Chương
51
KHO
TÀNG CỦA CÁI THẤY
Mãn
mùa an cư, Bụt lên đường, hướng về Savatthi. Svastika và
Rahula được phép tùy tùng người. Đây là lần đầu Svastika
được đến tu viện Jetavana. Tu viện rất đẹp và đầy đủ
mọi tiện nghi cho sự tu học. Khung cảnh đã tươi mát mà
không khí lại đầm ấm. Thấy Svastika, thầy nào cũng mỉm
cười. Ai cũng biết là do vị khất sĩ trẻ này mà Bụt đã
nói kinh Chăn Trâu. Svastika nhận thấy rằng trong một hoàn
cảnh thuận tiện cho sự tu học như thế này chắc chắn chú
sẽ đạt được nhiều tiến bộ. Chú hiểu tại sao Tăng cũng
quan trọng như Bụt và Pháp. Tăng là đoàn thể của những
người cùng đi trên con đường tỉnh thức, và ta phải tìm
về nương tựa Tăng để được nâng đỡ và hướng dẫn.
Cũng như ta đã tìm về nương tựa Bụt và Pháp.
Năm
nay, vị sa di Rahula được hai mươi tuổi. Chú được đại
đức Sariputta làm lễ trao giới khất sĩ. Cả tu viện đều
vui mừng. Đại đức đã dạy chú thật chu đáo nhiều ngày
trước ngày chú thọ giới. Chú Svastika cũng được hân hạnh
dự nghe những lời giáo huấn này.
Sau
khi Rahula được thọ giới khất sĩ. Bụt đã để thì giờ
đặc biệt dạy cho chú về các công phu thiền quán, Svastika
cũng được dự thính các buổi dạy. Bụt dạy Rahula quán
chiếu về sáu giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý,
về sáu đối tượng của giác quan là hình sắc, âm thanh,
mùi vị, xúc chạm và ý niệm, và về sáu thức là cái thấy,
cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc chạm và ý thức. Người
dạy Rahula quán chiếu về tự tính vô thường của mười
tám hiện tượng đó mà người gọi là thập bát giới. Mười
tám hiện tượng gồm có sáu căn, sáu trần và sáu thức.
Căn tức là cơ quan cảm giác, trần là đối tượng của các
cơ quan đó, và thức là những nhận thức phát sinh ra từ
sự xúc chạm giữa căn và trần. Phép quán này gọi là giới
phân biệt quán. Bụt dạy quán chiếu căn, trần và thức để
thấy tất cả các hiện tượng này đều nương vào nhau mà
có mặt, để thấy được tự tính vô thường và duyên sinh
của chúng. Một khi đã thấy như thế thì hành giả chứng
đắc được tính cách vô ngã và thoát ly được sinh tử.
Bụt dạy thầy khất sĩ trẻ Rahula thật kỹ lưỡng về đạo
lý vô ngã. Bụt nói:
- Này
Rahula, trong năm uẩn là thân thể, cảm thọ, tri giác, tâm
hành và nhận thức, không có gì bất biến để có thể gọi
là ngã cả. Thân thể này không phải là ngã. Thân thể này
cũng không phải là ngã sở, nghĩa là vật sỡ hữu của ngã.
Ngã không nằm trong thân thể, thân thể cũng không nằm trong
ngã.
Có
ba loại kiến chấp về ngã. Kiến chấp đầu là cho rằng
thân thể này là ngã. Hoặc cảm thọ, tri giác, tâm hành và
nhận thức này là ngã. Kiến chấp này gọi là ngã chấp.
Khi nói tới thân thể này không phải là ngã, người ta có
thể rơi vào kiến chấp thứ hai, cho rằng ngã là một cái
gì riêng biệt với thân thể, và thân thể chỉ là một vật
sở hữu của ngã. Kiến chấp thứ hai này gọi là dị ngã
chấp. Kiến chấp thứ ba cho rằng trong thân thể có ngã và
trong ngã có thân thể, hai không là hai mà cũng không là một,
cái này nằm trong cái kia. Kiến chấp này gọi là tương tại
chấp.
Rahula,
quán vô ngã là phải nhìn sâu vào lòng năm uẩn để thấy
năm uẩn không phải là ngã, không phải là dị ngã, cũng không
phải là tương tại. Vượt được ba kiến chấp này rồi
mới thực sự chứng nghiệm được tự tính vô ngã của vạn
pháp.
Tại
tu viện Cấp Cô Độc này có một thầy tên là Thera. Svastika
nhận xét rằng thầy này ít ưa nói chuyện với ai, và đi
đâu cũng đi một mình, làm gì cũng làm một mình. Đại đức
Thera không làm phật lòng ai, cũng không phạm vào giới điều
nào, nhưng thầy sống có vẻ lẻ loi và không thật sư hòa
hợp với đại chúng, Svastika đã có lần tới gần thầy để
gợi chuyện nhưng thầy cũng tránh đi. Mọi người đặt tên
cho thầy là “người ưa sống một mình”. Svastika biết rằng
Bụt thường khuyến khích các thầy tránh tụ họp chuyện
trò, tránh những buổi nhàn đàm vô ích để có thì giờ sống
một mình mà thiền quán, nhưng chú cảm thấy cách sống của
thầy Thera không thật sự là cách sống mà Bụt muốn. Một
buổi chiều, nhân có cơ hội, Svastika đem chuyện này trình
bày lên Bụt.
Ngày
mai lại, trong giờ pháp thoại, Bụt gọi đại đức Thera lên
và hỏi:
- Thầy
là người ưa sống một mình, làm cái gì cũng ưa làm một
mình và tránh sự chung đụng với các thầy khác, có phải
vậy không?
Đại
đức đáp:
- Bạch
Thế Tôn, đúng như vậy. Thế Tôn thường dạy người khất
sĩ nên biết độc cư, nghĩa là nên sống một mình.
Quay
lại đại chúng, Bụt nói:
- Các
vị khất sĩ, tôi muốn dạy cho các vị thế nào là thật
sự biết sống một mình.
Người
thật sự biết sống một mình là người biết an trú trong
chánh niệm. Người ấy ý thức được những gì đang xảy
ra trong thể, trong cảm giác, trong tâm ý và nơi những đối
tượng của tâm ý. Người ấy biết quán chiếu sự sống
trong giờ phút hiện tại, không tìm về quá khứ, không tưởng
tới tương lai, vì quá khứ thì không còn mà tương lai thì
chưa tới. Sự sống chỉ có mặt trong giờ phút hiện tại.
Nếu ta bỏ giờ phút hiện tại, ta đánh mất sự sống.
Này
các vị, thế nào là tìm về quá khứ? Tìm về quá khứ ở
đây có nghĩa là tự đánh mất mình trong quá khứ, trôi dạt
trong quá khứ trên những đợt sóng tư duy: trong quá khứ hình
thể ta từng như thế đó, cảm thọ ta từng như thế đó,
địa vị ta từng như thế đó, hạnh phúc ta từng như thế
đó, hạnh phúc ta từng như thế đó ... Phát khởi lên những
tư duy như thế và bị ràng buộc bởi những gì thuộc về
quá khứ, đó là tìm về quá khứ.
Này
các vị, thế nào là tưởng tới tương lai? Tưởng tới tương
lai ở đây có nghĩa là tự đánh mất mình trong tương lai,
trôi dạt trong tương lai, trên những đợt sóng tư duy, lo sợ
hoặc mơ tưởng: trong tương lai, hình thể ta sẽ được hay
sẽ bị như thế đó, cảm thọ ta sẽ được hay bị như thế
đó, hạnh phúc ta sẽ được như thế đó, khổ đau ta sẽ
bị như thế đó ... Phát khởi lên những tư duy như thế và
bị ràng buộc bởi những ước mơ hoặc lo sợ về tương
lai ... đó là tưởng tới tương lai.
Này
các vị, trở về giây phút hiện tại là để tiếp xúc với
sụ sống và để quán chiếu sự sống. Nếu không tiếp xúc
thì không thể quán chiếu. Chánh niệm giúp ta trở về hiện
tại, tiếp xúc với hiện tại và quán chiếu sự sống trong
hiện tại. Trở về hiện tại không có nghĩa là tự đánh
mất mình trong những đam mê hoặc sầu khổ về hiện tại.
Nếu bị ràng buộc bởi những đam mê và sầu khổ về những
gì đang xảy ra trong hiện tại thì sự sống cũng không có
mặt. Sự sống không có mặt vì chánh niệm không có mặt.
Này
các vị khất sĩ, người biết sống một mình là người biết
an trú trong hiện tại, dù người ấy đang ngồi giữa đám
đông. Một người ngồi trong rừng sâu mà nếu không có chánh
niệm, nếu bị những con ma quá khứ và tương lai lôi cuốn
và ám ảnh thì người ấy vẫn không phải là người biết
sống một mình. Rồi Bụt đọc cho các thầy nghe một bài
kệ:
"Đừng
tìm về quá khứ
Đừng
tưởng tới tương lai
Quá
khứ đã không còn
Tương
lai thì chưa tới
Hãy
quán chiếu sự sống
Trong
giờ phút hiện tại
Kẻ
thức giả an trú
Vững
chãi và thảnh thơi
Phải
tinh tiến hôm nay
Bỗng
ngày mai không kịp
Cái
chết đến bất ngờ
Không
thể nào mặc cả
Người
nào biết an trú
Đêm
ngày trong chánh niệm
Thì
Mâu Ni gọi là
Ngưòi
Biết Sống Một Mình.
Đọc
xong bài kệ, Bụt cảm ơn đại đức Thera và bảo thầy đi
xuống. Người không trực tiếp khen hay chê thầy. Nhưng chắc
chắn là lần này đại đức thật sự hiểu được ý Bụt.
Trong
buổi pháp đàm hôm đó, Svastika nghe các thầy lớn nói rằng
những lời dạy của Bụt hôm đó rất là quan trọng, mọi
người cần phải ghi nhớ. Đại đức Ananda trùng tuyên một
lần nữa những điều Bụt nói cho mọi người nghe. Thầy
đọc lại bài kệ của Bụt một cách trôi chảy và thông
suốt. Svastika lấy làm lạ. Hình như thầy Ananda nhớ hết
những lời Bụt nói không sót một tiếng nào. Cách nói, lời
nói, và cú pháp giống hệt như khi Bụt nói. Khi đại đức
Ananda trùng tuyên xong lời Bụt, đại đức Mahakaccana đứng
lên nói:
- Ta
hãy nên lấy lời Bụt dạy hôm nay làm thành một kinh văn.
Thưa các huynh đệ, tôi xin đề nghị gọi kinh này là kinh
Bhaddekaratta nghĩa là kinh Người Biết Sống Một Mình, và cũng
xin đề nghị tất cả các huynh đệ học thuộc lòng để
hành trì. Ít nhất mỗi người trong chúng ta đều phải học
thuộc lòng bài kệ.
Đại
đức Mahakassapa đứng dậy tán đồng ý kiến ấy.
Sáng
hôm sau, trong khi đi khất thực, Bụt gặp một bọn trẻ con
đang tụ họp với nhau chơi đùa. Các thiếu nhi này đang hành
hạ những con cua nhỏ mà chúng bắt được dưới ruộng. Một
đứa trong bọn chúng lấy ngón tay trỏ của bàn tay trái đè
lưng một con của bàn tay trái xuống. Với tay phải, nó bẻ
một càng của con cua. Bọn trẻ reo hò vang dậy. Đứa kia thích
chí, bẻ gãy một cái càng cua khác. Bọn trẻ lại vỗ tay
hò reo. Chúng chơi như vậy cho đến khi tất cả hai càng và
tám chân của con cua đề bị bẻ gãy hết. Rốt cuộc chúng
liệng con của xuống ruộng và đi bắt một con khác để chơi.
Thấy
Bụt và các thầy tới, bọn chúng ngửng đầu lên rồi lại
cúi xuống chơi trò hành hạ mấy con cua. Chúng tàn ác mà không
biết là chúng tàn ác. Bụt bảo bọn trẻ ngừng tay. Người
nói:
- Này
các con, nếu các con bị trặc chân tay hay gãy tay thì các con
có đau không?
- Bạch
thầy, có, bọn trẻ trả lời.
- Con
cua bị các con bẻ gãy càng và gãy chân cũng đau đớn như
thế đó. Các con có biết không?
Bọn
trẻ nín bặt.
Bụt
nói tiếp:
- Con
cua cũng biết ăn uống, con cua cũng có cha, mẹ, anh và chị
của nó như là các con vậy. Các con làm khổ con cua như thế
thì các con cũng làm khổ luôn cả cha mẹ và anh chị nó. Các
con hãy suy nghĩ đi.
