Chương
41
AI
CÓ THẤY MẸ TÔI Ở ĐÂU KHÔNG?
Đường
về Savatthi đối với đại đức Sariputta đã trở nên quen
thuộc. Trên con đường này thầy và cư sĩ Anathapindika đã
gây được nhiều niềm tin nơi dân chúng đối với Bụt và
giáo đoàn của người. Lần này Bụt đi tới đâu là được
dân chúng tiếp đón niềm nỡ tới đó. Trên tả ngạn con
sông Aciravati, có nhiều khu rừng mát mẻ, nơi ấy Bụt và
giáo đoàn khất sĩ có thể nghỉ ngơi mỗi tối. Đoàn người
chia làm ba nhóm, nhóm của Bụt đi đầu, có thầy Sariputta
hướng dẫn, nhóm thứ hai do đại đức Assaji cầm đầu, nhóm
thứ ba có đại đức Moggallana chăm sóc. Các đoàn khất sĩ
đi rất trang nghiêm, khi khất thực cũng như lúc đi trên đường
rất dài. Dân chúng các thôn xóm ven sông thỉnh thoảng được
nghe pháp thoại của Bụt hay trên một bờ sông. Ngày tới
Savatthi, Bụt và giáo đoàn được hướng dẫn về thẳng Kỳ
Viên tức là tu viện Jetavana. Thấy trung tâm tu học được
xây dựng và trang bị khéo léo và chu tất. Bụt nhìn Suddatta
và ngỏ lời khen ngợi. Suddatta rất sung sướng, Chàng thưa
với Bụt rằng đó cũng là nhờ ý kiến và công trình của
đại đức Sariputta và thái tử Jeta.
Chú
tiểu Rahula, năm nay đã hai mươi hai tuổi. Theo nguyên tắc
chú phải thân cận với đại đức Sariputta để học hỏi
với thầy, nhưng sáu tháng nay vì thầy Sariputta vắng mặt
cho nên chú đã được giao lại cho đại đức Moggallana. Về
tới tu viện Jetavana, chú lại được theo hầu thầy Sariputta
như cũ.
Hoàng
thái tử Jeta và cư sĩ Suddatta thiết kế một lễ cúng dường
ngay tại tu viện mới, ngay sau ngày giáo đoàn tới Savatthi.
Dân chúng quanh vùng được mời tới chiều hôm ấy để nghe
Bụt thuyết pháp. Đã nghe nói tới Bụt và giáo đoàn từ
nhiều tháng rồi cho nên hôm ấy dân chúng thủ đô về tu
viện rất đông. Bụt đã nói về bốn sự thật và con đường
tám sự hành trì chân chính. Trong số những ngồi nghe Bụt
có cả hoàng hậu Mallika, phu nhân của quốc vương Pasenadi
và công chúa Vajiri. Hoàng hậu và công chúa đã tới do lời
mời của thái tử Jeta. Thái tử đã có lòng hâm mộ Bụt
từ ngày biết đại đức Sariputta, và chàng đã nói nhiều
về Bụt với mẹ và em gái. Công chúa mới lên mười sáu.
Nghe
thuyết pháp xong, hoàng hậu và công chúa có cảm tình ngay
với Bụt. Cả hai người thấy tâm hồn như mở ra. Cả hai
đều muốn xin làm đệ tử Bụt, nhưng chưa dám. Hoàng hậu
tự nhủ là phải có sự đồng ý của vua mới có thể đến
Bụt xin quy y. Hoàng hậu Mallika biết thế nào trong tương lai
vua Pasenadi cũng có cảm tình với Bụt, em gái của vua hiện
giờ là chánh hậu của vua Bimbisara nước Magadha, đã quy y
với Bụt từ ba năm nay.
Trong
số những người đến nghe Bụt thuyết pháp hôm ấy cũng
có nhiều nhân vật quan trọng thuộc các giáo phái tôn giáo
đang thịnh hành ở Savatthi. Họ đến vì tò mò hơn là vì
tìm học. Có người nghe Bụt xong chợt thấy tâm hồn cởi
mở. Có người nghe Bụt xong thì thấy người là một thế
lực tranh chấp đáng ngại, nhưng ai nấy đều công nhận rằng
sự xuất hiện của Bụt tại thành Savatthi này là một biến
cố rất trọng đại trong lịch sử tư tưởng và tôn giáo
ở vương quốc Kosala.
Hôm
ấy sau khi lễ cúng dường và buổi thuyết pháp đã hoàn mãn,
cư sĩ Suddatta trân trọng tới quỳ trước Bụt và bạch với
người:
- Con
và gia đình con cùng tất cả các bạn hữu kính dâng tu viện
Jetavana này lên cho Bụt và giáo đoàn. Mong Bụt và giáo đoàn
chấp nhận cho chúng con.
Bụt
nói:
- Suddatta,
công đức của quý vị thật to lớn. Giáo đoàn khất sĩ nhờ
có cơ sở này mà có nơi tránh mưa, tránh nắng, thú hoang,
rắn rết và muỗi mòng. Đây là một cơ sở tu học rất thuận
lợi cho các vị khất sĩ đến từ bốn phương, trong hiện
tại cũng như trong tương lai. Quý vị đã hết lòng hộ trì
chánh pháp, tôi mong là quý vị sẽ giữ vững chí hướng trên
con đường tu tập.
Sáng
hôm sau, Bụt và giáo đoàn khất sĩ ôm bát và đi vào thành
khất thực. Đại đức Sariputta đã chia các vị khất sĩ thành
hai mươi đoàn khất thực, và mỗi đoàn mười lăm vị. Sự
có mặt của các chiếc áo vàng trong thành phố đã khiến
cho dân chúng nói nhiều tới tu viện Jetavana. Phong thái nghiêm
trang, và lặng lẽ của các vị khất sĩ đã làm cho dân chúng
thủ đô mến phục tăng đoàn.
Cứ
mỗi bảy hôm thì lại có một buổi thuyết pháp tại tu viện
Jetavana, những buổi thuyết pháp này do Bụt chủ trì. Dân
chúng đến dự rất đông. Chỉ trong vòng mười hôm quốc
vương Koala và vua Pasenadi đã biết đến sự có mặt của
Bụt. Tuy bận rộn công việc triều chính vua cũng đã có dịp
ngồi nghe các vị cận thần nói về ngôi tu viện mới và
về giáo đoàn khất sĩ từ vương quốc Magadha mới tới.
Trong
một bữa cơm hoàng gia, vua đem chuyện giáo đoàn của Bụt
ra nói, hoàng hậu Mallika cho vua biết là thái tử Jeta có đóng
góp và việc xây dựng tu viện. Vua cho đòi thái tử đến
và hỏi về Bụt. Thái tử Jeta thực lòng tâu vua về những
gì mình nghe thấy. Thái tử nói là nếu được vua cho phép,
thái tử sẽ xin quy y làm học trò tại gia của Bụt.
Vua
pasenadi không tin là một người trẻ tuổi như Bụt mà đã
chứng đạt được quả vị giác ngộ và giải thoát cao tột
như lời đồn đãi. Theo lời thái tử thì Bụt chỉ mới có
ba mươi chín tuổi. Ba mươi chín tuổi là tuổi của vua. Vua
nghĩ đức độ của Bụt làm sao cao bằng đức độ của những
bậc lãnh tụ tôn giáo lớn tuổi như Purana Kassapa, Makkhali
Gosala, Nigantha Nathaputta và Sanjana Belatthiputta. Lòng vua nửa
tin nửa ngờ. Vua nghĩ thầm là khi nào có cơ hội vua sẽ tìm
tới thăm Bụt để tìm hiểu trực tiếp con người mà cả
hoàng hậu Mallika cả thái tử Jeta đều tỏ lòng cảm mến
và kính phục.
Mùa
Mưa sắp tới, Bụt quyết định sẽ cùng đại chúng an cư
tại tu viện Jetavana, đã có kinh nghiệm từ những mùa kết
hạ trước tại tu viện Trúc Lâm, năm nay các thầy phụ tá
cho Bụt tổ chức mùa an cư rất dễ dàng và chu đáo. Số
người mới xuất gia tại Savatthi đã lên tới sáu mươi vị.
Suddatta đã đem tới cho tu viện rất nhiều bạn hữu, những
người này rất sốt sắng trong việc tổ chức cúng dường
và bảo trợ cho những sinh hoạt tu học tại tu viện.
Một
buổi chiều nọ, Bụt tiếp một người đàn ông còn trẻ
nhưng mặt mũi bơ phờ. Được Bụt hỏi thăm, người này
nói là đứa con trai độc nhất của ông ta mới chết. Suốt
mấy ngày nay, ông ta cứ ra ngoài bãi tha ma, vừa khóc vừa
kêu lên: “Con ơi, bây giờ con ở đâu?”, ông ta không thiết
gì đến ăn uống và ngủ nghỉ. Bụt nói:
- Đời
là như thế đó, này ông bạn. Hễ có thương là có khổ.
Người
đàn ông không chấp nhận lời của Bụt. Ông ta phản đối.
- Thầy
nói sai rồi, thương không làm cho người ta khổ, thương chỉ
đem lại cho người ta hạnh phúc và niềm vui mà thôi!
Nói
xong, người ấy bất mãn đứng dậy và bỏ đi, không cho Bụt
có cơ hội giải thích thêm về lời người vừa nói. Ông
ta đi lang thang một hồi thì gặp một toán người đang xúm
nhau đánh bạc. Ông ta ngồi xuống tham dự và nhân tiện kẻ
lại cho bọn người nghe về cuộc gặp gỡ vừa rồi với
Bụt. Những người đàn ông đang cờ bạc với nhau đều đồng
ý với ông ta, cho rằng lời Bụt nói là sai. “Thương làm
sao mà lại đem tới sầu khổ và thất vọng cho được. Thương
chỉ đem tới hạnh phúc và niềm vui mà thôi! Anh nói đúng
đấy, ông sa môn Gotama nói sai rồi”.
Câu
chuyện này được truyền ra và chẳng mấy chốc đã trở
nên đề tài bàn tán sôi nổi của những giáo phái ở thủ
đô Savatthi. Nhiều vị lãnh tụ giáo phái cũng cho rằng Bụt
có một quan niệm sai lầm về thương yêu, và rốt cuộc câu
chuyện được truyền đến tai quốc vương Pasenadi.
Chiều
hôm ấy, trong bữa cơm gia đình, vua nói vói hoàng hậu:
- Cái
vị sa môn mà người ta thường gọi là Bụt ấy có thể không
phải là người giỏi.
Hoàng
hậu hỏi:
- Tại
sao hoàng thượng nói như vậy? Ai đã chê sa môn Gotama?
- Sáng
nay ta có nghe các quan trong triều bàn tán về sa môn Gotama.
Họ nói rằng theo sa môn Gotama, càng thương nhiều thì càng
lo lắng, sầu khổ và thất vọng nhiều mà thôi.
Hoàng
hậu Mallika tâu vua:
- Nếu
sa môn Gotama đã nói như thế thì chắc đó là sự thật.
Vua
Pasenadi không bằng lòng. Vua nói:
- Hoàng
hậu đừng nên nói thế. Mình phải biết suy xét chứ. Đừng
làm như một em bé hễ thầy giáo nói điều gì thì cứ cho
ngay điều ấy là đúng.
