Chương
56
TRÙNG
SINH ÂN NẶNG
Thỉnh
thoảng Bụt hoặc các vị đệ tử lớn của người lại tới
thăm và nói pháp thoại tại ni viện. Mỗi tháng một lần
các vị nữ khất sĩ cũng được tới nghe pháp ở tu viện
Jetavana hoặc ở giảng đường Lộc Mẫu. Năm nay theo lời
yêu cầu của đại đức Sariputta, Bụt cho kéo dài mùa an cư
thêm một tháng. Lễ tự tứ sẽ được cử hành vào ngày
trăng tròn tháng Kattika, thay vì vào ngày trăng tròn tháng Assayuja
như những năm khác. Ý của đại đức Sariputta là nếu Bụt
kéo dài mùa an cư thêm một tháng thì các vị khất sĩ và
nữ khất sĩ đang an cư tại các trung tâm tu học khác trong
nước và ở các nước lân cận, sau khi làm lễ tự tứ cuối
ba tháng an cư của họ, có thể tìm về Savatthi để được
gặp Bụt.
Tin
Bụt sẽ kéo dài mùa an cư năm nay thêm một tháng đã được
chuyền đi các nơi rất mau chóng, vì vậy sau lễ tự tứ các
thầy và các ni cô từ các địa phương lục tục tìm về
thăm Bụt rất đông. Các vị thí chủ lớn như Sudatta, Visakha
và Malika đã tìm mọi cách để cung cấp phương tiện cư trú
và thực phẩm cho cả ngàn vị khách tăng từ các nơi dồn
đến. Vào cuối tháng Kattika, số lượng các vị khất sĩ
và nữ khất sĩ tại thủ đô Savatthi đã lên tới ba ngàn
vị.
Thấm
thoát mà ngày trăng tròn tháng Kattika đã đến. Hoa Kumudi nở
rộ khắp nơi, Kumudi là một thứ sen trắng thường hay nở
rộ vào tiết này nên ngày trăng tròn tháng Kattika cũng được
gọi là ngày hoa Kumudi.
Đêm
ấy trăng sáng vằng vặc. Bụt ngồi ở ngoài trời, có cả
ba ngàn vị đệ tử xuất gia. Hương sen từ hồ bay lên thoang
thoảng. Mấy ngàn vị khất sĩ ngồi bao quanh Bụt im lặng.
Người nói người rất bằng lòng thấy được thực chất
của sự tu học nơi các vị khất sĩ và nữ khất sĩ. Rồi
nhân cơ hội này, người nói Kinh Quán Niệm Hơi Thở.
Đúng
ra thì vị khất sĩ nào cũng đã được học về phép quán
niệm hơi thở, và Bụt đã nhiều lần dạy về pháp môn này,
nhưng đây là lần đầu mà đa số các vị xuất gia có mặt
được nghe Bụt giảng dạy trực tiếp về phép quán niệm
hơi thở. Đây cũng là lần đầu Bụt tổng hợp những điều
đã từng dạy về pháp môn này và đúc kết lại trong một
bài giảng. Biết trước rằng kinh này sẽ phải được trùng
tuyên để tất cả học thuộc mà hành trì, đại đức Ananda
lắng nghe và ghi nhận tất cả những tiếng và những lời
Bụt dạy.
Có
mặt trong buổi tụ họp hôm nay có cả ni sư Yasodhara mẹ của
đại đức Rahula và ni sư Sundari Nanda cô của đại đức và
là em gái của Bụt. Hai vị này đã xuất gia dưới sự hướng
dẫn của ni sư Gotami và trong những năm qua đã tu học tại
một ni viện miền ngoại ô phía Bắc thành Kapilavatthu; ni viện
này cũng đã do ni sư Gotami sáng lập. Sáu tháng sau khi bà Pajapati
được xuất gia, Yasodhara đã xin được xuất gia và gia nhập
vào ni chúng. Chỉ trong trong vòng một năm, ni sư Yasodhara đã
trở nên một vị phụ tá đắc lực cho ni sư Gotami. Từ những
năm Bụt bắt đầu an cư tại tu viện Cấp Cô Độc, ni chúng
đã tổ chức an cư ở thủ đô Savatthi để được thừa hưởng
sự giáo huấn của Bụt và của các vị đại đệ tử. Hoàng
hậu Malika và nữ cư sĩ Visakha đã tận lực ủng hộ ni chúng
trong việc thành lập tu viện cho phái nữ. Hai năm đầu, ni
chúng được phép sử dụng vườn thượng uyển để làm trung
tâm an cư. Đến năm thứ ba họ mới lập được tu viện riêng
biệt. Biết mình tuổi đã cao, ni sư Gotami nổ lực đào luyện
những vị lãnh đạo ni chúng trong giới những ni sư trẻ tuổi.
Ni sư Yasodhara là một trong những vị lãnh đạo ni chúng xuất
sắc. Cũng xuất gia một lượt với bà, còn có các ni sư Sela,
Vimala, Soma. Mutta và Nanduttara. Tất cả các vị ấy đều có
mặt hôm nay tại tu viện Lộc Mẫu. Đại đức Rahula đã giới
thiệu ni sư Yasodhara và ni sư Sundari Nanda với đại đức Svastika.
Đại đức Svastika rất kính mến hai người này; đại đức
đã từng được nghe bạn nói nhiều về họ.
Bụt
dạy:
- Này
các vị khất sĩ, phép quán niệm hơi thở, nếu được phát
triển và thực hiện liên tục, sẽ đem lại những thành quả
lớn. Do quán niệm hơi thở qúy vị có thể thành tựu phép
quán Tứ Niệm Xứ và phép quán Thất Giác Chi, tức là bảy
yếu tố giác ngộ, và đạt tới trí tuệ và giải thoát.
Hơi
thở thứ nhất: thở vào một hơi dài, ta biết ta đang thở
vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài, ta biết ta đang thở
ra một hơi dài.
Hơi
thở thứ hai: thở vào một hơi ngắn, ta biết ta đang thở
vào một hơi ngắn. Thở ra một hơi ngắn, ta biết ta đang
thở ra một hơi ngắn.
Hai
hơi thở này nhằm mục đích cắt ngang những thất niệm và
suy tư vẫn vơ vô ích, đồng thời làm phát khởi chánh niệm
và tiếp xúc được với sự sống trong giờ phút hiện tại.
Thất niệm là sự quên lãng, là sự vắng mặt của chánh
niệm. Hơi thở có ý thức đưa ta trở về với ta và với
sự sống.
Hơi
thở thứ ba: ta đang thở vào và có ý thức về toàn thân
ta. Ta đang thở ra và có ý thức về toàn thân ta.
Hơi
thở này là để quán niệm về thân thể và để tiếp xúc
với thân thể của chính mình. Ý thức về thân thể như một
tổng thể và ý thức về các bộ phận trong cơ thể để
thấy được những mầu nhiệm về sự có mặt và về quá
trình sinh diệt của thân thể.
Hơi
thở thứ tư: ta đang thở vào và làm cho toàn thân ta an tịnh.
Ta đang thở ra và làm cho toàn thân ta an tịnh.
Hơi
thở này là để thực hiện sự an tịnh trong cơ thể và cũng
là để đạt tới trạng thái thân tâm nhất như trong đó
thân tâm và hơi thở trở nên một hợp thể mầu nhiệm.
Hơi
thở thứ năm: ta đang thở vào và cảm thấy mừng vui. Ta đang
thở ra và cảm thấy mừng vui.
Hơi
thở thứ sáu: ta đang thở vào và cảm thấy an lạc. Ta đang
thở ra và cảm thấy an lạc.
Với
hai hơi thở này hành giả đi sang lãnh vực cảm thọ. Hai hơi
thở này tạo ra sự an lạc cho thân tâm để nuôi dưỡng thân
tâm. Nhờ chấm dứt vọng tưởng và quên lãng, hành giả trở
về với bản thân, tỉnh thức trong giây phút hiện tại, cho
nên niềm vui mừng và sự an lạc phát sinh. Hành giả an trú
trong sự sống mầu nhiệm và được nềm sự tịnh lạc của
chánh niệm. Nhờ tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm, hành
giả biến những cảm thọ không khổ không vui (gọi là xả
thọ) thành những lạc thọ. Hai hơi thở này đem tới những
lạc thọ ấy.
Hơi
thở thứ bảy: ta đang thở vào và có ý thức về những hoạt
động tâm ý trong ta. Ta đang thở ra và có ý thức về những
hoạt động tâm ý trong ta an tịnh.
Hơi
thở thứ tám: ta đang thở vào và làm cho những hoạt động
tâm ý trong ta an tịnh. Ta đang thở ra và làm cho những hoạt
động tâm ý trong ta an tịnh.
Hai
hơi thở này là để quán chiếu, tất cả những cảm thọ
đang xảy ra trong ta, dù đó là lạc thọ, khổ thọ hay xả
thọ; và để làm cho an tịnh những cảm thọ ấy. Những hoạt
động tâm ý tức là những cảm thọ. Có ý thức về những
cảm thọ và quán chiếu về gốc rễ và bản chất của những
cảm thọ ấy, ta điều phục được chúng và làm cho chúng
trở nên an tịnh, dù đó là những khổ thọ từ tham dục,
giận hờn và ganh ghét phát sinh.
Hơi
thở thứ chín: ta đang thở vào và có ý thức về tâm ý ta.
Ta đang thở ra và có ý thức về tâm ý ta.
Hơi
thở thứ mười: ta đang thở vào và làm cho tâm ý ta hoan lạc.
Ta đang thở ra và làm cho tâm ý ta hoan lạc.
Hơi
thở thứ mười một: ta đang thở vào và thu nhiếp tâm ta
vào định. Ta đang thở ra và thu nhiếp tâm ta vào định.
Hơi
thở thứ mười hai: ta đang thở vào và cởi mở cho tâm ý
ta được giải thoát tự do. Ta đang thở ra và cởi mở cho
tâm ý ta được giải thoát tự do.
Với
bốn hơi thở này hành giả đi sang lãnh vực thứ ba là tâm
ý. Hơi thở thứ chín nhằm nhận diện tất cả những hoạt
động của tâm ý như tri giác, tư duy, phân biệt, vui, buồn,
nghi kỵ v.v... Nhận diện để thấy được sự vận hành của
những hoạt động tâm ý, và khi đã nhận diện rồi, hành
giả thu nhiếp tâm ý, làm cho tâm ý lắng lại và cảm thấy
an lạc trong trạng thái tâm ý lắng đọng này. Đó là tác
dụng của hơi thở thứ mười và thứ mười một. Hơi thở
thứ mười hai nhằm tháo gỡ những chỗ kẹt của tâm ý.
