Chương
30
VENUVANA
Ngày
trăng tròn đã tới. Buổi sáng, Bụt khoác ca sa, mang bát, cùng
với một ngàn hai trăm năm mươi vị khất sĩ đi vào thành
Rajagaha, đáp lại lời mời của quốc vương Bimbisara. Đoàn
người đi trang nghiêm và lặng lẽ. Đường phố mà các vị
khất sĩ đi qua đã được treo cờ và kết hoa. Dân chúng đổ
ra hai bên đường chào đón đông nghịt. Tới một ngã tư,
Bụt và giáo đoàn không đi lên được nữa, bởi vì dân chúng
đã đổ ra đông quá, làm bít mất con đường.
Lúc
ấy, khất sĩ Uruvela Kassapa đang đi sát sau lưng Bụt, còn chưa
biết làm cách gì để khai thông con đường thì thầy bỗng
thấy xuất hiện trước mặt Bụt một chàng thanh niên tuấn
tú, tay cầm cây đàn mười sáu dây. Thanh niên cất tiếng
hát, giọng chàng trong sáng và vọng lớn lên như tiếng chuông
đồng, Tay đàn, miệng hát, chàng rẽ đám đông để đi tới.
Quần chúng tránh đường cho chàng đi. Con đưòng được mở
rộng, lúc ấy Bụt và giáo đoàn mới tiến lên được.
Thầy
Kassapa nhận ra được tung tích người thanh niên đang mở đường
cho Bụt và tăng đoàn bằng âm nhạc và thi ca. Đó là một
chàng thi sĩ đã tới quy y với Bụt cách đây chưa đầy một
tháng. Chàng đang ứng khẩu hát lên những cảm nghĩ của mình.
Chàng hát:
Sáng nay trên đất nước, có mùa Xuân thắm tươi
Giữa thủ đô ta có bậc giác ngộ tuyệt vời
Cùng một ngàn hai trăm năm mươi đệ tử, người đi vào thành
Vương Xá
Bậc điều ngự đang ung dung bước tới, dung quang lặng lẽ
mà sáng ngời.
Quần
chúng nghe chàng một cách say mê. Mọi người nhìn vào chàng,
rồi lại nhìn vào Bụt. Chàng mỉm cười rồi hát tiếp:
Bởi ta có may mắn là học trò của bậc toàn giác
Hãy cho ta ca ngợi tình thương và trí tuệ không bờ bến của
Người
Cho ta ca con đường đưa tới chân trời tự tại
Cho ta ca tăng đoàn đang đi trên chánh đạo soi sáng cho đời.
Chàng
còn hát nữa, cho đến khi Bụt và tăng đoàn tới được cổng
hoàng cung. Lúc ấy chàng mới cúi đầu làm lễ Bụt rồi biến
mất trong đám đông.
Vua
Seniya Bimbisara đích thân ra tận ngọ môn để đón chào Bụt
và tăng đoàn. Các nhân sĩ và tân khách của vua, có tới hàng
ngàn người, cũng theo vua ra đón Bụt. Vua đưa Bụt vào hoàng
cung. Sân rồng đã được che nắng bởi những chiếp rạp
dựng lên cho cuộc đón tiếp long trọng này. Rạp được kết
bằng hoa lá rất mỹ lệ. Chỗ ngồi của Bụt được đặt
ở vị trí trung ương. Chỗ ngồi của một ngàn hai trăm năm
mươi vị khất sĩ cũng đã được chuẩn bị chu đáo. Sau
khi Bụt đã ngồi xuống trên ghế của người, vua Bimbisara
thỉnh cầu các vị khất sĩ và toàn thể quan khách an tọa.
Vua ngồi một bên Bụt. Phía bên kia là khất sĩ Kassapa.
Ngôi
chủ khách đã phân, thái tử Ajatasattu mang nước và khăn ra
cho Bụt rửa tay chân. Tiếp theo, quân hầu cũng đem nước
và khăn ra cho tất cả các vị khất sĩ rửa tay chân. Lễ
tẩy tịnh đã xong, vua đích thân đứng dậy cúng dường các
thức ăn cho Bụt. Vua cung kính sớt các thức ăn vào bát của
mỗi người. Trong khi đó, phu nhân của vua, hoàng hậu Vedehi,
hướng dẫn người hầu trong hoàng cung cúng dường thức ăn
cho các vị khất sĩ.
Bụt
và
giáo đoàn khất sĩ mặc niệm và chú nguyện trước khi ăn.
Vua Bimbisara và tất cả các quan khách cũng đều giữ im lặng
trong thời gian dùng bữa. Trong sáu ngàn tân khách của vua,
không ai là không cảm nhận được sự thanh tịnh và an lạc
thoát ra từ nhân cách của Bụt và của giáo đoàn khất sĩ.
Sau
khi Bụt, tăng đoàn và quan khách đã thọ trai xong, bình bát
của các vị khất sĩ được người hầu đem rửa và trả
lại cho mỗi vị.
Vua
Bimbisara hướng về Bụt, cung kính chắp tay. Hiểu được ý
vua, Bụt lên tiếng dạy về chánh pháp. Người nói về năm
giới như là phương thức tạo dựng và bảo vệ hòa bình
và hạnh phúc trong trong quốc gia. Người nói năm giới có
thể được nhận thức như là những nguyên tắc sống chung
hòa bình và an lạc, trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
“-
Giới thứ nhất là không sát hại. Giữ gìn giới này là để
nuôi dưỡng lòng từ bi. Tất cả các loài sinh vật, từ người
cho đến chim muông và cầm thú, loài nào cũng sợ chết. Nếu
ta biết tôn quý sự sống của ta thì ta cũng phải biết tôn
quý sự sống của loài sinh vật khác. Không những ta không
được tiêu diệt sự sống của con người, mà ta còn nên
tránh việc tiêu diệt sự sống của các chủng loại khác.
Ta phải sống hòa bình với con người và sống hòa bình với
các loài sinh vật khác. Nuôi dưỡng được lòng thương, ta
làm cho cuộc đời bớt khổ và đẹp đẽ thêm lên. Nếu mọi
người trong nước đều biết giữ giới không sát hại thì
đất nước sẽ không bị loạn lạc, và dân chúng được
sống hòa bình. Khi mọi người thương nhau và đoàn kết với
nhau thì dân giàu và nước mạnh, không nước nào sẽ có đủ
sức để xâm lăng nước mình, và tuy có quân đội hùng mạnh,
quốc gia sẽ không cần sử dụng đến. Quân đội sẽ có
thì giờ để làm những công việc xây dựng đường xá, cầu
cống, chợ búa và đê điều.
- Giới
thứ hai là không xâm phạm đến tài sản của kẻ khác. Nếu
tài sản của mình là do mình tạo ra bằng sức làm việc hàng
ngày của mình thì không ai có quyền xâm phạm đến. Tất
cả những lời nói và hành động nào nhằm tước đoạt tài
sản ấy đều được xem là phạm giới. Không được ăn trộm,
ăn cướp, lường gạt, hoặc dùng quyền lực mình để cưỡng
chiếm tài sản của kẻ khác. Lợi dụng sự khờ dại, sức
lao động của kẻ khác và hoàn cảnh khó khăn của họ để
làm giàu cũng phạm vào giới này. Nếu dân trong một nước
mà biết hành trì giới này thì trong nước sẽ có công bằng
xã hội và những tội ác như cướp của và giết người
sẽ giảm bớt rất mau chóng”.
- Giới
thứ ba là không xâm phạm tiết hạnh của kẻ khác. Ngoài
vợ mình hay chồng mình, người giữ giới không được chung
chạ với kẻ khác. Giữ được giới này thì tạo được
đức tin và hạnh phúc trong gia đình mình, đồng thời cũng
tránh được sự gây ra đổ vỡ khổ đau trong các gia đình
khác. Muốn có hạnh phúc, muốn có thì giờ và tâm não để
lo việc ích quốc lợi dân thì nên tránh việc có nhiều tỳ
thiếp.
- Giới
thứ tư là không nói dối và không nói những lời gây chia
rẽ căm thù. Lời nói phải phù hợp với sự thật: có thì
nói có, không thì nói không. Lời nói có thể tạo nên niềm
tin và hạnh phúc. Lời nói cũng có thể tạo nên đổ vỡ
và sự thù oán, có khi còn đưa tới sự chém giết lẫn nhau.
Có khi lời nói cũng có thể tạo ra chiến tranh. Ta phải rất
cẩn thận cho lắm mới được.
- Giới
thứ năm là không uống rượu và không sử dụng các chất
ma túy. Rượu và các chất ma túy làm cho ta mất sáng suốt.
Khi say ta có thể tạo ra nhiều đổ vỡ cho bản thân, cho gia
đình và cho tổ quốc. Giữ giới này, ta giữ cho thân thể
ta được khỏe mạnh và tâm hồn được sáng suốt, vì vậy
bậc thức giả luôn luôn phải giữ giới này. Nếu đại vương
và các vị chức sắc của triều đình mà thấu triệt và
vâng giữ được năm giới này thì đó là một điều đại
phước cho quốc gia và cho tất cả bàn dân thiên hạ trong
vương quốc.
Đại
vương, bậc quốc vương đứng đầu một nước cần sống
trong tỉnh thức và biết được những gì đang xảy ra trong
vương quốc mình. Nếu đại vương làm cho trong triều ngoài
quận ai cũng hiểu thấu và thực hành được năm giới, tức
là năm nguyên tắc sống hòa bình và an lạc, thì vương quốc
Magadha sẽ trở nên vương quốc thịnh vượng nhất trong hoàn
vũ”.
Vua
Bimbisara sung sướng tiến tới trước Bụt và làm lễ người.
Hoàng hậu Vedehi cũng đứng dậy từ chỗ ngồi của bà. Cầm
tay thái tử Ajatasattu, bà đi tới trước Bụt. Bà dạy thái
tử chắp tay thành búp sen để vái chào người, rồi bà nói:
- Lạy
Bụt, hôm nay có thái tử Ajatasattu, con của con và nhiều trẻ
em khác con của các vị vương tử đại thần và quan khách.
Các em đông có tới bốn trăm đứa. Xin Bụt đem lòng thương
xót chỉ bày cho thiếu nhiều con đường của tỉnh thức và
của thương yêu.
Nói
xong hoàng hậu sụp xuống lạy Bụt. Thái tử Ajatasattu cũng
được bà bảo sụp xuống lạy Bụt. Bụt mỉm cười đưa
tay cầm lấy tay thái tử. Hoàng hậu quay lại làm dấu hiệu.
Tất cả các thiếu nhi có mặt đều được đưa ra trình diện.
Đây toàn là trẻ em nhà quyền quý và khá giả, nên em nào
cũng được phục sức rất tươm tất. Trai cũng như gái đều
có đeo vòng ở cổ tay và cổ chân. Các em gái mặc những
chiếc sari lộng lẫy đủ màu trông rất tươi mát. Thái tử
Ajatasattu cũng ngồi xuống ngay dưới chân Bụt.
Bụt
nhớ lại những em bé nghèo mà người đã gặp dưới cây
hồng táo ở ngoại thành Kapilavatthu. Người tự hứa là mai
này về lại quê hương sẽ đi tìm gặp lại những em bé như
thế để làm tròn ước nguyện.
Người
nói:
- Này
các con, trước khi ta được làm người, ta đã từng làm đất
đá, cây cối, chim chóc và muông thú. Các con cũng vậy, trong
những kiếp xưa các con đã từng làm đất đá, cây cối và
chim muông. Ngày hôm nay ta được gặp các con, cũng có thể
là vì trong những kiếp xa xưa ta và các con đã từng gặp
nhau. Chúng ta đã có thể làm cho nhau sung sướng. Chúng ta cũng
đã có thể làm cho nhau khổ đau.
Hôm
nay ta muốn kể cho các con nghe một chuyện đã từng xảy ra
hàng ngàn kiếp trước. Đây là chuyện một còn cò, một con
cua, một cây bông sứ và rất nhiều tôm cá. Hồi ấy, ta là
cây bông sứ, và trong số các con có thể có đứa đã làm
con cò, có đứa có thể đã làm con cua và nhiều đứa có
thể đã làm tôm cá.
Trong
câu chuyện ày, con cò là một đứa nham hiểm và có tính hay
lường gạt. Nó đã làm cho biết bao nhiêu con khác chết chóc
và khổ đau. Hồi ấy, như các con đã biết, ta làm cây bông
sứ. Con cò cũng đã làm cho khổ đau, nhưng ta đã học được
một bài học. Đó là: khi mình lường gạt và làm khổ đau
kẻ khác thì mình cũng sẽ bị lường gạt và sẽ bị khổ
đau trở lại.
Trong
kiếp xa xưa đó, ta làm cây bông sứ đứng gần một cái hồ
sen rất thơm và rất mát. Hồ sen này lại không có cá.
Cách
hồ không xa, lại có một cái ao nhỏ hẹp, ít nước và nóng
bức, nhưng lại có nhiều tôm cá. Một con cò đi ngang qua đây
thấy tôm cá quá nhiều mới nảy sinh ra một mưu kế. Nó tới
đứng gần bên bờ hồ và tự tạo cho mình một vẻ mặt
đăm chiêu.
