Chương
26
NƯỚC
CŨNG ĐI LÊN NHƯ LỬA
Bảy
hôm sau Bụt về tới Uruvela. Người rất vui được trở về
rừng cây thanh tú với cội Bồ Đề. Bụt nghỉ lại một
buổi chiều và một đêm tại đó. Sáng hôm sau người gặp
chú bé Svastika ở bờ sông Neranjara. Svastika thấy Bụt rất
mừng. Hai thầy trò ngồi chơi thật lâu bên bờ sông, rồi
Bụt bảo Svastika đi cắt cỏ. Người cũng học cắt cỏ với
cậu bé. Một lát sau tạm biệt Svastika, Bụt khoác áo ngoài,
nâng bát vào xóm để hóa trai.
Chiều
hôm sau bọn trẻ rủ nhau đến thăm Bụt, Sujata và Svastika
đem theo các bạn rất đông. Các em của Svastika đều có mặt.
Bọn trẻ được gặp Bụt vui mừng khôn xiết. Bụt kể cho
chúng nghe sơ lược những gì đã xảy ra trong gần một năm
qua, và Bụt hứa là khi Svastika hai mươi tuổi, Bụt sẽ cho
cậu xuất gia để học đạo. Bụt nói vào tuổi ấy Svastika
đã có thể theo Bụt vì lúc ấy các em của Svastika sẽ đã
lớn cả rồi.
Bọn
trẻ cho Bụt biết là gần nửa năm nay có một đoàn đạo
sĩ Ba la môn khổ hạnh đến cư trú trong vùng. Họ đông lắm,
có tới gần năm trăm người. Họ không cạo đầu như các
vị sa môn, tóc họ kết và bới trên đầu. Ngưòi đứng đầu
tên Kassapa, rất được mọi người kính nể. Họ theo đạo
thờ cúng Thần Lửa.
Sáng
hôm sau, Bụt tìm tới trú sở của đạo sĩ Kassapa. Giáo đoàn
Bà la môn này cư trú ở bìa rừng phía bên kia sông. Họ sống
trong những túp lều dựng bằng cành cây và lá cây. Áo của
họ được làm bằng vỏ cây. Họ tiếp nhận các thức cúng
dường của dân chúng từ các làng mạc trong vùng, nhưng họ
không đi khất thực. Họ tự nấu nướng lấy. Họ cũng chăn
nuôi thú vật để ăn và cũng để cúng tế. Dừng chân bên
một túp lều. Bụt nói chuyện với các đạo sĩ Ba la môn.
Các vị này cho biết lãnh tụ của họ, tôn giả Kassapa, là
một người tinh thông ba bộ kinh Vệ Đà, sống một cuộc
đời đức hạnh và là người có tu có chứng. Tôn giả Kassapa
có hai người em trai, người nào cũng là tu sĩ Bà la môn cùng
tu trong một môn phái, tức là môn phái Bái Hỏa, thờ lửa
như là bản chất uyên nguyên của vũ trụ. Người em trai lớn
lớn tên là Nadi Kassapa lãnh đạo một giáo đoàn ba trăm vị
đệ tử, cư trú và hành đạo trên bờ sông Neranjara cách
Uruvela chừng một ngày đường về hướng Bắc. Người em
thứ hai tên Gaya Kassapa lãnh đạo một giáo đoàn gồm hai trăm
đệ tử, cư trú và hành đạo tại Gaya. Tôn giả Kassapa, vì
cư trú và hành đạo tại Uruvela nên được gọi là Uruvela
Kassapa. Ông rất được hai người em mình tôn kính. Những
buổi giảng đạo của ông được dân chúng địa phương đến
tham dự rất đông.
Các
đạo sĩ Bà la môn đưa Bụt đến yết kiến tôn giả Kassapa
tại tịnh xá của ông. Tôn giả Kassapa tuổi đã lớn nhưng
còn rất nhanh nhẹn và rắn rỏi. Thấy vị sa môn còn trẻ
mà đạo phong uy nghiêm, tôn giả đem lòng kính yêu ngay. Ông
tiếp Bụt như một người thượng khách. Kassapa mời Bụt
ngồi xuống trên một khúc cây cưa sẵn ngoài sân tịnh xá,
và ông ngồi xuống khúc cây đối diện. Hai người đàm đạo
hồi lâu.
Kassapa
rất đỗi ngạc nhiên khi thấy vị sa môn ngồi trước mặt
mình là một người lão thông ba bộ thánh thư Vệ Đà. Ông
hoảng hốt thấy rằng có những tư tưởng trong Vệ Đà mà
ông chưa nắm vững được. Vị sa môn này đã chỉ cho ông
thấy những chỗ uyên áo nhất của các bộ Atharvaveda và Rigveda,
những chỗ ông đã tưởng rằng ông hiểu mà thực ra ông
chưa hiểu. Lạ hơn nữa là khi nói tới các môn tự vựng
học, ngữ nguyên học, sử truyện, văn pháp học và mười
tám pháp tế tự của đạo Bà la môn, không có điều gì mà
vị sa môn này không thông.
Trưa
hôm ấy, Bụt nhận lời thọ trai với Uruvela Kassapa. Xếp áo
ngoài lại thành bốn để trải thành tọa cụ trên bờ cỏ,
Bụt ngồi đoạn nghiêm thọ trai trong im lặng. Kassapa thấy
đạo phong uy nghiêm của người thì rất cảm phục. Ngồi
bên vị khách sa môn, ông cũng giữ sự im lặng đoan trang để
thọ trai.
Chiều
hôm ấy, trong khi đàm đạo với Kassapa. Bụt hỏi:
- Này
hiền giả, hiền giả hãy nói cho tôi biết tại sao thờ Thần
Lửa lại có thể đem lại cho ta sự giải thoát?
Tôn
giả Uruvela Kassapa giữ im lặng một lát. Ông biết rằng đối
với vị sa môn có trí tuệ xuất chúng này, ông không thể
trả lời một cách khinh xuất và dung thường được. Ông
ta đã chinh phục được hàng trăm người theo môn phái ông,
nhưng ông biết chinh phục được vị sa môn này là một điều
rất khó.
Kassapa
bắt đầu nói về lửa như là bản chất uyên nguyên của
vũ trụ. Lửa có nguồn gốc từ Phạm Thiên, nghĩa là từ
Brhama, vì vậy trong các hỏa viện, nghĩa là trong điện thờ
chính của giáp phái Bái Hỏa, luôn luôn hình tượng của Phạm
Thiên được đặt vào vị trí trung ương. Kinh Atharvaveda có
nói về phép thờ Lửa. Lửa là sự sống. Nếu không có lửa
thì không có sự sống. Lửa là ánh sáng, là hơi ấm, là nguồn
năng lượng làm phát sinh ra cây cối, muông thú, và con người.
Lửa phá tan bóng tối, phá tan sự lạnh lẽo, đem tới nguồn
vui và sự sinh trưởng của vạn vật. Thức ăn nhờ lửa mà
được tịnh hỏa. Con người nhờ lửa mà trở về và hợp
nhất được với thiên chủ Brhama vậy. Thần Lửa Agni cũng
chỉ là một trong muôn ngàn biểu hiện như có hai cái đầu:
một đầu biểu trưng cho lửa của nhật dụng và một đầu
biểu trưng cho lửa của sự tế lễ và của sự trở về
nguyên thể. Có tới bốn mươi bốn phép tế lửa. Người
đạo sĩ phái Bái Hỏa phải giữ giới, phải khổ hạnh và
phải chuyên cần tu tập mới có đủ tư cách duy trì và làm
sáng tỏ con đường giải thoát.
Đạo
sĩ kịch liệt chống lại những tu sĩ Bà la môn thường lợi
dụng giai cấp và địa vị mình để sống giàu sang và đắm
mình trong dục lạc. Ông nói những vị Bà la môn đó đã xem
công việc và đọc kinh như một phương tiện giúp họ sống
giàu có và như vậy là làm đánh mất giá trị của truyền
thống đạo đức Bà la môn.