Bọn
trẻ tỏ vẻ hối hận. Lúc bấy giờ thấy Bụt và các thầy
xúm quanh một bọn trẻ, những người qua lại gần đấy cũng
ghé lại xem. Nhân cơ hội này Bụt dạy cả trẻ em lẫn người
lớn về lòng từ bi. Người nói:
- Chúng
ta phải làm sao để cho tất cả mọi loài đều cảm thấy
có an ổn và có niềm vui trong sự sống. Chúng ta phải bảo
vệ sự sống cho nhau và đem niềm vui cho nhau. Tất cả mọi
loài, dù lớn, dù nhỏ, dù đi bằng hai chân hay đi bằng bốn
chân, dù bò trên mặt đất hay bay trên hư không hoặc bơi
lội trong nước cũng đều có quyền sống. Chúng ta không nên
đem tâm hận thù nhau, sát hại nhau. Chúng ta nên che chở cho
nhau.
Này
các con, cũng như một bà mẹ đem thân mạng che chở cho đứa
con yêu duy nhất của mình, mỗi người trong chúng ta phải
mở lòng ra để đón nhận và che chở cho tất cả các loài
có sinh mệnh. Lòng thương của chúng ta phải bao trùm tất
cả mọi loài sinh vật đang có mặt trên, dưới, trong, ngoài
và chung quanh ta. Trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, trái tim ta
phải mang theo tình thương đó, và ta hãy an trú đêm ngày trong
tình thương đó.
Dạy
xong, Bụt rủ bọn trẻ cũng đem thả những con cua còn lại
xuống ruộng, rồi người cùng các vị khất sĩ tiếp nối
con đường đi khất thực.
Svastika
biết Bụt rất chú tâm đến việc hướng dẫn trẻ em nên
chú bàn với chú Rahula tổ chức những buổi tập hợp thiếu
nhi tại tu viện Jetavana để các em có dịp được học hỏi
với Bụt. Với sự cộng tác của những người cư sĩ trẻ
thường hay đến tu viện nghe Pháp, nhất là với bốn người
con của cư sĩ Sudatta. Svastika và Rahula thường quy tụ các
em thiếu nhi trong vùng về chùa mỗi tháng một lần. Cư sĩ
Sudatta có bốn người con: Subhada chị, Subhada em, Sumana và Kala.
Kala là con trai duy nhất của cư sĩ. Ban đầu Kala không có
vẻ hăng hái lắm, nhưng vì mến Svastika nên cậu từ từ dấn
thân vào việc tu học. Công chúa Vajiri con quốc vương Pasenadi
cũng yểm trợ đắc lực cho việc giáo dục thiếu nhi này.
Một buổi chiều rằm, công chúa rủ bọn trẻ đem hoa lên
tận tịnh xá dâng Bụt. Mỗi em cầm trong tay những cành hoa
hái được trong vườn nhà của mình. Có em đã hái được
cả những cành hoa dại trên đường đến tu viện. Công chúa
Vajiri ôm theo một bó sen đã hái được ngay trong hồ sen vườn
Thượng Uyển. Khi lên tới tịnh xá thì công chúa và bọn
trẻ được biết Bụt đã ra giảng đường, Đã đến giờ
người nói pháp thoại. Pháp thoại hôm nay được nói chung
cho cả hai giới xuất gia và tại gia. Các em thiếu nhi rủ
nhau cùng lên pháp đường. Thấy thiếu nhi tới, các thầy
và các vị cư sĩ đều nhường lối cho các em đi. Bụt đã
ngồi trên pháp tòa. Tất cả các em thiếu nhi được công
chúa Vajiri hướng dẫn đã lên dâng những bông hoa của mình
hái được trên chiếc bàn nhỏ đặt trước mặt Bụt rồi
cúi đầu xá Bụt. Bụt mỉm cười đáp lễ các em và bảo
tất cả đi xuống tìm chỗ ngồi phía trước đại chúng.
Buổi
pháp thoại hôm đó thật là đặc biệt. Đợi các thiếu nhi
ngồi xuống yên ổn. Bụt mới đứng dậy. Người cầm lấy
một bông sen đưa lên trước mặt đại chúng, không nói năng
gì. Tất cả đại chúng đều im phăng phắc. Không ai hiểu
Bụt muốn nói gì bằng cử chỉ ấy. Một lát sau, Bụt đưa
mắt quan sát đại chúng rồi mỉm cười. Người lên tiếng:
- Tôi
có con mắt của chánh pháp, kho tàng của cái thấy mầu nhiệm
và tôi đã trao lại cho Mahakassapa.
Mọi
người đổ dồn hai mắt về đại đức Kassapa. Nụ cười
chưa tắt trên môi đại đức. Mắt thầy vẫn nhìn lên Bụt.
Mọi người lại nhìn lên Bụt. Bụt đang nhìn bông hoa và
mỉm cười.
Svastika
không hiểu gì hết và nghĩ rằng có nhiều người cũng ngẩn
ngơ như chú. Chú biết điều quan trọng nhất trong lúc này
là giữ chánh niệm và chú bắt đầu theo dõi hơi thở theo
phương pháp đã được học với Bụt.
Chú
thấy bông hoa Bụt cầm trên tay là một bông sen trắng đang
vào lúc hé nở. Bàn tay Bụt cầm đóa sen trong một dáng điệu
thanh tao và trang trọng, ngón tay cái và ngón tay trỏ kẹp cuống
hoa vào giữa, và cuống hoa nằm xuôi ép theo lòng bàn tay. Chính
bàn tay Bụt cũng xinh đẹp như một bông hoa, và đóa sen trắng
phía trên, tinh khiết và mầu nhiệm, cũng có vẻ như là một
bàn tay khác của người. Svastika cảm nhận được cái đẹp
tinh khiết và trang trọng mà không cần suy tư tìm hiểu. Bất
giác chú cũng mỉm miệng cười.
Bỗng
Bụt cất tiếng nói. Tiếng của ngài trong, ấm và sang sảng:
- Đại
chúng, bông hoa này là một thực tại mầu nhiệm. Khi tôi cầm
nó đưa lên trước đại chúng, tất cả chúng ta đều có
cơ hội tiếp xúc với bông hoa. Cơ hội ấy là một cơ hội
đồng đều. Tiếp xúc được với bông hoa là tiếp xúc được
với thực tại mầu nhiệm, tiếp xúc với sự sống.
Mahakassapa
đã mỉm cười trước tiên vì Mahakassapa đã tiếp xúc được
với bông hoa trước tiên. Trong đại chúng đây, có những
vị không tiếp xúc được với bông hoa, đó là vì trong tâm
của quý vị còn có những chướng ngại.
Có
những vị đang đặt câu hỏi: vì cớ gì mà sa môn Gotama hôm
nay đưa cành hoa lên? Vì tâm các vị ấy đang bận rộn về
những ý tưởng, cho nên các vị ấy không tiếp xúc được
với bông hoa.
Đại
chúng, đắm chìm trong suy tư là một trong những nguyên do khiến
ta không tiếp xúc được với thực tại.
Trong
trường họp đang bị lo lắng, phiền muộn, giận hờn hay
ghen ghét chế ngự, ta cũng mất cơ hội tiếp xúc với thực
tại mầu nhiệm.
Đại
chúng! Bông hoa trong tay tôi có thể chỉ thật sự có mặt
đối với những ai biết an trú, trong chánh niệm nơi giờ
phút hiện tại. Nếu quý vị không trở về an trú trong giờ
phút hiện tại thì bông hoa có mặt cũng như không.
Có
những người đi ngang qua rừng cây trầm hương mà không thấy
được một cây trầm hương. Có những người đi qua sự sống
mà không tiếp xúc được với sự sống. Đại chúng! Sự
sống chứa chất khổ đau mà sự sống cũng đầy những mầu
nhiệm. Quý vị phải tinh cần và tỉnh thức để tiếp xúc
với những khổ đau và những mầu nhiệm ấy của sự sống.
Nhưng
tiếp xúc với khổ đau không có nghĩa là tự đánh mất mình
trong khổ đau và tiếp xúc với mầu nhiệm không có nghĩa
là tự đánh mất mình trong mầu nhiệm. Tiếp xúc là để
thực sự chứng nghiệm sự sống và quán chiếu sự sống,
ta sẽ thấy được tự tính duyên khởi và vô thường của
sự sống, do đó ta sẽ không đánh mất ta trong tham đắm,
trong giận hờn và trong mê muội. Ta sẽ thưòng xuyên an trú
trong tự do và giải thoát.
Svastika
rất sung sướng. Chú hiểu được lời Bụt dạy. Chú hài
lòng lắm khi nhớ ra rằng chú đã mỉm cười khi tay Bụt còn
cầm bông hoa đưa lên. Đại đức Mahakassapa mỉm cười trước
vì đại đức là một đệ tử lớn của Bụt, đứng về
hàng thầy của chú. Chú làm sao tự so sánh mình với đại
đức, cũng như với các vị cao đệ khác của Bụt như các
thầy Sariputta, Moggallana, Assaji v.v... Năm nay chú chỉ mới hai
mươi bốn tuổi.
Chương
52
PHƯỚC
ĐIỀN Y
Năm
sau, Svastika được theo Bụt về an cư ở tu viện Nigrodha sát
bên thành Kapilavatthu quê hương của Bụt. Bụt đã về quê
trước mùa an cư bởi vì người nghe nói có sự xích mích
và tranh chấp giữa hai nước Sakya và Koliya. Sakya là quê nội
của Bụt và Koliya là quê ngoại của người. Hoàng hậu Mahamaya
và công chúa Yasodhara đều có gốc gác từ Koliya. Hai nước
đã chống nhau vì dòng sông Rohini. Số là năm ấy trời không
có mưa mà cả hai bên đều thiếu nước tưới ruộng. Mực
nước sông Rohini cũng rất thấp. Nước không đủ cho cả
hai bên dùng, mà bên nào cũng muốn đắp đập dẫn hết nước
sông về phía mình. Ban đầu chỉ là lời qua tiếng lại giữa
nông dân hai phía. Sau đó thì có xung đột và đấm đá, rồi
dân vệ và cảnh sát hai bên nhập cuộc. Cuối cùng là binh
đội hai nước dàn trận hai phía bờ sông. Tình thế trở
nên gay cấn và nguy hiểm.
Bụt
muốn biết nguyên do của cuộc tranh chấp. Hỏi các vị tướng
chỉ huy quân đội, Bụt được cho họ biết là vì phía bên
kia khinh người, xâm phạm tài sản và tính mạng bên này.
Hỏi các nhà chính trị, họ cũng trả lời tương tợ. Không
ai nói cho Bụt nghe do thật sự của cuộc tranh chấp. Mãi đến
khi Bụt nói chuyện với các nông dân nghèo, người mới biết
nguyên do thật sự của cuộc tranh chấp là nước tưới.
Vốn
có liên hệ thân tộc sâu xa với cả hai dòng họ Sakya và
Koliya, Bụt sắp đặt được một cuộc gặp gỡ giữa các
vị quốc vương, một bên là quốc vương Mahanama, một là
quốc vương Suppabuddha. Người xin với hai vị quốc vương
thảo luận để đi đến một cuộc hòa giải. Người nói
rằng trong một cuộc chiến tranh, ai cũng là người thua cuộc,
dù là thua nhiều hay thua ít. Bụt hỏi:
- Các
vị đại vương, nước sông quý hơn hay mạng người quý hơn?
Vua
nào cũng trả lời là mạng người là quý hơn, mạng người
là vô giá. Bụt nói:
- Các
vị đại vương, nước tưới là đầu mối của cuộc tranh
chấp giữa hai nước, nhưng nếu không có lòng tự ái và sự
căm giận thì sự tranh chấp về nước tưới sẽ không đủ
để đưa tới một cuộc chiến tranh. Các vị đại vương!
Chúng ta phải xét lại tâm ý chúng ta. Chúng ta đừng vì lòng
tự ái và sự căm giận lẫn nhau mà làm tổn phí máu xương
của dân chúng hai nước.
Buông
bỏ tự ái và giận hờn là chúng ta tháo gỡ được guồng
máy chiến tranh. Giải quyết vấn đề tranh chấp về nước
tưới không khó. Chúng ta chỉ cần ngồi lại thương thuyết
với nhau. Có bao nhiêu nước trong dòng Rohini thì ta chia cho
cả hai phía, dù nước không đủ cho cả hai bên. Chúng ta sẽ
tìm ra giải pháp để bên nào cũng được thừa hưởng đồng
đều số lượng nước tưới.
