môn, những tham vọng, giận hờn và si mê ấy sẽ làm cho
người kia phạm vào tội ác và sẽ đem lại khổ đau lâu
dài cho người ấy.
- Vậy
thì sống theo tham vọng, giận hờn và si mê có phải là lối
sống mà các bậc hiền nhân chấp nhận và khuyến khích không?
- Thưa
không.
- Giả
dụ có một người kia sống theo hạnh Từ, Bi, Hỷ, và Xả,
biết đem lại hạnh phúc cho kẻ khác, biết làm giảm bớt
nổi khổ của người đời, biết vui theo niềm vui của kẻ
khác, biêt đối xử với kẻ khác một cách không kỳ thị,
không oán trách, thì những hạnh Từ, Bi, Hỷ, và Xả ấy sẽ
làm cho người ấy vui hay là khổ?
Những
hạnh ấy không những sẽ làm cho người ấy có hạnh phúc
mà còn làm cho mọi người sống chung quanh có hạnh phúc nữa.
- Vậy
thì sống theo Từ, Bi, Hỷ, và Xả có phải là lối sống mà
các bậc hiền nhân chấp nhận và khuyến khích không?
- Thưa
sa môn, có.
- Hay
lắm, các bạn. Các bạn hiện có đầy đủ tư cách để phán
xét những gì nên tin và nên chấp nhận, và những gì không
nên tin và không nên chấp nhận. Tôi xin nhắc lại: chỉ nên
tin và chấp nhận những gì hợp với trí xét đoán của mình,
những gì được các bậc hiền nhân chấp nhận và khuyến
khích, những gì mà nếu đem ra thực hành sẽ đem lại niềm
vui và hạnh phúc cho mình và cho kẻ khác. Những gì trái chống
lại thì nên từ chối, đừng chấp nhận.
Những
người trẻ trong bộ tộc Klama rất lấy làm hoan hỷ sau khi
nghe Bụt nói. Họ nhận thấy giáo lý của Bụt rất phù hợp
với lý trí họ, không đòi hỏi một đức tin không điều
kiện. Họ thấy nơi giáo lý ấy một niềm tôn trọng tự
do tư tưởng rất lớn. Nhiều người xin được quy y làm học
trò của Bụt.
Chương
63
ĐƯỜNG
VỀ BIỂN CẢ
Trên
đường đi, Bụt ghé vào thị trấn Alavi, Tại đây người
được dân chúng đón tiếp và cúng dường trai phạn tại
một trú sở công cộng. Đi theo Bụt có tám vị khất sĩ trong
đó có thị giả của người là Ananda. Sau khi Bụt và các
vị khất sĩ đã thọ trai, mọi người đều ngồi lại ăn
uống. Hôm ấy đến dự có khoảng ba trăm người. Cơm nước
đã xong, đại đức Ananda thỉnh Bụt nói pháp cho quần chúng.
Mọi người đã ngồi yên sẵn sàng nghe Bụt nói, thì một
bác nông dân đẩy cửa bước vào. Bác đã đến trễ, vì
sáng hôm nay bác phải đi tìm một con trâu lạc. Tìm được
trâu rồi, bác đóng cửa chuồng trâu và vội vã tìm tới
trụ sở buổi họp, chưa kịp bỏ một hạt cơm nào vào bụng.
Biết
bác nông dân đang đói, Bụt không thuyết pháp vội. Người
bảo đem cơm và cà ri ra để bác nông dân ăn trước. Có người
sốt ruột, bảo rằng ba trăm người mà phải chờ một người
thì quá đáng, nhưng Bụt nhất định chờ. Người chờ cho
bác nông dân ăn cơm và uống nước xong mới bắt đầu thuyết
pháp. Người nói:
- Thưa
quý vị, nếu tôi thuyết pháp trong khi bác nông dân này đang
đói bụng, thì bác sẽ không theo dõi được bài giảng và
như thế là sẽ thiệt hại cho bác. Đại chúng nên biết không
có gì khổ bằng đói. Cái đói nó hành hạ ta và làm cho ta
mất hết thanh tịnh và an lạc. Chúng ta phải nghĩ tới những
kẻ bị đói, người lớn cũng như trẻ em. Đói vì ăn cơm
trễ đã là khổ rồi, huống hồ không ăn trong nhiều ngày
nhiều tháng. Ta phải làm sao để đừng có ai bị đói trên
cuộc đời này mới được.
Ngược
dòng sông Hằng, Bụt hướng về Kosambi phía Tây Bắc. Đứng
bên dòng sông, Bụt nhìn thấy một khúc gỗ lớn đang theo
dòng chảy về phương Đông. Người gọi các vị khất sĩ
cùng đi, chỉ cho họ thấy khúc gỗ đang trôi và nói:
- Các
vị khất sĩ! Khúc gỗ kia nếu không bị vướng mắc vào hai
bờ, nếu không chìm đắm nửa chừng, nếu không vướng một
doi cát, nếu không bị người ta vớt lên, nếu không bị cuốn
theo dòng nưóc xoáy và nếu không bị mục nát từ bên trong
mục nát ra, thì sẽ cứ trôi như thế cho đến ngày ra được
biển cả. Các vị cũng thế, trên con đường tu đạo, nếu
quý vị không bị vướng mắc vào hai bờ, nếu quý vị không
bị chìm đắm nửa chừng, nếu không vướng vào một doi cát,
nếu không bị người ta vớt lên, nếu không bị cuốn theo
dòng nước xoáy và nếu không bị mục nát từ bên trong mục
nát ra, thì chắc chắn các vị cũng sẽ đi về tới đại
dương của sự giải thoát và giác ngộ hoàn toàn.
Các
vị khất sĩ hỏi Bụt:
- Xin
Thế Tôn nói rõ cho chúng con hiểu, thế nào là vướng mắc
vào hai bờ? Thế nào là không bị chìm đắm nửa chừng? Thế
nào là không bị cuốn trôi theo dòng nước xoáy?
- Bị
vướng mắc vào hai bờ tức là bị vướng mắc vào sáu giác
quan và sáu loại đối tượng. Sống tinh cần và tỉnh thức
thì quý vị thì các vị sẽ không đánh mất chánh niệm và
sẽ không bị kẹt vào những cảm thọ do sự xúc tiếp giữa
sáu giác quan và sáu loại đối tượng của chúng gây ra. Chìm
đắm nửa chừng túc là bị những sợi dây tham dục và mê
đắm buộc lại và không còn đủ sức để đi tới, và rốt
cuộc phải nửa chừng bỏ lỡ sự nghiệp tu học của mình.
Vướng mà một doi cát tức là vướng vào sự phục vụ cái
ngã của mình, suốt đời chỉ nhắm tới chuyện quyền lợi
và hư danh mà quên đi mục đích tối hậu là giải thoát.
Bị người ta vớt lên nghĩa là mãi mê cái vui phàm tục, chỉ
ưa la cà suốt ngày suốt buổi rong chơi với bạn xấu mà
bỏ nhãng công việc tu hành. Cuốn theo dòng nước xoáy có
nghĩa là chìm đắm trong vũng tù của năm thức dục lạc:
ăn ngon, mặc đẹp, sang giàu, dâm dục, hư danh, và lười biếng
mê ngủ. Mục nát từ bên trong mục nát ra là sống đời sống
đạo đức giả dối, lường gạt quần chúng, lợi dụng đạo
pháp để thỏa mãn cá nhân.
Các
vị khất sĩ! Các vị nên tinh tiến tu học, giữ gìn để
đừng vướng mắc vào một trong sáu trở ngại đó. Như thế
các vị chắc chắn sẽ đi về quả giác ngộ, như khúc gỗ
kia nếu không bị vướng mắc vào bất cứ trở ngại gì trên
sông thì sẽ chắc chắn về được tới biển cả.