Nhờ quán chiếu mà ta thấy được nguồn gốc của tâm ý
và do đó ta tháo gỡ được những chỗ kẹt ấy.
Hơi
thở thứ mười ba: ta đang thở vào và quán chiếu tính vô
thường của vạn pháp. Ta đang thở ra và quán chiếu tính
vô thường của vạn pháp.
Hơi
thở thứ mười bốn: ta đang thở vào và quán chiếu về giải
thoát. Ta đang thở ra và quán chiếu về giải thoát.
Hơi
thở thứ mười sáu: ta đang thở vào và quán chiếu về sự
buông bỏ. Ta đang thở ra và quán chiếu về sự buông bỏ.
Với
bốn hơi thở này, người hành giả bước sang lãnh vực đối
tượng của tâm thức, và chú tâm quán sát thực tướng của
vạn pháp. Trước hết là quán về tự tính vô thường của
vạn pháp. Vì vô thường cho nên tất cả sẽ đi đến tàn
hoại. Biết rõ tướng trạng vô thường là tàn hoại của
vạn pháp, hành giả không còn bị những sinh diệt thành hoại
của vạn pháp trói buộc nữa, do đó hành giả có thể buông
bỏ và đi đến giải thoát. Buông bỏ không có nghĩa là ghét
bỏ và chạy trốn. Buông bỏ có nghĩa là buông bỏ sự vướng
mắc và đam mê, không bị ràng buộc và khổ đau vì sanh diệt
thành hoại của của các pháp nữa. Một khi đạt được giải
thoát và buông bỏ, hành giả sống an lạc trong cuộc đời
mà không có gì trong cuộc đời có thể ràng buộc hành giả.
Bụt
đã dạy phép hành trì mười sáu hơi thở trong quá trình quán
chiếu thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng tâm ý.
Người còn dạy áp dụng mười sáu hơi thở này trong công
phu tu tập bảy yếu tố giác ngộ là chánh niệm, quyết trạch
về vạn pháp, tinh tiến, hỷ lạc, khinh an, định và hành
xả. Bảy pháp này được gọi là Thất Giác Chi.
Đại
đức Svastika đã từng được nghe Kinh Bốn Lãnh Vực Quán
Niệm. Bây giờ đại đức lại được nghe Kinh Quán Niệm
Hơi Thở. Đại đức nhận thấy rằng nhờ Kinh Quán Niệm
Hơi Thở này mà đại đức hiểu được Kinh Bốn Lãnh Vực
Quán Niệm một cách sâu sắc hơn. Hai kinh này, theo đại đức,
có thể bổ túc cho nhau, và theo đại đức, đây là những
kinh căn bản nhất của công trình thiền tập.
Gần
ba ngàn vị khất sĩ và nữ khất sĩ đêm ấy được nghe kinh
này đều lấy làm sung sướng. Đại đức Svastika thầm cám
ơn đại đức Sariputta đã sắp đặt để có được buổi
tụ tập trong đêm trăng mầu nhiệm này.
Một
hôm đại đức Ahimsaka đi khất thực về tới tu viện, bước
đi khập khiểng và mặt mũi đầy cả máu me. Svastika trông
thấy liền chạy tới đỡ đại đức. Đại đức Ahimsaka
nhờ thầy đưa vào yết kiến Bụt. Hôm nay trong khi đi khất
thực ở thành phố, đại đức bị một nhóm người nhận
ra đại đức chính là Angulimala ngày xưa. Họ đã đến vây
quanh và tấn công đại đức. Ahimsaka chắp hai tay thành búp
sen, tuyệt đối không chống trả, để cho họ tha hồ đánh
đạp, nhóm người ấy đã đánh đại đức trẹo cả chân
và hộc cả máu mồm máu mũi.
Thấy
Ahimsaka trong tình huống ấy, Bụt liền đi ngay ra đỡ thầy.
Người bảo Ananda đi lấy một chậu nước và một chiếc
khăn mặt để người lau máu cho thầy, và người bảo Svastika
đi hái lá dâu để dịt vào những vết thương trên cơ thể
thầy.
Đại
đức Ahimsak không hề rên rỉ, dù thầy đau lắm. Bụt nói:
- Hãy
cố gắng chịu đựng đi Ahimsaka! Những đau khổ hôm nay có
thể rửa sạch được những đau khổ của ngày qua. Chịu
đựng khổ đau trong tình thương và trong tỉnh thức là một
thứ tịnh thủy mầu nhiệm có thể xoá bỏ tất cả oán thù
trong muôn kiếp.
Bụt
nói:
- Ahimsaka,
áo ca sa của thầy đã bị xé rách tả tơi, còn bình bát của
thầy đâu?
- Bạch
đức Thế Tôn, họ đã đập vỡ bình bát của con ra hàng
trăm mảnh rồi.
Bụt
nói:
- Thôi
để tôi nhờ thầy Ananda đi tìm cho thầy một chiếc y sanghati
khác và một cái bình bát khác.
Vừa
dịt thuốc dấu vào những vết thương của thầy Ahimsaka,
Svastika vừa thấy rằng đây là một tâm gương toàn vẹn của
tinh thần bất bạo động. Thầy Ahimsaka kể cho Svastika nghe
rằng trước đây một hôm đang đi khất thực thầy gặp một
thiếu phụ nghèo đang lâm bồn ngay dưới một cội cây ở
chốn lâm viên. Thiếu phụ đau đớn vô cùng mà vẫn không
sinh nở được. Đại đức xúc động la lên: khổ quá! khổ
quá! Và chạy nhanh về báo cáo với Bụt. Bụt nói:
- Thầy
hãy chạy ngay tới thiếu phụ và chú nguyện cho người đàn
bà ấy. Thầy nói: “Này cô, từ ngày sinh ra cho đến nay,
tôi chưa từng có cố ý phạm đến sinh mạng của một loài
nào. Nguyện rằng nhờ sự thật ấy mà cô sinh cháu được
bình an”.
Ahimsaka
la lên:
- Con
nói như thế là nói dối! Sự thật là con đã cố ý phạm
đến sinh mạng của nhiều người từ khi con sinh ra.
Bụt
bảo:
- Vậy
thì thầy nói: “Này cô, từ ngay tôi được sinh ra trong giáo
pháp giác ngộ, tôi chưa bao giờ cố ý phạm đến sinh mạng
của loài nào. Nguyện rằng nhờ sự thực ấy mà cô sinh cháu
được bình an”.
Lập
tức thầy Ahimsaka chạy về khu lâm viên và nói với người
thiếu phụ đúng theo lời Bụt chỉ dạy. Chỉ một vài phút
sau đó, thiếu phụ sinh được em bé bình an.
Từ
ngày ấy về sau, công phu tu học của thầy Ahimsaka càng ngày
càng tinh tiến. Thầy được Bụt khen ngợi. Cho đến ngày
hôm nay ...
Chương
57
CHIẾC
BÈ ĐƯA NGƯỜI
Mùa
Đông năm ấy trong khi Bụt nhập thất gần giảng đường
Trùng Các ở Vesali, có mấy vị khất sĩ rủ nhau tự sát ngay
trong tu viện. Sau thời hạn nhập thất Bụt được báo tin
náy. Người hỏi nguyên do, Các thầy trả lời là các vị
khất sĩ ấy vi quán sát tính vô thường và tàn hoại của
thân thể cho nên đã sinh lòng chán ghét thân thể và không
muốn sống nữa. Bụt cho triệu tập tất cả các vị khất
sĩ trong tu viện lại. Người nói:
- Các
vị khất sĩ, quán vô thường là để thấy được tự tính
chân thực của vạn pháp và đừng bị vạn pháp thao túng
và làm cho khổ đau. Quán tính tàn hoại của thân thể cũng
có mục đích ấy. Người ta không đạt tới giải thoát và
tự do bằng các trốn chạy vạn pháp. Người ta chỉ đạt
tới giải thoát và và tự do bằng cách thấy được thực
tính của vạn pháp. Có một vài người trong quý vị đã không
hiểu được đều đó và đã tìm con đường dại dột của
sự trốn chạy và đã phạm vào giới sát.
Này
các vị! Người giải thoát là người không kẹt vào sự tham
đắm mà cũng không kẹt vào vào chán ghét. Tham đắm và chán
ghét đều là những sợi giây ràng buộc. Người tự do là
người vượt thoát cả tham đắm lẫn chán ghét. Do sự vượt
thoát đó, người ấy an trú trong tịnh lạc. Niềm hạnh phúc
của người đó không thể nào đo lường được. Những cố
chấp về vô thường và vô ngã cũng không có mặt nơi người
ấy. Này các vị khất sĩ! Các vị hãy học và hành theo giáo
lý tôi dạy một cách thông minh và trong tinh thần phá chấp.
Về
lại Savatthi, Bụt lại có dịp đạy các vị khất sĩ thêm
về vấn đề phá chấp. Tại Savatthi có một vị khất sĩ
tên là Arittha cũng đã vì không hiểu được chân ý của lời
Bụt dạy mà bị kẹt vào những cố chấp.
Trước
đại chúng các vị khất sĩ tại tu viện Jetavana. Bụt dạy:
“Hiểu
giáo pháp một cách sai lạc, người ta có thể đi vào cố
chấp, từ cố chấp người ta đi sâu vào sai lầm, gây đau
khổ cho mình và cho người.
Này
các vị! Hãy nghe, hiểu và hành giáo pháp một cách thông minh.
Như thế giáo pháp mới đưa đến một lợi ích thiết thực.
Một người bắt rắn giỏi biết cách dùng một cái cây có
nạng và chận vào phía cổ của con rắn và cuối cùng nắm
bắt được rắn ở chỗ cổ của nó. Nếu không biết bắt
rắn mà nắm lấy rắn ở lưng hay ở đuôi thì người có
thể bị rắn quay lại cắn tay. Học hỏi giáo lý, cũng phải
học hỏi thông minh như là bắt rắn vậy.
Này
các vị! Giáo lý là phương tiện chỉ bày chân lý, đừng
chấp phương tiện là chân lý. Ngón tay chỉ mặt trăng không
phải là mặt trăng. Không có ngón tay ấy thì quý vị không
biết hướng của mặt trăng, nhưng nếu quý vị nhận lầm
ngón tay là mặt trăng, thì vĩnh viễn quý vị không thấy được
mặt trăng.
