Chương
46
NẮM
LÁ SIMSAPA
Tu
viện Trúc Lâm (Venuvana) ở Rajagaha, tu viện Trùng Các (Kutagarasala)
ở Vesali và tu viện Kỳ Đà Cấp Cô Độc (Jetavana) ở Savathi
đã trở nên ba trung tâm hành đạo và hoằng pháp lớn. Các
vị khất sĩ đã tạo lập những trung tâm tu học khác rải
rác trong các vương quốc Magadha, Kosala và những vương quốc
nhỏ kế cận. Hình bóng những vị khất sĩ áo vàng khoan thai
và tĩnh lặng xuất hiện khắp nơi. Đạo lý tỉnh thức đã
được truyền bá đi mọi nơi chỉ sau sáu năm hành hóa của
Bụt. Mùa an cư thứ sáu, Bụt cư trú trên núi Makula. Mùa an
cư thứ bảy người ẩn cư một mình trên núi ở Samkasya,
mãi trên vùng thượng lưu sông Ganga. Mùa an cư thứ tám người
cư trú tại Sumsumaragira ở xứ Bhagga và vào mùa an cư thứ
chín người về cư trú tại Kosambi. Kosambi là một thị trấn
thuộc vương quốc Vamsa nằm trên tả ngạn sông Jamuna, nơi
đây đã có một trung tâm tu học quan trọng. Tu viện nằm
trong một khu vườn ở Rừng Lớn gọi là Ghosira. Vào mùa an
cư thứ chín các thầy lớn như Mahakassapa, Mahamoggallana , Sariputta
và Mahakaccana không có mặt bên Bụt ở tu viện Ghosira tại
Kosambi, nhưng thầy Ananda vẫn được kề cận Bụt. Chú Rahula
cũng không có mặt, vì chú phải theo học với thầy Sariputta.
Các khu rừng quanh tu viện đầy những cây simsapa, và Bụt
ưa vào tĩnh tọa trong rừng vào những buổi trưa khi trời
nắng gắt. Một buổi chiều từ rừng về, Bụt cầm trong
tay một nắm lá simsapa. Người đưa nắm lá lên và hỏi các
vị khất sĩ có mặt:
- Các
vị khất sĩ! Lá trong tay tôi nhiều hay lá trong rừng nhiều?
Các
vị khất sĩ đáp:
- Lá
trong tay Bụt thì ít mà lá trong rừng thì nhiều.
Bụt
nói:
- Cũng
như
thế đó, các vị khất sĩ! Những điều tôi biết do sự thực
chứng thì nhiều, nhưng những điều tôi đem ra dạy quý vị
thì ít. Tại sao thế? Tôi chỉ muốn trình bày cho quý vị
những gì thực sự có ích lợi cho công trình tu tập của
quý vị mà thôi ...
Bụt
nói như thế, vì độ ấy trong giới các vị khất sĩ có nhiều
người có khuynh hướng muốn đi vào những vấn đề siêu
hình không thiết thực mấy đối với sự tu học. Mấy tháng
trước ở Savathi, Bụt đã khuyên thầy Malunkyaputta về việc
không nên để tâm trí vướng bận vào những vấn đề không
thiết yếu cho sự tu học. Thầy Malunkyaputta lúc đó thường
hay hỏi Bụt những câu hỏi thuộc phạm vi siêu hình, nhưng
Bụt từ chối không trả lời. Ví dụ thầy hỏi: Vũ trụ
này là hữu biên hay vô biên? Hữu hạn hay vô hạn. Một hôm
thầy không chịu đựng sự im lặng của Bụt được nữa.
Thầy quyết định đi gặp Bụt để ép Bụt phải trả lời
những câu hỏi của thầy. Thầy tự bảo là lần này nếu
Bụt từ chối thì thầy sẽ xin xả giới không tu theo người
nữa. Thầy đi gặp Bụt và nói:
“Nếu
Thế Tôn chịu trả lời những câu hỏi của con thì con sẽ
nguyện tiếp tục theo học với người. Nếu không, con sẽ
xin từ bỏ giáo đoàn khất sĩ. Nếu quả thật người biết
vũ trụ là hữu biên hay vô biên, thì xin người cứ nói ra,
còn nếu người không biết thì người cứ nói thẳng là người
không biết”.
Bụt
nhìn thầy Malunkyaputta:
- Hồi
thầy xin đi xuất gia, tôi có hứa với thầy là sẽ giảng
giải cho thầy về những câu hỏi như thế không? Tôi có nói:
“Này Malunkyaputta, anh cứ xuất gia đi, rồi tôi sẽ dạy cho
anh về những vấn đề siêu hình” không?
- Bạch
Thế Tôn , không.
- Vậy
sao bây giờ thầy lại đặt điều kiện với tôi? Alunkyaputta!
Ví như có một người nọ bị trúng một mũi tên có tẩm
thuốc độc. Bà con mời ông thầy thuốc tới để nhổ mũi
tên ra, bôi thuốc vào và cho uống thuốc trừ độc, nhưng
người bị trúng tên không cho ông thầy thuốc đụng vào vết
thương mình. Người ấy nói: “Khoan đã, trước khi chữa
trị tôi muốn biết ai là kẻ đã bắn mũi tên này, tên họ
người đó là gì, mấy tuổi, ở đâu, làm nghề nghiệp gì,
thuộc giai cấp nào, vì cớ sao mà bắn tôi. Tôi cũng muốn
biết loại cung bắn này là loại cung nào và chất độc nó
dùng là thứ chất độc lấy từ đâu”. Malunkyaputta, người
bị thương sẽ chết trước khi anh ta tìm hiểu được hết
những điều đó. Người đi xuất gia cũng vậy, những điều
mà người xuất gia phải biết và phải hành là những điều
căn bản mà tôi đã và đang dạy các thầy, còn những điều
khác vì không có ích lợi thực tế cho sự tu học và hành
trì để đi đến giải thoát cho nên tôi không nói tới.
Này
Malunkyaputta, thầy phải biết điều này: dù vũ trụ là hữu
biên hay vô biên, hữu hạn hay vô hạn thì thầy cũng phải
công nhận điều này: có những đau khổ trong cuộc đời,
những đau khổ đó có nguyên do và ta có thể quán chiếu các
nguyên do ấy mà tìm cách làm cho cuộc đời bớt khổ. Những
điều tôi dạy quý thầy có thể giúp quý thầy đạt tới
sự buông bỏ, vô dục, thanh tịnh và giải thoát, còn những
điều không thiết thực cho việc tu học thì tôi từ chối
không nói tới.
Đại
đức Malunkyaputta nghe Bụt nói rất lấy làm hối hận. Thầy
đã xin sám hối Bụt về tội đã dám ra điều kiện cho người.
Bụt
thường khuyến khích các vị khất sĩ gia công tu học và tránh
những cuộc luận đàm có tính cách lý thuyết suông. Người
gọi những lý thuyết suông không ích lợi gì cho sự tu học
lấy là hý luận. Trong số các thầy ở Kosambi, có những thầy
rất ưa hý luận và cũng vì lẽ ấy Bụt đã đem tặng cho
họ một nắm lá simsapa.
Tại
Kosambi, có một thí chủ lớn tên là Ghostra. Vị thí chủ này
đã cúng dường rừng cây của mình để làm tu viện cho tăng
đoàn, gọi là tu viện Ghostra. Ngoài ra ông còn bảo trợ thành
lập thêm hai trung tâm tu học cho các vị khất sĩ nữa: đó
là tu viện Kukuta và tu viện Pavarikambavana. Tu viện thứ tư
trong vùng là tu viện Badarika.
Quốc
vương Udayana không có cảm tình nhiều với Bụt, nhưng thái
tử Bodhi trị vì xứ Bhanga lại là một người sùng kính Bụt
đúng mức. Tại xứ Bhanga Bụt và giáo đoàn đã từng được
thái tử Bhhodi đón tiếp rất nồng hậu.
Tại
Kosambi, cũng như tại các trung tâm tu học khác, có một số
các vị kinh sư, nghĩa là những thầy chuyên về sự giảng
dạy và ôn tụng các lời Bụt dạy. Những lời Bụt dạy
trong gần mười năm qua được kết tập và ôn tụng dưới
những đề mục gọi là sutra. Sutra là kinh. Ví dụ kinh Chuyển
Pháp Luân là bài giải đầu tiên mà Bụt nói tại vườn Nai
phía Bắc thành phố Baranasi cho năm vị khất sĩ đầu. Các
kinh như kinh Vô Ngã Tướng, kinh Nhân Duyên, kinh Bát Chánh Đạo
đều được học thuộc lòng và được ôn tụng mỗi nửa
tháng. Ngoài các vị kinh sư còn có các vị luật sư, chuyên
lo trì tụng về giới luật. Người tập sự xuất gia thì
có giới luật của người xuất gia. Những những chưa đến
tuổi hai mươi như chú Rahula thì chưa được thọ giới khất
sĩ, mà chỉ được thọ giới sa di.
Năm
ấy ở Kosambi đã xảy ra một vụ tranh chấp giữa một vị
kinh sư và một vị luật sư tại tu viện Ghostra. Nguyên do
vụ tranh chấp thật là bé nhỏ nhưng vì lòng tự ái của
một số các thầy khất sĩ mà vụ tranh chấp đã gây nên
chia rẽ trầm trọng trong đại chúng. Vị kinh sư này vì vô
ý đã không đổ nước trong chậu sau khi sử dụng. Vị luật
sư cho đó là phạm luật. Vị kinh sư nghĩ là vì không cố
tình cho nên mình không có lỗi. Nguyên do vụ tranh chấp chỉ
có thế, nhưng đệ tử của hai vị ai cũng bênh vực thầy
mình và nói bên đối phương và sai lầm. Cuộc tranh chấp
vì thế mà leo thang. Bên này bắt đầu nói bên kia là vu khống.
Bên kia bắt đầu nói bên này là vọng ngữ. Cuối cùng vị
luật sư tuyên bố giữa đại chúng là vị kinh sư phạm giới,
và nếu không sám hối thì vị này sẽ không được phép tham
dự các buổi bố tát tụng giới hàng nửa tháng.
Tình
trạng trở nên căng thẳng. Hai bên nói qua nói lại. Những
lời qua lại này cũng tai hại như những mũi tên độc. Các
vị khất sĩ chia thành hai phe. Cũng may là có một số các
vị khất sĩ không chịu theo phe nào. Họ than thở với nhau:
“Chết mất, chết mất! thế nào cũng có chia rẽ trầm trọng
trong giáo đoàn".
Trong
khi đó, Bụt vẫn chưa hay biết gì, tuy người đang an cư ở
một tịnh xá sát bên tu viện. Một số các vị khất sĩ đi
tìm Bụt và trình lên người hiện tình của đại chúng, và
cầu Bụt can thiệp. Bụt liền đi tìm vị luật sư. Người
nói:
- Chúng
ta không nên quá tin ở quan điểm riêng của chúng ta. Chúng
ta phải lắng nghe và tìm hiểu quan điểm của người bên
kia. Chúng ta phải làm mọi cách để tránh sự chia rẽ trong
đại chúng.