Trong
lúc Bụt giảng dạy cho các vị khất sĩ thì có một thiếu
niên chăn trâu khoảng mười sáu tuổi đứng gần đó. Thanh
niên này tên là Nanda, trùng với tên vị khất sĩ Nanda, em
cùng cha khác mẹ với Bụt. Nanda nghe Bụt giảng, thích lắm,
chàng đến gần Bụt xin Bụt cho chàng đi theo làm học trò
người. Chàng nói:
- Sa
môn, con cũng muốn được như các vị khất sĩ có dung mạo
trang nghiêm kia. Con cũng muốn tu học như các vị. Con hứa
sẽ đem hết sức mình để tu học, để đừng bị vướng
vào hai bờ, để đừng bị chìm đắm, để đừng bị vướng
vào một doi cát, để đừng bị người ta vớt lên, để đừng
bị cuốn theo dòng nước xoáy và để đừng bị mục nát
từ trong mục nát ra. Xon sa môn nhận con làm học trò của
người ...
Thấy
thiếu niên tuy ít học mà có vẻ thông minh, Bụt gật đầu.
Người hỏi:
- Con
bao nhiêu tuổi?
- Bạch
sa môn, con mười sáu.
- Con
có cha mẹ ở nhà không?
- Ba
mẹ con đều đã mất. Con không có anh em và bà con nào hết.
Con chỉ ở giữ trâu cho một người giàu có trong làng mà
thôi.
Bụt
hỏi tiếp:
- Con
có thể ăn một ngày một bữa không?
- Con
đã quen ăn như thế từ lâu.
Bụt
nói:
- Đáng
ra, con phải có đủ hai mươi tuổi mới được chấp nhận
vào giáo đoàn. Tuổi chưa hai mươi thì chưa đủ chịu đựng
được nếp sống không nhà không cửa, nhưng con là một thiếu
niên đặc biệt, ta sẽ xin giáo đoàn cho con được miễn điều
kiện tuổi tác. Con sẽ tập sự bốn năm với tư cách một
vị sa di trước khi thọ giới khất sĩ. Bây giờ con đi lùa
trâu về trả cho chủ con đi, và con xin phép chủ con cho nghỉ
việc. Xong xuôi, con sẽ đến tìm ta.
Thiêu
niên thưa:
- Bạch
sa môn, con không cần làm như thế, những con trâu này khôn
lắm, chúng có thể đi về chuồng một mình mà không cần
con lùa.
- Nhưng
con phải lùa chúng về, giao lại cho chủ đàng hoàng và xin
phép chủ nghỉ việc thì con mới được chấp nhận theo ta.
- Nếu
lỡ con lùa trâu về giao cho chủ và xin phép chủ được rồi,
nhưng khi trở lại Bụt và các thầy đã đi hết rồi thì
sao?
Bụt
cười:
-
Con đừng lo, ta đã hứa thì chúng ta sẽ đứng đây chờ con.
Nanda
sung sướng đi lùa trâu về chuồng. Bụt gọi khất sĩ Svastika.
Người nói:
- Svastika,
thầy giao cho con hướng dẫn em thiếu niên chăn trâu này. Thầy
tin rằng con biết cách giúp nó.
Svastika
chắp tay phụng mệnh. Thầy Svastika năm nay đã ba mươi chín
tuổi. Thầy biết tại sao Bụt giao trách nhiệm hướng dẫn
em thiếu niên chăn trâu này. Được gặp Bụt hồi còn mười
một tuổi, Svastika đã được Bụt cho xuất gia năm thầy lên
hai mươi mốt. Chính vì Svastika mà Bụt đã nói kinh Phong Ngưu.
Kinh này thầy Svastika vẫn thuộc lòng. Thầy đã trùng tuyên
kinh này rất nhiều lần cho các bạn đồng tu. Cậu bé này
sẽ được tập sự xuất gia, và bốn năm sau sẽ được thọ
giới khất sĩ. Thầy Svastika tin tưởng là mình đủ sức để
hướng dẫn chú bé Nanda này. Đã đến lúc Bụt giao cho thầy
trách vụ tiếp độ những người trẻ tuổi. Bạn thân nhất
của thầy là đại đức Rahula năm nay cũng đã ba mươi sáu.
Tất
cả mấy đứa em của thầy Svastika đến nay đã có vợ và
có chồng. Ai cũng có gia đình và nhà cửa riêng. Ngôi nhà
ngày xưa của gia đình Svastika bây giờ đã xiêu vẹo và đổ
nát. Trong một chuyến du hành ngang qua thôn Uruveka, Svastika đã
ghé thăm lại chốn cũ năm xưa, khi thầy còn mười một tuổi,
một mình phải đi chăn trâu nuôi bốn đứa em. Năm ấy Rupak
mới bảy tuổi, Bala mới năm tuổi, Bhima mới hai tuổi. Năm
nay Bhima đã ba mươi tuổi rồi. Cũng như chị nó là Bala, Bhima
đã có chồng có con, em trai của Svastika sau khi cưới vợ đã
đi lập nghiệp ở một nơi khác. Svastika đã có gần hai mươi
đứa cháu, và trong số đó cũng có những đứa đang đi chăn
trâu cho người khác như Svastika và Rupak ngày xưa. Svastika nhớ
có lần thầy đã mời thầy Rahula ghé lại quê nhà. Lúc đó
Rupak đã cưới vợ và đi sinh sống nơi khác. Hai đứa em gái
còn ở với nhau, sống vào nghề làm bánh. Svastika đã cùng
đi với Rahula ra bờ sông. Nhớ lời hứa với bạn, Svastika
đã đi tìm bọn chăn trâu đang thả trâu cho ăn bên bờ cỏ
cạnh dòng sông Ni Liên Thuyền và bảo chúng để cho Rahula
thử cỡi lên mình trâu. Lúc đó Rahula đã thọ giới khất
sĩ, nên hơi ngần ngại, nhưng cuối cùng, Rahula đã cởi áo
sanghati cho Svastika cầm. Một em bé mục đồng chỉ cho Rahula
cách leo và ngồi trên mình trâu. Thấy con trâu to lớn nhưng
quá hiền lành, Rahula làm đúng theo lời em bé. Ngồi trên mình
trâu, để trâu thong thả bước đi, Rahula cho Svastika biết
cái cảm giác là lạ của thầy. Rahula ý thức về cảm giác
ấy, rồi Rahula nói không biết nếu thấy cảnh này Bụt sẽ
nghĩ gì, Svastika biết nếu không đi tu, nếu ở lại hoàng
cung để sau này làm vua, chắc hẳng Rahula sẽ không bao giờ
có dịp cỡi lên mình trâu mà đi như hôm nay.
Chú
bé Nanda đã trở lại, đại đức Svastika trở về giờ phút
hiện tại. Thầy bảo Nanda tới gần thầy, và cho chú biết
thầy sẽ là thầy nương tựa của chú. Ngay tối hôm ấy Nanda
được xuống tóc làm một vị sa di. Chú tiểu mới này được
dạy cách mặc áo, mang bát và những cách đi, đứng, nằm,
ngồi theo chánh pháp.
Nanda
đã mười sáu tuổi và có vẻ chín chắn; thầy Svastika nghĩ
rằng hướng dẫn chú sa di này không phải là việc khó. Thầy
nhớ năm xưa ở tu viện Trúc Lâm, có một nhóm mười bảy
em bé được các thầy trong tu viện chấp nhận vào giáo đoàn
để tu học, em lớn nhất mười bảy tuổi và em bé nhất
chỉ mới có mười hai. Tất cả đều là con nhà khá giả,
đứa lớn nhất tên là Upali. Mười sáu em kia đều là bạn
chơi thân của Upali. Khi Upali xin đi xuất gia, cả bọn mười
sáu đứa kia đều đòi cha mẹ cho đi tu theo. Sau khi được
chấp nhận, bọn trẻ được khép vào kỷ luật của tu viện.