Bụt
hỏi:
- Tôn
giả Kassapa, ngài nghĩ thế nào về những người cho rằng
nước là bản chất uyên nguyên của sự sống, nước bắt
nguồn từ Phạm Thiên, và nước có công năng tịnh hóa con
người, giúp con người trở về hợp nhất với Phạm Thiên?
Kassapa
im lặng, Ông nghĩ tới hàng trăm vạn người, ngay trong giờ
khắc này, đang tắm mình trong nước sông Hằng và trong những
dòng sông được xem là linh thiêng khác, mong rửa sạch được
mọi tội lỗi và nghiệp chướng để sau này có thể trở
về với Phạm Thiên. Một lát sau, ông nói:
- Sa
môn Gotama, nước không thật sự giúp ta siêu thoát được.
Nước đi xuống, trong khi lửa lại bốc lên. Khi ta chết, thân
xác ta nhờ lửa mà bay lên thành khói ...
- Tôn
giả Kassapa, ngài nói như vậy e không đúng. Đám mây trắng
đang bay trên trời kia cũng là nước đấy, và nước cũng
có thể bay lên. Khói cũng chỉ là hơi nước. Cả hai thứ
mây và khói đều sẽ phải trở lại. Vạn vật, như ngài
đã biết, luôn luôn luân chuyển tuần hoàn.
- Nhưng
vạn vật có một nguyên ủy, và vạn vật có thể trở về
nguyên ủy ấy.
- Tôn
giả Kassapa, vạn vật nương nhau mà có mặt. Tôn giả hãy
nhìn chiếc lá trong tay tôi đây. Đất, nước, hơi nóng, hạt
mầm, thân cây, đám mây, mặt trời, thời gian, không gian ...
đều là những nhân duyên giúp cho chiếc lá này có mặt. Thiếu
một trong những nhân duyên ấy thì chiếc lá không thành. Tất
cả các loài đất đá, thảo mộc và cầm thú đều vâng theo
luật duyên sinh ấy. Nguyên ủy của một vật là vạn vật.
Tôn giả hãy quán sát kỹ xem. Có bao giờ một nhân mà đưa
tới được quả đâu. Nhân quả là trùng trùng. Ý niệm về
một nguyên nhân duy nhất và đầu tiên là một vọng tưởng
so sự thiếu quán chiếu mà ra. Này tôn giả, chiếc lá tôi
cầm trong tay đây là do tất cả các pháp trong vũ trụ họp
lại để tạo thành, trong đó có nhận thức của tôn giả.
Vị
đạo sĩ Bà la môn im lặng.
Trời
đã tối.
Đạo
sĩ ngỏ ý mời Bụt ngủ lại trong túp lều của ông. Đây
là lần thứ nhất vị lãnh đạo Kassapa mời một người khách
ngủ lại trong túp lều của mình, vị sa môn này đối với
ông quả thật là một người khách đặc biệt. Ông muốn
đem lòng tri kỷ của mình để tiếp đãi. Nhưng Bụt ngần
ngại. Từ lâu, người đã ưa nghỉ đêm một mình. Bụt ngỏ
ý muốn được nghỉ đêm trong hỏa viện. Vị đạo sĩ Bà
la môn nói:
- Mấy
hôm nay, có một con rắn lớn chui vào núp trong hỏa viện,
đuổi thế nào cũng không đi. Sa môn Gotama không nên nghỉ
đêm trong ấy, có thể là nguy hiểm. Chính vì con rắn kia mà
lâu nay chúng tôi phải lập tế đàn ngoài trời để hành
lễ. Xin ngài nghỉ đêm tại đây cho an toàn.
Bụt
nói:
- Tôn
giả an tâm. Tôi muốn được nghỉ đêm trong hỏa viện. Chắc
cũng không sao.
Bụt
nghĩ tới những tháng ngày ngồi tu ở các nơi núi rừng cao
thẳm. Có khi thú dữ đi ruồng cả đêm mà không động tới
người. Có khi đang ngồi tĩnh tọa người trông thấy những
con rắn thật lớn bò ngang qua trước mặt. Bụt biết là nếu
mình cẩn thận đừng làm cho các loài này hoảng sợ thì chúng
sẽ không động tới mình.
Thấy
Bụt đã nhất quyết, Kassapa nói:
- Sa
môn Gotama đã muốn nghỉ đêm tại hỏa viện thì xin cứ tự
tiện. Ngài muốn ở đó bao lâu cũng được.
Đêm
ấy, Bụt nghỉ trong hỏa viện. Trên bàn thờ trung ương, lửa
được nuôi bằng nhiều chiếc đèn, mỗi đèn có nhiều bấc.
Góc bên trái chất nhiều khúc cây lớn, có lẽ là những khúc
gỗ quí dùng để đốt lửa bên ngoài mỗi khi hành lễ. Bụt
nghĩ nếu có một rắn cư trú trong hỏa viện thì con rắn
ấy có thể ẩn nấp trong đống gỗ. Người chọn góc đối
diện, xếp áo ca sa ngoài thành bốn, trải xuống làm tọa
cụ và bắt đầu tĩnh tọa. Khi Bụt ngừng tĩnh tọa thì trời
đã khuya. Dưới ánh đèn mờ, Bụt thấy một con rắn thiệt
lớn nằm khoanh tròn giữa hỏa viện, trước mặt người.
Bụt lên tiếng nhỏ nhẹ như là để tự nói với mình.
- Rắn
ơi, con hãy đi ra ngoài rừng cho an ổn.
Giọng
nói của Bụt chứa đầy tình thương và sự hiểu biết. Con
rắn từ từ trườn đi, hướng về phía cửa, Bụt cũng ngã
lưng xuống tọa cụ.
Khi
Bụt thức giấc thì ánh trăng khuya chênh chếch chiếu vào
nơi người nằm. Trăng mươi tám thật sáng. Bụt muốn đi
ra ngoài rừng để thiền hành. Người ngồi dậy, cuốn áo,
rũ bụi rồi khoác áo lên người và đi ra khỏi hỏa viện.
Vào
lúc trời tang tảng sáng thì hỏa viện bốc cháy, không biết
vì lý do gì. Các vị đệ tử của đạo sư Kassapa thấy lửa
đều hoảng hốt la lớn. Mọi người chạy đi tìm bình xuống
sông múc nước để tưới, nhưng tất cả mọi cố gắng đều
vô hiệu. Nước thì ít, lửa thì nhiều. Cuối cùng hàng trăm
người đều đứng ngẩn ra nhìn. Hỏa viện của họ bốc
cháy dữ dội, không có cách gì cứu chữa nổi.
Đại
sĩ Uruvela Kassapa có mặt trong đám mấy trăm người ấy. Ông
thương tiếc vị sa môn đức hạnh và tài ba mà ông vừa mới
được làm quen từ sáng ngày hôm qua Nếu sa môn Gotama nhận
lời nghỉ đêm trong tịnh xá của mình thì bây giờ đâu đến
nổi này.
Giữa
lúc ấy thì Bụt xuất hiện. Đang đi thiền hành trên đồi
cao, người trông thấy lửa, và người đã trở về.
Thấy
Bụt, đạo sĩ Kassapa mừng quá chạy lại và nắm lấy tay
người.
- May
quá, may quá, sa môn Gotama vẫn an toàn, không sao cả. Tôi mừng
lắm.
Bụt
trao bình bát của mình cho một vị tu sĩ trẻ cầm giúp, rồi
đặt tay lên vai vị đạo sĩ Bà la môn:
- Cám
ơn tôn giả, tôi vẫn được an toàn.
