Chương
36
BÔNG
SEN DUYÊN KIẾP
Mộ
hôm công nương Yasodhara thỉnh Bụt, đại đức Kaludayi và
thầy Nagasamala tới thọ trai ở cung điện riêng của mình.
Bà cũng đã mời hoàng hậu. Sau buổi cúng dường, bà đã
thỉnh Bụt và hoàng hậu đi ra ngoại thành thăm những xóm
nghèo nơi bà đã làm việc cứu tế xã hội trong những năm
qua. Các thầy Kaludayi và Nagasamala cũng cùng đi với người,
Rahula cũng được đi theo Bụt.
Khi
Bụt tới nơi, người thấy trẻ con tập hợp đông có tới
hàng trăm đứa, thì ra công nương Yasodhara đã triệu tập
chúng từ những xóm làng quanh đó. Chỗ tập hợp là gốc
cây hồng táo năm xưa, nơi mà Bụt đã ngồi thiền định
lần đầu lúc người mới lên chín tuổi. Mới đó mà hai
mươi bảy năm trời đã trôi qua. Cây hồng táo đã lớn lên
gấp bội. Yasodhara cho Bụt biết là những đứa trrẻ Bụt
gặp năm xưa nay đã là những người chủ gia đình. Những
đứa trẻ mà Bụt được gặp cách đây tám năm bây giờ
cũng đã trở thành những chàng trai cao lớn và những cô gái
duyên dáng. Phần lớn bọn trẻ mà Bụt gặp hôm nay đều
từ bảy tới mười hai tuổi, hầu hết là con cái nhà nghèo.
Bọn
trẻ đã được bà Yasodhara dạy cách đón mời Bụt. Khi thấy
Bụt tới, chúng bỏ cuộc chơi, đứng dậy, dàn thành hai hàng
để Bụt có lối đi tới gốc cây hồng táo. Nơi đây chúng
đã đặt một cái ghế đặc biệt cho Bụt ngồi. Chúng đã
trải chiếu để mời những vị quan khách khác như bà Gotami,
Yasodhara, và các thầy đi theo Bụt.
Bụt
rất hài lòng được ngồi giữa bầy trẻ và giảng dạy giáo
pháp cho chúng. Người nhớ những buổi tập họp của bọn
trẻ em nhà nghèo ở Uruvela. Người kể cho các em nghe về chú
bé chăn trâu tên Svastika và cô bé mang sữa tên Sujata. Người
dạy các em về cách nuôi dưỡng lòng thương yêu và mở rộng
tầm hiểu biết. Người lại kể cho các em nghe câu chuyện
tranh nhau con chim thiên nga giữa người với Devadatta hồi người
mới lên bảy tuổi. Bọn trẻ con được nghe giảng dạy bằng
những câu chuyện hấp dẫn này rất lấy làm vui sướng.
Cuối
cùng Bụt bảo Rahula ra ngồi trước mặt người rồi Bụt
kể cho tất cả các em bé nghe một câu chuyện tiền thân.
Người nói:
“Ngày
xưa có một chàng trai trẻ tên là Megha, thông minh, đức hạnh,
hiếu thuận và học giỏi. Chàng sống ở miền chân núi Hy
Mã Lạp Sơn. Chàng muốn đi về miền đồng bằng để học
hỏi thêm. Không có tiền, nhưng chàng cũng can đảm ra đi.
Chàng mang theo một cái gậy, một cái nón, một cái bình đựng
nước uống và một chiếc áo choàng. Trên con đường về
kinh đô mỗi ngày chàng ghé lại làm việc cho những nhà nông
dân bên đường để được có cơm ăn, và để tiếp tục
đi nữa. Có khi chàng còn được trả tiền. Khi đến thủ
đô Divapati, chàng đã để dành được năm trăm đồng trong
túi áo.
Vào
đến cửa thành chàng thấy dân chúng đang mở hội rất vui.
Chàng không biết người ta đang mở hội ăn mừng việc gì
nên có ý muốn tìm người để hỏi. Vừa lúc ấy có một
cô thiếu nữ xinh đẹp, mặt mày thật sáng sủa, đi ngang.
Cô cầm trong tay một bó sen. Bó sen có tất cả bảy bông sen
hàm tiếu. Chàng hỏi cô:
- Có
việc gì vui mà dân chúng mở hội thế cô?
Thiếu
nữ đáp:
- Chắc
anh không phải là dân địa phương cho nên mới không biết
hôm nay dân chúng mở hội gì. Số là hôm nay tại thủ đô
Divapali có một bậc giác ngộ xuất hiện tên là Dipankara.
Người là bó đuốc soi đường cho tất cả chúng sanh Ngài
là con của vua Areimat, đã đi tu và đã thành đạo. Đạo của
ngài sáng chói cả thế gian. Hôm nay, để mừng ngài, dân chúng
tại đây mới mở hội.
Nghe
nói có một vị giác ngộ xuất hiện trên thế gian. Megha rất
lấy làm sung sướng. Chàng rất muốn được cúng dường ngài,
được tới làm lễ ngài và học đạo với ngài. Chàng hỏi
cô thiếu nữ:
- Cô
mua bảy bông sen này bao nhiêu tiền thế, thưa cô?
Thiếu
nữa đưa mắt nhìn người con trai lễ phép và có dáng dấp
thông minh. Nàng trả lời:
- Em
chỉ mua có năm bông thôi. Hai bông kia là của em đem theo. Em
hái hai bông ấy ở ao nhà.
Megha
nói:
- Vậy
năm bông kia cô mua bao nhiêu, thưa cô?
- Em
mua hết năm trăm đồng.
Megha
khản khoản cầu xin thiếu nữ để lại cho anh ta năm bông
sen ấy để anh có thể có hoa đem cúng Bụt Dipankara. Thiếu
nữ không chịu. Nàng nói:
- Em
mua để cúng Bụt chứ không phải để bán lại.
Megha
hết lòng khẩn khoản. Anh nói:
- Cô
cúng dường hai bông cũng được rồi mà. Xin cô vui lòng cho
tôi lại năm bông để tôi cũng có dịp được cúng dường
bậc giác ngộ với. Thưa cô được gặp một bậc giác ngộ
trên đời là quý hóa lắm. Tôi quyết tâm cùng đi với cô
để tới gặp ngài. Tôi muốn được học hỏi đạo lý do
ngài chỉ dạy. Nếu cô vui lòng nhượng cho tôi năm bông hoa
ấy, tôi sẽ nhớ ơn cô suốt đời.
Thiếu
nữ nhìn xuống đất, không nói.
Megha
lại năn nỉ:
- Nếu
cô cho tôi mua lại năm bông hoa, tôi sẽ làm bất cứ điều
gì cô sai bảo để trả ơn cô.
Thiếu
nữ không dám ngửng đầu lên. Hai người im lặng đi bên nhau
rất lâu. Cuối cùng cô lên tiếng:
- Anh
ơi, không biết tại vì duyên nợ nào từ những kiếp trước
mà khi gặp anh, em đem lòng thương anh liền. Em đã gặp nhiều
người con trai, nhưng chưa bao giờ trái tim của em rung động
như hồi nãy khi em mới gặp anh. Em muốn tặng không cho anh
năm bông sen này để anh cúng đức giác ngộ, nếu anh hứa
với em là trong kiếp này cũng như trong những kiếp khác em
được làm vợ của anh, hoài hoài và mãi mãi.
Nàng
nói một mạch những điều trên, và nói xong nàng thấy gần
như hụt hơi. Megha im lặng một lát rồi nói:
- Có
là người rất dễ mến. Và cô lại là một con người rất
chân thật. Mới đầu gặp cô, tôi cũng thấy có cảm tình
với cô ngay, nhưng tôi là người chí tu đạo giải thoát.
Cưới vợ thì bị ràng buộc, làm sao sau này tôi có được
tự do mỗi khi có dịp ra đi tìm đạo?
Thiếu
nữ nói:
- Anh
cứ hứa với em đi. Em xin nguyện rằng mỗi khi anh muốn ra
đi tìm đạo thì em sẽ không dám tìm cách ngăn cản anh. Trái
lại, em sẽ tìm cách giúp anh thực hiện được hoàn toàn
chí nguyện.
Nghe
thiếu nữ nói như thế, Megha vui vẻ nhận lời.
Hai
người tìm tới đức giác ngộ Dipankara. Quần chúng đông
đảo đang vây quanh Người. Thấy sắc diện của vị đạo
sĩ Dipankara. Megha biết ngay đó là một bậc giác ngộ chân
thực. Chàng rất sung sướng. Chàng phát nguyện phải tu học
cho đến khi đạt tới quả vị giác ngộ cao tột như đức
giác ngộ này. Chàng muốn tiến tới gần để dâng lên Dipankara
năm bông sen, nhưng quần chúng vòng trong vòng ngoài đang vây
phủ lấy người, chàng không tài nào tiến tới được. Cuối
cùng chàng dùng hết sức của hai cánh tay chàng tung năm bông
hoa sen vào cho đấng giác ngộ. Lạ thay, cả năm bông sen đều
bay tới và rơi đúng vào trong hai cánh tay ngài. Megha thấy
thế mừng rỡ. Chàng biết là lòng thành của chàng đã cảm
ứng được đấng toàn giác. Vừa lúc ấy thiếu nữ trao cho
chàng hai bông sen còn lại, ra hiệu cho chàng tung vào cho Bụt.
Chàng nhận hai bông hoa và tung lên. Mầu nhiệm thay, cả hai
bông hoa này cũng đều rơi vào giữa tay đức giác ngộ Dipankara.
Vừa
lúc ấy, đức toàn giác Dipankara lên tiếng gọi người cúng
dường hoa sen tới bên cạnh người. Quần chúng hé lối cho
Megha đi vào. Megha cầm tay thiếu nữ kéo nàng theo đến trước
mặt Bụt, Megha và thiếu nữ quỳ xuống. Đức giác ngộ Dipankara
nói với Megha:
- Ta
biết được tâm thành của con. Ta cũng biết rằng con có chí
lớn muốn tu học để đạt tới quả vị giải thoát và cứu
độ cho loài chúng sanh. Con hãy an lòng. Ta biết con sẽ trở
nên một bậc giác ngộ hoàn toàn trong tương lai.