Hoàng
hậu im lặng không nói gì. Bà biết là vua chưa có cảm tình
với Bụt. Sáng hôm sau bà nhờ một người Bà la môn tâm phúc
là Nalijangha tới viếng Bụt và hỏi xem có thật là người
đã nói rằng “thương là nguồn gốc của lo lắng, sầu khổ
và thất vọng” không? Bà dặn là nếu Bụt có nói như thế
thì hãy xin Bụt giải nghĩa thêm cho rõ ràng và phải ghi nhớ
hết những điều người dạy để về thuật lại cho bà.
Nalijangha
tới thăm Bụt và được Bụt kể cho mấy câu chuyện chứng
tỏ rằng thương là khổ. Bụt nói:
- Tại
Savatthi này tôi nghe nói một người thiếu nữ vừa mất mẹ.
Cô ta đau khổ quá đến phát điên, cả ngày cứ đi ngoài
đường gặp ai cũng hỏi: ông có gặp mẹ tôi đâu không?
Bà có thấy mẹ tôi đâu không? Cũng tại Savatthi, tôi lại
mới nghe nói có hai thanh niên nam nữ yêu nhau, nhưng gia đình
cô lại ép gã người con gái cho một chàng trai mà cô ta không
yêu. Do đó mà hai người yêu nhau phải rủ nhau tự tử, nghĩ
rằng chỉ có cái chết mới kết hợp họ với nhau được.
Nội hai câu chuyện này cũng có thể chứng tỏ rằng thương
là khổ”.
Nalijangha
về thuật lại những câu chuyện ấy cho hoàng hậu Mallika
nghe. Một hôm nhân lúc vua Pasenadi rảnh rỗi, hoàng hậu hỏi
vua:
- Bệ
hạ nghĩ thế nào, công chúa Vajiri có phải là người bệ
hạ thương yêu và cưng chiều nhất hay không?
- Đúng
như vậy, ta thương yêu và cưng chiều con gái ta nhất.
- Vậy
nếu có gì không may xảy ra cho công chúa Vajiri thì bệ hạ
có lo lắng, sầu khổ và thất vọng không?
Vua
Pasenadi giật mình. Vua thấy rằng trong cái thương, có những
mầm mống của lo lắng, sầu khổ và thất vọng. Vua tự nhiên
mất hết an lạc. Câu nói của Bụt chứa đựng một sự thật
phũ phàng làm cho vua ngẩn ngơ. Vua nói:
- Hôm
nào có dịp trẫm cũng sẽ đến thăm viếng viếng sa môn Gotama.
Nghe
vua nói như thế, hoàng hậu rất vui mừng. Bà tin rằng không
được gặp Bụt thì thôi, chứ nếu được gặp Bụt thế
nào vua cũng sẽ có cảm tình vơi Bụt.
Chương
42
KHÔNG
HIỂU BIẾT THÌ KHÔNG THỂ THƯƠNG YÊU
Vua
Pasenadi đến thăm Bụt một mình, không có hoàng hậu và công
chúa đi theo. Vua cũng không đem theo vị văn quan hay võ quan
nào. Ngài để xe và thị vệ ngoài cổng tu viện Jetavan và
đi bộ vào một mình. Vua được Bụt tiếp trước chiếc am
lá của người. Sau khi an vị và trao đổi những lời thăm
hỏi, vua hỏi Bụt một cách trực tiếp:
- Sa
môn Gotama, người ta thường ca ngợi ngài là Bụt, là đã
đạt tới quả vị giác ngộ cao nhất. Trẫm băn khoăn tự
hỏi: tuổi của ngài còn nhỏ, năm tu của ngài cũng còn ít,
thế mà tại sao ngài lại đạt tới thành quả đó được?
Trẫm đã nghe nói đến những vị đạo cao đức trọng như
Puruna Kassapa, như Makkhali Gosala, như Nigantha Nathaputta, như Sanjaya
Belatthiputta ... những vị này là người người tu lâu năm,
tuổi tác đều lớn, tại sao họ không tự nhận họ là bậc
giác ngộ hoàn toàn? Lại còn những vị như Pakudha Kaccayana
và Ajita Kesakambali nữa. Ngài có nghe nói đến những vị ấy
không?
Bụt
ôn tồn:
- Đại
vương, tôi có nghe nói tới các vị ấy và có vị tôi cũng
đã từng được gặp. Đại vương, sự tỉnh thức không tùy
thuộc vào tuổi tác, và năm tháng không quyết định được
sự có mặt của giác ngộ. Đại vương, có những cái bé
nhỏ mà ta không nên khinh thường: một vị vương tử bé,
một con rắn con, một đốm lửa nhỏ và một nhà tu trẻ.
Vị vương tử tuy bé nhưng cũng có vương tính của một đức
vua như bệ hạ bậy giờ, một con rắn nhỏ có thể làm ta
mất mạng trong chốc lát. Một đốm lửa hồng có thể làm
thiêu rụi một khu rừng hay một thành phố lớn và một nhà
tu trẻ có thể đạt tới quả vị giác ngộ hoàn toàn. Đại
vương! Người khôn ngoan không bao giờ khinh thường một một
vương tử bé, một con rắn nhỏ, một đốm lửa hồng và
một nhà tu trẻ.
Vua
Pasenadi nhìn Bụt kinh ngạc. Người ngồi trước mặt vua đã
nói với vua những điều trên một cách điềm đạm. Những
điều Bụt nói không hàm chứa một hào ly mặc cảm nào. Vua
bắt đầu có đức tin nơi Bụt. Vua hỏi Bụt về điều mà
vua còn thắc mắc và chưa giải quyết được xong xuôi:
- Sa
môn Gotama, có người nói rằng ngài chủ trương không nên
thương yêu, bởi vì càng thương nhiều thì càng lo lắng nhiều,
càng thương nhiều thì càng sầu khổ nhiều, càng thương nhiều
thì càng thất vọng nhiều. Trẫm nghĩ rằng điều đó có
thể đúng, nhưng lòng trẫm vẫn không yên. Trẫm nghĩ nếu
không có thương yêu thì cuộc đời sẽ khô khan và vô vị
lắm. Xin ngài giải giùm những nghi nan ấy cho trẫm.
Bụt
nhìn vua:
- Đại
vương, câu hỏi của ngài rất hay, và nhiều người sẽ được
khai sáng nhờ câu hỏi này. Tiếng thương yêu có nhiều nghĩa,
ta phải xét cho kỹ về bản chất của từng loại thương
yêu. Cuộc đời cần đến đến sự thương yêu, nhưng không
phải là thứ thương yêu dựa trên căn bản của dục vọng,
của đam mê và vướng mắc, của phân biệt và kỳ thị. Đại
vương, có một thứ tình thương mà cuộc đời rất cần đến,
đó là lòng từ bi. Từ là maitri, còn bi là karuna.
Đại
vương, tình thương mà người đời thường nói tới là tình
thương giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, giữa
những người cùng trong họ hàng, cùng thân tộc, cùng giai
cấp hoặc cùng quốc gia. Vì tình thương ấy còn dựa vào
ý niệm “tôi” và “của tôi” cho nên bản chất của nó
còn là sự vướng mắc và phân biệt. Người ta chỉ muốn
thương cha của mình, thương mẹ của mình, thương chồng của
mình, thương vợ của mình, thương con của mình, thương cháu
của mình, thương họ hàng của mình, thương đất nước của
mình, cho nên người ta còn vướng mắc và phân biệt. Vướng
mắc cho nên lo lắng về những bất trắc có thể xảy đến
dù chúng chưa xảy đến, vướng mắc cho nên phải gánh chịu
sầu đau và thất vọng mỗi khi có những bất trắc xảy đến.
Phân biệt cho nên có thái độ nghi kỵ, hờ hững và ghét
bỏ đối với những người mình không thương. Vướng mắc
và phân biệt đều là những nguyên nhân của khổ đau, khổ
đau cho mình và cho người. Đại vương, thứ tình thương mà
muôn loài đang khao khát là lòng từ bi. Từ là thứ tình thương
có thể đem đến an vui cho kẻ khác, bi là thứ tình thương
có thể làm vơi đi những khổ đau của kẻ khác. Từ và bi
là thứ tình thương không có điều kiện, không bắt buộc
và không đòi hỏi bất cứ một sự đền đáp nào. Trong từ
bi, người được thương không phải chỉ là cha ta, mẹ ta,
vợ ta, chồng ta, con ta, huyết thống ta, giai cấp ta ... Kẻ
được thương là tất cả mọi người và mọi loài. Trong
từ và bi không có sự phân biệt ta và không ta, của ta và
của không của ta. Vì không phân biệt nên không có vướng
mắc. Từ và Bi chỉ đem lại niềm vui và làm giảm đi nổi
khổ; Từ và Bi không gây lo lắng sầu khổ và thất vọng.
Thiếu từ bi, cuộc đời sẽ khô khan, khổ đau và buồn chán
như đại vương nói. Có từ bi, cuộc đời sẽ có an lạc,
hạnh phúc và tươi vui. Đại vương, ngài là bậc nhân chủ
cầm đầu của cả một nước, dân chúng vương quốc ngài
sẽ được thấm nhuần ân đức ngài nếu ngài tu tập được
tâm Từ và tâm Bi.
Vua
cúi đầu suy nghĩ một lúc. Sau đó vua ngửng lên bỏi Bụt:
- Trẫm
có một gia đình để coi sóc, có một vương quốc phải chăm
lo. Nếu trẫm không thương yêu gia đình của trẫm và dân
chúng trong vương quốc của trẫm thì làm sao trẫm có thể
coi sóc và chăm lo cho họ được? Xin Bụt soi sáng điểm này
cho trẫm.
- Cố
nhiên là đại vương phải thương yêu gia đình hoàng gia và
phải thương yêu dân chúng của vương quốc. Nhưng tình thương
yêu của đại vương có thể vượt khỏi phạm vi gia đình
và vương quốc. Đại vương thương yêu và chăm sóc cho các
hoàng tử và công chúa. Điều đó không ngăn cản việc đại
vương có thể thương yêu và chăm sóc cho tất cả những người
trẻ khác trong vương quốc như là thương yêu và chăm sóc
chính con trai và con gái của đại vương. Nếu đại vương
làm được như vậy thì tình thương hạn hẹp trở thành tình
thương rộng lớn, và đột nhiên tất cả những người trẻ
tuổi trong vương quốc đều trở nên con trai và con gái của
đại vương. Đó đích thực là tâm từ bi. Đây không phải
là một điều quá lý tưởng. Đây là một điều con người
có thể thực hiện được nhất là khi con người ấy có trong
tay những phương tiện như đại vương. Nếu đại vương phát
được nguyện lớn thì đại vương chắc chắn có thể làm
được điều này.
- Nhưng
còn những người trẻ tuổi trong các vương quốc khác?
- Không
có gì ngăn cản đại vương thương yêu những người trẻ
tuổi trong các vương quốc khác như con trai và con gái của
ngài, dù những người này không nằm trong vùng cai trị của
đại vương. Không phải vì thương yêu dân chúng của quốc
gia mình mà mình không thể thương yêu dân chúng của các quốc
gia khác.