Luật của tăng đoàn là không thể ăn quá ngọ. Đêm đầu,
mấy em nhỏ đói quá nên khóc. Các thầy bỏ phải đợi tới
ngày mai mới được ăn cơm. Buổi sáng, Bụt hỏi các thầy
tại sao ban đêm lại có tiếng trẻ em khóc. Các thầy trình
bày lại tự sự. Bụt bảo:
- Từ
nay về sau, các thầy không nên nhận vào giáo đoàn những
người dưới hai mươi tuổi. Các em chưa đủ sức để chịu
đựng nếp sống của người khất sĩ.
Tuy
nhiên, vì các em đã được chấp nhận lỡ rồi nên vẫn được
giữ lại. Bụt dạy các thầy nên cho phép các em từ mười
lăm trở xuống được ăn thức ăn nhẹ vào buổi chiều, cũng
như Rahula hồi còn tám tuổi. Em bé nhỏ nhất năm ấy, năm
nay cũng đã được thọ giới khất sĩ rồi vì đã đến tuổi
hai mươi.
Chương
64
VÒNG
SINH TỬ KHÔNG CÓ BẮT ĐẦU
Một
hôm đang ngồi ở vườn Bhesakala ở Sumsumaragira, Bụt bảo
các vị khất sĩ:
- Này
các vị, tôi muốn nói để các vị nghe về tám điều giác
ngộ của các bậc đại nhân. Tám điều này đã từng được
đại đức Anurudha chiêm nghiệm và nói tới, hồi tôi gặp
đại đức tại Vườn Tre xứ Ceti, nơi đại đức ẩn cư.
Đây là tám điều mà những bậc giác ngộ có thể đem ra
dạy dỗ và giáo hóa để đưa người từ cõi mê lầm đến
bờ giải thoát.
Điều
thứ nhất là giác ngộ rằng vạn pháp là vô thường và vô
ngã. Quán sát về tính vô thường và vô ngã của vạn pháp
thì tránh được khổ đau và dần dần đạt tới giải thoát
và an lạc.
Điều
thứ hai là giác ngộ rằng càng nhiều ham muốn thì càng nhiều
khổ đau. Giảm bớt ham muốn tức là làm cho đời bớt khổ.
Điều
thứ ba là giác ngộ rằng tri túc đem tới an lạc. Biết sống
đơn giản thì sẽ có thì giờ và tâm lực để tu đạo và
để giúp đời.
Điều
thứ tư là giác ngộ rằng chỉ có sự tinh cần mới đưa
ta đến quả vị giác ngộ. Lười biếng và hưởng thụ chỉ
đưa đến sụ đọa lạc vào thế giới của ma chướng và
phiền não.
Điều
thứ năm là giác ngộ rằng sống trong quên lãng và vô minh
thì sẽ bị giam hãm đời đời trong cõi sinh tử ràng buộc.
Chỉ có đời sống chánh niệm và tỉnh thức mới đưa tới
sự thành tựu giác ngộ và khả năng giáo hóa.
Điều
thứ sáu là giác ngộ rằng bố thí là một phương tiện quan
trọng để độ người. Vì nghèo khổ mà phần đông bị giam
hãm trong oán hận và căm thù, do đó mà cứ tạo thêm nghiệp
xấu. Người hành đạo phải thực hiện phép bố thí, coi
kẻ ghét người thương bằng nhau, bỏ qua những điều ác
mà người ta đã làm đối với mình và không đem tâm ghét
bỏ những ai đã vì nghèo khó mà lỡ phạm vào tội lỗi.
Điều
thứ bảy là giác ngộ rằng người hành đạo tuy đi vào đời
để hóa độ mà không bị chìm đắm trong cuộc đời. Người
xuất gia khi đi vào đời để cứu độ chỉ nên lấy y bát
làm vật sở hữu duy nhất của mình, luôn luôn sống nếp
sống thanh bạch mà hành đạo, giữ phạm hạnh cho thanh cao
và đem lòng từ bi mà tiếp xử với tất cả mọi người
và mọi loài.
Điều
giác ngộ thứ tám là không chỉ bo bo lo việc giải thoát cho
riêng mình mà phải biết nổ lực phục vụ cho kẻ khác để
tất cả cùng hướng về nẻo giác ngộ.
Này
các vị khất sĩ! Trên đây là tám điều giác ngộ của các
bậc đại nhân. Tất cả các bậc đại nhân đã nhờ tu tập
theo tám điều này mà được giác ngộ. Khi đi vào đời họ
cũng đem tám điều này để khai mở và giáo hóa cho mọi người,
để cho ai nấy đều biết được con đường đưa tới giác
ngộ và giải thoát.
Về
tới tu viện Trúc Lâm ở Rajagala, Bụt được thông báo là
vị khất sĩ Vakkali đang bị bệnh nặng và rất trông mong
được thấy mặt Bụt trước khi qua đời. Nghe Bụt về tới
Trúc Lâm, thầy đã gửi vị thị giả của thầy tới để
vấn an Bụt. Vị thị giả này lạy xuống ba lạy rồi mới
quỳ lên và bạch:
- Bạch
Thế Tôn, thầy con hiện đang ốm nặng. Thầy con đang nằm
trên giường bệnh, trong ngôi nhà của một người cư sĩ làm
nghề đồ gốm. Thầy con dặn con tới thay thầy con để cung
kính lạy xuống và kê đầu trên chân Thế Tôn, ba lần.
Bụt
nói với thầy Ananda:
-
Chúng ta hãy đi thăm đại đức Vakkali.
Biết
Bụt đến, đại đức Vakkali gắng gượng ngồi lên, nhưng
thầy không ngồi lên nổi, Bụt đỡ thầy nàm xuống trở
lại và nói:
- Vakkali,
đừng cố gắng ngồi lên. Cứ nằm xuống cho thoải mái. Có
mấy cái ghế có sẵn đây, tôi và thầy Ananda ngồi xuống
được rồi.
Bụt
và thầy Ananda ngồi xuống. Người hỏi thăm:
- Thầy
Vakkali, tôi mong rằng tình trạng sức khỏe của thầy không
đến nổi nào và những cơn đau trong thân thể của thầy
có giảm bớt.
- Bạch
Thế Tôn, tình trạng sức khỏe của con càng lúc càng tệ.
Con khó chịu lắm, những cơn đau trong cơ thể đã không giảm
bớt, trái lại còn cứ tăng dần.
- Tôi
mong rằng trong tâm, thầy không lo lắng gì và không ân hận
gì.
- Bạch
Thế Tôn, có; trong lòng con có lo lắng và có ân hận.
- Vậy
tôi mong thầy không tự trách gì mình về nếp sống tu học
phạm hạnh của thầy.
- Không,
bạch Thế Tôn, con không có trách móc gì con và không có ân
hận gì về đời sống phạm hạnh của con cả.
- Vậy
thì thầy lo lắng và ân hận về cái gì?
- Con
chỉ lo lắng và ân hận là từ lâu nay con rất muốn đi thăm
Bụt mà vì yếu quá con đã chẳng làm được việc ấy.
Bụt
quở nhẹ nhàng:
- Thôi
đi, Vakkali. Lo lắng ân hận gì về chuyện ấy. Thầy đã sống
xứng đáng đời sống phạm hạnh như thế, thì thầy trò
mình luôn luôn có mặt bên nhau rồi. Cứ gì phải thấy mặt
tôi mới gọi là thấy Bụt? Cái hình hài này đâu phải là
quan trọng. Chính chánh pháp mới là thiết yếu. Ai thấy được
chánh pháp tức là thấy Bụt. Thầy được hình hài này mà
không thấy được chánh pháp tức cũng như không thấy được
gì hết.