Rồi
nhìn thiếu nữ đang quỳ bên Megha, ngài nói:
- Còn
con, trong kiếp này và trong những kiếp tới con sẽ là người
bạn đường của Megha Con hãy nhớ lời nguyện của con, lo
tác thành cho chí hướng của chồng mà không tìm cách ngăn
cản chàng mỗi khi chàng ra đi tìm đạo.
Megha
và thiếu nữ rất cảm xúc được nghe lời dạy chỉ bảo
của bậc toàn giác. Từ đó về sau, cả hai người đều chăm
chỉ tu học theo đạo lý giải thoát của đức giác ngộ Dipankara.
Các
con nghe không, từ kiếp ấy về sau, trong kiếp nào chàng Megha
và cô thiếu nữ cũng đều được gặp nhau và cũng đã trở
nên vợ chồng, và mỗi khi người con trai đến tuổi ra đi
tu đạo, người con gái lại tìm cách giúp đỡ người con
trai. Chẳng bao giờ nàng tìm cách cản ngăn chí nguyện của
chàng. Vì vậy, chàng rất biết ơn nàng. Cho đến một kiếp
nọ, chàng thực hiện được chí nguyện lớn của chàng và
trở thành một bậc giác ngộ, sáng suốt không kém gì bậc
giác ngộ Dipankara kiếp trước.
Các
con nên biết: tiền của và danh vọng không phải là những
vật quý nhất trên đời. Tiền của và danh vọng có thể
tiêu tan rất mau chóng, nhưng sự hiểu biết và lòng thương
yêu mới thật sự là những gì quý nhất trên đời. Có hai
thứ ấy thì chắc chắn là con người có hạnh phúc. Chàng
Megha và cô thiếu nữ đã sống hạnh phúc với nhau trong nhiều
đời nhiều kiếp, đó cũng nhờ hai người đã có sự hiểu
biết và lòng thương yêu. Đã hiểu và đã thương thì không
có gì mà ta không thực hiện được trên cõi đời này”.
Yasodhara
chắp hai tay trước ngực hướng về phía Bụt. Bà rất cảm
động về câu chuyện tiền thân này. Bà biết tuy Bụt kể
chuyện này cho bọn trẻ nghe nhưng người cũng đã kể chuyện
này với bà. Bụt đã nói lên lời cảm ơn của Bụt đối
với bà một cách tế nhị. Bà cảm động đến muốn khóc.
Hoàng hậu Prajapati nhìn bà. Hoàng hậu cũng hiểu lời Bụt
như bà hiểu. Bà đặt một bàn tay lên vai người con dâu.
Rồi bà lên tiếng nói với lũ trẻ:
- Các
con biết chàng Megha trong tiền kiếp xa xưa đó là ai không?
Chính là Bụt đấy. Trong kiếp này, chàng đã thành một bậc
giác ngộ sáng suốt hoàn toàn, và các con có biết cô thiếu
nữ trong tiền kiếp xa xôi đó là ai không? Đó chính là lệnh
bà Yasodhara của các con vậy. Nhờ lệnh bà có hiểu biết
cho nên lệnh bà đã không ngăn cản thái tử Siddhatta. Thái
tử đã đi tu và đã thành đạo. Các con nên cảm ơn lệnh
bà.
Bọn
trẻ đã sẵn có lòng quý mến Yasodhara từ lâu. Nay nghe hoàng
hậu nói, chúng đều hướng về bà chắp hai tay lại trước
ngực và cúi chào bà rất kính cẩn. Thấy cảnh tượng ấy,
Bụt rất vui. Người đứng dậy, và cùng các đại đức Kaludayi
và Nagasamala trở về tu viện.
Chương
37
MỘT
NIỀM TIN MỚI
Nửa
tháng sau, vua Suddhodana thỉnh Bụt tới thọ trai trong hoàng
cung để vua và hoàng gia lại có cơ duyên được nghe Bụt
thuyết pháp. Lần này vua chỉ mời Bụt và đại đức Sariputta
chứ không mời tăng đoàn, Vua cũng không mời vị tân khách
nào cả. Trong không khí gia đình, Bụt đã giảng dạy về
cách theo dõi hơi thở, quán chiếu các cảm thọ, phương pháp
đi thiền hành và ngồi thiền tọa. Người dạy dỗ rất kỹ
về cách thức quán chiếu để duy trì chánh niệm và an trú
trong chánh niệm. Yasodhara, Rahula, Nanda và Sundari Nanda cũng có
mặt trong buổi thuyết pháp này. Rahula đặc biệt có cảm
tình với thầy Sariputta. Cậu rất ưa đứng gần thầy và
nắm lấy tay thầy.
Khi
Bụt đứng dậy ra về, mọi người đều muốn đưa người
ra tới cổng Nam. Bụt trao bình bát cho em là Nanda cầm và chắp
tay búp sen chào mọi người. Nanda ôm bát, đợi Bụt chào xong
thì trả bát lại, nhưng Bụt không lấy lại bất. Vì thế
Nanda mang bát đi theo Bụt về tới tu viện.
Về
tới tu viện, Bụt bảo Nanda ở lại chơi và sinh hoạt năm
bảy hôm tại đây. Vừa yêu vừa kính Bụt, Nanda vâng lời.
Thấy nếp sống ở đây rất thanh tịnh và thoải mái, vị
hoàng tử trẻ đem lòng mến mộ. Một hôm Bụt hỏi Nanda có
muốn xuất gia theo Bụt tu học một thời gian không. Nanda đáp
có. Bụt bảo thầy Sariputta làm lễ xuất gia cho hoàng tử.
Việc
xuất gia của Nanda, Bụt đã có bàn trước với phụ vương.
Vua cũng đồng ý với Bụt rằng tuy Nanda đủ thông minh và
rất hiền lành, chàng vẫn chưa có đủ nhận thức độc lập
và tính cương quyết cần có của một nhà chính trị. Bụt
nói với vua có thể cho Nanda đi theo tu học và gần gũi với
Bụt một thời gian để Bụt có thể rèn luyện cho chàng những
đức tính cần thiết. Vua đã đồng ý với Bụt.
Nanda
xuất gia được một tháng thì bắt đầu nhớ vị hôn thê
của mình là tiểu thư Yanapada Kalyani. Thầy có thể che dấu
nỗi buồn, nhưng Bụt đã thấy hết. Bụt nói với thầy:
- Kẻ
nam nhi muốn thực hiện chí nguyện lớn thì phải vượt qua
được những tình cảm dung thường. Em phải quyết tâm học
đạo và rèn luyện bản thân thì sau này mới có cơ giúp ích
được cho đời.
Rồi
Bụt dặn đại đức Sariputta sắp đặt để thầy Nanda khỏi
đi khất thực về khu phố của tiểu thư Kalyanu. Khi Nanda biết
điều này, thầy vừa oán Bụt mà cũng vừa thương Bụt. Thầy
thầm bảo là ông anh mình không có cái gì là không biết.
Ông ấy nhìn thấu tận đáy tâm can của mình.
Rahula
thấy chú được xuất gia ở suốt ngày với Bụt thì ham lắm.
Cậu phân bì với mẹ. Yasodhara vuốt đầu con, bảo rằng phải
lớn lên ít nhất là bằng chú Nanda thì mới được đi xuất
gia. Rahula hỏi mẹ làm sao để có thể lớn mau, Yasodhara bảo
cậu phải ăn uống cho đàng hoàng và tập thể dục mỗi buổi
sáng và mỗi buổi chiều. Rahula đã được mẹ dạy gọi Bụt
bằng thầy. Bà nhớ hôm đầu tiên Rahula được thấy Bụt
từ trên lầu cao, bà đã chỉ Bụt và nói với con: “Cái
ông thầy tu ấy là cha con đó. Con chạy xuống chào cha con
đi và bảo cha con trao gia tài lại cho con”. Từ hôm ấy, Rahula
cứ quen gọi Bụt là “ông thầy tu ơi”. Yasodhara nghe được.
Bà bật cười, gọi Rahula lại và bảo:
- Con
đừng gọi Bụt là “ông thầy tu ơi”. Con phải gọi Bụt
là “thầy ơi”.
Từ
đó, Rahula mới dùng tiếng “thầy ơi” để gọi Bụt.
Có
một hôm tăng đoàn đi khất thực rất gần hoàng cung. Yasodhara
và Rahula đứng ở trên lầu. Bà trông thấy Bụt giữa đám
các vị khất sĩ. Rahula cũng trông thấy người. Yasodhara nói
với con:
- Con
chạy xuống với Bụt đi, và lần này nhớ xin cho được gia
tài của người.
Rahula
chạy xuống lầu. Cậu rất thương mẹ nhưng cũng rất thương
Bụt. Ngày nào cậu cũng được ở với mẹ suốt ngày, nhưng
cậu chưa từng được ở với Bụt suốt một ngày nào. Cậu
ao ước được như chú là hoàng thái tử Nanda, hiện đang
được sống suốt ngày bên cạnh Bụt. Cậu chạy mau lắm,
cậu đã xuống tới sân hoàng cung. Cậu chạy ra cửa Nam và
thấy Bụt. Lúc bấy giờ Bụt đã khất thực xong là đang
cùng các vị khất sĩ trong nhóm đi thành hàng chậm rãi trở
về tu viện.
Rahula
chạy thẳng tới một bên Bụt. Thấy Rahula, Bụt đưa một
ngón tay trái ra. Bụt nắm lấy ngón tay ấy rồi đi theo Bụt.
Cậu nói:
- Thầy
ơi, đi ở bên thầy mát lắm, và dễ chịu nữa.
Nắng
cuối xuân đã bắt đầu gay gắt. Cậu bé đi bên Bụt vừa
được hưởng bóng mát của người vừa được hưởng tình
thương của người.
Đứng
trên lầu cao, Yasodhara thấy hết. Bà biết Rahula được Bụt
cho theo về tu viện.
Một
lát sau, Rahula hỏi:
- Thầy
ơi, gia tài của con đâu?
Bụt
đáp:
- Về
tu viện thầy sẽ trao cho con.