- Thương
yêu như thế nào? Họ có nằm dưới quyền cai trị của mình
đâu?
Bụt
nhìn vua:
- Sự
giàu mạnh và an ổn của một quốc gia không phải được
tạo nên bởi sự nghèo hèn và loạn lạc của những quốc
gia khác. Đại vương, nền hòa bình và thịnh vượng lâu dài
của một quốc gia chỉ có thể được xây dựng trên sự
hòa hiếu giữa các quốc gia và ý hướng về một nền thịnh
vượng chung. Nếu đại vương thực sự muốn cho vương quốc
Kosala có hòa bình và những người trai trẻ trong vương quốc
không phải xông pha nơi lửa đạn thì đại vương cũng phải
giữ gìn làm sao cho các vương quốc kế cận cũng có hòa bình
và để những trai trẻ các xứ đó cũng khỏi phải xông pha
trong vòng lửa đạn. Chính sách ngoại giao và kinh tế của
đại vương phải thực sự đi theo con đường của tâm từ
bi thì đại vương mới có thể làm được chuyện này. Như
vậy trong khi đại vương thương yêu và chăm sóc cho quốc
gia Kosala, đại vương cũng chăm sóc cho các vương quốc khác
như Magadha, Sasi, Videha, Sakya và Koliya.
Đại
vương, mới năm ngoái đây, sau khi về thăm gia đình và vương
quốc Sakya, tôi và nhiều vị khất sĩ có tới du hóa ở Arannakutila,
thuộc lãnh thổ của quý quốc, sát chân núi Hy Mã Lạp Sơn.
Ở đó tôi đã suy nghiệm về một chính sách trị nước căn
cứ trên nguyên tắc bất bạo động. Tôi thấy các vị quốc
vương rất có thể cai trị nghiêm minh, đem lại an hòa và
hạnh phúc của muôn dân mà không cần sử dụng đến những
biện pháp bạo động như chinh phạt, xử tử, giam hãm, tù
đày v.v... Tôi đã nói những điều này với phụ vương tôi,
vua Suddhodana. Nhân tiện đây tôi cũng muốn xác định điều
đó với đại vương. Làm nhà chính trị giỏi, đại vương
có thể trị nước mà không cần đến những phương thức
bạo động, nếu ngài biết un đúc và nuôi dưỡng Từ Bi.
Vua
thốt lên:
- Thật
là kỳ diệu! Thật là kỳ diệu! Chưa bao giờ trẫm được
nghe những lời giáo huấn mới lạ và sâu sắc như thế! Ngài
thật là một bậc tôn quý trên đời!
Những
điều Bụt dạy, trẫm xin lĩnh giáo để về chiêm nghiệm,
bởi vì trẫm biết những lời dạy ấy có những chiều sâu
cần phải khám phá. Bây giờ trẫm xin hỏi ngài một câu hỏi
thật đơn giản. Thói thường, thì tình thương của người
đời bao giờ cũng ẩn chứa ý niệm phân biệt, và ít nhiều
cũng mang tính chất đam mê và vướng mắc. Theo Bụt thì thứ
tình thương có thể gây nên lo lắng, sầu khổ, và thất vọng.
Vậy nếu không thương như thế thì ta phải thương làm sao?
Ví dụ như trẫm đây, trẫm phải thương con cái của trẫm
như thế nào để tránh được những lo lắng, sầu khổ và
thất vọng?
- Không
ai cấm cản chúng ta thương yêu, nhưng ta phải biết quán sát
để thấy được bản chất của tình thương chúng ta.Tình
thương theo lẽ thì phải làm cho người được thương yêu
có an lạc và hạnh phúc, nhưng nếu chỉ là đam mê, là ích
kỷ, là ý chí chiếm hữu thì tình thương này không thực
sự là tình thương, tình thương này không làm cho người được
thương có an lạc và hạnh phúc. Trái lại nó làm cho kẻ kia
cảm thấy tù túng, lệ thuộc, mất hết tự do, mất hết
phẩm cách của một con người có tự do. Tình thương trong
trường hợp này chỉ là một tù ngục. Nếu người được
thương không có hạnh phúc, nếu người ấy không chấp nhận
cái nhà tù của sự chiếm hữu thì tình thương kia sẽ dần
dần biến thành sự ghét bỏ và hận thù.
Đại
vương biết không, tại kinh đô Savatthi này cách đây chỉ
có mười hôm, một chuyện thương tâm đã xảy ra chỉ vì
tình thương không được thỏa mãn đã biến thành hận thù.
Có một bà mẹ cảm thấy mất mát khi đứa con trai duy
nhất của bà đem lòng thương yêu một cô thiếu nữ và sau
đó cưới cô ấy về làm vợ. Bà mẹ kia thay vì thấy rằng
mình có thêm một đứa con, lại cảm thấy rằng mình đã
mất một đứa con, và cho rằng con trai mình đã phản bội
tình thương của mình. Nghĩ như thế, hận thù nảy sinh trong
tâm bà. Một hôm bà đã bỏ thuốc độc vào thức ăn, và
cả con trai lẫn con dâu đều chết vì ngộ độc.
Đại
vương! Trong đạo lý giác ngộ, thương yêu phải đi đôi với
hiểu biết, thương yêu chính là hiểu biết. Nếu không hiểu
biết thì không thể thương yêu, vợ chồng không hiểu nhau
thì không thể thương nhau, anh em không hiểu nhau thì không
thể thương nhau. Muốn cho một người nào có hạnh phúc, mình
phải tìm hiểu cho được những ước vọng và những khổ
đau của chính người ấy. Hiểu được rồì mình mới có
thể làm mọi cách để cho người ấy bớt khổ đau và có
hạnh phúc. Như vậy mới gọi là tình thương chân thật, còn
nếu mình chỉ muốn kẻ kia làm theo ý mình, và không biết
gì đến những khổ đau và những nhu cầu chân thực của
người ấy thì đó không phải là thương. Đó chỉ là ước
muốn chiếm hữu hoặc ước muốn thỏa mãn ý nguyện của
mình, cho dù đó là ý nguyện muốn cho người kia sung sướng.
Đại
vương! Dân chúng trong vương quốc Kosala có những đau khổ
và những ước vọng của họ. Nếu đại vương thực sự
hiểu thấu những đau khổ và những ước vọng ấy thì đại
vương sẽ thực sự thương yêu được họ. Các quan chức
trong triều cũng có những đau khổ và những ước vọng của
họ. Nếu đại vương thực sự thấu hiểu những đau khổ
và ước vọng ấy, đại vương có thể làm cho họ sung sưóng
và họ sẽ suốt đời trung thành với đại vương. Hoàng hậu,
các thái tử và công chúa, mỗi người đều cũng có những
đau khổ và những ước vọng của mình; nếu đại vương
thực sự thấu hiểu được những đau khổ và những ước
vọng ấy, đại vương cũng sẽ làm cho họ sung sướng, và
khi mọi người được sung sướng và an lạc thì chính đại
vương cũng sẽ được sung sướng và an lạc. Đó là nghĩa
thương yêu trong đạo lý tỉnh thức.
Vua
Pasenadi cảm thấy xúc động. Chưa có một vị đạo sĩ hay
một vị Bà la môn nào đã chiếu rọi ánh sáng vào các ngõ
ngách tâm tư của vua và làm cho vua thấy hiểu được tâm
mình một cách rõ ràng như thế. Vị sa môn, vua nghĩ là một
bảo vật quý giá không lường của vương quốc, xứng đáng
làm thầy của ta. Vua cúi đầu suy nghĩ. Một lát sau, vua ngửng
mặt nhìn Bụt:
- Trẫm
cảm ơn ngài đã soi sáng nhiều cho trẫm, nhưng còn một điều
này nữa, trẫm còn thắc mắc. Ngài đã nói rằng tình thương
có đam mê và vướng mắc thường có tác dụng gây khổ đau
và thất vọng, trong khi thương theo đạo lý từ bi tuy không
ích kỷ và không vụ lợi nhưng cũng vẫn đem lại khổ đau
và thất vọng như thường. Trẫm cũng thương dân, nhưng mỗi
khi thấy dân chịu khổ đau vì những thiên tai như bão tố
lụt lội, dịch lệ ... thì trẫm vẫn cảm thấy khổ đau
và thất vọng, mà trẫm nghĩ ngài cũng thế, mỗi khi thấy
người khác khổ đau vì bệnh hoạn, chết chóc, ngài cũng
không thể không khổ đau.
- Câu
hỏi của đại vương rất hay; nhờ câu hỏi này mà ngài có
thể hiểu sâu thêm về bản chất của từ bi. Trước hết,
đại vương nên biết rằng những khổ đau do thứ tình thương
có bản chất đam mê và vướng mắc đem lại thì nặng nề
và to lớn gấp muôn vạn lần những khổ đau mà lòng từ
bi đã làm phát khởi trong lòng ta. Kế đó, đại vương phải
phân biệt hai loại khổ đau: một loại khổ đau hoàn toàn
vô ích và chỉ có công dụng tàn phá cơ thể và tâm hồn
người, một loại khổ đau nuôi dưỡng được lòng từ bi,
ý thức trách nhiệm và đưa tới ý chí hành động diệt khổ.
Thứ tình thương có bản chất đam mê và vướng mắc vì được
nuôi dưỡng trong tham đắm và si mê nên chỉ có thể đem lại
những phiền não khổ đau làm tàn phá con người, trong khi
từ bi chỉ nuôi dưỡng xót thương cho hành động cứu khổ.
Đại vương! sự xót thương rất cần cho con người. Đó là
một niềm đau có ích. Không biết xót thương thì con người
không thể là con người, vì vậy những khổ đau do lòng xót
thương đem lại là những khổ đau cần thiết và có lợi
lớn.
Sau
nửa, đại vương nên biết là từ bi là hoa trái của sự
hiểu biết. Tu tập theo đạo lý tỉnh thức là để chứng
ngộ được thực tướng của sự sống. Thực tướng ấy
là vô thường. Một vật đều vô thường, vô ngã vì vậy
không vật nào là không có ngày phải tàn hoại. Thấy được
tự tính vô thường của vạn vật, người tu có một cái
nhìn điềm đạm và trầm tĩnh, vì vậy những vô thường
xảy đến không làm xáo động được tâm mình. Cũng vì vậy
niềm xót thương do lòng từ bi nuôi dưỡng không bao giờ có
tính cách nặng nề và chua cay của những đau khổ thế tục.
Trái lại, niềm xót thương này còn đem đến sức mạnh cho
người tu đạo.
Đại
vương! Hôm nay đại vương đã nghe khái quát về đạo lý
giải thoát. Một hôm khác, tôi sẽ giảng giải thêm cho đại
vương về đạo lý này.
Với
tâm hồn tràn đầy sự biết ơn, quốc vương Pasenadi đứng
dậy từ tạ Bụt. Vua tự nhủ là một ngày nào đó vua sẽ
xin Bụt nhận vua làm đệ tử. Vua biết hoàng hậu Mallika,
thái tử Jeta và công chúa Vajiri đều đã có cảm tình sâu
đậm với Bụt, và vua nghĩ hôm nào cả gia đình hoàng gia
sẽ đến xin quy y làm đệ tử cùng một lần. Vua cũng biết
là gái mình, công chúa Kosaladevi, chánh hậu của quốc vương
Bimbisala, cũng như chính quốc vương Bimbisara, em rể của mình,
cũng đã từ lâu quy y Tam Bảo.