Bọn
cá hỏi:
- Bác
Cò, bác suy nghĩ gì đấy?
- Ta
đang suy nghĩ đến số phận của các chú. Ở đây, ao hẹp,
nước ít lại nóng bức. Các chú lại thiếu thức ăn. Đời
sống của các chú có vẻ khổ cực, ta thương lắm.
- Vậy
bác có cách gì giúp tụi cháu không, bác Cò?
- Nếu
tụi bay để ta chở từng đứa tới bỏ xuống cái hồ sen
đàng kia, thì ở đó tụi bay sẽ được tha hồ bơi lội trong
nước mát và sẽ có vô số thức ăn.
- Bác
Cò ơi, tự thuở cha mẹ sinh ra, chúng cháu chưa bao giờ nghe
nói là loài cò mà lại có lòng tốt với loài tôm cá. Bác
bày ra cách đó chẳng qua chỉ là để ăn thịt chúng cháu,
đứa này rồi tới đứa khác, vậy thôi. Có phải không?
- Tụi
bay đa nghi lắm. Tao là bác của tụi bay, không lý tao lại
gạt tụi bay hay sao. Sự thật là đàng kia có một cái hồ
sen rộng lắm, nước nhiều mà lại mát nữa. Nếu tụi bay
không tin thì một đứa hãy theo tao qua đó xem. Xem xong tao lại
trả nó về đây để nó báo cáo lại sự thật cho tụi bay
biết.
Bọn
tôm cá châu đầu vào nhau để bàn luận một hồi lâu. Cuối
cùng chúng cử một bác cá nhám đi với con cò. Con cá nhám
này đã già, thân thể gần như một cục đá. Nói bơi lội
giỏi đã đành, mà nó cũng có thể di chuyển dễ dàng trên
đất cạn. Con cò cáp lấy con cá nhám vào mỏ và bay về phía
hồ sen. Nó thả con cá vào hồ sen để các bơi lội thỏa
thích và đi thăm mọi nơi trong hồ. Quả thật là hồ rộng,
nước rất mát và thực phẩm rất nhiều. Một lát con cò
chở con cá nhám về ao, và nó kể lại tất cả những gì
nó đã thấy cho bọn chúng trong ao nghe.
Bọn
tôm cá nghe kể rất lấy làm vui sướng. Chúng yêu cầu con
cò chở chúng sang hồ, mỗi chuyến một đứa. Cò bằng lòng.
Nó cắp con cá đầu tiên vào mỏ và bay đi, nhưng thay vì thả
cá xuống hồ sen, nó bay về phía cây bông sứ, nó buông cá
vào một chỉa ba của thân cây. Nó dùng mỏ rỉa cá ra và
ăn thịt con cá. Ăn xong, nó hất xương cá xuống gốc cây
bông sứ. Rồi nó bay về phía ao để “chở” một con cá
khác, và luôn luôn bỏ xương cá xuống gốc cây.
Ta
là cây bông sứ. Ta chứng kiến tất cả những điều này.
Ta rất tức giận con cò nhưng không thể nào ngăn cản được
con cò. Các con biết, cây bông sứ chỉ có thể đâm rễ sâu
thêm vào đất, mọc cành mọc lá và làm hoa, nhưng không thể
chạy đi đâu được. Ta không thể chạy tới ao để vạch
rõ cho bọn tôm cá biết âm mưu của con cò. Ta cũng không thể
vươn cành ra để ngăn con cò không cho cò ăn thịt cá. Ta đứng
yên chịu trận. Mỗi lần cò mang tới một con cá và mổ cho
cá toét ra để ăn thịt là mỗi lần cây bông sứ đau đớn
rúng động cả châu thân, nhựa cây như chảy dồn dập hơn,
da cây như co rúm lại. Có khi cây bông sứ rung rung và những
giọt sương rơi xuống như là cây cũng biết khóc. Con cò không
để ý tới những dấu hiệu đó. Ngày này sang ngày khác,
nó mang cá tới cây bông sứ để ăn thịt. Ăn hết cá nó
ăn đến tôm. Đống xương cá dưới gốc cây đã cao bằng
hai cái thùng lớn.
Làm
một cây bông sứ, ta biết mình có bổn phận nở hoa để
làm thơm làm đẹp cho núi rừng, nhưng ta rất đau khổ vì
không làm được gì để cứu bọn tôm cá. Nếu ta là một
con nai hoặc một con người thì ta đã có thể làm được
một cái gì. Đàng này ta bị chôn chân xuống đất không đi
đâu được. Với niềm thương trong lòng, ta thầm nguyện sau
này nếu được làm thú hay làm người, ta sẽ gắng hết sức
để bênh vực kẻ yếu và ngăn chận không cho kẻ hung bạo
và giảo quyệt đi lừa gạt và tàn sát kẻ khác.
Ngày
hôm ấy, dưới ao cá và tôm đã hết. Chỉ còn có một con
cua. Lúc đầu cò ta chê, nhưng sau đó đói bụng quá, nó lại
gần bờ nước và nói:
- Này
cháu, tất cả những tôm cá mà ta đã chở tới hồ sen, hiện
đang sung sướng vẫy vùng bên đó. Cháu lại đây, bác chở
qua đó luôn.
- Bác
thì làm sao chở được cháu? Cháu là một con cua mà.
- Thì
bác cắp cháu trong mỏ bác, như đã chở những đứa khác.
-
Bác mà cắp cháu trong mỏ bác thì không chắc lắm. Bác có
thể để cho cháu rơi xuống và cháu sẽ vỡ toang.
- Đừng
có sợ, cháu. Báu sẽ ngậm cháu thật chặt.
Con
cua suy nghĩ: có thể là cò đã thả tất cả tôm cá xuống
hồ sen. Cũng có thể là cò đã ăn thịt hết tất cả họ
hàng nhà tôm và họ hàng nhà cá. Ta hãy cẩn thận. Ta phải
đề phòng. Nếu cò thả ta xuống hồ thì đó là chuyện tốt.
Nếu cò muốn ăn thịt ta thì ta cũng có sẽ cách tự vệ.
Nghĩ
như thế, Cua nói với Cò:
- Bác
ơi, mỏ bác không đủ mạnh để giữ cho cháu khỏi rơi dâu.
Bác phải để cháu bám vào cổ bác bằng hai cái càng của
cháu mới được.
Cò
bằng lòng ngay, nó để cho Cua bám vào cổ nó. Cò vỗ cánh
bay đi, nhưng thay vì bay thẳng xuống hồ, cò lại bay qua cây
bông sứ.
- Bác
ơi, tại sao bác không đưa cháu xuống hồ mà lại đem cháu
đi đâu thế?
- Cháu
ơi, ai dại dột mà đi chở mướn cho bọn bay. Tao đâu có
phải là đầy tớ của bọn mày. Ta chỉ muốn chở bọn mày
tới đây để ăn thịt từng đứa mà thôi. Coi kìa, mày có
thấy đống xương cá cao nghệu dưới gốc cây bông sứ không?
Đó, mày cũng sẽ chấm dứt cuộc đời của mày nơi đó.
- Bác
Cò ác độc ơi, tụi tôm cá ấy dại dột quá nên mới bị
bác lừa dối và ăn thịt, nhưng cháu thì bác đừng có hòng
mà ăn thịt được cháu. Bác hãy mang cháu về dưới hồ đi,
nếu không cháu sẽ kẹp đứt cổ bác cho mà xem.
Nói
xong, Cua bắt đầu xiết những gọng kềm của Cua trên cổ
Cò. Những cái càng cua siết cứng như những chiếc gọng kềm
bằng sắt khiến cho Cò ta đau quá. Cò kêu lên:
- Thôi
anh Hai ơi, anh Hai đừng kẹp tôi đau quá. Để tôi đưa những
Hai xuống hồ. Tôi không dám ăn thịt anh Hai đâu.
Cò
nghiêng cánh liệng bay trở lại hồ sen và đạt Cua xuống
bờ nước, nơi có chút ít bùn lầy. Cua vẫn chưa buông cổ
Cò. Nghĩ tới bao nhiêu tôm các trong hồ bị Cò tàn sát hết.
Cua nghiến răng kẹp hai cái càng thật mạnh, khiến cho cổ
Cò đứt rời ra, và Cò lăn xuống chết. Rồi Cua đi xuống
nước.
Các
con ơi, lúc ấy ta là cây bông sứ, ta chứng kiến từng chi
tiết nhỏ của tấn kịch này. Ở đời, ăn hiền ở lành
thì sẽ được người hiền lành giúp đỡ. Ăn ở độc ác
sớm muộn gì cũng lâm vào cảnh thảm thương. Ta đã học
được bài học đó. Ta nguyện đời đời sẽ làm việc lợi
ích cho muôn loài. Ta đã làm người trong nhiều vạn kiếp.
Giờ đây, gặp các con, ta muốn truyền lại bài học ta đã
học ngày xưa cho các con nghe.
Tất
cả các thiếu nhi có mặt đều chăm chú nghe Bụt thuật chuyện
tiền thân. Đứa nào cũng thương cho cây bông sứ và cho tất
cả những loài tôm cá bị lừa gạt. Đứa nào cũng căm giận
con cò và khen con cua là biết lo xa. Bụt lặng yên và bọn
thiếu nhi quay lại thầm thì với nhau về câu chuyện người
vừa kể.
Vua
Bimbisara đứng dậy. Đi tới trước Bụt, vua chắp tay lại
làm lễ người. Vua nói:
- Hôm
nay bậc tôn quý trên đời đã ban cho người lớn và trẻ
em một bài học thật quý giá. Trẫm mong thái tử Ajatasattu
thấm nhuần được lời dạy và đạo đức của người. Vương
quốc Magadha có được may mắn lớn nên người mới dừng
chân hoằng hóa nơi đây. Trẫm có một món quà muốn dâng
lên bậc giác ngộ và tăng đoàn của người, không biết người
có chịu cho trẫm cái hân hạnh được dâng cúng món quà ấy
không?
Bụt
không nói. Người đưa mắt nhìn vua, có ý muốn vua nói tiếp.
Vua im lặng một lát rồi nói:
- Về
phía Bắc thủ đô Rajagaha có một vườn tre rất rộng và
rất đẹp mà trẫm gọi là Trúc Lâm, hay làVenuvana. Trúc Lâm
cách cửa Bắc của kinh đô chỉ chừng hai dặm. Công viên
này rất yên tĩnh, rất mát mẻ và có rất nhiều con sóc hiền
lành. Trẫm muốn hiến cúng công viên ấy lên Bụt và tăng
đoàn của người để làm trụ sở tu học và hành đạo.
Mong
đức Từ Bi chấp nhận cho lòng thành của trẫm.
Bụt
suy nghĩ. Đây là lần đầu tiên một cơ sở được hiến
tặng cho giáo đoàn để làm nơi tu học. Các vị khất sĩ
cũng cần có một căn cứ để an cư trong mùa mưa. Ta nên chấp
nhận tặng phẩm này.
Nghĩ
như thế, Bụt mỉm cười và gật đầu ưng thuận. Vua Bimbisara
mừng rỡ. Vua nghĩ là cơ sở đó có thể giữ được bậc
giác ngộ lâu dài trong vương quốc mình. Trong số các vị
tân khách, có nhiều người thuộc giới lãnh đạo Bà la môn.
Họ không mấy hoan hỷ về quyết định này của vua, nhưng
họ vẫn giữ im lặng.
Vua
truyền đem ra một cái bình vàng. Ngài tự tay làm lễ rót
nước trong bình lên tay Bụt, và trang trọng tuyên bố:
- Bạch
Thế Tôn, cũng như nước trong chiếc bình vàng này chảy vào
tay người, khu vườm Trúc Lâm đã được trẫm hiến tặng
cho người và giáo đoàn do người lãnh đạo.
Lễ
bàn giao đã xong. Cuộc thừa tiếp giáo đoàn đã kết thúc
Bụt và một ngàn hai trăm năm mươi vị khất sĩ từ giã hoàng
cung.
Chương
31
SANG
XUÂN TA SẼ TRỞ VỀ
Ngay
ngày hôm sau, Bụt và các vị trưởng thượng trong giáo đoàn
đi thăm viếng Trúc Lâm. Thật là một nơi cư trú lý tưởng
cho giáo đoàn khất sĩ. Khu vườn rộng vào khoảng bốn chục
mẫu. Tre mọc xanh tốt, đủ cả các loại. Hồ Kalandaka tọa
lạc ở giữa rừng tre là một nơi rất thuận lợi để các
vị khất sĩ tắm giặt và đi kinh hành. Tre rất nhiều, những
chiếc thảo am có thể được dựng lên rải rác để làm
chỗ cư trú cho các vị đại đức lớn tuổi. Các vị đệ
tử lớn như Kondanna, Kassapa, Sariputta v.v... đều rất hoan hỷ.