Trưa
ấy về tới tu viện, đại đức Sariputta chia phần ăn của
mình với Rahula, Rahula được ăn cơm im lặng bên cạnh Bụt
và bên cạnh đại đức sa. Rahula lại được gặp chú Nanda
để nhỏng nhẻo. Bụt bảo Rahula ngủ chung phòng với đại
đức Sariputta. Thầy nào cũng cưng quý cậu. Cậu muốn ở
luôn tại tu viện. Đại đức Sariputta nói muốn được ở
luôn tu viện thì phải đi tu. Rahula nắm tay thầy Sariputta tới
xin Bụt cho phép đi tu. Bụt gật đầu. Bụt bảo thầy Sariputta
cho Rahula được xuất gia.
Đại
đức Sariputta ngạc nhiên. Thầy tưởng là Bụt nói đùa, ai
dè Bụt lại nói thật. Thầy hỏi:
- Thế
Tôn, làm sao mà cho Rahula xuất gia được?
Bụt
dạy:
- Thì
cho cháu tập sự xuất gia, thọ giới khu ô sa di, và giao cho
cháu phận sự đuổi quạ trong giờ các thầy ngồi thiền.
Quạ ở đây nhiều quá, chúng đến quấy phá các thầy trong
giờ thiền tập khá nhiều.
Thầy
Sariputta xuống tóc cho Rahula và cho cậu thọ tam quy và dạy
cho chú bốn giới: không giết hại, không trộm cắp, không
nói dối, không uống rượu. Thầy lấy bớt một chiếc ca
sa của thầy, cắt ra và may lại thành một chiếc ca sa nhỏ
xíu cho Rahula mặc. Thầy dạy cho Rahula cách khoác y và ôm bát.
Khoác y và ôm bát vào, Rahula trông giống một vị khất sĩ
con con, ai thấy cũng thương, Rahula được lệnh ngủ chung với
thầy Sariputta, đi khất thực và học hỏi với thầy Sariputta.
Từ hôm có Rahula bên mình, thầy ít khi vào thành khất thực.
Thầy đưa Rahula đi khất thực trong những thôn lạc gần tu
viện. Theo phép người xuất gia, ai cũng chỉ được ăn mỗi
ngày một bữa trước khi giờ ngọ chấm dứt, nhưng Rahula
còn nhỏ quá, sợ chú tiểu mất sức, thầy Sariputta cho phép
chú được ăn một lần nữa vào buổi chiều. Các vị thí
chủ thường nhớ mang sữa và thức ăn để dành cho chú.
Tin
Rahula đã được cạo đầu mặc áo ca sa làm chú tiểu đã
vào tới trong cung điện. Vua Suddhodana buồn lắm. Từ ngày
Rahula đi với Bụt về tu viện, ông nội, bà nội, và mẹ
chú nhớ chú lắm. Họ tưởng chú đi chơi vài hôm rồi về,
ai ngờ chú lại ở trong tu viện và trở thành chú tiểu. Ông
bà nội của Rahula không có cháu để cưng, rất lấy làm buồn
khổ, nhưng Yasodhara thì buồn vui lẫn lộn. Tuy nhớ con quay
quắt, nhưng mỗi khi nghĩ đến con đang được gần gũi Bụt,
bà cũng thấy ấm áp trong lòng, bảy năm nay cậu bé đã thiếu
cha.
Một
buổi chiều, vua truyền lấy xe cho ngài về tu viện. Hoàng
hậu Gotami và bà Yasodhara cũng được đi vói ngài. Vua được
Bụt ra đón tiếp. Nanda và Rahula cũng ra đón tiếp hoàng gia.
Rahula chạy ra đón mẹ. Thầy Sariputta gọi chú lại, bảo chú
chỉ được đi chứ không được chạy. Yasodhara ôm lấy chú
tiểu vào lòng. Sau đó, Rahula lại đi đến với ông nội và
bà nội.
Vua
làm lễ Bụt và nói, giọng có vẻ trách móc:
- Thế
Tôn, trẫm đã đau xót vô cùng khi người bỏ nhà đi xuất
gia, rồi mới đây, Nanda cũng bỏ trẫm, bây giờ đến Rahula
cũng bỏ trẫm. Như vậy là quá đáng. Thế Tôn, đối với
một người tại gia như trẫm, tình cha con và ông cháu rất
nặng. Niềm đau xa cách cũng như nhát dao cắt vào da. Cắt
vào da xong, dao cắt sâu vào da thịt, cắt sâu vào da thịt
rồi, dao lại cắt vào xương và vào tủy. Vậy xin Thế Tôn
nghĩ lại cho. Xin Thế Tôn và các vị đại đức từ nay đừng
nhận cho người còn nhỏ tuổi xuất gia nếu không có sự
ưng ý của cha mẹ chúng.
Bụt
an ủi vua, Người thuyết pháp cho vua nghe để vua thấy được
rõ thêm sự thực về vô thường và vô ngã. Người nói đến
công phu tu tập tinh tiến hàng ngày như là cửa ngõ duy nhất
thoát ra ngoài khổ nạn. Người nói Nanda và Rahula đang thực
sự sống trong chánh đạo. đó là một điều may mắn và người
khuyên vua tinh tiến trong sự tu tập đạo giải thoát. Tìm
được niềm vui chân thật trong nếp sống tỉnh thức hàng
ngày.
Càng
nghe Bụt, vua càng cảm thấy nhẹ nhõm, và cuối cùng vua đã
vui lên trở lại. Bà Gotami và Yasodhara cũng được nghe Bụt
nói. Hai người cũng cảm thấy được an ủi rất nhiều.
Nhân
có đại đức Sariputta ngồi bên, Bụt quay lại nói với thầy:
- Từ
nay trở đi, các vị khất sĩ sẽ không chấp nhận cho trẻ
em xuất gia nếu không có sự đồng ý của phụ huynh các em.
Xin đại đức ghi vào quy chế như vậy.
Thấm
thoát mà Bụt và giáo đoàn đã ở lại vương quốc Sakya hơn
nửa năm. Số người đến xin xuất gia với Bụt hoặc với
các vị khất sĩ lớn đã lên tới gần năm trăm vị. Số
cư sĩ tại gia thì đông quá không thể nào đếm cho xiết.
Vua Suddhodana đã dâng cúng cho giáo đoàn một cơ sở mới để
làm tu viện. Cơ sở này là cung điện mùa Hè ngày xưa của
thái tử Siddhatta, có vườn cây rất rộng rãi và rất mát,
nằm về phía Bắc kinh đô, đại đức Sariputta sắp đặt
để đưa mấy trăm vị khất sĩ về chủ trì tu viện này.
Tăng đoàn đạt được cơ sở vững chắc cho sự hành đạo
tại vương quốc, Bụt sẽ trở về tu viện Trúc Lâm cho kịp
mùa an cư, như người đã hứa với vua Bimbisara và với tăng
đoàn ở đấy. Vua Suddhodana biết Bụt sắp ra đi nên đã thỉnh
người vào cung để cúng dường và xin người thuyết pháp.
Vua đã mời hoàng tộc và triều đình đến để nghe Bụt.
Trong
buổi thuyết pháp này, Bụt đã nói về đạo đức và chính
trị. Người nói đạo đức có thể soi sáng cho chính trị
và người làm chính trị có thể nương theo đạo đức để
thực hiện công bằng và hạnh phúc trong xã hội. Người nói:
“Nếu
quý vị biết tu dưỡng bản thân, mở rộng tầm hiểu biết
và lòng từ bi, thì quý vị sẽ tìm ra được một đường
lối giúp nước và trị dân có thể đem lại thái bình và
hạnh phúc mà không cần đến những phương thức bạo động.
Quý vị không cần chém giết, không cần đến những bản
án tử hình, không cần đến những biện pháp tra tấn, tù
đày và tịch biên gia sản. Điều này không phải là mộng
tưởng mà là một điều có thể thực hiện được.
Khi
người làm chính trị có đủ hiểu biết và thương yêu thì
họ có thể thấy được sự thật về những người dân đang
sống trong nghèo khổ và áp bức. Thấy được như thế, nhà
chính trị sẽ tìm cách cải thiện guồng máy cai trị, để
làm giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội va để
loại trừ sự lạm dụng quyền thế và sự bóc lộ dân nghèo.
Thưa
quý vị, người làm chính trị phải sống đời gương mẫu.
Đừng sống đời giàu sang thái quá, bởi vì sự giàu sang
là bức tường ngăn cách mình với dân chúng. Nên sống thanh
bạch, giản dị, và dùng thì giờ của mình vào việc ích
nước lợi dân chứ đừng mãi mê trong việc hưởng thụ dục
lạc. Có như thế, người làm chính trị mới có được niềm
tin của dân chúng. Hễ mình thương dân thì dân sẽ thương
mình lại, do đó, mình có thể thực hiện được con đường
chính trị nhân ái của mình. Con đường chính trị này có
thể gọi là con đường đức trị, khác với con đường pháp
trị. Đức trị thì dùng đạo đức nhiều hơn sự trừng
phạt. Pháp trị thì dùng sự trừng phạt nhiều hơn đạo
đức. Theo đạo lý Tỉnh Thức, hạnh phúc chân thật có thể
đạt được bằng con đường đức trị”.
Vua
Suddhodana và quần thần lắng nghe Bụt với tất cả sự chú
ý. Hoàng thúc Dronodanaja, chú của Bụt, và là thân sinh của
Devadatta, nói:
- Con
đường đức trị mà Bụt nói thật là một con đường rất
đẹp, nhưng có lẽ ở đây chỉ có một mình Bụt là có đủ
tư cách và đức độ để thực hiện mà thôi. Tại sao Bụt
không ở lại Kapilavatthu, tại sao Bụt không nắm lấy giềng
mối chính trị ở vương quốc Sakya này để tạo an lạc và
hạnh phúc cho muôn dân?
Vua
Suddhodana cũng nói:
-
Tuổi trẫm đã cao rồi. Nếu Bụt chịu ở lại thì trẫm
sẽ thoái vị để Bụt ngồi vào vương vị. Với đạo đức
của Bụt, với uy tín và sự thông minh của người, trẫm
tin chắc là quốc dân sẽ hoàn toàn đứng sau lưng Bụt, và
vương quốc sẽ chẳng lao lâu sẽ trở nên giàu sang và lừng
lẫy.