Rồi
Bụt đi tìm vị kinh sư. Người cũng nói với vị kinh sư những
lời mà người đã nói vị luật sư, hy vọng hai người sẽ
đi tới hòa giải. Sau đó người trở về tịnh xá.
Nhưng
cuộc can thiệp của Bụt không có hiệu quả. Cả hai bên vì
lời qua lẽ lại đều đã bị thưong tích trầm trọng. Các
vị khất sĩ đứng ở giữa không đủ sức để giàn xếp
một cuộc hòa giải. Nội vụ được chuyền tới tai giới
đệ tử tại gia và chẳng bao lâu các giáo phái bên ngoài
đều biết tới. Uy tín của đoàn thể khất sĩ bị thương
tổn nặng. Đại đức Nagita thị giả của Bụt thấy thế,
không chịu nổi nửa. Thầy lại đem nội vụ trình lên Bụt
và cầu cứu Bụt tới can thiệp một lần nữa.
Bụt
khoác áo và tới thẳng thính đường của tu viện. Người
bảo đại đức Nagita thỉnh chuông triệu tập đại chúng.
Khi mọi người đã tụ họp đầy đủ, Bụt nói:
- Xin
các thầy hãy chấm dứt việc tranh chấp và cãi cọ. Xin quý
thầy hãy chấm dứt tình trạng chia rẽ trong nội bộ giáo
đoàn. Xin trở về với sự tu học. Nếu chúng ta tu học thật
sự thì chúng ta không còn là nạn nhân của tự ái, giận
hờn và chia rẽ nữa.
Một
vị khất sĩ đứng lên, bạch:
- Thế
Tôn, xin Thế Tôn đứng ra ngoài vụ tranh chấp này. Xin người
cứ an trú trong niềm vui tịnh lạc của thiền định. Đây
không phải là việc của người. Chúng tôi đã lớn: chúng
tôi có thể tự mình giải quyết vụ này được, không cần
đến Thế Tôn.
Vị
khất sĩ nói xong, mọi người đều im lặng. Bụt cũng im lặng.
Một lát sau, người đứng dậy, rời bỏ thính đường. Người
trở về tịnh xá lấy bình bát và áo, rồi người một mình
đi vào Kosambi để khất thực. Khất thực xong, người vào
rừng một mình để thọ trai. Thọ trai xong người đứng dậy,
ôm y bát từ bỏ thành phố Kosambi, hướng về phía bờ sông
mà đi. Không ai được phép đi theo người, kể cả thầy thị
giả, kể cả đại đức Ananda.
Bụt
đi lần hồi tới thị trấn Balakalonakaragama. Tại đây người
gặp một vị đệ tử là đại đức Bhagu. Thấy Bụt, đại
đức rất vui mừng, đại đức rước Bụt vào một cụm rừng,
mời Bụt ngồi rồi đi tìm nước và khăn cho Bụt rửa mặt
và tay chân. Bụt hỏi thăm về sự tu học của thầy Bhagu.
Thầy nói thầy rất an lạc ở đây, dù thầy ở có một mình.
Bụt nói:
- Ở
một mình đôi khi mà khỏe hơn là ở với nhiều người.
Sau
khi giảng dạy thêm giáo lý và khích lệ đại đức Bhagu về
sự tu học, Bụt từ giã thầy để đi về phía công viên
Đông Trúc cách đó không xá. Bước vào công viên, Bụt bị
người cai vườn ngăn lại, ông ta nói:
- Sa
môn, ông đừng đi vào trong công viên, sợ làm rộn các vị
đang tu hành trong ấy.
Bụt
chưa biết nói sao thì từ trong công viên đại đức Anuruddha
đi ta. Thầy vái chào Bụt và nói người cai vườn:
- Đó
là thầy của chúng tôi đấy, xin ông cứ để cho người vào.
Rồi
đại đức đưa Bụt vào phía trong công viên. Ở đây, Bụt
gặp thêm hai vị khất sĩ khác: đại đức Nandiya và đại
đức Kimbila. Hai người được gặp Bụt rất mừng. Thầy
Nandiya nâng bát cho Bụt, còn thầy Kimbila thì nâng áo sanghati
của người. Họ sắp chỗ ngồi cho Bụt bên một bụi tre
vàng. Họ đem nước và khăn tới cho Bụt rửa mặt và rửa
chân. Rồi cả ba thầy chắp tay làm lễ Bụt. Bụt bao ba thầy
ngồi xuống bên cạnh:
Người
hỏi:
- Các
thầy ở đây có được an tịnh không? Sự tu học có thuận
lợi không? Việc khất thực hành hóa có dễ dàng không?
Thầy
Anuruddha đáp:
- Bạch
thầy, chúng con ở đây rất an ổn. Ở đây khung cảnh rất
an tịnh. Việc khất thực và hành hóa cũng dễ dàng. Chúng
con đã đạt được nhiều tiến bộ trong sự tu học.
Bụt
hỏi:
- Các
thầy có thương mến nhau và hòa hợp với nhau không?
- Thưa
Thế Tôn, chúng con rất thương mến nhau. Chúng con hòa hợp
với nhau một cách dễ dàng như nước với sữa. Riêng con,
được sống với hai huynh Kimbila, và Nandiya là một điều
may mắn lớn cho đời con. Con trân quý tình bằng hữu này
lắm. Mỗi khi con nói hay con làm một điều gì, dù là khi hai
huynh không có mặt, con cũng nghĩ đến hai huynh. Con tự hỏi
con: nói như thế và làm như thế thì hai huynh có vừa ý không?
Nếu con có một chút nghi ngờ rằng lời nói và việc làm
ấy có thể làm cho hai vị phật ý là con nhất định không
nói và không làm. Thưa Thế Tôn, chúng con tuy là ba người
mà cũng như là một.
Bụt
gật đầu ưng ý. Người nhìn hai thầy kia. Thầy Kimbila nói
với Bụt:
- Điều
sư huynh Anuruddha nói đó là sự thật. Chúng con rất hòa hợp
với nhau và rất thương mến nhau.
Thầy
Nandiya nói:
- Chúng
con biết chia xẻ cho nhau đồng đều mọi thứ. Từ chỗ ăn
ngủ cho đến kiến thức và kinh nghiệm, chúng con đều sẵn
lòng chia xẻ cho nhau.
Bụt
khen:
- Tốt
lắm! Tôi rất hài lòng khi thấy các thầy ăn ở với nhau
như vậy. Có sự hòa hợp đó, một đoàn thể tu học mới
thật sự là một đoàn thể tu học. Các thầy đã thật sự
tỉnh thức cho nên quý thầy mới thực hiện được sư hòa
hợp đó.
Bụt
ở lại với ba thầy một tháng. Người nhận xét như sau:
Buổi
sáng sau giờ thiền tọa, ba thầy cùng đi khất thực một
lần. Khất thực xong, vị nào về trước thì đi sắp đặt
chỗ ngồi đi lấy nước uống, nước rửa và một cái chậu
sạch để sẵn tại đó. Xong rồi vị ấy mới đi rửa mặt,
rửa chân, và ngồi xuống để quán niệm và thọ trai. Trước
khi thọ trai, vị ấy san bớt thức ăn trong bát vào chiếc
chậu sạch. Thức ăn này là để dành cho vị khất sĩ nào
không xin được đủ một phần ăn. Khi các vị kia về, thì
nước rửa và nước uống đã có sẵn. Họ khì phải đi xách
nước. Họ chỉ cần ngồi xuống rửa tay, rửa mặt và rửa
chân trước khi ngồi xuống thọ trai. Sau khi thọ trai và uống
nước, cả ba người cùng đi dọn dẹp. Nếu thức ăn trong
chậu còn dư, họ đem đổ ở một khoảng đất không có cây
cỏ, hoặc đổ xuống nước nơi không có loài vật nào đang
sống. Họ cùng rửa và cùng úp các chậu lại. Ai thấy bình
nước uống hết nước thì đi lấy thêm. Ai thấy vại nước
rửa lưng đi thì đi xách nước thêm. Ai thấy cầu tiêu không
được sạch thì đi chùi rửa. Việc gì cần hai hoặc ba người
mới làm nổi thì họ đâu vai chung sức lại. Họ không cần
bàn cãi gì hết về công việc hàng ngày. Cứ mỗi năm ngày
họ ngồi lại một lần để cùng học hỏi giáo lý và trao
đổi kinh nghiệm tu tập.
Trước
khi từ giã ba thầy, Bụt nói:
- Các
thầy, bản chất của một tăng đoàn (sangha) là sự hòa hợp.
Theo tôi, ta có thể minh định sự hòa hợp như sau:
- Thứ
nhất là thân hòa đồng trú, nghĩa là cùng chia xẻ vói nhau
một trung tâm tu học, một khu rừng hay một mái nhà.
- Thứ
hai là lợi hòa đồng quân, nghĩa là cùng chia xẻ với nhau
đồng đều những tiện nghi của cuộc sống.
- Thứ
ba là giới hòa đồng tu, nghĩa là cùng hành trì với nhau những
giới và những luật đã được truyền thọ và ban hành.
- Thứ
tư là khẩu hòa vô tránh, nghĩa là chỉ sử dụng thứ ngôn
ngữ hòa hợp, tránh tất cả những lời nói có thể gây ra
sự xích mích và tranh cãi.
- Thứ
năm là kiến hòa đồng giải, nghĩa là trao đổi và chia xẻ
những hiểu biết và những kiến thức với nhau, không dấu
diếm cái hiểu biết cho riêng mình, để cho mọi người cùng
được học hiểu.
- Thứ
sáu là ý hòa đồng duyệt, nghĩa là các ý kiến khác nhau
phải được tổng hợp lại, và không ai có thể bắt buộc
mọi người khác phải làm theo ý kiến riêng của mình như
thế để tạo nên sự vui vẻ hòa hợp trong đoàn thể.
Các
vị khất sĩ! Từ nay về sau, chúng ta phải lấy sáu nguyên
tắc hòa hợp này mà sống với nhau.
Ba
vị đại đức hoan hỷ tiếp nhận lời nhận của Bụt. Từ
giã ba thầy, Bụt lên đường. Bảy ngày sau, người tới Parileyyaka,
Bụt đi vào rừng Rakkhita, và tìm thấy một cây sala cành lá
sum suê. Người đặt y bát xuống và ngồi nghĩ dưới gốc
cây đẹp đẽ này. Bụt có ý định muốn ở lại một mình
tại đây trong mùa an cư sắp tới.
Chương
47
CỨ
THEO CHÁNH PHÁP MÀ HÀNH TRÌ
Dưới
cây sala, người cảm thấy có nhiều an lạc và thoải mái.
Đây là một khu rừng xanh tốt, có đồi, có suối lại có
hồ. Sống một mình, Bụt thấy dễ chịu hơn khi có đông
đảo đệ tử. Ở Kosambi, hiện giờ nhiều vị khất sĩ đang
sống trong phiền não, và phiền não lan tới cả giới đệ
tử tại gia. Người cảm thấy buồn vì chính đệ tử của
người cũng không chịu nghe lời người khuyên bảo. Người
biết đó là sự buồn giận đang che mất tâm trí họ.