Họ họp nhau lại và hoạch định cách tổ chức Trúc Lâm
thành một tu viện có quy củ. Bụt dạy:
- Mùa
mưa không tiện lợi cho sự du hành. Các vị khất sĩ cần
có nơi an cư trong mùa mưa để cùng tu học với nhau. Như vậy
họ tránh được sự ướt át và dẫm đạp lên trên các loại
côn trùng thường bò ra đầy dẫy. Tôi muốn mỗi năm cứ
vào đầu mùa mưa, các vị khất sĩ phải tìm nơi an cư tu
học với nhau, khỏi phải đi du hành đây đó. Trong ba tháng
ấy, thiện nam và tín nữ có thể mang thực phẩm tới cúng
dường tại các trung tâm an cư, và mỗi ngày, họ sẽ được
các vị xuất gia chỉ dạy về đạo lý tỉnh thức.
Truyền
thống an cư được thiết lập, chỉ còn mười lăm hôm nữa,
mùa an cư được bắt đầu.
Dưới
sự điều khiển của đại đức Moggallana, các vị khất sĩ
trẻ tuổi đã dựng lên một tịnh xá nhỏ cho Bụt và nhiều
tịnh xá nhỏ khác cho các vị khất sĩ trưởng thượng hoặc
lớn tuôi. Tất cả đều được làm bằng tre, tranh, và bùn
đất. Tịnh xá của Bụt tuy nhỏ nhưng rất xinh xắn. Phía
sau tịnh xá có một bụi tre vàng rất đẹp. Bên trái tịnh
xá cũng có một bụi tre thật xanh tươi và cao. Bụi tre này
cho Bụt rất nhiều bóng mát. Thầy Nagasamala đã đóng cho Bụt
một cái chõng tre để người nằm nghỉ. Người cũng ngồi
thiền trên đó. Thầy lại còn kê cho Bụt một vại nước
ở phía sau tịnh xá để người có chỗ rửa mặt và tay chân.
Thầy Nagasamala là một vị khất sĩ trẻ. Trước đây thầy
đã từng là đệ tử của đại đức Uruvela Kassapa, khi đại
đức còn chưa xuất gia theo Bụt. Từ ngày dọn về tu viện
Trúc Lâm, thầy Nagasamala được đại đức Kassapa tiến cử
lên Bụt để làm thị giả cho người.
Đại
đức Sariputta đã tiếp xúc với một vị cư sĩ ở thành Vương
Xá và vị cư sĩ này đã đem cúng dường tu viện Trúc Lâm
một chiếc chuông đồng. Đại đức đã cho treo chuông gần
hồ Kalandaka dưới một cành cổ thụ. Tiếng chuông báo hiệu
giờ giấc tu học trong tu viện, và trở thành hiệu lệnh cho
tất cả tăng đoàn. Bụt dạy mỗi khi nghe tiếng chuông, tất
cả mọi người đều phải theo dõi hơi thở và thực tập
chánh niệm. Tiếng chuông như vậy không chỉ có tác dụng
thông báo giờ giấc mà còn có tác dụng nhắc nhở mọi người
trở về với chánh niệm nữa.
Các
vị đệ tử cư sĩ của Bụt ngày nào cũng có lui tới Trúc
Lâm để giúp đỡ công trình kiến thiết tu viện. Họ được
đại đức Kassapa cho biết là ngày trăng tròn sắp đến, tăng
đoàn sẽ bắt đầu an cư tu học tại Trúc Lâm. Đại đức
nói:
- Đây
là một dịp để các vị khất sĩ được thực tập đạo
giải thoát trực tiếp dưới sự hướng dẫn của Bụt. Họ
sẽ có nhiều thì giờ học hỏi và thực tập hơn trong mùa
an cư. Đồng thời họ cũng tránh được sự dẫm đạp lên
các loại côn trùng thường xuất hiện rất nhiều vào mùa
mưa trên các con đường, nhất là những con đường thôn dã.
Trong thời gian ba tháng an cư của các thầy. Quý vị có thể
đem thức ăn tới cúng dường Bụt và tăng đoàn. Quý vị
có thể họp nhau để tổ chức việc cung cấp thực phẩm
cho tăng đoàn, như thế thì sẽ không có ngày nào thức ăn
bị dư hoặc bị thiếu. Tất cả các vị thí chủ, dù là
người nghèo khổ nhất và chỉ có thể cúng dường một vài
chiếc bánh chappati, cũng đều được mời ở lại để nghe
Bụt hoặc một vị cao đệ của người thuyết pháp. Mùa an
cư sẽ đem lại nhiều tiến bộ cho sự tu học của tăng đoàn
cũng như là của các vị đệ tử tại gia.
Đại
đức Kassapa lãnh đạo tăng đoàn rất giỏi mà tổ chức giới
cư sĩ cũng giỏi. Thầy đã hội họp với những vị thí chủ
của tu viện và đã giúp cho họ điều hợp việc cúng dường
và hổ trợ tu viện. Các vị khất sĩ, ngoài áo ca sa, bình
bát và nệm ngồi thiền, còn được cúng dường một chiếc
khăn lau mặt và một chiếc lọc để lọc nước uống nữa.
Ngày
an cư đã đến, và thời khóa tu học do các vị trưởng thượng
ấn định, đã được tăng đoàn chấp hành theo một cách
nghiêm chỉnh. Buổi sáng vào lúc đầu canh tư, đã có chuông
báo thức. Sau khi rửa mặt, các vị khất sĩ bắt đầu thiền
tập ngay tại chỗ của mình. Mọi người thực tập thiền
tọa và kinh hành nhiều lần cho đến khi mặt trời đã lên
tới đầu ngọn tre. Sau đó là giờ đi khất thực. Đại chúng
chỉ nghỉ đi khất thực vào những ngày có thí chủ cúng
dường thực phẩm đầy đủ cho tu viện. Vào những ngày này,
các vị khất sĩ có thể sử dụng thì giờ buổi sáng để
đi tìm y chỉ sư của mình mà học hỏi thêm giáo lý và tham
vấn về những điều mình chưa nắm vững trong lãnh vực giáo
nghĩa cũng như trong lãnh vực thực tập. Y chỉ sư là một
vị khất sĩ đã đạt tới nhiều tiến bộ trên con đưòng
học hỏi và hành trì. Các vị đại đức như Kondanna, Assaji,
Kassapa, Sariputta, Moggallana, Bhaddhiya, Vappa, Mahanama v.v... đều
là những vị y chỉ sư lớn, mỗi vị phụ trách hướng dẫn
năm sáu mươi vị khất sĩ mới học. Có những vị y chỉ
sư hướng dẫn mười vị, có vị hướng dẫn hai mươi vị,
có vị hướng dẫn ba mươi vị ... Vị khất sĩ mới học
nào cũng có y chỉ sư của mình. Đó là người huynh trưởng
trong đạo mà mình cần nương tựa vào để học hỏi. Đại
đức Kassapa đã cùng với đại đức Sariputta làm công việc
phân phối này rất kỹ lưỡng trước ngày an cư.
Vào
đầu giờ Ngọ, các vị khất sĩ đều đã có mặt tại tu
viện. Họ mang bát đứng thành từng hàng dài ở sân cỏ bờ
hồ. Sau khi đã được cúng dường hoặc đã san sẽ thực
phẩm xin được cho nhau, mọi người ngồi xuống bãi cỏ và
bắt đầu thọ trai trong im lặng. Buổi trai phạn hoàn tất
vào cuối Ngọ. Mọi người quây quần bên Bụt. Có khi người
giảng dạy cho các vị khất sĩ và các vị cư sĩ được dự
thính, có khi người giảng dạy cho các vị cư sĩ, và các
vị khất sĩ dự thính. Lại có những buổi giảng dạy cho
thiếu nhi và tất cả những người lớn tuổi của cả hai
giới xuất gia và tại gia dự thính. Thường thường trong
các buổi giảng cho trẻ em, Bụt hay dùng những truyện tiền
thân.
Có
khi các đại đức cao đệ của Bụt đứng ra giảng dạy thay
Bụt. Những lúc ấy, Bụt ngồi nghe, và người thường mở
lời khen ngợi khi đạo lý giải thoát được diễn bày một
cách đúng mức và thông minh. Sau buổi thuyết pháp, giới đệ
tử tại gia ra về. Mọi người có được một thời gian nghỉ
ngơi. Sau đó chuông lại báo hiệu giờ thiền tọa và thiền
hành. Các thầy thực tập tham vấn và học hỏi cho đến đầu
giờ Hợi mới đi nghỉ.
Bụt
thường thiền tọa cho đến nửa đêm. Ngưòi hay bắc chiếc
chõng tre ra trước tịnh xá ngồi cho mát, nhất là vào những
đêm có trăng. Mỗi buổi sáng khi thức dậy, người ưa đi
thiền hành, người không cần ngủ nhiều giờ như các vị
khất sĩ trẻ tuổi. Đại đức Kassapa cũng thức rất khuya
để thiền tập.
Vua
Bimbisara rất siêng năng đến Trúc Lâm để thăm Bụt và tăng
đoàn. Vua không đem theo hàng trăm người như lần đầu đi
gặp Bụt ở rừng Kè. Những lần đi thăm Bụt ở Trúc Lâm,
vua chỉ đem theo hoàng hậu Vedehi và thái tử Ajatasattu. Có
khi vua đến một mình. Để xe tứ mã và quân hầu phía ngoài
tu viện, vua đi bộ vào tịnh xá của vị đại sa môn.
Có
một hôm thấy các vị khất sĩ ngồi trong mưa để nghe giảng,
vua bạch với Bụt xin xây cất một Pháp đường trong đó
chư vị xuất gia có thể thọ trai và nghe Pháp. Được sự
chấp thuận của Bụt. Pháp đường được xây dựng ngay sau
cuộc viếng thăm của vua. Pháp đường không những che mưa
nắng cho trên một ngàn vị xuất gia mà còn che mưa nắng được
cho khoảng một ngàn vị đệ tử cư sĩ nữa. Từ hôm Pháp
đường được xây dựng xong, đời sống của tu viện đã
bắt đầu có đủ tiện nghi.
Bụt
đưa vua vào thăm tịnh xá bằng tre của mình và mời vua ngồi
thử trên chiếc chõng tre của Bụt. Thầy thị giả của Bụt
cũng đã đóng cho Bụt hai chiếc ghế bằng tre để Bụt tiếp
khách. Một hôm Bụt mời vua ngồi chơi với Bụt trên những
chiếc ghế tre đặt trước tịnh xá. Sau một hồi đàm đạo,
vua tâm sự:
- Trẫm
có một đứa con trai khác mà Bụt chưa gặp. Trẫm rất muốn
nó và mẹ nó tới thăm ngài. Thưa Thế Tôn, mẹ nó không phải
là hoàng hậu Vedehi. Mẹ nó tên là Ambapali, nó tên là Jivaka,
năm nay mười sáu tuổi. Mẹ nó cư trú tại Vesali, phía Bắc
thành phố Pataliputta. Ambapali không ưa đời sống chật hẹp
trong cung cấm. Ambapali không màng chức tước và địa vị.
Nàng chỉ thích tự do. Trẫm đã ban cho hai mẹ con mấy cơ
sở tự túc kinh tế, trong đó có một vườn Xoài rất đẹp.
Jivaka rất thông minh và đôn hậu. Jivaka cũng không thích chính
trị và quyền binh. Hiện nó đang ở gần thủ đô và đang
học nghề y sĩ.
Trẫm
thương nó lắm, cầu xin Bụt thương nó như trẫm đã thương.
Nếu được đức Từ Bi chấp nhận, trẫm sẽ bảo nó về
đây thăm ngài và để được học hỏi với ngài.
Bụt
mỉm cười lặng thinh, đó là dấu hiệu người ưng thuận.
Vua chắp tay chào Bụt và từ giã.
Một
buổi chiều hôm nọ, có hai người khách đặc biệt tới viếng
Bụt ở tu viện Trúc Lâm. Hai người ấy đến từ quê hương
của Bụt, kinh đô Kapilavatthu. Đó là Kaludayi và Channa. Kaludayi
là bạn học từ thuở bé của Bụt, và Channa là người ngày
xưa thường đánh xe đưa Bụt đi. Cuộc gặp gỡ này làm ấm
cả Trúc Lâm tịnh xá.
Bụt
xa nhà đã bay năm, và người rất muốn được nghe tin tức
nhà. Người hỏi thăm Kaludayi về phụ vương, hoàng hậu, Yasodhara,
Nanda, Sundari Nanda, Rahula và tất cả những người thân thuộc.
Kaludayi tuy còn rất khỏe nhưng nét mặt đã dạn dày gió bụi.
Channa thì đã già hẳn đi. Hai người được Bụt tiếp chuyện
rất lâu trước túp lều tranh của người. Kaludayi đã có
chức tước quan trọng trong triều và đã trở nên một trong
những người phụ tá thân tín của vua Sudhodana. Ông nói là
tin Bụt thành đạo và đang hằng hóa ở vương quốc Magadha
đã được chuyển về Kapilavatthu liên tiếp từ hai tháng nay.