Giáo
lý là chiếc bè đưa người sang sông. Chiếc bè rất cần
thiết, nhưng chiếc bè không phải là bờ bên kia. Một người
thông minh khi sang tới bờ bên kia rồi không bao giờ dại dột
đội chiếc bè lên đầu mà đi. Này quý vị! Giáo pháp tôi
dạy là chiếc bè đưa quý vị vượt qua bờ sinh tử. Quý
vị phải sử dụng chiếc bè để qua bờ sinh tử mà không
nên nắm giữ chiếc bè. Quý vị cần hiểu rõ ví dụ này
để đừng bị kẹt vào giáo pháp, để có khả năng buông
bỏ được giáo pháp. Này quý vị! Giáo pháp còn cần được
buông, huống hồ là giáo pháp hiểu sai. Giáo pháp hiểu sai
không phải là giáo pháp.
Này
quý vị, tất cả những giáo pháp mà quý vị đã học như
tứ diệu đế, bát chánh đạo, tứ niệm xứ, thất giác chi,
vô thường, vô ngã, khổ, không, vô tướng, vô tác ... tất
cả những giáo pháp quý vị phải học hỏi và thực tập
một cách thông minh và khôn khéo. Hãy sử dụng những giáo
pháp ấy để đi tới giải thoát, nhưng đừng bị kẹt vào
những giáo pháp ấy”.
Trung
tâm tu học của ni chúng tại Savatthi đã có đến năm trăm
vị nữ khất sĩ. Trung tâm này thường thỉnh Bụt và các
vị cao đức từ Jetavana tới giảng dạy. Đại đức Ananda
được Bụt giao cho trách nhiệm công cử các vị giảng sư
cho ni chúng. Một hôm đại đức đề cử đại đức Bhanda.
Đại đức Bhanda là người có thật tu, có chứng đắc, nhưng
đại đức không rành về chuyện diễn giảng, nhưng đã được
chỉ định, đại đức phải vâng lời. Ngày hôm sau, sau khi
đi khất thực, đại đức ghé vào một cụm rừng để thọ
trai. Thọ trai xong, đại đức đi về phía nữ tu viện. Đại
đức được các ni sư đón tiếp niềm nở. Ni sư Gotami thỉnh
đại đức lên pháp tọa.
Lên
pháp tọa, đại đức Bhanda chỉ đọc vỏn vẹn một bài kệ:
An trú trong tĩnh mặc
Thấy Pháp, trở về nguồn
Không hận thù bạo động
Niềm an lạc trào tuôn
Điều phục được kiêu mạn
Sống an hòa chân thật
Vượt ra ngoài ái nhiễm
Là niềm vui lớn nhất.
Đọc
xong bài kệ, đại đức im lặng đi vào đại định. Bài thuyết
pháp của đại đức chỉ có mấy chục tiếng nhưng đạo
phong của đại đức Bhanda đã làm cho các ni sư hoan hỷ. Một
số các vị ni sư còn trẻ thấy bài thuyết pháp ngắn quá,
liền bạch với vi sư Gotami xin đại đức nói thêm. Ni sư
Gotami chiều họ, tiến lên làm lễ đại đức Bhanda và chuyển
lời thỉnh cầu của các ni sư trẻ. Nhưng đại đức chỉ
lập lại một lần nữa bài kệ trên rồi bước xuống pháp
tọa.
Câu
chuyện này mấy hôm sau được trình lên Bụt. Có vị đề
nghị là nếu cần cử vị giảng sư cho ni chúng thì nên cử
những vị có biện tài nhiều hơn đại đức Bhanda. Bụt dạy:
thực chứng là điều căn bản nhất. Vị giảng sư có thể
ít dạy bằng lời nhưng dạy nhiều bằng đạo phong của mình,
và người căn dặn là vị giảng sư cho ni chúng phải được
công cử bởi đại chúng.
Một
buổi trưa đi khất thực về, Bụt không thấy Ananda đâu cả.
Người hỏi đại đức Rahula xem thầy có biết thầy Ananda
ở đâu không. Rahula trả lời là không biết. Một vị khất
sĩ cho biết là thầy thấy thầy Ananda đi khất thực ở một
xóm nghèo trong giới những người hạ tiện không giai cấp.
Thầy lại nói lâu nay thầy vẫn thấy đại đức Ananda lui
tới xóm ấy để khất thực. Nghe nói thế, Bụt nhờ vị
khất sĩ này đi tìm thầy Ananda.
Vị
đại đức đi hỏi thăm và tìm được thầy Ananda về. Đại
đức cũng đem về theo những vị thí chủ của thầy Ananda.
Đó là cô Prakriti và bà mẹ của cô. Thầy Ananda đã được
mời lại thọ trai tại nhà này, và hai mẹ con đã tìm cách
lưu thầy ở lại. Bà mẹ của Prakriti đã cho thầy uống một
thứ nước lá cây lạ khiến đầu óc thầy choáng váng, tay
chân thầy như bủn rủn và thầy không còn đủ sức đứng
dậy ra về nữa.
Lúc
ấy Bụt đang nói pháp thoại cho các vị khất sĩ. Đại đức
Ananda thuật lại cho Bụt nghe là cô Prakriti đã đem lòng thương
đại đức, và đại đức đã tìm mọi các giảng giải để
cô từ bỏ mối tình tuyệt vọng đó đi, nhưng đại đức
chưa thành công. Đại đức cầu xin Bụt giúp đỡ đại đức.
Theo
thầy Ananda kể thì một hôm trên đường đi khất thực về,
cảm thấy khát nước, thầy đã ghé vào một cái giếng trong
xóm để giải khát. Hôm ấy chỉ có một mình cô Prakriti đang
múc nước ngoài giếng. Prakriti tuy là một cô gái thuộc dòng
hạ tiện, nhưng nhan sắc rất mặn mà. Thầy Ananda ngỏ ý
xin cô nước uống. Cô không dám đứa nước cho thầy, nói
rằng cô thuộc về ngoại cấp, không có quyền cúng dường
nước cho thầy, sợ làm ô uế thầy. Ananda bảo:
- Tôi
đâu cần xin địa vị hay giai cấp trong xã hội. Tôi chỉ
cần xin nước uống thôi. Cô cứ cho tôi uống nước đi, đừng
sợ.
Prakriti
liền đưa nước cho thầy Ananda uống. Cô chưa thấy một người
đàn ông nào đẹp trai, hiền hậu và ăn nói dịu dàng như
thầy. Từ giờ phút đó cô đem lòng thương thầy. Tối đến
cô không ngủ được, cứ nằm nghĩ đến thầy. Cô thường
ra giếng nước ngồi đợi hàng giờ, mong mỏi được gặp
thầy cho đỡ bớt nổi nhớ niềm thương.
Prakriti
đã từng bàn với mẹ mời thầy Ananda về nhà thọ trai mấy
lần. Thầy đã nhận lời tới thọ trai tại đây hai lần,
nhưng sau đó thấy được niềm đam mê của cô nên thầy đã
tránh và đã từ chối. Cô Prakriti đau khổ vì tình, người
cô càng ngày càng ốm xanh đi. Bà mẹ hỏi mãi, cô mới thú
thật là cô yêu thầy Ananda và muốn thầy Ananda ra đời để
cưới cô. Bà mẹ la cô, mói đó chỉ là cuồng vọng, nhưng
cô nhất quyết nói rằng nếu không lấy được thầy Ananda
thì cô sẽ chết. Cuối cùng bà mẹ của cô, vốn thuộc về
dòng Matanga có biết ít nhiều về bùa chú và ma thuật, đã
tìm cách cho thầy uống nước một thứ là lạ để cho thầy
mất minh mẫn mà đáp lại mối tình nồng nhiệt của con gái
mình. Sáng hôm nay bà đã đón đường thầy, và cầu khẩn
thầy ghé nhà thọ trai một lần chót. Thầy đinh ninh hôm nay
sẽ có cơ hội giảng rõ cho hai mẹ con về đạo lý để họ
buông bỏ thầy, nhưng chưa kịp làm việc ấy thì thầy đã
uống nhằm thứ nước trà quái đản kia. Uống xong thầy biết
ngay là mình cần phải ngồi lại để thực hành phép quán
niệm hơi thở. Thầy ngồi yên trong tư thế kiết già như
thế rất lâu, dùng khí công để giải tỏa chất ma tuý cho
đến khi được Bụt phái người đến triệu về.
Bụt
gọi Prakriti tới gần. Người hỏi, giọng rất hiền lành:
- Con
thương thầy Ananda lắm phải không?
Prakriti
bạch:
- Con
thương thầy Ananda lắm.
- Con
thương cái gì nơi thầy Ananda? Con thương hai mắt, cái
mũi hay là cái miệng của thầy?
- Con
thưong hết những gì nơi thầy Ananda. Mắt con cũng thương,
mũi con cũng thưong, miệng con cũng thương, giọng nói con cũng
thương, dáng đi con cũng thương. Bạch sa môn, con thương hết
tất cả những gì nơi thầy ấy.
- Ngoài
hai con mắt, cái mũi, cái miệng, giọng nói, dáng đi và cái
nhìn, thầy Ananda có nhiều cái đẹp khác mà ta nghĩ là con
chưa biết và con chưa thương.
- Bạch
sa môn, ví dụ như cái gì?
- Ví
dụ như lòng thương của thầy Ananda, con có biết thầy Ananda
thương gì không?
- Con
không biết. Con chỉ biết là thầy Ananda không thương con.
- Con
lầm rồi. Thầy Ananda có thương con, nhưng không thương theo
kiểu con muốn thầy Ananda thương. Con biết không, thầy Ananda
thương cuộc sống giải thoát, tự do và an lạc. Do sự giải
thoát và tự do mà thầy Ananda thường mỉm cười và thầy
thương được mọi người và mọi loài, và thầy muốn đem
đạo lý giải thoát để dạy cho mọi người, để mọi người
có thể có tự do và an lạc như thầy. Thầy Ananda thương
lý tưởng giải thoát của thầy, thầy ấy cũng thương mọi
người và mọi loài, vì tình thương ấy đi đôi với giáo
pháp giác ngộ và giải thoát cho nên thầy Ananda tuy thương
mà không bị sầu khổ và thất vọng như con thương. Nếu
con thật sự thương thầy Ananda, thì con cũng thương cái tình
thương ấy của thầy, để cho thầy có thể tiếp tục sống
đời sống phạm hạnh giải thoát và tiếp tục soi sáng được
cho mọi người. Nếu con biết thương như thế thì con đâu
có bị sầu khổ và thất vọng. Sở dĩ con thất vọng và
sầu khổ vì con chỉ muốn chiếm thầy Ananda cho riêng một
mình con. Tình thương ấy ích kỷ. Con phải học thương như
thầy Ananda thương mới được.