Bụt
mỉm cười, người lặng thinh cúi đầu. Cuối cùng nhìn vua,
Bụt nói:
- Phụ
vương, con không còn là người của một gia đình, của một
dòng họ hay của một vương quốc nữa. Bây giờ đây gia đình
của con là nhân loại, nhà cửa của con là trời đất và
địa vị của con là một ông thầy tu sống vào hạt cơm bố
thí của mọi người. Con đường mà con đã chọn là con đường
của người đạo sĩ chứ không phải là con đường của nhà
chính trị. Con nghĩ là con sẽ phụng sự cho nhân loại được
bền bĩ hơn với tư cách của một người tu.
Hoàng
hậu Gotami và Yasodhara không tiện phát biểu trong một cử
tọa như cử tọa hôm nay, nhưng cả hai điều cảm động gần
rơi lệ khi nghe Bụt nói. Hai người đều thấy Bụt nói đúng.
Bụt
tiếp tục thuyết giảng cho vua và cho mọi người nghe về
năm giới và cách tổ chức hành trì năm giới trong khung cảnh
gia đình và trong xã hội. Người nói năm giới có thể được
xem như là những nguyên tắc sống có thể đem lại hạnh phúc
trong gia đình và hòa bình trong xã hội. Người giảng cặn
kẽ về từng giới một. Cuối cùng người nói:
- Muốn
có đoàn kết toàn dân, một niềm tin cần được tạo dựng.
Những người làm chính trị nếu thực hành được năm giới
thì sẽ tạo được niềm tin lớn trong quốc dân. Với niềm
tin ấy không có công trình gì mà không xây dựng được. Niềm
tin ấy có thể bảo đảm được hòa bình, hạnh phúc và công
bằng xã hội trong vương quốc. Nếp sống tỉnh thức là nền
đạo lý mà chúng ta đang cần đến như một đường lối
và một niềm tin. Giáo lý truyền thống Bà la môn không chứa
đựng được đức tự tin và không bảo đảm được quyền
bình đẳng giữa mọi con người. Ta hãy dùng đạo lý Tỉnh
Thức như một niềm tin mới.
Bụt
cho biết người sắp lên đường trở về vương quốc Maghada,
nhưng người sẽ còn trở lại Kapilavatthu. Vua, triều thần
và hoàng tộc rất vui khi nghe người nói như vậy.
Chương
38
ÔI!
HẠNH PHÚC!
Bụt
đã rời khỏi vương quốc Sakya nhưng người vẫn còn hoằng
hóa ở miền Bắc vương quốc Kosala, Người và khoảng một
trăm hai mươi vị khất sĩ đang cư trú ở một công viên gần
thành phố Anuplya của bộ tộc Malla. Đại đức Sariputta vẫn
còn ở bên người. Kaludayi, Nanda và chú tiểu Rahula cũng ở
bên người. Trong thời gian Bụt ở ngoại thành Kapilavatthu,
nhiều thanh niên trong hoàng tộc đã đến xin xuất gia với
người, phần lớn là xuất thân từ những gia đình có từ
ba người con trai trở lên. Sau khi Bụt rời Kapilavatthu được
nửa tháng, có hai anh em ruột thuộc giòng họ Sakya cũng muốn
đi xuất gia. Nhà của họ giàu lắm. Gia đình có tới ba cơ
sở cư trú, một cho mùa Hè, một cho mùa Mưa, và một cho mùa
Đông. Hai anh em tên là Mahanama và Anuruddha. Thấy nhiều bạn
hữu của mình trong hoàng gia đã đi xuất gia với Bụt, Mahanama
cũng muốn được đi xuất gia. Mahanama nghĩ trong gia đình có
hai người con trai thì nên đi xuất gia một người thôi, chàng
nhường quyền xuất gia cho em. Anuruddha đi tìm mẹ để xin
phép. Bà mẹ nói.
- Mẹ
chỉ có hai con là niềm vui của mẹ thôi. Nếu một đứa trong
các con xuất gia thì mẹ buồn lắm.
Anuruddha
thưa với mẹ là đã có nhiều thanh niên trong hoàng tộc xuất
gia, và nếp sống xuất gia sẽ đem lại lợi lạc không phải
chỉ cho người xuất gia mà cho cả gia đình và xã hội. Chàng
đã được nghe Bụt giảng tại tu viện Nigrodha nhiều lần
nên chàng giảng thuyết về đạo pháp rất hay. Cuối cùng
bà mẹ nói:
- Nếu
bạn của con là Baddhiya mà xuất gia, thì mẹ cũng cho con đi
xuất gia.
Bà
nói vậy vì bà nghĩ là Baddhiya chẳng bao giờ xuất gia đâu.
Baddhiya là người trong hoàng gia, và chàng có chức vị rất
cao, quyền hành và danh vọng rất lớn, khó có thể bỏ được
tất cả để mà đi tu.
Anuruddh
nghe mẹ nói liền tìm tới Baddhiya. Baddhiya làm trấn thủ các
tỉnh miền Bắc vương quốc. Dưới quyền chàng có nhiều
đội binh. Dinh thự của chàng có lính gác bốn phía. Kẻ hầu
người hạ tấp nập. Baddhiya tiếp Anuruddha như một thượng
khách. Anuruddha bảo bạn:
- Tôi
muốn đi xuất gia theo học với Bụt, nhưng tôi không xuất
gia được, đó là tại vì anh.
Baddhiya
cười:
- Tại
sao vì tôi mà anh không đi xuất gia được? Tôi cấm anh xuất
gia hồi nào? Tôi sẽ làm đủ mọi cách để anh được xuất
gia.
Anuruddha
kể lại đầu đuôi câu chuyện, rồi chàng nói:
- Anh
vừa hứa với tôi là anh sẽ làm đủ mọi cách để tôi có
thể đi xuất gia, mà cách duy nhất là anh cùng đi xuất gia
với tôi.
Baddhiya
thấy mình kẹt quá, không phải là chàng không hâm mộ Bụt
và đạo lý tỉnh thức. Chàng cũng đã có ý định sau này
sẽ đi xuất gia, nhưng không phải bây giờ. Chàng nói:
- Bảy
năm nữa tôi sẽ đi xuất gia. Anh cứ đợi tôi.
- Bảy
năm nữa thì lâu quá. Biết tôi có còn sống đến lúc ấy
hay không?
Baddhiya
cười:
- Sao
anh bi quan quá như vậy? Nhưng thôi, nếu anh nóng lòng xuất
gia thì anh đợi ba năm nữa vậy.
- Ba
năm cũng còn lâu quá. Anuruddha nói:
- Thôi
thì bảy tháng. Tôi còn phải sắp đặt công việc nhà cửa
và trao trả quyền hành.
- Đã
xuất gia thì cần gì phải sắp đặt lâu như thế. Xuất gia
là từ bỏ hết để đi theo con đường xuất trần siêu thoát.
Anh đợi lâu như thế lỡ ra anh đổi ý thì sao.
- Anh
đã nói vậy thì bảy hôm nữa tôi sẽ đi với anh. Thôi anh
về đi.
Anurudha
mừng rỡ về báo mẹ và anh biết tin này. Bà mẹ không ngờ
quan tổng trấn Baddhiya lại chịu bỏ chức tước và danh vọng
một cách dễ dàng như vậy. Bà chợt thấy tầm cao siêu của
đạo lý giải thoát, và bà bằng lòng cho con đi xuất gia.
Anuruddha
rủ thêm được một số các bạn hữu nữa cùng đi xuất
gia. Đó là Bhagu, Kimbila, Devadatta và Ananda. Cả thảy là sáu
người, tất cả đều là các vương tử quý phái. Đúng ngày
hẹn, họ gặp nhau tại nhà Devadatta rồi lên đường, Tất
cả đều đã là những chàng trai thành niên, trừ Ananda ra,
Ananda mới có mười tám tuổi, nhưng chàng đã được phép
cha là thân vương Dronodanaraja cho phép đi theo anh. Bảy vị
vương tử đi bằng xe tứ mã cho đến khi họ tới một thị
trấn nhỏ nằm sát biên giới Kosala. Họ cho xe trở về và
cùng đi bộ tới biên giới. Họ biết Bụt và các vị khất
sĩ tùy tùng đang cư trú ở Anupiya, cách biên giới không xa,
Anurauddha đề nghị mọi người cởi bỏ hết những trang sức
trên người và ăn mặc thật đơn giản trước khi vượt biên.
Mọi người tán thành. Họ cởi những xâu chuỗi ngọc và
những chiếc vòng bàng vàng bằng bạc ra và gói lại trong
một cái áo. Họ định đi tìm một người nghèo để tặng
tất cả những châu báu đó rồi sẽ tìm đường ra biên giới
sau. Vừa định đi vào trong thôn để kiếm một người nghèo
thì họ thấy có một quán hớt tóc bên đường. Cái quán
khá tồi tàn: người thợ hớt tóc là một chàng thanh niên
trạc tuổi họ, mặt mày cũng khôi ngô, nhưng ăn mặc rách
rưới nghèo nàn. Anuruddha ghé vào quán. Chàng hỏi tên người
thợ hớt tóc. Anh ta nói anh tên là Upali. Chàng nói các vị
vương tử muốn nhờ anh ta chỉ đường ra biên giới. Upali
bằng lòng.
Upali
đưa các vương tử đến biên giới nước Kosala, Anh ta chào
các vị vương tử để trở về. Anuruddha cám ơn Upali và trao
cho Upali một chiếc áo cuốn tròn trong đó có đầy đồ trang
sức châu báu. Chàng nói:
- Upali,
chúng tôi muốn theo Bụt xuất gia. Chúng tôi không cần những
thức trang sức châu báu này. Chúng tôi tặng lại anh. Từng
ấy châu báu vàng bạc đủ để anh sống sung sướng suốt
đời.