Im
lặng một lát, Bụt hỏi:
- Vakkali,
thầy có thấy sắc thân là vô thường không? Sắc thân nơi
thầy cũng thế, mà sắc thân nơi tôi cũng thế.
- Bạch
Thế Tôn, con thấy rất rõ, con thấy sắc thân là vô thường,
sinh diệt, và biến chuyển không ngừng. Con lại thấy cảm
thọ cũng vô thường, những đau nhức cũng như những vui mừng
của con cũng đang sinh diệt và biến chuyển không ngừng. Tri
giác, tâm tư, và nhận thức nơi con cũng chịu luật sinh diệt
vô thường ấy. Trước khi Thế Tôn đến thăm, con đã quán
chiếu nhiều về tính vô thường của năm uẩn và con bắt
đầu thấy rõ ràng trong năm dòng sinh diệt ấy không có gì
có thể gọi là tự ngã.
- Hay
lắm, Vakkali! Tôi có đức tin nơi thầy. Trong năm uẩn, ta không
thấy được một cái gì gọi là tự ngã. Tự ngã không phải
là một cái gì được nhốt kín trong năm uẩn. Thầy mở mắt
ra nhìn đi: đâu mà không phải là Vakkala, cái gì mà không
phải là Vakkali? Sự sống mầu nhiệm khắp nơi. Vakkali! Sinh
diệt không động được tới thầy đâu. Thầy mỉm cười
đi, mỉm cười ngay với cái thân tứ đại của thầy. Mỉm
cười ngay với những đau nhức đang sinh diệt trong cơ thể
của thầy.
Hai
mắt của đại đức Vakkali rươm rướm ướt. Trên môi thầy
rõ rệt là có một nụ cười.
Bụt
đứng dậy cáo từ.
Sau
khi Bụt và Ananda đã đi khỏi, đại đức Vakkali bảo các
bạn:
- Các
bạn khiêng dùm tôi. Khiêng cả chiếc giường này. Xin khiêng
tôi ra sườn núi Isigili. Một người như tôi mà nằm chết
trong một căn phòng thì ngó sao được? Tôi muốn chết trên
sườn núi, giữa mây trời cao rộng.
Các
bạn tu của thầy liền xúm lại khiêng thầy lên sườn núi
Isigili.
Đêm
ấy Bụt ngồi thiền tọa cho đến khuya. Sáng sớm, người
đi ra và bảo mấy vị khất sĩ cư trú gần người:
- Các
thầy hãy đi thăm thầy Vakkali đi, và nhắn rằng thầy ấy
đừng nên e ngại sợ sệt. Cái chết của thầy sẽ bình an
và vô tội, thầy cứ an tâm mà đi. Tôi có đức tin nơi thầy
ấy.
Các
vị khất sĩ tìm ra sườn núi và gặp đại đức Vakkali. Họ
nói:
- Đức
Thế Tôn có điều muốn nhắn với thầy.
Vakkali
nói:
- Nhờ
các bạn khiêng tôi xuống đất. Nằm trên giường cao mà nhận
giáo chỉ của Bụt thì còn ra gì nữa? Tôi là ai mà dám nằm
trên giường cao để tiếp nhận lời giáo huấn của đức
Thế Tôn?
Người
ta khiêng thầy xuống nằm trên một tảng đá. Rồi các vị
khất sĩ lập lại những lời của Bụt nhắn.
Nghe
xong, thầy Vakkali chắp tay lại, khẩn khoản:
- Xin
các sư huynh về đãnh lễ Bụt giúp cho tôi ba lần, và xin
các sư huynh bạch với người như sau: Thế Tôn, khất sĩ Vakkali
đau rất nặng, và nhức nhối vô cùng. Khất sĩ Vakkali xin
đập đầu kính lạy Thế Tôn. Khất sĩ Vakkali thấy rất rõ
năm uẩn là vô thưòng, là khổ, là không, là vô ngã, và khất
sĩ Vakkali không bị ràng buộc vào năm uẩn. cho đến giờ
phút chót Vakkali cũng thấy rõ như vậy và không còn một chút
nghi ngại nào.
Các
vị khất sĩ nói:
- Huynh
cứ an tâm, chúng tôi sẽ về lạy Bụt và trình lại người
những điều sư huynh vừa nói.
Các
vị khất sĩ vừa đi khỏi thì vị khất sĩ Vakkali từ trần.
Chiều
hôm ấy Bụt lên núi Isigili với một số các vị khất sĩ.
Bầu trời xanh trong, chỉ có một gợn khói bốc lên từ cuối
chân trời, nhưng trong phút chốc gợn khói cũng tan loãng trong
không gian và biến mất. Nhìn bầu trời bao la, Bụt nói với
các vị khất sĩ:
- Vakkali
đã giải thoát. Không một ma chướng nào, không một pháp
hữu vi nào có thể kìm hãm và giam giữ được Vakkali.
Bụt
lại lên đường đi Nalanda rồi Vesali.
Tại
tu viện Trùng Các trong rừng Mahavana, một hôm Bụt dạy các
vị khất sĩ:
- Này
các vị, sống ở trên đời ai mà không ít nhiều phải gánh
chịu khổ đau. Tuy nhiên, những ai có tu, có học, có đạt
được trí tuệ thì khổ đau rất ít so sánh với khổ đau
của người không tu, không học, không có trí tuệ.
Lúc
ấy trời còn nắng lớn nhưng Bụt đang ngồi với các thầy
trong bóng mát những cây sala. Bụt nhặt lên một hòn đất
nhỏ, cầm nó giữa ngón tay cái và ngón tay trỏ, đưa lên
cao và hỏi:
- Này
các vị khất sĩ, hòn đất trong tay tôi so với núi Tượng
Đầu cái nào lớn hơn?
- Bạch
đức Thế Tôn, cố nhiên so với núi Tượng Đầu, hòn đất
trong tay Thế Tôn không có nghĩa gì.
- Cũng
như thế đó các vị, đối với người có tu, có học, có
đạt đến trí tuệ thì tuy có đau khổ mà đau khổ ấy sánh
với đau khổ của người không tu, không học, không có trí
tuệ thì không có nghĩa gì. Si vọng làm cho đau khổ to lớn
gấp bội.
Này
các vị, ví dụ có người bị trúng một mũi tên, người
ấy cảm thấy đau nhức, nhưng nếu một mũi tên thứ hai tới
cắm đúng vào chỗ vết thương thì cái đau nhức ấy chắc
chắn lớn hơn bội phần, và nếu một mũi tên thứ ba bay
tới bắn trúng ngày vào cùng chỗ đó thì sự đau nhức lại
còn lớn lao gấp trăm ngàn lần. Si vọng cũng như mũi tên
thứ hai, mũi tên thứ ba và những mũi tên khác. Nó làm cho
cái khổ tăng gia gấp bội.
Nhờ
trí tuệ, nhờ hiểu biết, con người có học, có tu và có
giác ngộ không làm cho cái khổ gia tăng nơi mình và nơi người
khác. Khi có một khổ thọ, dù là khổ thọ về thân xác hay
là khổ thọ về tâm ý, người có trí không sầu muộn, không
than van khóc lóc, không đập ngực bứt tóc, không đày đọa
thân thể và tâm hồn, không ngã lăn ra bất tỉnh. Người
ấy bình tĩnh quán chiếu và biết khổ thọ chỉ là một cảm
thọ, người ấy biết người ấy không phải là cảm thọ,
không kẹt vào cảm thọ. Cảm thọ không còn trói buộc được
người ấy. Khổ đau không trói buộc được người ấy.