Chiều
hôm ấy, hoàng hậu Mallika và công chúa Vajiri đột nhiên thấy
vua trở nên rất ngọt nào và thầm lặng. Hoàng hậu và công
chúa biết đó là hiệu quả của cuộc gặp gỡ giữa vua và
Bụt. Tuy nhiên cả hai đều không đá động tới việc này.
Họ rất muốn vua kể lại cho họ nghe về cuộc gặp gỡ mà
họ biết là rất kỳ thú ấy, nhưng cả hai người đều mặc
nhiên đồng ý rằng họ phải đợi tới một dịp khác.
Chương
43
MÁU
AI CŨNG ĐỎ, NƯỚC MẮT AI CŨNG MẶN
Tuy
quốc vương Paessi chưa chính thức quy y với Bụt, nhưng cuộc
viếng thăm của vua tại tu viện Jetavana đã được mọi giới
trong vương quốc bàn tán đến và đã đem lại ảnh hưởng
không nhỏ cho giáo đoàn của Bụt tại kinh đô Savatthi. Một
số các vị lãnh tụ của các giáo phái tại thủ đô, lâu
nay đã từng được quốc vương kính nể và bảo trợ, bắt
đầu có mặc cảm là bị bỏ rơi. Họ nhìn tu viện Jetavana
với con mắt không có thiện cảm.
Tuy
nhiên giới trí thức và tuổi trẻ tìm tới tu viện Jetavana
càng lúc càng đông. Ngay trong mùa an cư, trên một trăm năm
mươi thanh niên đã xin được xuất gia và đã được thầy
Sariputta cho làm lễ xuống tóc. Đại chúng tu học rất tinh
tấn trong ba tháng an cư này, và cứ bảy hôm hay tám hôm một
lần, tại tu việc có tổ chức thuyết pháp. Thấy quốc vương
Pasenadi chuyên cần đi cúng dường và nghe thuyết pháp một
số quan chức trong triều cũng bắt chước vua. Một số đã
làm như thế từ tấm lòng thành thực ngưỡng mộ bậc thầy
giác ngộ, còn một số đã làm như thế để cho vua vui lòng.
Mùa
an cư được kết thúc bằng một lễ cúng dường lớn. Vua
và triều thần đã nghe theo lời Bụt tổ chức một pháp hội,
cúng dường thực phẩm và y dược cho mọi giới xuất gia,
và chẩn tế cho những gia đình nghèo khổ nhất ở thủ
đô và trong vương quốc. Sau khi lễ này hoàn mãn, vua và hoàng
hậu đều xin quy y với Bụt.
Sau
mùa an cư, Bụt và giáo đoàn chia nhau đi hành hóa tại các
vùng lân cận ở thủ đô Savatthi. Số người được tiếp
xúc với Bụt và với giáo đoàn càng ngày càng đông. Một
hôm nọ, trong khi đi khất thực ở một xóm ven đô nằm bên
tả ngạn sông Hằng, Bụt gặp một người gánh phân. Người
này thuộc về giai cấp hạ tiện. Anh tên là Sunita, Sunita đã
từng nghe nói về Bụt và giáo đoàn khất sĩ, nhưng đây là
lần đầu tiên anh được trông thấy Bụt và giáo đoàn. Sunita
lúng túng. Anh biết anh đang ăn mặc dơ dáy, người anh hôi
hám và trên vai anh đang gánh một gánh phân người. Sunita vội
vã tránh đường và tìm lối đi xuống bờ sông, nhưng từ
xa Bụt đã trông thấy Sunita. Người quyết tâm độ người
gánh phân này. Thấy Sunita tìm lối đi xuống bờ sông, Người
cũng tìm lối đi xuống bờ sông để đón đường chàng. Thấy
Bụt làm như thế, thầy Sariputta cũng bỏ hàng ngũ của mình
đi theo Bụt. Thầy Meghiuya, thị giả của Bụt thấy thế cũng
bước theo đại đức Sariputta. Tất cả các vị khất sĩ khác
tuy vẫn còn đứng trong hàng ngũ, nhưng đều nhất loạt dừng
lại im lặng quan sát.
Sunita
luống cuống. Chàng đặt gánh phân xuống, dáo dác nhìn. Phía
trên đường thì các vị khất sĩ áo ca sa vàng rựng đang
đứng đầy cả đường, phía dưới này thì Bụt và hai vị
khất sĩ đang tiến tới và đi về phía mình. Chẳng biết
làm sao, Sunita liền lội xuống nước, đứng chắp hai tay lại.
Lúc
bấy giờ, từ dãy nhà bên sông, dân chúng đã đổ ra đứng
nhìn khá nhiều. Từ già trẻ trai gái, không ai biết chuyện
đang xảy ra, Sunita vì sợ làm ô uế giáo đoàn đã tìm cách
tránh xuống bờ nước, nhưng chàng đã bị Bụt chặn đường.
Chàng nghĩ giáo đoàn này gồm toàn các giới quý phái và làm
ô uế giáo đoàn là một tội rất lớn không nào tha thứ
được. Tuy chàng đã lội xuống sông, nước ngập tới đầu
gối, nhưng gánh phân của chàng vẫn còn để phía trên bờ
nước. Chàng hy vọng Bụt và hai vị khất sĩ vì thế mà trở
lên phía đường trên trở lại.
Nhưng
Bụt không trở lên, người đi tới bờ nước, gần chỗ Sunita
đứng, người nói với chàng:
- Này
anh bạn, anh lên trên này để chúng tôi nói chuyện.
Sunita
chắp hai tay vái lia lịa:
- Bạch
đại đức, con không dám! Bạch đại đức, con không dám!
- Tại
sao? Bụt dịu dàng hỏi.
- Con
là người thuộc giai cấp hạ tiên, con sợ làm ô uế ngài
và giáo đoàn của ngài.
Bụt
ôn tồn:
- Chúng
tôi đã đi tu rồi, chúng tôi không còn phân biệt giai cấp.
Bạn cũng là người như tất cả chúng tôi. Chúng tôi không
sợ bị ô uế đâu. Chỉ có tham dục, sân hận, và si mê mới
làm ô uế được chúng ta, chứ một con người dễ thương
như bạn thì chỉ cho chúng tôi thêm niềm vui mà thôi. Bạn
tên là gì?
- Bạch
ngài, con tên là Sunita.
- Sunita,
bạn có muốn xuất gia làm khất sĩ như chúng tôi không?
- Con
không dám.
- Tại
sao bạn không dám?
- Tại
vì con thuộc giới hạ tiện ngoại cấp.
- Tôi
đã nói người đi tu không còn phân biệt giai cấp. Sunita!
Trong đạo lý tỉnh thức và trong giáo đoàn khất sĩ, không
có sự phân biệt giai cấp. Bạn hãy nghe đây. Nước trong
các dòng sông như sông Ganga, sông Yamuno, sông Actravati, sông
Sarabhu, sông Mahi, sông Rohini v.v... một khi đã chảy ra biển
cả rồi thì đều trở nên biển cả mà không còn giữ lại
cá tính và danh hiệu riêng biệt của mình. Cũng như vậy,
người đi xuất gia dù xuất thân từ giới quyền qúy Khattiya
hoặc giới Bà la môn Brahma, hoặc các giới Vessa và Suddha,
hoặc không thuộc giai cấp nào, khi đã vào trong giáo đoàn
để tu học theo đạo lý tỉnh thức thì đều phải từ bỏ
giai cấp và chủng tộc của mình để trở nên một người
khất sĩ. Sunita, nếu bạn muốn, bạn có thể trở thành một
vị khất sĩ như chúng tôi.
Sunita
hân hoan vô cùng, chàng chắp hai tay trên trán, thưa:
- Lạy
Bụt, chưa có ai nói với con một lời dễ thương như là người
đã nói. Ngày hôm nay là ngày hạnh phúc nhất của đời con.
Con sẽ rất sung sướng nếu Bụt cho con dự vào hàng ngũ những
người xuất gia trong đạo lý của người. Nếu Bụt chấp
nhận con, con sẽ đem hết lòng thành để theo người!
Bụt
trao bình bát cho thầy Meghiya. Người bước xuống bờ hồ
và đưa tay cho Sunita bảo chàng nắm lấy. Rồi người bảo
thầy Sariputta:
- Sariputta!
Thầy giúp tôi một tay. Chúng ta tắm gội sạch sẽ cho Sunita
và cho Sunita xuất gia ngay tại đây, trên bờ nước này.
Đại
đức Sariputta mỉm cười. Thầy đặt bình bát của thầy trên
bờ sông và bước xuống giúp Bụt. Sunita không cảm thấy
thoải mái lắm khi được Bụt và thầy Sariputta kỳ cọ và
tắm rửa, nhưng chàng không dám làm phật lòng hai người.
Bụt bảo thầy thị giả lên tìm đại đức Ananda để xin
một chiếc y khoác ngoài, và người làm lễ xuất gia cho Sunita
ngay trên bờ sông. Làm lễ xuất gia xong, Sunita được giao
cho đại đức Sariputta. Đại đức đưa vị khất sĩ mới
về tu viện Jetavana, trong khi Bụt và giáo đoàn tiếp tục
trên con đường khất thực.
Tất
cả những gì xảy ra bên bờ sông hôm ấy dân chúng địa
phương đều đã được chứng kiến. Tin Bụt thâu nhận Sunita
một người làm nghề hót phân, một người thuộc giai cấp
hạ tiện vào trong giáo đoàn khất sĩ bắt đầu được loan
truyền các giới ở thủ đô, nhất là giới tôn giáo, và
đã gây xúc động lớn. Chưa bao giờ ở vương quốc Kosala
này mà một người trong giới ngoại cấp nhu Sunita lại được
đón nhận và đưa vào hàng ngũ của những nhà lãnh đạp
tinh thần. Có những người lên án Bụt, cho rằng sa môn Gotama
bất chấp truyền thống và tập tục xã hội. Có người đi
xa hơn, cho là Bụt có ý gây đảo lộn trật tự xã hội với
mục đích phá rối sự trị an trong nước.
Những
bàn tán xôn xao này được vọng về tu viện Jetavana do các
giới nam nữ cư sĩ cũng có mà do các vị khất sĩ về thuật
lại cũng có. Các vị đại đức lớn như Sariputta, Mahakassapa,
Mahamoggallana và Anuruddha đã tìm cơ hội gặp Bụt để bàn
về cách đối trị lại những phản ứng của vác giới ở
thủ đô về vụ khất sĩ Sunita. Bụt bảo các thầy:
- Quý
vị biết rằng sớm muộn gì chúng ta cũng phải chấp nhận
vào giáo đoàn những thiện nam nữ trong giới ngoại cấp,
bởi vì giáo nghĩa của chúng ta là giáo nghĩa bình đẳng,
không chấp nhận được sự phân chia giai cấp. Ta đã gặp
khó khăn bây giờ, nhưng nếu ta vượt thắng được thì ta
sẽ mở được cánh cửa chưa từng được mở ra trong lịch
sử, và các thế hệ mai sau này sẽ được thừa hưởng công
đức. Chúng ta phải có can đảm.