Các
vương tử chào Upali, và lên đường. Người thọ hớt tóc
mở chiếc áo ra. Vàng ngọc làm anh ta lóe mắt. Anh ta không
tin đây là sự thật. Anh thuộc về giai cấp hạ tiện trong
xã hội. Cha ông của anh đời này sang đời khác đã sống
cần cù lam lũ và chưa bao giờ có được một lạng vàng hay
một chiếc cà rá. Bây giờ đây anh có một bọc châu báu
trong tay. Bỗng nhiên anh cảm thấy lo sợ. Ôm một bọc châu
báu trong người, anh cảm thấy anh mất hết sự an ổn và
thảnh thơi. Anh có thể mất mạng như chơi nếu có người
biết anh đang ôm cái gì trong tay.
Upali
suy nghĩ. Anh thấy các vương tử giàu sang đến thế, quyền
hành nhiều như thế mà vẫn bỏ hết để đi xuất gia. Chắc
chắn những người này đã nhận thấy nặng nề và nguy hiểm
của giàu sang và của danh vọng. Anh chợt có ý liệng bỏ
gói châu báu để đi theo các vị vương tử, tìm cầu anh lạc
và giải thoát. Nghĩ như thế, anh làm ngay. Anh treo gói áo trên
một cành cây gần đó, thầm nhũ rằng ai là người đầu
tiên thấy được gói châu báu này thì gói châu báu này sẽ
thuộc về người ấy. Treo gói áo lên cây xong, anh vượt biên
và chạy theo các vị vương tử.
Chỉ
một giờ sau, Upali bắt kịp họ. Các vị vương tử ngạc
nhiên thấy Upali chạy theo mình. Devadatta hỏi:
- Upali,
anh chạy theo chúng chúng tôi làm chi? Gói châu báu anh để
đâu?
Upali
thở hổn hển một hồi, rồi kể lại câu chuyện.Chàng nói
chàng đã treo gói áo lên một cành cây và nguyện tặng lại
châu báu ấy cho người đầu tiên bắt gặp. Chàng nói chàng
không cảm thấy an ổn với gói châu báu và xin được cùng
các vị vương tử tìm tới Bụt để xuất gia.
Devadatta
cười ha hả:
- Anh
cũng muốn xuất gia như chúng tôi? Anh là ...
Anuruddha
ngắt lời Devadatta:
- Hay
lắm, hay lắm! Chúng tôi rất hân hạnh được anh cùng đi
với chúng tôi. Bụt có dạy rằng tăng đoàn như là biển
cả, và người xuất gia như những con sông. Sông nào cũng
chay ra biển và cũng thành biển. Chúng ta tuy xuất thân từ
những giai cấp khác nhau, nhưng khi đã gia nhập tăng đoàn
thì chúng ta sẽ là anh em, không còn phân biệt giai cấp nữa.
Baddhiya
tán thành ý kiến của Anuruddha. Chàng đưa tay nắm tay người
thợ cạo Upali. Chàng giới thiệu chàng là quan tổng trấn
từng tri nhậm các tỉnh miền Bắc của vương quốc, và chàng
giới thiệu các vị vương tử khác với Upali. Upali cúi chào
từng vị với một dáng điệu kính cẩn. Sau đó bảy người
lại tiếp tục lên đường.
Ngày
hôm sau họ tới Anupiya. Họ hỏi thăm nơi cư trú của Bụt
và tăng đoàn. Họ được biết Bụt và tăng đoàn hiện cư
trú ở một khu rừng về phía Đông Nam cách thành phố chừng
hai dặm. Bảy người tìm tới nơi này và được gặp Bụt.
Baddhiya
thay mặt cả nhóm trình lên Bụt ý nguyện của họ được
theo Bụt xuất gia. Bụt lặng yên ưng thuận. Baddhiya nói:
- Chúng
con xin Bụt cho Upali được xuất gia trước. Chúng con sẽ lạy
Upali như là một vị sư huynh. Như vậy chúng con có thể trừ
khử ý niệm phân biệt và kỳ thị có thể còn sót lại nơi
chúng con.
Bụt
khen ngợi cả bảy người. Bụt cho Upali làm lễ xuất gia trước,
và sau đó làm lễ xuất gia cho sáu người: Baddhiya, Anuruddha,
Bhagu, Kimbala, Devadatta và Ananda. Tuy mới có mười tám tuổi,
Ananda cũng được xuất gia, nhưng chàng chỉ được thọ giới
sa di và học theo hạnh khất sĩ. Đúng hai mươi tuổi chàng
mới được thọ giới khất sĩ. Chàng là người trẻ nhất
trong tăng đoàn, trừ Rahula. Được gặp lại chú Ananda, Rahula
mừng lắm. Ba hôm sau lễ thọ giới của bảy chàng, Bụt và
các vị khất sĩ rời Anupiya, hướng về Vesali. Tại Vesali,
Bụt nghỉ ở rừng Mahavana, Bụt lưu lại ba hôm ở đây. Trong
thời gian ấy Bụt có thuyết pháp cho dân chúng, rồi Bụt
lại lên đường. Đi lần hồi trên mươi hôm nữa, Bụt về
tới tu viện Trúc Lâm ở Rajagaha.
Các
đại đức Kassapa, Moggallana, và Kondanna thấy Bụt về rất
hoan hỷ. Đại chúng trong tu viện đông gần sáu trăm vị,
ai cũng tỏ vẻ vui mừng. Vua Bimbisara nghe Bụt đã về, lập
tức tìm tới thăm Bụt. Không khí Trúc Lâm rất sống động
và vui tươi. Mùa Mưa đã gần tới, và các đại đức Kondanna
và Kassapa đã chuẩn bị đầy đủ về mặt tổ chức để
đại chúng có thể an cư tu học. Đây là mùa an cư thứ ba
từ ngày Bụt thành đạo. Mùa thứ nhất, Bụt ở vườn Nai,
mùa thứ hai và mùa thứ ba, Bụt ở tại Trúc Lâm.
Đại
đức Baddhiya, trước kia làm quan tổng trấn miền Bắc vương
quốc Sakka, và là người trong hoàng tộc Sakya, tu học rất
tinh tiến. Tại tu viện Trúc Lâm, ông học theo đại đức
Kassapa, chỉ cư trú dưới gốc cây mà không ngủ trong am thất.
Ông học tập rất chuyên cần và sử dụng phần lớn thì
giờ của ông vào việc thực tập thiền quán.
Một
đêm kia trong lúc thực tập thiền tọa dưới một gốc cây,
ông bỗng cảm nhận một niềm vui sướng mà chưa bao giờ
ông từng biết tới trong thời gian còn ở nhà. Ông thốt lên:
- Ôi,
hạnh phúc! Ôi, hạnh phúc!
Lúc
ấy trời đã về khuya. Có một vị khất sĩ ngồi thiền tọa
cách ông không xa nghe được những tiếng ấy. Sáng hôm sau,
vị này tới gặp Bụt. Ông thưa với Bụt:
- Thế
Tôn, hồi khuya trong lúc thiền tập, con có nghe khất sĩ Baddhiya
thốt lên hai tiếng “Ôi, hạnh phúc!”, con nghĩ là thầy
Baddhiya không cảm thấy thoải mái với đời sống xuất gia.
Có lẽ thầy ấy tiếc nuối những giàu sang và danh vọng khi
còn là cư sĩ. Con xin trình bày để Thế Tôn biết, và để
người định liệu.
Bụt
gật đầu.
Trưa
hôm ấy sau khi tăng đoàn đã thọ trai, Bụt thuyết pháp cho
đại chúng. Sau thời thuyết pháp, Bụt gọi đại đức Baddhiya
ra trình diện. Đại chúng có mặt đầy đủ trong giờ này,
không những các vị khất sĩ mà còn có những người đệ
tử cư sĩ đã đến cúng dường và nghe pháp. Bụt hỏi:
- Baddhiya,
hồi khuya trong lúc thiền tọa, thầy có thốt lên “Ôi, hạnh
phúc! Ôi, hạnh phúc", có đúng như thế không?
Đại
đức Baddhiya chắp tay trả lời:
- Thế
Tôn, hồi đêm quả thật con có thốt lên những tiếng đó.
- Tại
sao xin thầy hãy nói cho đại chúng cùng nghe.
- Thế
Tôn, ngày trước làm tổng trấn, con sống trong giàu sang, phú
quý và có nhiều quyền lực. Đi đâu con cũng có một đội
binh theo hầu cận và bảo vệ. Dinh phủ của con luôn luôn
có binh lính cánh gác ngày đêm, bên trong cũng như bên ngoài.
Vậy mà lúc nào con cũng lo lắng, sợ hãi, cảm thấy thiếu
an ninh. Bây giờ đây đi một mình trong rừng, ngồi một mình
dưới cội cây trong đêm vắng, vậy mà con không hề có cảm
tưởng nghi ngại và sợ hãi. Con cảm thấy có một niềm thảnh
thơi và an lạc chưa bao giờ từng có. Thế Tôn, đời sống
xuất gia thật là thoải mái đối với con, con không sợ ai,
con không sợ mất gì, con không có gì để sợ mất, và con
sống vui thú như một con nai trong rừng. Trong thiền định
đêm qua con thấy được rất rõ niềm thảnh thơi vui thú đó,
cho nên con đã buột miệng kêu lên hai lần: “Ôi, hạnh phúc!,
Ôi, hạnh phúc!" làm kinh động đến Thế Tôn và các bạn
tu của con. Con xin thành tâm sám hối.
Bụt
ngợi khen Baddhiya trước mặt đại chúng. Người nói:
- Hay
lắm, khất sĩ Baddhiya. Thầy đang đi những bước vững chải
trên con đường tự tại và vô úy. Niềm an lạc của thầy,
cả chư thiên cũng biết ước ao, huống nữa là người đời.