Prakriti
ngước lên nhìn Bụt:
- Bạch
sa môn, con phải học thương như thế nào?
- Thương
như thế nào để con có hạnh phúc mà thầy Ananda cũng có
hạnh phúc. Thầy Ananda như một cơn gió mát. Nếu con cố ý
nhốt cơn gió mát ấy lại trong cái ngục tù của tình thương
nhỏ bé thì cơn gió mát ấy sẽ chết và không ai được hưởng
sự mát mẻ của nó, trong đó có cả con. Vậy con thương một
ngọn gió mát như thế nào thì con cũng thương thầy Ananda
như thế đó. Prakriti, nếu con biết thương thì chính con, con
cũng có thể trở thành một cơn gió mát. Làm dịu đi nổi
nóng bức của bao nhiêu người.
- Bạch
sa môn, xin người chỉ dạy cho con.
- Con
có thể làm như đại đức Ananda, con có thể sống cuộc sống
giải thoát an lạc như thầy và con cũng có thể đem niềm
vui tới cho mọi người như thầy. Con có thể xuất gia tu học
như thầy Ananda.
- Thật
như thế hả, bạch sa môn? Con có thể đi xuất gia hả? Con
là người hạ tiện, không có giai cấp ...
- Điều
đó, ở trong giáo đoàn khất sĩ không có ai nghĩ tới cả.
Trong giáo đoàn ta, có những vị khất sĩ xuất thân từ giới
ngoại cấp. Đại đức Sunita mà quốc vương Panesadi rất trọng
vọng đó là một người xuất thân từ giới ngoại cấp.
Nếu con xuất gia tu học thì con sẽ là vị nữ khất sĩ đầu
tiên xuất thân từ giới không có giai cấp. Nếu con bằng
lòng, ta sẽ nhờ ni sư Khema làm lễ thế phát cho con.
Prakriti
sung sướng lạy xuống. Cô cầu Bụt cho cô được xuất gia
tu học. Bụt phú thác Prakriti cho ni sư Khema, hôm ấy cũng có
mặt trong buổi pháp thoại.
Ni
sư Khema đưa Prakritit đi rồi. Bụt nhìn Ananda rồi bảo đại
chúng:
- Các
vị khất sĩ, giới thể của thầy Ananda còn nguyên vẹn, nhưng
tôi muốn các vị cẩn thận hơn trong lúc giao tiếp. Nếu chúng
ta luôn an trú trong chánh niệm thì chúng ta có thể thấy được
rất sớm những gì đã và đang xảy ra trong ta và chung quanh
ta. Nếu thấy được sớm, ta sẽ sớm có những biện pháp
để đối trị và tiếp xử với hoàn cảnh. Trường hợp
của Ananda chỉ là trường hợp của định lực còn non yếu.
Thực hiện chánh niệm trong từng giây phút của đời sống
hàng ngày đó là phương cách nuôi dưỡng định lực hay nhất.
Một khi định lực đã vững mạnh thì cái thấy của ta sẽ
sáng và hành động của ta sẽ kịp thời. Định và tuệ đi
với nhau, định và tuệ bao hàm nhau, định và tuệ là một.
Các
vị khất sĩ! Đối với giới phụ nữ, các vị nên tạp quán
sát như sau. Với những người lớn tuổi, ta xem họ như mẹ,
hoặc như chị của chính ta, với những người nhỏ tuổi
hơn, ta xem họ như em hoặc như con của chính ta. Những vị
khất sĩ còn nhỏ tuổi mới bước vào đường đạo nên cẩn
thận hơn nữa trong lúc tiếp xử với phụ nữ. Sự dịu dàng
của người phụ nữ có thể đưa đến những trở ngại của
sự tu học. Hãy hạn chế sự tiếp xúc. Cần tiếp xúc mới
tiếp xúc, khi tiếp xúc chỉ nên trao đổi những lời thật
sự cần thiết có liên hệ tới sự học hỏi và hành trì
giáo pháp.
Được
Bụt chỉ dạy cặn kẽ, các thầy khất sĩ đều hoan hỷ phụng
hành.
Chương
58
CON
GÁI ĐẮT GIÁ HƠN CON TRAI
Một
hôm nọ đi khất thực qua một xóm nghèo Bụt gặp một đám
thiếu nhi đang chơi giữa đường. Các bé đang xúm nhau xây
một thành phố bằng đất và cát. Chúng xây thành vua, kho
lúa, nhà cửa và đào một con sông chảy qua thành phố. Bọn
nhỏ đông có đến mười lăm đứa. Bụt và đoàn khất sĩ
dừng lại. Một em bé, chừng như là đầu đàn của tất cả
bọn nhỏ, nói:
- Có
Bụt và các vị khất sĩ đi ngang qua thành phố chúng ta Chúng
ta phải cúng dường người và các vị đệ tử của người
mới được.
Bọn
trẻ nhao nhao hỏi:
- Chúng
ta lấy gì mà cúng dường Bụt? Người lớn mới có thể cúng
dường chứ chúng ta là con nít mà cúng dường sao được?
Em
bé kia trả lời:
- Tại
sao chúng ta lại không có thể cúng dường? Này các bạn, trong
kho lẫm nội thành có bao nhiêu là thóc lúa. Chúng ta hãy lấy
thóc lúa trong kho ra mà cúng dường Bụt và tăng đoàn.
Bọn
nhỏ reo hò vang dậy. Chúng moi bụi cát trong kho lúa của chúng
ra và đặt bụi cát đó trên một chiếc lá bàng. Em bé đầu
đàn nâng chiếc lá bàng có đựng bụi đất trên hai tay, quỳ
xuống trước Bụt và dâng lên Bụt những đất bụi ấy.
Bọn trẻ đều bắt chước quỳ xuống, hướng về Bụt và
tăng đoàn mà chắp tay. Em bé đầu đàn nói:
- Dân
chúng trong thành phố chúng con kính dâng lên Bụt và tăng đoàn
chút ít lúa gạo trong kho lẫm của chúng con. Xin Bụt và tăng
đoàn nhận cho.
Bụt
mỉm cười. Người đưa tay xoa đầu em bé và nói:
Cám
ơn các con đã cúng dường lúa gạo cho Bụt và cho các thầy
khất sĩ. Các con dễ thương lắm.
Rồi
người xoay lại nói với thầy Ananda:
Ananda,
thầy hãy nhận lấy bụi đất trong chiếc lá bàng này rồi
đem về hòa với nước và trét lên vách đất của tịnh thất
ta.
Thầy
Ananda lĩnh mệnh, thu nhận vật cúng dường của các bé. Bọn
trẻ mời Bụt ngồi trên một tảng dá dưới một cột cây
đa, rồi tất cả kéo tới quây quần xung quanh Bụt. Ananda
và các vị khất sĩ cũng xúm lại gần.
Bụt
kể cho bọn trẻ nghe chuyện tiền thân Visvantara. Kiếp xưa,
thái tử Visvantara là một người giàu lòng thưong, luôn luôn
bố thí tất cả những gì mình có cho những người nghèo
khổ túng thiếu, không tiếc bất cứ một vật gì. Thái tử
có một người vợ tên là Madri rất hiền thục và đảm đang.
Nàng biết niềm vui của chàng là cứu giúp kẻ thiếu thốn
và vì vậy nàng không bao giờ tỏ vẻ nuối tiếc một thứ
gì mà chồng đem cho. Hai người sinh được hai đứa con, một
đứa trai tên là Jalin và một đứa gái tên là Krishnajina.
Vào những năm đói kém hoàng tử được phép vua cha cho lấy
lương thực và vải vóc trong kho để phát tặng cho những
người đói rét. Các kho lẫm vì thế cạn dần. Một vài vị
quan trong triều thấy thế tìm cách chận thái tử lại. Một
hôm họ tâu vua là thái tử làm sạt nghiệp quốc gia và nhân
dịp thái tử lỡ cho mất của triều đình một con voi quý,
họ đề nghị đày thái tử tới một nơi hẻo lánh trên núi
Jayatura để thái tử học sống cuộc đời nghèo khổ và đạm
bạc. Bị áp lực của các quan, vua cha nghe lời. Vợ chồng
và hai đứa con vì vậy phải lên đường đi đày biệt xứ.
Giữa
đường có người nghèo ghé tới xin bố thí. Thái tử cởi
chiếc áo quý đang mặc mà cho. Khi có những người nghèo khác
tới xin, vợ thái tử cởi chiếc áo đẹp bên ngoài của nàng,
và khi có những nghèo khác tới nữa. Jalin và Krshjina lại
cởi áo và những đồ trang sức để tặng. Đi mới được
hai phần ba đường mà thái tử và gia đình đã cho hết tất
cả những gì có giá có thể bán được để mua gạo. Cuối
cùng, họ phải cho luôn chiếc xe và hai con ngựa. Thái tử
ẵm Jalin, Madri ẳm Krishjina; họ đành lòng đi bộ tới xứ
Jayatura để sống thời gian lưu đày của mình. Không còn của
cải gì nhưng họ vẫn vui, vẫn hát, vì lòng họ thanh thản.
Họ biết họ đã cho người khác những niềm vui.
Thái
tử và vợ đi mãi dến khi chân họ rướm máu và chai đi thì
mới tơi nơi. Đó là một ngọn núi và những khu rừng rậm.
Leo lên núi họ tìm thấy một túp lều bỏ không. Túp lều
mà chắc ngày xưa đã có một vị đạo sĩ cư trú để tu
hành. Hai vợ chồng sửa sang quét dọn túp lều, bứt tranh
bứt lá lót giường cho bốn người, và nghĩ đến việc đi
tìm thực phẩm. Hai người người đi tìm các loại trái cây
và các loại rau lá mọc hoang trong rừng có thể ăn được.
Hai đứa bé cũng được dạy dỗ cách đi tìm trái cây, hái
rau, giặt áo và phơi áo bên bờ suối, gieo hạt và làm vườn.
Ngoài ra các bé còn được học chữ nữa. Họ dùng lá kè
và viết chữ bằng một cái gai nhọn.