Trong
rừng Rakkhita, Bụt gặp rất nhiều loài thú vật. Có cả một
đàn voi nữa. Con voi mẹ vốn là một con voi chúa thường hay
đem những con voi khác và đàn voi con xuống tắm dưới hồ.
Nó dạy cho những con voi con uống nước, ăn cỏ và ăn những
cây bông súng. Bụt nhìn con voi mẹ dạy đàn voi con ăn những
cây bông súng. Nó lấy vòi nhổ một đám bông súng, khỏa
những cây bông súng để rửa ở mặt nước cho bùn đất
trôi đi rồi mới đưa vào miệng. Các con voi con tập một
hồi rồi cũng làm được như con voi mẹ.
Mấy
con voi coi này rất có cảm tình với Bụt. Voi và Bụt rất
thân cận và yêu mến nhau. Có khi voi mẹ hái cả trái cây
để cúng dường Bụt. Bụt ưa vuốt đầu những con voi con
và đưa chúng xuống bờ hồ. Con voi chúa thường dùng tiếng
rống để triệu tập đàn voi và những con voi con. Tiếng rú
của con voi chúa rất là oai vệ. Bụt đã học và bắt chước
được tiếng rú này Có một lần sau khi con voi chúa rú lên
tiếng rú oai vệ của nó, Bụt cũng bắt chước rú lên, con
voi chúa nghe tiếng rú lập tức nhìn về phía Bụt, và nó
tới trước Bụt rồi quỳ hai chân trước xuống, Bụt vuốt
ve và đỡ nó dậy.
Bụt
ở lại an cư tại đây. Đây là mùa an cư thứ mười của
Bụt sau ngày thành đạo. Đây là lần thứ hai người an cư
một mình. Suốt này người ở trong rừng. Chỉ buổi sáng
vào giờ khất thực người mới rời khỏi khu rừng xanh tốt
của người để đi vào tụ lạc mà thôi.
Sau
mùa an cư, Bụt từ giã đàn voi và khu rừng xinh đẹp. Người
đi về hướng Đông Bắc. Nửa tháng sau người về tới tu
viện Cấp Cô Độc ở Savatthi. Đại đức Sariputta thấy Bụt
về mừng lắm. Rahula cũng có mặt tại đó. Nhiều vị đại
đệ tử cũng có mặt tại đó: các đại đức Mahamoggallana,
Mahkassapa, Mahakunda, Upali, Mahakotthiya, Mahakappina, Mahakunda, Revata,
và Devadatta ... Các đại đức Anuruddha, Kimbila, Nandiya từ công
viêng Rừng Trúc ở Karagama cũng đã về tới. Ni sư Gotami cũng
có mặt tại Savatthi. Thấy Bụt ai nấy đều mừng rỡ.
Bước
vào tịnh xá, Bụt gặp thầy Ananda đang sắp đặt và quét
dọn lại tịnh xá. Một năm và bốn tháng trời, Bụt đã
vắng mặt tại đây. Thấy Bụt, đại đức Ananda mừng quá.
Thầy buông chổi vái chào Bụt, Bụt hỏi thăm thầy về tình
trạng ở Kosambi. Thầy nói:
- Sau
khi Bụt bỏ đi, một số huynh đệ đến tìm con và nói: “Này
sư huynh, Thế Tôn đã bỏ đi rồi, người đi một mình. Tại
sao sư huynh không tìm theo Bụt để làm thị giả cho người.
Nếu sư huynh không đi thì chúng tôi đi vậy”. Con trả lời:
“Nếu Bụt đi mà không cho ai biết mà cũng không từ giã
huynh đệ chúng ta, đó là vì người muốn đi một mình. Chúng
ta không nên làm phiền người". Sau đó khoảng sáu tháng, một
số huynh đệ lại tới nói với con: “Này sư huynh, lâu nay
chúng mình không được nghe Thế Tôn dạy bảo, không được
nghe giáo pháp trực tiếp từ miệng của bậc thầy nói ra.
Chúng ta nên đi tìm người”. Chúng con đã lên đường tìm
Bụt nhưng không được gặp. Không ai biết Bụt ở đâu. Cuối
cùng chúng con tìm về Savatthi. Về tới đây chúng con cũng
không thấy Bụt. Chúng con tự bảo nên kiên nhẫn chờ Bụt
tại đây. Thế nào người cũng về. Thế nào người cũng
không bỏ các đệ tử xứng đáng của người.
- Khi
thầy rời Kosambi, tình trạng như thế nào? Các vị khất sĩ
còn cãi cọ nhau nhiều không?
- Thế
Tôn, hồi ấy tình trạng còn căng thẳng lắm. Căng thẳng
hơn này Thế Tôn ra đi nhiều, không bên nào chịu thua bên
nào. Không khí thật là khó thở. Mỗi lần đi vào thành phố
khất thực là chúng con lại bị giới cư sĩ hỏi nhau về
vụ tranh chấp. Chúng con nói: “Có nhiều vị khất sĩ đứng
ngoài vụ tranh chấp. Xin quý vị biết cho điều đó”, và
đó là điều duy nhất mà chúng con có thể làm. Dần dần
giới cư sĩ bắt đầu phản ứng. Họ tìm tới tu viện và
nói với các vị khất sĩ trong vụ tranh chấp: “Quý thầy
đã không nghe lời Bụt để cho Bụt phải buồn lòng mà bỏ
đi. Quý thầy có trách nhiệm rất lớn. Giới tại gia của
chúng tôi đã mất rất nhiều niềm tin. Xin quý thầy xét lại”.
Thưa Thế Tôn, ban đầu thì các thầy không chú ý tới lời
cảnh cáo của giới tại gia, nhưng sau đó, giới tại gia cương
quyết bảo nhau không cúng dường cho các vị có mặt trong
cuộc tranh chấp. Hỏi tại sao không cúng dường tăng bảo,
họ trả lời: “Quý vị không xứng đáng với Bụt, bởi
vì quý vị không có sự hòa hợp. Nếu quý vị nghe lời Bụt
mà hòa giải được với nhau, rồi sau đó đi tìm Bụt để
sám hối, thì chúng tôi sẽ khôi phục được niềm tin. Lúc
đó chúng tôi mới hành trì lại phép cúng dường với tất
cả tâm thành của chúng tôi được". Thưa Thế Tôn, giới
tại gia ở Kosambi cương quyết lắm. Họ nói thì họ làm.
Ngày rời Kosambi, con nghe nói là hai bên định ngày tập hợp
để đi tới sự hòa giải. Con nghĩ là họ sẽ hòa giải được
và sớm muộn gì họ cũng tìm về tới đây để xin sám hối
với Bụt.
Bụt
nói:
- Ananda,
đưa chổi đây để tôi dọn dẹp tiếp cho. Thầy hãy đi kiếm
đại đức Sariputta về để tôi nói chuyện.
Ananda
đi rồi, Bụt lấy chổi quét tịnh xá. Người làm công việc
này một cách thong thả và thoải mái. Rồi người bắc một
chiếc ghế ra ngoài sân ngồi. Tu viện Cấp Cô Độc quả là
một nơi đẹp đẽ. Cây cối xanh tươi và chim chóc ca hát
vang lừng cả bốn mặt. Người ngồi chơi một lát thì đại
đức Sariputta tới. Hai thầy trò ngồi bên nhau im lặng một
hồi lâu. Rồi Bụt nói cho đại đức nghe điều người đang
quan tâm. Bụt bảo: phải làm mọi cách để những cuộc cãi
cọ vô nghĩa lý đừng xảy ra ở trung tâm tu học xinh đẹp
này. Hai người bàn bạc với nhau khá lâu.
Một
buôi chiều nọ, đại đức Sariputta được báo tin là các
thầy ở Kosambi đang lục tục kéo về. Họ đông tới cả
mấy trăm người. Họ còn ở dưới phố, chưa lên tới tu
viện. Thầy đi tìm Bụt và hỏi người:
- Thế
Tôn, con nghe là các huynh đệ tử Kosambi đã về đến và sắp
tới nơi rồi. Chúng con phải tiếp xử với họ như thế nào?
- Thì
cư tiếp xử đúng chánh pháp.
- Lạy
Bụt, đúng chính pháp nghĩa là sao, xin người dạy cho.
- Thầy
mà cũng còn hỏi một câu như thế sao?
Đại
đức Sariputta im lặng. Vào lúc đó, các thầy Moggallana, Kassapa,
Kaccana, Kotthiya, Kappina và Anuruddha tìm tới tịnh thất của
Bụt. Các thầy hỏi:
- Lạy
Bụt, các huynh đệ sắp về tới. Chúng con phải tiếp xử
với họ như thế nào?
- Thì
các vị cứ tiếp xử đúng như chính pháp.
Các
thầy đưa mắt nhìn đại đức Sariputta. Đại đức chỉ mỉm
cười, Bụt nhìn những vị đệ tử lớn của người. Rồi
người nói chậm rãi:
- Phải
lắng tai nghe cả hai bên, phải đừng có thành kiến với bên
nào hết. Những điều giới mình nghe từ một phía, mình phải
trầm tĩnh xét đoán, xem cái gì đúng với chánh pháp và cái
gì không đúng với chánh pháp. Chánh pháp là những gì tôi
đã trình bày như là con đường đưa đến an lạc và giải
thoát, những điều mà chính tôi, tôi đang làm theo. Không phải
chánh pháp là những gì tôi đã khuyên răn không nên làm và
chính tôi, tôi không bao giờ làm. Khi quý vị biết được
cái gì là chánh và cái gì là không chánh ở mỗi bên thì
quý vị có thể giúp đỡ họ trong công việc hòa giải.
Vừa
lúc ấy các vị thí chủ lớn của tu viện do cư sĩ Anathapindika
lãnh đạo cũng tìm tới tịnh thất. Họ hỏi:
- Thế
Tôn, những vị khất sĩ ở Kosambi sắp tới. Chúng con phải
đối xử như thế nào? Chúng con nên cúng dường hay không
nên cúng dường? Nếu cúng dường thì Bụt dạy nên cúng dường
phía bên nào?
Bụt
mỉm cười:
- Nên
cúng dường cả hai bên, và nên tỏ lòng yểm trợ và tán
thành mỗi khi có người nói lên những điều đúng với chánh
pháp.
Lúc
đó, thầy Ananda xuất hiện. Thầy báo tin cho đại đức Sariputta
biết là hiện các thầy Kosambi đã về tới cổng tu viện
đầy đủ. Tất cả đang đứng chờ bên ngoài tu viện vì
chưa dám đi vào. Đại đức Sariputta hướng về phía Bụt:
- Lạy
Bụt, các anh em của con từ Kosambi đã tới. Con có nên mở
cửa cho họ vào không?
Bụt
nói:
- Nên
mở cửa cho họ vào.
Sariputta
bạch tiếp:
- Rồi
con sẽ giải quyết thế nào về sự cư trú của họ.
- Cho
hai phe ở riêng ra hai bên.
- Lạy
Bụt, có thể là không đủ chỗ cư trú riêng cho tất cả
mọi người.