Khi
có một khổ thọ về thân thể, người ấy biết có một
khổ thọ về thân thể. Người ấy không hoảng hốt, không
lo sợ, không trách cứ, không u sầu, vì vậy khổ thọ ấy
vẫn chỉ là một khổ thọ về thân thể, mà không trở nên
một khổ thọ lớn lao có thể làm chìm đắm tự thân.
Cũng
vì thế. này quý vị khất sĩ, quý vị nên tu tập, nên quán
chiếu để đạt tới trí tuệ và để không bị khổ đau
ràng buộc. Sinh, lão, bệnh, tử sẽ không còn khống chế được
quý vị.
Này
các vị khất sĩ, khi sắp mệnh chung, việc người khất sĩ
nên làm là quán chiếu thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối
tượng tâm ý. Mỗi tư thế, mỗi động tác cần được đặt
trong chánh niệm. Mỗi cảm thọ đều được soi sáng bởi
chánh niệm. Người sắp mệnh chung quán chiếu tự tánh vô
thường và duyên sinh của thân thể và của cảm thọ, để
không còn bị vướng mắc vào thân thể và cảm thọ, dù là
lạc thọ, khổ thọ, hay xả thọ. Nếu có cơn đau phải đem
hết toàn thân ra chịu đựng, thì người ấy quán chiếu:
đây là một cơn đau phải đem hết toàn thân ra chịu đựng.
Cơn đau này không phải là ta, ta không phải là cơn đau này,
ta không kẹt vào cơn đau này. Thân thể và cảm thọ như là
một ngọn đèn đang cạn dầu và hết bấc. Ánh sáng do nhân
duyên làm tỏ lộ mà cũng do nhân duyên làm tiềm phục. Ta
không bị ràng buộc bởi nhân duyên, và như thế sẽ có lắng
dịu, sẽ có giải thoát.
Khi
những trận mưa đầu mùa đổ xuống làm dịu bớt cái nóng
mùa Hạ, người lên đường về tu viện Jetavana. Năm nay các
thầy và các ni sư về an cư ở các trung tâm tu học tại Savatthi
đông lắm.
Tại
giảng đường Lộc Mẫu, một hôm Bụt giảng dạy thêm về
đạo lý duyên sinh. Một vị khất sĩ đứng lên bạch:
- Thế
Tôn, người đã dạy thức là cơ sở của danh sắc, như vậy
có nghĩa là vũ trụ vạn hữu trong thế giới đều phát sinh
từ tâm thức, có phải thế không?
Bụt
nói:
- Đúng
như vậy. Danh là tâm nhận thức. Sắc là đối tượng nhận
thức. Chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức là
hai mặt của cùng một thực tại. Không thể nào có nhận
thức nếu không có đối tượng nhận thức, không thể nào
có đối tượng nhận thức nếu không có nhận thức. Danh
và sắc không thể tồn tại riêng biệt. Vì chủ thể nhận
thức và đối tượng nhận thức không thể rời nhau mà có
mặt cho nên cả hai đều phát xuất từ cơ sở tâm thức.
Chính vì vậy nên tôi đã nói rằng Thức là cơ sở của Danh
Sắc.
- Bạch
Thế Tôn, nếu Danh Sắc phát sinh từ thức thì quả thật Thức
là nguồn gốc của vũ trụ vạn hữu. Ta có thể tìm hiểu
vì sao có tâm thức hay không? Và tâm thức có từ lúc nào?
Có thể nói đến một sự bắt đầu của tâm thức hay không?
- Này
các vị khất sĩ! Ý niệm về bắt đầu và ý niệm về chung
cuộc cuối cùng là những ý niệm phát sinh từ tâm thức.
Thật ra không có cái bắt đầu, mà cũng không có sự chung
cuộc. Do vô minh cho nên ta mới có ý niệm về thỉ và chung.
Do vô minh mà người ta mới đi vòng trong cõi luân hồi sinh
tử. Cái vòng luân hồi sinh tử không có thỉ cũng không có
chung.
- Nếu
vòng luân hồi sinh tử không có thỉ mà cũng không có chung
thì làm sao là chấm dứt được luân hồi sinh tử?
- Sinh
và tử cũng là những ý niệm phát sinh từ tâm thức vô minh.
Thoát ra được những ý niệm về sinh tử và thỉ chung,
đó là thoát ra khỏi luân hồi.
Các
vị khất sĩ! Hôm nay tôi chỉ nói chừng ấy. Quý vị hãy
về thực tập quán chiếu. Hôm khác chúng ta sẽ trở lại
vấn đề này.
Chương
65
KHÔNG
‘CÓ’ CŨNG KHÔNG ‘KHÔNG’
Sau
buổi pháp thoại này, đại đức Svastika thấy nhiều thầy
có vẻ trầm ngâm, riêng đại đức thấy mình chưa nắm vững
được những điều Bụt dạy. Đại đức tâm niệm sẽ cố
gần gũi các vị đại đức lớn để học hỏi thêm, qua những
lời luận đàm của họ.
Trong
buổi pháp thoại kế tiếp, đại đức Ananda được phép đại
diện các thầy đặt lên những câu hỏi để Bụt trả lời.
- Bạch
Thế Tôn, thế nào là thế giới? Thế nào là vạn hữu?
- Ananda,
thế giới (loka) là sự tập hợp của tất cả những gì có
tính biến chuyển và tàn hoại (paloka). Vạn hữu tuy sum la
nhưng tất cả đều bao hàm trong mười tám lãnh vực: đó
là sáu căn, sáu trần, và sáu thức. Sáu căn, như các vị
đã biết là mắt. tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu trần là
sắc, thanh, hương, vị, xúc và ý tưởng. Sáu thức là cái
thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc chạm và cái ý.
Ngoài mười tám lãnh vực đó mà ta gọi là thập bát giới,
không còn có gì nữa. Tất cả mười tám cái ấy đều có
tính sinh diệt và biến hoại, cho nên tôi đã định nghĩa
thế giới là sự tập hợp của tất cả những gì có tính
biến chuyển và tàn hoại.
Ananda
lại hỏi:
- Thế
Tôn đã từng nói vạn pháp là không. Như thế nào gọi là
vạn pháp không?
- Bởi
vì vạn pháp không có tự thể riêng biệt cho nên gọi là
vạn pháp không. Sáu căn, sáu trần cũng như sáu thức, không
có pháp nào có tự thể riêng biệt.
- Thế
Tôn, có lần con đã nghe Thế Tôn nói về ba cách cửa giải
thoát là Không, Vô Tướng và Vô Tác. Có lần con cũng đã
nghe Thế Tôn nói vạn pháp là không, thế giới là không. Con
chưa thật sự hiểu được thế nào là không. Có phải vì
vạn pháp có tính biến chuyển và tàn hoại cho nên Bụt nói
“vạn pháp là không" không?
- Ananda,
quả thật tôi đã từng nói về không, và phép quán về không.
Phép quán chiếu về không là một phép quán chiếu mầu nhiệm,
có thể giúp người hành đạo vượt ra khỏi khổ ưu và sinh
tử. Hôm nay tôi sẽ vì đại chúng mà nói về không quán.
Ananda,
tất cả chúng ta đều đang ngồi trong giảng đường Lộc
Mẫu. Chúng ta biết rằng trong giảng đường này không có
chợ búa, trâu bò, làng xóm, mà chỉ có các vị khất sĩ đang
ngồi nghe pháp mà thôi. Cái gì không thì ta nói là không, cái
gì có thì ta phải nói là có. Trong trường của chúng ta đây,
tức là trong trường hợp giảng đường Lộc Mẫu, chợ búa,
làng xóm, trâu bò là không, nhưng các vị khất sĩ là có,
có phải như thế không?
- Bạch
Thế Tôn, đúng như vậy.