Họ
sống đơn giản như thế trên núi được ba năm, và cuộc
sống rất vui tươi, nhưng có một hôm nọ, trong khi Visvantara
và Madri đang đi hái trái cây trong rừng thì ở nhà có người
tới bắt cóc mất hai đứa trẻ. Khi về nhà không thấy hai
con, hai vợ chồng hoảng hốt đi tìm. Họ đi khắp núi rừng
và khi không thấy con, họ tìm về phố chợ. Hai tháng trôi
qua nhưng họ vẫn không tìm được con. Họ trở về túp lều
một lần nữa, hy vọng các con đi đâu lạc đã trở về.
Về tới nhà, họ gặp sứ giả của vua cha. Vua cha triệu hai
vợ chồng về. Sứ giả cho biết là Jalin và Krishnajina đã
về tới trong hoàng cung và đang sống với ông nội.
Hai
người mừng rỡ hỏi thăm. Sứ giả nói:
- Một
hôm nọ có người đem bán hai đứa bé ngoài chợ kinh đô.
Có một bà mệnh phụ đi chợ nhận ra hai đứa này là con
của thái tử Vivvantara. Bà liền về báo cho chồng biết. Vị
quan này tức tốc ra chợ. Ông bảo người kia rằng nếu đem
hai đứa trẻ vào cung bán thì sẽ được giá rất cao, và
ông tiến dẫn người bán vào cung.
Thấy
hai đứa nhỏ, dù áo quần tả tơi và mặt mày lem luốc, vua
cha cũng giật mình nhận ra cháu mình. Vua bàng hoàng. Lòng nhớ
thương con cháu sống dậy mãnh liệt nơi vua. Vua truyền:
- Nhà
ngươi tìm được hai này ở đâu thế? Bán mỗi đứa bao nhiêu?
Người
kia chưa kịp tâu bày gì thì vị đại thần đã lên tiếng:
- Tâu
hoàng thượng, đứa con gái bán giá một ngàn lượng vàng
và một ngàn con bò, còn đứa trai bán giá một trăm lượng
vàng và một trăm con bò.
Mọi
người, kể cả hai đứa trẻ, đều ngạc nhiên. Vua hỏi:
- Tại
sao con gái lại bán đắt hơn con trai? Vị đại thần nói:
- Vì
hoàng thượng quý con gái hơn con trai. Các công chúa không bao
giờ bị hoàng thượng trừng phạt và la rầy, cả đến những
cung nhân trong cung cấm cũng được đối dãi thật tử tế.
Hoàng thượng chỉ có một đứa con trai duy nhất mà hoàng
thượng lại đày lên núi xa ở với cọp beo, phải đi hái
trái rừng để ăn và để nuôi con. Như vậy con gái không
đắt hơn con trai là gì?
Vua
rơi nước mắt:
- Thôi
khanh đừng nói nữa, trẫm đã hiểu rõ rồi.
Vua
hỏi người kia gặp hai đứa trẻ ở đâu. Người kia trả
lời là đã mua chuộc hai được hai đứa bé từ một miền
núi xa xăm. Vua ban tiền bạc cho người ấy và ra lệnh cho
người này cộng tác với thám tử của vua truy nã người
đã bắt cóc trẻ em đem đi bán.
Rồi
vua gọi hai cháu lên và ôm vào lòng. Vua hỏi thăm về cuộc
sống trên núi. Sau đó, vua lập tức ban chiếu chỉ triệu
vợ chồng thái tử về.
Từ
đó về sau, vua rất cưng chiều thái tử và còn làm hết sức
mình để giúp thái tử có thêm lúa gạo và vải vóc để
chia tặng cho những người nghèo khổ.
Bọn
trẻ em nghe Bụt kể chuyện một cách say mê. Bụt nói:
- Thái
tử Visvantara tìm thấy niềm vui khi chia xẻ những gì mình
có với những kẻ khác. Này các con, hồi nãy các con chỉ
cho ta một ít bụi đất trong kho lẫm của các con mà ta cũng
đã rất vui rồi. Các con nên biết: mỗi ngày ta có thể đem
lại niềm vui cho kẻ khác bằng cách tặng cho kẻ ấy một
món quà. Món quá ấy không cần phải mua. Khi các con hái một
hông hoa bên bờ ruộng đem về tặng cho cha mẹ là các con
đã cho cha mẹ các con một niềm vui rồi. Nói một câu hiếu
thuận hoặc dễ thương cũng là một món quà quý giá. Ôm lấy
cha mẹ mà nói rằng mình rất thương quý cha mẹ đã làm lụng
khó nhọc để nuôi mình, đó cũng là một tặng phẩm rất
quý. Một cái nhìn, một sự săn sóc nhỏ nhặt cũng đưa tới
những niềm vui. Đối với cô bác và bạn bè, các con
cũng có thể làm cho họ vui bằng những tặng phẩm như thế.
Bây giờ ta với các thầy phải từ giã các con để tiếp
tục đi khất thực, nhưng ta sẽ nhớ mãi những bụi đất
mà các con đã tặng cho ta trong ngày hôm nay.
Bọn
thiếu nhi rất sung sướng được gặp Bụt ngày hôm ấy. Chúng
bàn nhau sẽ rủ các bạn tới tu viện Jetavana để thỉnh thoảng
được nghe Bụt và các thầy kể chuyện.
Mùa
nắng năm sau, Bụt về Rajagaha. Thăm hỏi và đạy dỗ đại
chúng ở đây xong, người lên núi Linh Thứu. Y sĩ Jivaka được
tin Bụt về Linh Thứu liền lên núi thăm người. Rồi Jivaka
thỉnh Bụt về vườn Xoài của ông dăm bữa. Bụt nhận lời.
Thầy Ananda cũng đi theo Bụt.
Y sĩ
có một vườn Xoài rất mát mẻ và xum xuê. Xoài ở đây đã
lên tới năm thứ tám. Jivaka đã dựng một tịnht thất nhỏ
để Bụt ở. Hàng ngày ông đem thức ăn chay của ông tự
tay nấu để cúng dường Bụt. Ông xin Bụt nghỉ ngơi ít hôm
đừng đi khất thực để có dịp bồi bổ lại sức khỏe.
Ông lại đem thuốc bổ đến để cúng dường Bụt. Thuốc
bổ này gồm toàn rễ cây, lá cây, và trái cây. Một hôm ngồi
với Bụt trong vườn Xoài, Jivaka hỏi:
- Lạy
Bụt, có người đồn đãi rằng các vị khất sĩ được phép
Bụt cho ăn mặn. Họ còn nói: sa môn Gotama cho phép giết thú
vật, để làm thức ăn cúng dường ông ta và các vị khất
sĩ học trò của ông. Có người than thở: vì sa môn Gotama
mà dân chúng phải sát hại sinh vật để làm thức ăn cho
ông và cho đệ tử ông. Bạch Thế Tôn, con thầy những lời
đồn đãi này không đúng, nhưng con muốn nghe Thế Tôn trực
tiếp nói về điều này:
Bụt
nói:
- Này
Jivaka, những ai nói rằng thầy cho phép giết sinh vật để
làm thực phẩm cho thầy và cho các vị khất sĩ, những người
ấy đã không nói đúng sự thật. Jivaka, thầy đã từng nói
rõ nhiều lần: nếu một vị khất sĩ thấy người ta giết
thú vật để làm thực phẩm cúng dường mình, vị khất sĩ
ấy phải từ chối không được ăn. Nếu không thấy mà chỉ
nghe nói rằng người ta đã vì mình mà giết thú vật thì
vị khất sĩ cũng phải từ chối không được tiếp nhận
thực phẩm, và hơn thế nữa, dù không thấy không nghe nhưng
một khi đã nghi rằng người ta có vì mình mà giết thú vật
thi vị khất sĩ cũng phải từ chối không được ăn.
Jivaka,
theo phép khất thực, người ta cho thức ăn gì thì phải nhận
thức ăn ấy, nhưng trong trường hợp đã thấy đã nghe và
đã nghi rằng người ta đã vì mình mà sát hại thú vật thì
vị khất sĩ có quyền từ chối và phải từ chối. Như thế
mới nuôi dưỡng và bảo vệ được lòng từ bi của mình.
Jivaka, những thí chủ nào Bụt, biết Pháp và biết Tăng thì
mỗi khi sửa soạn vật thực cúng dường họ đều dùng những
thức ăn chay tịnh. Trong trường hợp họ không có sẵn các
món chay họ mới chia xẻ cho các thầy khất sĩ món mặn họ
sẵn có mà thôi. Những người lần đầu tiên cúng dường
các vị khất sĩ cũng không biết rằng các thầy ưa thức
ăn chay hơn thức ăn mặn cho nên cũng chỉ cúng dường và
san sẽ những thức ăn họ sẵn có. Trong trường hợp này,
các vị khất sĩ có thể thọ dụng thức ăn mặn, để khỏi
phụ lòng thí chủ và cũng để thí chủ có dịp kết duyên
từ từ với đạo giải thoát.
Jivaka,
một mai kia, khi tất cả thiên hạ đều biết rằng các vị
khất sĩ không ăn thịt thú vật bị giết vì họ thì thiên
hạ sẽ không cúng dường thịt cho các vị khất sĩ nữa.
Lúc ấy các vị khất sĩ sẽ ăn chay hoàn toàn.
Jivaka
biện bạch:
- Con
thấy ăn chay làm cho cơ thể nhẹ nhàng và ít bệnh hơn ăn
mặn. Thế Tôn, từ mười năm nay, con đã ăn chay. Con nghĩ
rằng ăn chay vừa được khỏe mạnh vừa nuôi dưỡng được
lòng từ bi. Hôm nay con rất vui mừng được thầy chỉ dạy
rõ ràng về việc ấy.
Jivaka
cũng tỏ ý khen ngợi Bụt về pháp chế không ăn sau giờ ngọ
và không ăn những thúc ăn cất giữ từ ngày hôm qua, trừ
trong mùa lạnh. Ông thấy những điều này rất hợp với phép
vệ sinh. Không ăn buổi chiều và buổi đêm thì vừa cảm
thấy nhẹ nhàng vừa có thêm thì giờ tu tập. Thức ăn để
lại ngày hôm sau có thể bị hư và làm độc hại cơ thể,
nếu trời nóng quá.
Bụt
khen ngợi Jivaka và ngỏ lời mời ông một hôm nào về tu viện
nói cho các vị khất sĩ nghe về các phép vệ sinh của đời
sống hàng ngày.