- Nếu
vậy thì chịu khó ở chật chật hơn một chút. Tuy nhiên,
đừng nên để ai phải ngủ ở ngoài trời, nhất là các thầy
lớn.
- Còn
về thực phẩm và thuốc men?
- Thực
phẩm và thuốc men thì cũng được phân phát cúng dường đồng
đều như nhau.
Theo
lệnh của đại đức Sariputta, các thầy tri khách mở cửa
đón tiếp các vị khất sĩ từ Kosambi tới. Các vị được
chia chỗ ở và những những tiện nghi cư trú theo đúng như
lời Bụt dạy. Tất cả mọi việc đều được diễn tiến
trong im lặng.
Sáng
ngày hôm sau, tất cả các vị mới đến đều được lệnh
cho đi khất thực, nhưng trước khi họ đi, thầy Sariputta đã
chia họ thành từng toán và chỉ định đi từng địa phương
khác nhau theo tinh thần lời Bụt dặn. Buổi chiều, các thầy
ngỏ ý muốn đại đức Sariputta dàn xếp cho họ được làm
lễ sám hối Bụt. Đại đức nói:
- Theo
sự hiểu biết của tôi thì việc sám hối với Bụt không
phải là việc căn bản. Việc căn bản là các thầy đạt
được sự hòa giải. Với sự hòa giải đó như một thành
quả, lễ sám hối mới có ý nghĩa và mới có bản chất chân
thực.
Tối
hôm ấy, vị kinh sư chủ chốt của sự bất phục tùng tìm
tới vị luật sư thù nghịch. Thầy chắp tay lại và làm lễ
vị này. Thầy quỳ xuống và tác bạch:
- Bạch
đại đức, tôi xin công nhận là tôi đã phạm giới, và sự
kết tội của đại đức vào mùa hè năm ngoái là đúng luật.
Tôi sẵn sàng sám hối trước đại chúng, để được trở
lại tình trạng giới thể thanh tịnh.
Vị
kinh sư làm được như vậy vì thầy không thấy có một nẻo
thoát nào khác cho giáo đoàn khất sĩ. Ông sẵng hy sinh tự
ái để đem lại hòa khí cho giáo đoàn. Biết thế, vị luật
sư liền phản ứng một cách mau lẹ. Ông cũng quỳ xuống
trước vị kinh sư. Ông nói:
- Tôi
cũng xin sám hối với đại đức là tôi đã thiếu khiêm nhượng
và thiếu khéo léo trong vụ này. Xin đại đức từ bi chứng
minh cho tấm lòng thành khẩn của tôi.
Ngay
buổi tối hôm đó, lễ phát độ của vị kinh sư được tổ
chức, và vị kinh sư khôi phục được giới thể thanh tịnh.
Ai nấy đều thở phào, nhất là các vị khất sĩ từ Kosambi
đến, trong số đó có nhiều thầy chưa bao giờ có dính líu
đến cuộc tranh chấp.
Bụt
được báo tin này vào lúc nửa đêm. Chính đại đức Sariputta
đem tin này tới cho người. Người chỉ gật đầu không nói
năng gì. Cuộc tranh chấp đã chấm dứt, nhưng vết thương
vẫn còn. Phải một thời gian nữa thì vết thương mới có
thể lành hẳn.
Chương
48
RƠM
PHỦ LÊN BÙN
Theo
đề nghị của đại đức Mahakassapa, một cuộc hội họp
được tổ chức tại giảng đường Kỳ Viên, quy tụ những
vị đệ tử lớn của Bụt và cả những vị đã từng là
chủ chốt trong vụ tranh chấp ở Kosambi. Mục đích của buổi
họp là để rút tỉa kinh nghiệm và đề ra những nguyên tắc
ngăn ngừa những cuộc tranh chấp có thể xảy ra trong giáo
đoàn. Đại đức Kahakasapa làm chủ tọa buổi họp.
Mở
đầu buổi họp, thầy Anuruddha được đại đức Mahakassapa
yêu cầu trùng tuyên lại những điều mà thầy đã được
nghe Bụt dạy tại công viên Đông Trúc về sáu nguyên tắc
sống chung hòa hợp. Thầy Anuruddha lập lại với đầy đủ
chi tiết sáu nguyên tắc ấy mà thầy gọi là pháp chế Lục
Hòa. Đại đức Moggallana rất mừng sau khi được nghe pháp
chế này. Thầy đề nghị tất cả các vị khất sĩ nên học
thuộc lòng sáu nguyên tắc sống chung hòa hợp.
Thầy
nói:
- Sáu
nguyên tắc này cũng cần được học thuộc lòng để đem
phổ biến tới các trung tâm tu học khác.
Sau
bốn hôm góp ý và thảo luận, các thầy đã thiết lập được
bảy phương pháp để dập tắt các cuộc tranh chấp. Họ gọi
đó là thất diệt tránh pháp (Saptadhikarana-samatha), và họ
đem đệ trình lên Bụt. Thất diệt tránh pháp được xem như
là những phương pháp đưa tới sự hòa giải, được trình
bày như sau:
Thứ
nhất là hiện tiền tỳ ni (samukha-vinaya). Theo nguyên tắc này,
tất cả những phát biểu về cuộc tranh chấp được nói
ra trong đại chúng, với sự có mặt của hai phía tranh chấp.
Tránh tất cả những sự phát biểu và bàn bạc riêng tư,
những phát biểu thường có tác dụng tuyên truyền cho một
bên và do đó có tác dụng gây thêm nứt rạn và hận thù.
Thứ
hai là ức niệm tỳ ni (sati-vinaya). Ức niệm tức là nhớ
lại. Trong buổi họp có sự hiện diện của cả hai phiá tranh
chấp, các đương sự phải hồi tưởng lại những gì đã
thực sự xảy ra và tuần tự trình bày tất cả những điều
đó theo trí nhớ của mình, với tất cả những chi tiết,
và nếu có thì đưa ra những bằng chứng xác thực. Đại
chúng sẽ im lặng lắng nghe hai bên để có đủ mọi dữ kiện
mà thẩm sát vấn đề.
Thứ
ba là bất si tỳ ni (Amudha-vinaya). Bất si có nghĩa là không
cứng đầu, không ngu dốt hoặc tâm trí không bình thường.
Trong buổi họp mặt có sự hiện diện của cả hai phía tranh
chấp, đại chúng trông chờ các đương sự bày tỏ thiện
chí hòa giải của mình với tất cả khả năng của mình.
Thái độ ngoan cố được xem như là một điểm tiêu cực
căn bản. Trong trường hợp đương sự nêu lên lý do là vì
mình ngu dốt không biết, hoặc vì mình tâm trí bất thường
cho nên đã vô tình phạm vào quy luật thì đại chúng phải
nương vào đó để giảm luật án cho đẹp lòng đôi bên.
Thứ
tư là tự ngôn tỳ ni (tatsvabhaisya-vinaya). Tự ngôn là tự
mình nói ra, tự mình công nhận sự vô ý, sự vụng về hoặc
sự yếu đuối của mình, không cần sự hạch hỏi của đối
phương hay của đại chúng. Trong buổi họp mặt có sự hiện
diện của cả hai phía tranh chấp, đại chúng trông đợi mỗi
bên tự nói ra những nhược điểm của mình, dù là những
điểm nhỏ nhặt nhất. Tự nhận lỗi mình tức là khởi sự
cho một cuộc xuống thang tranh chấp, điều này sẽ khuyến
khích đối phương cũng làm như vậy, để cuối cùng thiện
chí của cả hai bên sẽ đủ sức đưa tới hòa giải.
Thứ
năm là đa ngữ tỳ ni (pratijnakaraka-viaya). Đa ngữ là lấy
biểu quyết bằng đa số. Sau khi đã nghe hết tất cả hai
bên và đã chứng kiến nổ lực và thiện chí của hai bên,
đại chúng sẽ biểu quyết bằng đa số.
Thứ
sáu là tội xứ sở tỳ ni (yadbhuyasikya-vinaya). Án lệnh tối
hậu về tội tướng và cách thức hối cải được đưa ra
để đại chúng quyết định bằng phương pháp bạch tứ yết
ma (jnapticaturbin-karmavacana), nghĩa là phương pháp đọc lớn
bản án và hỏi ba lần. Nếu trong ba lần này mà tất cả
đều im lặng và không ai lên tiếng phản đối thì bản án
lệnh có hiệu lực. Cố nhiên là các đương sự chỉ có thể
tuân hành chứ không có quyền phản đối, bởi vì cả hai
bên từ lúc bắt đầu đã phát nguyện tin tưởng vào phán
quyết của đại tăng.
Thứ
bảy là thảo phú địa tỳ ni (trnastaraka-vinaya). Thảo phú
địa nghĩa là rơm cỏ phủ lên đất sình lầy. Trong buổi
họp mặt có sự hiện diện của cả hai phía tranh chấp, hai
vị trưởng lão đức độ được chỉ định để bảo trợ
cho hai phía. Các vị này thường được đại chúng tôn kính
và nghe lời. Các ngài ngồi chăm chú nghe, rất ít nói, nhưng
mỗi khi nói là có ảnh hưởng rất lớn. Tiếng nói của các
vị trưởng lão này nhằm hàn gắn những vết thương, kêu
gọi thiện chí hòa giải và tha thứ, cũng như phủ rơm cỏ
lên trên mặt đất sình lầy để mọi người bước lên mà
không bị lấm chân. Ca hai phía sẽ nghe lời các vị mà bỏ
qua đi những điều không đáng kể, mất đi sự gay gắt, và
đại chúng cũng đi đến một bản án lệnh nhẹ nhàng làm
mát lòng cả hai bên.
Bảy
phương pháp dập tắt tranh chấp được các vị đệ tử lớn
đem trình lên Bụt. Bụt rất vui lòng. Người tỏ ý khen
ngợi các thầy và đồng ý đưa bảy điều này vào giới
luật.
Bụt
ở lại tu viện Jetava trong sáu tháng nữa, sau đó người về
Rajagaha. Trên đường về. người đã ghé lại thăm cây bồ
đề. Người cũng đã ghé lại xóm Hạ làng Uruvela để thăm
mấy anh em Svastika. Svastika bây giờ đã thành một chàng trai
cao lớn. Svastika đã hai mươi mốt tuổi. Nhớ lời hứa năm
xưa, Bụt đã ghé lại để độ chú, đưa chú về Rajagaha.
Ở đây chú đã được xuất gia và đã được làm quen với
chú Rahula.
Chương
49
CON
HÃY HỌC HẠNH CỦA ĐẤT
Vị
khất sĩ trẻ Svastika nghe hai thầy Assaji va Ananda kể về công
trình hành đạo của Bụt trong mười năm qua một cách say
mê. Ngồi với chú, có ni sư Gotami và chú Rahula. Tuy đã biết
và đã được chứng kiến nhiều việc xảy ra, nhưng chú Rahula
cũng tỏ vẻ thích thú khi nghe các đại đức thuật lại.