Thầy
Moggallana bạch:
- Can
đảm thì chúng con có đủ. Chúng con cũng có đủ kiên nhẫn
nữa, nhưng làm thế nào để dư luận bớt xôn xao thì công
trình vào đời hành đạo của các huynh đệ khất sĩ mới
đỡ phần nặng nhọc.
Thầy
Sariputta đề nghị:
- Điều
quan trọng nhất là giáo đoàn tu học cho tinh tấn. Con sẽ
nổ lực giúp đỡ và hướng dẫn cho khất sĩ Sunita. Sự thành
công của Sunita sẽ là bằng chứng hùng mạnh nhất để bênh
vực chúng ta. Huynh đệ chúng ta cũng cần học cách giải thích
cho quần chúng mỗi khi tiếp xúc vói họ để cho họ hiểu
được chân nghĩa bình đẳng của con đường Bụt dạy. Lạy
Bụt, nếu đức tôn qúy trên đời có cách thức gì hay hơn
nữa thì xin người chỉ dạy chúng con.
Bụt
để tay lên vai Sariputta:
- Những
điều thầy nói đó rất đúng với ý của tôi. Chúng ta cứ
như thế mà hành trì.
Chừng
một tháng sau, sự đồn đãi về Sunita tới được tai quốc
vương Pasenadi. Một số các vị lãnh đạo các giáo phái tại
thủ đô đã đến xin yết kiến vua. Vốn sẵn có lòng thành
kính đối với tất cả các bậc lãnh tụ tôn giáo, vua Pasenadi
đã tiếp kiến họ và sau khi nghe mọi người nói chuyện vua
cũng cảm thấy hoang mang, dù rằng vua có cảm tình nồng hậu
với Bụt. Vua hứa hẹn với các vị lãnh đạo tôn giáo ấy
là sẽ suy xét về vấn đề này. Rồi một hôm vua bảo xa
giá đưa ngài tới tu viện Kỳ viên.
Xe
ngừng trước cổng tu viện, vua một mình đi bộ vào. Bóng
các vị khất sĩ áo vàng thấp thoáng sau những hàng cây xanh
mát trong khuôn viên tu viện. Đã quen thuộc với con đường
nhỏ dẫn tới tịnh thất của Bụt, vua cứ một mình đi,
không cần hỏi thăm. Thỉnh thoảng trên đường đi, vua gặp
một vị khất sĩ. Mỗi lần như thế, vua đều đứng lại
chắp tay và cúi đầu. Vị khất sĩ nào cũng đứng lại chắp
tay đáp lễ. Vua nhận thấy vị nào cũng có dáng điệu trầm
lặng, thong dong, không vội vã, và vua bỗng nhiên cảm thấy
đức tin của vua nơi Bụt lớn mạnh bội phần. Nửa đường
vào tịnh thất, vua gặp một vị khất sĩ đang thuyết pháp
trên một phiến đá, vây quanh vị khất sĩ này có chừng mười
mấy vị khất sĩ khác và khoảng độ ba bốn mươi người
cư sĩ áo trắng. Cảnh tượng rất đẹp đẽ. Phiến đá nằm
dưới gốc cây thông lớn xòe lá che mát cả một vùng. Vị
khất sĩ đang ngồi thuyết pháp kia tuổi chưa tới bốn mươi
nhưng phong thái của ông đoan nghiêm và sáng rỡ. Những người
ngồi và đứng quanh ông đang hết sức chăm chú nghe ông nói.
Vua dừng lại để nghe và cảm thấy thích thú. Định ngồi
xuống để nghe cho hết bài thuyết pháp nhưng vua chợt nhớ
ra rằng mình đã tới đây với một chủ đích, cho nên ngài
phải bỏ đi. Vua nghĩ bụng là trong chuyến về ngài sẽ ghé
lại để cùng đàm đạo với vị khất sĩ ấy.
Bụt
ra đón vua ngoài ngõ trúc phía trước tịnh xá và mời vua
vào, Bụt mời vua ngồi, cũng vẫn trên những chiếc ghế tre
như hôm hai người gặp nhau lần đầu. Sau khi trao đổi những
lời thăm hỏi, vua hỏi Bụt vị khất sĩ đang thuyết pháp
trên phiến đá dưới gốc thông già là ai. Bụt mỉm cười,
nói:
- Đó
là thầy Sunita xuất thân từ giới ngoại cấp, trước làm
nghề đổ thùng. Đại vương thấy vị khất sĩ ấy thế nào?
Vua
giật mình, thì ra vị khất sĩ có tướng mạo đoan nghiêm
và sáng rỡ kia vốn là người đổ thùng Sunita. Nếu Bụt
không nói thì vua không thể nào đoán ra được. Vua còn chưa
biết nói gì thì Bụt đã nói:
- Vị
khất sĩ Sunita từ ngày xuất gia đến nay đã tu học rất
tinh tiến. Đó là một con người thẳng thắn, thành thật,
thông minh và có chí nguyện lớn. Mới được tu học chưa
đầy ba tháng mà thấy ấy đã nổi tiếng là người có đạo
hạnh và phong thái thanh cao. Đại vương có muốn gặp gỡ
và cúng dường cho vị khất sĩ rất xứng đáng ấy hay không?
Vua
thành thật đáp:
- Trẫm
rất sẵn sàng gặp gỡ và cúng dường y áo và thức ăn cho
vị khất sĩ Sunita. Thế Tôn! Giáo pháp của ngài thật là
thâm diệu! Trẫm chưa thấy một vị đạo sư nào có cái nhìn
và tầm tay mở rộng như ngài. Thế Tôn! Có lẽ không một
người nào, một loài nào hay một vật nào mà không được
dự vào giáo pháp thâm diệu của ngài. Trẫm đã đến đây
vơi một mục đích là hỏi ngài tại sao ngài lại chấp nhận
một người trong giai cấp hạ tiện vào trong giáo đoàn cao
quý của người, nhưng trẫm đã được thấy, được nghe,
và đã được hiểu. Trẫm không phải hỏi ngài nữa. Trẫm
xin cúi lạy trước Thế Tôn!
Vua
đứng dậy chắp tay định lạy xuống, Bụt cũng đứng dậy.
Người kéo tay vua mời vua ngồi trở lại trên chõng tre. Người
cũng ngồi lại trên chõng tre. Nhìn vua, Bụt nói:
- Đại
vương! Trong đạo lý giải thoát, không cósựụ phân biệt
giai cấp mà chúng tính. Trước con mắt người giác ngộ, tất
cả mọi chúng sinh đều bình đẳng. Máu ai cũng đỏ, nước
mắt ai cũng mặn, tất cả chúng ta đều là con người. Ta
phải tìm cách để mọi người có cơ hội đồng đều và
vươn tới và thực hiện hoài bão của mình cũng như hoàn
thành nhân phẩm của mình, vì vậy cho nên tôi đã đón nhận
Sunita vào giáo đoàn khất sĩ.
Vua
chắp tay:
- Trẫm
đã hiểu, con đường của Thế Tôn đi là một con đường
có nhiều chông gai. Trẫm biết là trên con đường ấy người
sẽ gặp nhiều khó khăn và trở ngại, nhưng trẫm cũng biết
là người có đủ hùng lực để vượt qua những trở ngại
đó. Riêng trẫm, trẫm sẽ làm hết sức mình để yểm trợ
cho chánh pháp.
Vua
từ giã Bụt, nhưng khi ra đến tảng đá nằm dưới cội tùng
già, vua không thấy vị khất sĩ và thính chúng của người
nữa. Mọi người đã giải tán, vua chỉ gặp trên đường
những vị khất sĩ đang chậm rãi đi thiền hành.
Chương
44
TỨ
ĐẠI TAN RÃ RỒI TỨ ĐẠI LẠI KẾT HỢP
Một
hôm Bụt được thầy Meghiya cho biết là đại đức Nanda,
em cùng cha khác mẹ với Bụt, không cảm thấy thoải mái và
hạnh phúc trong đời sống xuất gia. Thầy Nanda có tâm sự
với thầy là thầy nhớ người yêu cũ ở thành Kapilavatthu
quá. “Sư huynh biết không, thầy Nanda nói, tôi còn nhớ hôm
tôi cầm bình bát theo Bụt đi về tu viện Nigrodha, công nương
Janapada Kalyani đã nhìn tôi và nói: điện hạ đi mau mà về
nhé, em chờ điện hạ. Tôi nhớ rất rõ mái tóc mượt như
nhung được vắt một phần sau cái vai thon nhỏ của nàng.
Hình ảnh này hay hiện về với tôi mỗi khi tôi ngồi thiền,
mà mỗi khi hình ảnh đó hiện về là tôi cảm thấy xốn
xang và thao thức; mỗi lúc như thế này tôi thấy tôi không
có hạnh phúc khi sống đời sống xuất gia”.
Chiều
ngày hôm sau, Bụt rủ Nanda đi thiền hành chung với người.
Ra khỏi vườn Kỳ Đà, hai người đi về phía một thôn trang
hẻo lánh, họ đi tới một cái hồ và cùng ngồi xuống trên
một phiến đá bên hồ. Nước hồ trong vắt, một đàn vịt
bơi lội thảnh thơi dưới hồ. Ở những lùm cây phía trên,
chim chóc ca hát vang lừng, Bụt nói Nanda:
- Các
thầy có nói là em không được hạnh phúc trong đời sống
xuất gia, có phải vậy không?
Thầy
Nanda im lặng. Một lát sau, Bụt hỏi:
- Hay
là em muốn trở về Kapilavatthu tập sự làm chính trị để
sau này thay thế cho phụ vương?
Nanda
vội đáp:
- Không,
em đã nói là em không thích làm chính trị. Em biết em không
có khả năng làm chính trị, vì vậy em cũng đã nói là em
không thích làm vua.
- Vậy
tại sao em lại không có hạnh phúc khi sống đời sống xuất
gia?
Nanda
lại giữ sự im lặng.
- Hay
là em nhớ cô Kalyani?
Thầy
Nanda đỏ mặt, nhưng thầy vẫn không nói gì.
Bụt
bảo:
- Này
Nanda, ở xứ Kosala này cũng có rất nhiều cô thiếu nữ mà
nhan sắc còn mặn mà hơn cả cô Kalyani của em. Em còn nhớ
hôm dự trai tăng ở trong cung vua Pasenadi không? Theo em, các
cô thiếu nữ tiếp tân hôm ấy có đẹp bằng Kalyani không?
Nanda
tỏ ý không bằng lòng:
- Có
thể là trong số các cô ấy, có nhiều cô đẹp hơn Kalyani,
nhưng mà em chỉ lưu luyến Kalyani mà thôi. Ở trên đời chỉ
có một Kalyani thôi.
- Nanda,
luyến ái là một trong những trở ngại lớn cho sự tu tập.
Sắc đẹp của phụ nữ cũng chóng tàn như sác đẹp của
một bông hồng. Em đã biết trên lý thuyết rằng cuộc đời
là vô thường. Em phải thật sự quán chiếu tự tánh vô thường
của vạn vật. Này em nhìn xem.