Bụt
biết hôm nay là ngày đạo sĩ Uruvela Kassapa thuyết pháp. Nghe
nói trong số những người nghe pháp. Ngoài năm trăm vị đệ
tử tu sĩ, sẽ còn có gần một ngàn người từ các thôn xóm
kéo tới. Giờ thuyết pháp được định vào buổi trưa, ngay
sau giờ thọ trai. Biết ràng sự có mặt của mình trong buổi
thuyết pháp sẽ làm cho vị lãnh đạo mất bớt vẻ thoải
mái, sáng ấy Bụt mang bát đi vào thôn xóm để khất thực.
Khất
thực xong, người đi về phía hồ sen. Ngồi bên bờ sông,
người thọ trai và ở lại đó. Đến xế chiều thì đạo
sĩ Kassapa tìm tới, Kassapa đã đi tìm Bụt sau giờ thọ trai
và thuyết pháp. Vị đạo sĩ nói:
- Sa
môn Gotama, hôm nay vào giờ ăn trưa chúng tôi chờ mãi không
thấy ngài. Chúng tôi đã dọn sẵn cơm để cúng dường. tại
sao ngài không tới?
Bụt
nói với Kassapa là người muốn vắng mặt trong buổi thuyết
pháp.
- Tại
sao sa môn Gotama lại muốn không có mặt trong buổi tôi thuyết
pháp?
Bụt
mỉm cười rất nhẹ, và người không nói gì.
Vị
đạo sĩ Bà la môn cũng nín thinh. Ông thấy vị sa môn này
biết được sự suy tư của ông. Vị sa môn thật vừa thông
minh vừa tế nhị.
Hai
người ngồi bên bờ hồ để đàm đạo.
Đạo
sĩ Kassapa hỏi Bụt:
- Hôm
qua sa môn Gotama nói về sự có mặt của chiếc lá như là
sự tập họp của nhiều yếu tố nhân duyên. Ngài nói rằng
con người cũng do sự tập họp của nhân duyên mà có mặt.
Vậy khi các nhân duyên tan rã, con người đi về đâu?
Bụt
nói:
- Đã
từ lâu chúng ta bị kẹt vào ý niệm atma, nghĩa là ý niệm
về một cái ta thường tại bất biến. Chúng ta đã quen nghĩ
rằng khi thân xác ta tan rã, cái ngã ấy vẫn còn tồn tại
và có thể trở về với nguồn gốc của nó là Phạm Thiên
để mà cộng trú với ngài. Này tôn giả Kassapa, đó là một
sai lầm căn bản đã từng làm lạc lối biết bao nhiêu thế
hệ.
Tôn
giả Kassapa nên biết: vạn pháp từ nhân duyên mà sinh và cũng
do nhân duyên mà diệt. Cái này có mặt vì cái kia có mặt,
cái này vắng mặt vì cái kia vắng mặt, cái này sinh ra vì
cái kia sinh ra, cái này ẩn diệt khi cái kia ẩn diệt. Đó
là đạo lý duyên sinh mầu nhiệm mà tôi đã khám phá được
bằng thiền quán. Trong thực tại, không có một cái gì đồng
nhất và bất biến, không có ngã, dù là đại ngã hay tiểu
ngã. Này tôn giả Kassapa, ngài đã từng quán chiếu về thân
thể, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức chưa? Con
người có mặt là do sụ tập hợp và vận hành của năm uẩn
ấy. Đó là những dòng biến chuyển liên tục, trong đó không
có một yếu tố nào thường tại.
Đạo
sĩ Kassapa im lặng hồi lâu. Một lát sau, ông hỏi:
- Như
vậy người ta có thể nói sa môn Gotama chủ trương thuyết
hư vô không?
Bụt
mỉm cười lắc đầu:
- Không.
Ý niệm về hư vô cũng là một loại tà kiến trong rừng tà
kiến dày đặc. Ý niệm về hư vô cũng tai hại như ý niệm
về một bản ngã đồng nhất và bất biến. Tôn giả Kassapa,
ngày hãy nhìn mặt hồ Anotatta đây. Tôi không hề nói rằng
nước hồ và những lá sen, hoa sen và gương sen trong hồ là
hư vô. Tôi chỉ nói rằng nước hồ, cũng như lá sen, hoa sen
và
gương sen đều là những hiện tượng do nhân duyên phối hợp
và có mặt, và trong tư thể của chúng không hề có một thực
thể bất biến và thường tại.
Kassapa
ngừng lên nhìn vào mặt Bụt:
- Vậy
nếu không có ngã, không có atma, thì cần gì phải tu hành
để đạt tới giải thoát? Giải thoát cho ai, và ai là người
được giải thoát?
Bụt
nhìn vào mắt vị đạo sĩ Bà la môn. Cái nhìn của người
sáng chói như những tia sáng mặt trời nhưng cũng cũng êm
dịu như ánh trăng, và người nói, với một nụ cười:
- Tôn
giả Kassapa hãy thử tự tìm lấy câu trả lời. Hôm khác,
ta sẽ tiếp tục câu chuyện.
Hai
người trở về trú sở. Uruvela Kassapa nhường tịnh xá của
mình cho Bụt nghỉ đêm. Ông sang nghỉ đêm tại túp lều của
một người đệ tử lớn. Bụt nhận thấy vị đạo sĩ Bà
la môn này rất được các đệ tử quý mến, người nào cũng
vâng lời tôn giả Kassapa một cách cung kính.
Chương
27
VẠN
PHÁP ĐANG BỐC CHÁY
Tromng
những ngày kế tiếp, Bụt không đi khất thực bên ngoài vì
sáng hôm nào đạo sĩ Kassapa cũng cho đem thức ăn cúng dường
tại chỗ. Tuy vậy, trưa hôm nào sau khi thọ trai, người cũng
đi vào rừng hoặc ra bên hồ để tịnh cư một mình. Cứ
xế chiều, Kassapa lại đi tìm Bụt để đàm đạo, hoặc dưới
một gốc cây, hoặc bên bờ hồ, càng tiếp xúc với Bụt,
Kassapa càng thấy được tầm vóc vĩ đại của tuệ giác cũng
như của đức hạnh vị sa môn này.
Một
hôm nọ trời mưa tầm tã suốt đêm và buổi sáng hôm sau
nước sông Neranjara tràn bờ, làm ngập lụt bao nhiêu ruộng
vườn và nhà cửa trong vùng. Bao nhiêu thuyền bè địa phương
đều được đem ra sử dụng để đi cứu người. Khu rừng
nơi đạo sĩ Kassapa và năm trăm vị đệ tử đang hành đạo
vì ở chỗ thấp nên cũng bị ngập lụt. Tuy vậy mọi người
đều chạy kịp, không ai bị nước cuốn. Riêng vị sa môn
Gotama thì không ai thấy mặt. Đạo sĩ Kassapa dốc thúc nhiều
chiếc ghe đi tìm. Cuối cùng người ta tìm thấy Bụt đang
đứng trên một đỉnh đồi.
Nước
dâng rất mau và rút cũng rất mau. Ngày hôm sau Bụt ômg bát
đi khất thực trong xóm của những người cùng đinh. Người
có ý muốn tìm thăm những gia đình và những đứa trẻ trong
xóm. May mắn là không ai bị chết vì nạn lụt. Những người
nghèo cho biết họ không có tài sản gì nhiều để mà mất
mát.
Các
vị tu sĩ trong giáo đoàn của Kassapa đã khỏi sự dựng lại
hỏa viện bị cháy và các túp lều bị nước cuốn đi hoặc
làm cho xiêu vẹo.
Một
buổi chiều, Bụt cùng đạo sĩ Kassapa đứng bên bờ sông
Ni Liên Thuyền. Hai người tiếp tục cuộc đàm đạo. Đạo
sĩ Kassapa nói với Bụt:
- Hôm
trước, sa môn Gotama có nói về sự quán chiếu các dòng hiện
tượng sắc thân, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức.