Thầy Ananda có trí nhớ rất dị thường, thầy đã nhắc rất
nhiều chuyện mà thầy Assaji quên không nói tới. Svastika cảm
thấy một niềm biết ơn sâu xa đối với các thầy Assaji
và Ananda, với ni sư Gotami và với chú Rahula. Nếu không có
bốn vị này làm sao chú được dịp nghe kể từng ấy chuyện
về đời của Bụt. Chú hy vọng từ đây về sau sẽ được
thân cận Bụt để được sống và chứng kiến những gì
xảy đến trong đời người và cũng để được học hỏi
trực tiếp từ người.
Tuy
xuất thân là một chú bé chăn trâu, Svastika cũng có đôi chút
học thức và chữ nghĩa. Đây là nhờ công trình của chị
Sujata con gái của ông hương cả trong làng Uruvela. Chị đã
dạy Svastika từ năm chú mười một tuổi. Mấy năm gần đây
chú không được học với chị nữa, bởi vì chú đã lớn.
Svastika được chị báo tin là chị sắp đi lấy chồng, và
vì chồng chị cư trú ở Nadika, nên chị cũng sẽ rời bỏ
Uruvela để về Nadika vào cuối năm nay. Svastika lớn hơn Rahula
tới ba tuổi, nhưng chú cảm thấy chú phải học rất nhiều
điều từ chú Rahula. Phong cách của Rahula rất thanh tao, đã
là giòng giống vương giả, Rahula lại được thực tập gần
tám năm trời trong nếp sống tĩnh lặng và uy nghi cho nên so
với Rahula, Svastika thấy mình còn thô tháo nhiều lắm. Chú
ý thức được điều đó nên chú hết sức cố gắng, thầy
Sariputta đã giao cho Rahula chỉ bảo cho chú những phép tắc
liên hệ tới việc mặc áo, ôm bát, đi, đứng, nằm, ngồi,
đi vào thôn lạc, khất thực, ăn cơm, rửa bát, nghe pháp ...
Có tất cả bốn mươi lăm điều mà chú phải học thuộc
và làm theo. Những điều này gọi là uy nghi và tế hạnh.
Vị xuất gia nào làm đúng theo những điều này thì tự khắc
có phong thái uy nghi và trầm lặng của một vị khất sĩ.
Trên
nguyên tắc, Svastika là một vị khất sĩ -bhikkhu- trong khi Rahula
chỉ mới là một vị sa di -samanera-. Đúng hai mươi tuổi,
Rahula mới được thọ giới khất sĩ. Giới luật của sa di
có mười điều: không sát sinh, không trộm cướp, không dâm
dục, không nói dối, không uống rượu, không trang điểm,
cài hoa và xức dầu thơm không nằm và ngồi trên những giuờng
ghế cao, sang và rộng lớn, không ca vũ, không sử dụng tiền
bạc và không ăn sau giờ mặt trời đứng bóng. Bốn mươi
lăm điều uy nghi và tế hạnh tuy thuộc về giới luật của
một vị khất sĩ nhưng Rahula cũng phải học và hành trì,
bởi vì Rahula đang tập sự để được thọ giới khất sĩ.
Khất sĩ có tới một trăm hai mươi giới, trong đó có bốn
mươi lăm điều uy nghi tế hạnh. Theo chú Rahula, nói thì số
lượng các giới điều khất sĩ sẽ tăng lên với thời gian,
và có ngày giới này có thể sẽ tăng lên hai trăm giới, hoặc
hơn thế nữa.
Theo
chú Rahula kể lại thì trong những năm đầu, các vị khất
sĩ sống không cần giới luật gì hết mà trong giáo đoàn
vẫn chẳng có vấn đề đáng tiếc nào xảy ra. Lễ xuất
gia thật đơn giản: chỉ cần quỳ dưới chân Bụt hoặc dưới
chân một vị khất sĩ để đọc lên ba câu Quay Về Nương
Tựa là đã chính thức thành người xuất gia. Bây giờ đây,
xuất gia thì phải phát nguyện tiếp nhận và hành trì giới
luật. Số lượng người xuất gia đã trở nên dông đảo.
Đông đảo cho nên có những thành phần không tự mình cảnh
giác được và phải cần đến những kỷ luật và phép tắc
để chế ngự. Những phép tắc này gọi là giới và luật.
Chú
Rahula kể rằng người phạm giới đầu tiên là thầy Sudina,
và chính vì thầy Sundina mà Bụt khởi sự áp dụng việc hành
trì giới luật. Thầy Sudina trước khi đi xuất gia đã có
thành lập gia đình rồi, và lúc ấy còn cư trú tại làng
Kalanda gần thành phố Vesali. Được nghe Bụt thuyết pháp ở
giảng đưòng Trùng Các, Sudina xin đi xuất gia. Một thời gian
sau đó, thầy Sudina có dịp ghé về làng Kalanda. Gia đình thầy
ngỏ ý muốn thỉnh thầy về thọ trai ngày mai. Thầy nhận
lời. Ngày mai lại, sau khi thọ trai, thầy được gia đình
yêu cầu hoàn tục để chăm lo sự nghiệp và cửa nhà. Thầy
không bằng lòng. Gia đình than phiền rằng thầy là con một,
thầy đi tu thì không còn ai nối dõi, và sản nghiệp sẽ rơi
vào tay người khác. Gia đình thầy giàu có lắm. Cuối cùng
mẹ thầy đề nghị nếu thầy cương quyết không hoàn tục
thì ít nhất thầy cũng phải để lại một đứa con. Nể
lời mẹ, và cũng vì lý do giáo đoàn chưa có pháp chế giới
luật, thầy nhận lời. Mẹ thầy sau đó sắp đặt để cho
thầy gặp lại người vợ cũ. Cuộc gặp gỡ này xay ra trong
rừng Mahavana.
Sau
đó, người vợ cũ của thầy có thai. Đứa con trai sinh ra
được ông bà nội đặt tên là Bijaka, có nghĩa là hạt giống.
Rồi sau đó thầy Sudina vị các bạn gọi đùa là “Ba của
Hạt Giống”. Bắt đầu có sự gièm pha trong quần chúng.
Việc này tới tai Bụt. Người triệu tập các vị khất sĩ
lại, thầy Sudina bị Bụt khiển trách. Giới luật được
chế tác bắt đầu từ đó. Mỗi khi có một vị khất sĩ
làm một việc gì trái với tinh thần của đạo lý giác ngộ
và giải thoát thì giáo đoàn lại được tập họp và một
điều luật mới được ghi vào giới bản. Giới bản này
được gọi là Patimokkha.
Ngày
Svastika thọ giới, giới bản đã lên tới một trăm hai chục
điều. Bốn giới đầu là bốn giới căn bản, phạm vào một
trong bốn điều là tự động mất giới thể, không còn được
công nhận là một vị khất sĩ nữa. Nếu phạm vào những
điều khác thì còn có thể sám hối.
Bốn
giới đầu gọi là trọng giới: không dâm dục, không trộm
cướp, không sát hại, không tuyên bố mình có thực chứng
đạo quả khi mình chưa có thực chứng đạo quả. Bốn giới
này gọi là bốn giới parajika: vị khất sĩ nào phạm vào
thì không còn là một vị khất sĩ nữa, cũng như khi một
cây cau bị chặt ngọn thì không thể nào mọc lên lại được.
Chú
Rahula cho biết là Bụt dạy chú rất nghiêm, dù chú biết Bụt
thương chú lắm. Từ năm chú mười ba tuổi, chú đã xin được
ăn uống theo các thầy khất sĩ, nghĩa là không ăn sau giờ
mặt trời đứng bóng nữa. Hồi chú mười một tuổi, có
một lần chú đã lỡ nói dối với đại đức Sariputta. Chú
đã nói dối chỉ vì sợ thầy Sariputta mắng về một vụ
ham chơi thôi, nhưng rốt cuộc vì nói dối một lần mà phải
nói dối liên tiếp tới bốn lần, sợ tội nói dối lòi ra,
nhưng rốt cuộc thì vụ nói dối cũng lòi ra như thường,
Bụt hay được chuyện này và Bụt đã dạy dỗ chú thật
kỹ lưỡng về vấn đề nói dối. Hồi ấy Bụt ở tịnh
xá Trúc Lâm, và hai thầy trò Sariputta thì ở lại vườn Ambalatthika,
Rahula thấy Bụt tới liền đi bắc ghế cho Bụt ngồi và lấy
thau đi múc nước cho Bụt rửa chân. Trong khi Bụt rửa chân
Rahula được thầy Sariputta cho phép ngồi xuống một bên thầy,
gần Bụt.
Rửa
chân xong, Bụt đổ nước đi, nhưng người còn giữ lại một
ít nước trong chậu, rồi người nhìn Rahula hỏi:
- Này
Rahula, nước trong chậu nhiều hay ít?
- Lạy
Bụt, nước trong chậu còn rất ít.
- Con
nên biết đó, Rahula. Những người nói dối thì căn lành không
còn lại bao nhiêu, ít như nước trong chậu này.
Rahula
nín thinh. Bụt lại đổ hết nước trong chậu đi và hỏi:
- Rahula,
con có thấy ta đã đổ hết nước trong chậu đi rồi không?
- Con
có thấy.
- Đối
với những người tiếp tục nói dối, thì thiện căn sẽ
mất hết như chiếc chậu không có nước này.
Bụt
lật úp chậu lại. Người hỏi:
- Rahula,
con có thấy cái chậu bị úp lại không?
- Lạy
Bụt, con có thấy.
- Nếu
ta không tu tập chánh ngữ, nhân cách ta cũng sẽ bị đảo
lộn như cái chậu này.
Bụt
nói:
- Rahula,
cho nên không nên bao giờ nói dối, dù là để đùa cợt. Con
có biết một tấm gương là để dùng làm gì không?
- Lạy
Bụt, tấm gương dùng để soi mặt mình.
- Cũng
vậy đó Rahula, con phải quán sát hành động, tư tưởng và
lời nói của con như người soi gương vậy.
Nghe
Rahula kể, chú Svastika ý thức được tầm quan trọng của
hạnh nói năng chân thực. Chú nhớ hồi bé chú đã từng nói
dối bố, và mẹ, và có một lần chú đã nói dối với chị
Sujata, nhưng may mắn làm sao, chú chưa từng nói dối Bụt lần
nào. Chú có cảm tưởng không thể nói dối Bụt được. Nói
dối Bụt thì thế nào người cũng biết. Chú thầm nghĩ: ta
phải dứt khoát từ bỏ lời nói không chân thực, không những
ta không được nói dối Bụt, ta cũng không được nói dối
với bất cứ ai, dù người đó là một em bé. Có như thế
ta mới chuộc được lỗi lầm hồi ta còn ấu thơ. Có như
thế ta mới đền đáp được ơn đức của Bụt, với lại
đã thọ giới rồi thì phải hành trì giới cho thật nghiêm
chỉnh.
Mỗi
tháng hai lần vào ngày trăng tròn và ngày trăng mới, tất
cả các vị khất sĩ tập họp để bố tát và tụng giới.
Các giới điều đề được tuyên đọc, và đại chúng được
hỏi có vi phạm các giới ấy hay không. Nếu đại chúng giữ
im lặng tức là không có ai vi phạm, nếu có ai vi phạm thì
vị ấy đứng dậy phát lộ để sám hối. Trừ những lỗi
parajika mà người phạm vào thì tự động bị tản xuất,
những lỗi khác đều có thể sám hối được.