Giữa
mùa an cư năm ấy, Bụt có độ cho nhiều người xuất gia,
trong số đó một nhân tài lỗi lạc: đó là Mahakassapa, Mahakassapa
là con trai một thương gia giàu có vào bậc nhất ở vương
quốc Magadha. Tên cha mẹ đặt của chàng là Pippali. Gia tài
của vị thương gia này chỉ thua có công khố quốc gia mà
thôi, trong nước không ai giàu có bằng ông ta. Mahakassapa đã
thành hôn với một thiếu nữ sinh trưởng ở Vesali. Nàng tên
là Bhadra Kapilani. Hai người đã sống với nhau được mười
hai năm, nhưng cả hai đều có chí xuất trần, cả hai đều
muốn tìm thầy học đạo. Một buổi sáng nọ khi thức giấc,
Mahakassapa thấy vợ mình đang ngủ say và một cánh tay nàng
buông thỏng từ trên giường xuống tới gần mặt đất. Trong
khi đó có một con rắn độc đang trườn qua dưới gầm giường
nàng. Mahakassapa nín thở, không dám động dậy. Khi con rắn
đã bò ra khỏi nhà, chàng tức tốc chỗi dậy đánh thức
nàng. Cả hai người cùng ngồi chiêm nghiệm về tính cách
vô thường của cuộc đời. Vợ chàng khuyên chàng nên tức
tốc đi tìm thầy học đạo. Nghe nói có Bụt hiện đang hướng
dẫn đại chúng tu học tại Trúc Lâm gần thành Vương Xá,
Mahakassapa liền vội vã đi tìm. Ngay khi mới trông thấy Bụt,
chàng biết ngay đây là thầy của mình. Nói chuyện với Mahakassapa,
Bụt nhận thấy đây là một con người lỗi lạc, hiếm có
trên đời, Bụt nhận cho chàng xuất gia, Mahakassapa có trình
bày với Bụt về trường hợp người bạn trăm năm của mình.
Bụt bảo chàng cơ duyên chưa thuận lợi để có thể chấp
nhận phụ nữ vào giáo đoàn. Người nói cần đợi thêm ít
lâu nữa.
Chương
39
BA
LẦN THỨC DẬY TRỜI VẪN CHƯA SÁNG
Mùa
an cư mới chấm dứt được ba hôm, thì có một người thương
gia trẻ tên là Sudatta từ vương quốc Kosala đến thăm Bụt
và thỉnh cầu Bụt về vương quốc của chàng để giảng
dạy đạo lý tỉnh thức.
Sudatta
là một thương gia rất giàu có. Chàng cư trú ơ thủ đô Savatthi
nơi quốc vương Pasenadi trị vì. Cả vương quốc Kosala đều
biết tiếng chàng, và Suddatta nổi tiếng là người biết che
chở và bênh vực cho những kẻ nghèo khổ và cô độc. Chàng
luôn luôn để ra một phần của gia sản mình để chu cấp
cho những kẻ nghèo hèn và không có thân nhân. Công việc giúp
đỡ người khốn khổ này chàng đã làm liên tục trong nhiều
năm và chàng tìm được rất nhiều nguồn vui trong công việc
ấy. Người đồng bào của chàng đã tặng cho chàng cái mỹ
hiệu là Anathapindika, có nghĩa là “người cứu giúp cho kẻ
khốn cùng và cô độc”, gọi là Cấp Cô Độc. Để có thể
tiếp tục công việc cứu trợ những kẻ nghèo khổ, Suddatta
phải tiếp tục nghề nghiệp của mình là một thương gia.
Chàng hay qua lại nước Magadha để buôn bán và mỗi khi tới
thủ đô Rajagaha, chàng thường cư trú tại nhà của người
anh vợ của chàng, vốn cũng làm nghề buôn bán. Người anh
vợ này rất quý mến chàng. Mỗi khi chàng đến, ông ta làm
đủ mọi cách để giúp đỡ chàng và làm cho thời gian cư
trú tại Rajagaha của chàng được dễ chịu. Ông săn sóc chàng
từng li từng tí. Tuy nhiên, kỳ này Suddatta không được ông
anh vợ đặc biệt chú ý tới như những kỳ trước. Ông bận
rộn cắt đặt và sai phái những người ăn người ở trong
nhà như là nhà sắp có đám giỗ hay đám cưới, và đối
với chàng em rể giàu có, lần này ông chỉ chú ý và săn
sóc một cách vừa phải thôi. Suddatta lấy làm lạ. Chàng hỏi
thì người anh vợ nói không có đám giỗ mà cũng không có
đám cưới nào cả. Cũng không phải là để rước hoàng gia
về nhà thết đãi. Ông nói:
- Ngày
mai, anh mời Bụt và các vị khất sĩ tới thọ trai.
Nghe
nói đến tiếng Bụt, Suddatta ngạc nhiên. Chàng hỏi lại:
- Anh
nói sao, ngày mai anh thỉnh “Bụt” hả?
- Đúng
rồi ngày mai anh thỉnh Bụt và các vị khất sĩ học trò của
người.
- “Bụt”?
nghĩa là “người tỉnh thức"?
- Đúng
rồi. Bụt là người tỉnh thức. Đó là một bậc giác ngộ
toàn vẹn. Đó là một con người thật mầu nhiệm và thật
đẹp đẽ. Sáng mai, thế nào em cũng sẽ được gặp người.
Danh
từ Bụt gây nên trong tâm tư Suddatta biết bao nhiêu nguồn
cảm hứng. Chàng bắt ông anh vợ ngồi xuống và nói thêm
cho chàng nghe về con người giác ngộ này. Ông anh vợ chàng
kể rằng anh đã được trông thấy các vị khất sĩ học
trò của đi khất thực, đã tìm hiểu về Bụt, đã tới nghe
Bụt thuyết pháp tại tu viện Trúc Lâm và đã được người
chấp nhận là đệ tử tại gia của người. Ông cũng kể
là hồi đầu mùa an cư ông đã được Bụt cho phép dựng
thêm những chiếc nhà nhỏ lợp lá làm chỗ che mưa nắng cho
các vị khất sĩ. Trong một ngày, ông đã cho dựng luôn sáu
mươi căn nhà như thế rải rác trong khuôn viên của tu viện
Trúc Lâm.
Không
biết vì một duyên cớ thâm sâu nào đó mà Suddatta đem lòng
thương mến Bụt sau khi mới nghe nói đến danh hiệu của người.
Suốt đêm đó Suddatta không ngủ yên giấc. Chàng cứ mong cho
trời sáng để có thể đi viếng Bụt tại tu viện Trúc Lâm
dù chàng biết hôm nay Bụt và giáo đoàn của người sẽ tới
thọ trai tại nhà ông anh vợ. Ba lần chợt tỉnh trong đêm
là ba lần chàng tưởng trời đã sáng, nhưng trời vẫn chưa
sáng. Cuối cùng, Suddatta, chỗi dậy, trời chưa sáng, nhưng
chàng nhất quyết ra đìm Bụt. Chàng mặc áo, mang giày và
mở cửa ra đi một mình. Trời khuya còn đầy sương và lạnh.
Qua cổng Sivaka, chàng hướng về phía tu viện Trúc Lâm. Trời
còn tối lắm, nhưng khi chàng vào tới cổng tu viện thì dáng
cây dáng lá đã bắt đầu hiện rõ. Suddatta nóng lòng muốn
gặp Bụt nhưng trong tâm còn e ngại. Chàng nói một mình để
trấn tĩnh: “Suddatta, đừng e ngại”. Lúc ấy Bụt đã thức,
và người đang đi thiền hành ngoài trời ngay phía trước
mặt chàng mà chàng không biết. Bụt gọi:
“Suddatta".
Suddatta
giật mình. Tiếng gọi đến từ phía trước. Chàng ngửng
nhìn lên thì thấy dáng một người đang đi tới. Linh tính
báo cho chàng biết rằng đó là Bụt. Bụt đã gọi tên chàng.
Chàng đang đi tới với Bụt và Bụt đang đi tới với chàng.
Suddatta bước tới một bước nữa và chắp tay cúi đầu làm
lễ Bụt.
Bụt
đỡ Suddatta dậy và cầm tay chàng đưa về tịnh thất của
người. Tới nơi chàng được Bụt mời ngồi. Chàng hỏi thăm
Bụt có ngủ ngon không. Người nói người ngủ rất ngon. Suddatta
tự giới thiệu mình và kẻ cho Bụt nghe chuyện chàng thức
dậy ba lần trong đêm và cứ tưởng trời đã sáng. Chàng
xin Bụt dạy cho chàng về đạo lý. Và Bụt bắt đầu giảng
dạy cho chàng về trí tuệ và từ bi.
Suddatta
rất sung sướng. Chàng lạy xuống xin Bụt nhận chàng làm
đệ tử. Bụt lặng yên chấp nhận. Chàng lại thỉnh Bụt
và giáo đoàn ngày mai tới thọ trai tại nhà người anh vợ
của chàng. Bụt cười:
- Hôm
nay thầy và các vị khất sĩ sẽ tới đây thọ trai rồi.
Không lý ngày mai cũng tới đây nữa sao?
Suddatta
khẩn khoản:
- Ngày
hôm nay là anh con thỉnh cầu Bụt. Ngày mai người thỉnh cầu
Bụt và và các vị khất sĩ lại là con. Con tiếc không
có nhà cửa riêng ở đây để có thể thỉnh cầu Bụt và
các thầy. Xin Bụt từ bi chấp nhận cho con.
Bụt
mỉm cười nhận lời Suddatta. Chàng sung sướng làm bái biệt
ngài. Trời đã sáng hẳn. Chàng phải về để giúp ông anh
vợ chuẩn bị công cuộc đón tiếp Bụt và giáo đoàn.
Trưa
hôm ấy, tại nhà ông anh vợ. Suddatta lại được nghe Bụt
thuyết pháp. Niềm hân hoan của chàng như không có bến có
bờ. Tiễn Bụt và giáo đoàn về xong, Suddatta bắt đầu chuẩn
bị lo lễ cúng dường ngày mai. Ông anh vợ hết sức giúp
đõ chàng. Ông nói:
- Suddatta,
ở đây dượng là khách chứ không phải là chủ. Thôi để
anh đứng ra đài thọ lễ cúng dường ngày mai cho.
Suddatta
không chịu. Chàng muốn tự mình thiết lễ cúng dường. Chàng
nhất quyết đài thọ mọi phí tổn, nhưng chàng bằng lòng
để cho gia đình ông anh vợ tiếp tay với sự nấu nướng
và dọn dẹp.