Ai nghe tin này cũng mừng rỡ. Mừng rỡ nhất là vua, hoàng
hậu, và Gopa. Khi nguồn tin đã được liên tiếp xác nhận,
vua đã ủy thác cho Kaludayi đi mời Bụt trở về quê hương.
Kaludayi rất sung sướng được vua giao cho trách vụ này. Ông
để ra ba hôm để chuẩn bị chuyến đi, và suốt cả mấy
đêm ông không ngủ được vì náo nức trong dạ. Ông đã qua
thăm Yasodhara để trình bày với phu nhân về chuyến đi. Phu
nhân mừng rỡ và đề nghị cho Channa đi theo. Khi được báo
tin là sẽ được cùng thượng quan Kaludayi đi mời Bụt, Channa
đã mừng rơi nước mắt. Hai thầy tớ đã đi gần một tháng
mới tới được tu viện Trúc Lâm.
Theo
lời Kaludayi thì sức khỏe phụ vương đã có phần suy giảm.
Ngài vẫn còn sáng suốt, và hiện nay ngài có đủ người
phụ tá giỏi trong công việc triều chính. Hoàng hậu Gotami
vẫn còn rất tráng kiện. Hoàng tử Nanda đã lớn và đã đính
ước vói một tiểu thư con nhà dòng dõi tên là Kalyani. Nanda
rất đẹp trai và rất ưa chưng diện, nhưng tính tình không
được cương nghị cho mấy. Sundari Nanda em gái Bụt đã trở
nên một cô thiếu nữ kiều diễm. Phu nhân Yasodhara thì từ
ngày Bụt đi đã bỏ hết mọi đồ trang sức. Bà ăn mặc
rất giản dị, bao nhiêu vật quý giá trong cung bà đã cho đem
bán hết để lấy tiền giúp vốn cho những gia đình túng
quẩn nhất ở các xóm nghèo. Nghe nói Bụt mỗi ngày chỉ ăn
một bữa, bà cũng bắt đầu mỗi ngày chỉ ăn một bữa Bà
vẫn còn làm việc từ thiện xã hội như xưa với sự góp
sức của hoàng hậu Gotami. Rahula đã trở thành một cậu bé
bảy tuổi xinh đẹp, mạnh khỏe, hai mắt đen láy, thông minh
và quả cảm. Rahula rất được ông nội và bà nội cưng quý,
cưng quý không khác gì cưng quý Siddhatta ngày xưa.
Những
điều Kaludayi đã nói được người đánh xe Channa xác định.
Bụt ngồi nghe và cảm thấy rất ấm lòng. Cuối cùng, Kaludayi
hỏi Bụt chừng nào người có thể lên đường trở lại
quê hương, Bụt nói:
- Đầu
mùa Xuân, tôi sẽ về. Bây giờ là đang là mùa mưa, việc
du hành đã trở nên không thuận lợi. Với lại trong số một
ngàn hai trăm năm mươi vị khất sĩ, có rất nhiều vị còn
non yếu trên con đường thực tập. Sau mùa an cư này họ sẽ
vững vàng hơn, và tôi có thể an tâm hơn để ra đi.
Kaludayi!
Bạn hãy ở lại đây chơi một tháng, Channa cũng vậy. Sau
đó các vị có thể về nước và báo tin cho phụ vương ta
hay là đầu mùa Xuân ta sẽ lên đường trở lại quê hương.
Kaludayi
và Channa lưu lại tu viện Trúc Lâm như người người khách.
Họ làm quen với các vị khất sĩ. Họ thấy được nếp sống
thanh tịnh an lạc của người xuất gia. Họ thấy được ảnh
hưởng của đạo giải thoát trên tâm hồn và trong nếp sống
hàng ngày của người xuất gia. Kaludayi ngày nào cũng được
gần Bụt. Ông quán sát Bụt rất kỹ. Ông thấy được sự
thảnh thơi mầu nhiệm của Bụt. Con người này đã đạt
tới chỗ không còn mong muốn hay tìm cầu một cái gì khác
nữa. Bụt như một con cá thảnh thơi trong nước, như một
đám mây thảnh thơi trên trời. Người hoàn toàn an trú trong
hiện tại. Cái nhìn và nụ cưòi của Bụt chứng minh rằng
Bụt đã đạt tới tự do tuyệt đối của tâm linh. Không
còn gì có thể ràng buộc được con người này, nhưng cũng
không ai có được sự hiểu biết và lòng thương yêu rộng
lớn và không điều kiện của người. Kaludayi thấy người
bạn học năm xưa đã bỏ mình xa quá trên con đường tâm
linh. Ông bỗng ao ước được sống đời sống tịnh lạc
của một kẻ xuất gia dưới sự hướng dẫn của Bụt. Ông
muốn bỏ hết địa vị, chức tước và những lo lắng phiền
muộn của cuộc sống lợi danh. Sau ngày thứ bảy cư trú tại
Trúc Lâm, ông ngõ ý xin Bụt xuất gia. Bụt hơi tỏ vẻ ngạc
nhiên, nhưng người đã gật đầu ưng thuận.
Channa
là một người hầu cận rất trung thành. Thấy Kaludayi được
xuất gia, ông cũng muốn được xuất gia. Nhưng ông nghĩ rằng
ông không thể xuất gia nếu không được phép lệnh bà Yasodhara
trước. Vì vậy ông tự bảo phải chờ đến khi Bụt trở
về Kapilavatthu.
Chương
32
NGÓN
TAY CHỈ MẶT TRĂNG
Một
buổi chiều nọ, hai vị đại đức Sariputta và Moggallana đến
thăm Bụt nơi tịnh xá của người và giới thiệu với Bụt
một người quen thân của họ, du sĩ Dighanakha. Du sĩ Diganakha
không phải là đệ tử của đạo sĩ Sanjaya nhưng cũng rất
nổi tiếng, Dighanakha là cậu ruột của đại đức Sariputta.
Nghe nói hai người thân nhất của mình đã xuất gia theo Bụt,
ông tìm tới để hỏi thăm Bụt về giáo pháp của người.
Thay vì mô tả và tường thuật, hai vị đưa ông đến trực
tiếp gặp Bụt.
Diganakha
nói vói Bụt:
- Sa
môn Gotama, ngài dạy giáo pháp gì? Chủ thuyết của ngài là
chủ thuyết nào? Riêng tôi, tôi không thích một chủ trương
hay một lý thuyết nào hết. Tôi không tin vào một chủ trương
hay một lý thuyết nào hết.
Bụt
mỉm cười hỏi:
- Vậy
ngài có thích cái chủ trương “không thích” của ngài không?
Ngài có tin cái chủ trương “không tin” của ngài không?
Vị
du sĩ ngỡ ngàng. Ông ta nói liều:
- Sa
môn Gotama, tôi thích hay không thích, tôi tin hay không tin, thì
cũng như vậy thôi, điều đó không quan hệ gì mấy.
Bụt
từ tốn:
-
Một khi đã bị kẹt vào một chủ thuyết rồi thì người
ta mất hết tự do, người ta trở nên độc đoán, cho rằng
chỉ có chủ thuyết của mình mới là chân lý còn tất cả
những chủ thuyết khác đều là tà đạo. Những tranh chấp
và cãi cọ được phát sinh từ thái độ cố chấp này. Những
tranh chấp và cãi cọ ấy có thể kéo dài bất tuyệt, làm
mất rất nhiều thì giờ quý báu và có thể tạo ra xung đột
và chiến tranh. Vì vậy cho nên kiến thủ là trở ngại lớn
lao nhất trên con đường tu học.
- Kiến
thủ là gì?
- Kiến
là nhận thức, là quan điểm. Thủ là sự cố chấp. Kiến
thủ là cố chấp vào một nhận thức hay một quan điểm.
Cố chấp như vậy là bị kẹt, vì bị kẹt cho nên cánh cửa
chân lý không còn cơ hội mở ra cho mình nữa.
Này
ông bạn, để tôi kể cho ông bạn nghe câu chuyện này. Có
một người lái buôn góa vợ kia đang sống với một đứa
con trai năm tuổi. Anh ta cưng chiều con, xem đứa nhỏ là lẽ
sống của đời mình. Một bữa nọ trong khi anh ta bỏ hàng
đi vắng, kẻ cướp đến đốt xóm đốt làng, cướp bóc
và bắt đứa con của anh đi theo. Khi về tới nơi, người
cha trẻ thấy thi hài một em bé cháy đen nằm bên căn nhà
đã cháy rụi của mình, anh ta tin ngay rằng con mình đã chết.
Anh ta khóc lóc, làm lễ hỏa thiêu thân xác đứa bé, vì thương
con quá, anh ta cất tro của đứa bé vào một cái túi gấm
và đi đâu cũng mang theo bên mình. Mấy tháng sau, đứa con
của anh ta thoát được tay ke cướp và tìm về được vào
lúc nửa đêm Nó gõ cửa đòi vào. Lúc ấy người cha trẻ
đang ôm chiếc túi gấm đựng tro và than khóc một mình. Anh
ta không chịu đứng dậy mở cửa. Anh ta tin rằng con anh đã
chết thật rồi, và đứa trẻ đang gõ cửa ngoài kia là một
đứa trẻ hàng xóm mất dạy nào đó đang cố tình trêu ghẹo
anh. Vì vậy mà đứa con thật của anh ta phải thất thểu
ra đi, và người cha khốn khổ kia vĩnh viễn mất đứa con
duy nhất.
Này
ông bạn, nếu ta cố chấp vào một chủ nghĩa và cho đó là
chân lý tuyệt đối, ta sẽ lâm vào tình trạng của người
cha trẻ kia. Ta sẽ không mở lòng ta ra được để đón nhận
chân lý. Ta sẽ có cảm tưởng rằng ta không cần đi tìm sự
thật nữa, vì ta đã có sự thật rồi. Lúc ấy nếu sự thật
có tới gõ cửa tìm ta, ta cũng sẽ từ chối không mở cửa.
Diganakha
hỏi:
- Vậy
giáo pháp của ngài dạy có phải là một chủ nghĩa không?
Cố chấp vào nó có phải là kiến thủ không?
- Giáo
pháp của tôi chỉ dạy không phải là một chủ nghĩa hay một
lý thuyết. Nó không hình thành do công phu suy tư và ức đạt
của trí năng, như những chủ thuyết chủ trương về bản
chất của vũ trụ, cho rằng bản chất ấy là lửa, nước,
là đất, là gió hay là thần linh hoặc cho rằng vũ trụ hữu
hạn hay vô hạn, hữu biên hay vô cùng v.v... Trí năng ức đạt
và suy tư về sự thật cũng như con kiến bò quanh miệng bình
bát không đưa ta đi đến đâu cả. Không, giáo pháp của tôi
dạy không phải là một chủ thuyết xây dựng trên trí năng.
Đó là kinh nghiệm thực chứng, những gì tôi nói ra tôi đều
đã thực chứng, và ông bạn cũng có thể kiểm điểm lại
bằng kinh nghiệm thực chứng của ông bạn. Tôi nói vạn vật
là vô thường và không có tư ngã. Điều này tôi đã chứng
nghiệm và các bạn cũng có thể chứng nghiệm. Tôi nói vạn
vật nương vào nhau mà sinh khởi, tồn tại, và hoại diệt,
chứ không phải xuất phát từ một nguyên nhân đầu tiên
nào hết. Điều này tôi cũng đã chứng nghiệm và các bạn
cũng có thể chứng nghiệm. Tôi nói quán chiếu về vô thường,
vô ngã và duyên sinh thì có thể đạt tới giải thoát và
an lạc. Điều này tôi cũng đã chứng nghiệm và các bạn
cũng có thể chứng nghiệm. Những điều tôi nói không có
mục đích thuyết minh về vũ trụ mà chỉ có mục đích hướng
dẫn sự thực tập và chứng nghiệm thực tại. Lời nói không
diễn tã được thực tại, chỉ có kinh nghiệm trực tiếp
mới làm cho ta tiếp xúc được với thực tại.
Diganakha
thốt lên:
- Hay
quá, hay quá, sa môn Gotama! Nhưng trong trường hợp mà có người
nhận thức giáo pháp của ngài như một chủ thuyết thì sao?
Bụt
im lặng gật đầu:
- Du
sĩ Diganakha, câu hỏi của ông bạn hay lắm. Giáo pháp của
tôi không phải là một chủ thuyết do trí năng tạo dựng,
nhưng sau này và ngay cả bây giờ nữa, đã có thể có những
người nhận giáo pháp ấy như một chủ thuyết. Tôi cần
nói rõ: giáo pháp của tôi là một phương tiện để đi vào
thực tại chứ không phải là để miêu tả thực tại, cũng
như ngón tay chỉ lên mặt trăng không phải là mặt trăng.