- Sau
buổi giảng này, tất cả chúng ta đều sẽ đi ra khỏi giảng
đường Lộc Mẫu, và trong giảng đường sẽ không có một
vị khất sĩ nào. Lúc đó, giảng đường Lộc Mẫu không có
chợ búa, không có làng xóm, không có trâu bò mà cũng không
có các vị khất sĩ. Có phải thế không?
- Bạch
Thế Tôn, đúng như vậy. Lúc đó trong giảng đường Lộc
Mẫu không có gì hết.
- Ananda,
có luôn luôn nghĩa là có cái gì, không luôn luôn nghĩa là
không cái gì. Tiếng có và tiếng không tự chúng không có
nghĩa gì cả.
Xin
Thế Tôn giải rõ cho chúng con.
- Này
nhé: không bao giờ cũng là không một cái gì, ví dụ không
chợ búa, không trâu bò, không làng xóm, không có các vị khất
sĩ. Ta không thể nói không một cách suông cụt được. Có
cũng thế. Có bao giờ cũng là có một cái gì, như có chợ
búa, có trâu bò, có làng xóm, có các vị khất sĩ. Ta không
thể nói có một cách suông cụt được. Vào giờ phút hiện
tại, các vị có thể nói là trong Lộc Mẫu Đường không
chợ búa, không trâu bò, không xóm làng, nhưng có các vị khất
sĩ. Đó là trường hợp Lộc Mẫu Đường, còn trong trường
hợp vạn pháp thì sao? Nếu ta nói vạn pháp có, thì vạn pháp
có cái gì? Nếu ta nói vạn pháp không thì vạn pháp không
cái gì?
Này
các vị khất sĩ, cái mà tôi gọi là không trong vạn pháp
đó là cái ngã, nghĩa là cái tính chất thường tại và bất
biến. Vạn pháp không nghĩa là vạn pháp không có ngã, nghĩa
là không có tính chất thường tại và bất biến. Nghĩa căn
bản của không là như thế. Các vị đã chấp nhận và đã
biết rằng vạn pháp đều có tính biến chuyển và hoại diệt.
Chính vì vạn pháp có tính cách biến chuyển và hoại diệt
cho nên vạn pháp không có ngã, không hàm chứa một cái ngã.
Vì vô thường cho nên vạn pháp cũng là vô ngã. Tất cả các
pháp đều không có ngã trong tự thân, cho nên vạn pháp được
gọi là không ... Này quý vị, không có nghĩa là không có tự
ngã.
Này
các vị khất sĩ! Trong năm uẩn không có uẩn nào có tính
cách thường tại bất biến cả. Cả năm yếu tố hình hài,
cảm giác, tri giác, tâm tư và nhận thức đều không có tự
ngã, đều không có tính cách thường tại bất biến. Tính
cách thường tại bất biến ấy thường được gọi là cái
ta. Đã không có ta thì làm gì có cái của ta? Đã không có
ngã thì làm gì có ngã sở? Quán chiếu để thấy được sự
không có mặt của cái ta và cái của ta trong vạn pháp tức
là quán chiếu về không vậy.
Ananda
hỏi:
- Vạn
pháp không có ngã, đó là điều mà chúng con đã hiểu và
đã thấy, nhưng bạch Thế Tôn, có vạn pháp không?
Bụt
im lặng nhìn xuống phía trước mặt người.
Trước
mặt Bụt có một chiếc bàn nhỏ, trên bàn có đặt một cái
bát đầy nước trong để Bụt giải khát, chỉ vào bát nước
trên bàn, Bụt hỏi đại đức Ananda:
- Ananda,
theo thầy thì cái bát này là bát không hay bát đầy?
- Bạch
Thế Tôn, cái bát này không phải là bát không, nó là một
cái bát đựng đầy nước trong.
- Ananda,
thầy hãy cầm cái bát nước đầy này lên và đem đổ hết
nước trong bát ra phía ngoài Lộc Mẫu Đường.
Đại
đức Ananda làm theo lời Bụt dạy. Khi trở vào đại đức
đặt chiếc bát không lên bàn.
Cầm
chiếc bát lên và úp miệng về phía dưới, Bụt hỏi:
- Ananda,
cái bát này bây giờ đây là bát không hay bát đầy?
- Bạch
Thế Tôn, cái bát này bây giờ đây không phải là cái bát
đầy nước nữa, mà là một cái bát không.
- Ananda,
thầy có chắc là cái bát này là cái bát không không?
- Bạch
Thế Tôn, con chắc chắn cái bát này là cái bát không.
- Ananda,
trong cái bát này không có nước nhưng lại có đầy không
khí. Cái bát chỉ không có nước thôi, chứ cái bát đang
có đầy không khí. Thầy đã quên rồi. Không luôn luôn nghĩa
là không một cái gì, có luôn luôn nghĩa là có một cái gì.
Trong trường hợp này, thầy phải nói: cái bát không có nước,
nhưng có đầy không khí.
- Bạch
Thế Tôn, con đã hiểu.
- Vậy
thì này Ananda, cái bát có thể là một cái bát không mà cũng
có thể là một cái bát đầy. Cái không hay cái đầy ấy
tùy thuộc vào sự có mặt của cái bát. Nếu không có cái
bát thì làm gì có cái không hay cái đầy. Vậy nếu muốn
không hay muốn đầy thì phải có cái bát đã. Như giảng đường
Lộc Mẫu mà trong đó chúng ta đang ngồi đây. Giảng đường
có thể không hay đầy, nhưng muốn không hay đầy thì phải
có giảng đường trước đã.
Đại
chúng “ồ” lên một tiếng.
Đại
đức Ananda chắp tay:
- Bạch
Thế Tôn, như vậy là có vạn pháp, và vạn pháp có thật.
Bụt
mỉm cười:
- Ananda!
Thầy đừng nên bị từ ngữ khống chế như thế. Nếu vạn
pháp có mặt như những hiện tượng không có ngã thì cái
có đó không phải là cái có của tri giác thông thường. Cái
có ấy cùng với cái không kia là một.
Ananda
lại chắp tay:
- Xin
Bụt khai thị cho chúng con.
- Này
Ananda, chúng ta vừa nói đến cái bát không và cái bát đầy.
Chúng ta cũng vừa nói đến giảng đường không và giảng
đường đầy. Tôi đã nói sơ lược về không, bây giờ tôi
sẽ nói sơ lược về có.
Cái
bát trên bàn kia tuy là cái bát không còn nước, nhưng nếu
đại chúng nhìn thật kỹ thì không phải như vậy.
Nâng
cái bát lên, Bụt nhìn Ananda:
- Ananda,
trong những yếu tố nhân duyên đã đưa tới sự có mặt của
cái bát này, có yếu tố nước không?
- Bạch
Thế Tôn, có. Nếu không có nước trộn vào đất sét thì
người thợ gốm không thể nào biến đất sét thành cái bát.
- Đúng
rồi, Ananda! Nhìn kỹ vào cái bát ta thấy có nước ở trong
đó, dù trong giờ phút hiện tại, nó là một cái bát
không có nước. Sự có mặt của cái bát chứng minh được
sự có mặt của nước. Ananda! Thầy có thấy yếu tố lửa
trong cái bát này không?
- Bạch
Thế Tôn, con có thấy. Nếu không có lửa thì đất trộn với
nước không thể nào đưa tới sự có mặt của cái bát. Nhìn
sâu vào cái bát con thấy sự có mặt của hơi nóng của lửa.
Nhìn
sâu vào cái bát thấy gì nữa?