Do
sự can thiệp của Bụt mà hai bên đã đi tới một sự thỏa
thuận về vấn đề nước tưới và thiết lập liên lạc
ngoại giao thân tình như cũ. Quốc vương Mahanama khẩn khoản
xin Bụt lưu lại trong một mùa an cư ở vương quốc Sakya.
Bụt nhận lời. Đây là mùa an cư thứ mười lăm sau ngày
thành đạo của Bụt.
Sau
mùa an cư ở Kapilavatthu. Bụt trở về miền Nam. Mùa an cư
thứ mười sáu, người cư trú tại Alavi. Mùa an cư thứ mười
bảy, người về tu viện Trúc Lâm. Mùa an cư thứ mười tám,
người ở Koliya. Mùa an cư thứ mười chín, người lại trở
về Rajagaha.
Tại
Rajagaha, từ mấy năm nay, Bụt ưa cư trú trên núi Gijjhakuta,
một ngọn núi đá có hình dáng chim thứu nên cũng được
gọi là Thứu Sơn. Vua Bimbisara thường hay đến viếng Bụt
và nghe pháp trên núi này. Vua đã cho xây bậc đá từ chân
núi lên tới tịnh xá của Bụt. Mấy cái thung lũng nhỏ đã
được vua cho san bằng. Vua lại cho bắc cầu qua mấy thác
nước. Xa giá tới chân núi, vua đi bộ lên theo các bậc đá.
Gần tịnh xá có một tảng đá lớn bằng cả mấy tòa nhà.
Tịnh thất của Bụt được xây bằng đá lấy ngay tại chỗ.
Phía Đông Bắc tịnh xá, có một dòng suối chảy qua khe đá.
Bụt thường giặt áo ca sa trên dòng suối này và phơi áo
trên một phiến đá khá lớn bên suối. Ngồi trước tịnh
xá, vào những ngày quang đãng, Bụt thấy được cả kinh đô
Rahajaga, Bụt rất ưa ngồi ngắm mặt trời lặn từ điểm
nhìn này. Cảnh tượng mặt trời lặn ở đây thật huy hoàng
và diễm lệ. Các đại đức lớn như Sariputta, Uruvela Kassapa,
Moggallana, Upali, Devadatta và Ananda đều có tịnh xá riêng trên
núi Linh Thứu. Trong vùng lân cận thủ đô Rajagaha đã có tới
mười tám cơ sở tu học quan trọng của tăng đoàn. Ngoài
tu viện Trúc Lâm (Venuvana) và núi Linh Thứu (Gijjhakuta), còn
có những trung tâm nổi tiếng khác, trong đó nổi bật nhất
là Vaibharavana, Sarpasundikapragbhara, Saptaparnaguha và Indrasailaguha.
Hai nơi sau là hai động đá lớn.
Gần
núi Linh Thứu, có tịnh xá của một vị y sĩ trẻ nổi tiếng
tên là Jivaka. Vị y sĩ này là một trong những đệ tử tại
gia thân cận nhất của Bụt. Jivaka là con của vua Bimbisara
và của bà mệnh phụ Ambapali. Chàng học thuốc từ năm mười
bốn tuổi tại Taksassila. Năm mười lăm tuổi, chàng đã được
mẹ tới đón, đưa về tu viện Trúc Lâm để viếng Bụt.
Năm nay Jivaka đã hai mưới sáu tuổi. Tốt nghiệp ngành y từ
năm hai mươi ba tuổi. Jivaka đã trở nên một lương y nổi
tiếng sau khi chữa lành cho nhiều người đã từng mắc những
chứng bệnh hiểm nghèo. Jivaka cũng đã từng chữa bệnh cho
vua Bimbisara.
Từ
mấy năm nay, Jivaka thường lui tới tu viện Trúc Lâm và núi
Linh Thứu để chăm sóc sức khỏe của Bụt và của các vị
khất sĩ. Vào đầu mùa lạnh, Jivaka cổ động các bạn cúng
dường thêm y áo cho các vị khất sĩ để họ đắp mà ngủ
ban đêm. Jivaka cũng đã cúng dường Bụt một bộ y. Vị lương
y này không những lưu tâm đến việc trị bệnh mà còn lưu
tâm đến việc ngừa bệnh nữa. Ông đề nghị với Bụt một
số biện pháp vệ sinh cần được áp dụng cho các vị khất
sĩ. Mỗi thầy nên có một dụng cụ lọc nước để uống,
và nước lấy từ ao hồ thì nên được đun sôi. Y áo mỗi
bảy ngày phải được giặt ít nhất một lần. Nhà tắm cần
được dựng thêm trong tu viện. Thức ăn hôm nay không nên
dành lại cho ngày hôm sau. Tất cả những điều Jivaka đề
nghị, Bụt đều chấp nhận.
Cúng
dường ca sa đã trở nên một hành động rất phổ thông trong
dân chúng. Có một hôm Bụt thấy một vị khất sĩ trở về
tu viện trên vai nặng trĩu cả y áo. Bụt hỏi:
- Thầy
có bao nhiêu chiếc y tất cả?
- Lạy
Bụt, con được cúng dường tất cả tới tám chiếc y.
- Thầy
cần dùng nhiều y đến thế sao?
- Lạy
Bụt, con không cần dùng nhiều y như thế, tại vì người
ta cúng dường nên con phải nhận.
- Theo
thầy thì mỗi vị khất sĩ cần có bao nhiêu chiếc y là đủ?
- Lạy
đức Thế Tôn, con nghĩ ba chiếc y là đủ cho mỗi người.
Ngồi thiền trong rừng lạnh hoặc ngủ nghỉ ban đêm dưới
gốc cây mà có được ba y thì đã là đủ ấm.
Bụt
nói:
- Tôi
cũng nghĩ như thầy vậy. Khi nào lạnh lắm tôi cũng chỉ cần
tới chiếc y thứ ba. Từ rày về sau, mỗi vị khất sĩ chỉ
có quyền có một cái bình bát và ba chiếc y ca sa mà thôi.
Nếu được cúng dường thêm quý vị nên từ chối.
Vị
khất sĩ bái tạ Bụt và đi về tăng xá của mình.
Có
một hôm khác đứng trên một ngọn đồi. Bụt chỉ những
thửa ruộng nối nhau chạy dài đến chân trời và nói với
đại đức Ananda:
- Ananda,
thầy có thấy những thửa ruộng lúa chín vàng được chia
thành từng ô chạy dài tới chân trời không? Đẹp quá! Tại
sao ta không đề nghị may áo ca sa cho các vị khất sĩ theo
kiểu mẫu này?
Ananda
bạch:
- Ý
của Thế Tôn thật hay. Áo ca sa may theo hình dáng những thửa
ruộng như thế này thì đẹp biết bao nhiêu. Con từng nghe
Thế Tôn nói một vị khất sĩ tu học nghiêm chỉnh là một
thứ đất ruộng rất tốt trên đó ta có thể gieo những hạt
giống phước đức cho hiện tại và tương lai. Cúng dường,
học hỏi và tu tập theo vị khất sĩ ấy tức là gieo những
hạt giống phước đức vậy. Nếu Thế Tôn cho phép, con sẽ
bố cáo với đại chúng về cách thức may y trong tương lai
và sẽ gọi kiểu y này là phước điền y.
Bụt
mỉm cười. Người gật đầu ưng thuận.
Mùa
an cư năm sau. Bụt cư trú tại tu viện Jetavana ở thủ đô
nước Kosala. Cư sĩ Suddata đã thân hành về Rajagaha thỉnh
người. Cư sĩ nhắc là đã từ lâu Bụt không an cư tại Jetavana.
Đây là mùa an cư thứ hai mươi của Bụt sau ngày người thành
đạo. Năm nay Bụt đã năm mươi lăm tuổi. Được tin Bụt
về an cư tại Savatthi, quốc vương Pasenadi mừng rỡ.
Vua đem cả gia đình hoàng gia tới viếng Bụt. Đi theo vua có
thứ hậu Vrsabhasatriya và hai người con của thứ hậu là thái
tử Vidudabha và công chúa Vajna. Thứ hậu là người dòng Sakya.
Sau ngày được gặp Bụt và trở nên đệ tử của người,
quốc vương Pasenadi đã gửi một phái đoàn qua vương quốc
Sakya để xin cưới một người trong hoàng gia làm thứ hậu.
Vương quốc đã tuyển chọn vị công nương xinh đẹp Vrsabhasatriya
để gã cho vua. Công nương là con gái của hoàng thúc Mahanama.
Trong suốt mùa an cư, vua không bỏ một pháp thoại nào của
Bụt mà không đến nghe. Người đến nghe pháp càng ngày càng
đông. Trong số những vị đệ tử mới có nữ cư sĩ Visakha,
được xem như là nữ thí chủ lớn nhất của tu viện. Thấy
các vị khất sĩ tại tu viện quá đông đảo, bà phát tâm
đem khu vườn rộng rãi và xanh tốt của bà ở phía Đông
thành phố Savathi cúng dường cho Bụt và cho giáo đoàn. Khu
đất này đẹp không thua gì vườn cây Jeta, nhưng diện tích
thì hẹp hơn. Với sự hợp sức của các bạn, bà Visakha đã
xây dựng được nhiều tăng xá và thiền đường trong khu
đất. Khi tu viện mới được hoàn thành, đại đức Sariputta
đề nghị đặt tên là tu viện Đông Viên (Purvarama). Giảng
đường ở trung tâm tu viện được đặt tên là Lộc Mẫu
Đường, Lộc Mẫu Đường là biệt hiệu của nữ cư sĩ Visakha,
Lộc (Migarai) là tên con trai lớn của bà.
Nữ
cư sĩ Visakha sinh trưởng ở Bhaddhya trong vương quốc Anga.
Cô là con gái của nhà triệu phú Dhananjaya. Lớn lên cô lấy
chồng ở Savathi. Chồng cô cũng là một triệu phú. Hai cha
con đều là đệ tử trong giáo phái Nigantha Nataputta; hai người
vốn không có cảm tình với Bụt và giáo đoàn khất sĩ, nhưng
nhờ đức hạnh và sự đằm thắm của Visakha mà hai người
dần dần có cảm tình với Bụt và sau đó không lâu đều
trở nên đệ tử của Bụt. Bà Visakha thường hay đi chùa
với một người bạn gái tên là Suppiya. Bà phát nguyện với
Bụt là sẽ thường xuyên cúng dường thuốc men cho bất cứ
vị khất sĩ và nữ khất sĩ nào đến Savatthi mà bị đau
ốm, sẽ cúng dường áo ca sa và khăn tắm cho tất cả các
vị khất sĩ và nữ khất sĩ nào đến an cư tại Savatthi.
Bà cũng đã triệt để ủng hộ ni sư Mahapajapati trong việc
thiết lập và trang bị một trung tâm tu học cho các vị nữ
khất sĩ bên hữu ngạn sông Ganga gần sát thủ đô Savatthi.
Bà là người hộ trì rất đắc lực cho các vị nữ khất
sĩ, không những về phương diện vật chất mà còn trên phương
diện tinh thần nữa. Bà đã từng can thiệp và hóa giải những
vụ xích mích xảy ra giữa ni chúng trong nữ tu viện.
Trong
một buổi pháp đàm tại giảng đường Lộc Mẫu, các vị
cao đệ của Bụt đã đi tới quyết định quan trọng sau nhiều
giờ đàm luận, quyết nghị đầu là đề nghị thầy Ananda
làm thị giả thường xuyên cho Bụt. Đề nghị thứ hai là
từ nay về sau, cứ tới mùa an cư thì thỉnh Bụt trở về
Savathi.
Đề
nghị đầu là do đại đức Sariputta đưa ra. Đại đức nói:
- Sư
huynh Ananda là người có trí nhớ bền bĩ nhất trong chúng
ta. Trí nhớ của sư huynh thật là lạ lùng, trên trần gian
này không ai bì kịp. Mỗi khi Bụt dạy điều gì mà có mặt
sư huynh Ananda thì những lời Bụt dạy không rơi rớt đi đâu
cả. Khi trùng tuyên lại những điều Bụt dạy thì sư huynh
Ananda trùng tuyên không sót một câu hoặc một tiếng, vì vậy,
nếu được làm thị giả cho Bụt, sư huynh sẽ có dịp nghe
hết những điều Bụt nói, dù là nói cho một đám đông hoặc
là nói cho một người, và sư huynh sẽ ghi nhận được những
điều đó. Lời dạy nào của Bụt cũng quý hóa không cùng,
do đấy chúng ta phải làm đủ mọi cách để gặt hái và
bảo trì tất cả những điều người giáo huấn. Trong hai
mươi năm qua, chúng ta đã dại dột để rơi rớt và mất
mát rất nhiều điều Bụt dạy. Vậy sư huynh Ananda nên vì
chúng ta và vì các thế hệ tương lai mà nhận lấy trách nhiệm
làm thị giả cho Bụt.