Người khôn khéo phải nương vào ngón tay để thấy được
mặt trăng. Nếu cố chấp vào ngón tay, nếu cho ngón tay là
mặt trăng thì sẽ không có cơ hội nào thấy được mặt
trăng cả. Giáo pháp của tôi là để thực tập chứ không
phải là để cất giữ mà thờ phụng và ca ngợi. Chiếc bè
là để giúp ta qua sông chứ không phải để ta vác lên trên
vai mà tự hào. Này các bạn, giáo pháp tôi dạy cũng như một
chiếc bè. Phải sử dụng nó để đi sang bên bờ bên kia,
bờ giải thoát.
- Xin
Bụt chỉ bày cho tôi con đường có thể vượt thoát được
những cảm thọ sầu khổ.
- Cảm
thọ có ba loại: cảm thọ dễ chịu, cảm thọ khó chịu và
cảm thọ không dễ chịu cũng như không khó chịu. Cả ba loại
cảm thọ đều có gốc rễ hoặc trong thân thể hoặc trong
tâm ý và nhận thức. Cảm thọ có sinh có diệt như bất cứ
hiện tượng tâm vật lý nào. Phương pháp tôi chỉ bày là
phương pháp quán chiếu. Quán chiếu để có thể thấy được
bản chất và nguồn gốc của các cảm thọ, dù là lạc thọ,
khổ thọ hay xả thọ. Thấy được nguồn gốc của các cảm
thọ rồi, ta sẽ thấy được bản chất của cảm thọ. Ta
sẽ thấy cảm thọ cũng có tánh vô thường và vô ngã như
tất cả các pháp khác. Sự sinh diệt của chúng dần dần
sẽ không động được tới ta. Hầu hết các cảm thọ khổ
đau của ta đều bắt nguồn từ nhận thức sai lầm của ta
về thực tại. Nhổ bật gốc rễ của những sai lầm ấy
lên thì khổ thọ không còn. Các vị nên biết: nhận thức
của con người đầy dẫy sai lầm. Vạn pháp vô thường mà
cho là thường, vạn pháp vô ngã mà cho là ngã. Đó là vô
minh. Vô minh là nguồn gốc của khổ đau. Tu tập đạo giải
thoát tức là diệt trừ vô minh của nhận thức. Điều này
quý vị chỉ có thể thực tập bằng phép quán chiếu chứ
không thể thực tập bằng cách cầu nguyện và tế tự.
Trong
khi Bụt nói, các đại đức Sariputta và Moggallana đều có
mặt. Họ đứng sau lưng người. Kaludayi cũng có mặt. Thầy
thị giả Nagasamala cũng có mặt. Channa cũng có mặt, nhưng
người thấu đạt sâu sắc những những lời Bụt nói là
đại đức Sariputta. Thầy thấy tâm trí thầy sáng lên như
có một mặt trời tỏa chiếu. Không ngăn được xúc cảm,
thầy chắp tay sụp lạy xuống trước mặt Bụt.
Moggallana
cũng cảm động không kém. Thấy bạn lạy xuống, thầy cũng
lạy xuống. Du sĩ Diganakha đã thấy thấm thía từ lúc Bụt
kể chuyện người cha trẻ mất con, bây giờ được hoàn toàn
chinh phục. Thấy hai bạn lạy xuống, ông cũng lạy xuống.
Ông xin Bụt được xuất gia theo học với người.
Kaludayi
và Channa được chứng kiến cảnh tượng này rất lấy làm
cảm động. Trong họ nảy sinh vừa niềm tin tưởng vừa sự
tự hào.
Mấy
hôm sau đó, hoàng hậu Vedehi cùng người của hoàng gia đưa
thực phẩm đến cúng dường đại chúng. Hoàng hậu lại đem
theo cả một cây bông sứ để trồng phía bên trái túp lều
của Bụt. Hoàng hậu nhớ mãi câu chuyện tiền thân về cây
bông sứ mà Bụt đã kể cho trẻ em trại sân rồng hơn một
tháng trước.
Dưới
sự hướng dẫn của Bụt, đại chúng tu học rất tinh tiến
và đạt được rất nhiều tiến bộ. Các đại đức Sariputta
và Moggallana đã trở nên những ngôi sao sáng nhờ sự thông
minh, công phu hành trì và tài lãnh đạo của họ. Cùng với
các vị đại đức khác như Kondanna và Kassapa, họ giúp Bụt
tổ chức và hướng dẫn tăng đoàn một cách rất hữu hiệu.
Uy tín của tăng đoàn càng ngày càng lên cao và vì vậy tại
thủ đô Rajagaha đã bắt đầu có một luồng dư luận nói
xấu Bụt. Nguồn dư luận này có thể đã phát xuất từ những
giáo phái có tư tưởng cạnh tranh. Các vị đệ tử tại gia
đến tu viện Trúc Lâm để cúng dường và học hỏi thỉnh
thoảng lại nói đến nguồn dư luận này. Người ta đồn
đãi rằng từ khi Bụt đến thành Vương Xá, người đã quyến
rũ hàng ngàn người thanh niên tuấn tú theo một đạo mới.
Họ nói không biết sau này bao nhiêu ngàn người con trai nữa
sẽ bỏ nhà bỏ cửa theo Bụt, và bao nhiêu người con gái
lớn lên sẽ không lập được gia đình và nối dõi được
tổ tông.
Một
số các vị khất sĩ không mấy hài lòng khi nghe những lời
buộc tội này. Rốt cuộc tiếng đồn tới được tai Bụt.
Bụt an ủi các vị khất sĩ và các vị đệ tử tại gia:
“Quý
vị đừng phiền muộn về những lời đồn đãi đó. Những
lời đồn đãi đó trước sau gì cũng sẽ im bặt”.
Mà
đúng như thế. Chỉ trong vòng nửa tháng sau, không ai còn nói
đến luồng dư luận kia nữa.
Chương
33
CÁI
ĐẸP KHÔNG TÀN HOẠI
Một
hôm nọ, khi mùa an cư chỉ còn nửa tháng nữa thì được
hoàn mãn, có một người thiếu phụ rất đẹp đến viếng
thăm Bụt. Người thiếu phụ này đi xe song mã. Hai con ngựa
đều trắng và xe cũng sơn màu trắng. Thiếu phụ bước xuống
xe cùng với một chàng con trai khoảng mưòi lăm hay mười sáu
tuổi. Thiếu phụ trang sức cực kỳ lộng lẫy và dáng đi
rất quý phái. Tại cổng tu viện bà gặp một vị khất sĩ
trẻ tuổi và hỏi thăm về Bụt. Vị khất sĩ này hương dẫn
bà và cậu thanh niên vào đến tận túp lều của Bụt. Bụt
không có đó. Người đang đi thiền hành. Vị khất sĩ mời
thiếu phụ và cậu con trai ngồi xuống trên hai chiếc ghế
tre đặt trước sân tịnh xá. Chiếc ghế thứ ba là để Bụt
ngồi.
Một
lát sau Bụt về tới, cùng với Kaludayi, Sariputta và thầy thị
giả. Thiếu phụ và cậu con trai cùng đứng dậy vái chào
người. Bụt mời hai mẹ con an tọa. Người cùng ngồi xuống
chiếc ghế đặt sẵn cho người. Người biết đây là ca nương
Ambapati và cậu con trai là Jivaka.
Kaludayi
chưa bao giờ thấy một người đàn bà đẹp như thế và duyên
dáng như thế. Thầy chỉ mới đi tu được có một tháng nên
thầy bỡ ngỡ, không biết nhìn ngắm một người đàn bà
đẹp như vậy thì có đúng phép không. Nghĩ như vậy, thầy
nhìn xuống đất. Thầy thị giả Nagsamala cũng có phản ứng
giống hệt như vậy. Cả hai thầy đều nhìn xuống đất.
Duy chỉ có Bụt và Sariputta là nhìn thẳng vào mặt thiếu
phụ mà thôi.
Sariputta
nhìn thiếu phụ rồi xoay sang nhìn Bụt. Thấy sắc diện của
Bụt không khác gì sắc diện của một mặt trăng rằm, tự
nhiên, hiền lành, trong sáng. Phút chốc, thầy cảm thấy cái
tự tại và an lạc của Bụt thấm vào lòng thầy.
Thiếu
phụ có tên là Ambapati cũng đang nhìn Bụt. Bà chưa thấy ai
nhìn bà như vậy bao giờ. Từ xưa tới nay mỗi khi có một
người đàn ông hay một thanh niên nhìn bà, bà đều thấy
trong ánh mắt người đó hoặc một thoáng bối rối, hoặc
một thoáng ao ước, hoặc một dự tính chiếm hữu. Bụt đang
nhìn bà như đang nhìn một đám mây, một dòng sông hay một
bông hoa. Hình như người thấy được tận trong chiều sâu
thẳm của tâm hồn bà.
Ambapali
chắp tay bạch Bụt:
- Con
là Ambapali, và đây là con trai của con, Jivaka, năm nay mười
lăm tuổi. Cháu nó đang học nghề y, con đã được nghe nói
về thầy và con rất ao ước cháu sẽ được có duyên tới
học hỏi cùng thầy.
Bụt
hỏi thăm Jivaka về chuyện học văn và đời sống của chàng,
Jivaka trả lời rất lễ phép. Đây là một chàng trai đôn
hậu, hiền lành và thông minh. Cùng cha khác mẹ với thái tử
Ajatasattu, nhưng chàng trông có đức độ hơn và cũng có vẻ
thông minh hơn. Sau một vài câu chuyện với Bụt, Jivaka bỗng
thấy trào dâng trong lòng một mối cảm tình sâu đậm đối
với ông thầy tu này. Chàng tự hẹn là sau khi học xong nghề
thuốc chàng sẽ xin ở gần bên Bụt.
Ambapali
đã tưởng rằng Bụt chỉ là một ông thầy tu nổi tiếng
như những ông thầy tu nổi tiếng khác mà bà đã gặp, nhưng
không, bà chưa từng gặp một người nào như Bụt. Bà chưa
từng thấy ai có cái nhân cách như nhân cách Bụt. Cái nhìn
của Bụt hiền dịu làm sao. Bà có cảm tưởng là bà không
cần than thở gì với Bụt mà Bụt vẫn thấy và hiểu được
những niềm khổ đau sâu kín trong tâm bà. Được nhìn Bụt
và được Bụt nhìn như thế, bà đã thấy vơi bớt rất nhiều
nỗi khổ. Một giọt nước mắt ứa ra trên khóe mi bà. Bà
nói:
- Lạy
thầy, đời con khổ lắm. Tuy rằng con không thiếu thốn gì
trên phương diện tiền của và vật chất nhưng con chưa bao
giờ có được một niềm tin. Hôm nay là ngày sung sướng nhất
của đời con.
Ambapali
là ca nhi, nhưng nàng không hát cho bất cứ ai muốn nghe nàng
hát. Những người mà nàng không ưa hoặc nàng nhận thấy
thiếu phong độ và tư cách thì dù có đem đến cả trăm vạn
đồng nàng cũng từ chối. Từ năm mười sáu tuổi, nàng đã
gặp một cuộc tình trắc trở. Sau đó, nàng đã gặp vua Bimbisara
khi vua còn là thái tử. Có những người trong triều đã không
muốn hoàng gia công nhận Jivaka là con của thái tử. Họ nói
Jivaka là con hoang mà thái tử bắt gặp ở trong một cái thúng
để ở bên vệ đường. Điều này cũng đã làm cho Ambapali
đau khổ. Nàng đã gánh chịu rất nhiều khổ đau vì ghen ghét
và vì thù hận. Nàng trân quý tự do như bảo vật duy nhất
còn lại trong đời, cho nên từ ấy đến nay không ai và chưa
ai trói buộc được nàng.
Bụt
dạy:
- Nhan
sắc cũng chịu luật sinh diệt và cũng sẽ tàn phai như bao
nhiêu hiện tượng khác. Của cải và sự giàu sang cũng vậy
Chỉ có niềm an lạc và cái tự do công phu quán chiếu đem
tới mới là niềm vui chân thật mà thôi. Này Ambapali, đã
đến lúc con phải tập đời sống tỉnh thức an lạc. Phải
trân quý từng giây phút còn lại của đời mình, đừng lãng
phí chúng trong sự vui chơi quên lãng. Điều này rất quan trọng
cho con và cho Jivaka.
Rồi
Bụt dạy cho Ambapali cách tổ chức lại đời sống hàng ngày,
cách hành trì năm giới, cách thở, cách ngồi, cách sử dụng
thì giờ, cách cúng dường và làm việc phúc thiện. Ambapali
sung sướng ngồi nghe những lời dạy quý báu của Bụt. Cuối
cùng trước khi từ giã Bụt, bà nói:
- Tại
ngoại ô thành Vesali, con có một vưòn xoài rất mát và rất
thanh tịnh. Con mong có ngày đi hoằng hóa ngang đó, Bụt và
chư vị khất sĩ sẽ ghé nơi ấy để nghỉ ngơi. Đây sẽ
là một vinh hạnh lớn cho con và cho Jivaka. Kính xin đức Từ
Bi hoan hỷ nhận lời cho con.
Bụt
mỉm cười nhận lời.
Ambapali
đi rồi, thầy Kaludayi xin phép được ngồi xuống bên Bụt.