Tôi đã thực tập và bắt đầu thấy rằng những cảm thọ
và những tri giác của mình nói lên được giá trị của đời
sống mình. Tôi cũng đã thấy được rằng không có một yếu
tố nào thường tại trong năm dòng hiện tượng đó cả. Sa
môn Gotama nói rằng nhận thức về xự có mặt của tự ngã
là một nhận thức sai lầm, điều này tôi thấy có thể là
đúng, nhưng tôi vẫn chưa hiểu được rằng nếu tự ngã
không có thì ta cần gì phải nhọc công tu tập? Giải thoát
cho ai, và ai là người được giải thoát?
Bụt
hỏi lại:
- Tôn
giả Kassapa, ngài có công nhận rằng khổ đau là một sự
thật không?
- Sa
môn Gotama, tôi công nhận khổ đau là một sự thật.
- Ngài
có công nhận rằng nỗi khổ đau nào cũng có nguyên do, cũng
như vạn hữu trong vũ trụ, vật nào cũng do nhân duyện kết
hợp mà thành?
- Tôi
công nhận là những nguyên do của khổ đau có thật.
- Tôn
giả Kassapa, khi những nguyên do của khổ đau có mặt thì khổ
đau có mặt; vậy khi những nguyên do của khổ đau vắng mặt
thì khổ đau có vắng mặt không?
- Tôi
công nhận là khi nguyên do khổ đau không còn thì khổ đau
cũng không còn.
- Này
tôn giả, nguyên do của khổ đau là vô minh, tức là nhận
thức sai lầm về thực tại. Đời vô thường mà ta tưởng
là thường, đó là vô minh. Thực tại không có tự ngã mà
ta tưởng là có tự ngã, đó là vô minh. Từ vô minh, phát
sinh ra tham vọng, giận hờn, sợ hãi, ganh ghét, và bao nhiêu
đau khổ khác. Con đường giải thoát là con đường quán chiếu
thực tại để thực chứng được tự tính vô thường, vô
ngã và duyên sinh của vạn hữu. Con đường ấy là con đường
diệt trừ vô minh. Vô minh diệt thì phiền não diệt và khổ
đau diệt. Đó là giải thoát. Cần gì phải có tự ngã mới
có giải thoát.
Uruvela
Kassapa im lặng. Một lát sau, ông hỏi:
- Sa
môn Gotama, tôi biết những điều ngài nói ta là những điều
ngài thực chứng chứ không phải chỉ là những suy tưởng
của trí năng ngài. Theo ngài, thì quả giải thoát chỉ có
thể do công phu quán chiếu đem lại. Vậy tất cả những lễ
nghi, thờ phụng và lời khấn nguyện đều là hoàn toàn vô
ích hay sao?
Bụt
chỉ tay sang bên kia sông. Đạo sĩ nhìn theo ngón tay người.
Bụt nói:
- Tôn
giả Kassapa, nếu có người đang đứng bên này sông mà muốn
qua bên kia sông thì người ấy phải làm gì?
- Người
ấy phải lội qua sông, nếu mực nước sông rất thấp. Trong
trường hợp nước đầy như hôm nay, người ấy phải dùng
thuyền bè để chèo qua bên kia sông. Nếu bơi giỏi, người
ấy cũng có thể bơi sang bên kia sông.
- Đúng
rồi, tôn giả Kassapa, nhưng giả dụ có người muốn qua sông
mà không muốn lội, không muốn bơi, cũng không muốn chèo,
trái lại chỉ đứng bên sông này mà cầu khẩn bờ bên kia,
hy vọng bờ bên kia sẽ qua tới bên này cho mình bước lên,
thì tôn giả nghĩ sao?
- Tôi
sẽ nói rằng đó là một người không thực tế.
- Cũng
như vậy thôi, tôn giả Kassapa! Nếu không tu tập quán chiếu
để diệt trừ vô minh, và các phiền não khác thì ta không
đạt tới bến bờ giải thoát được, dù ta có tế lễ khẩn
cầu suốt cả cuộc đời ta.
Đạo
sĩ Kassapa bỗng nhiên sụp lạy dưới chân Bụt. Ông khóc nức
nở. Ông nói:
- Sa
môn Gotama, con đã lầm lỡ hết hơn một nửa đời người.
Giờ đây xin thầy chấp nhận con là đệ tử của thầy để
con có cơ duyên học hỏi và tu tập con đường giải thoát.
Bụt
nâng Kassapa dậy. Người nói:
- Tôi
không ngần ngại gì mà không chấp nhận tôn giả, nhưng còn
gần năm trăm vị đệ tử của ngài thì ngài tính sao? Ai sẽ
dắt dìu họ?
Kassapa
bạch:
- Xin
sa môn Gotama, xin thầy cho con có dịp tiếp xúc với họ sáng
mai. Chiều mai con sẽ trình thầy quyết định của con.
Bụt
nói:
- Các
em bé trong làng Uruvela gọi tôi là Bụt.
Kassapa
ngạc nhiên:
- Thưa
thầy, chúng gọi thầy là Bụt? Nghĩa là người Tỉnh Thức?
Hay, hay lắm. Chúng con sẽ gọi thầy là Bụt cho thân mật.
vậy xin phép Bụt cho con về trước.
Sáng
hôm sau, Bụt lại đi khất thực trong làng Uruvela. Khất thực
xong, người đi đến bờ hồ để thọ trai và tĩnh cư cả
ngày ở đó. Chiều hôm ấy đạo sĩ Kassapa lại ra tìm Bụt
ở bờ hồ. Ông cho Bụt biết là tất cả gần năm trăm vị
đệ tử của ông đều đồng lòng theo ông xuất gia tu học
dưới sự hướng dẫn của Bụt.
Ngày
hôm sau, theo gương Uruvela Kassapa, tất cả mọi người đều
cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca sa. Họ liệng xuống sông Neranjara
tất cả những cái búi tóc của họ cùng với tất cả những
tượng thờ và dụng cụ tế lễ khác. Tất cả đều theo
gương Kassapa quỳ dưới chân Bụt. Họ đọc:
- Con
về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con
trong cuộc đời.
- Con
về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu
biết.
- Con
về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện
sống cuộc đời tỉnh thức.
Tiếng
phát nguyện của năm trăm vị khất sĩ mới vang động cả
khu rừng.
Lễ
xuất gia cho năm trăm người cử hành xong, Bụt thuyết giảng
cho năm trăm vị khất sĩ mới về bốn sự thật mầu nhiệm
và cách thức quán chiếu hơi thở, thân thể và tâm ý, rồi
Bụt dạy cho phép khất thực và tĩnh cư.
Ngay
sau đó, các vị khất sĩ được lệnh phóng thích vào rừng
tất cả những đàn thú vật mà họ đã chăn nuôi. Họ học
theo Bụt, cầm bát đi theo người vào các thôn xóm để thực
tập việc khất thực.
Chiều
hôm ấy, Bụt triệu tập Kassapa và mười vị đã từng là
đệ tử xuất sắc nhất của Kassapa lại. Người trao truyền
cho họ những giáo lý căn bản của đạo tỉnh thức, và sau
đó người còn chỉ bảo cho họ những nguyên tắc tổ chức
và hướng dẫn tăng đoàn. Khất sĩ Kassapa tỏ ra là một lãnh
tụ đồ chúng có tài. Bụt rất vui khi nhận thấy điều này.
Người giao phó cho Kassapa việc phân phối và huấn luyện các
vị khất sĩ trẻ tuổi, theo kinh nghiệm đã thu lượm được
tại trung tâm tu học Vườn Nai ở Isipatana.
Ngày
hôm sau, đạo sĩ Nadi Kassapa, người em trai thứ nhất của
khất sĩ Uruvela Kassapa cùng một số các vị đệ tử tìm tới.