Các
vị khất sĩ có mặt trong buổi họp đều tán đồng ý kiến
của đại đức Sariputta. Đại đức Ananda có vẻ ngần ngại.
Đại đức nói:
- Tôi
thấy có nhiều điều bất tiện nếu các sư huynh cử tôi
làm thị giả cho Bụt. Không chắc rằng Bụt đã bằng lòng
cho tôi làm thị giả, nếu chịu khó nhận xét, chắc các sư
huynh cũng đã thấy rằng Bụt đã rất cẩn thận để khỏi
mang tiếng là có con mắt đặc biệt với những người trong
thân tộc Sakya. Đối với nữ khất sĩ Mahapajapati, vốn là
dì mẫu của người mà người cũng rất cứng rắn, còn Rahula
thì từ ngày được làm sa di, không bao giờ chú được ngủ
trong tịnh xá của Bụt hay ngồi ăn cơm riêng với Bụt. Tôi
cũng thế, tôi cũng không bao giờ được Bụt cho thân cận
một cách quá đáng, với lại tôi cũng không dám thân cận
với Bụt một cách quá đáng. Tôi cũng ngại các huynh đệ
nói ra nói vào, cho là tôi thóc mách, và cho rằng vì tôi thóc
mách cho nên Bụt mới thỉnh thoảng gọi các huynh đệ lên
để mà răn dạy.
Nói
tới đó, đại đức ngửng lên nhìn đại đức Sariputta:
- Đối
với sư huynh Sariputta, Bụt có một cái nhìn đặc biệt, bởi
vì sư huynh là người thông minh và tài giỏi vào bậc nhất
trong số chúng ta. Sư huynh đã là một người phụ tá rất
đắc lực cho Bụt trong việc dạy dỗ cũng như trong việc
tổ chức, và cố nhiên là Bụt có đặt niềm tin lớn nơi
sư huynh. Cũng vì vậy mà sư huynh đã bị nhiều huynh đệ
ghen ghét. Tôi thấy khi quyết định có điều gì, Bụt thưòng
hỏi ý kiến của nhiều người, chứ không phải là chỉ hỏi
ý kiến một sư huynh Sariputta. Vậy mà có những huynh đệ
dám nói là những quyết định ấy là những quyết định
của Sariputta chứ không phải thật sự là những quyết định
của Bụt. Làm như Bụt là người không có trí óc suy xét
để đi tới được những quyết định quan trọng. Tôi thấy
đó là một tội tăng thượng mạn rất lớn. Tôi ngần ngừ
không muốn vâng lời các sư huynh là vì thế.
Đại
đức Sariputta cười:
- Tôi
thì tôi không ngại khi có huynh đệ nào hiểu lầm tôi mà
tỏ vẻ ganh ghét. Tôi nghĩ là khi nhận thấy điều gì thật
sự có lợi lạc, mình phải có can đảm làm theo; dù ai nói
ngửa nói nghiêng mình cũng không nên vì vậy mà thối chí.
Sư huynh Ananda! Chúng tôi biết sư huynh là người có ý tứ
lắm, nhưng chúng tôi nghĩ là nếu sư huynh không nhận lời
yêu cầu của anh em thì đạo pháp sẽ rất bị thiệt thòi,
cho thế hệ hiện tại và nhiều thế hệ về sau.
Đại
đức Ananda im lặng hồi lâu không nói gì. Cuối cùng thầy
lên tiếng:
- Tôi
sẽ vâng lời các sư huynh để làm thị giả thường xuyên
cho Bụt, nếu các sư huynh có thể bạch với người chấp
nhận những điều mà tôi yêu cầu sau đây. Thứ nhất là
xin Bụt đừng cho tôi y áo mà người ta cúng dường người.
Thứ hai là xin Bụt đừng cho tôi những thức ăn mà người
ta đem đến cúng dường người. Thứ ba là xin Bụt đừng
cho tôi ở cùng trong một tịnh thất với người. Thứ tư
là xin Bụt đừng cho tôi đi theo khi có một thí chủ thỉnh
người thọ trai. Thứ năm là xin Bụt biết là Bụt có thể
cùng đi với tôi khi tôi được một thí chủ thỉnh tới thọ
trai. Thứ sáu là xin Bụt cho tôi có quyền tiến dẫn hoặc
từ chối những người muốn được diện kiến vói người.
Thứ bảy là con Bụt cho tôi được hỏi lại người mỗi
khi có điều gì người nói mà tôi chưa hiểu. Thứ tám là
xin Bụt lặp lại cho tôi đại ý những bài pháp thoại mà
vì bất đắc dĩ tôi không có mặt để nghe.
Đại
đức Upali góp ý:
- Những
điều sư huynh Ananda đưa ra đều là chính đáng, tôi chắc
những điều ấy sẽ được Bụt chấp nhận. Duy có điều
thứ tư tôi thấy chưa ổn, nếu sư huynh không đi theo Bụt
khi có thí chủ thỉnh Bụt tới thọ trai thì làm sao sư huynh
được nghe những lời Bụt dạy vị thí chủ? Sư huynh không
được nghe thì làm sao sư huynh có thể trùng tuyên lại những
lời ấy cho chúng tôi nghe, trong trường hợp những lời ấy
là những lời mới lạ rất quý báu? Tôi đề nghị như sau:
mỗi khi Bụt được cung thỉnh, ngoài sư huynh ra, nên có một
huynh đệ khác cùng đi, như vậy sư huynh tránh được miệng
thế gian là nhờ nương vào Bụt mà sư huynh thường có thức
ăn ngon.
Ananda
cười:
- Điều
sư huynh nói đó cũng chưa ổn. Trong trường hợp thí chủ
chỉ đủ sức cúng dường cho hai người mà thôi thì sao?
- Thì
hôm ấy Bụt và hai sư huynh ăn ít lại một chút chứ sao.
Các
thầy cùng cười rộ lên một cách vui vẻ. Vấn đề thị
giả giải quyết xong, các thầy bàn tới chuyện thỉnh Bụt
an cư hàng năm tại Savatthi. Savatthi hiện có tới hai tu viện
lớn cho nam giới, tu viện Kỳ Thọ Cấp Cô Độc và tu viện
Lộc Mẫu. Ngoài ra còn có một tu viện cho ni giới. Nên lấy
Savatthi làm căn cứ hành đạo. Ở những vương quốc lân cận
ai muốn gặp Bụt mà không biết người ở đâu thì cứ về
Savatthi trước mùa an cư là tự khắc được gặp. Đó là
cơ hội đồng đều cho tất cả mọi người. Các vị khất
sĩ và nữ khất sĩ từ các quốc gia khác có thể tới Savatthi
an cư mà không gặp trở ngại, vì các đại thí chủ lớn
như Anathapindika và Visakha đã phát nguyện cung cấp thực phẩm,
thuốc men, y áo và chỗ cư trú cho bất cứ vị khách tăng
nào tới đây. Sau khi kết thúc buổi pháp đàm, các thầy cũng
đi đến tìm Bụt tại tịnh thất của người để trình bày
những ý kiến đã được tổng hợp được. Bụt chấp
nhận hai đề nghị của các vị cao đệ một cách hoan hỷ.
Chương
53
AN
TRÚ TRONG HIỆN TẠI
Mùa
Xuân năm sau, tại Kammassadhamma thủ phủ xứ Kuru thuộc vùng
Tây Bắc, Bụt nói kinh Niệm Xứ (Satipatthanasutta) cho một thính
chúng khất sĩ trên ba trăm người. Đây là một kinh rất quan
trọng cho công phu tu tập thiền quán. Bụt nói phép quán niệm
xứ này là con đường có thể giúp mọi người đạt tới
sự thanh tịnh hóa thân tâm, vượt khỏi sầu não, diệt được
khổ ưu, thành tựu được hiểu biết lớn và đạt tới tự
do hoàn toàn. Nghe Bụt dạy xong kinh này, đại đức Sariputta
đã nói với đại chúng rằng đây là một trong những kinh
văn quan trọng vào bậc nhất, và đề nghị tất cả các vị
khất sĩ và nữ khất sĩ ôn tụng kinh này cho thuộc lòng để
mà hành trì theo.
Ngay
tối hôm ấy, đại đức Ananda trùng tuyên lại từng lời
từng tiếng những điều Bụt dạy. Niệm Xứ là an trú trong
chánh niệm. Theo phép tu này người hành giả ý thức được
những gì đang xảy ra trong các lĩnh vực thân thể, cảm giác,
tâm ý và đối tượng tâm ý mình. Ý thức ấy tức là chánh
niệm. Bốn lĩnh vực ấy là bốn lĩnh vực quán niệm.
Trong
lĩnh vực thứ nhất là thân thể, người hành giả quán niệm
về hơi thở của mình, về bốn tư thế của thân thể mình
là đi, đứng, nằm, ngồi, về những động tác của thân
thể mình như đi tới, đi lui, nhìn, mặc áo, ăn, uống, đại
tiểu tiện, nói chuyện, giặt áo ... về những bộ phận của
cơ thể như tóc, lông, răng, gân, xương, thận, tủy, ruột,
nước miếng, mồ hôi, v.v... về những yếu tố tạo nên cơ
thể như nước, sức nóng, không khí, vật thể ... và về
sự tàn hoại của một tử thi từ khi nó trương phồng lên
cho đến khi xương cốt tan thành tro bụi. Quán niệm về thân
thể bằng cách phát khởi ý thức về những hiện tượng
thuộc về thân thể. Ví dụ khi đang thở vào, hành giả biết
là mình đang thở vào; khi đang thở ra, hành giả biết là
mình đang thở ra; khi đang thở vào và làm cho toàn thân an
tịnh, hành giả biết là mình đang thở vào và làm cho toàn
thân an tịnh. Khi đi, hành giả biết là mình đi, khi ngồi
xuống, hành giả biết là mình đang ngồi xuống. Khi làm những
động tác như mặc áo, uống nước, hành giả biết là mình
đang mặc áo, uống nước v.v...
Như
vậy công phu quán niệm về thân thể không phải chỉ được
thực hiện trong lúc ngồi thiền mà phải được thực hiện
suốt ngày, ngay cả những lúc đi khất thực, ăn cơm và rửa
bát.
Trong
lĩnh vực thứ hai là cảm giác, người hành giả quán niệm
về những cảm giác đang phát sinh, tồn tại hoặc tàn hoại
nơi mình, những cảm giác dễ chịu (lạc thọ), khó chịu
(khổ thọ) và những cảm giác trung tính (xả thọ). Những
cảm thọ ấy có thể có nguồn gốc sinh lý hay tâm lý. Quán
niệm cảm giác bằng cách phát khởi ý thức về sự phát
sinh, tồn tại và hoại diệt của những cảm giác ấy. Ví
dụ khi đang bị nhức răng, hành giả biết là mình đang bị
nhức răng, khi đang sung sướng vì được một người khác
khen ngợi, hành giả biết là mình đang sung sướng vì được
một người khác khen ngợi. Hành giả còn quán chiếu để
an tịnh hóa những cảm giác của mình và để thấy rõ nguồn
gốc phát sinh của mọi cảm giác. Công phu quán niệm về cảm
giác, do đó cũng không phải chỉ được thực hiện trong lúc
ngồi thiền, trái lại, đây là một công phu được thực
hiện suốt ngày.
Trong
lĩnh vực thứ ba là tâm ý, người hành giả quán niệm về
những trạng thái tâm lý đang có mặt. Khi có tham dục, biết
là có tham dục, khi không có tham dục, biết là không có tham
dục. Khi có giận hờn, lầm lạc, biết là có giận hờn hay
lầm lạc, khi không có giận hờn hay lầm lạc thì biết không
có giận hờn hay lầm lạc. Khi tâm ý tập trung hay tán loạn,
thì biết là có tập trung hay tán loạn. Những lúc tâm ý mở
rộng, khép kín, có giới hạn, cố định hay có giải thoát
thì hành giả liền biết; không có thì cũng liền biết. Nói
tóm lại, hành giả nhận diện và có ý thức về tất cả
những trạng thái tâm ý có mặt trong giờ phút hiện tại.