Ngày
mai, sau lễ cúng dường, Suddatta lại được nghe Bụt thuyết
pháp. Lòng chàng nở ra như một đóa hoa. Sau khi Bụt đã nói
xong pháp thoại, chàng quỳ xuống thỉnh nguyện:
- Lạy
Bụt, hầu hết dân chúng nước Kosala chúng con chưa có cơ
duyên tiếp đón Bụt và giáo đoàn tôn quý của người để
được học hỏi về đạo lý tỉnh thức. Con cầu mong Bụt
chấp nhận lời mời của con về cư trú và giảng dạy tại
kinh đô Savathi trong một thời gian. Chúng con xin Bụt rủ lòng
thương xót dân chúng của vương quốc Kosala.
Bụt
nói với Suddatta là người sẽ về đàm luận với các vị
đệ tử lớn của người về chuyện này và sẽ trả lời
chàng sau. Sau đó Bụt và giáo đoàn trở về tu viện.
Mấy
hôm sau tới tu viện, Suddatta được Bụt cho biết là người
đã chấp nhận việc đi hoằng pháp tại vương quốc Kosala.
Người hỏi Suddatta xem ở gần thủ đô Savathi có chỗ cư
trú cho một giáo đoàn đông đảo không. Suddatta bạch rằng
chàng sẽ lo liệu chu toàn về việc cư trú của giáo đoàn.
Suddatta còn thỉnh Bụt cho phép một vị cao đệ của Bụt
là đại đức Sariputta về thủ đô Savathi một lần với chàng
để chuẩn bị cho công cuộc hoằng pháp của Bụt. Bụt hỏi
ý Sariputta thì thầy bằng lòng.
Một
tuần lễ sau đó, Suddatta tới tu viện từ giã Bụt cùng giáo
đoàn, đồng thời rước đại đức Sariputta cùng lên đường
về thủ đô.
Hai
người hướng về phương Bắc, vượt sông Hằng và đi lên
thành Vesali. Tại Vesali, hai người được bà Ambapali rước
về cư trú và nghỉ ngơi tại vườn Xoài trong hai hôm. Đại
đức Sariputta có cho nữ phật tử Ambapali biết là Bụt cùng
giáo đoàn sẽ mở một chuyến đi hoằng pháp tại vương quốc
Kosala và cũng sẽ ghé qua thành phố Vesali này. Ambapali rất
vui mừng. Bà hỏi thăm đại đức xem chừng nào Bụt sẽ ghé
ngang qua để bà có thể chuẩn bị đón tiếp Bụt và giáo
đoàn. Đại đức nói là trong khoảng sáu tháng. Bà tỏ ý
rất hoan hỷ được tiếp đón thầy Sariputta và cư sĩ Suddatta.
Bà ngõ lời khen ngợi vị trưởng giả trẻ tuổi này về
công trình cứu tế xã hội của chàng và khuyến khích chàng
trong công việc tổ chức chuyến đi hoằng pháp sắp đến
của Bụt.
Từ
giã Ambapali, hai người hướng về phía Tây Bắc, đi trên tả
ngạn dòng sông Aciravati. Đây là lần đầu Suddatta đi bộ
trên một quãng đường dài như thế. Chàng không thể dùng
xe ngựa bởi vì chàng phải cùng đi bộ với đại đức Sariputta.
Đến đâu chàng cũng báo tin là trong vòng sáu tháng Bụt và
giáo đoàn sẽ đi qua và mọi người nên chuẩn bị để đón
tiếp.
“Bụt
là một bậc tỉnh thức vừa xuất hiện trên cõi đời. Bà
con cô bác hãy thành tâm chuẩn bị để đón tiếp người
và giáo đoàn cao quý của người". Vương quốc Kosala là một
nước hùng mạnh không kém gì vương quốc Magadha. Biên giới
miền Nam của vương quốc là sông Hằng. Đất đai của vương
quốc trải dài tới miền Bắc cho đến những ngọn đồi
sát chân dãy Hy Mã Lạp Sơn. Dân chúng ở vương quốc Kosala
không mấy ai là không nghe đến Suddatta. Ai cũng gọi chàng
là trưởng giả Cấp Cô Độc, Anathapindika, người chu cấp
cho những kẻ bần cùng và cô độc. Khi chàng mở lời ca tụng
bậc giác ngộ, ai cũng tin ngay lời chàng. Ai cũng ước ao được
thấy mặt Bụt và giáo đoàn của người. Đại đức Sariputta
sáng nào cũng ghé vào các thôn xóm để khất thực, và Suddatta
thường đi theo người, Suddatta thường lấy cơ hội tiếp
xúc này để nói cho đồng bào chàng nghe về Bụt và về giáo
đoàn các vị khất sĩ.
Đi
như thế được non một tháng thì hai người về tới Savathi.
Đại đức Sariputta được Suddatta mời về nhà để cúng dường.
Chàng ân cần giới thiệu đại đức với gia đình chàng và
cầu xin đại đức thuyết pháp cho mọi người nghe. Thân phụ,
thân mẫu và nội trợ của chàng đều xin phát nguyện thọ
trì ba sự quay về nương tựa và năm giới. Nội trợ của
Suddatta tên là Punnalakkhana, dáng người đoan trang và thùy mị.
Nàng đã có bốn đứa con với Suddatta. Cả bốn đều còn
nhỏ tuổi, ba đứa đầu là con gái và đứa chót là con trai.
Đứa lớn tên là Subhadha chị, đứa kế tên là Subgadha em,
đứa áp út tên là Sumagadha, cậu con trai tên là Rala.
Đại
đức Sariputta bắt đầu đi hành hóa trong thủ đô Savathi.
Buổi chiều và ban đêm, thầy về cư trú tại một khu rừng
thưa gần bờ sông. Trong khi đó Suddatta đi tìm một nơi khả
dĩ có thể làm chỗ cư trú thuận tiện cho Bụt và giáo đoàn
trong chuyến hoằng pháp quan trọng sắp đến.
Chương
40
BAO
NHIÊU TẤC ĐẤT BẤY NHIÊU TẤC VÀNG
Suddatta
đi xem xét nhiều nơi nhưng chưa có nơi nào đẹp đẽ và thanh
tịnh bằng khu lâm viên của thái tử Jeta nằm sát thủ đô
Savathi. Chàng nghĩ nếu có được khu lâm viên này làm cơ sở
lưu trú và hành đạo của Bụt và giáo đoàn thì đạo lý
tỉnh thức sẽ được truyền bá sâu rộng trong vương quốc.
Suddatta tìm đến thái tử Jeta xin gặp. Hôm ấy trong dinh thự
của thái tử có mặt một vị văn quan trong triều mà Suddatta
cũng có quen biết. Sau khi chào hỏi thái tử và vị văn quan,
Suddatta trình bày ước muốn của mình và xin thái tử nhượng
lại cho chàng khu vườn của thái tử để làm cơ sở tu học
và hoằng pháp cho Bụt. Thái tử Jeta mới có hai mươi tuổi.
Khu vườn này là của vua Pasenadi ban cho chàng năm ngoái. Thái
tử nhìn vị văn quan rồi nhìn Suddatta nói:
- Khu
vườn ấy là của phụ vương tôi cho tôi, và tôi quý nó như
vàng. Nếu ông có đủ vàng lá đem trải đầy khu vườn thì
tôi sẽ nhường nó lại cho ông.
Thái
tử Jeta nói nửa đùa nửa thật nhưng thương gia trẻ tuổi
lại không cho đó là chuyện đùa. Chàng nói:
- Được
rồi, tôi sẽ theo điều kiện của thái tử đặt ra. Sáng
mai, tôi sẽ cho chở vàng tới.
Thái
tử Jeta giật mình:
- Tôi
nói đùa đó mà, tôi không bán khu vườn của tôi đâu. Ông
đừng chở vàng tới.
Nhưng
Suddatta vẫn nghiêm trang:
- Thưa
thái tử, ngài là một bậc vương giả, ngài đã nói ra lời
nào thì chắc lời ấy không thể bị xóa bỏ.
Rồi
Suddatta quay sang hỏi vị văn quan đang ngồi uống nước với
thái tử:
- Thưa
đại nhân, có phải đúng như vậy không?
Vị
văn quan gật đầu. Ông ta xoay về phía thái tử Jeta:
- Vị
thương gia Anathapindika này nói đúng, thưa điện hạ, đã không
ra giá thì thôi, một khi đã đưa giá cả thì ta không có quyền
không bán.
Thái
tử Jeta đành nhượng bộ, Tuy nhiên chàng hy vọng rằng Suddatta
không có đủ vàng. Thái tử chưa kịp nói gì thêm thì Suddatta
đã đứng dậy chắp tay tạ ơn và cáo biệt. Ngay sáng hôm
sau, chàng cho người chở vàng tới lót khu vườn.
Thái
tử Jeta chứng kiến cảnh tượng lót vàng này và rất lấy
làm kinh ngạc. Thái tử biết đây không phải là một chuyện
mua bán tầm thường. Không ai bỏ ra một số vàng lớn như
thế để mà mua một khu vườn giải trí. Bụt và giáo đoàn
của người chắc chắn là những nhân vật lỗi lạc lắm
cho nên người thương gia này mới phát tâm dũng mãnh như thế
này được. Nghĩ thế, thái tử tới gần Suddatta và hỏi thăm
chàng về Bụt. Mắt vị thương gia sáng lên. Chàng kể cho
cho thái tử nghe về con người của Bụt, về đại cương
giáo lý của người và về giáo đoàn các vị khất sĩ. Chàng
lại hứa ngày mai sẽ đến mời thái tử đi thăm viếng đại
đức Sariputta, một vị cao đệ của Bụt, hiện đang có mặt
tại thủ đô. Nghe Suddatta nói, thái tử Jeta cũng cảm thấy
hứng khởi trong lòng. Lúc bấy giờ người của Suddatta đã
chở vàng được ba chuyến và đã lót được khoảng hai phần
ba khu vườn. Khi chiếc xe sắp đi chuyến thứ tư thì thái
tử Jeta đưa tay ngăn lại. Thái tử nói với Suddatta:
- Thôi,
ông lót từng ấy vàng đủ rồi. Phần đất còn lại là phần
tôi hiến tặng cho Bụt và giáo đoàn. Tôi cũng muốn góp phần
vào công trình lớn lao và đẹp đẽ của ông. Tôi nói như
thế này, ông nghe có được không nhé: cứ xem như là ông
cúng đất, còn tôi thì cúng cây cho tu viện. Sau này có ai
hỏi thì ta có thể nói rằng tu viện này tên là “Vườn
Anathapindika với cây của Jeta”. Ông chịu không?