Nadi Kassapa là lãnh tụ của ba trăm vị đệ tử tu theo đạo
thờ Thần Lửa. Đạo tràng của họ về phía Bắc, cũng trên
bờ sông Neranjara. Họ có vẻ hốt hoảng. Mới hôm qua đây,
họ thấy trôi lều bều trên dòng sông hàng trăm cái búi tóc
và rất nhiều dụng cụ thờ tự, và nghĩ rằng một tai nạn
nào đó đã xảy ra cho trung tâm tu học Uruvela do đạo
sĩ Uruvela Kassapa lãnh đạo. Họ tới vào giờ chư vị khất
sĩ đi khất thực nên không gặp ai và vì vậy tỏ vẻ lo lắng,
nhưng từ từ họ thấy các vị khất sĩ khất thực trở về.
Hỏi thăm, họ mới biết là Uruvela Kassapa cùng năm trăm vị
đệ tử đã xuất gia theo học với một vị sa môn tên là
Gotama thuộc dòng Sakya. Một lát sau nữa thì Bụt và Uruvela
Kassapa về tới. Thấy em, khất sĩ Kassapa rất vui mừng. Ông
giới thiệu Nadi Kassapa với Bụt. rồi hai anh em đưa nhau ra
rừng nói chuyện rất lâu. Cuối cùng, Nadi được anh thuyết
phục và bằng lòng trở về đem ba trăm vị đệ tử đến
quy y. Họ cũng đồng ý cho người đi mời người em út là
Gaya Kassapa tới để thông báo những gì đã xảy ra và nếu
bằng lòng, Gaya Kassapa cũng sẽ đem hai trăm vị đệ tử tới
để cùng quy y và tu học dưới sự chỉ dẫn của Bụt.
Ba
anh em đã từng nổi tiếng là rất thương mến nhau. Hơn nữa
họ là những người cùng một lý tưởng. Vì vậy chỉ trong
một thời gian bảy hôm, tất cả ba người cùng chín trăm
vị đệ tử đều đã cắt tóc, mặc áo ca sa và trở nên
những vị khất sĩ nghiêm chỉnh tu học theo quy chế của giáo
đoàn do Bụt lãnh đạo.
Một
hôm, sau giờ khất thực tất cả mọi người được lệnh
đi về tụ họp trên đỉnh núi Tượng Đầu ở Gayasisa, cách
đó không xa. Chín trăm vị khất sĩ ngồi thọ trai im lặng
và trang nghiêm cùng với Bụt và ba anh em Kassapa. Buổi thọ
trai chấm dứt, mọi người vây quanh Bụt. Nghiêm trang ngồi
trên một tảng đá, Bụt cất tiếng dạy chín trăm vị khất
sĩ:
- “Này
các vị khất sĩ, tất cả vạn pháp đều đang bốc cháy.
Cái gì đang cháy. Sáu loại giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân và ý đang bốc cháy. Sáu loại đối tượng của giác
quan là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp đang bốc cháy.
Sáu loại nhận thức là cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái
nếm, cái xúc chạm và cái suy tư cũng đang bốc cháy. Bốc
cháy bằng thứ lửa nào. Bốc cháy bằng lửa tham dục, lửa
hận thù, lửa ảo vọng. Tất cả đang bốc cháy theo với
những cái khổ của sinh, già, bệnh chết, với đau thưong,
phiền muộn, lo lắng, sợ hãi, và thất vọng.
Này
các vị khất sĩ, mọi cảm thọ cũng đang bốc cháy, dù đó
là khổ thọ, lạc thọ, hay xả thọ. Cảm thọ phát sinh từ
những điều kiện giác quan, đối tượng và sự xúc chạm.
Cảm thọ cũng đang bốc cháy vì ngọn lửa tham dục, hận
thù, và ảo vọng. Cảm thọ cũng đang bốc cháy theo với những
cái khổ của sinh, già, bệnh, chết, với đau thương phiền
muộn, lo lắng, sợ hãi và thất vọng.
Này
các vị khất sĩ, các vị đừng để tự bốc cháy theo ngọn
lửa của tham dục, của hận thù và của ảo vọng. Các vị
phải thấy được tính cách vô thường và duyên sinh của
mọi pháp để đừng làm nô lệ cho dòng sinh diệt của giác
quan, đối tượng và cảm thọ”.
Gần
một ngàn vị khất sĩ ngồi nghe đều cảm thấy tâm thần
rúng động khi nói về lửa. Họ rất hoan hỷ khi thấy mình
đã tìm ra được con đường tu học mà công phu quán chiếu
là động lực duy nhất đưa đến giải thoát. Niềm tin phát
sinh trong tâm tư của mọi người.
Trong
ba tháng liên tiếp, Bụt cư trú tại Gaya để giáo huấn các
vị khất sĩ. Giáo đoàn đạt tới nhiều kết quả lớn trên
đường tu học. Ba anh em Kassapa đã trở thành những vị phụ
tá rất đắc lực cho Bụt trong việc hướng dẫn và giáo
huấn tăng đoàn.
Chương
28
RỪNG
KÈ
Một
buổi sáng nọ, Bụt từ giã Gayasisa để về Rajagaha. Khất
sĩ Uruvela Kassapa đề nghị xin Bụt cho cả giáo đoàn đi theo.
Bụt ngần ngại, nhưng Kassapa trình bày với Bụt là sẽ không
có trở ngại gì cho việc chín trăm khất sĩ về tới kinh
đô nước Magadha. Ông nói gần thủ đô Rajagaha có nhiều khu
rừng trong đó các vị khất sĩ có thể cư trú, họ sẽ đi
khất thực ở những miền ngoại ô thành phố và ngay cả
trong thủ đô nữa để có dịp giáo hóa dân chúng miền này.
Kassapa cũng thưa với Bụt là số lượng chín trăm vị khất
sĩ là quá lớn đối với dân chúng miền Gaya. Về thủ đô,
việc khất thực và giáo hóa sẽ dễ dàng hơn.
Khất
sĩ Uruvela Kassapa có kiến thức khá tường tận về tình hình
xã hội trong nước Magadha. Sau khi nghe vị khất sĩ này trình
bày, Bụt bằng lòng cho chín trăm vị khất sĩ đi theo người
về thành Vương Xá.
Ba
anh em khất sĩ Kassapa đã tổ chức tăng đoàn rất nghiêm minh.
Đại chúng của tăng đoàn được phân làm thành các chúng,
mỗi chúng hai mươi lăm vị, mỗi chúng có một vị trưởng
chúng trưởng lãnh đạo. Vị chúng trưởng này có trách nhiệm
về sự tu học và sự sinh hoạt của hai mươi bốn người
trong chúng. Đạo phong của các vị khất sĩ vì vậy càng ngày
cáng sáng rỡ và uy nghi. Từ Gaya, tăng đoàn phải đi tới
mười hôm mới về tới thủ đô Rajagaha. Mỗi buổi sáng,
các vị khất sĩ đều phải ghé vào các tụ lạc để khất
thực. Khất thực xong, họ quy tụ trong một khu rừng hoặc
một bãi cỏ để thọ trai trong im lặng. Thọ trai xong, họ
lại lên đường. Họ đi thành từng chúng, và có cả thảy
ba mươi sáu chúng như vậy. Hình dáng của các vị khất sĩ
khoác áo ca sa đi trầm lặng trên đường đã gây một ấn
tượng rất sâu đậm và đẹp đẽ trong lòng dân chúng.