Trong
lĩnh vực thứ tư là đối tượng tâm ý, người hành giả
quán niệm về năm trạng thái chướng ngại của giải thoát
(tham đắm, giận hờn, hôn trầm, kích thích và nghi ngờ) mỗi
khi chúng có mặt; về năm yếu tố cấu tạo nên con người
gọi là năm uẩn (thân thể, cảm giác, tri giác, tâm tư và
nhận thức); về sáu giác quan và đối tượng của chúng;
về bảy yếu tố giác ngộ (chánh niệm, trạch pháp, tinh tiến,
hỷ lạc, khinh an, định và hành xả) và về bốn sự thật
là khổ đau, nguyên do của khổ đau, sự giải thoát khổ đau
và con đường thực hiện giải thoát. Tất cả những thứ
ấy đều là đối tượng của tâm ý. Vạn pháp đều bao hàm
trong những đối tượng ấy.
Bụt
chỉ dạy cặn kẽ về từng phép quán niệm trong cả bốn
lĩnh vực. Người dạy tinh chuyên hành trì phép quán này trong
bảy năm thì chắc chắn sẽ đạt được giải thoát. Người
lại nói: có người có thể đạt tới giải thoát trong bảy
tháng, hoặc nội trong bảy ngày, nhờ hành trì phép quán niệm
này.
Trong
một buổi pháp đàm, đại đức Assaji cho biết đây không
phải là lần đầu Bụt dạy về bốn phép lĩnh vực quán
niệm. Người đã dạy nhiều lần phép này rồi, nhưng đây
là lần đầu tiên người tổng hợp lại những gì người
đã dạy về phép tu trong một bài giảng thật đầy đủ,
thật cặn kẽ. Đại đức cũng đồng ý với đại đức Sariputta
là kinh này cần được tất cả các vị khất sĩ học thuộc
lòng để tụng đọc và hành trì.
Trở
về tu viện Jetavana vào cuối xuân năm ấy. Bụt độ được
một tên sát nhân nổi tiếng tên là Angulumala. Một buổi sáng
đi vào thành Savatthi khất thực, Bụt có cảm tưởng đay là
một thành phố chết. Ngoài đường không có bóng người qua
lại. Hai bên đường không có nhà nào mở cửa. Đứng hồi
lâu trước một căn nhà nơi đó người đã từng được cúng
dường, Bụt thấy cửa nhà hé mở, người gia chủ chạy ra
mời Bụt vào. Vào tới nhà, người gia chủ khép cửa và cài
then lại. Người ấy mời Bụt ngồi, và đề nghị với Bụt
ở lại thọ trai, đừng nên đi khất thực nữa:
- Bạch
sa môn, đi ra đường hôm nay nguy hiểm lắm. Người ta cho biết
tên sát nhân Angulimala đã xuất hiện trong thành phố. Nghe
nói nó đã hạ sát rất nhiều người ở nhiều thành phố,
và sau khi hạ sát, nó lại còn chặt ngón tay của người ta
để xâu thành một tràng chuỗi và đeo nó vào cổ. Cũng vì
vậy cho nên người ta đã đặt cho nó cái tên Angulimala. Con
nghe đồn rằng nếu Angulimala giết được đủ một trăm người
và có được một trăm lóng tay đeo vào cổ thì nó sẽ thành
tựu được một quyền lực bùa chú ghê gớm lắm. Có một
điều lạ là nó giết người mà không cướp giật của cải
của bất cứ ai. Con nghe nói là vua Pasenadi đã cho điều động
quân đội và cảnh sát bao vây và truy nã nó.
Bụt
hỏi:
- Tại
sao chỉ có một tên sát nhân mà chính quyền phải huy động
cả binh đội và cảnh sát như thế?
- Bạch
sa môn Gotama, tên sát nhân này ghê gớm lắm. Võ nghệ nó rất
cao cường, có khi ba bốn người đàn ông gặp nó giữa đường
cũng không đủ sức đối địch lại nó. Một số bị nó
hạ sát và số còn lại phải bỏ chạy tán loạn. Angulimala
thường trú ẩn trong rừng Jalini. Lâu nay không ai dám đi qua
rừng này cũng vì thế. Có lần một toán cảnh sát địa phương
có trang bị đủ khí giới đã đi vào rừng để lùng bắt
Angulimala. Toán này có đến hai mươi người. Trong số đó
chỉ có hai người sống sót trở về. Cũng vì vậy khi nghe
tin nó xuất hiện trong thành phố, dân chúng đều kinh hoàng.
Không ai buôn bán làm ăn gì được.
Bụt
cám ơn vị gia chủ đã cho người biết về Angulimala và từ
giã ra đi. Người này có ngăn cản Bụt nhưng không được.
Bụt nói Bụt phải thực hành phép trì bát khất thực như
mọi hôm, để giữ vững niềm tin của mọi người.
Đang
đi thong thả trong chánh niệm, Bụt bỗng nghe tiếng chân một
người chạy đuổi theo ở phía sau. Bụt biết đó là Angulimala
đang chạy theo mình, nhưng Bụt không hốt hoảng. Người vẫn
đi từng bước chậm rãi, an nhiên, ý thức được gì đang
xảy ra trong tâm ý và trong hoàn cảnh của mình, và người
nghe tiếng của Angulimala gọi người từ phía sau lưng vọng
tới:
- Ông
sa môn! Dừng lại!
Bụt
không đứng lại. Bụt vẫn chậm rãi đi. Tiếng bước chân
của Angulimala cho Bụt biết là Angulimala đã ngừng chạy mà
chỉ còn rảo bước theo Bụt. Tuy đã năm mươi sáu tuổi nhưng
thính giác và thị giác Bụt còn bén nhạy lắm và sức khỏe
của Bụt vẫn đầy đủ. Trong tay Bụt chỉ có một chiếc
bình bát mà thôi. Người mỉm cười nhớ lại ngày xưa trong
các võ đường, khi còn là thái tử, người là võ sinh nhanh
nhẹn nhất, và chưa ai chạm được vào người. Bụt biết
Angulimala đã đuổi kịp người, và Angulimala thế nào cũng
có đeo khí giới, nhưng người vẫn ung dung bước.
Angulimala
đã rượt kịp Bụt và hiện đang đi ngang hàng với Bụt.
Bụt nghe anh ta nói:
- Ta
đã bảo ông dừng lại, tại sao ông cứ tiếp tục đi mà
không chịu dừng?
Bụt
vừa đi vừa đáp:
- Angulimala,
ta đã dừng lại từ lâu rồi, chỉ có anh mới chưa chịu
dừng lại mà thôi.
Angulimala,
giật mình. Angulimala nín thinh không nói thêm gì được bởi
vì anh ta quá ngạc nhiên. Ông sa môn này nói cái gì lạ thế.
Ông ta đã dừng lại đâu nào. Rõ ràng là chân ông ta vẫn
còn bước đi, vậy mà ông ta lại nói rằng ông ta đã dừng
lại. Ta phải hỏi cho ra mới được. Nghĩ như vậy, Angulimala
phóng tới phía trước, đứng chận đường đi của Bụt.
Bụt dừng lại. Người đưa mắt nhìn Angulimala. Mắt ngài
chiếu sáng như những ngôi sao. Angulimala chưa bao giờ thấy
ai trầm tĩnh như thế, uy nghiêm như thế và thản nhiên đến
thế. Thường thường ai gặp Angulimala thì nếu không sợ hãi
bỏ chạy cũng mất đi ít nhiều bình tĩnh. Vậy mà ông thầy
tu này lại xem mình như một kẻ không ra gì. Hoặc giả ông
ta chưa biết mình là ai cho nên ông ta không biết sợ chăng?
Không đúng, bởi vì ông ta đã gọi ngay tên Angulimala khi trả
lời câu hỏi của mình. Vậy thì ông ta biết mình là ai rồi.
Biết mình là một tên sát nhân ghê gớm, vậy mà vẫn giữ
được sự điềm đạm, ung dung không hề tỏ một vẻ gì
sợ hãi, lại còn nhìn mình bằng một con mắt thật hiền
hòa. Angulimala cảm thấy mình không đối đầu được cái
nhìn của Bụt. Anh ta cất tiếng hỏi:
- Sa
môn, hồi nãy ông nói ông đã dừng lại rồi, trong khi chân
ông vẫn bước, điều đó có nghĩa là sao? Ông lại nói rằng
tôi chưa chịu dừng lại, điều này có nghĩa là gì? Ông nói
cho tôi nghe đi.
Bụt
bảo:
- Angulimala,
những hành động có thể gây đau khổ cho các loài chúng sanh,
ta đã dừng lại, và dừng lại tự lâu rồi. Ta đã học được
hạnh bảo vệ sự sống, không những của con người mà còn
của tất cả các loài sinh vật. Angulimala, trong các loài sinh
vật, kể cả loài người, loài nào cũng muốn sống, sợ chết;
vì vậy ta phải có lòng thương, đem tình thương ấy mà bảo
vệ sự sống của muôn loài.
Angulimal
la lớn như hét vào tai Bụt:
- Nhưng
loài người có ai thương ta đâu, tại sao ta phải thương loài
người? Loài người là một loài độc ác, gian trá, phản
bội, ta muốn tiêu diệt cho hết mới thỏa được niềm uất
hận của ta.
Bụt
dịu dàng:
- Angulimala,
ta biết rằng anh đã từng khổ đau, va ta biết những kẻ
đã làm khổ anh là những con người. Angulimala, con người
quả có khi rất là độc ác. Ác độc vì si mê, vì hận thù,
vì tham dục, vì ganh tị, nhưng con lại có khi rất hiểu biết
và rất từ bi, Anh đã từng gặp một vị khất sĩ nào chưa?
Vị khất sĩ nào cũng đã phát nguyện bảo vệ sự sống cho
mọi người và mọi loài, vị khất sĩ nào cũng đã phát nguyện
diệt trừ tham dục, hận thù và si mê. Ta biết có nhiều người
không phải là khất sĩ, nhưng vẫn sống theo nếp sống hiểu
biết và thương yêu đó. Angulimala! Anh đừng vơ đũa cả nắm,
ở đời có người ác, nhưng cũng có người hiền. Đạo lý
của ta có công năng chuyển hóa kẻ ác ra kẻ hiền. Hận thù
là con đường nên tránh. Anh đang đi trên con đường ấy.
Nên dừng lại đi thôi. Hãy chọn con đường của tha thứ,
của hiểu biết và của tình thương mà đi.
Angulimala
bị thu hút trong giọng nói đầm ấm mà đầy tình thưong của
vị sa môn. Gan ruột anh như bị ai xé nát và xát muối vào.
Tuy nhiên đây là lần đầu tiên mà anh cảm thấy ấm áp trong
lòng. Người đang đứng trước mặt anh thật sự là vì thương
anh mà nói. Nơi con người này quả không có hận thù, quả
không có sợ hãi, không có sự khinh ghét. Người này đã có
thể nhìn mình như nhìn một con người. Hay chính người này
là sa môn Gotama, là người mà thiên hạ đã ca tụng và tôn
xưng là Bụt? Chắc là đúng như vậy rồi. Chắc là hôm nay
mình gặp người ấy rồi. Angulimala hỏi:
- Thầy
có phải là sa môn Gotama đó không?
Bụt
gật đầu.
Angulimala
nói:
- Rất
tiếc, thầy gặp tôi quá muộn. Tôi đã đi quá xa trên con
đường này rồi, bây giờ có muốn dừng lại cũng không được.
Bụt
bảo:
- Đừng
nói thế, Angulimala, làm một việc lành thì không bao giờ muộn
cả.
- Việc
lành gì đâu nào?
- Dừng
lại trên con đường hận thù và bạo động là việc lành
lớn nhất trên tất cả các việc lành. Angulimala! Biển khổ
tuy mông mênh, nhưng quay đầu lại là tự khắc thấy được
bờ bến.
- Sa
môn Gotama ơi! Bây giờ tôi có muốn quay đầu về cũng không
còn kịp nữa. Người ta sẽ không để cho tôi yên.
Bụt
đưa tay ra nắm lấy tay Angulimala. Người nói:
- Angulimala,
ta sẽ bảo vệ cho anh, nếu anh phát nguyện cải tà quy chánh
và từ nay siêng năng học đạo, sám hối lỗi lầm và bắt
đầu làm những công việc phục vụ cho người. Ta thấy anh
là kẻ thông minh, anh đã hiểu được điều ta muốn nói.
Thế nào anh cũng thành công trong bước đường hướng thiện.
Angulimala
quỳ xuống trước mặt Bụt. Anh đưa tay cởi lưỡi dao to
bản đeo bên lưng, nâng nó lên trên hai tay rồi đặt nó xuống
đất, rồi Angulimala sụp lạy sát đất dưới chân Bụt, ôm
mặt mà khóc nức nở. Một hồi lâu, anh nói:
- Con
xin nguyện từ đây hối cải, bỏ ác làm lành, quyết tâm
theo Bụt để học hạnh từ bi. Cúi xin Bụt chấp nhận con
làm đệ tử của người.