Chương
59
NHẢY
CAO MẤY CŨNG RƠI LẠI VÀO TRONG LƯỚI
Vườn
Xoài của y sĩ Jivaka rất rộng rãi và thanh tịnh. Rải rác
trong vưòn có những tịnh thất nhỏ của các vị nữ khất
sĩ. Buổi chiều ấy, có một vị nữ khất sĩ trẻ tên là
Subha đến xin tham vấn Bụt. Hồi sáng cô đã bị một thanh
niên đón đường và suýt bị thanh niên ấy xâm phạm đến
tiết hạnh. Ni cô xin Bụt đặt ra một pháp chế để bảo
đảm thêm sự an ninh cho giới nữ khất sĩ. Bụt hỏi đầu
đuôi câu chuyện. Ni cô thuật lại với tất cả chi tiết.
Hôm
qua đi khất thực về ngang một khu hẻo lánh, Subha bị một
thanh niên đón đường. Biết là mình đang lâm vào tình trạng
khó khăn, ni cô theo dõi hơi thở để duy trì sự bình tĩnh.
Nhìn thẳng vào người thanh niên, cô hỏi:
- Thưa
ông, tôi đâu có làm điều gì lầm lỗi mà ông lại chặn
đường tôi? Tôi chỉ là một người xuất gia tu hành theo
giáo pháp của Bụt. Tại sao ông lại ngăn không cho tôi đi
về tu viện?
Người
kia nói:
- Cô
còn trẻ và đẹp lắm. Tại sao cô lại đi hủy hoại đời
mình bằng cách cạo đầu, mặc áo vàng và sống như những
người tu khổ hạnh? Này ni cô, đáng lý cái thân hình xinh
đẹp của cô phải được khoác lên một chiếc sari lụa mua
từ Kasi.Tôi chưa thấy ai xinh đẹp bằng cô. Tôi muốn cho
cô nếm mùi dục lạc của thân xác. Cô đi với tôi đi.
Subha
vẫn bình tĩnh:
-
Ông đừng có nói bậy. Người tu hành đã quyết tìm niềm
vui nơi cuộc sống giải thoát và giác ngộ. Năm thứ dục
lạc chỉ đưa tới tội lỗi và khổ đau. Ông hãy tránh đường
cho tôi đi. Tôi sẽ rất cảm ơn sự hiểu biết của ông.
Người
thanh niên kia nói:
- Cô
có hai con mắt rất đẹp Tôi chưa thấy người đàn bà nào
có đôi mắt đẹp như cô. Tôi dại gì mà để cô đi. Thôi
cô hãy đi với tôi.
Và
người thanh niên đưa tay ra định nắm lấy cô.
Subha
lùi lại một bước. Cô nói:
- Này
ông kia, ông đừng chạm tới tôi. Ông đừng chạm tới một
người tu phạm hạnh. Tôi đã chán ngấy đời sống dục vọng
và hận thù cho nên tôi muốn đi tu. Ông nói tôi có hai con
mắt đẹp. Thôi để tôi móc hai con mắt của tôi đưa cho
ông. Thà rằng tôi mù còn hơn là để ông chạm tới.
Subha
nói với giọng cương quyết. Người thanh niên kia nao núng.
Anh ta biết vị ni cô này có thể nói và làm ngay. Anh ta lùi
lại một bước.
Subha
tấn công thêm:
- Ông
đừng vì dục vọng là tạo nên tội ác. Ông không biết đức
vua Bimbusara đã ra lệnh trừng phạt nặng nề những kẻ phạm
pháp hay sao. Chính tôi, tôi đã chứng kiến những tội phạm
bị hành xử. Nếu ông không tỉnh táo, nếu ông xâm phạm
tới phạm hạnh, và sanh mạng của tôi, ông cũng sẽ bị bắt
và hành xử như những tội phạm ấy.
Người
thanh niên tỉnh ngộ. Anh ta hình dung ra được cảnh khổ do
dục vọng điên cuồng gây ra. Anh ta tránh sang một bên đường
cho Subha đi. Rồi anh nói vọng theo:
- Tôi
xin lỗi sư cô. Tôi chúc sư cô tu hành cho tới khi thành đạt.
Subha
đi thẳng, không ngoái nhìn trở lại, lòng dặn lòng sẽ trình
lên Bụt trường hợp mình.
Sau
khi nghe kể chuyện, Bụt khen ngợi niềm quả cảm và sự thông
minh của nữ khất sĩ Subha. Người nói:
- Người
con gái đi một mình ở nơi vắng vẻ thì nguy hiểm lắm. Đó
là một trong những lý do tại sao ngày xưa tôi đã ngần ngại
chưa muốn cho giới nữ xuất gia. Này Subha! Từ hôm nay trở
đi, đi đâu vị nữ khất sĩ cũng không được đi một mình.
Lội qua một dòng sông, đi vào thôn xóm, băng qua một cánh
đồng hay một khu rừng, vị nữ khất sĩ không được đi
một mình. Ngủ cũng vậy. Trong tu viện, trong tịnh xá, trong
thôn lạc hay dưới gôc cây, người nữ khất sĩ không được
ngủ một mình. Phải ngủ với một vị nữ khất sĩ khác
để có thể bảo vệ cho nhau.
Rồi
Bụt quay lại nói với thầy Ananda:
- Ananda
thầy nên ghi nhớ điều này và yêu cầu các vị lãnh đạo
ni chúng đưa điều này vào giới luật của các vị nữ khất
sĩ.
Rời
vườn Xoài của y sĩ Jivaka, Bụt lên đường đi Nalanda. Cùng
đi với người, có rất đông các vị khất sĩ.
Bụt
và các vị khất sĩ đi lặng lẽ và trang nghiêm; ai nấy đều
theo dõi hơi thở và nuôi dưỡng chánh niệm. Phía sau lưng
các vị, có hai thầy trò vị du sĩ Suppiyo cùng đi. Họ nói
chuyện vang lên suốt cả dọc đường. Đệ tử của du sĩ
Suppiyo là thanh niên Bramadatta. Đề tài của câu chuyện là
Bụt và giáo pháp của người. Du sĩ Suppiyo cố ý nói lớn
để những vị khất sĩ có thể nghe. Tất cả những lời
ông nói đều nhắm tới sự kích bác Bụt và giáo pháp của
người. Trong khi đó thì lạ thay, thanh niên Bramadatta lại hết
lòng bênh vực cho Bụt và giáo pháp của người. Branmadatta
dùng những lý luận và hình ảnh rất khéo léo để tán dương
Bụt và giáo đoàn của người. Khéo léo đến nổi tất cả
các vị khất sĩ đi trước đó đều có cảm tình với chàng.
Chiều
hôm ấy Bụt ghé vào nghỉ đêm ở Ambalatthika. Ambalatthika là
một khu vườn rừng rất sum suê và tốt đẹp, chỗ nghỉ
mát của gia đình hoàng gia. Vua Bimbasara đã ngỏ ý là các
vị tu sĩ của bất cứ giáo phái nào nếu cần sử dụng Ambalatthika
thì đều có quyền sử dụng để nghỉ ngơi. Đêm đó hai
thầy trò du sĩ Suppiyo cũng nghỉ đêm tại đấy.
Sáng
hôm sau các thầy khất sĩ bàn tán với nhau về thái độ hôm
qua của hai thầy trò vị du sĩ. Bụt nghe được những câu
bàn tán ấy. Người bảo:
- Này
các thầy, khi nghe người ta công kích tôi, phỉ báng tôi, công
kích và phỉ báng giáo pháp và giáo đoàn khất sĩ, các thầy
đừng buồn, các thầy đừng sinh lòng công phẫn, tức tối
hay phiền muộn. Điều ấy có hại cho các thầy. Khi nghe
người ta khen ngợi tôi, khen ngợi giáo pháp và giáo đoàn
khất sĩ, các thầy cũng không nên mừng rỡ, thích thú và
mãn ý. Điều này cũng có hại cho các thầy. Thái độ đứng
đắn là xét xem những điều công ấy đúng hay sai, đúng ở
chỗ nào, sai ở chỗ nào. Có như thế quý vị mới có dịp
học hỏi để đạt được nhiều tiến bộ.
Này
các vị khất sĩ! Phần lớn là những người khen ngợi Bụt,
Pháp và Tăng là những người chỉ thấy được những cái
đẹp cái hay nhỏ bé của giáo pháp và giáo đoàn thôi. Như
là nếp sống phạm hạnh, công phu trì giới, đời sống đạm
bạc, thái độ thanh thản của chúng ta. Số người thấy được
cái cao siêu mầu nhiệm nhất của giáo pháp mà đem lời ca
ngợi thì ít lắm. Tôi muốn nói đến trí tuệ thực chứng
của đạo giác ngộ. Trí tuệ này siêu việt, mỹ diệu, mầu
nhiệm, vượt khỏi tầm tư duy và ngôn ngữ của người thường.
Thấy được, hiểu được và chứng được trí tuệ ấy mới
có thể biết và thấy được giá trị thật của đạo giải
thoát.
Này
các vị khất sĩ! Trong thế gian có bao nhiêu chủ thuyết và
bao nhiêu luận chấp. Người ta không ngớt công kích và cải
vả nhau vì sự khác biệt của những chủ thuyết và luận
chấp ấy. Các vị khất sĩ, như tôi đã thấy và đã nghe,
đã có ít nhất là sáu mươi luận chấp làm căn bản cho hàng
ngàn chủ thuyết hiện giờ có mặt trong các giới tư tưởng
và tôn giáo. Các vị nên biết rằng trước cái thấy của
đạo giác ngộ giải thoát, tất cả sáu mươi hai luận chấp
ấy đều có những chỗ kẹt, đều có những chỗ sai lầm.
Hôm
ấy Bụt nói kinh Phạm Võng. Người phân tích nội dung của
cả sáu mươi hai luận chấp và vạch ra những sai lầm của
các luận chấp này. Có mười tám luận chấp về quá khứ:
bốn chủ trương thuyết thường trú, bốn chủ trương thuyết
vừa thường trú vừa vô thường, bốn chủ trương thuyết
hữu biên và vô biên, bốn chủ trương thuyết ngụy biện
và hai chủ trương thuyết không có nhân quả. Có bốn mươi
bốn luận chấp về tương lai: mười sáu chủ trương là còn
tri giác sau khi chết, tám chủ trương là không còn tri giác
sau khi chết, tám chủ trương là không phải còn cũng không
phải không còn tri giác sau khi chết, bảy chủ trương thuyết
đoạn diệt và năm chủ trương thuyết hiện tại là niết
bàn.