Theo
ngón tay Bụt, Nanda nhìn lên thì thấy một bà lão đang chống
gậy đi qua ngõ trúc. Bà lão còn mạnh khỏe, nhưng da trên
mặt bà đã nhăn nhúm lại.
- Bà
già này hồi trẻ chắc chắn là người có nhan sắc. Nhan sắc
Kalyani rồi cũng sẽ tàn tạ trong vòng vài mươi năm. Trong
khi đó sự nghiệp giác ngộ của em có thể đem lại ánh sáng
và an lạc từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nanda, em hãy
nhìn lên đôi khỉ đang đong đưa trên cành cây kia. Em hãy
để ý tới con khỉ cái, em có thể nghĩ rằng với một cái
miệng nhọn như thế và một cái đít đỏ như thế, con khỉ
đó không đẹp đẽ gì, nhưng đối với con khỉ đực ngồi
một bên thì đó là một con khỉ cái đẹp nhất trên đời.
Đối với nó, con khỉ cái là độc nhất, và nó có thể sẵn
sàng để chết vì con khỉ cái kia. Em có biết rằng ...
Nanda
ngắt lời Bụt:
- Thôi
xin Bụt đừng nói nữa. Em đã hiểu rồi, em hứa từ nay sẽ
tinh tiến tu học.
- Vậy
thì tốt lắm, em phải thực tập trở lại phép quán niệm
hơi thở cho chuyên cần mỗi ngày, rồi em sẽ tập quán chiếu
thân thể, quán chiếu cảm giác, quán chiếu tâm ý và cuối
cùng quán chiếu các pháp. Các pháp chính là đối tượng của
tâm ý. Phải quán chiếu để thấy cho được quá trình sinh
khởi, tồn tại và hoại diệt của mọi hiện tượng, từ
thân thể qua cảm giác đến tâm tư và các pháp. Có gì không
hiểu em có thể đến hỏi lại ta, hoặc nếu ta không có đó
thì em có thể hỏi thầy Sariputta. Nanda! Nên nhớ rằng hạnh
phúc của giải thoát mới là thứ hạnh phúc chân thật, không
tùy thuộc vào điều kiện, không bao giờ bị tàn hoại. Em
phải đạt cho được thứ hạnh phúc ấy.
Trời
đã chiều, Bụt đứng dậy, và đưa thầy Nanda về tu viện.
Tu
viện Jetavana đã tạo được nền nếp tu học vững chãi.
Số lượng các thầy khất sĩ ở lại tu học đã lên tới
năm trăm vị. Mùa mưa năm sau, Bụt về an cư tại Vesali. Địa
điểm an cư là Rừng Lớn, nơi ấy có một tòa giảng đường
hai tầng có nóc nhọn gọi là giảng đường Kutagara và một
số các tăng đường rải rác trong rừng. Tất cả những ngôi
nhà này đều đã được các vương tử trong bộ tộc Licchavi
vận động xây cất trong năm vừa qua để làm chỗ tu học
cho Bụt và các vị khất sĩ. Hầu hết cây trong rừng đều
là cây sala. Mùa an cư năm nay, các vương tử Licchavi là những
người đứng ra bảo trợ. Ambapali đã rất sốt sắng đóng
góp phần mình vào việc xây cất và bảo trợ khóa tu. Nhiều
vị khất sĩ hành đạo rải rác trong vương quốc Magadha và
cả ở vương quốc Sakya nghe Bụt về an cư tại giảng đường
Trùng Các cũng đã tìm về kịp thời để được cùng an cư
với Bụt. Số lượng các vị khất sĩ an cư năm nay lên tới
sáu trăm vị. Từ vương quốc Magdha, nhiều vị nhân sĩ và
cư sĩ nghe nói Bụt an cư tại đây cũng đã tìm tới để
được thân cận và học hỏi trong ba tháng với Bụt. Họ
tìm chỗ cư trú trong đô thị Vesali để thỉnh thoảng có
thể vào tu viện Trùng Các để cúng dường và nghe pháp.
Một
buổi sáng đầu thu khi mùa an cư vừa chấm dứt, có tin từ
Kapilavatthu báo về là quốc vương Suddhodana bệnh nặng. Ngài
sắp từ trần. Chính vua đã cho người đi triệu Bụt về
để được thấy Bụt lần chót. Sứ giả là hoàng thân Mahanama.
Hoàng thân xin Bụt dùng phương tiện xe ngựa về tới quê
hương cho kịp giờ trước giờ vua băng hà. Bụt nhận lời.
Ngưòi bảo Anuruddha, Nanda, Ananda, và Rahula cùng lên xe với
người. Bụt khởi hành ngay buổi trưa hôm ấy. Các vương
tử từ Licchavi và ca nương Ambapali cũng có cơ hội để tiễn
đưa người, nhưng hàng trăm vị khất sĩ đã ra tiễn ở cửa
tu viện Trùng Các. Sau khi Bụt đi rồi, trên hai trăm vị khất
sĩ cũng khởi hành đi về miền Bắc, nhắm hướng Kapilavatthu.
Họ muốn có mặt bên Bụt trong lễ trà tỳ của quốc vương
Suddhadana, phụ thân của người. Trong số các vị này có mặt
tất cả các vương tử Sakya đã đi xuất gia theo Bụt.
Gia
đình hoàng gia đón Bụt ngay ở cổng hoàng cung. Lệnh bà Mahapajapati
đưa Bụt ngay vào tâm điện. Thầy Bụt, vua tươi tỉnh hẳn
lên. Ngồi bên giường ngự, Bụt đưa hai tay ra nắm lấy bàn
tay vua. Vua đã già yếu: năm nay ngài đã tám mươi hai tuổi.
Bụt nói:
- Phụ
vương hãy thở thật nhẹ, thật dài và mỉm cười. Không
có gì quan trọng cho bằng hơi thở của phụ vương lúc này.
Nanda, Rahula, Anuruddha và con cũng thở theo phụ vương.
Vua
nhìn Bụt, nhìn Nanda, nhìn Rahula, nhìn Ananda, nhìn hoàng hậu
Gotami, nhìn công nương Yasodhara. Ngài mỉm cười, rồi ngài
thở theo lời Bụt dạy. Không ai dám khóc lóc trong lúc này.
Ai cũng nghe lời Bụt, theo dõi hơi thở của mình. Một lát
sau, vua nhìn Bụt nói:
- Bây
giờ ta thấy được rõ ràng cuộc đời là vô thường, và
con người muốn có hạnh phúc, thì không nên tham đắm vào
vòng ái dục. Hạnh phúc là một cuộc sống thanh thản, bình
dị và có tự do.
Hoàng
hậu Gotami nói với Bụt:
- Mấy
tháng nay, hoàng thượng sống rất thanh thản. Ngài đã thật
sự làm theo lời Bụt dạy. Thế Tôn! Những lời Bụt dạy
đã chyển hóa được nếp sống của nhiều người ở đây.
Hoàng thượng là một trong những người đã được thấm
nhuần nhiều nhất lời giáo huấn của Bụt.
Vẫn
cầm tay vua trong tay mình, Bụt khai thị:
- Phụ
vương hãy nhìn con, nhìn Nanda, nhìn Rahula. Phụ vương hãy nhìn
cấy cối màu xanh qua các cửa sổ. Sự sống còn tiếp tục.
Sự sống vẫn còn thì phụ vương vẫn còn. Phụ vương vẫn
còn tiếp tục sống trong con, trong Nanda, trong Rahula, trong tất
cả mọi loài. Sắc thân hiện thời là do tứ đại kết hợp.
Tứ đại tan rã rồi kết hợp hoài hoài. Phụ vương đừng
có vì sự tan rã của một thân tứ đại mà nghĩ rằng sự
sống chết có thể ràng buộc được ta. Sắc thân của Rahula
đây cũng là sắc thân của phụ vương vậy.
Bụt
ra hiệu cho Rahula lại gần và bảo Rahula nắm lấy tay của
ông nội trong hai tay mình. Một nụ cười rất tươi nở trên
môi của vị quốc vương sắp băng hà. Vua đã hiểu được
lời nói của Bụt. Vua có vẻ không còn sợ sự sống chết
nữa.
Bên
giường ngự lúc đó, các vị cận thần cũng đều có mặt.
Một lúc sau, vua ra hiệu cho các vị cận thần lại gần. Vua
nói với họ:
- Các
khanh, có thể là trong thời gian cùng làm việc nước, trẫm
đã có làm những điều lầm lỗi khiến các khanh phiền lòng.
Trước khi nhắm mắt, trẫm muốn các khanh tha thứ cho trẫm.
Giọng
vua yếu ớt, các quan đều khóc. Hoàng thân Mahanama, quỳ xuống
bên gối, tâu:
- Tâu
bệ hạ, bệ hạ là một ông vua có đức khoan dung và công
bình lớn nhất trên đời. Các quan trong triều không ai có
lòng oán trách bệ hạ.
Vua
nói:
- Nhân
có đủ mọi người ở đây, xin Bụt và các quan sắp xếp
việc cử người thay thế cho trẫm để trị nước. Trẫm
tin nơi sự sáng suốt của Bụt và của mọi người.
Mahanama
tâu:
- Thần
xin đề nghị hoàng thái tử Nanda cởi bỏ áo tu, lên ngôi
và chấp chính. Đó là giải pháp đẹp đẽ nhất theo thần.
Trăm họ sẽ được an lòng khi chính thái tử đông cung đảm
trách nhiệm này. Riêng thần, thần sẽ đem hết cuộc đời
của thần để phụ tá hết lòng cho thái tử.
Đại
đức Nanda nhìn về phía Bụt cầu cứu. Hoàng hậu Gotami cũng
nhìn về phía Bụt. Bụt lặng lẽ nói:
- Nếu
phụ vương, các quan và mọi người muốn tôi phát biểu ý
kiến thì tôi xin nói thế này. Em Nanda không có khiếu về
chính trị và không muốn làm chính trị. Em còn phải tu học
nhiều thêm mới có đủ các đức kiên trì và dũng cảm. Rahula
thì còn bé quá, năm nay cháu mới có mười lăm tuổi. Tôi
thấy hoàng thân Mahanama hiện là người xứng đáng nhất để
lên ngôi cửu ngũ. Ai cũng biết hoàng thân là một người
có chí khí lớn. Hoàng thân lại là một người có lòng từ
bi, có nhiều hiểu biết và có nhiều kinh nghiệm về chính
sự. Hoàng thân đã làm phụ tá cho phụ vương trên sáu năm
rồi. Tôi nghĩ là hoàng thân nên vì hoàng gia và vì dân tộc
mà đứng ra lãnh trách nhiệm khó khăn và nặng nề này.
Mahanama
chắp tay thối thác:
- Con
sợ tài đức kém cõi không cáng đáng nổi việc lớn. Xin
hoàng thượng, xin Bụt và các vị cận thần xét lại mà cử
người xứng đáng hơn.