- Con
thấy không khí. Nếu không có không khí thì lửa không cháy
được và người thợ gốm cũng không sống được. Con thấy
người thợ gốm. Con thấy bàn tay khéo léo của người thợ
gốm. Con thấy tâm thức của người thợ gốm. Con thấy lò
gốm. Con thấy tâm thức của người thợ gốm. Con thấy lò
gốm. Con thấy củi chất trong lò. Con thấy rừng cây đã làm
ra củi. Con thấy mưa, nắng, đại địa đã làm cho rừng cây
mọc lên tươi tốt ... Bạch Thế Tôn, con thấy muôn ngàn yếu
tố nhân duyên đã cùng nhau hợp lại để đưa tới sự có
mặt của cái bát này.
- Hay
lắm, Ananda! Thầy đã thấy được sự có mặt của những
yếu tố nhân duyên, đã đưa tới sự có mặt của cái bát
khi quán sát về cái bàn. Ananda! Những yếu tố ấy cũng có
mặt đồng thời với cái bát và trong cát. Trong những yếu
tố ấy, có yếu tố tâm thức của thầy. Ananda! Nếu từ
trong cái bát này mà thầy lấy hơi nóng để trả về cho mặt
trời, lấy đất sét trả về cho đại địa, lấy nước trả
về cho dòng sông, lấy bàn tay người thợ gốm trả về cho
cha mẹ người ấy, lấy than củi trả về cho rừng cây ...
thì cái bát sẽ còn có mặt không? Cái bát sẽ đi về đâu?
- Bạch
Thế Tôn, cái bát sẽ không còn có mặt, bởi vì những nhân
duyên tạo nên cái bát đã trở về với vị trí nguyên thỉ
của chúng. Cái bát sẽ trở về với những yếu tố nhân
duyên ấy.
- Ananda!
Nếu thầy đã quán chiếu chín chắn về đạo lý nhân duyên,
chắc chắn thầy đã thấy rằng cái bát không thể tự riêng
mình mà có mặt được. Cái bát chỉ có thể có mặt trong
liên hệ nhân duyên với tất cả các pháp. Các pháp nương
nhau mà sinh khởi, có mặt và hoại diệt. Sự có mặt của
một pháp kéo theo sự có mặt của tất cả các pháp. Sự
có mặt của các pháp có thể được chứng minh nhờ sự có
mặt của một pháp. Ananda, đó là nguyên lý tương nhập và
tương tức.
Ananda!
Tương nhập nghĩa là trong cái này có cái kia và trong cái kia
có cái này. Ví dụ nhìn vào cái bát ta có thể thấy người
thợ gốm, nhìn người thợ gốm ta có thể thấy cái bát.
Tương tức nghĩa là cái này là cái kia, cái kia là cái này.
Ví dụ sóng là nước, nước là sóng. Ananda, hiện Lộc Mẫu
Đường không có chợ búa, trâu bò, và làng xóm nhưng kỳ
thực nếu không có chợ búa, trâu bò và làng xóm, đó chỉ
là một cách nói, một lối nhận thức. Sự thực thì nếu
không có chợ búa, trâu bò và làng xóm thì chúng ta sẽ không
bao giờ có Lộc Mẫu Đường. Nếu không có giáo đoàn của
các vị khất sĩ thì cũng sẽ không có Lộc Mẫu Đường.
Vì vậy cho nên, Ananda khi nhìn giảng đường Lộc Mẫu vào
lúc giảng đường trống vắng, ta cũng phải thấy có sự
có mặt của chợ búa, trâu bò, xóm làng, và các vị khất
sĩ trong đó. Không có cái này thì không có cái kia, và ý nghĩa
căn bản của không (sunna) là: cái này có thì cái kia có.
Nói
tới đây Bụt im lặng. Giảng đường Lộc Mẫu im phăng phắc.
Những lời Bụt nói đã gây ấn tượng sâu sắc trong tâm
trí người nghe.
Một
lát sau, Bụt nâng cái bát không lên, nói với đại chúng:
- Các
vị khất sĩ! Cái bát này tự nó một mình nó không thể có
mặt được. Nó chỉ có thể có mặt đồng thời với tất
cả những cái khác mà ta không gọi là bát, như đất, nước,
lửa, không khí, người thợ gốm ... Tất cả các pháp trên
thế gian, pháp nào cũng thế. Pháp nào cũng có mặt trên liên
hệ nhân duyên trên nguyên tắc tương tức và tương nhập.
Các
vị khất sĩ! Nhìn vào cái bát này ta thấy được tất cả
vũ trụ vạn hữu. Vậy ta có thể nói cái bát này chứa đầy
cả vũ trụ vạn hữu. Chỉ có một cái không có mặt trong
cái bát này thôi. Đó là tự ngã riêng biệt của cái bát.
Tự
ngã là gì? Tự ngã là tự mình có mặt, không cần đến một
yếu tố nào khác. Trên thế gian không có pháp nào có thể
tự mình có mặt mà không cần đến bất cứ một yếu tố
nào khác, vì vậy cho nên không có một pháp nào có tự
ngã. Đó là ý nghĩa căn bản của không. Không nghĩa là không
có tự ngã.
Các
vị khất sĩ! Năm uẩn là năm yếu tố của sinh mạng. Hình
sắc không có tự ngã, vì hình sắc không thể tự mình có
mặt một cách riêng biệt. Trong hình sắc có cảm thọ, có
tri giác, có tâm tư và có nhận thức. Cảm thọ cũng vậy.
Cảm thọ cũng không có tự ngã, bởi vì cảm thọ không thể
tự mình có mặt một cách riêng biệt. Trong cảm thọ có hình
sắc, có tri giác, có tâm tư và có nhận thức. Điều này
cũng được áp dụng cho các uẩn khác là tri giác, tâm tư
và nhận thức. Trong năm uẩn, không có uẩn nào có tự tính
riêng biệt. Năm uẩn nương vào nhau mà thành lập. Vì vậy
năm uẩn là không.
Các
vị khất sĩ! Sáu căn, sáu trần và sáu thức là không. Mỗi
nhân duyên phải nương vào các nhân duyên khác mà được thành
lập, không nhân duyên nào có tự tính riêng biệt.
Các
vị khất sĩ Tôi muốn nhắc lại để quý vị cùng nhớ: cái
này có cho nên cái kia có. Các pháp vì nương vào nhau mà có
mặt cho nên các pháp được gọi là không. Không ở đây nghĩa
là không có tự ngã, không có một sự hiện hữu riêng biệt
và độc lập.
Đại
đức Ananda bạch:
- Thế
Tôn, có những nhà trí thức Bà la môn nói rằng: “Sa môn
Gotama chủ trương thuyết hư vô đoạn diệt. Sa môn Gotama dẫn
dắt người ta tới sự tiêu diệt mọi hình thức của sự
sống”. Thế Tôn, có phải vì Thế Tôn nói vạn pháp không
cho nên người hiểu lầm như thế hay chăng?
Bụt
nói:
- Ananda,
những nhà trí thức Bà la môn kia, những vị lãnh đạo giáo
phái kia không nói đúng sự thật. Tôi không không bao giờ
chủ trương thuyết hư vô, thuyết hoại diệt. Tôi không chủ
trương dẫn dắt đến sự hoại diệt mọi hình thức của
sự sống.
Ananda!
Trong só các tà kiến có hai tà kiến mà nhiều người đã
vướng phải: đó là chấp có và chấp không. Chấp có là
nhận thức vạn sự vạn vật như những gì thường tại và
có tự thể riêng biệt. Chấp không là nhận thức vạn sự
vạn vật như một màn ảo thuật của thần linh. Kẹt vào
tà kiến nào trong hai tà kiến ấy cũng không có cơ hội thấy
được sự thật.
Ananda!