Có
nhiều hôm Svastika cũng được đi khất thực trong đoàn của
Bụt, có cả Rahula và đại đức Sariputta. Mùa an cư ấy Bụt
lại cư trú ở Ekanala, một khu đồi núi về phía Nam thủ
đô Rajagaha. Một buổi sáng, đi khất thực ngang qua cánh đồng
ở làng Ekanala, Bụt và các vị khất sĩ bị một nông dân
chận đường. Nông dân này tên là Bharadvaja, ông là một nhà
triệu phú, ông có hàng ngàn mẫu ruộng, đây là mùa cày ruộng,
ông đang đốc thúc dân cày đi cày. Có hàng trăm trăm người
đang cày ruộng cho ông trong ngày hôm đó. Chận đường Bụt
và các vị khất sĩ, ông nói:
- Chúng
tôi là nông dân, chúng tôi phải cày sâu cuốc bẫm, bỏ phân,
chăm bón và gặt hái mới có được gạo ăn, còn các vị
không làm gì cả, không sản xuất gì hết mà các vị cũng
ăn. Các vị không có ích lợi gì cho đời cả. Các vị không
cày, không cuốc, không gieo trồng, không bỏ phân, không chăm
bón, không gặt hái ...
Bụt
bảo Bharadvaja:
- Có
chứ, chúng tôi cũng có cày, cuốc, gieo trồng, bỏ phân chăm
bón và gặt hái.
- Cày
của quý vị đâu, cuốc của quý vị đâu, bò của các vị
đâu, hạt giống của các vị đâu? Các vị chăm bón cái gì,
săn sóc cái gì, gặt hái cái gì?
Bụt
nói:
- Hạt
giống của chúng tôi là niềm tin. Đất của chúng tôi là
chân tâm. Cày của chúng tôi là chánh niệm. Bò của chúng
tôi là sự tinh tiến. Mùa màng của chúng tôi là sự hiểu
biết và thương yêu. Điền chủ! Nếu không có niềm tin, sự
hiểu biết và lòng thương yêu thì cuộc đời sẽ khô cằn
và đau khổ lắm. Chúng tôi cũng gieo trồng và cũng gặt hái
như điền chủ.
Vị
chủ ruộng Bhadvaja rất thích thú được nghe lời Bụt nói.
Ông truyền gia nhân đem thức ăn trưa dành cho ông ta tới để
cúng dường Bụt. Thức ăn là cơm gạo thơm nấu với sữa.
Bụt từ chối. Người nói:
- Tôi
thuyết pháp không phải với mục đích là được cúng dường.
Các vị khất sĩ không đổi giáo pháp với phẩm vật cúng
dường. Nếu điền chủ muốn cúng dường, xin để đến một
hôm khác.
Vị
điền chủ rất cảm phục. Ông lạy xuống và xin được quy
y với Bụt.
Được
chứng kiến cuộc gặp gỡ này giữa Bụt và ông chủ ruộng
Bharadvaja, Svastika thấy rằng nếu được thân cận Bụt chú
sẽ học hỏi được rất nhiều, và chú rất mong được đi
theo Bụt suốt đời. Chú biết rằng có cả hàng ngàn vị
khất sĩ tuy là học trò của Bụt mà không được thân cận
Bụt như chú, như Rahula và các thầy phụ tá Bụt như Sariputta,
Moggallana và Anaruddha
Sau
mùa an cư, Bụt lại đi hành hóa về phương Tây Bắc, và cuối
mùa thu năm ấy Bụt tới Savatthi. Một buổi sáng, trong khi
cầm bát đi khất thực sau lưng Bụt, Rahula đánh mất chánh
niệm. Tuy vẫn đi như mọi người, tâm chú lại nghĩ đến
chuyện khác. Chú nhìn Bụt phía trước và tự hỏi ngày xưa
Bụt không đi tu thì không biết bây giờ Bụt đang làm gì
và mình đang làm gì. Chú đã nghe kể lại là khi Bụt mới
sinh, có ông thầy Bà la môn tiên đoán rằng khi lớn lên Bụt
sẽ đi tu và nếu không đi tu thì sẽ trở nên một vị chuyển
luân thánh vương, nghĩa là một vị vua có quyền hạn trên
tất cả các vị vua trên hoàn vũ. Đời sống của một vị
chuyển luân thánh vương ra sao, và nếu Bụt bây giờ làm chuyển
luân thánh vương thì chú đang làm gì? Trí óc vơ vẫn nghĩ
như thế, bước chân, hơi thở và dáng đi của chú cũng còn
an trú trong uy nghi nữa. Lạ quá, Bụt đi phía trước mà người
cảm thấy được những điều đó. Bụt biết là chú mất
chánh niệm, người dừng bước và quay trở lại. Tất cả
các vị khất sĩ cũng dừng bước, Bụt bảo Rahula:
- Này
Rahula, con có theo dõi hơi thở và duy trì chánh niệm không?
Rahula
cúi đầu im lặng.
Bụt
dạy:
- Muốn
an trú trong chánh niệm thì phải duy trì hơi thở có ý thức.
Trong khi đi khất thực, ta phải thực tập thiền quán. Ta có
thể quán sát về tính cách vô thường và vô ngã của những
yếu tố tạo nên muôn loại. Những yếu tố đó là sắc,
thân, cảm thọ, tri giác, tâm ý và nhận thức. Nếu ta duy
trì hơi thở có ý thức thì ta có thể tiếp tục việc thiền
quán ngay trong khi ta đi khất thực, và ta sẽ không bị rơi
vào tình trạng thất niệm.
Nói
xong, Bụt quay lại và tiếp tục đi. Đưọc sách tấn, tất
cả mọi người đều nắm lấy hơi thở và duy trì chánh niệm.
Nhưng một lúc sau đó, Rahula tách ra khỏi hàng ngũ các vị
khất sĩ, chú tìm đến một cụm rừng bên đường và ngồi
xuống dưới một gốc cây.
Thấy
thế, Svastika cũng rời hàng ngũ và đi theo Rahula. Thấy chú
tới gần, Rahula nói:
- Chú
cứ đi khất thực với các thầy đi, Tôi không có tâm nào
mà đi khất thực nữa. Tôi mới bị Bụt rầy la trước đại
chúng là đánh mất chánh niệm. Tôi phải dành cả ngày hôm
nay để thực tập thiền quán. Tôi xấu hổ lắm.
Biết
không làm gì hơn được, Svastika từ giã Rahula và trở lại
nhập đoàn với các vị khất sĩ.
Trên
đường về đại đức Sariputta đã cùng Svastika ghé lại cụm
rừng để đón Rahula về tu viện. Svastika chia xẻ phần ăn
của mình xin được vào bát của Rahula. Sau giờ thọ trai,
thầy Sariputta bảo Rahula đi gặp Bụt. Svastika xin được đi
theo:
Biết
tâm ý của Rahula đã đến lúc có thể tiếp nhận giáo lý
giải thoát. Bụt dạy:
- Này
Rahula, con học theo hạnh của đất. Dù người ta đổ và rải
lên những thứ tinh sạch và đẹp đẽ như hoa, nước thơm,
sữa thơm, hoặc người ta đổ lên đất những thứ dơ dáy
hôi hám như phân, nước tiểu và máu mủ, hoặc người ta
khạc nhổ xuống đất thì đất cũng tiếp nhận tất cả
những thứ ấy một cách thản nhiên, không vui vẻ mừng rỡ
mà cũng không chán ghét tủi nhục. Cũng như thế, khi những
cảm thọ khoái lạc hoặc buồn khổ phát sinh, con đừng để
cho chúng làm nhiễu loạn tâm con và chiếm cứ lòng con.
Con
hãy học theo hạnh của nước. Khi người ta giặt rửa những
thứ dơ bẩn trong nước, nước cũng không vì thế mà cảm
thấy tủi nhục, buồn khổ và chán chường. Con lại nên học
hạnh của lửa. Lửa đốt cháy mọi thứ, kể ca những thứ
dơ bẩn, vậy mà lửa cũng không vì thế mà cảm thấy tủi
nhục, buồn khổ và chán chường. Con lại cũng nên học hạnh
của không khí. Không khí thổi đi các thứ mùi, mà vẫn không
cảm thấy tủi nhục, buồn khổ và chán chường.
Rahula,
con hãy tu tập lòng Từ để đối trị giận hờn. Lòng Từ
là lòng thương yêu được thực hiện bằng cách đem lại
niềm vui cho kẻ khác. Từ là thứ tình thương không có điều
kiện và không chờ đợi sự đền trả. Con hãy tu tập lòng
Bi để đối trị tàn ác. Lòng Bi là lòng thương yêu được
thực hiện bằng cách làm vơi đi sự khổ đau nơi người
khác. Bi cũng là thứ tình thương không có điều kiện và
cũng không chờ đợi sự đền trả. Con lại phải tu tập
lòng Hỷ để đối trị ganh ghét. Lòng Hỷ là lòng vui phát
sinh từ khả năng vui theo cái vui của người khác và niềm
ước ao làm sao cho kẻ khác được an vui, mong cho kẻ khác
được thành công và hạnh phúc. Con lại nên tu tập lòng Xả
để đối trị kỳ thị và vướng mắc. Lòng Xả là tâm niệm
thanh thoát và cởi mở đạt được do sự nhận thức về
tính cách tương quan bình đẳng giữa mọi loài; cái này như
thế này vì cái kia như thế kia, mình và người không phải
là hai thực thể riêng biệt, không nên ghét bỏ cái này để
đi nắm bắt một cái khác.
Rahula,
Từ, Bi, Hỷ và Xả là bốn tâm tư lớn, rộng rãi không có
bờ bến và cũng đẹp đẽ không cùng, đó gọi là Tứ Vô
Lượng Tâm. Tu tập theo phép này thì mình trở nên một nguồn
suối mát đem lại sinh lực và niềm vui cho tất cả vũ trụ.
Rahula,
con lại phải quán chiếu về vô thường để phá trừ ảo
tưởng về cái “ta”. Con phải quán chiếu về tính sinh diệt
và thành hoại của thân thể để hiểu sâu về sống chết
và để thoát ly tham dục, và nhất là con phải tập quán niệm
hơi thở. Quán niệm hơi thở sẽ đem lại nhiều thành quả
lợi lạc lớn.
Ngồi
kề Rahula, được nghe tất cả những điều Bụt dạy, Svastika
sung sướng vô cùng. Đây là lần đầu tiên chú được nhe
những lời thâm sâu như vậy trực tiếp từ miệng Bụt. Chú
đã học thuộc lòng trên mười kinh, trong đó có những kinh
căn bản như Kinh Chuyển Pháp Luân và Kinh Vô Ngã Tướng mà
Bụt nói ở vườn Nai Isipatana, nhưng chú chưa thấy thấm thía
mùi vị đạo của đại pháp như hôm nay. Có lẽ vì những
kinh đó chú không được nghe trực tiếp từ miệng Bụt. Kinh
đầu tiên mà chú nghe trực tiếp từ miệng Bụt là Kinh Chăn
Trâu, chú đã thuộc lòng, nhưng hồi Bụt nói kinh ấy, chú
còn đang mới quá, tâm trí chưa đủ chín chắn để cảm nhận
lấy tất cả những cái hay. Chú tự hẹn là những lúc rãnh
rỗi chú sẽ ôn tụng lại các kinh đó bằng nhận thức mới
của mình để có thể thâm nhập được nghĩa lý sâu xa trong
ấy.