Suddatta
rất hoan hỷ. Chàng hân hoan thấy thái tư Jeta chịu đóng góp
vào công cuộc hoằng pháp lớn lao này. Chiều hôm sau, chàng
đến rước thái tử đi thăm đại đức Sariputta, để thái
tử được thấy nhân cách của thầy và được nghe thuyết
pháp. Sau đó, cả ba người cùng đi đến khu vườn mà Suddatta
vẫn gọi là Jetavana, dù chàng đã đứng tên làm địa chủ.
Suddatta hỏi ý kiến thầy Sariputta và thái tử Jeta về kế
hoạch xây dựng cư xá, thiền đường, nhà giảng và phòng
tắm. Chàng muốn dựng một mái tam quan trước cổng tu viện
trên khoảng đất của thái tử Jeta cúng dường để kỷ niệm
và cũng để làm vui lòng thái tử. Thầy Sariputta đã đưa
ra nhiều chỉ dẫn rất quý báu về việc xây dựng cư xá,
thiền đường, nhà giảng và phòng tắm, bởi vì thầy biết
rất tường tận về những nhu yếu của các sinh hoạt tu viện.
Một nơi êm mát được chỉ định để làm am lá cho Bụt.
Những con đường được vạch ra, và những giếng nước được
bắt đầu đào. Sariputta khẩn khoản yêu cầu đại đức Sariputta
cư trú ngay tại Jetavana để giúp chàng điều động công việc
xây cất những tiện nghi tu viện. Có những buổi sáng gia
đình Suddatta mang thức ăn lên để cúng dường đại đức.
Vào những hôm này đai đức không đi khất thực, còn vào
những buổi khác, đại đức thường mặc áo mang bát đi khất
thực trang nghiêm trong thành phố. Dân chúng thủ đô dần dần
biết tới đại đức, và từ câu chuyện Suddatta lót vàng
mua đất Jetavana đã được truyền đi khắp nơi. Ai cũng biết
rằng vị thương gia trẻ Anathapindika đã mua đất của thái
tử và đang xây cất tu viện cho một giáo đoàn sẽ từ Magadha
tới. Thỉnh thoảng vào những buổi chiều, đại đức Sariputta
thuyết pháp tại Jetavana và dân chúng thủ đô đã bắt đầu
đi nghe khá đông, Bụt vẫn chưa tới mà đạo của Bụt đã
được dân chúng hâm mộ.
Bốn
tháng sau, khi công cuộc xây cất đã gần hoàn tất, đại
đức Sariputta lên đường trở về Rajagaha đón Bụt.
Buổi
sáng khi đại đức Sariputta về tới Vesali, thầy thấy bóng
dáng rất nhiều chiếc áo vàng trong thành phố. Hỏi ra thầy
biết là Bụt và trên năm trăm vị khất sĩ đã tới Vesali
trước đó mấy hôm. Hiện Bụt đang cư trú trong Rừng Lớn.
Sariputta lập tức tìm về giảng đường thăm Bụt. Bụt cho
thầy biết là nữ cư sĩ Ambapali vừa mới tới thỉnh Bụt
và giáo đoàn tới thọ trai ngày mai tại vườn Xoài của bà.
Người hỏi thăm về cuộc hoằng hóa của thầy ở Savatthi.
Sau khi nghe Sariputta kể lại những gì đã xảy ra tại thủ
đô vương quốc Kosala, Bụt cho thầy biết rằng hiện các
đại đức Kondanna và Uruvela Kassapa đang hướng dẫn đại
chúng tu học tại Trúc Lâm và tất cả các vị khất sĩ hành
đạo trong vương quốc Magadha đã được Bụt thông báo nên
y chỉ vào hai thầy ấy.
Trong
số năm trăm vị khất sĩ đi theo Bụt, hai trăm vị sẽ ở
lại hành đạo tại tiểu bang Videha và tại Vesali, còn ba trăm
vị sẽ theo Bụt qua Kosala. Mọi việc đều đã được các
thầy phụ tá sắp đặt chu đáo. Bụt cho biết ngày mốt Bụt
sẽ rời Vesali để lên đường đi Savatthi và người bảo
thầy Sariputta cùng đi với người.
Được
cúng dường Bụt và giáo đoàn khất sĩ tại vườn Xoài của
mình. Ambapali rất lấy làm mãn nguyện. Bà chỉ tiếc cậu
con trai của bà là Jivaka đã không có ở nhà để thừa tiếp
Bụt và giáo đoàn. Cậu đang theo học ngành y khoa gần thủ
đô Rajagaha. Ngày hôm qua, sau khi tới thỉnh Bụt ra về, bà
gặp một số các vương tử Licchavi ở giữa đường. Các
vị vương tử này là những người có quyền thế vào bậc
nhất ở Vesali. Họ đi trên những chiếc xe song mã trang sức
cực kỳ lộng lẫy. Họ đón đường bà. Chiếc song mã của
bà phải ngừng lại. Họ hỏi bà đi đâu. Ambapali trả lời
bà vừa đi thỉnh Bụt và giáo đoàn ngày mai về dùng cơm
trưa. Các vị vương tử đề nghị bà hủy bỏ việc mời
Bụt đi và chỉ nên mời họ. Họ nói:
- Nếu
nàng chịu mời chúng tôi, chúng tôi sẽ trả giá bữa cơm
ngày mai là một trăm ngàn đồng vàng.
Theo
ý các vị vương tử, mời các ông thầy tu thì chẳng có ích
lợi và vui vẻ gì. Ambapali trả lời:
- Quý
vị vương tử chưa biết Bụt nên mới nói như thế. Tôi đã
mời Bụt và giáo đoàn của người vào ngày mai rồi. Quý
vị vương tử có cho tôi cả thành Vesali cùng tất cả đất
đai vao quanh thành, tôi cũng không đánh đổi bữa cơm ngày
mai cho các vị, đừng nói là các vị trả cho tôi một trăm
ngàn đồng vàng. Thôi tôi xin phép quý vị được về nhà
sớm để lo cho cuộc đón tiếp ngày mai.
Các
vương tử Licchavi bắt buộc phải tránh đường cho bà đi.
Ambapali đâu có biết rằng sau khi tránh đường cho bà đi,
họ đã rủ nhau tìm đến Bụt để xem ông thầy tu này là
ai mà Ambapali kính trọng đến thế. Họ tìm đến Rừng Đại
Lâm. Họ đậu xe ở ven rừng và đi bộ vào.
Bụt
biết đây là những thanh niên có nhiều hạt giống từ bi
và trí tuệ. Người mời họ ngồi và kể chuyện cho họ nghe.
Người kể cho họ nghe về thân thế và lịch trình tu đạo
của người. Rồi người nói về đạo lý diệt khổ, và lý
tưởng giải thoát. Người biết họ cũng thuộc về giai cấp
Ksatriya, cũng thuộc về hoàng tộc như người. Nhìn họ, người
thấy hình ảnh của người ngày xưa. Câu chuyện người nói
vì
thế rất có vẻ thân mật.
Sau
khi được nghe Bụt thuyết pháp, các vị vương tử Licchavi
bừng tĩnh. Họ thấy được họ. Họ thấy sự hưởng thụ
giàu sang và quyền bính không đủ để đem lại cho họ hạnh
phúc. Họ tìm thấy lý tưởng cho tuổi trẻ họ. Tất cả
đều xin nguyện làm học trò tại gia của Bụt. Họ ngõ lời
thỉnh Bụt ngày mai đến thọ trai. Bụt mỉm cười:
- Ngày
mai tôi đã được Ambapali mời rồi.
Các
vị vương tử cũng mỉm cười. Họ nhớ lại cuộc đối đáp
giữa họ và Ambapali trước đó. Một vị nói:
- Vậy
thì chúng con xin thỉnh Bụt vào ngày mốt.
Bụt
mỉm cười chấp thuận.
Tại
lễ cúng dường tổ chức ở vườn Xoài. Ambapali đã mời
các thân hữu của bà đến để nghe Bụt thuyết pháp. Một
số các vương tử Licchavi cũng đã được mời tham dự buổi
lễ này.
Ngày
hôm sau, Bụt với trên một trăm vị khất sĩ tới dự lễ
trai tăng tại trú sở các vương tử Licchavi. Bụt và các vị
khất sĩ được đón tiếp rất long trọng. Các thức ăn được
cúng dường tuy là những thức ăn chay nhưng đều là những
thức trân quý vào bậc nhất. Các loại trái cây như mít,
xoài, chuối, và hồng táo đều đã được hái từ vườn
cây của các vương tử. Thọ trai xong, Bụt giảng cho mọi
người nghe về giáo nghĩa duyên sinh và con đường của tám
sự hành trì chân chính. Bài giảng của ngài làm rung động
tâm can của người nghe. Mười hai vị vương tử đã cầu
Bụt cho được xuất gia. Bụt vui lòng chấp nhận họ. Trong
số những người được xuất gia hôm ấy có Otthaddha và Sunakhatta,
hai vị vương có ảnh hưởng lớn trong bộ tộc Licchavi.
Cuối
buổi cúng dường, các vị vương tử trong bộ tộc Licchavi
khẩn khoản thỉnh Bụt và giáo đoàn sang năm về an cư tại
Vesali. Họ hứa sẽ cất tu viện và giảng đường trong khu
Rừng Lớn để có chỗ an cư cho Bụt và hàng trăm vị khất
sĩ. Bụt chấp thuận lời thỉnh cầu này.
Sáng
hôm sau, nữ cư sĩ Ambapali đến viếng Bụt rất sớm. Bà ngõ
ý muốn Bụt nhận vườn Xoài của bà như một phẩm vật
cúng dường của bà cho giáo đoàn khất sĩ. Bụt nhận lời.
Sau đó, Bụt cùng Sariputta và tăng đoàn lên đường đi về
thủ đô Savatthi.