Tới
Rajagaha, khất sĩ Uruvela Kassapa hướng dẫn Bụt và tăng đoàn
về tạm cư ờ Rừng Kè Mới Trồng, trong đó có đền Supatthita
cách thủ đô hai dặm về phía Nam. Sáng ngày hôm sau, giáo
đoàn được phép ôm bát đi vào thành khất thực. Các vị
khất sĩ đi thành từng chúng hai mươi lăm người. Họ đi
thành hàng, bước từng bước khoan thai và có ý thức, tay
ôm bát, mắt nhìn thẳng về phía trước, dáng điệu uy nghi
và lặng lẽ. Theo lời Bụt dạy, họ dừng lại trước mỗi
căn nhà, không phân biệt giàu nghèo. Khoảng năm phút sau, nếu
không được cúng dường, họ tiến tới trước cổng nhà
bên cạnh. Trong khi đứng im lặng chờ đợi được cúng dường,
họ theo dõi hơi thở và thực tập phép quán niệm mà Bụt
đã dạy. Khi được cúng dường, họ chỉ lặng lẽ nghiêng
mình cám ơn mà không nói lời khen chê nào về thực phẩm
được cúng dường. Nguời cúng dường sau khi sớt thức ăn
vào bát vị khất sĩ, có thể đặt một vài câu hỏi. Các
vị khất sĩ đã được lệnh ân cần trả lời về những
câu hỏi đó. Đại ý, các vị cho biết là mình tu học trong
giáo đoàn Tỉnh Thức, dưới sự hướng dẫn của một vị
sa môn tên là Gotama Sakya, thường được gọi là Bụt, và
họ giảng cho vị thí chủ nghe về bốn sự thật, về năm
giới hoặc về con đường tám nhánh.
Tất
cả các vị khất sĩ đều đã được lệnh trở về trú sở
trước giờ ngọ để ăn trưa và nghe pháp thoại. Buổi chiều
và buổi tối chỉ là để học hỏi và thiền tập. Vì vậy
từ giữa trưa cho đến rạng sáng ngày hôm sau, không ai còn
thấy bóng dáng một vị khất sĩ áo vàng nào nữa trong thành
phố.
Chỉ
trong vòng nửa tháng, phần lớn dân chúng thủ đô đã biết
tới sự có mặt của giáo đoàn khất sĩ do Bụt lãnh đạo.
Vào những buổi chiều khi trời dã mát, có nhiều vị thí
chủ tìm tới Rừng Kè để được gặp Bụt và tăng đoàn
để học hỏi về đạo lý tỉnh thức. Bụt chưa kịp đi
thăm người bạn năm trước là vua Seniya Bimbisara thì vua đã
được nghe báo cáo về Bụt và về giáo đoàn khất sĩ đông
đảo của người. Vua được biết người lãnh đạo giáo
đoàn này là vị sa môn trẻ mà mình đã gặp trước đây
trên một ngọn đồi gần kinh đô. Một buổi chiều, vua cùng
với hoàng hậu và thái tử Ajatasattu ngồi xe tứ mã tìm về
Rừng Kè để thăm Bụt. Đi theo xa giá của vua có nhiều chiếc
xe khác. Vua đã mời đi theo mình một trăm hai mươi vị nhân
sĩ trí thức và lãnh đạo cao cấp trong giới Bà la môn. Đến
cửa rừng, vua xuống xe đi bộ vào, hoàng hậu cầm tay thái
tử Ajatasattu theo sau. Một trăm hai mươi vị tân khách Bà la
môn cũng làm như thế.
Nghe
tin vua đến, Bụt cùng Uruvela Kassapa đi ra đón tiếp và đưa
tất cả mọi người vào. Tất cả chín trăm vị khất sĩ
đều có mặt, ngồi vây thành những vòng tròn lớn, Bụt mời
vua, hoàng hậu, thái tử và các vị tân khách an tọa. Vua Bimbisara
bắt đầu giới thiệu các vị nhân sĩ Bà la môn với Bụt.
Vua không nhớ hết danh tánh từng người; vì vậy mỗi khi
quên vua lại yêu cầu người bị quên tên tự giới thiệu
mình. Trong số những vị tân khách này có nhiều người lão
thông kinh điển và giáo lý Vệ Đà. Họ thuộc về đủ khuynh
hướng đạo học và tôn giáo.
Phần
lớn các vị nhân sĩ này đã từng nghe danh đạo sĩ Uruvela
Kassapa, và một số đã được gặp ông, nhưng ngoài quốc
vương Bimbisara chưa ai được gặp Bụt lần nào. Thấy thái
độ cung kính của Kassapa đối với Bụt nhiều người tỏ
vẻ ngạc nhiên. So với Uruvela Kassapa, sa môn Gotama Sakya nhỏ
tuổi hơn nhiều. Họ thầm thì với nhau, không biết sa môn
Gotama là đệ tử của Kassapa hay Kassapa là đệ tử của sa
môn Gotama. Biết được tâm ý họ, khất sĩ Uruvela Kassapa rời
chỗ ngồi, đứng dậy đi tới trước mặt Bụt. Ông chắp
tay lại thành hình sen búp, chậm rãi và rõ ràng, ông nói:
- Sa
môn Gotama, bậc giác ngộ, bậc tôn quý nhất trên đời; con
là Uruvela Kassapa, đệ tử của thầy, xin cung kính làm lễ
thầy.
Nói
xong, ông sụp xuống lạy Bụt ba lạy, rất kính cẩn.
Bụt
nâng Kassapa dậy và bảo ông ngồi xuống bên tay trái của
người. Bây giờ đây một trăm hai mươi vị tân khách Bà
la môn mới hoàn toàn giữ im lặng. Sự im lặng còn lớn lao
hơn khi nhìn thấy chín trăm vị khất sĩ áo vàng đang lặng
lẽ ngồi vây quanh, trong dáng điệu trang nghiêm và hùng vĩ.
Bụt
lên tiếng giảng cho mọi người nghe về đạo Tỉnh Thức.
Người nói về tự tính vô thường duyên sinh của mạng sống
và của vạn vật. Người chỉ dạy con đường diệt trừ
lầm lạc và khổ đau, con đường của sự sống tỉnh thức,
con đường của sự thực hành giới luật, định tâm và quán
chiếu. Giọng Bụt vọng lớn như tiếng chuông đồng, ấm
như nắng mùa Xuân và trầm hùng như tiếng hải triều. Tiếng
nói của Bụt như mưa Xuân thấm nhuần trên cây cỏ. Hơn một
ngàn người lắng tai nghe Bụt, và không ai dám thở mạnh,
sợ âm thanh của hơi thở xem vào làm vẫn đục pháp âm của
người.
Hai
mắt vua Bimbisara càng ngày càng sáng. Càng nghe, vua càng thấy
tâm tư mình mở rộng. Bao nhiêu nghi vấn lâu nay trong lòng
vua dần dần được cởi mở. Cuối cùng vua nở một nụ cười
sung sướng và rạng rỡ.
Bụt
chấm dứt pháp thoại. Vua Bimbisara đứng dậy hai tay cung kính
chắp trước ngực, vua nói:
- Thưa
Thế Tôn, hồi còn nhỏ, trẫm có năm điều ước nguyện,
giờ đây tất cả năm điều ước nguyện ấy đã được
thành tựu. Ước nguyện thứ nhất là được làm lễ quán
đảnh và lên ngôi vua. Ước nguyện ấy đã thành. Ước nguyện
thứ hai là làm thế nào trong đời được gặp một bậc đạo
sư giác ngộ. Ước nguyện ấy cũng đã thành. Ước nguyện
thứ ba là có duyên kính ngưỡng bậc giác ngộ ấy. Ước
nguyện ấy cũng đã được thành. Ước nguyện thứ tư là
được bậc giác ngộ ấy dạy cho con đường chánh pháp. Ước
nguyện ấy cũng đã thành. Ước nguyện thứ năm là có thể
hiểu được giáo pháp của bậc giác ngộ ấy. Thưa Thế Tôn,
ước nguyện này vừa được thành tựu. Trẫm đã bắt đầu
hiểu được giáo lý mầu nhiệm của ngài. Thế Tôn, ngài
đã làm sáng tỏ giáo lý ấy bằng nhiều cách giảng dạy
khác nhau. Thế Tôn, hôm nay xin ngài nhận cho trẫm làm đệ
tử tại gia của ngài.
Bụt
mỉm cười im lặng chấp thuận.