Suy
nghĩ tới đó thì Svastika lại nghe tiếng Bụt cất lên. Bụt
bắt đầu dạy Rahula về phương pháp thở. Svastika và Rahula
đã từng học phép quán niệm hơi thở rồi và cũng đã thực
tập, nhưng đây là lần đầu hai người được Bụt dạy
trực tiếp về phép tu này. Bụt dạy rằng tác dụng đầu
tiên của hơi thở có ý thức là chấm dứt tạp niệm và
phát khởi chánh niệm. Mỗi khi thở vào ta biết là đang thở
vào, mỗi khi thở ra, ta biết rằng ta đang thở ra, đó là
hơi thở có ý thức. Trong lúc thở như thế ta để tâm nơi
hơi thở và chỉ để tâm nơi hơi thở mà thôi. Làm như vậy
lập tức ta chấm dứt ngay được những tạp niệm, nghĩa
là chấm dứt những suy nghĩ viễn vông, những suy nghĩ đã
không ích lợi mà còn làm cho tâm ta loạn động, Một không
những tạp niệm được cắt đứt thì tâm ta an trú trong chánh
niệm. Ta biết ta đang thở, ta biết ta đang tỉnh thức, ta
không bị tạp niệm bao vây và dẫn dắt. Chỉ cần một hơi
thở thôi, ta đã có thể thiết lập trạng thái tỉnh thức
trong ta. Trạng thái tỉnh thức ấy là chất Bụt sẵn có trong
mọi người.
Bụt
dạy: thở một hơi dài mình biết là mình thở một hơi dài,
thở một hơi ngắn mình biết là mình thở một hơi ngắn.
Như vậy có nghĩa là mình ý thức được trọn vẹn hơi thở
của mình. Duy trì ý thức và hơi thở, ta thiết lập được
định tâm. Lúc bấy giờ ta mới nương theo hơi thở để quán
chiếu thân thể ta, cảm giác ta, tâm ý ta và mọi sự vật
trong ta và ngoài ta. Các sự vật ấy gọi là các pháp (sarvadharma).
Svastika
tin chắc rằng sau buổi giảng này, chú sẽ thành công rất
dễ dàng trong việc thực tập quán niệm về hơi thở. Bụt
đã tận tình dạy chú và dạy Rahula: lời dạy của người
rất đơn giản mà cũng rất sâu sắc. Sau khi lạy ta Bụt,
chú và Rahula cùng rủ nhau ra bờ hồ. Hai người lặp lại
với nhau những lời Bụt dạy để cùng ghi nhớ cho kỹ mà
thực tập.
Chương
50
MỘT
VÓC CÁM RANG
Mùa
an cư năm sau, Bụt cư trú ở Vejanra. Khóa an cư năm đó có
tất cả là năm trăm thầy tham dự. Hai đại đức lớn là
Sariputta và Moggallana làm phụ tá cho Bụt trong khóa an cư này.
Vào
giữa mùa an cư, trời rất nóng, không muốn ở trong tịnh
xá của người nữa, suốt ngày Bụt ra ngồi dưới cây nimba
cành lá xanh tốt che mát cả một vùng. Bụt thọ trai, nói
pháp thoại, ngồi thiền và trải chiếu nằm ngủ ngay dưới
gốc cây này. Vào tháng thứ ba của mùa an cư, các vị khất
sĩ than thở với nhau là thức ăn xin được mỗi ngày càng
lúc càng hiếm. Có nhiều thầy đi khất thực về với chiếc
bát không. Hỏi thăm, Bụt biết rằng năm nay ở đây mất
mùa, và kho lúa dự trữ của chính quyền địa phương sắp
cạn. Dân chúng địa phương đói và chính quyền phải phát
thẻ cứu trợ thực phẩm. Dân chúng không có ăn thì làm gì
có để cúng dường. Số lượng năm trăm vị khất sĩ là
một số lượng lớn quá, chính Bụt cũng có hôm phải mang
bát không về. Có nhiều hôm người chỉ sống bằng nước
trong và hơi thở. Nhiều vị khất sĩ thiếu ăn ốm đi trông
thấy. Đại đức Moggallana đề nghị với Bụt là giáo đoàn
nên di cư về Uttarakuru ở miền Nam để tiếp tục mùa an cư
vì ở đó không có nạn đói. Bụt không chấp nhận. Người
nói:
- Không
nên làm thế, Moggallana. Có phải chỉ có một mình mình đói
mà thôi đâu. Cả dân chúng đều đói, chỉ trừ những nhà
giàu, nếu ta vì đói mà bỏ đi thì ta không chia xẻ được
những khó khăn và thông cảm được với dân chúng ở đây.
Moggallana, chúng ta nên ở lại đây cho đến hết mùa an cư.
Người
thỉnh Bụt về Vejanra an cư là một thí chủ Bà la môn giàu
có đã từng được nghe Bụt thuyết pháp, tên là Agnidatta,
nhưng ông này bận rộn với việc đi đây đi đó để buôn
bán cho nên không thấy được tình trạng của giáo đoàn.
Một hôm đại đức Moggallana chỉ cho Bụt thấy một vùng
cây cỏ xanh tươi gần nơi trung tâm tu học và thưa với Bụt:
- Lạy
thầy, con nghĩ là nếu cây cối xanh tốt như vậy là vì ở
dưới đất có nhiều chất dinh dưỡng. Con xin đề nghị là
chúng ta lật đất lên, lấy phần đất mềm và bổ dưỡng
ở dưới, hòa tan trong nước và uống lấy nước ấy cho có
chất bổ dưỡng.
Bụt
đáp:
- Không
nên làm như thế, Moggallana. Hồi tu ở núi Dangsitri, tôi cũng
đã có làm như thế mà không thấy có công hiệu gì. Với
lại có bao nhiêu sinh vật đang sống bình an dưới mặt đất,
không bị sức nóng và ánh sáng mặt trời làm khô chết. Nếu
ta lật đất lại thì biết bao nhiêu loài sẽ bị hy sinh, trong
đó kể cả các loại cây cỏ đang tốt tươi.
Nghe
Bụt nói thế, thầy Mogallana im lặng không dám nói nữa.
Theo
thường lệ thì khi đi khất thực về, các thầy chia bớt
phần mình xin được vào những chiếc chậu đặt ở giữa
trai đường để những vị nào không xin được có thể đến
lấy, nhưng cả mươi hôm nay chẳng có hôm nào Svastika thấy
được một chiếc bánh chapati hay một hạt cơm trong các chậu
đó. Lý do là nếu thầy nào xin được một ít thức ăn thì
thức ăn ấy cũng không đủ cho thầy ấy sử dụng, nói gì
đến chuyện chia xẻ. Rahula có tâm sự với Svastika là khi
đi khất thực về, các thầy lớn có cơ hội được cúng
dường hơn là các thầy nhỏ. Svastika cũng đồng ý như vậy.
Svastika nói với bạn:
- Không
hiểu tại sao độ rày vừa thọ trai xong thì một lát sau đã
thấy đói. Từ trước đến giờ có bao giờ chú thấy như
thế không?
Rahula
công nhận Svastika nói đúng. Chú nghĩ có lẽ thời buổi đói
kém nó sinh ra như vậy. Rahula đang vào tuổi lớn. Ăn đủ
mà nhiều đêm còn thấy đói, huống hồ bây giờ có ngày
chẳng có hạt cơm hay một trái ổi để vào trong bụng.
Một
hôm, sau khi đi khất thực về, đại đức Ananda đi kiếm một
cái om đất, rồi bắc om lên trên một cái bếp ngoài trời.
Cái bếp được dựng bằng ba cục đá. Đại đức nhặt các
cành củi khô và loay hoay nhóm lửa. Thấy lạ, chú Svastika
tới gần. Chú nói:
- Thầy
để con nhúm bếp cho.
Svastika
nhúm bếp tài hơn thầy Ananda nhiều. Trong chốc lát, lửa đã
cháy bùng lên. Đại đức Ananda trịnh trọng lấy bát ra. Trong
bát có một thứ gì giống như mạt cưa. Thầy đổ tất cả
vào trong chiếc om đất. Thầy nói với Svastika:
- Đây
là cám. Chúng ta rang cám này cho thơm rồi đem dâng cho Bụt
thay cơm trưa.
Trong
khi Svastika dùng hai que củi nhỏ để trộn cám trong nồi rang,
đại đức Ananda kể cho chú nghe rằng có một người lái
buôn ngựa từ miền Bắc xuống đem theo năm trăm con ngựa.
Hiện ông ta đang ở Vejanra. Ông ta đã có dịp làm quen với
các vị khất sĩ áo vàng, ông ta biết về tình trạng đói
kém ở đây và biết rằng các vị khất sĩ cũng đang đói.
Sáng hôm nay, ông gặp đại đức Ananda ở cổng chuồng ngựa.
Ông ta nhắn với đại đức là hôm nào không xin được thức
ăn cúng dường, các vị có thể ghé chuồng ngựa và mỗi
vị sẽ nhận lãnh vào bát một vóc cám để ăn chỡ đói.
Nghe nói thế, đại đức Ananda liền ngõ ý là ông có thể
cúng dường cho Bụt và cho thầy hai phần cám để ăn cho đỡ
đói. Nghe nói thế, đại đức Ananda liền ngõ ý là ông có
thể cúng dường cho Bụt và cho thầy hai phần cám, bởi vì
hôm nay chưa có ai đặt vào bát thầy. Ngưòi chủ ngựa đưa
thầy vào và vốc hai vốc cám cúng dường, một vốc cho Bụt
và một vốc cho thầy. Thầy hứa sẽ báo tin mừng này cho
các vị khất sĩ biết và thầy có ý định đem rang cám này
lên cho thơm trước khi dâng Bụt.
Cám
đã thơm, thầy Ananda trút cám trở lại vào bát. Thầy rủ
Svastika đi với thầy về phía cây nimba. Thầy dâng cám lên
Bụt, Bụt hỏi thầy và Svastika có gì ăn chưa. Svastika bạch
là sáng nay chú đã xin được hai củ khoai nhỏ. Thầy Ananda
nói là thầy đã có phần cám của thầy. Bụt bảo hai người
ngồi xuống bên người. Cả hai vâng lệnh. Họ ngồi xuống,
trang nghiêm mở nắp bình bát ra. Svastika cầm của khoai trên
tay, quán niệm, rồi chú ngửng đầu lên, Bụt đang bốc cám
trong tay và ăn ngon lành. Chú nhìn mà muốn ứa nước mắt.