Trình
bày xong những sai lầm của sáu mươi hai luận chấp, Bụt
nói:
- Một
người đánh có giỏi khi quăng lưới xuống hồ tôm được
hết tất cả tôm cá hồ vào trong cái màn lưới có mắt lưới
sít sao, ông ta nhìn những con tôm con cá đang cố nhảy lên
cao để rồi lại rơi mình vào trong lưới, và nói: “dù các
ngươi nhảy cao đến mấy các ngươi cũng vẫn còn nằm trong
lưới của ta”. Ông ta nói đúng. Hàng trăm hàng ngàn học
thuyết đang hiện hành và tranh chấp lăng xăng trong giới triết
học và tôn giáo này đều nằm kẹt trong cái lưới của sáu
mươi hai luận chấp ấy, không thể nào vượt thoát ra nổi.
Các vị khất sĩ! Đừng đi vào trong cái lưới mê hồn ấy
để mất hết thì giờ và cơ hội tu tập đạo giải thoát.
Đừng đi vào cái lưới của sự hý luận.
Này
các vị khất sĩ! Tất cả những luận chấp kia đều phát
sinh do sự lừa gạt của tri giác và của cảm thọ. Vì không
tu tập chánh niệm, vì không quán chiếu nên người ta không
biết được chân tướng của tri giác và cảm thọ, do đó
đã bị tri giác và cảm thọ lừa gạt. Nếu thấy được
nguồn gốc và bản chất của tri giác và cảm thọ, người
ta sẽ thấy được tự tính vô thường và duyên sinh của
sự vật, người ta sẽ không bị vướng vào lưới tham ái,
lo âu, và sợ hãi, người ta sẽ không bị vướng vào cái
lưới của sáu mươi hai luận chấp.
Hôm
ấy đại đức Ananda đã nổ lực ghi nhớ hết những lời
Bụt dạy. Thầy đi bách bộ và thầm lặng trùng tuyên lại
những lời Bụt nói. Rồi thầy nghĩ: kinh này quan trọng lắm.
Ta sẽ đặt tên kinh này là kinh Phạm Võng. Phạm Võng là cái
lưới vĩ đại thu tóm tất cả những chủ thuyết sai lạc
trong cuộc đời.
Chương
60
NGÀY
NÀO ĐẦU TÓC CŨNG ƯỚT
Bụt
từ giã vườn Ambalatthika. Người đi đến Nalanda. Sau khi thăm
viếng và giáo hóa tại đây, người đi về Ampa. Ampa là thành
phố lớn nhất của xứ Anga; xứ này nằm dưới quyền bảo
hộ của vua Bimbisara nước Magadha. Dân cư ở đây đông đúc,
ruộng đất ở đây phì nhiêu, cây cỏ ở đây xanh tươi.
Bụt cư trú trong một khu rừng mát mẻ bên bờ hồ Gaggara.
Trong hồ, hoa sen nở thơm ngát.
Nghe
Bụt tới, dân chúng lũ lượt đến thăm người. Có một người
trai trẻ dòng Bà la môn giàu có tên là Sonadanda, nổi tiếng
thông minh xuất chúng tại địa phương này, cũng có ý muốn
đi viếng Bụt. Những người Bà la môn khác cố ý ngăn giữ
không cho ông ta đi, bảo rằng nếu Sonadanda tới thăm sa môn
Gotama thì gây uy tín cho vị sa môn này nhiều quá. Sonadanda
mỉm cười trả lời rằng Bụt là nhân vật lỗi lạc, trên
đời chỉ có một, và nếu không đi thăm người thì thật
là bỏ phí cơ hội ngàn năm một thuở. “Ta phải đi để
học hỏi chứ. Để biết ta hơn sa môn Gotama ở những điểm
nào và sa môn Gotama hơn ta ở những điểm nào”. Vừa nói,
Sonadanda vừa mỉm cười bí mật.
Nghe
Sonadanda nói vậy hàng trăm người trí thức Bà la môn khác
cũng muốn xin đi theo. Người trí thức này, theo họ nghĩ,
sẽ không làm mất mặt giới Bà la môn trước đám quần chúng
đông đảo đến viếng Bụt.
Sonadanda
còn chưa biét mở đầu câu chuyện ra sao cho thông minh, thì
Bụt đã ân cần hỏi:
- Các
vị học giả trong giới Bà la môn hãy cho chúng tôi biết đâu
là những điều kiện cần thiết để có thể thật sự là
một người Bà la môn chân chính. Quý vị nói đi và nếu cần
thì nên viện dẫn kinh điển của quý vị.
Sonadanda
rất hoan hỷ, một vị Bà la môn đích thực phải có đủ
năm điều kiện sau đây: thứ nhất là phải có dung sắc đẹp
đẽ, thứ hai là phải biết kỹ thuật xướng tụng và chú
thuật, thứ ba là phải có huyết thống thuần túy trong bảy
đời, thứ tư là phải có đức hạnh, thư năm là phải có
tuệ giác.
Bụt
hỏi:
-
Trong năm điều kiện ấy, điều kiện nào là căn bản? Còn
điều nào dù là không có thì người Bà la môn vẫn còn có
thể đích thực là một người Bà la môn?
Trả
lời dần theo những câu hỏi của Bụt, Sonadanda đi đến kết
luận rằng hai điều kiện sau chót hai điều kiện căn bản
của một vị Bà la môn đích thực, Sonadanda công nhận rằng
các điều kiện dung sắc, kỹ thuật xướng tụng chú thuật
và huyết thống bảy đời không phải là những điều kiện
căn bản. Không có ba điều kiện ấy nhưng nếu có các điều
kiện đức hạnh và tuệ giác thì người ta vẫn có thể là
một vị Bà la môn đích thực như thường.
Gần
năm trăm vị Bà la môn có mặt đưa tay phản đối Sonadanda.
Họ kết tội Sonadanda đã bị Bụt dùng hý luận đưa tới
chỗ chấp nhận lập trường của Bụt và chối bỏ một điều
kiện mà họ cho là căn bản là điều kiện huyết thống.
Họ đã đặt hết niềm tin nơi sự thông minh và tài mẫn
tuệ của Sonadanda mà họ coi như vị lãnh đạo tinh thần của
họ. Nay Sonadanda công nhận lập trường của Bụt thì họ
mất mặt biết bao.
Bụt
can thiệp:
- Này
quý vị quan khách! Nếu quý vị có lòng tin nơi người lãnh
đạo của quý vị là Sonadanda, thì quý vị im lặng đi để
tôi tiếp tục đối thoại vói ông ta, còn nếu quý vị không
có lòng tin ở ông ta, thì quý vị xin ông ta im lặng đi để
tối nói chuyện với quý vị.
Mọi
người lặng thinh. Sonadanda nói:
- Xin
sa môn Gotama yên lòng. Để tôi xin có đôi lời nói với các
bạn tôi.
Rồi
Sonadanda quay lại với năm trăm vị Bà la môn. Ông ta chỉ vào
một thanh niên ngồi hàng đầu và nói:
- Các
bạn có thấy cháu tôi, vị thanh niên Bà la môn tên là Angaka
đang ngồi kia không? Angaka là một người thanh niên tuấn tú,
khôi ngô, có phong thái tranh nhã và thanh cao. Đứng về phương
diện dung sắc, trong chúng ta không ai so được với Angaka,
trừ sa môn Gotama ra mà thôi, Angaka lại thông hiểu ba bộ kinh
Veda, thông hiểu văn phạm, ngữ pháp và kỹ thuật xướng
tụng và chú thuật; điều này ai cũng biết. Angaka cũng có
huyết thống thanh tịnh, cho đến bảy đời, kể cả về bên
cha lẫn mẹ. Angaka có đủ ba điều kiện là dung sắc, kỹ
thuật xướng tụng, chú thuật và huyết thống thanh tịnh.
Nhưng giả sử Angaka sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói dối,
uống rượu, thì dung sắc ấy còn có giá trị gì? Kiến thức
Veda và chú thuật còn có giá trị gì? Thưa các bạn, hai điều
kiện sau mới là hai điều kiện căn bản của một người
Bà la môn đích thực. Đó là giới hạnh và tuệ giác. Đây
là sự thực chung cho tất cả chúng ta chứ không phải là
sự thực riêng của sa môn Gotama.
Sonadanda
nói đến đây thì tiếng hoan hô của quần chúng nổi lên
vang dậy. Đợi cho tiếng hoan hô chấm dứt. Bụt hỏi Sonadanda:
- Nhưng
trong hai điều kiện căn bản kia còn lại là giới hạnh và
trí tuệ, ta có thể bỏ bớt một điều để giữ lại một
điều hay không?
- Thưa
sa môn Gotama, không thể được, nhờ giới hạnh tinh nghiêm
mà tuệ giác phát triển, nhờ tuệ giác phát triển mà giới
hạnh càng tinh nghiêm. Sa môn Gotama, cũng như lấy tay để rửa
tay, lấy chân để kỳ cọ chân, hai thứ giới hạnh và tuệ
giác nâng đỡ và phát triển lẫn nhau; giới hạnh làm cho
tuệ giác thêm sáng và tuệ giác làm cho giới hạnh thêm thanh
tịnh. Giới hạnh và tuệ giác là hai cái quý nhất trên đời.
Bụt
nói:
- Hay
lắm, Sanadanda! Những điều ông nói đúng là sự thực. Giới
hạnh và tuệ giác là hai cái quý nhất trên đời. Ông hãy
nói thêm đi. Làm thế nào để phát triển giới hạnh và tuệ
giác đến mức độ cao nhất?
Sonadanda
chắp tay xá Bụt, mỉm cười:
- Bạch
sa môn, xin người chỉ dạy cho. Chúng con chỉ biết nguyên
tắc thế thôi. Sa môn là người có thực tập và có chứng
đắc. Xin người giải bày cho chúng con rõ đâu là những phương
pháp có thể giúp ta phát triển giới hạnh và tuệ giác đến
mức viên mãn.
Bụt
bắt đầu dạy đạo giải thoát. Người nói đến nguyên tắc
tam học là giới định tuệ. Có giới thì có định, có định
thì có tuệ, có tuệ thì giới thể vững vàng. Giới thể
càng vững thì định lực càng lớn, định lực càng lớn
thì tuệ giác càng sâu. Người nói đến phép quán duyên sinh
để phát trừ những kiến chấp về thường, về ngã, để
cắt đứt những sợi dây tham ái, hờn giận, si mê, để đạt
tới giải thoát và an lạc.