Vừa
lúc ấy các đại đức Sariputta, Ananda, Upali, Kimbila và nhiều
vị khất sĩ khác xuất hiện. Họ bao vây quanh Bụt và Angulimala.
Thấy Bụt an lành và Angulimala đã quy y, mọi người đều
lấy làm mừng rỡ. Bụt dạy Ananda:
- Ananda,
hãy đưa cho ta một bộ y áo. Upali, đại đức hãy làm lễ
xuống tóc cho Angulimala ngay tại đây. Sariputta thầy hãy ghé
vào nhà trước mặt mượn con dao cạo tóc.
Ngay
tại chỗ, Angulimala được làm lễ thế phát, đọc ba lời
quay về nương tựa, tiếp nhận các giới pháp do đại đức
Upali trao truyền. Lễ thế phát cử hành xong, mọi người lập
tức theo Bụt trở về tu viện Jetavana.
Trong
mười hôm liên tiếp, Angulimala được đại đức Upali hướng
dẫn về giới luật và đại đức Sariputta chỉ dạy về giáo
lý và những phép thiền tọa, khất thực, thiền hành. Angulimala
nổ lực học hỏi và thực tập như chưa có ai từng học
hỏi và thực tập như vậy. Nửa tháng sau, khi đến thăm Angulimala
tại tăng xá, Bụt cũng phải ngạc nhiên. Angulimala đã hoàn
toàn lột xác. Bây giờ đây Angulimala đã trở nên một vị
khất sĩ có tướng tụng và dung mạo rất uy nghi và đẹp
đẽ. Bây giờ trong tu viện ai cũng gọi Angulimala là đại
đức Ahimsaka. Tên này vốn là tên thật của Angulimala ngày
trước, có nghĩa là bất bạo động hay bất hại. Svastika
nghĩ rằng danh hiệu này rất hạp với vị đại đức mới,
bởi vì theo Svastika ngoài Bụt không ai có vẻ hiền lành như
thầy Ahimsaka bây giờ.
Sáng
hôm sau, Bụt đi vào thành Savatthi khất thực với khoảng năm
mươi vị khất sĩ, trong đó có đại đức Ahimsaka. Vừa đến
cửa thành, Bụt gặp vua Pasenadi và các tướng lãnh đang điều
động quân đội và cảnh sát. Quốc vương cũng đang mặc
quân phục như các vị chỉ huy quân đội khác, lưng đeo trường
kiếm, ngồi trên lưng ngựa. Thấy Bụt, vua xuống ngựa, tiến
đến vái chào, Bụt hỏi:
- Đại
vương! Có biến cố gì mà đại vương và các vị tướng
soái phải điều động quân đội để đánh dẹp? Có nước
láng giềng nào đang gây hấn ở biên giới chăng?
Vua
đáp:
- Thế
Tôn! Không có nước láng giềng nào định đến đánh chiếm
Kosala cả. Trẫm điều động quân đội và cảnh sát là để
vây bắt tên sát nhân Angulimala. Tên tướng cướp này ghê
gớm lắm. Chưa có một lực lượng nào đã có thể vây bắt
và trừng trị được nó. Trẫm được báo cáo là Angulimala
đã xuất hiện trại thủ đô Savatthi từ hơn nửa tháng nay.
Dân chúng thủ đô đang mất tinh thần mà các lực lượng
cảnh sát vẫn chưa tìm ra được nó.
Bụt
hỏi:
- Tên
sát nhân Angulimala lợi hại đến thế sao?
Vua
đáp:
- Thế
Tôn chưa biết, chứ Angulimala là một mối họa lớn cho mọi
người. Trẫm phải tìm đủ cách để bắt giết cho được
nó. Angulimala là một tên sát nhân vô cùng nguy hiểm.
Bụt
hỏi:
-
Nhưng giả dụ tên sát nhân đó cải tà quy chánh, phát nguyện
suốt đời giữ giới không sát sinh, sống đời xuất gia đạm
bạc, tôn trọng sự sống của muôn người và của mọi loài
chúng sanh khác, thì bệ hạ có cần tìm bắt giết nó nữa
không?
- Thưa
Thế Tôn! Nếu Angulimala mà theo Bụt xuất gia, giữ giới bất
sát, sống đời phạm hạnh thanh cao như các vị khất sĩ ở
đây thì trẫm vui mừng xiết bao! Không những trẫm đã không
bắt giết mà còn tới đảnh lễ và cúng dường y áo, thực
phẩm và thuốc men cho, y như trẫm đã từng cúng dường Thế
Tôn và các vị đại đức ở tu viện Jetavana vậy, nhưng chuyện
này chắc chẳng bao giờ xảy ra đâu, bạch Thế Tôn!
Bụt
đưa tay chỉ vào đại đức Ahimsaka đứng sát sau lưng người
và nói với vua:
- Đại
vương, đây là Angulimala đã được trao truyền giới pháp
xuất gia và đã trở nên một vị khất sĩ sống đời phạm
hạnh từ nửa tháng nay.
Quốc
vương Pasenadi sợ dựng tóc gáy. Bụt nói:
- Đại
vương đừng sợ, khất sĩ Angulimala bây giờ hiền hơn cục
đất. Bây giờ mọi người gọi vị khất sĩ này là đại
đức Ahimsaka.
Vua
nhìn đại đức Ahimsaka trong một giây, và từ từ tiến tới
trước mặt đại đức. Vua chắp tay xá thầy. Vua hỏi:
- Bạch
đại đức, ngài xuất thân từ gia đình nào? Thân phụ ngài
tên gì?
- Tâu
đại vương, thân phụ tôi tên là Gagga, thân mẫu tôi tên
là Mantan!.
- Xin
đại đức Gagga Mantanniputta nhận nơi đây niềm thành kính
của trẫm và xin đại đức cho phép trẫm cúng dường ngài
y áo, thực phẩm và thuốc men.
Đại
đức Ahimsaka đáp lễ:
- Tâu
đại vương, tôi đã có đủ ba y áo; thực phẩm thì mỗi
ngày đều có thí chủ cúng dường trong giờ đi khất thực,
còn thuốc men thì hiện giờ tôi không cần đến, xin tạ ơn
đại vương.
Vua
cúi đầu chào đại đức một lần nữa rồi trở về đứng
trước mặt Bụt. Vua làm lễ Bụt và nói:
- Bạch
đức Thế Tôn, đạo đức của người thật là mầu nhiệm.
Thế Tôn dập tắt được những gì rất khó dập tắt, an
ổn được những gì rất khó an ổn, điều phục được những
gì rất khó điều phục. Những gì không giải quyết được
bằng binh lực và bạo dộng, Thế Tôn đã giải quyết được
bằng đức độ của người. Trẫm xin ghi ơn đức Thế Tôn,
bây giờ trẫm xin từ giã.
Vua
từ giã Bụt và các vị khất sĩ. Ngay sáng hôm đóm các đơn
vị quân đội và cảnh sát được lệnh trở về vị trí
cũ.
Chương
54
THẢN
NHIÊN TRƯỚC CUỘC THỊNH SUY
Chỉ
trong vài hôm, dân chúng ở thủ đô đều hay tin là Angulimala
đã được chế ngự, và ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm,
nhưng điều người ta bàn tán đến nhiều nhất là việc Angulimala
đã cải tà qui chính, xuất gia theo Bụt. Câu chuyện này được
truyền ra trong xứ và còn truyền ra những xứ khác. Uy tín
của Bụt và của giáo đoàn khất sĩ lên rất cao, ở đâu
và lúc nào các vị khất sĩ cũng nhìn bằng con mắt kính trọng.
Uy
thế của giáo đoàn còn lên cao hơn nữa khi mọi người thấy
số trí thức và thanh niên từ các giáo phái từ bỏ giáo
phái mình để theo Bụt càng ngày càng đông. Câu chuyện cư
sĩ Upali thuộc giáo phái Nigantha bỏ giáo phái này để theo
Bụt là một trong những đề tài đàm luận sôi nổi nhất
trong giới tôn giáo và triết học ở Magadha và ở Kosala.
Upali
là một người cư sĩ giàu có và thông minh vào bậc nhất
ở miền Bắc nước Magadha. Ông là người thí chủ lớn nhất
của giáo pháo Nigantha mà người lãnh đạo là giáo chủ Nataputta.
Giáo phái này gồm toàn những du sĩ lõa hình, có rất
đông quần chúng tín mộ. Lúc ấy là mùa Xuân, Bụt cư trú
trong vườn Xoài Pavarika tại Nalanda, miền Bắc nước Magadha.
Một hôm du sĩ lõa hình Digha Tappasi, một cao đệ của giáo
chủ Nataputta, nhân đi khất thực ở Nalanda, đã ghé vào thăm
Bụt để đàm luận về đạo lý. Bụt hỏi thăm và được
vị du sĩ này cho biết rằng giáo phái Nigantha chỉ dùng danh
từ tội báo (dandani) mà không dùng danh từ hành nghiệp (karmani).
Được hỏi về bản chất của tội báo, Digha Tappasi cho biết
là có ba loại: thân tội, khẩu tội, và ý tội.
Được
hỏi loại nào nặng nhất và căn bản nhất, du sĩ nói:
- Tội
của thân là nặng nhất, và là căn bản nhất.
Bụt
cho biết trong đạo lý của người, ý nghiệp là quan trọng
nhất, tại vì ý là căn bản, du sĩ Tappasi buộc Bụt phải
lập lại điều này ba lần để Bụt không thể chối cãi,
và sau đó kiếu từ ra về.
Gặp
lại giáo chủ Nataputta, du sĩ kể lại những chi tiết của
cuộc đàm thoại. Nataputta cười lớn và nói:
- Sa
môn Gotama đã lầm lẫn nghiêm trọng. Tội trong tâm ý và nơi
lời nói chưa phải là tội lớn. Chính những tội do thân
thể gây nên một cách cụ thể mới là quan trọng, và có
ảnh hưởng lâu dài. Du sĩ Tappasi! Thầy đã nắm được yếu
chỉ của đạo pháp ta.
Trong
buổi đàm đạo giữa Nataputta và Tappasi còn có mặt một số
người cư sĩ, trong đó có vị trưởng giả trí thức Upali
và các bạn của ông ta (từ thành phố Balaka đến. Nghe tới
đây, Upali xin tình nguyện đi thăm Bụt để nói cho Bụt biết
là vị sa môn này đã thấy sai khi cho rằng ý nghiệp có tính
cách căn bản hơn thân nghiệp và khẩu nghiệp. Giáo chủ Nataputta
rất muốn cho Upali đi, nhưng du sĩ Tappasi e ngại. Ông sợ Upali
sẽ bị Bụt chinh phục, nhưng giáo chủ Nataputta co đức tin
lớn nơi Upali. Ông nói:
- Đừng
sợ cư sĩ Upali sẽ trở nên đệ tử của sa môn Gotama. Sa
môn Gotama, trái lại có thể trở nên đệ tử của Upali cũng
chưa biết chừng.
Du
sĩ Tappasi cố ngăn nhưng không được. Upali đến thăm Bụt
và cuộc đàm đạo giữa hai người rất là hào hùng. Đây
là lần đầu tiên nhà trí thức này được gặp Bụt. Trong
bảy ví dụ liên tiếp. Bụt chỉ cho Upali thấy ý tội là
căn bản. Bụt biết các du sĩ lõa hình phái Nigantha là những
người có trì giới không sát sinh và biết giữ gìn không
dẫm đạp lên trên các loại côn trùng. Bụt khen ngợi điều
này. Nhưng người hỏi Upali:
- Nếu
không cố ý mà dẫm đạp lên các loại côn trùng thì có phạm
tội không?
Upali
trả lời:
- Giáo
chủ Nataputta bảo rằng nếu không cố tình giết thì không
phạm tội.
Bụt
cười và nói:
- Như
vậy thì giáo chủ Natputta công nhận ý tội là căn bản rồi;
nói thân tội là căn bản sao được nữa?
Upali
rất khâm phục đức độ và tuệ giác của Bụt. Ông thưa
với Bụt là ngay từ đầu Bụt đưa ra, ông đã thấy giáo
chủ giáo phái Nigantha là sai, nhưng ông vẫn cứ gạn hỏi
để Bụt giảng giải thêm nữa. Nghe đến đâu, ông càng thấy
sáng và cuối cùng ông lạy Bụt xin Bụt cho ông làm đệ tử.
Bụt
nói:
- Upali,
hãy nghĩ cho thật kỹ, Một người trí thức có tầm vóc như
ông không thể quyết định một cách vội vã được. Hãy
suy nghĩ cho thật chín chắn.