Sau
buổi pháp thoại chiều hôm đó, đại đức Ananda báo tin cho
đại chúng biết về lời nguyện cúng dường cám của người
chủ ngựa. Thầy thêm là chỉ khi nào hoàn toàn không xin được
thức ăn, các vị khất sĩ mới nên ghé tới chuồng ngựa.
Thầy nói có cả thảy năm trăm con ngựa, và số lượng cám
được cúng dường sẽ được lấy bớt ra từ phần ăn của
ngựa.
Đêm
nay có trăng, đại đức Sariputta đến thăm Bụt dưới cây
nimba. Thầy được Bụt mời ngồi trên một tọa cụ gần
đấy, thầy hỏi Bụt:
- Thế
tôn, đạo lý thức tỉnh mà Thế Tôn dạy thật là mầu nhiệm.
Đạo lý này chuyển đổi cả sự sống của những ai được
có cơ hội nghe, hiểu và làm theo. Thế Tôn! Làm thế nào để
đạo lý này được tiếp nối sau khi người đã trăm tuổi.
- Sariputta,
nếu các vị khất sĩ thông hiểu kinh kệ thực hành theo những
pháp môn được chỉ dẫn trong các kinh kệ đó và nhất là
biết chấp hành giới luật cho nghiêm chỉnh thì đạo lý giác
ngộ có thể tiếp nối nhiều trăm năm, có thể là cả ngàn
năm về sau.
- Thế
Tôn, con thấy số lượng các huynh đệ thông thuộc kinh điển
rất đông và hầu hết đều chuyên cần ôn tụng kinh kệ.
Con nghĩ rằng nêu thế hệ người xuất gia tiếp tục học
hỏi và trì tụng đều đều như thế thì giáo huấn của
Bụt có thể truyền về rất xa trong tương lai.
- Nhưng
truyền tụng kinh điển chưa đủ. Cần phải thực tập theo
các pháp môn chỉ bày trong kinh điển nữa, và nhất là phải
nghiêm trì giới luật. Này Sariputta, nếu các vị khất sĩ
không nghiêm trì giới luật thì chánh pháp sẽ không được
trường tồn. Chánh pháp sẽ mai một rất sớm.
- Vậy
con xin thỉnh cầu Bụt thiết chế và ban hành giới luật để
làm mẫu mực ngàn đời cho nếp sống xuất gia.
- Chưa
được đâu, Sariputta. Giới luật không thể được thiết
chế đầy đủ trong một ngày và từ một người. Vào những
năm đầu của giáo đoàn, chúng ta chưa có một giới luật
nào hết, nhưng từ từ vì những vụng dại và lỗi lầm của
các phần tử trong giáo đoàn mà một số các giới điều
đã được thiết chế nên. Số lượng các điều, như thầy
biết, hiện đã lên tới trên một trăm hai mươi khoản. Số
lượng này sẽ tăng lên nữa với thời gian. Những giới chưa
thiết
chế mình không thể thiết chế trước được. Bây giờ đây
chúng ta biết là các điều khoản giới luật vẫn chưa đầy
đủ, và vì vậy chúng ta sẽ phải đợi một thời gian. Khi
thấy các giới điều đã đầy đủ, lúc đó chúng ta sẽ
ban hành giới luật cụ túc. Sariputta, số lượng các giới
điều, theo tôi thấy sẽ lên tới ít nhất là hai trăm.
Ngày
tự tứ đã tới, vị thí chủ giàu có bảo trợ cho mùa an
cư đã từ phương xa trở về. Nghe nói các vị khất sĩ nhiều
người bị đói trong mùa an cư, ông ta rất lấy làm hối hận.
Ông tổ chức một buổi trai tăng thật long trọng tại nhà.
Sau khi cúng dường cơm nước, ông còn cúng dường cho Bụt
và các vị khất sĩ mỗi người một áo ca sa. Sau buổi thuyết
pháp, Bụt và các vị khất sĩ từ giã ông và đi về miền
Nam.
Con
đường về miền Nam thật đẹp. Bụt và đoàn khất sĩ đi
thành từng chặng. Ngày đi, đêm nghỉ, buổi sáng thiền tọa
trước giờ khất thực. Trưa thọ trai và nghỉ trong rừng.
Buổi chiều tiếp tục đi. Gặp những nơi cần giáo hoá, Bụt
và các vị khất sĩ ở lại nhiều hôm. Buổi tối các thầy
học hỏi và ôn tụng kinh điển trước giờ tọa thiền. Sau
thiền tọa là nghỉ ngơi.
Một
buổi chiều nọ, Svastika gặp trên đường đi mấy em bé chăn
trâu đang lùa trâu về. Chú dừng lại để nói chuyện. Svastika
nghĩ đến thời niên thiếu của mình. Đột nhiên chú nhớ
tới các em chú quá. Chứ nhờ thằng Rupak, chú nhớ con Bala,
và nhất là chú nhớ con Bhima, em út của chú. Niềm nhớ quặn
lên trong lòng chú. Chú không biết rõ là đã đi tu thì còn
có quyền nghĩ tới gia đình của mình hay không. Chú định
một hôm nào hỏi Bụt hoặc là hỏi thầy Ananda. Theo chú biết
thì chú Rahula có nhiều lúc cũng nhớ mẹ lắm. Chính Rahula
đã tâm sự với chú như vậy.
Tuy
đã hai mươi tuổi, Svastika vẫn còn cảm thấy gần gũi với
bọn trẻ, hơn là với người lớn. Chú ưa quấn quít bên
cạnh Rahula. Rahula cũng cảm thấy thoải mái khi gần gũi chú.
Hai người đã có dịp tâm sự. Chú đã từng kể cho Rahula
nghe về cuộc đời mình như một em bé chăn trâu. Rahula chưa
bao giờ từng được ngồi trên một con trâu. Nghe nói con trâu
hiền lắm, Rahula vẫn chưa tin được. Chú nói với Rahula rằng
con trâu là một con vật thuộc loại hiền nhất trong các loài
động vật, dù hình tướng của nó to lớn có thể làm cho
nít ở thành phố e ngại. Chú nói đã nhiều lần chú ngằm
ngửa thoải mái trên lưng trâu trên con đường từ bên sông
về nhà. Trong khi chú nhìn trời xanh, mây trắng và đàn chim
bay lượn, thì con trâu cứ chầm chậm đưa chủ về nhà; các
con trâu khác đều đi theo một cách ngoan ngoãn. Có khi năm
ngửa trên mình trâu, chú còn thổi sáo nữa. Lưng trâu rất
ấm và cũng rất êm. Chú lại kể về những trò chơi chú
từng
chơi chung với bọn trẻ giữ trâu trong xóm. Rahula nghe chú
kể rất lấy làm ưa thích. Rahula đã ở trong cung điện trong
suốt thời gian ấy, và Rahula đã có bao giờ được chơi đùa
theo cách đó đâu. Rahula đã từng ngõ ý muốn được ngồi
trên lưng trâu một phen. Svastika hứa là sẽ tìm cách giúp
cho Rahula toại nguyện. Chính Svastika mà cũng con muốn trở
về ngồi trên lưng trâu, huống chi là Rahula. Nhưng tình thế
khó khăn lắm, đã làm khất sĩ mà còn muốn chơi đùa ngồi
trên lưng trâu như bọn mục đồng, điều này không dễ. Svastika
tính thầm là có dịp đi hành hóa gần quê nhà, chú sẽ xin
Bụt cho chú ghé về thăm các em, rồi chú cũng sẽ xin Bụt
cho phép Rahula cùng đi với chú. Rahula đã từng gặp các em
của chú rồi. Về thăm các em, chú sẽ bảo Rupak tập cho Rahula
cỡi trâu trên bờ ruộng, gần dòng Neranjara. Ở đấy vắng
vẻ không có ai nhìn đến; chú cũng sẽ cởi áo khất sĩ và
cũng cỡi trâu như ngày xưa. Ít nhất là trong một buổi chiều.
Mùa
an cư năm tới, Bụt cư trú trên núi đá Calika. Đây là Hạ
thứ mười ba kể từ ngày Bụt thành đạo. Năm nay thầy Meghiga
được làm thị giả cho Bụt. Một hôm thầy Meghiga thú thật
với Bụt là là có khi ngồi một mình trong rừng vắng, thầy
thấy những tư tưởng tạp loạn và ái dục nổi dậy trong
tâm. Thầy thường nhớ Bụt dạy là vị khất sĩ phải biết
sống một mình để có thì giờ và cơ hội mà thực tập
thiền quán, nhưng khi ở một mình thầy lại gặp những chướng
ngại khác chỗi dậy từ trong tâm.
Bụt
dạy thầy rằng biết sống một mình không có nghĩa là sống
không có đạo bạn. Gần gũi bạn bè mà chỉ để chuyện
trò phù phiếm, điều ấy không có lợi cho sự tu tập và
làm mất hết thì giờ, nhưng gần gũi bạn hữu để nâng
đỡ và chỉ dẫn nhau trong việc thực tập là một điều
cần thiết. Vị khất sĩ nên sống trong một đoàn thể, để
được nâng đỡ và khuyến khích, đó là ý nghĩa của những
tiếng quay về nương tựa Tăng (Sangham saranam gacchami).
Bụt
dạy đại đức Meghiga:
- Người
khất sĩ cần hội đủ năm điều kiện. Thứ nhất là có
thiện hữu trí thức, tức là những bạn đồng tu có trí
tuệ và đạo hạnh đủ để hướng dẫn mình. Thứ hai là
phải có giới luật để giúp mình an trú trong chánh niệm.
Thứ ba là phải có cơ hội học hỏi giáo pháp. Thứ tư là
phải chuyên cần. Thứ năm phải có sự hiểu biết. Bốn điều
kiện sau cũng có liên hệ nhiều tới điều kiện thứ nhất
là có thiện hữu trí thức.
Meghiga,
muốn điều phục ái dục, sân hận và si mê, thầy phải thường
xuyên thực tập cửu tưởng quán, từ bi quán, vô thường
quán
và tùy tức quán. Bốn phép quán này có công năng đưa đến
giải thoát và giác ngộ.
Cửu
tưởng quán là quán chiếu về quá trình tàn hoại của cơ
thể, thấy được quá trình hủy diệt của một thân thể
từ khi tắt thở cho đến khi xương cốt tan thành tro bụi.
Quá trình này có cả thảy là chín giai đoạn, cho nên gọi
là cửu tưởng quán. Cửu tưởng quán có thể giúp ta đối
trị ái dục. Từ bi quán là quán chiếu về những nguyên nhân
đã đưa tới tâm niệm giận dữ của mình, trong đó có những
nguyên nhân thuộc tâm lý của mình, và những nguyên nhân xa
gần đã khiến người khác nói năng và hành động thế nào
để mình nổi cơn giận dữ. Từ bi quán giúp ta đối trị
sân hận. Vô thường quán là quán chiếu quá trình sinh diệt
của vạn pháp; phép quán này có công năng diệt trừ si mê.
Tùy tức quán là theo dõi hơi thở và nuôi dưỡng chánh niệm;
phép quán này có công năng đối trị loạn tâm. Nếu thầy
thường xuyên thực tập bốn phép quán ấy, thầy sẽ đạt
tới trạng thái tự do của tâm ý.