Một
vài vị đại thần đứng lên phát biếu ý kiến. Người nào
cũng tán đồng đề nghị của Bụt, cho đó là một đề nghị
thiết thực và thông minh. Cuối cùng tất cả các quan đều
một lòng một dạ thỉnh cầu hoàng thân Mahanama đứng lên
chấp chính. Vua gật đầu, ngài gọi Mahanama tới bên giường
ngự. Cầm tay Mahanama, vua nói:
- Các
quan đã tín nhiệm khanh, Bụt cũng tín nhiệm khanh, khanh là
con cháu của trẫm. Trẫm rất sung sướng được khanh chấp
nhận trách vụ nối tiếp trẫm để mà an lòng trăm họ.
Mahanama
phủ phục lạy xuống để vâng mệnh.
Vua
hoan hỷ nhìn mọi người:
- Trẫm
rất an lòng mà nhắm mắt. Trẫm rất vui được gặp Bụt
trước khi từ giã cõi đời. Lòng trẫm thanh thản lắm, trẫm
không luyến tiếc gì, cũng không ân hận gì, trẫm mong Bụt
để tâm nâng đỡ cho Mahanama và hướng dẫn cho Mahanama trong
những bước đầu. Đạo đức của Bụt sẽ khiến cho đất
nước và trăm họ an lành.
Giọng
của vua càng lúc càng yếu. Bụt ngồi xuống gần bên giường
ngự. Người cầm tay vua:
- Con
xin hứa là sẽ nâng đỡ cho Mahanama. Xin phụ vương yên lòng.
Con sẽ ở lại dây một thời gian, cho đến khi nào mọi việc
được an bài và tình thế hoàn toàn ổn định.
Vua
mỉm cười yếu ớt, nhưng vẻ mặt của ngài an hòa và mãn
nguyện. Rồi ngài nhắm mắt qua đời.
Hoàng
hậu Gotami là công nưong Yasodhara khóc lên thành tiếng. Các
quan cũng khóc rống lên. Bụt vuốt mắt cho vua, đặt hai tay
vua lại cho ngay ngắn và đứng dậy. Người ra hiệu cho mọi
người nín khóc, và bảo mọi người theo dõi hơi thở để
hộ niệm cho vua. Cuối cùng, người đề nghị mọi người
ra hội ý với nhau ở phòng ngoài về việc tổ chức tang lễ.
Lễ
trà tỳ của quốc vương Suddhodana được tổ chức bảy hôm
sau đó. Các thầy Bà la môn ở thủ đô và từ các tỉnh về
tham dự trên một ngàn vị. Đặc biệt trong lễ trà tỳ này
là sự có mặt của gần năm trăm vị tu sĩ của một giáo
đoàn mới, đó là giáo đoàn khất sĩ. Tất cả các vị khất
sĩ đều khoác ca sa màu cam. Ngoài kinh lễ cổ truyền của
đạo Bà la môn lại có kinh lễ của giáo đoàn mới. Các vị
khất sĩ đã trì tụng Kinh Bốn Sự Thật, Kinh Lửa, Kinh Vô
Thường, Kinh Nhân Duyên và sau hết là Ba Lời Quay Về Nương
Tựa. Kinh Tụng toàn bàng tiếng Magadha, ngôn ngữ miền Đông
lưu vực sông Ganga, nên tất cả quần chúng tham dự đều
nghe và hiểu rõ.
Bụt
đứng lên đi ba vòng quanh hỏa đàn rồi tự tay châm lửa
cho hỏa đàn. Trước khi châm lửa, người nói:
- Sinh,
già, bệnh và chết là những gì phải xảy đến cho tất cả
mọi người. Chúng ta phải nghĩ đến sinh, già, bệnh và chết
trong đời sống hàng ngày để đừng bị chìm đắm trong dục
vọng, để sống an lạc, thảnh thơi và làm cho cuộc đời
chung quanh bớt khổ. Sinh, già, bệnh và chết cũng là lý thường
nhiên. Người đạt đạo có thể đạt tới trạng thái thản
nhiên trước sinh, già, bệnh,và chết. Trong tự tính của vạn
pháp, không có gì sinh, không có gì diệt, không có gì còn,
không có gì mất, không có gì thêm, không có gì bớt.
Hỏa
đàn bốc cháy phần phật. Có tiếng chiêng tiếng trống hòa
lẫn với tiếng tụng kinh trầm bỗng. Dân chúng Kapilavatthu
tới lễ trà tỳ rất đông. Họ biết hôm nay chính Bụt sẽ
châm lửa cho hỏa đàn.
Sau
lễ đăng quang của Mahnama, Bụt còn ở lại giáo hóa một
thời gian ba tháng tại Kapilavatthu. Một hôm, thái hậu Mahapajapati
Gotami đến tu viện Nigrodha viếng Bụt để cúng dường mấy
chiếc ca sa và cầu xin được xuất gia để làm một vị nữ
khất sĩ.
Bà
nói:
- Bạch
Thế Tôn, nếu Thế Tôn cho phép phái nữ được đi xuất gia
thì trong thiên hạ sẽ có những kẻ được thừa hưởng ân
huệ từ bi của người lắm. Thế Tôn, trong hàng vương tử
có nhiều vị đã đi xuất gia theo học với Bụt. Trong số
đó, có vị đã từng có gia đình, phu nhân của các vị cũng
rất ước ao được học theo giáo pháp của Bụt với tư cách
của những người xuất gia. Tôi cũng muốn xin Thế Tôn cho
tôi được xuất gia. Đó là niềm vui lớn nhất mà tôi mong
mỏi, sau khi thượng hoàng đã từ bỏ cuộc đời.
Bụt
lặng thinh, một lát sau, người nói:
- Không
được đâu, lệnh bà Gotami.
Bà
Pajapati cầu khẩn:
- Tôi
biết đây là một điều khó cho đức Thế Tôn, Thế Tôn chấp
thuận cho người nữ xuất gia thì thế nào cũng có sự chống
đối trong xã hội, nhưng tôi nghĩ là Bụt sẽ không e ngại
gì sự chống đối đó.
Bụt
lại lặng thinh, rồi người nói:
- Tại
Rajagala cũng đã có những người phụ nữ muốn xin xuất gia,
nhung con nói rằng chưa đến lúc. Con thấy hiện chưa có đủ
điều kiện để nhận cho người nữ xuất gia.
Ba
lần thỉnh cầu, ba lần Bụt không chấp thuận. Hoàng hậu
Gotami buồn bã giã từ Bụt. Bà trở về cung và than thở với
lệnh bà Yasodhara. Mấy hôm sau, Bụt lên đường trở về Vesali.
Tới Vesali, người cư trú tại tu viện Trùng Các.
Trong
khi đó, bà Gotami đi tập hợp những người phụ nữ có ý
chí xuất gia lại, trong đó có cả những thanh nữ muốn theo
gương nam giới đi xuất gia. Những thiếu nữ này chưa từng
lập gia đình. Hầu hết đều thuộc về bộ tộc Sakya. Bà
Gotami nói với họ:
- Tôi
biết chắc rằng trong tinh thần đạo pháp tỉnh thức, mọi
người đều bình đẳng, bởi vì ai cũng có khả năng giác
ngộ và giải thoát. Chính Bụt đã nói điều này. Người
đã nhận vào giáo đoàn cao quý những người thuộc giai cấp
hạ tiện, thì không có lý nào người lại kỳ thị phái nữ.
Người nữ cũng là người, người nữ cũng có thể đạt
tới giác ngộ và giải thoát. Vậy thì không có lý do gì mà
chúng ta lại không được đối xử bình đẳng, tôi đề nghị
là chúng ta nên tự ý xuống tóc, cởi bỏ mọi đồ trang sức
và khoác y vàng lên người. Rồi chúng ta cũng bỏ hết guốc
dép và đi bộ về thành Vesali để xin được xuất gia. Trước
hết chúng ta phải chứng tỏ quyết tâm của chúng ta, và sau
đó chúng ta phải chứng tỏ khả năng của chúng ta. Chúng
ta phải chứng tỏ cho Bụt và mọi người thấy rằng chúng
ta cũng có thể từ bỏ xa hoa, sống đời đơn giản của kẻ
không nhà không cửa, có thể đi chân đất hàng trăm dặm
và có thể đi xin ăn mà sống. Nếu không làm như vậy được
thì không bao giờ chúng ta hy vọng có thể được chấp nhận
và giáo đoàn. Muốn được chấp nhận, chúng ta phải được
công nhận trước đã.
Mọi
người trong cuộc họp đều phấn khởi khi nghe bà Gotami nói.
Họ thấy nơi bà một vị lãnh đạo thực sự của phái nữ.
Yasodhara cũng có mặt trong buổi họp. Bà mỉm cười, đã từ
lâu, bà biết tính khí của thái hậu Gotami. Thái hậu Gotami
là người không thối tâm bất cứ trước một trở lực nào.
Những năm cùng làm việc với bà để giúp cho kẻ nghèo đói,
Yasodhara đã thấy rõ điều đó.
Tất
cả mọi người trong buổi họp đã quyết định làm theo đề
nghị của lệnh bà Gotami. Họ hẹn ngày giờ hành động. Bà
Gotami nói với Yasodhara :
- Gopa,
con hãy thong thả, đừng đi theo ta trong chuyến này, không có
con kỳ này, tình trạng có thể ít khó khăn hơn, chừng nào
ta thành công con sẽ đi theo sau cũng không muộn.
Gopa
hội ý, bà mỉm cười nhìn hoàng hậu.
Chương
45
CÁNH
CỬA PHƯƠNG TIỆN
Một
buổi sáng khi đi ra hồ lấy nưóc, đại đức Ananda gặp lệnh
bà Gotami và khoảng năm mươi người phụ nữ đứng phía bên
ngoài tịnh xá của Bụt, người nào cũng đã xuống tóc, người
nào cũng khoác y vàng, và bàn chân người nào cũng sưng vù
và chảy máu. Ban đầu, thầy tưởng đó là một nhóm khất
sĩ, nhưng nhìn kỹ lại thầy mới biết là không phải. Ngạc
nhiên đến cực độ, thầy tới hỏi bà Gotami:
- Trời
ơi, lệnh bà đi đâu mà mới sáng tinh sương đã thấy đứng
ở đây, chân cẳng tại sao sung trầy và chảy máu? và còn
các công nương nữa ...
Bà
Gotami nói:
- Đại
đức Ananda, chúng tôi đã xuống tóc, đã bỏ hết đồ trang
sức, đã từ bỏ hết mọi tiện nghi vật chất trong cuộc
đời. Chúng tôi đã đi bộ từ Kapilavatthu tới đây, từ hơn
mười lăm hôm nay và đã xin ăn dọc đường. Chúng tôi muốn
chứng tỏ rằng chúng tôi cũng có khả năng sống đời sống
của người xuất gia được. Đại đức Ananda, xin đại đức
bạch giùm với Bụt cách nào để chị em chúng tôi được
chấp nhận vào giới xuất gia.
Ananda
nói:
- Lệnh
bà và các công nương hãy cứ đứng chờ đây. Tôi sẽ vào
thưa ngay với Bụt. Tôi hứa sẽ làm hết sức của tôi.