Upali
lại quý mến Bụt hơn vì câu nói vừa rồi của Bụt. Câu
nói đó chứng tỏ Bụt không ham có thêm đệ tử, dù là một
đệ tử có uy tín lớn trong giới nhân sĩ như ông. Không một
vị giáo chủ nào khi nghe Upali xin vào đạo mà lại còn bảo
Upali nên suy nghĩ cho chín chắn như vị sa môn này. Upali nói:
- Thế
Tôn, con đã suy nghĩ chín chắn lắm rồi. Xin Bụt cho con quay
về nương tựa Bụt, nương tựa Pháp và nương tựa Tăng.
Con rất mừng đã tìm thấy nền đạo lý chân chính, con rất
mừng đã tìm thấy Bụt.
Bụt
nói:
- Cư
sĩ Upali, lâu nay ông là một trong những người bảo trì đắc
lực nhất cho các thầy du sĩ phái Nigantha. Vậy đừng vì theo
tôi mà châm dứt việc cúng dường các thầy bên đó.
Upali
bạch:
- Thế
Tôn thật là cao cả. Thế Tôn thật là rộng lượng. Giáo
chủ phái Nigantha không được như Thế Tôn đâu.
Nghe
tin Upali đã theo Bụt, du sĩ Tappasi đến báo cho giáo chủ Nataputta.
Vị này không tin, Cả hai tìm tới nhà Upali và được chính
Upali cho biết sự thực.
Uy
tín của Bụt và giáo đoàn khất sĩ lên cao, nền đạo lý
mới đã chinh phục được lòng người trong hai nước lớn
và trong các nước kế cận. Có nhiều vị khất sĩ tỏ vẻ
vui mừng khi báo tin này về Savatthi lên Bụt. Bụt nói:
- Đáng
mừng hay không là ở chỗ các thầy có tu học tinh tiến hay
không. Chúng ta không nên vui buồn theo sự thịnh suy. Chúng
ta phải học thái độ thản nhiên trước cái suy cũng như
trước cái thịnh.
Một
buổi sáng, trong khi Bụt và các thầy khất sĩ đang chuẩn
bị lên đường đi khất thực thì có một toán cảnh sát
vào tu viện Jetavana. Họ cho biết là được lệnh đi tìm một
người đàn bà mất tích. Các thầy ai cũng ngạc nhiên, không
biết tại sao đi tìm một người đàn bà mất tích mà lại
tới tu viện nam giới vào một buổi sớm mai. Đại đức Bhaddiya
hỏi người bị mất tích là ai. Cảnh sát bảo là nữ du sĩ
Sundari. Sundari là một tiểu ni xinh đẹp của một giáo phái
lớn có cơ sở ở Savatthi. Mấy tháng nay cô thường hay đến
tu viện để nghe thuyết pháp. Nói là để học hỏi thêm về
các tông giáo khác. Các thầy bảo với cảnh sát là hiện
cô không có ở đây. Nhưng các vị cảnh sát bảo là đã được
lệnh khám xét kỹ lưỡng, Sau một hồi tìm kiếm, họ phát
giác được tử thi của tiểu ni Sundari chôn cất sơ sài trong
đất tu viện, không xa tịnh thất của Bụt là mấy.
Không
ai hiểu được tại sao cô Sundari chết và tại sao thi hài
của cô lại bị chôn ở đất tu viện. Sau khi cảnh sát đưa
xác Sundari đi, Bụt bảo các thầy cứ đi khất thực như thường
lệ, người bảo:
- Quý
vị hãy hết lòng an trú trong chánh niệm.
Ngày
hôm đó, giáo phái của tiểu ni Sundari tổ chức rước thi
hài cô đi ngang qua nhiều đường phố để tụng niệm. Thỉnh
thoảng họ dừng lại để khóc kể. Quần chúng thấy thế
xúm lại gần. Họ phân bua:
- Bà
con cô bác có thấy không? Xác của tiểu ni Sundari đó! Họ
chôn trong đất của tu viện Jetavana! Bà con nghĩ có chán ngán
không? Họ xưng là con cháu dòng họ Sakya, là những người
tu theo phạm hạnh; họ nói từ bi hỷ xả, thế mà họ hãm
hiếp người ta đến chết rồi chôn dấu người ta đi cho
mất tích! Bà con cô bác nghĩ sao?
Dân
chúng ở Savatthi rất hoang mang. Ngay trong số những người
đã được trực tiếp biết Bụt và các vị khất sĩ mà cũng
có người cảm thấy niềm tin lung lay. Những người có tin
vững chải nơi Bụt và nới các vị khất sĩ thì nghĩ rằng
đây là một vụ vu khống. Tuy nhiên họ cũng đau khổ không
kém. Các giáo phái chống đối Bụt nhân cơ hội này ráo riết
tuyên truyền để triệt hạ uy tín của giáo đoàn khất sĩ.
Đến đâu cũng nghe người ta bàn tán về vụ này. Các vị
khất sĩ tới đâu cũng bị chất vấn ráo riết. Họ cố giữ
thái độ trầm tĩnh và an trú trong chánh niệm như Bụt đã
căn dặn, nhưng đối với các vị khất sĩ mới tu và còn
non yếu, việc đương đầu với quần chúng trong vụ tiếng
tăm này là một điều cực kỳ khó khăn. Họ cảm thấy tủi
hổ. Nhiều khi họ không muốn đi vào thành phố để khất
thực nữa.
Bụt
biết được tâm trạng của các vị khất sĩ này. Một buổi
chiều tại giảng đường, người nói:
- Những
chuyện oan ức như thế này có thể xảy ra bất cứ ở đâu
và bất cứ thời nào. Quý vị khất sĩ đừng cảm thấy tủi
hổ. Quý vị chỉ nên cảm thấy tủi hổ khi mình không sống
đời sống phạm hạnh cho xứng đáng mà thôi. Nếu giới luật
được nghiêm trì, nếu đời sống phạm hạnh không có tỳ
vết, thì không việc gì các thầy phải tủi hổ. Dư luận
phát sinh, dư luận tồn tại rồi dư luận sẽ tiêu diệt.
Ngày mai đi khất thực mà có người hỏi, quý vị cứ thẳng
thắn trả lời: “Người nào gây nhân thì người ấy sẽ
chịu quả”. Và chỉ cần nói từng ấy thôi là đủ.
Nghe
Bụt nói thế, các thầy cảm thấy được an ủi rất nhiều.
Trong
khi đó nữ cư sĩ Visakha rất khổ đau. Bà có đức tin trọn
vẹn nơi Bụt và nơi giáo đoàn. Bà biết đây là một vụ
vu khống để bôi nhọ Bụt và giáo đoàn khất sĩ. Ngay từ
hôm nghe được tin này, bà lập tức đi tìm cư sĩ Sudatta.
Hai người đàm luận rất lâu, và cuối cùng họ đồng ý
là phải cho người đi bí mật dò la để tìm ra thủ phạm
của vụ bôi nhọ. Cư sĩ Sudatta đề nghị phải có người
giả trang đi thám thính ngay cả trong nội bộ giáo phái du
sĩ của tiểu ni Sundari. Hai người đến thăm thái tử Jeta
để nhờ thái tử giúp một tay trong việc này.
Chỉ
trong vòng bảy hôm, thám tử đã tìm ra được thủ phạm giết
người. Sau khi nhận tiền thù lao, hai tên giết người này
đã đi ăn nhậu với nhau để chia nhau số tiền được thưởng.
Trong cơn say họ đã cãi lộn với nhau và tiết lộ những
điều bí mật. Cảnh sát hoàng gia đã được phái tới bắt
họ. Các thủ phạm đã thú nhận tất cả tội lỗi và kể
tên những vị lãnh đạo tôn giáo đã thuê họ giết cô Sundari
và chôn dấu tử thi cô gần tịnh thất của Bụt.
Vua
Pasenadi tới tu viện Jetavan thăm Bụt sau khi được báo cáo
về tin này. Vua tỏ ý mừng cho Bụt và cho giáo đoàn vừa
thoát được một tai nạn. Bụt cho vua biết là hận thù và
ganh ghét có thể làm cho con người mù quáng, và xin vua giảm
tội cho các phạm nhân. Người nói những vụ như thế này
có thể xảy ra trong tương lai nếu con người không vượt
thắng được hận thù và ganh ghét.
Chỉ
trong vòng hai hôm sau là tất cả dân chúng trong thủ đô biết
được sự thật về âm mưu bôi nhọ Bụt và giáo đoàn khất
sĩ. Dân chúng thủ đô bắt đầu nhìn các vị khất sĩ trở
lại bằng con mắt thán phục và nhiều kính nể.
Chương
55
ÁNH
MAI VỪA TỎ RẠNG
Một
hôm Bụt và thầy Ananda đi thăm một tu viện nhỏ ở ngoại
thành. Hai người tới tu viện vào giờ các thầy đi khất
thực vắng. Trong khi đi một vòng ở khuôn viên tu viện, hai
người nghe có tiếng rên là trong một am nhỏ. Bước vào am,
Bụt thấy một vị khất sĩ bị ốm đang nằm rên trong xó
nhà. Trong am rất hôi hám, Bụt tiến tới hỏi:
- Khất
sĩ, thầy bị đau ra sao?
- Thưa
Thế Tôn, con bị kiết.
- Không
có ai săn sóc cho thầy sao?
- Các
huynh đệ đi khất thực hết rồi có ai ở nhà đâu? Với
lại ban đầu cũng có mấy huynh đệ tới săn sóc, nhưng con
thấy mình không làm được lợi ích gì cho các huynh đệ mà
cứ bắt các huynh đệ săn sóc cho mình thì tội chết, cho
nên con nói với các huynh đừng tới nữa.
Bụt
bảo thầy Ananda:
- Ananda,
đi kiếm ít nước, chúng ta sẽ rửa ráy cho thầy khất sĩ
này.
Sau
khi Ananda đi lấy nước về, hai thầy trò tắm rửa và mặc
áo sạch cho vị khất sĩ. Rồi hai người đặt thầy lên giường.
Xong xuôi, Bụt và Ananda đi quét rửa trong am cho hết mùi hôi
hám và đem áo quần ra giặt và phơi. Lúc ấy các vị khất
sĩ đi khất thực đã tuần tự trở về. Đại đức Ananda
xin họ đi nấu nước sôi va kiếm thuốc men cho thầy khất
sĩ bị kiết.
Các
vị khất sĩ , vị khất sĩ ngoài tịnh thất kia đau bệnh
gì vậy?
- Bạch
đức Thế Tôn, thầy ấy bị kiết.
- Có
ai săn sóc cho thầy ấy không?
- Bạch
đức Thế Tôn, ban đầu thì chúng con có săn sóc, nhưng sau
đó thầy ấy ngại không cho chúng con săn sóc nữa.
- Này
các vị khất sĩ! Chúng ta đã đi tu và chúng ta không còn được
cha mẹ hoặc bà con săn sóc cho chúng ta mỗi khi đau ốm như
khi còn ở nhà nữa. Vậy nếu chúng ta không săn sóc cho nhau
thì ai sẽ săn sóc cho chúng ta? Chúng ta phải săn sóc cho nhau,
mỗi khi có ai bị đau ốm, dù người ấy là thầy hay bạn
hay học trò thì chúng ta cũng phải săn sóc tận tình cho đến
khi người ấy bình phục hoàn toàn. Này các vị khất sĩ!
Nếu tôi bị đau ốm thì quý vị có săn sóc cho tôi không?
- Bạch
đức Thế Tôn, chúng con chắc chắn sẽ săn sóc cho Thế Tôn.
- Vậy
thì từ nay, khi có vị nào bị ốm đau thì quý vị hãy săn
sóc cho đến khi bình phục. Săn sóc cho vị ấy tức là chăm
sóc cho chính tôi vậy.
Các
vị khất sĩ có mặt đều chắp tay cúi đầu, vâng theo lời
Bụt dạy.
Mùa
hạ năm sau, Bụt an cư tại tu viện Lộc Mẫu ở Savatthi. Năm
nay tại Savatthi, ni sư Mahapajapati cũng lãnh đạo một ni chúng
đông đảo an cư tại tu viện của các vị nữ khất sĩ. Phụ
tá ni sư có ni sư Khema. Ni sư Khemma ngày xưa vốn là một vị
quý phi của vua Bimbisara nước Magadha. Cách đây hai mươi năm,
bà đã được quy y làm học trò tại gia của Bụt. Bà vốn
là người thông minh, nhưng có tính tự hào, nhờ được gặp
Bụt và nghe Bụt thuyết pháp nên bà tỉnh ngộ và bắt đầu
học phép khiêm cung. Sau bốn năm tu học với tính cách một
cư sĩ tại gia, bà đã xin Bụt xuất gia và gia nhập ni chúng
do ni sư Mahapajapati lãnh đạo. Bà tu học rất tinh tiến, và
trong những năm gần đây đã trở nên một trong những vị
lãnh đạo quan trọng của ni chúng. Nữ cư sĩ Visakha thường
cùng các con đi cúng dường và nghe pháp ở nữ tu viện này.