Thầy thị giả cũng mời đại đức Sariputta ngồi xuống trên
chiếc ghé còn lại, còn thầy thì vòng tay đứng hầu sau lưng
Bụt. Một số các vị khất sĩ đang đi thiền hành gần đấy
thấy khung cảnh ấm cúng cũng ghé vào. Đại đức Sariputta
mỉm cười nhìn Kaludayi, rồi nhìn thầy thị giả Nagasamala.
Cuối cùng thầy hỏi Bụt:
- Lạy
đức Thế Tôn, người tu hành nên có thái độ nào đối với
nữ sắc? Cái đẹp, nhất là nữ sắc, có phải là một trở
ngại cho công phu tu tập không?
Bụt
mỉm cười. Người biết Sariputta hỏi câu hỏi này không phải
là để cho bản thân thầy mà là cho các thầy khác. Người
nói:
- Các
vị khất sĩ, tự tính của vạn pháp vượt ra ngoài ý niệm
đẹp và xấu. Đẹp và xấu là những ý niệm tạo ra do tri
giác và nhận thức dung thường.
Đứng
về tục để mà nói, ta thấy có đẹp và có xấu. Đẹp và
xấu tùy thuộc rất nhiều vào cơ cấu của năm uẩn. Đối
với con mắt của người nghệ sĩ, cái gì cũng có thể đẹp
và cái gì cũng có thể xấu, một dòng sông, một đám mây,
một chiếc lá, một bông hoa, một tia nắng sớm hay một buổi
chiều vàng đều có thể có cái đẹp riêng của nó. Những
bụi tre vàng xung quanh đây cũng có những vẻ đẹp riêng của
chúng, Nhưng chưa có cái đẹp nào có thể trói buộc và làm
tiêu ma chí khí của một kẻ nam nhi bằng nữ sắc. Tham đắm
vào nữ sắc rồi thì chí nguyện có lớn lao đến mấy và
sự nghiệp có lẫy lừng đến mấy cũng có thể bị tàn hại.
Vì vậy tôi muốn căn dặn quý vị hãy rất cẩn thận đối
với nữ sắc.
Đối
với những người đã quán chiếu và đạt đạo, cái đẹp
vẫn là cái đẹp, những vị đã đạt tới giải thoát và
tự do, họ không còn bị cái đẹp hay cái xấu khống chế
nữa. Không phải là họ dửng dưng không thấy cái đẹp; sự
thực là họ không bị nô lệ cho cái đẹp. Nhìn vào cái đẹp,
họ thấy được những cái không đẹp đã góp phần làm ra
cái đẹp. Nhìn vào cái xấu, họ thấy được những cái không
xấu đã góp phần làm ra cái xấu. Họ thấy được tính cách
vô thường của vạn pháp, đẹp cũng như xấu, vì vậy họ
không bị cái xấu làm cho chán nản cũng không bị cái đẹp
làm cho đam mê. Đối với những người tu hành chưa đủ công
phu quán chiếu, chưa có được bản lĩnh nhận thức, tôi muốn
khuyên họ đừng gần gũi nữ sắc. Những vị này phải để
hết thì giờ vào việc học hỏi và thiền tập.
Chỉ
có một cái đẹp không bao giờ tàn hoại và không gây khổ
đau: đó là lòng từ bi và tâm giải thoát. Từ bi là thứ
tình thương không có điều kiện và không cần sự đền trả.
Tâm giải thoát cũng là thứ tâm không thối chuyển, như con
gà con một khi ra khỏi vỏ trứng rồi thì không còn chun trở
lại nằm trong vỏ trứng nữa. Đã không còn lệ thuộc vào
điều kiện cho nên cái đẹp của lòng từ bi và tâm giải
thoát là cái đẹp chân thực, và niềm an lạc do cái đẹp
ấy cống hiến cũng do đó mà là thứ an lạc chân thực. Này
các vị khất sĩ, các vị hãy tinh tiến mà thực hiện cho
được cái đẹp ấy.
Kaludayi
và các vị khất sĩ có mặt đều rất sung sướng được
nghe lời Bụt dạy.
Mùa
an cư đã được hoàn mãn. Bụt cho gọi Kaludayi và Channa, và
đề nghị hai người về Kapilavatthu trước một tháng để
báo tin là Bụt sẽ về.
Kaludayi
lĩnh mệnh. Ngay ngày hôm đó thầy và Channa chuẩn bị cho chuyến
hồi hương, Kaludayi đã trở nên một kẻ xuất gia, có đủ
uy nghi của một vị khất sĩ rồi. Ông nghĩ thế nào khi về
tới quê nhà ông cũng sẽ làm cho mọi người ngạc nhiên.
Ông vui mừng vì được giao trách vụ về báo tin mừng, nhưng
ông cũng tiếc là thời gian được học hỏi với Bụt tại
Trúc Lâm còn ngắn ngủi quá.
Chương
34
MÙA
XUÂN ĐOÀN TỤ
Công
viện Nigrodha ở về phía Nam Kapilavatthu, cách kinh thành non
ba dặm đưòng, Bụt và các các vị khất sĩ tùy tùng nghĩ
tại đây, theo lời đề nghị của khất sĩ Kaludayi. Đi theo
Bụt về quê hương người có khoảng ba trăm vị khất sĩ
do đại đức Sariputta dẫn đầu. Đại đức Moggallana ở lại
tu viện Trúc Lâm và cùng các vị cao đức khác như Kondanna
với ba anh em khất sĩ Kassapa lãnh đạo và duy trì nếp sống
tu học của tu viện.
Kaludayi
sau khi đã về báo tin cho vua, hoàng hậu và Yasodhara ngày về
của Bụt, lại một mình ôm bát ra đi. Lần này thầy không
đi với Channa. Thầy đi một mình với tư cách một du tăng,
hướng về phương Nam để đón Bụt. Thầy áp dụng phép khất
thực của giáo đoàn khất sĩ, ngày đi đêm nghỉ. Chỉ dừng
lại các thôn lạc vào giờ khất thực mà thôi. Tới đâu
thầy cũng báo tin là thái tử Siddhatta đi tu hành thành đạo
sắp sửa trở về. Đi được chín hôm thì thầy gặp Bụt
và đoàn khất sĩ từ phương Nam đi lên. Mừng rỡ, thầy gia
nhập phái đoàn và cùng đi về hướng Băc. Bụt và giáo đoàn
khất sĩ được tiếp đón niềm nỡ bất cứ nơi nào ghé
đến.
Về
tới Kapilavatthu Bụt và các vị khất sĩ nghỉ một đêm tại
công viên Nigrodha. Sáng hôm sau người ôm bát cùng tăng đoàn
đi vào kinh thành khất thực.
Cảnh
tượng ba trăm vị khất sĩ khoác ca sa vàng, tay ôm bình bát,
lặng lẽ và trang nghiêm đi khất thực trong thành phố đã
gây một ấn tượng lớn trong lòng người thủ đô. Chẳng
mấy chốc mà tin này được báo vào hoàng cung. Vua Suddhodana,
hoàng hậu và phu nhân Yasodhara được báo rằng Siddhatta hiện
đang ở trong thành cùng đi xin ăn với hàng trăm vị khất
sĩ khác. Vua truyền đánh xe ngự ra để vua đi gặp thái tử.
Hoàng hậu Prajapati hồi hộp chờ trong cung. Hai mẹ con Rahula
cũng hồi hộp chờ trong cung. Xa giá vừa ra tới phố Đông
thì vua gặp được đoàn khất sĩ.
Siddhatta
có mặt trong đoàn khất sĩ ấy và vị võ quan hầu cận bên
vua nhận ra ngay thái tử.
- Tâu
bệ hạ, bệ hạ nhìn vị khất sĩ đi đầu, người mang chiếc
ca sa dài màu hỏa hoàng kia.
Vua
chợt nhận ra người con của mình, dáng điệu của Bụt uy
nghi, từ tốn, người Bụt như tỏa chiếu hào quang. Bụt đang
ôm bát đứng trước một ngôi nhà có vẻ nghèo nàn, người
đứng trang nghiêm và lặng lẽ, làm như việc xin ăn là việc
quan trọng nhất trong đời. Một lát sau, vua thấy một thiếu
phụ ăn mặc rách rưới từ trong nhà đi ra, trong tay chỉ có
một củ khoai nhỏ. Thiếu phụ quỳ xuống dưới chân Bụt
rồi kính cẩn đặt củ khoai ấy trong bình bát của người.
Bụt cũng kính cẩn không kém. Người nghiêng mình đáp lễ
thiếu phụ, rồi mới lặng lẽ giã từ, bước sang ngôi nhà
bên cạnh.
Xa
giá của vua còn cách Bụt khá xa, nhưng vua bảo ngừng xe để
vua xuống đi bộ. Ngài đi thẳng về phía Bụt. Bụt cũng vừa
thấy vua. Hai người tiến lại gần nhau, đáng đi của vua
hấp tấp, nhưng dáng đi của Bụt vẫn thong dong.
- Siddhatta!
Vua thốt lên.
- Phụ
vương! Bụt trả lời.
Đại
đức Nagasala lúc ấy cũng vừa đi tới bên Bụt. Bụt trao
chiếc bát của người cho thầy thị giả. Người nắm lấy
hai bàn tay của vua trong hai tay người. Mấy giọt nước mắt
ứa ra và chảy xuống trên gò má đã bắt đầu nhăn nheo của
vua. Bụt nhìn vua, hai mắt người bao phủ vua với một cái
nhìn vừa dịu dàng vừa đầm ấm.
Vua
biết rằng Siddhatta con mình bây giờ đây không còn là một
vị đông cung thái tử nữa mà đã là một nhà tu, một vị
lãnh đạo tinh thần. Vua muốn ôm Bụt vào lòng, nhưng biết
làm như vậy là không ổn. Cuối cùng vua chắp hai tay nghiêng
mình trước người con của mình, theo thể thức một vị quốc
vương làm lễ một vị đạo sĩ. Vị võ quan hầu cận cũng
bắt chước vua chắp tay nghiêng mình làm lễ Bụt.
Lúc
ấy đại đức Sariputta cũng đã đi tới gần bên Bụt. Bụt
nói với Sariputta:
- Tăng
đoàn khất thực xong, xin thầy hướng dẫn họ về công viên
Nigrodha để thọ thực và an nghỉ. Thầy Nagasamala sẽ đi theo
tôi. Chúng tôi vào thăm hoàng gia và sẽ thọ thực ở đấy.
Chiều nay thầy Nagasamala và tôi sẽ trở về cùng quý vị.
Khất
sĩ Sariputta kính cẩn nhận lệnh của Bụt. Thầy nghiêng mình
làm lễ vua và Bụt rồi quay gót.
Vua
nhìn Bụt:
- Ta
tưởng con về tới là đi về thăm gia đình ngay. Ai ngờ con
còn đi khất thực ngoài phố. Tại sao con không về thẳng
hoàng cung để ăn cơm?
Bụt
mỉm cười nhìn cha:
- Con
đâu có đi một mình. Con đi với cả giáo đoàn. Giáo đoàn
các vị bikkhu, nghĩa là những người khất sĩ. Con cũng là
một vị khất sĩ như mọi người và vì vậy con phải đi
ăn xin như mọi người.
- Nhưng
tại sao con phải xin ăn tại những nhà nghèo hèn như thế?
Dòng họ Sakya ta trong bao nhiêu đời có ai làm như con không?
- Thưa
phụ vương, dòng họ Sakya thì không ai làm như thế, nhưng
dòng họ khất sĩ thì ai cũng làm như thế. Thưa phụ vương,
đi khất thực là một phép tu nhằm thực hiện tinh thần khiêm
cung và bình đẳng. Khi con nhận một củ khoai của một gia
đình nghèo khổ, con cũng có thái độ cung kính như khi con
nhận một món ăn sang trọng do một vị đế vương cúng dường.
Thái độ cung kính này chứng tỏ rằng con đã có thể vượt
ra khỏi sự phân biệt sang hèn, và cũng chứng tỏ rằng bất
cứ ai dù nghèo hèn đến mấy cũng có nhân phẩm và cũng có
thể đạt tới giải thoát và giác ngộ. Trong xã hội có nhiều
sự chênh lệch về tài sản và quyền thế. Trong xã hội có
rất nhiều bất công. Trong đạo pháp mà con tìm ra, mọi người
đều được hoàn toàn bình đẳng. Đi ăn xin như thế này,
con không làm cho nhân cách của con thấp thỏi đi mà trái lại,
con làm cho giá trị của tất cả mọi con người được sáng
tỏ ra. Thưa phụ vương, con mong phụ vương nghĩ tới một
đường lối chính trị mà trong đó phẩm giá của mọi người
dân đều được tôn trọng.
Vua
Suddhodana há miệng nghe người con trai mình thuyết pháp. Những
lời đồn đãi lâu nay về Siddhatta thì ra đã là sự thật:
con mình bây giờ đã trở nên một vị lãnh đạo tinh thần,
và đạo đức của con mình đã bắt đầu chiếu sáng khắp
thế gian.