Đại
đức vào trong tịnh xá khi Bụt mới thay áo xong. Đại đức
Nagita hiện là thị giả của người cũng có mặt trong tịnh
thất. Thầy bạch với Bụt những điều mà thầy vừa trông
thấy và nghe thấy. Bụt im lặng. Một hồi sau, thầy hỏi
Bụt:
- Thế
Tôn, người nữ xuất gia và tu hành theo chính pháp thì có
thể chứng ngộ được những quả vị như Nhập Lưu, Nhất
Hoàn, Bất Hoàn hay A La Hán không?
Bụt
nói:
- Được
chứ.
- Vậy
thì tại sao Bụt không cho người nữ xuất gia? Thế Tôn, lệnh
bà Gotami là người đã chăm sóc và nuôi nấng Bụt ngay từ
khi Bụt mới sinh ra, và thương yêu Bụt không khác gì một
người mẹ đẻ. Lệnh bà đã xuống tóc, đã cởi bỏ hết
mọi trang sức, đã đi chân đất từ thành Kapilavatthu về
tới đây. Lệnh bà muốn chứng tỏ rằng những gì đàn ông
làm được thì người đàn bà cũng có thể làm được. Xin
Bụt từ bi cho lệnh bà được xuất gia trong giáo pháp của
người.
Bụt
lặng thinh, một lát sau, người bảo thầy Nagita đi tìm các
đại đức Sariputta, Moggallana, Anuruddha, Bhaddiya, Kimbala, và
Mahakassapa và mời họ đến cho người thỉnh ý.
Bụt
và các vị đệ tử phụ tá hội ý khá lâu. Bụt nói không
Bụt kỳ thị người nữ, nhưng người chưa nghĩ ra được
cách thức chấp nhận những nữ vào trong giáo đoàn mà không
tạo ra những trở ngại trong nội bộ cũng như từ bên ngoài.
Sau một hồi trao đổi ý kiến, đại đức Sariputta nói:
- Lệnh
bà Gotami lâu nay là một người có quyền hành và ảnh hưởng
rất lớn trong hoàng tộc cũng như ngoài xã hội, theo như lời
đại đức Bhaddhiya đã nói. Nếu ta không có một pháp chế
quy định sự phân biệt nam nữ và quyền hạn cho rõ rệt
thì sau này có thể có những rắc rối xảy ra. Ta cần có
một pháp chế như thế. Pháp chế này đồng thời cũng là
để giảm thiểu những phản ứng bên ngoài của một xã hội
đã ngàn đời có tính cách trọng nam khinh nữ. Tôi đề nghị
một pháp chế tám điểm như sau:
Thứ
nhất, một vị nữ khất sĩ -bhikkhuni- phải luôn luôn cung
kính chào hỏi một vị nam khất sĩ -bhikkhu- dù vị nữ khất
sĩ này tuổi đời lớn hơn và tuổi tu cũng lớn hơn vị nam
khất sĩ.
Thứ
hai, các vị nữ khất sĩ phải tìm về an cư mỗi năm ở những
trung tâm nào có đoàn thể nam khất sĩ để nương tựa và
học hỏi.
Thứ
ba, cứ mỗi tháng hai kỳ, giới nữ khất sĩ phải cử người
đi thỉnh chúng nam khất sĩ chỉ định ngày bố tát uposatha
và cử người đến thăm viếng, giáo huấn và khích lệ việc
tu học của nữ chúng.
Thứ
tư, vào ngày kết thúc mùa an cư, vị nữ khất sĩ phải dự
lễ tự tứ và cầu chỉ giáo về sự tu học của mình, không
những ở trung tâm nữ khất sĩ của mình mà còn ở trung tâm
của vị nam khất sĩ nữa.
Thứ
năm, khi phạm giới, vị nữ khất sĩ phải sám hối trước
cả hai chúng nam và nữ.
Thứ
sáu, những người nữ, sau thời gian tập sự xuất gia, phải
cầu xuất gia thọ đại giới trước cả hai chúng nam và nữ.
Thứ
bảy, một vị nữ khất sĩ không được nói hành và chỉ
trích một vị nam khất sĩ.
Thứ
tám, vị nữ khất sĩ không được phép giảng dạy cho đoàn
thể các vị nam khất sĩ.
Đại
đức Moggallana cười:
- Tám
điều này rõ rệt là có kỳ thị người nữ rồi, sao lại
nói là không kỳ thị?
Đại
đức Sariputta đáp:
- Tám
điều này được đưa ra với mục đích chính là mở được
cửa cho giới phụ nữ đi vào giáo đoàn. Mục đích của nó
không phải là kỳ thị, mà là chấm dứt sự kỳ thị. Điều
cốt yếu là người phụ nữ được xuất gia, sư huynh không
thấy điều đó sao?
Đại
đức Moggallana mỉm cười gật đầu, tỏ vẻ thông cảm sâu
xa với bạn. Đại đức Bhaddhiya góp ý:
- Tôi
thấy pháp chế “Bát kính” rất cần thiết. Lệnh bà Gotami
là một người có quyền hành lớn, lại là mẹ của đức
Thế Tôn. Nếu không có pháp chế “Bát kính” thì bà sẽ
không thấy được ranh giới quyền hạn của bà, và sẽ không
có ai có khả năng điều chỉnh bà ngoài Bụt.
Bụt
bảo Ananda:
- Ananda,
thầy hãy ra bảo cho lệnh bà Mahapajapati biết tin này. Thầy
nói rằng nếu lệnh bà chấp nhận tám điều gọi là “Bát
Kính Pháp” vừa nói thì lệnh bà sẽ được phép xuất gia.
Lúc
Ananda ra thì mặt trời đã lên tới đỉnh đầu, nhưng bà
Goatmi và các vị công nương vẫn còn đứng chờ ngoài ngõ.
Sau khi nghe nội dung “Bát Kính Pháp”, bà Gotami nói:
- Đại
đức Ananda, xin đại đức bạch với đức Thế Tôn rằng,
khi một cô gái xinh đẹp và trẻ trung mới tắm và gội đầu
bằng nước thơm, mà sẵn có người ta đem tới cho vành hoa
kết bằng hoa sen hoặc bằng hoa hồng thơm ngát, thì cô gái
sẽ sung sướng đưa hai tay đón nhận và để trên đầu mình;
cũng như thế, tôi rất sung sướng chấp nhận pháp chế “tám
sự cung kính” và hành trì theo suốt đời, nêu tôi được
phép xuất gia.
Đại
đức Ananda hoan hỷ vào báo tin này với Bụt. Trong số các
vị công nương đi theo, có người nhìn đức bà Gotami có ý
như dò hỏi. Bà mỉm cười nói:
- Các
em đừng e ngại, điều quan trọng nhất là chúng ta được
xuất gia làm nữ khất sĩ. Những điều trong “Bát Kính Pháp”
không phải là những trở ngại cho sự tu học của chúng ta,
mà chính là cửa ngõ để chúng ta đi vào.
Năm
mươi mốt người nữ được làm lễ xuất gia ngay trong ngày
hôm đó. Đại đức Sariputta sắp đặt để các vị này có
ngay một trung tâm tạm cư. Nữ cư sĩ Ambapali vui lòng để
cho các vị nữ khất sĩ được sử dụng vườn Xoài của
bà để làm chốn tu học. Đại đức Sariputta cũng được
Bụt ủy thác việc dạy các vị nữ khất sĩ những phép tắc
hành trì sơ đẳng của đời sống xuất gia.
Sau
đó tám hôm, nữ khất sĩ Mahapajapati tới xin tham vấn Bụt,
bà thưa:
- Thế
Tôn, xin người từ bi dạy cho tôi vắn tắt cách hành trì
để tôi có thể tiến mau trên đường giải thoát.
Bụt
nói:
- Nữ
khất sĩ Mahapajapati! Điều quan yếu nhất là phải nắm lấy
tâm ý của mình. Phải học phương pháp theo dõi hơi thở và
quán niệm về bốn lãnh vực thân thể, cảm thọ tâm ý và
đối tượng tâm ý. Quán niệm như thế nào để càng ngày
càng thấy phát triển nơi mình các đức khiêm nhường, thanh
thản, buông bỏ, thanh bần và an lạc. Khi những phẩm chất
ấy của tâm ý được phát triển, mình có thể an tâm là
mình đang đi trên con đường chánh pháp, con đường tỉnh
thức và giác ngộ.
Nữ
khất sĩ Mahapajapati rất hoan hỷ, bà từ giã Bụt và trở
về với các vị nữ khất sĩ đồng tu. Bà dự tính sẽ thiết
lập một trung tâm tu học cho ni chúng ngay tại Vesali này để
có thể được gần gũi và học hỏi với Bụt và với các
vị đệ tử lớn của người, ít nhất là trong thời gian
Bụt còn lưu trú tại đây. Bà lại có ý nguyện trở về
Kapilavatthu để mở một trung tâm tu học cho ni chúng ngay tại
quê hương mình. Ngay hôm đó, bà nhờ người về báo tin mừng
cho công nương Yasodhara tại Kapilavatthu, Bà biết rằng tin nữ
giới được chấp thuận vào giáo đoàn khất sĩ sẽ nổ tung
ra như một tiếng sét và sẽ có rất nhiều phản ứng trong
xã hội. Người ta sẽ kên án và công kích Bụt cùng giáo
đoàn. Bụt và giáo đoàn sẽ gặp những khó khăn không thể
nào lường trước được. Nghĩ đến đó, bà thấy một niềm
biết ơn tràn ngập tâm tưởng bà. Bà thấy rõ pháp chế “Bát
Kính” không phải là những điều kỳ thị nữ giới mà lại
là những phương tiện bảo vệ và che chở cho giáo đoàn trong
đó có nữ giới. Bà tin rằng trong tương lai, khi sự kiện
nữ giới được xuất gia đã trở nên một sự thực rồi
thì pháp chế “Bát Kính” sẽ không còn cần thiết nữa.
Từ
hôm có ni chúng, giáo đoàn của Bụt bắt đầu được gọi
là một giáo đoàn bốn chúng: chúng nam khất sĩ, (bikkhu), chúng
nữ khất sĩ (bikkhuni), giới nam cư sĩ (upasaka) và giới nữ
cư sĩ (upasika).
Ni
trưởng Mahapajapati đã suy nghĩ kỹ về cách phục sức của
giới nữ khất sĩ. Bà đã trình với Bụt ý kiến của mình
và đã được Bụt chấp thuận. Các vị nam khất sĩ thường
chỉ vận ba thứ: một tấm antaravasaka, gọi là an đà hội,
là quần dưới, một tấm uttarasanga, gọi là uất đa la tăng,
là áo mặc bên trên và một tấm sanghati, gọi là tăng già
lê, là chiếc áo khoác bên ngoài. Các vị nữ khất sĩ, ngoài
ba tấm ấy, còn được phép vận thêm hai tấm khác: một là
samkaksika, dùng để thắt ngang hông và hai là kusulaka, dùng
như một chiếc váy.
Ngoài
y và bát, các vị khất sĩ và nữ khất sĩ có quyền làm sở
hữu chủ của một cái quạt để che đầu khi trời nắng,
một chiếc lọc nước uống, một cây kim và một ít chỉ
để khâu vá lại xiêm y, một cái tăm xỉa răng, và một chiếc
dao cạo để cạo tóc và râu, mỗi tháng hai lần.