Nam cư sĩ Sudatta cũng đã được bà mời nhiều lần tới cúng
dường và nghe pháp. Tại đây cư sĩ đã được gặp nữ khất
sĩ Khema, nữ khất sĩ Dhammadinna, nữ khất sĩ Utpalavanna và
nữ khất sĩ Palacara. Bà Visakha được biết tường tận về
cuộc đời của các vị nữ khất sĩ này và bà đã kể cho
ông Sudatta nghe lại những điều bà biết.
Một
hôm đến ni viện với một người bạn nam giới cũng có tên
là Visakha, cư sĩ Sudatta được gặp nữ khất sĩ Dhammadinna.
Vị nữ khất sĩ này là một trong những vị giảng sư nổi
tiếng nhất của ni viện. Hai người đã được học hỏi
đạo lý với vị ni sư này. Ni sư đã giảng giải cho cả
hai vị cư sĩ rất rành rẽ về những yếu tố tạo nên con
người là năm uẩn, tức là sắc, thọ, tưởng, hành và thức,
và về con đường của tám sự hành trì chân chính gọi là
bát chánh đạo. Cư sĩ Visakha rất ngạc nhiên khi thấy kiến
thức thâm uyên của ni sư về đạo lý tỉnh thức. Ông về
tu viện Kỳ Thọ và đem tất cả những điều ni sư giảng
dạy bạch lại với Bụt, Bụt nói:
- Visakha,
nếu ông hỏi ta, thì ta cũng sẽ trả lời như nữ khất sĩ
Dhammadinna không khác. Ông nên biết là qua bài pháp mà ông
được nghe, nữ khất sĩ Dhammadinna đã nắm rất vững đạo
pháp giải thoát và giác ngộ.
Nói
xong, Bụt quay lại đại đức Ananda và bảo:
- Ananda,
thầy nên trùng tuyên lại cho đại chúng nghe bài pháp của
ni sư Dhammadinna. Bài pháp này là một bài pháp quan trọng.
Bên
cạnh ni sư Dhammadinna, còn có ni sư Bhaddha Kapilani là một vị
nữ khất sĩ cũng nổi tiếng thông tuệ về giáo lý. Hai ni
sư này thường được các giới cư sĩ thỉnh cầu đến thuyết
pháp tại nhiều địa điểm trong xứ.
Câu
chuyện về nữ khất sĩ Patacara là một câu chuyện rất thương
tâm; Patacara là con gái một người rất giàu có ở Savatthi.
Bố mẹ của Patacara giữ con kỹ lắm, không bao giờ cho con
gái đi ra ngoài đường. Cả ngày Patacara bị nhốt trong nhà
và vì thế không được gặp ai. Đến tuổi dậy thì, cô đem
lòng thương một người con trai giúp việc trong nhà. Bố mẹ
của cô hoàn toàn không hay biết gì về điều này. Họ sắp
đặt để gã cô cho một chành trai, con của một nhà phú hộ
khác. Hoảng kinh, cô bàn tính với người yêu bỏ nhà đi trốn.
Rạng sáng ngày cưới, cô hóa trang làm con ở đi gánh nước
và thoát ra khỏi nhà. Qua bến đò, cô gặp người yêu. Hai
người đi trốn đến một nơi thật xa và cưới nhau. Ăn ở
với nhau được ba năm thì cô có mang. Gần đến ngày sinh
con, cô đòi chồng đưa về nhà cha mẹ để sinh, theo tục
lệ xứ cô. Chồng cô sợ ông bà nhà phú hộ lắm, nhưng vì
vợ cương quyết quá nên anh bất đắc dĩ phải đưa vợ về.
Nhưng khi về đến nửa đường thì cô lâm bồn và sinh được
một cháu bé con trai. Việc trở về nhà cha mẹ vì thế không
còn cần thiết nữa. Hai vợ chồng liền quay về nơi sinh sống
cũ.
Hai
năm sau, cô lại có mang, và cô lại ép chồng đưa cô về
quê để sinh đẻ. Nhưng lần này họ rủi ro quá. Giữa đường
họ gặp một trận bão lớn. Cô lại muốn lâm bồn. Người
chồng bảo vợ ngồi xuống bên đường chờ đợi, để anh
ta vào rừng đốn cây bẻ lá về che thành một túp lều tạm,
Patacara đợi mãi không thấy chồng về. Nửa đêm cô sinh ra
một đứa bé con trai, trong lúc trời vẫn mưa vẫn gió. Sáng
hôm sau, khi bão tạnh, Patacara tay ôm đứa be sơ sinh tay dắt
đứa bé chưa đầy ba tuổi đi vào rừng tìm chồng. Cô thấy
chồng nằm chết trong rừng. Hôm qua trong khi đốn củi, anh
ta đã bị một con rắn độc cắn và nằm chết ngay tại chỗ,
Patacara khóc than thảm thiết, rồi cô ẵm dắt con ra đi, tìm
về nhà cha mẹ. Cô đi mãi cho đến khi gặp một dòng sông.
Mực nước sông lên cao vì mưa gió đã kéo dài hơn một đêm
một ngày. Không biết làm sao, cô mới đặn đứa con ba tuổi
đứng chờ cô bên này sông để cô ẵm đứa bé sơ sinh sang
bên kia sông trước. Bằng hai tay, cô nâng đứa bé lên quá
đầu và lội qua sông. Tới giữa dòng, một con chim ưng sà
xuống và cắp đứa bé bay đi. Patacara hoảng hốt la lớn lên
để con chim ưng sợ mà buông đứa bé. Ai ngờ tiếng kêu của
co vọng tới sang bờ phía sau, và em bé ba tuổi, tưởng mẹ
gọi mình, vội vã lội xuống nước chạy theo. Con chim ưng
cắp đứa bé sơ sinh bay xa rồi, Patacara không làm gì được
nữa. Ngoái nhìn lại bờ bên nọ cô thấy đứa con trai ba
tuổi của cô đã lội xuống nước. Hoảng kinh, Patacara la
lên và nhoài mình trở về bờ bên nọ để cứu con, nhưng
chậm mất rồi, đứa bé đã bị dòng nước cuốn đi mất.
Qua
tới bờ bên kia, Patcara kiệt sức. Cô không còn khóc được
nữa. Cô nằm trên bờ sông lâu lắm mới lấy lại được
chút sức lực. Rồi cô tìm đường lần hồi về Savatthi.
Về
tới Savatthi cô được tin là ngôi nhà của cha mẹ cô đã
bị trận bão ngày hôm kia xô ngã và cả bố lẫn mẹ của
cô đều bị đè chết trong ngôi nhà sụp đổ. Ngày hôm cô
về tới là ngày người ta đưa xác ông bà lên giàn hỏa.
Chưa
bao giờ mà nhiều biến cố khổ đau dồn về một lúc trên
một con người như thế. Patcara ngã qụy bên lề đường.
Cô không còn muốn sống nữa. Những người qua đường ghé
lại thăm hỏi và đưa cô về tu viện Jetavana gặp Bụt. Bụt
nhờ các vị nữ cư sĩ đưa Patacara đi tắm rửa và lấy áo
quần khô và sạch cho Patacara mặc. Rồi người ngồi chăm
chú nghe Patacara kể lại chuyện mình. Bụt an ủi:
- Con
đã gặp quá nhiều tai nạn và rủi ro. Nhưng cuộc đời không
phải chỉ có khổ đau và tai nạn. Con hãy học theo pháp giác
ngộ để có thể mỉm cười với chính những khổ đau của
mình và để tạo an lạc cho hiện tại và cho tương lai.
Patacara
lạy Bụt xin quy y với người. Bụt cho vời ni sư Maha japati
tới. Người gửi gắm Patacara cho ni sư. Chiều hôm đó, Patcara
theo ni sư về ni viện. Sau một thời gian tập sự, Patacara
được thọ giới làm nữ khất sĩ. Patacara được ni trưởng
và các ni sư trong viện thương yêu lắm. Sau mấy năm tu học,
Patacara đã tìm lại được nụ cười. Một hôm trong khi múc
nước rửa chân, thấy những dòng nước theo hai chân chảy
xuống và thấm vào lòng đất, nữ khất sĩ Patacara ngộ được
lý vô thường. Suốt mấy đêm liền, cô thực tập thiền
quán bằng hình ảnh ấy. Một buổi sáng nọ, Patacara chứng
nghiệm được nguyên tắc sinh diệt. Cô đọc lên mấy câu
thơ:
Hôm
nọ đang rửa chân
Tôi
thấy dòng nước chảy
Nước
thấm vào lòng đất
Tôi
hỏi: nước về đâu?
Thiền
quán trong tĩnh lặng
Tôi
nắm giữ thân tâm
Như
một con tuấn mã
Tôi
quán sát lục trần
Ngồi
nhìn ngọn đèn dầu
Tôi
đi vào phép quán
Thời
khắc trôi qua mau
Lửa
đèn còn chiếu sáng
Lấy
cây tăm khêu bấc
Tôi
dìm bấc xuống dầu
Ánh
đèn bỗng phụt tắt
Tất
cả chìm đêm sâu
Ngọn
lửa về Niết bàn
Nhưng
hồn tôi chợt sáng
Tâm
được cởi trói rồi
Ánh
mai vừa tỏa rạng.
Nữ
khất sĩ Patacara được gặp ni trưởng Mahajapati sáng hôm ấy.
Cô trình lên bà bài thơ và rất được bà khen ngợi.
Nữ
khất sĩ Uppalavanna được xuất gia là nhờ công tiến dẫn
của đại đức Moggallana. Vị ni sư có dung quang rất mỹ lệ,
dù bà đã cạo đầu mặc áo khất sĩ. Bà tu học tinh tiến
lắm và cũng là một trong những người phụ tá giỏi của
ni trưởng Pajapati.
Một
hôm đi qua công viên thành phố, đại đức Moggallana gặp người
thiếu phụ nhan sắc mặn mà đang đứng chặn đường người.
Đó là Uppalavanna, lúc ấy là một hoa khôi trong giới thương
nữ. Người đời gọi cô là Liên Hoa Sắc vì cô có sắc đẹp
và sư tươi mát của một bông hoa sen xanh. Đại đức Moggallana
nhìn thẳng vào mặt người phụ nữ này và biết ngay đây
là một người mà tâm hồn chứa chất rất nhiều u uẩn khổ
đau. Đại đức nói:
- Cô
có hình dáng xinh đẹp, cô lại có bề ngoài trang phục lộng
lẫy, nhưng tôi biết bên trong cô là một người đầy khổ
đau và mặc cảm. Nghiệp chướng cô nặng nề lắm và cô
đang càng ngày càng sa vào con đường lầy lội. Cô nên thức
tỉnh càng sớm càng hay.
Uppalavanna
hoảng kinh thấy vị khất sĩ nhìn thấu nội tâm mình, nhưng
cô vẫn giữ vẻ bình thản. Cô nói:
- Có
thể là đại đức nói đúng, nhưng tôi không có con đường
nào khác hơn.
Thầy
Moggallana nói:
- Tại
sao cô lại bi quan như thế? Dù quá khứ có sao đi nữa, ta
vẫn có thể chuyển hướng và xây dựng cho tương lai. Áo
quần dơ bẩn thì ta dùng nước sông để giặt giũ. Thân thể
dơ bẩn thì ta tắm gội. Tâm tư vẫn đục và chán chường
thì ta lấy nước giải thoát mà gạn lọc. Bụt dạy: ai cũng
có khả năng tỉnh thức và thanh tịnh hóa thân tâm của mình.
Uppalavanna
sa nước mắt:
- Nhưng
cuộc đời của con đầy dẫy tội lỗi, con sợ Bụt cũng
không cứu được con nữa là đại đức.
Vị
khất sĩ mỉm cười:
- Không
sao đâu, cô cứ kể tự sự cho tôi nghe đi.
Uppalavanna
thuật lại rằng nàng là con gái của một nhà triệu phú.
Nàng lấy chồng năm mười sáu tuổi. Sau ngày cha chồng nàng
mất, mẹ chồng của nàng lại ăn nằm với chính chồng của
nàng. Lúc đó Uppalavanna đã sinh được một đứa con gái.
Chứng kiến cảnh loạn luân ấy, cô bỏ nhà ra đi, bỏ luôn
đứa con gái lại. Mấy năm sau, cô gặp một thương gi