Sonadanda
say sưa nghe Bụt nói. Khi Bụt dứt lời, Sonadanda đứng dậy
chắp tay:
- Sa
môn Gotama! Con xin cám ơn sa môn đã mở mắt cho con hôm nay.
Những lời của sa môn nói đã có hiệu lực đưa con ra khỏi
vũng lầy tăm tối. Con xin được quy y Bụt, quy y Pháp và quy
y Tăng để làm một kẻ môn đệ của người. Con xin kính
thỉnh Bụt và giáo đoàn ngày mai tới nhà con thọ trai.
Cuộc
đàm thoại hôm ấy giữa Bụt và giới trí thức trẻ tuổi
Bà la môn thật là hào hứng và đã gây chấn động sâu xa
trong mọi giới. Những người trẻ tuổi trong giới Bà la môn
đi theo Bụt rất đông.
Sau
đó ít lâu, một người thanh niên Bà la môn nổi tiếng khác
tên là Ambattha và thầy của anh là Pokkharasadi do một cuộc
thăm viếng và đàm đạo với Bụt cũng đã phát nguyện quy
y Tam Bảo. Việc này xảy ra tại một làng Bà la môn tên là
làng Lechanankala trong vương quốc Kosala. Phong trào thanh niên
Bà la môn theo Bụt càng ngày càng lớn. Niềm bực tức của
những nhà lãnh đạo Bà la môn và của các giáo phái cũng
vì vậy mà khó tiêu tan đi được.
Tại
công viên Ambalatthika, đại đức Svastika đã có dịp gần gũi
đại đức Moggallana để hỏi thăm về các giáo phái hiện
đang thịnh hành nhất và đã được đại đức nói cho nghe
một cách sơ lược về chủ trương của các giáo phái ấy.
Trước
hết là giáo phái của đạo sĩ Purana Kassapa. Phái này chủ
trương một thái độ hoài nghi về luân lý, cho rằng ý niệm
về thiện và ác chỉ là nhận thức do thói quen và tập quán
mà có.
Kế
đến là giáo phái của đạo sĩ Makkhali Gosala. Giáo phái này
chủ trương thuyết tất nhiên, cho rằng hành vi và vận mạng
con người đều do những quy luật vận hành tự nhiên sắp
đặt và con người không thể làm gì hơn được. Nếu năm
trăm hoặc một ngàn kiếp sau mà con người được giải thoát
thì đó cũng là do sự vận hành của tự nhiên giới, chứ
không phải vì nổ lực của con người mà có giải thoát.
Thứ
ba là giáo phái của đạo sĩ Ajita Kesakambati, chủ trương một
thuyết duy vật thuần túy, cho rằng con người là do bốn yếu
tố, đất, nước, lửa và không khí tạo thành, và sau khi
chết thì không còn gì nữa. Theo phái này, mục đích của
đời người là hưởng lạc trong khi con người đang còn sống.
Giáo
phái thứ tư do đạo sĩ Pakudha Kaccayana cầm đầu, chủ trương
ngược lại thuyết của giáo phái của đạo sĩ Ajita. Giáo
phái này chủ trương thuyết bất diệt, cho rằng tâm ta cũng
như thân ta không bao giờ có thể bị hủy diệt. Theo giáo
phái này, có bảy yếu tố làm nên con người, đó là đất,
nước, lửa, không khí, khổ, vui, và sinh mạng. Sống và chết
chỉ là hiện tượng bên ngoài do sự kết hợp hay tụ tán
của bảy yếu tố ấy tạo nên, trong khi tự thân của bảy
yếu tố ấy là trường cửu và bất diệt.
Giáo
phái thứ năm do đạo sĩ Sanjaya Belatthiputta thành lập. Ngày
xưa các đại đức Sariputta và Maha Moggallana đã từng theo
học với đạo sĩ này. Đạo sĩ Sanjaya dạy thuyết thích ứng,
cho rằng chân lý tùy thuộc vào trường hợp, vào không gian
và vào thời gian. Có thể trong trường hợp này, thời gian
này này và địa phương này, một điều nọ có thể là chân
lý, nhưng trong trường hợp khác, thời gian khác và địa phương
khác thì điều đó có thể không còn là chân lý. Nhận thức
con người là thước đo của muôn vật.
Giáo
phái thứ sáu là giáo phái của đạo sĩ Nigantha Nataputta. Các
đạo sĩ trong giáo phái này thực hành pháp khổ hạnh cực
đoan, không mặc quần áo và giữ giới bất sát một cách
tuyệt đối. Đạo sĩ Nigantha chủ trương một thứ vận mạng
luận có tính cách nhị nguyên, cho mạng (jiva) và phi mạng
(ajiva) là nền tảng cho vũ trụ và sự sống. Thế lực của
các du sĩ lõa hình này trong xã hội khá lớn, và với đoàn
khất sĩ của Bụt, các du sĩ lõa hình đã có nhiều liên lạc
và tiếp xúc qua lại. Điểm tương đồng căn bản giữa giáo
đoàn du sĩ va giáo đoàn khất sĩ là ý niệm tôn trọng sự
sống, nhưng giữa hai giáo đoàn có nhiều điểm dị biệt.
Có những vị trong giáo đoàn Nigantha đã tỏ vẻ chống đối
giáo đoàn khất sĩ. Đại đức Moggallana thường không chịu
đựng được thái độ quá khích của một số các vị du
sĩ lõa hình, và đã không ngần ngại nói lên cảm tưỏng
ấy, vì thế, đại đức thường bị các vị du sĩ lõa hình
chống đối kịch liệt.
Về
tới Savatthi, Bụt cư trú ở tu viện Đông Viên, nơi có giảng
đường lộc Mẫu. Các giới đệ tử nghe Bụt về, đến thăm
người không ngớt. Một buổi sáng, nữ thí chủ Visakha tới
tìm Bụt, đầu tóc và xiêm y ướt đẫm, Bụt hỏi:
- Visakh,
bà đi đâu về mà đầu tóc và xiêm y ướt đẫm thế này?
- Lạy
đức Thế Tôn, đứa cháu nội của con mới chết. Con buồn
quá đi tìm Bụt mà quên mang theo cả dù, cả nón.
- Visakh,
đứa cháu nội của bà lên mấy tuổi, cháu ốm bệnh gì mà
mất?
- Bạch
Thế Tôn, nó mới có ba tuổi, nó bị bệnh thương hàn.
- Tội
nghiệp cháu. Này Visakha, bà có tất cả bao nhiêu con và cháu?
- Bạch
Thế Tôn, con có tới mười sáu đứa con, chín đứa đầu
đã lập gia đình, và con đã có tám đứa cháu, vừa nội
vừa ngoại. Bây giờ con chỉ còn có bảy đứa cháu, toàn
là cháu ngoại.
- Visakha,
bà muốn có nhiều cháu lắm phải không?
- Vâng,
bạch đức Thế Tôn, con muốn có thật nhiều con và thật
nhiều cháu. Nhà càng đông con cháu thì lại càng vui.
- Này
Visakha, nếu con cháu bà nhiều như dân số ở thủ đô Savatthi
này thì chắc là bà vui lắm.
- Vâng,
thưa đức Thế Tôn, con mà có được nhiều con nhiều cháu
như dân số ở Savatthi thì còn gì bằng.
- Visakha,
bà biết mỗi ngày ở thủ đô Savatthi có bao nhiêu người
chết không?
- Thưa
Thế Tôn, có ngày thì mười người chết, có ngày thì chín
người, tám người, bảy người hay sáu người, ít nhất là
một người. Thế Tôn, ở Savatthi không có ngày nào là không
có người chết.
- Này
Visakha, nếu con cháu bà đông đúc như dân cư ở Savatthi thì
ngày nào mà tóc tai và áo quần của bà lại không ướt đẫm
như thế kia?
Visakha
chắp hai tay lại:
- Thôi,
thôi, con không muốn con cháu đông đảo như dân số ở Savatthi
nữa đâu. Con hiểu rồi. Càng thương nhiều thì càng bị ràng
buộc nhiều, càng bị ràng buộc nhiều thì càng khổ đau nhiều.
Bụt đã dạy con điều này nhiều lần, mà con cứ quên mãi.
Bụt
im lặng, mỉm cười.
Visakha
nói:
- Thế
Tôn, người thường du hành hóa độ khắp nơi và chỉ về
Savathhi vào trước mùa mưa. Đệ tử chúng con nhiều khi nhớ
Bụt, lên tu viện thăm thì ít khi được gặp người. Mỗi
khi chúng con đến, chúng cho nên chỉ biết đi vòng ba lần
quanh tịnh thất của người rồi đi về mà thôi.
Bụt
dạy:
- Visakha,
bà nên nhớ rằng việc tu học tinh tiến theo giáo pháp cần
thiết hơn việc thăm viếng. Mỗi khi tới chùa, các vị đều
có dịp nghe các vị đại đức thuyết pháp để học hỏi
thêm giáo lý và để đem về thực hành. Giáo pháp ấy chính
là thầy đó. Đừng vì sự vắng mặt của thầy ở tu viện
mà xao lãng việc tu học.
Đại
đứa Ananda bạch:
- Con
ý định là sẽ trồng một cây bồ đề ngay trong tu viện.
Mỗi
khi các vị đến thăm Bụt mà không có Bụt thì có thể đến
thăm và làm lễ cây bồ đề. Như vậy thì cũng như làm lễ
Bụt. Chúng con sẽ đặt một pháp tọa bằng đá dưới gốc
bồ đề. Nếu các vị đệ tử đem hoa tới cúng dường Bụt,
các vị có thể dâng hoa trước pháp tọa làm lễ, và đi nhiễu
ba vòng xung quanh cây bồ đề để quán niệm về Bụt.
Bà
Visakha nói:
- Ý
kiến của đại đức rất hay. Nhưng biết lấy cây bồ đề
con ở đâu ra mà trồng?
Đại
đức Ananda nói:
- Ta
có thể đến xin hạt của cây bồ đề ở thôn Uruvela, nơi
Bụt thành đạo. Visakha, bà đừng lo, tôi sẽ phụ trách về
việc lấy hạt, ươn hạt và trồng cây bồ đề. Tôi sẽ
trồng một cây ở tu viện và một cây ngay ở đây.
Nữ
thí chủ Visakh đã cảm thấy nhẹ bớt trong lòng. Bà lạy
Bụt và đại đức Ananda rồi ra về.