Có lần khất sĩ Kaccayana hỏi tôi: Thế Tôn, thế nào là chánh
kiến, thế nào là cái thấy chân thực? Tôi đã trả lời:
Kaccayana, chánh kiến là thứ nhận thức vượt thoát hai luận
chấp có và không. Khi ta đã thấy được tự tính chân thực
của thực tại rồi thì ta không con bị ràng buộc bởi hai
tà kiến ấy nữa. Người có chánh kiến thấy được quá
trình phát sinh và hoại diệt của các pháp và vì vậy không
bị lay chuyển bởi các ý niệm có và không. Khi khổ đau phát
sinh, người có chánh kiến biết là khổ đau đang phát sinh.
Khi khổ đau tàn họai, người có chánh kiến biết kà khổ
đau đang tàn hoại. Sự phát sinh và tàn hoại của vạn pháp
không lay chuyển được người có chánh kiến. Chấp có là
một thái cực, chấp không cũng là một thái cực khác. Nhận
thức duyên sinh vượt ra ngoài hai thái cực đó và an trú ở
trung đạo.
Ananda!
Có và không thực ra chỉ là những ý niệm không phù hợp
với thực tại. Thực tại vượt ra ngoài khuôn khổ của những
ý niệm ấy. Kẻ giác ngộ là người đã vượt thoát ý niệm
có và không.
Ananda!
Không những có và không đều không, mà sinh và diệt cũng
là không. Sinh và diệt cũng chỉ là những ý niệm. Sinh diệt
cũng là không.
Đại
đức Ananda hỏi:
- Bạch
đức Thế Tôn, nếu sinh diệt là không thì tại sao Thế Tôn
nói “vạn pháp vô thường, luôn luôn sinh diệt?”
- Ananda,
Đứng về tục đế ta có thể nói vạn pháp có sinh và có
diệt, nhưng đứng về đệ nhất nghĩa đế, ta cần thấy
được tính cách bất sinh và bất diệt của vạn pháp.
- Xin
Thế Tôn chỉ dạy thêm cho chúng con.
- Này
Ananda! Cây bồ đề mà thầy trồng ở trước Lộc Mẫu Đường,
cây bồ đề ấy đã được sinh ra từ lúc nào?
- Bạch
đức Thế Tôn, cây bồ đề ấy sinh ra từ bốn năm nay, vào
giờ phút mà hạt bồ đề bắt đầu nứt mầm trong đất.
- Ananda!
Vậy trước khi cây bồ đề ấy sinh ra, nó đã có chưa?
- Thế
Tôn, trước khi nó sinh ra, cây bồ đề chưa có.
- Vậy
thì cây bồ đề có thể từ không mà trở thành có hay sao?
Thầy đã thấy một pháp nào từ không mà trở thành có hay
chưa?
Đại
đức Ananda im lặng.
Bụt
nói:
-
Ananda, trong vũ trụ không có một pháp nào đã từ không mà
trở nên có. Nếu không có hạt giống bồ đề thì không thể
có cây bồ đề. Cây bồ đề là từ hạt bồ đề mà có.
Cây bồ đề chỉ là sự tiếp nối của hạt bồ đề. Trước
khi hạt bồ đề nứt mầm, cây bồ đề đã có sẵn trong
hạt bồ đề. Một pháp đã có sẵn thì cần gì sinh ra nữa?
Vì vậy cho nên cây bồ đề có tính cách bất sinh.
Bụt
lại hỏi Ananda:
- Ananda,
sau khi hạt bồ đề nảy mầm thành cây bồ đề, hạt bồ
đề có diệt không?
- Bạch
Thế Tôn, hạt bồ đề có diệt thì cây bồ đề mới sinh
ra được.
- Ananda,
hạt bồ đề không diệt. Diệt tức là từ có mà trở thành
không. Thầy có thấy trong vũ trụ này có một pháp nào từ
có mà trở thành không được không? Một chiếc lá, một hạt
bụi, một làn hương cũng không thể từ có mà trở thành
không được. Các pháp ấy chỉ có thể biến chuyển để
trở thành những pháp khác. Hạt bồ đề cũng thế, hạt bồ
đề không diệt mà chỉ biến chuyển thành cây bồ đề. Hạt
bồ đề cũng như cây bồ đề đều là những pháp bất sinh
và bất diệt. Ananda! Không những hạt bồ đề và cây bồ
đề là những pháp bất sinh bất diệt mà tất cả các pháp
trong đó có tôi, có thầy, có các vị khất sĩ, có Lộc Mẫu
Đường, có chiếc lá, có hạt bụi, có làn hương, tất cả
đều bất sinh diệt.
Ananda!
Tất cả các pháp đều bất sinh và bất sinh; sinh và diệt
chỉ là những ý niệm của nhận thức mà thôi. Các pháp không
có, không không, không sinh, không diệt, không dơ, không sạch,
không thêm, không bớt, không tới, không đi, không một, không
nhiều. Tất cả các ý niệm có không, sinh diệt, dơ sạch,
thêm bớt, tới đi, một nhiều ... đều là những ý niệm
phân biệt. Nhờ quán chiếu về tự tính không của các pháp,
các vị có thể vượt thoát những ý niệm phân biệt ấy
để chứng nhập được thực tại của vạn hữu.
Ananda!
Thực tại của vạn hữu là không có cũng không không, không
sinh cũng không diệt, không thành cũng không hoại. Nếu không
có thực tại ấy làm cơ bản thì làm gì có cái thế giới
có sinh có diệt, có có, có không, có thành có hoại của nhận
thức phân biệt? Nếu không có thực tại ấy thì thì làm
gì có lối thoát cho thế giới sinh diệt, có không và thành
hoại?
Ananda!
Có khi nào đứng trên bờ biển thầy nhìn ngắm những đợt
sóng nhấp nhô sinh diệt trên mặt đại dương không? Thực
tại bất sinh bất diệt có thể đem so sánh với nước trong
đại dương, và thế giới sinh diệt có thể được đem so
sánh với nước trong đại dương, và thế giới sinh diệt
có thể được đem so sánh với những đợt sóng lô nhô trên
mặt biển. Ananda! Sóng thì có cao có thấp, có lớn, có bé,
có sinh có diệt, nhưng nước trong đại dương thì không cao
không thấp, không lớn không bé, không sinh không diệt. Nếu
không có nước thì làm sao có sóng? Và sóng đi về đâu nếu
không là trở về với nước?
Ananda!
Sóng là nước, nước là sóng. Sóng tuy có sinh có diệt, nhưng
một khi sóng nhận biết được rằng mình chính là nước
thì tự khắc sóng vượt thoát được sinh diệt và không còn
sợ hãi, âu lo và khổ đau vì sinh diệt.
Các
vị khất sĩ! Phép quán chiếu về tự tính không của vạn
pháp là một phép quán chiếu mầu nhiệm có thể đưa các
vị vượt thoát sợ hãi, vượt thoát lo lắng, vượt thoát
khổ đau. Phép quán chiếu này có thể đưa quý vị vượt
thoát thế giới của sinh tử. Các vị hãy nổ lực mà thực
tập phép quán chiếu này.
Nói
tới đây Bụt lặng im. Người đã chấm dứt pháp thoại.
Buổi
pháp thoại hôm nay làm xôn xao cả đại chúng. Đại đức
Svastika chưa bao giờ được nghe Bụt nói những điều sâu
sắc và mầu nhiệm như hôm nay. Đại đức thấy các thầy
lớn thầy nào nét mặt cũng rạng rỡ. Vẻ sung sướng hiện
rõ trong cái nhìn và trong nụ cười của họ. Svastika có cảm
tưởng mình hiểu được những điều Bụt nói, nhưng thầy
nghĩ có thể là mình chưa thấy hết được chiều sâu của
buổi pháp thoại này. Thầy biết thế nào mai mốt đại đức
Ananda cũng sẽ trùng tuyên lại bài thuyết pháp hôm nay và
thầy sẽ có dịp học hỏi thêm qua những cuộc pháp đàm
do các thầy