Cầm
tay vua, Bụt đua vua đi bộ về hoàng cung. Thầy Nagasamala cũng
đi theo sau vua và Bụt.
Trong
khi ấy đứng ở lan can trên một từng lầu nơi hoàng cung,
hoàng hậu Gotami, công nương Yasodhara và công chúa Sundari Nanda
đã nhìn thấy hết tất cả những gì xảy ra. Rahula cũng đang
đứng gần đấy với một người thị nữ. Người thị nữ
này trước đây khi còn dọn dẹp trên lầu đã trong thấy
tăng đoàn đang khất thực và đã chạy xuống báo với hoàng
hậu. Hoàng hậu dắt tay Sundari Nanda cùng Yasodhara lên lầu.
Từ trên cao, ba người nhận ra được Bụt đang dẫn đầu
đoàn người khất sĩ, rồi họ thấy xa giá của vua dừng
lại và chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa vua và người con
trai lớn của ngài. Họ đã thấy vua vái chào Bụt theo nghi
lễ cần có đối với một vị đạo sĩ lớn.
Bây
giờ vua và Bụt đang tiến gần tới cửa hoàng cung. Yasodhara
gọi Rahula lại. Một tay nắm tay con, một tay chỉ xuống Bụt,
bà bảo:
- Này
con yêu quý của mẹ, con có thấy ông thầy tu đang cầm tay
ông Nội và đi vào cửa hoàng cung đó không?
- Dạ
con có thấy, Rahula đáp.
- Ông
thầy tu ấy là cha của con đó. Con chạy xuống chào cha con
đi. Cha con có gia tài quý báu lám, cha con sẽ trao gia tài ấy
cho con. Con xuống xin gia tài của con đi.
Rahula
nghe lời mẹ, chạy xuống lầu. Trong khoảng khắc cậu đã
xuống tới sân điện chầu. Cậu chạy ra cửa hoàng cung, rồi
cậu chạy lại với Bụt.
Bụt
biết ngay cậu bé đang chạy tới là Rahula. Người mở rộng
hai tay ôm lấy cậu bé. Rahula vừa thở hổn hển vừa nói:
Ông
thầy tu ơi, mẹ bảo xuống xin gia tài của ông thầy tu. Gia
tài của con đâu, ông đưa cho con đi.
Bụt
vuốt má Rahula. Người nói:
- Gia
tài của con hả? Thong thả rồi cha sẽ trao lại cho con.
Bụt
nắm lấy tay cậu bé. Người đi ở giữa, tay trái cầm tay
Rahula, tay phải cầm tay vua cha, và ba người tiến vào cung.
Hoàng hậu Gotami, Yasodhara và Sundari Nanda cũng hướng về phía
cầu thang đi xuống.
Xuống
tới sân điện, ba người thấy vua, Bụt và Rahula đi rẽ vào
vườn Thượng Uyển. Ba người cũng đi theo lối ấy.
Trời
mùa Xuân nắng lên rất ấm áp. Ngoài vườn Thượng Uyển
tất cả các loại hoa đều đang nở rộ. Chim chóc ríu rít
vang lừng. Bụt đưa vua và Rahula tới ngồi trên những chiếc
cẩm đôn. Thầy Nagasamala cũng được Bụt mời ngồi xuống
trên một chiếc cẩm đôn. Lúc ấy hoàng hậu Gotami, Yasodhara
và Sundari Nanda bước vào vườn Ngự.
Bụt
đứng ngay dậy. Người đi tới phía ba người. Hoàng hậu
Gotami, dáng dấp vẫn còn trẻ trung và khỏe mạnh. Bà khoác
áo sari màu lá tre xanh mát. Gopa vẫn xinh đẹp như tự thuở
nào tuy nước da có hơi xanh. Chiếc sari nàng khoác trên người
màu trắng như tuyết. Nàng không đeo một thứ phục sức nào
cả, còn cô em gái Bụt năm nay mười sáu tuổi, đang vận
sari màu vàng, mắt đen lay láy. Cả hai vị phu nhân đều chắp
tay búp sen trước ngực và cúi đầu rất thấp để chào Bụt.
Họ đã thấy quốc vương làm như thế và họ cũng bắt chước
làm như thế. Bụt chắp tay lại thành búp sen để đáp lễ.
Người kêu lên hai tiếng:
- Mẹ!
Em!
Nghe
tiếng Bụt gọi. Bà Gotami và Yasodhara đều rơi nước mắt.
Bụt
cầm lấy tay hoàng hậu và đỡ bà ngồi xuống trên một cẩm
đôn. Người hỏi:
- Em
Nanda của con đâu?
Hoàng
hậu nói:
- Em
nó đi tập võ, chắc cũng sắp về tới. Đây là em gái của
con. Con thấy nó mau lớn không?
Bụt
nhìn đứa em gái sau gần tám năm xa cách.
- Sundari
Nanda, em chóng lớn quá!
Bụt
tiến tới cầm lấy tay Yasodhara, Gopa cảm động đến run rẩy
trong tay Bụt. Người đưa bà tới ngồi xuống trên một chiếc
cẩm đôn khác. Khi mọi người đã an tọa, Bụt mới ngồi
xuống trên chiếc cẩm đôn của người. Từ hồi nãy đến
giờ vua không ngớt hỏi thăm Bụt, nhưng bây giờ vua
ngồi im lặng. Mọi người đều ngồi im lặng, kể cả chú
Rahula. Bụt nhìn vua, nhìn hoàng hậu, nhìn Yasodhara, rồi nhìn
Sundari Nanda. Niềm vui đoàn tụ được biểu hiện trong mắt
của từng người. Cuối cùng, Bụt lên tiếng:
- Thưa
phụ vương, con đã về. Thưa mẹ, con đã về. Gopa, em thấy
không, ta đã về với em.
Lúc
ấy hai người phụ nữ mới òa lên khóc.
Những
giọt nước của họ là những giọt nước mắt sung sướng.
Bụt để yên cho họ khóc. Người gọi Rahula tới ngồi bên
cạnh người, và vuốt tóc chú bé.
Một
lát sau, lệnh bà Gotami lấy chéo áo sari lau khô nước mắt
rồi mỉm cười nói với Bụt:
- Con
đi lâu quá. Như vậy là đã hơn bảy năm trời. Con biết không,
Gopa là một người phụ nữ rất can đảm.
Bụt
nhìn bà Gotami rồi nhìn Yasodhara. Người nói:
- Điều
này con thấy từ lâu rồi. Mẹ và Yasodhara là hai người phụ
nữ can đảm nhất mà con đã biết. Không những mẹ và Gopa
đã gây dựng được ý chí cho người nam nhi, mẹ và Gopa còn
là mẫu mực của những người đàn bà đức hạnh nữa. Con
có duyên lành lắm mới có được mẹ và có được Gopa.
Yasodhara
bây giờ mới mỉm cười. Có mặt vua và hoàng hậu, bà ít
khi dám lên tiếng nói chuyện thân mật với Siddhatta.
Vua
nói:
- Hồi
nãy con có kể sơ lược cho ta nghe về những năm con đi tìm
thầy học đạo và tu khổ hạnh. Bây giờ con có thể nhắc
lại những điều đó được không, trước khi con kể tiếp?
Vâng
lời phụ vương. Bụt kể sơ lược về những năm học đạo
và hành đạo của mình. Người kể lại cuộc gặp gỡ giữa
người với vua nước Magadha, về ngày thành đạo, về những
đứa trẻ ở xóm nghèo Uruvela, về năm người bạn tu khổ
hạnh, và về cuôc tiếp đón vĩ đại của vua Bimbisara. Mọi
người lắng nghe Bụt với tất cả sự chăm chú. Cả Rahula
cũng phát ra một tiếng động.
Khi
Bụt kể đến đoạn vua Bimbisara cúng dường Rừng Trúc, một
cô thị nữ đi ra vườn Ngự và đến gần hoàng hậu Gotami,
cô cúi xuống thầm thì mấy câu bên tai hoàng hậu. Hoàng hậu
thầm thì mấy câu trả lời, rồi người thị nữ đi vào,
bà đã ra lệnh cho người thị nữ đặt bàn dọn cơm trưa
hoàng gia ra ngoài vườn Ngự.
Tiếng
của Bụt đầm ấm. Người kể khái quát những gì đã xảy
ra và không nói nhiều đến các chi tiết. Người cũng không
nói nhiều đến những gian truân khổ hạnh của người. Nhưng
người đã nhân câu chuyện mà gieo vào trong lòng những người
thân thuộc những hạt giống tốt lành của chánh pháp.
Khi
cơm nước đã được người hầu dọn ra đầy đủ ngoài
vườn thì hoàng thái tử Nanda cũng vừa đi du hành về tới.
Chàng mặc võ phục màu trắng.
Quân
gác ở cửa thành đã cho Nanda biết là Bụt đã về, vì vậy
Nada đã vội vàng chạy vào cung. Không thấy ai, chàng hỏi
người thị nữ. Thị nữ cho biết mọi người đang ở ngoài
vườn Ngự. Chàng ra vườn Ngự. Thấy Bụt, Nanda vội chạy
đến chào mừng, Bụt nắm tay em, người nói:
- Em
lớn mau lắm. Năm ta đi, em mới có mười lăm tuổi. Bây giờ
em đã hai mươi hai rồi phải không?
Nanda
gật dầu. Hoàng hậu nói:
- Con
phải chắp tay chào anh con theo cách chào một vị đạo sĩ.
Con làm cho quen đi.
Nanda
vâng lời chắp hai tay trước ngực cúi đầu xá Bụt. Bụt
cũng chắp tay lại đáp lễ em.
Mọi
người quây quần quanh bàn ăn. Bụt đưa thầy Nagasamala tới
ngồi gần bên mình. Người hầu đem nước tới để mọi
người rửa tay. Vua hỏi:
- Hồi
nãy hai thầy đã khất thực được những gì trong bát?
Bụt
nhìn vào bát mình rồi nhìn vào bát của thầy thị giả. Người
nói:
- Con
chỉ mới xin được có một củ khoai, còn thầy Nagasamala chưa
xin được gì hết.
Vua
Suddhodana đứng dậy:
- Vậy
để ta sẽ cúng dường hai thầy.
Vua
đứng dậy. Yasodhara cũng đứng dậy. Bà nói:
- Con
xin mang các thức ăn đến để phụ hoàng cúng dường vào
bát các thầy.
Bà
nâng chậu cơm trắng giữa bàn lên trên hai tay rồi tiến đến
bên cạnh thầy Nagasamala.
Sau
khi vua đã sớt cơm vào bát của thầy Nagasamala và của Bụt
rồi, bà mới đặt chậu cơm xuống và nâng vịm thức ăn
lên. Vịm thức ăn này toàn là thức ăn chay nấu với cari,
thức ăn bốc lên thơm ngát. Cúng dường xong, vua ngồi xuống,
Bụt và thầy Nagasamala nâng bát lên mặc niệm. Ngồi quanh
bàn, mọi người thấy thế cũng đều giữ im lặng. Mọi người
ăn cơn im lặng theo Bụt. Rahula ngồi trước bát thức ăn do
mẹ xới cho, cũng biết ăn cơm trong im lặng. Nắng càng
ấm và tiếng ca hát của loài chim càng vọng lên rộn rã hơn.
Cơm
nước xong, hoàng hậu thỉnh vua và Bụt rời bàn ăn trở về
ngồi trên những chiếc cẩm đôn. Người hầu cận dâng lên
mỗi người một trái quít. Ngoài Rahula, ai cũng cầm trái quít
trong tay mà không ăn, bởi vì ai cũng lắng tai nghe Bụt kể
chuyện. Phu nhân Gotami là người hỏi Bụt nhiều câu hỏi
nhất. Khi Bụt nói chuyện về túp lều của Bụt tại tu viện
Trúc Lâm, vua có ý định cất cho Bụt một tịnh thất như
vậy ở công viên Nigrodha và một số các tịnh xá nhỏ khác
cho các vị đại đức lớn tuổi trong giáo đoàn. Vua ngỏ
ý muốn Bụt ở lại vương quốc lâu ngày để giáo hóa. Hoàng
hậu Gotami, Yasodhara, Nanda và Sundari Nanda ai cũng tỏ vẻ vui
mừng khi nghe lời phát biểu của vua.
Bụt
nói đã đến lúc người cần trở về với tăng đoàn. Vua
hỏi Bụt:
- Ta
muốn Bụt và tăng đoàn tới thọ trai trong hoàng cung. Con nghĩ
điều ấy có tiện không? Ta cũng muốn làm như vua nước Magadha
mời các vương hầu và nhân sĩ đến để được nghe con giảng
bày về đạo lý.
Bụt
cho phụ vương biết là điều đó có thể làm được. Mọi
người thảo luận và đồng ý rằng trong bảy hôm nữa, hoàng
gia sẽ thỉnh Bụt và tăng đoàn đến để cúng dường. Yasodhara
cũng tỏ ý muốn mời Bụt và đại đức Kaludayi tới thọ
trai ở Đông Cung, Bụt cũng nhận lời, nhưng người cho biết
cần chờ đợi ít hôm sau ngày trai tăng của đại chúng.