Vua
lại tỏ ý thỉnh cầu Bụt và tất cả chín trăm vị khất
sĩ ngày trăng tròn sắp tới đến thọ trai ở cung điện.
Bụt cũng hoan hỷ nhận lời.
Một
trăm hai mươi vị nhân sĩ tân khách cũng đều đứng dậy
cám ơn Bụt. Có khoảng một phần mười trong số những tân
khách này tỏ ý muốn được trở thành đệ tử của Bụt.
Cùng
với Uruvela Kassapa, Bụt đưa vua, hoàng hậu, thái tử Ajatasattu
và các vị tân khách ra đến cửa rừng, Bụt biết rằng chỉ
còn chưa đầy một tháng nữa thì mùa mưa sẽ tới, và người
không thể trở về quê hương kịp trước mùa mưa. Người
quyết định cùng chín trăm vị khất sĩ an cư ba tháng tại
Rừng Kè. Người biết rằng sau ba tháng an cư tu học, tăng
đoàn sẽ khá vững vàng để có thể tự trị và người sẽ
thong thả ra đi vào đầu mùa Nắng khi bầu trời đã trong
xanh và cây cối đã xanh tươi.
Vua
Seniya Bimbisara có chủ ý tổ chức một cuộc đón rước Bụt
và tăng đoàn thật long trọng. Vua dự tính làm lễ trai tăng
cúng dường ngay trước sân điện chầu, một cái sân gạch
rộng có thể có chỗ ngồi cho một vạn người. Vua cho thông
báo với thần dân biết ngày thỉnh Bụt và khuyên dân chúng
treo đèn kết hoa trên những con đường mà Bụt và tăng đoàn
sẽ đi ngang qua để tới vương cung. Vua cho mời rất nhiều
nhân sĩ đến nghe Bụt thuyết pháp. Tất cả các quan chức
trong triều cũng đều được mời đến dự. Vua cũng
cho mời cả những em trai vào trạc tuổi của hoàng thái tử
Ajatasattu. Thái tử năm nay lên mười hai tuổi. Biết Bụt và
tăng đoàn không chấp nhận việc sát sinh để cúng dường,
vua ra lệnh chuẩn bị những thức ăn thuần túy chay tịnh
và rất ngon lành. Những người thân tín của vua có tới mười
ngày để chuẩn bị cho cuộc tiếp đón.
Chương
29
MUÔN
VẬT TỪ DUYÊN MÀ SINH LẠI TỪ DUYÊN MÀ DIỆT
Trong
thời gian ấy, nhiều người có đạo tâm tìm đến với Bụt
để xin xuất gia. Đa số là những thanh niên tuấn tú. Những
vị khất sĩ giỏi làm phụ tá cho Bụt đã có nhiều, nên
việc tiếp nhận và giảng dạy các vị khất sĩ mới đều
được họ phụ trách. Con trai và con gái các nhà lành tìm
đến Rừng Kè để xin quay về và nương tựa nơi tam bảo
cũng rất đông. Có một hôm, sau lễ quy y của gần ba trăm
người trẻ tuổi, đại đức Kondanna giảng cho người này
về ba viên ngọc quý. Ba viên ngọc quý này là Bụt, Pháp và
Tăng. Khất sĩ Kondanna là vị đệ tử đầu tiên đã thực
chứng đạo Tỉnh Thức. Đại đức dạy:
- Bụt
(Buddha) là người tỉnh thức, và là người tỉnh thức cao
độ. Người tỉnh thức biết được và thấy được chân
tướng vũ trụ và cuộc đời. Vì vậy người tỉnh thức
không còn bị ràng buộc vào ảo vọng, sợ hãi, giận hờn
và tham đắm. Người tỉnh thức là người tự do, có đầy
đủ an lạc, có đầy đủ tình thương và sự hiểu biết.
Bậc đại sa môn Gotama, thầy của chúng ta, là một bậc tỉnh
thức hoàn toàn. Người là kẻ chỉ đường cho tất cả chúng
ta, đưa chúng ta ra khỏi thế giới ảo vọng để trở nên
những người tỉnh thức.
Mỗi
người trong chúng ta đều có tính Bụt (Buddhata) trong lòng,
và vì vậy ai cũng có thể trở thành người tỉnh thức như
Bụt. Tính Bụt này là khả năng tỉnh thức, khả năng vượt
thoát ảo vọng. Nếu chúng ta tu tập theo đạo lý tỉnh thức
thì chúng ta làm cho tính Bụt trong ta mỗi ngày mỗi sáng và
một ngày kia chúng ta sẽ cũng sẽ đạt được tự do và an
lạc hoàn toàn như Bụt. Bụt ở ngay trong tâm của mỗi chúng
ta. Chúng ta phải trở về tìm Bụt ngay trong tâm ta. Bụt là
viên ngọc quý thứ nhất.
Pháp
(Dharma) là con đường đưa tới sự tỉnh thức. Con đường
này đã được Bụt tìm ra và đã và đang chỉ dạy cho chúng
ta. Con đường này đưa ta thoát khỏi ngục tù ảo vọng, giận
hờn, sợ hãi và tham đắm, và dẫn ta tới chân trời tự
do an lạc, vô úy, làm cho sự hiểu biết và tình thương phát
hiện nơi ta. Hiểu và thương là những hoa trái đẹp đẽ
nhất của đạo lý tỉnh thức. Pháp là viên ngọc quý thứ
hai của chúng ta.
Tăng
(Sangha) là đoàn thể những người đang cùng nhau thực tập
đạo tỉnh thức và cùng đi trên con đường giác ngộ. Muốn
tu tập đạo giải thoát ta phải nương tựa vào đoàn thể
này. Một mình đơn độc, ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong
sự tìm học và thực hành đạo lý tỉnh thức. Vì vậy chúng
ta phải nương vào tăng đoàn. Người xuất gia cũng như người
tại gia phải biết trở về nương tựa nơi Tăng để có thể
đi xa trên con đường tu tập. Tăng là viên ngọc quý thứ
ba của chúng ta.
Này
các thiện nam tử và thịện nữ nhân! Tất cả chúng ta phải
trở về nương tựa nơi ba viên ngọc quý của trần gian là
Buddha, Dharma và Sangha. Có nương tựa rồi chúng ta sẽ hết
bơ vơ và chúng ta sẽ vững tiến trên con đường giác ngộ
và trong cuộc đời. Đã từ hai năm nay, tôi đã trở về nương
tựa nơi ba viên ngọc quý. Hôm nay quý vị cũng phát nguyện
đi cùng một con đường. Chúng ta nên vui mừng và sung sướng
khi đưa ba viên ngọc quý vào lòng. Thật ra, ba viên ngọc quý
ấy đã có sẵn trong tự tâm của chúng ta từ vô thỉ. Ta
tu tập đạo giải thoát là để làm cho ba viên ngọc ấy chiếu
sáng trong ta.
Các
thanh niên rất sung sướng được nghe thầy Kondanna giảng.
Họ cảm thấy một nguồn sinh lực mới trào dâng trong họ.
Từ
hôm ấy, những người con trai và con gái các nhà lành có đạo
tâm và ý chí tu học bắt đầu được các thầy khất sĩ
gọi là thiện nam tử và thiện nữ nhân.
Trong
thời gian này, Bụt đã thâu nhận vào tăng đoàn hai vị đệ
tử thật xuất sắc: đó là Sariputta và Moggallana. Hai người
đã từng tu học với đạo sĩ Sanjaya, một vị du sĩ nổi
tiếng ở thủ đô Rajagaha. Bụt cũng đã từng nghe nói tới
vị du sĩ này. Giáo đoàn của đạo sĩ Sanjaya là giáo đoàn
của những vị du sĩ, gọi là parivrajaka. Sariputta và Moggalana
là hai người bạn thân, cả hai đều thông minh và cởi mở.
Họ đã từng hẹn với nhau là ai chứng đạt được đạo
lớn thì phải thông báo và chỉ bảo ngay cho người kia biết.