Vua
truyền đem xe tứ mã đưa Bụt về công viên Nigrodha, nhưng
người từ chối. Người nói người đã lập hạnh chỉ đi
bộ mà thôi. Cả nhà đưa Bụt và thầy Nagasamala ra tận cổng
hoàng cung. Cả nhà kể cả ông hoàng bé Rahula đều theo gương
vua chắp tay trước ngực kính cẩn chào hai vị khất sĩ.
Chương
35
RA
NHÌN TIA NẮNG SỚM
Tin
thái tử Siddhatta đi tu đắc đạo đã trở về được truyền
đi rất mau trong thành Kapilavatthu. Tin này được xác định
bằng sự có mặt của giáo đoàn khất sĩ mỗi buổi sáng
ở thành phố và các vùng lân cận thủ đô. Nhiều người
đã được trông thấy cảnh tượng những đoàn khất sĩ lặng
lẽ và trang nghiêm đi khất thực trên các nẻo đường. Nhiều
nhà đã học được cách thức cúng dường thực phẩm cho
các vị khất sĩ theo nghi lễ. Nhiều gia đình đã được nghe
các vị khất sĩ thuyết pháp. Quốc vương Suddhodana cũng đã
ra lệnh dân chúng treo cờ kết hoa vào ngày rước Bụt và
giáo đoàn đến hoàng cung thọ trai. Vua cũng đã ra lệnh dựng
lên những am thất nhỏ rải rác trong công viên Nigrodha để
che nắng che mưa cho Bụt và các vị đệ tử lớn tuổi của
người. Ngoài những người có phận sự đến xây dựng am
thất, đã có một số các người tìm tới tận công viên
Nigrodha để thăm viếng và học hỏi với Bụt và các vị
khất sĩ. Nhiều người ở thủ đô quả quyết đã được
gặp thái tử Siddhatta trong hình thức tu sĩ trang nghiêm mang
bình bát đi khất thực. Trong suốt cả tuần lễ, dân Kapilavatthu
chỉ nói có một câu chuyện này khi dịp gặp gỡ nhau.
Hai
vị phu nhân Gotami và Yasodhara cũng rất muốn lên vườn Nigrodha
để thăm Bụt nhưng họ không có thì giờ. Cả hai người
đều phải lo điều động công việc tổ chức lễ trai tăng.
Vua đã cho mời hàng ngàn tân khách. Không những nhân vật
trong giới chính trị và văn hóa trong và ngoài hoàng gia được
mời mà tất cả các giới lãnh đạo tôn giáo và trí thức
cũng đã được mời. Theo lời Bụt dặn, tất cả các thực
phẩm cúng dường và thết đãi ngày hôm ấy sẽ đều là
những món chay tịnh.
Hoàng
tử Nanda đã lên thăm Bụt được hai lần vào hai buổi chiều.
Chàng đã được ngồi với Bụt khá lâu và được Bụt giảng
dạy cho những điều căn bản của đạo lý tỉnh thức. Nanda
rất thương kính Bụt và rất mến nếp sống tịnh lạc của
các vị khất sĩ. Chàng có hỏi thăm về đời sống hàng ngày
của các vị khất sĩ. Chàng lại hỏi Bụt xem thấy chàng
có đủ khả năng sống đời sống xuất gia không. Bụt chỉ
mỉm cười không trả lời. Nanda là một thanh niên có nhiều
tình cảm nhưng chưa được vững mạnh lắm về mặt ý chí.
Khi ngồi với Bụt thì có ý muốn đi xuất gia, khi về đến
cung điện và nghĩ tới mỹ nhân Kalyani, vị hôn thê của mình
thì chàng lại thấy chàng chưa đi xuất gia được. Chàng tự
hỏi không biết anh mình nghĩ gì về mình.
Ngày
trai tăng đã đến. Cả thủ đô treo cờ hết hoa để đón
Bụt và tăng đoàn. Hoàng thành cũng được treo cờ kết hoa
bốn phía. Cả thủ đô tưng bừng chuẩn bị đón rước người
hùng của cả nước. Nhiều nơi trong thành phố, thiên hạ
mở hội vũ nhạc. Trên con đường mà Bụt và tăng đoàn sẽ
đi qua, quần chúng tập họp rất đông dảo. Ai cũng muốn
thấy tận mặt Bụt. Trong hoàng cung, tân khách của quốc vương
đã tề tựu đầy đủ. Phu nhân Gotami và Yasodhara đích thân
điều khiển công cuộc tiếp đãi. Gopa đã nghe lời hoàng
hậu trang điểm và phục sức thật đúng mức trong ngày hội
lớn này.
Trong
lúc ấy Bụt cùng đoàn khất sĩ đang trầm lặng và nghiêm
chỉnh đi vào thành. Hai bên đường dân chúng đứng chen từng
hàng đông đảo. Nhiều người chắp tay cúi đầu khi Bụt
đi qua. Những em bé được công kênh lên để có thể thấy
được Bụt. Có cả những tiếng hò reo mừng Bụt trở về.
Trong không khí rộn rã tưng bừng ấy, đoàn khất sĩ vẫn
lặng lẽ và chậm rãi đi tới. Các vị khất sĩ để hết
tâm ý vào bước chân và hơi thở của họ.
Vua
Suddhodana ra đón Bụt tận ngoài cổng hoàng cung, cũng như vua
Bimbisara ở nước Magagha vậy, Bụt và các vị khất sĩ được
hướng dẫn vào chỗ ngồi đã bày sẵn ở giữa sân điện.
Thấy vua kính cẩn chắp tay làm lễ Bụt, tất cả các vương
hầu và quan khách đều phải bắt chước đứng lên làm lễ
người, dù trong số đó có người nghĩ rằng không có lý
do gì mà họ phải tôn trọng vị khất sĩ trẻ này một cách
quá đáng như vậy.
Sau
khi Bụt và các vị khất sĩ đã an tọa, vua ra hiệu cho các
người hầu mang thức ăn ra cúng dường. Chính tay vua
cúng dường thức ăn vào bát của Bụt. Các vị khất sĩ cũng
đều được cúng dường một lượt. Trong khi ấy hoàng hậu
và Yasodhara hướng dẫn những cung nhân thừa tiếp trên một
ngàn tân khách của vua, trong đó có nhiều đạo sĩ Bà la môn,
các du sĩ và cả những nhà tu khổ hạnh. Tất cả đều thọ
trai im lặng theo Bụt và tăng đoàn. Thức ăn thuần là chay
tịnh.
Sau
khi mọi người đã thọ trai và bát của Bụt và của chư
vị khất sĩ đã được rửa và trả lại cho từng người,
vua đứng dậy chắp tay và thỉnh Bụt thuyết pháp.
Bụt
ngồi im lặng một lát để quán chiếu tâm ý của đại chúng,
Sau đó người lên tiếng. Trước hết người nói cho mọi
người nghe sơ lược về kinh nghiệm học đạo, tìm đạo
và tu đạo của người. Những điều này, người biết, ai
trong đại chúng cũng muốn được nghe. Rồi Bụt khai thị
cho đại chúng về đạo lý vô thưòng, vô ngã, và duyên sinh
của vạn vật, nghĩa là về những khám phá căn bản trong
công trình thiền quán của người. Người nói đến con đường
quán chiếu và thực tập tỉnh thức như là con đường duy
nhất có thể đưa đến sự diệt khổ và thực hiện an lạc.
Người cũng cho biết là tế tự và cầu nguyện không phải
là những phương thức hữu hiệu để đạt tới giải thoát.
Rồi
Bụt giảng dạy về bốn sự thật căn bản: sự có mặt của
khổ đau, nguyên do của khổ đau, khả năng diệt khổ để
kiến tạo an lạc và giải thoát, và con đường thực hiện
diệt khổ và kiến tạo an lạc.
Bụt
khai thị thêm:
“Ngoài
những tai nạn như sinh, già, bệnh, chết, có người còn phải
gánh chịu biết bao nhiêu khổ đau khác do mình tự tạo ra
cho mình. Vì vô minh, nghĩa là vì nhận thức sai lầm, con người
nghĩ, nói và làm những điều có thể tạo ra cho bản thân
mình và cho những người xung quanh rất nhiều nỗi khổ. Những
đau khổ vì giận dữ, hờn oán, nghi kỵ, ganh ghét, bất mãn
... đều do ta thiếu sáng suốt mà sinh ra. Ta sống trong những
khổ đau ấy như sống trong một nhà đang bốc cháy. Phần
lớn những khổ đau mà ta chịu đều do ta tự tạo ra cho ta.
Ta không thể thoát ra được khổ đau bằng cách cầu cứu
một vị thần linh. Ta phải quán chiếu tâm ta và hoàn cảnh
ta để loại trừ những nhận thức sai lầm đã từng là nguồn
gốc phát sinh ra các khổ đau ấy. Ta phải tìm tới ngọn nguồn
của đau khổ thì ta mới thật sự hiểu được bản chất
của đau khổ. Một khi hiểu được bản chất của một niềm
đau khổ thì ta thoát được ra khỏi niềm đau khổ ấy.
Ví
dụ có một người kia tới chửi mắng ta. Ta có thể nổi
giận và chửi mắng trả lại người ấy. Trong trường hợp
này ta khổ mà người ấy cũng khổ. Theo đạo lý tỉnh thức
thì không nên vội nổi giận và chửi mắng người kia. Ta
phải bình tâm quán chiếu để thấy được vì sao người
kia lại tới chửi mắng ta, nghĩa là ta đi tìm tới cội nguồn
của sự giận dữ của người ấy. Do công phu quán chiếu
bình tĩnh đó mà ta có thể thấy được những nguyên nhân
sâu xa và chằng chịt nào đó đưa tới thái độ và hành
động hôm nay của người ấy. Nếu ta thật sự có lỗi thì
ta thấy sự chửi mắng đó là kết quả tất nhiên của lỗi
lầm ta. Nếu ta quả không có lỗi lầm gì thì chắc chắn
đã có một sự hiểu lầm nơi người ấy. Ta quán chiếu để
tìm ra và chứng minh được sự hiểu lầm ấy cho người kia
thấy. Làm như vậy, ta tránh được khổ đau cho ta và cũng
giải tỏa được khổ đau cho người kia.
Thưa
Đại Vương và các vị quan khách! Tất cả mọi khổ đau của
ta, ta đều có thể thoát ra khỏi bằng đường lối quán chiếu
ấy, nhưng muốn quán chiếu cho thành công ta phải biết theo
dõi hơi thở, biết thực tập sống theo tinh thần giới định
tuệ. Giới là những nguyên tắc sống cho an lạc. Có sống
theo các nguyên tắc này, ta mới thực hiện được định.
Định là nếp sống có tỉnh thức, có chú tâm. Có tỉnh thức
và chú tâm ta mới có khả năng quán chiếu về thực tánh
của tâm ta và của hoàn cảnh, và có quán chiếu ta mới có
Tuệ. Tuệ tức là sự hiểu biết.
Một
khi đã có hiểu biết, ta có thể thương yêu và tha thứ. Cuộc
đời sẽ bớt khổ rất nhiều khi ta có hiểu biết. Nếu không
hiểu biết, ta không thể thương yêu và tha thứ. Cho nên con
đường giải thoát chân thật là con đường thực hiện sự
hiểu biết. Hiểu biết là trí tuệ, là bát nhã.
Mà
trí tuệ chỉ có thể do quán chiếu đem lại. Con đường giới,
định và tuệ vì vậy là con đường duy nhất đưa tới giải
thoát”.
Bụt
lặng yên một lát rồi mỉm cười. Người nói tiếp:
“Nhưng
khổ đau chỉ là một mặt của sự sống. Sự sống còn có
một mặt khác: đó là sự có mặt của những mầu nhiệm
trong cuộc đời, và nếu con người được tiếp xúc với
những mầu nhiệm ấy, con người sẽ có niềm vui và sự an
lạc. Khi tâm ta được giải thoát, ta tiếp xúc ngay được
với những mầu nhiệm ấy. Nếu ta chứng nghiệm được sự
thật về vô thường, vô ngã và duyên sinh thì ta có thể thấy
được rằng tất cả đều là mầu nhiệm: từ tâm ý ta, thân
thể ta cho đến cành tre tím, bông cúc vàng, dòng sông trong,
mặt trăng sáng.
Chỉ
vì ta tự giam hãm ta trong thế giới khổ đau cho nên ta mới
không xúc tiếp được với thực tại mầu nhiệm. Phá được
vô minh rồi, ta sẽ thênh thang trong thế giới của an lạc,
của giải thoát, của niết bàn. Niết bàn là sự chấm dứt
của vô minh, tham đắm và giận hờn. Niết bàn cũng là sự
hiển lộ của niềm an lạc và giải thoát. Quý vị cứ thử
ra nhìn một dòng sông trong hay một tia nắng sớm. Qúy vị
sẽ thấy mình đã tiếp xúc được với thế giới của an
lạc và giải thoát chưa. Nếu bị giam h