Một
hôm Sariputta trông thấy vị khất sĩ Assaji cầm bát đi khất
thực trong thành phố Rajagaha. Assaji là một trong năm vị đệ
tử xuất gia đầu của Bụt và đã được Bụt khai ngộ cho
ở vườn Nai gần Banarasi. Thấy phong độ ung dung và giải
thoát của Assaji, Sariputta rất lấy làm cảm phục. Phong độ
này tạo ngay được niềm tin trong lòng vị du sĩ. Sariputta
tự bảo:
- Đây
chắc chắn là một vị đạo sĩ đã đạt đạo. Thật đúng
như mình đã nghĩ: thế nào trên thế gian này cũng có người
đạt đến quả vị giải thoát! Ta phải tới hỏi xem vị
ấy tu học với ai, ai là thầy của vị ấy, và người ấy
đã tu học theo giáo pháp nào?
Vừa
nghĩ như thế, Sariputta vừa bước theo sau vị khất sĩ Assaji,
nhưng ông lại tiếp:
- Vị
đạo sĩ này đang đi khất thực từ nhà này sang nhà khác
một cách lặng lẽ và nghiêm trang. Ta không nên quấy rầy
thầy ấy. Ta nên đợi cho đến khi nào ông ta khất thực xong
xuôi rồi hãy tới hỏi chuyện cũng không muộn.
Và
Sariputta kiên nhẫn đi theo Assaji. Cho đến khi Assaji khất thực
xong và đi ra khỏi vòng đai thành phố, Sariputta mới rảo bước
đi nhanh, vượt qua ông ta, rồi quay trở lại để chào. Assaji
dừng lại. Sariputta cung kính hỏi:
- Thưa
đạo sĩ, phong thái của ngài rất ung dung, đạo đức của
ngài biểu hiện ra từ dáng đi, từ cử chỉ cho đến nét
mặt. Tôi xin mạn phép hỏi ngài: Ngài đã xuất gia tu học
với ai? Ai là thầy của ngài? Và vị đạo sư ấy dạy giáo
pháp gì?
Khất
sĩ Assaji nhìn Sariputta một lát, rồi mỉm cười rất thân
thiện. Ông trả lời:
- Tôi
tu học dưới sự chỉ dẫn của vị đại sa môn Gotama. Thầy
của tôi xuất thân từ dòng họ Sakya. Chúng tôi gọi người
là Bụt. Người hiện đang ở nơi đền Suppatthita trong Rừng
Kè.
Nghe
đến danh từ Bụt, mắt Sariputta sáng lên:
- Thầy
của ngài dạy giáo pháp gì, xin ngài vui lòng cho tôi được
biết sơ qua một chút.
- Tôi
chỉ mới theo học với thầy tôi gần đây thôi; giáo pháp
của thầy tôi vi diệu lắm tôi chưa đủ sức tuyên giải
đâu. Ngài nên tìm đến thầy tôi thầy tôi sẽ chỉ dạy
cho ngài.
Sariputta
nài nỉ:
- Xin
ngài cho tôi vắn tắt một vài câu cũng đã quý lắm rồi.
Tôi sẽ đến cầu xin lệnh sư sau.
Assaji
mỉm cười rồi đọc cho Sariputta nghe một bài kệ:
Muôn vật từ duyên sinh
lại từ duyên mà diệt
bậc giác ngộ tuyệt vời
đã từng như vậy thuyết.
Nghe
xong bài kệ, Sariputta bỗng thấy tâm tư bừng sáng. Cái thấy
không tỳ vết về chánh pháp được phát sinh ngay trong lòng.
Mừng quá, ông cúi đầu chào Assaji và lập tức chạy về
tìm bạn.
Thấy
Sariputta trở về mặt tươi như một đóa hoa, Moggalana hỏi:
- Sao
mặt sư huynh hôm nay tươi như thế? Hay là sư huynh đã tìm
được đạo lớn rồi? Nói đi, sư huynh!
Sariputta
kể lại cho bạn nghe về cuộc gặp gỡ với vị khất sĩ
Assaji. Rồi ông đọc cho Moggallana nghe bài kệ:
Muôn vật từ duyên sinh
lại từ duyên mà diệt
bậc giác ngộ tuyệt vời
đã từng như vậy thuyết.
Nghe
bài kệ, Moggallana lập tức thấy tâm trí bừng sáng. Cái thấy
về chánh pháp đến mau như một làn chớp giật. Vũ trụ hiện
ra như một màn lưới nhân duyên chằng chịt, cái này có vì
cái kia có, cái này sinh vì cái cái kia sinh, cái này không vì
cái kia không, cái này diệt vì cái kia diệt. Ý niệm về một
thần linh như nguyên nhân đầu tiên tạo ra vạn vật đột
nhiên tan biến. Cái vòng lẫn quẩn dường như có thể
chặt đứt được. Cánh cửa giải thoát thấp thoáng ở đâu
đây.
Moggallana
giục bạn:
- Sư
huynh, chúng ta nên lập tức đi tìm Bụt. Bụt chính là thầy
của chúng ta. Ta phải tới xin tu học với người.
Sariputta
do dự:
- Nhưng
mà hai trăm năm mươi vị du sĩ trong giáo đoàn đang trông cậy
nơi chúng ta như những người anh cả. Chúng ta không thể bỏ
họ một sáng một chiều như thế được. Chúng ta phải đến
cho họ biết trước.
Hai
người bạn tu liền trở về trụ xứ tu học của giáo đoàn
tu sĩ. Họ kể cho các bạn nghe về những gì vừa xảy ra cho
họ. Cuối cùng, họ nói:
- Các
huynh đệ, chúng tôi đã quyết định đi tìm Bụt và xin tu
học dưới sự hướng dẫn của người. Chúng tôi xin có lời
từ giã các bạn.
Nghe
Sariputta và Moggallana sắp bỏ giáo đoàn du sĩ để theo Bụt,
hai trăm năm mươi vị du sĩ đều tự nhiên cảm thấy bơ vơ.
Lâu nay họ đã tin cậy vào hai vị sư huynh này. Bây giờ hai
vị bỏ đi, họ không cảm thấy bơ vơ sao được. Cuối cùng
tất cả ngỏ ý xin đi theo hai vị.
Sariputta
và Moggallana đi tìm đạo sĩ Santaya, vị lãnh tụ giáo đoàn
du sĩ và báo cho ông biết về quyết định của mình. Đạo
sĩ Sanjaya buồn lắm, ông nói:
- Hai
vị ở lại đây đi. Ta sẽ giao quyền lãnh đạo giáo đoàn
du sĩ cho hai vị.
Ông
năn nỉ tới ba lần như vậy, nhưng hai người vẫn không chịu
ở lại. Họ nói:
- Thưa
ngài, chúng tôi đi tu là cốt tìm con đường giải thoát chứ
không phải là cốt trở thành những người lãnh dạo. Con
đường không có thì chúng ta lãnh đạo người ta đi đâu?
Chúng tôi phải tìm tới với sa môn Gotama, bởi vì sa môn Gotama
đã tìm thấy con đường mà chúng tôi thường mong ước.
Nói
xong, Sariputta và Moggallana cúi xuống lạy đạo và từ biệt.
Hai trăm năm mươi vị du sĩ cũng làm như thế. Tất cả đều
đi theo hai người.
Sariputta
và Moggallana đưa hai trăm năm mươi vị du sĩ tới Rừng Kè.
Mọi người sụp lạy trước Bụt và cầu xin được xuất
gia. Bụt hỏi thăm và an ủi các vị du sĩ. Người dạy đạo
lý bốn sự thật cho họ và chấp nhận cho họ xuất gia tu
học trong giáo đoàn khất sĩ. Sau lễ xuất gia, số lượng
các vị khất sĩ trong giáo đoàn lên tới con số một ngàn
hai trăm năm mươi vị.